1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý THIẾT kế bài GIẢNG e LEARNING GIẢNG dạy môn vật lý TRUNG học PHỔ THÔNG BẰNG TIẾNG ANH sử DỤNG PHẦN mềm LECTUREMAKER

83 255 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 5,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 ” với mục tiêu chung là “đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình

Trang 1

Thầy Hồ Hữu Hậu Nguyễn Kim Huê

Thầy Vương Tấn Sĩ Lớp: Sư phạm Vật lý

Thầy Phạm Phú Cường Khóa: 35

Cần Thơ - 2013

Trang 2

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Hồ Hữu Hậu người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả quý thầy cô trong

Bộ môn Sư phạm Vật lý đã hết lòng truyền đạt cho tôi những kiến thức

và kinh nghiệm quý báu trong bốn năm học vừa qua

Và tôi cũng muốn gửi lòng biết ơn này đến gia đình, bạn bè và những người thân yêu đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này

Trong quá trình thực hiện, tuy đã cố gắng để hoàn thành tốt đề tài nhưng do kiến thức và thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài hoàn chỉnh hơn

Cần Thơ, ngày 7 tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Kim Huê

Trang 3

GVHD: Thầy Hồ Hữu Hậu SVTH: Nguyễn Kim Huê

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày 21 tháng 05 năm 2013

Giáo viên hướng dẫn

Hồ Hữu Hậu

Trang 4

MỤC LỤC

Phần MỞ ĐẦU 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 2

IV PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 3

1 Phương pháp nghiên cứu 3

2 Phương tiện nghiên cứu 3

V KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 3

Phần NỘI DUNG 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING 4

1.1 GIỚI THIỆU E-LEARNING 4

1.1.1 Lịch sử phát triển E-Learning 4

1.1.2 Khái niệm E-Learning 5

1.1.3 Mô hình hệ thống E-Learning 6

1.1.3.1 Mô hình chức năng 7

1.1.3.2 Mô hình hệ thống 9

1.1.3.3 Hoạt động của hệ thống E-learning 10

1.1.4 Ưu điểm và hạn chế của E-Learning 12

1.1.4.1 Ưu điểm của E-learning 12

1.1.4.2 Hạn chế của E-Learning 13

1.1.5 Các hình thức học tập với E-Learning 16

1.1.5.1 Học tập trực tuyến (Online Learning) 17

1.1.5.2 Học tập hỗn hợp (Blended Learning) 17

1.1.6 Thực trạng E-Learning 18

1.1.6.1 Ở một số nước trên thế giới 18

1.1.6.2 Ở Việt Nam 20

1.1.7 Nguồn lực cho E-Learning 23

1.1.7.1 Con người 23

Trang 5

GVHD: Thầy Hồ Hữu Hậu SVTH: Nguyễn Kim Huê

1.1.7.2 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 24

1.1.8 So sánh hình thức học truyền thống và hình thức học E-Learning 25

1.2 BÀI GIẢNG E-LEARNING 26

1.2.1 Khái niệm bài giảng E-Learning 26

1.2.2 Quy trình thiết kế bài giảng E-Learning 27

1.2.2.1 Xác định mục tiêu bài học 27

1.2.2.2 Xác định trọng tâm và kiến thức cơ bản 28

1.2.2.3 Xây dựng kịch bản dạy học 30

1.2.2.4 Xác định tư liệu và lựa chọn công cụ 31

1.2.2.5 Multimedia hóa kịch bản 31

1.2.2.6 Chạy thử, chỉnh sửa và hoàn thiện 31

1.2.3 Tiêu chí đánh giá bài giảng E-Learning 31

1.2.3.1 Tiêu chí về nội dung 31

1.2.3.2 Tiêu chí về hình thức 32

1.2.3.3 Tiêu chí về kỹ thuật 33

1.2.3.4 Tiêu chí về hiệu quả 33

Chương 2 GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC BẰNG TIẾNG ANH 34

2.1 SƠ LƯỢC VỀ VIỆC GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC BẰNG TIẾNG ANH 34

2.1.1 Mục tiêu của giảng dạy bằng tiếng Anh 34

2.1.2 Đặc trưng và ưu điểm của giảng dạy bằng tiếng Anh 34

2.1.2.1 Đặc trưng 34

2.1.2.2 Ưu điểm 35

2.1.3 Nguyên tắc cơ bản của giảng dạy bằng tiếng Anh 35

2.1.4 Các bước cơ bản của một giờ học bằng tiếng Anh 36

2.2 THỰC TRẠNG VÀ THÁCH THỨC 36

2.3 GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG 37

Chương 3 TỒNG QUAN VỀ PHẦN MỀM LECTUREMAKER 2.0 38

3.1 TÌM HIỂU VỀ PHẦN MỀM LECTUREMAKER 2.0 38

Trang 6

3.1.1 Giới thiệu và cài đặc phần mềm LectureMAKER 2.0 38

3.1.1.1 Giới thiệu 38

3.1.1.2 Cài đặt phần mềm 38

3.1.2 Làm việc với LectureMAKER 42

3.1.2.1 Giao diện 42

3.1.2.2 Các Menu 43

3.1.2.3 Tinh chỉnh thanh Menu: 45

3.1.3 Một số thao tác trên LectureMAKER 46

3.1.3.1 Các thao tác cơ bản 46

3.1.3.2 Các thao tác với Slide 49

3.1.3.3 Chèn các đối tượng vào slide 53

3.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING SỬ DỤNG PHẦN MỀM LECTUREMAKER 63

3.2.1 Phân tích các nội dung của bài giảng 64

3.2.2 Thiết kế bài giảng sử dụng Slide Master 64

3.2.2.1 Tạo file bài giảng mới 64

3.2.2.2 Tạo Slide Master 64

Chương 4 ỨNG DỤNG THIẾT KẾ BÀI GIẢNG E-LEARNING BÀI “ TỪ TRƯỜNG” (Bài 26 SGK Vật lý 11 Nâng cao……… 69

PhầnKẾT LUẬN ……… 76

I NHẬN ĐỊNH CHUNG……… 76

II NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI………76

III HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI……….76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 7

Phần MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với xu hướng phát triển của thế giới Vấn đề nguồn nhân lực trong xã hội càng đóng một vai trò chủ đạo và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Xu thế đó đặt ra cho ngành giáo dục một trách nhiệm lớn lao trong việc đào tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao, vững vàn về chính trị, phát triển cao về tri thức Vì thế nên đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là rất cần thiết trong sự nghiệp đào tạo ra nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng cho đất nước

Một trong những cách thức đổi mới phương pháp dạy học phổ biến nhất hiện nay

đó là ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Thực tế trong nhiều năm qua cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực giáo dục đã và đang mang lại những hiệu quả đáng tích cực, mà điển hình là việc sử dụng các phần mềm tin học để soạn thảo các giáo án điện tử dùng trong giảng dạy Đối với ngành giáo dục hiện nay, việc ứng dụng các phần mềm tin học để soạn thảo giáo án điện tử đã không còn xa lạ nữa Các loại giáo án điện tử này đang trở nên ngày càng phổ biến và hỗ trợ rất nhiều trong quá trình dạy học Tuy nhiên, trong thời kỳ khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển ngày một nhanh chóng như hiện nay, khi mọi người đều có nhiều cơ hội tiếp xúc với các phương tiện thông tin hiện đại, thì việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức đã trở nên dễ dàng hơn rất nhiều Thế nên việc dạy và học có thể diễn ra ở mọi lúc mọi nơi thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại như Internet, tivi, điện thoại di động, … Do đó một hình thức học tập hiện đại cũng đã ra đời để bắt kịp với xu thế đó của xã hội, đó là hình thức học tập E-Learning thông qua mạng internet Tuy chỉ mới phát triển ở Việt Nam trong thời gian gần đây nhưng E-Learning được hứa hẹn sẽ là một hình thức học tập rất hiệu quả trong tương lai Bên cạnh đó các công cụ hỗ trợ soạn thảo bài giảng E-Learning cũng được chú trọng và phát triển từng ngày

Song song với việc ứng dụng công nghệ tin học vào tiến trình giáo dục, để bắt kịp với bước phát triển của thế giới thì việc sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy cũng là một phương án đổi mới phương pháp dạy học cần được chú trọng trong giai đoạn hiện

nay Vào tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại

Trang 8

ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 ” với mục tiêu chung là

“đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực” Trước tình hình đó chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của việc sử dụng ngoại ngữ trong tương lai là rất thiết thực Vì thế việc triển khai các phương án giáo dục nhằm đưa ngoại ngữ trở thành một ngôn ngữ thông dụng trong xu thế hội nhập thế giới là vô cùng trọng yếu Sử dụng ngoại ngữ để dạy học là một phương án giảng dạy không còn xa lạ với nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Tuy ở Việt Nam nó chỉ mới bắt đầu được triển khai ở vi mô rất nhỏ nhưng cũng đã mang lại những hiệu quả tích cực khả quan và hứa hẹn sẽ còn được triển khai sâu rộng hơn nữa

Vì những lý do trên em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thiết kế bài giảng E-Learning giảng dạy môn Vật lý trung học phổ thông bằng tiếng Anh sử dụng phần mềm LectureMAKER” với mong muốn công trình này sẽ góp phần vào

việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông trong giai đoạn phát triển và hội nhập của đất nước

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài “Thiết kế bài giảng E-Learning giảng dạy môn Vật lý trung học phổ thông bằng tiếng Anh sử dụng phần mềm LectureMAKER” chỉ là một trong

những đề tài nghiên cứu mang tính sơ khai và khởi đầu cho những đề tài sâu rộng hơn

về lĩnh vực E-Learning và sử dụng ngoại ngữ trong giảng dạy ở các trường phổ thông

Vì vậy nên mục đích của đề tài:

- Thiết kế một số bài giảng E-Learning phục vụ cho quá trình tự học môn Vật lý của học sinh khối trung học phổ thông thông qua các phương tiện truyền thông

- Làm tư liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm và giáo viên phổ thông trong quá trình học tập, giảng dạy và nghiên cứu

- Mở ra một tầm nhìn mới trong công cuộc đổi mới phương pháp giáo dục trong tương lai

III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Do thời gian có hạn và đây chỉ là một đề tài nghiên cứu ở cấp độ luận văn tốt nghiệp Đại học nên nội dung nghiên cứu của đề tài được giới hạn lại một phần thuộc phạm vi khả thi Cụ thể đề tài tập trung vào những vấn đề sau đây:

Trang 9

- Nghiên cứu tổng quan về hình thức học E-Learning

- Nghiên cứu thực trạng và định hướng dạy học bằng tiếng Anh

- Thiết kế các bài giảng E-Learning dựa trên phần mềm LectureMAKER 2.0 của công ty Daulsoft

- Soạn bài giảng của một số bài trong chương trình Vật lý ở khối lớp trung học phổ thông

IV PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu liên quan, phân tích và tổng hợp làm cơ sở lý luận cho đề tài

- Tìm hiểu phần mềm LectureMAKER 2.0, vận dụng thiết kế một số bài giảng Learning

E-2 Phương tiện nghiên cứu

- Thiết bị: Máy vi tính có kết nối mạng Internet, Webcam và Micro để ghi hình

- Các tài liệu tham khảo

- Các phần mềm: LectureMAKER 2.0, Snagit 11, Total Video Converter,

V KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

- Bước 1: Nhận đề tài, tìm hiểu đề tài và thu thập các tài liệu tham khảo có liên quan

- Bước 2: Nghiên cứu tài liệu, tiến hành viết đề cương tổng quát nộp cho giáo viên hướng dẫn góp ý và chỉnh sửa

- Bước 3: Tiến hành thực hiện đề tài theo đề cương, nộp bản nháp cho giáo viên hướng dẫn chỉnh sửa

- Bước 4: Hoàn chỉnh đề tài nộp cho giáo viên hướng dẫn và giáo viên phản biện

Trang 10

Phần NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING 1.1 GIỚI THIỆU E-LEARNING

1.1.1 Lịch sử phát triển E-Learning

Giai đoạn trước năm 1983: Kỷ nguyên giáo viên làm trung tâm

Thời kỳ này máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương thức giáo dục lấy giảng viên làm trung tâm là phương pháp giáo dục phổ biến trong trường học Học viên chỉ

có thể trao đổi với giáo viên và các bạn học Đặc điểm của loại hình này là giá thành đào tạo rẻ

Giai đoạn 1984-1993: Kỷ nguyên đa phương tiện

Sự ra đời của hệ điều hành Window 3.1 máy tính Mackintosh, phần mềm trình diễn PowerPoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra các bài giảng có tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ dựa trên máy tính CBT (Computer Based Training) Bài học được phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kì lúc nào, ở đâu người học có thể mua và tự học.Tuy nhiên sự hướng dẫn của giảng viên là rất hạn chế

Giai đoạn 1994-1999: Làn sóng E-Learning thứ nhất

Công nghệ web ra đời, các chương trình email, web, trình duyệt, media player, kỹ thuật truyền audio/video tốc độ thấp bắt đầu trở nên phổ biến đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo đa phương tiện Đào tạo bằng công nghệ web với hình ảnh chuyển động ở tốc độ thấp, đào tạo qua e-mail, CBT, qua Intranet với văn bản và hình ảnh đơn giản

đã được triển khai trên diện rộng

Giai đoạn 2000-2005: Làn sóng E-Learning thứ hai

Với sự phát triển của các công nghệ tiên tiến như JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và băng thông Internet được nâng cao, phần mềm mã nguồn

mở và miễn phí, các công nghệ thiết kế web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo Thông qua web, giảng viên có thể giảng dạy trực tuyến sử dụng hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn để chuyển tải nội dung đến người học,

Trang 11

nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo E-Learning đã tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả, cho phép đa dạng hóa các môi trường học tập

1.1.2 Khái niệm E-Learning

E-Learning (viết tắt của Electronic Learning) là một thuật ngữ đã dần trở nên quen thuộc với thế giới trong vài thập kỷ gần đây Có rất nhiều quan niệm và khái niệm khác nhau về E-Learning Thế nên khó có thể định nghĩa một cách chính xác thuật ngữ E-Learning, xong ta có thể điểm qua một số điển hình trong số rất nhiều khái niệm về E-Learning là:

- E-Learning chính là sự hội tụ giữa học tập và Internet

- E-Learning là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học

- E-Learning là việc sử dụng công nghệ mạng để cung cấp, thiết kế, lựa chọn, quản trị và mở rộng việc học tập

- E-Learning là việc sử dụng sức mạnh của mạng để cho phép học tập bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu

- E-Learning là việc cung cấp nội dung thông qua tất cả các phương tiện điện tử bao gồm Internet; Intranet; Trạm phát vệ tinh; Băng tiếng, hình; Tivi tương tác và CD-ROM

- E-Learning bao gồm tất cả các dạng điện tử hỗ trợ việc dạy và việc học Các hệ thống thông tin và truyền thông có hoặc không kết nối mạng được dùng như một phương tiện để thực hiện quá trình học tập

Rõ ràng với những quan niệm khác nhau về E-Learning, chúng sẽ có những đặc điểm khác nhau; cách thức dạy học cũng diễn ra khác nhau; hạ tầng công nghệ, cách thức triển khai, ưu điểm, hạn chế của E-Learning cũng khác nhau Do vậy, trong tài liệu này cũng cần phải thống nhất một khái niệm để khoanh vùng E-Learning, trên cơ

sở đó đề cập những nội dung mang tính trọn vẹn và phù hợp nhất

Theo cách hiểu trên, một hệ thống E-Learning phải đảm bảo được các điều kiện dưới đây:

- Sử dụng mạng Internet;

- Tồn tại dưới dạng các khóa học;

Trang 12

Công cụ xây dựng nội

dung học tập

(Authoring Tool)

Người Quản trị hệ thống

Người dạy

Người học

Người học Người họcNgười học

Trang 13

Hình 1.2 Mô hình các thành phần của E-Learning

1.1.3.1 Mô hình chức năng

Mô hình chức năng có thể cung cấp một cái nhìn trực quan về các thành phần tạo nên môi trường E-Learning và những đối tượng thông tin giữa chúng Học viện nghiên cứu công nghệ giáo dục từ xa (ADL - Advanced Distributed Learning) đưa ra mô hình tham chiếu đối tượng nội dung chia sẻ (SCORM – Sharable Content Object Reference Model) mô tả tổng quát chức năng của một hệ thống E-Learning

Hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS–Learning Content Management System): là một môi trường đa người dùng cho phép giảng viên và cơ sở đào tạo kết hợp để tạo ra, lưu trữ, sử dụng lại, quản lý và phân phối nội dung bài giảng điện tử từ một kho dữ liệu trung tâm Để cung cấp khả năng tương thích giữa các hệ thống, LCMS được thiết kế sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn về siêu dữ liệu nội dung, đóng gói nội dung và truyền thông nội dung

Hệ thống quản lý học tập (LMS – Learning Management System): khác với LCMS

chỉ tập trung vào xây dựng và phát triển nội dung, LMS như là một hệ thống dịch vụ

Mạng, CSDL, WEB

SCORM SCO

người thiết kế dạy

Trợ giáo, thầy dạy kèm

TRUNG TÂM E-LEARNING

NỀN TỔ CHỨC

E-LEARNING

NỀN TRI THỨC E-LEARNING NỀN CÔNG NGHỆ

E-LEARNING

Trang 14

hỗ trợ và quản lý quá trình học tập của học viên Các dịch vụ như đăng ký, giúp đỡ, kiểm tra, … được tích hợp vào LMS

Hình 1.3 Mô hình chức năng hệ thống E-learning

LMS cần trao đổi thông tin về hồ sơ người sử dụng và thông tin đăng nhập của người sử dụng với các hệ thống khác, vị trí của khoá học từ LCMS và lấy thông tin về các hoạt động của học viên từ LCMS

Chìa khoá cho sự kết hợp thành công giữa LMS và LCMS là tính mở và tính tương tác Một mô hình kiến trúc của hệ thống E-Learning sử dụng công nghệ web để thực hiện tính năng tương tác giữa LMS và LCMS cũng như với các hệ thống khác

Trang 15

Hình 1.4 Kiến trúc hệ thống E-learning sử dụng công nghệ web

Trên cơ sở các đặc tính của dịch vụ web, các dịch vụ web có khả năng tốt để thực hiện tính năng liên kết, tương thích với các hệ thống E-Learning vì:

- Thông tin trao đổi giữa các hệ thống E-Learning như LOM (Learning Object Metadata, là một mô hình dữ liệu mô tả đối tượng học và các tài nguyên số được sử dụng để hỗ trợ việc học) , gói tin IMS đều được mã hóa dưới dạng XML

- Mô hình kiến trúc web cho phép phát triển và sử dụng trên Internet, Intranet

1.1.3.2 Mô hình hệ thống

Một cách tổng thể, một hệ thống E-Learning bao gồm 3 phần chính:

- Hạ tầng truyền thông và mạng: Bao gồm các thiết bị đầu cuối, thiết bị tại các cơ

sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông,

- Hạ tầng phần mềm: Các phần mềm LMS, LCMS (Marcomedia, Aurthorware, Toolbook, )

- Nội dung đào tạo (hạ tầng thông tin): Phần quan trọng của E-Learning là nội dung các khoá học, các chương trình đào tạovà các phần mềm dạy học

Khi xây dựng các hệ thống E-Learning cần tuân theo các chuẩn để nó có thể đáp ứng các khả năng sau:

- Khả năng tương thích với các hệ thống khác

Trang 16

- Khả năng tái sử dụng lại các đối tượng học (LO - Learning Objects, là một đối tượng được thiết kế với mục đích hướng dẫn cho học viên Một LO đơn giản là mẫu nội dung hay thông tin Một LO cung cấp sự hướng dẫn trên một kỹ năng hay đơn vị tri thức rõ ràng Đây là quá trình giao tiếp tri thức một chiều từ người hướng dẫn (giáo viên) đến học viên)

- Khả năng quản lý học viên, nội dung học tập

Các nhà cung cấp LMS phổ biến là: Docent, Gen21, Knowledge Planet, Learnframe, Pathlore, Saba và THINQ Có thể xem danh sách chi tiết hơn các nhà cung cấp E-Learning tại địa chỉ www.internettime.com Chúng ta cũng có thể mua hoặc được cung cấp miễn phí các báo cáo phân tích LMS và LCMS tại địa chỉ www.brandonhall.net và www.masie.com

Có nhóm 3 hệ tiêu chuẩn đặc trưng cho các công nghệ E-Learning là ISO/IEC JTC1 SC36, IEEE LTSC, CEN/ISSS Ngày nay, tiêu chuẩn E-Learning được biết đến nhiều nhất là tiêu chuẩn SCORM được đưa ra bởi ADL Mô hình SCORM là một tập hợp các tiêu chuẩn thích ứng với nhiều nguồn khác nhau để cung cấp một hệ thống toàn diện về các khả năng học E-Learning, cho phép tiếp cận, tái sử dụng lượng kiến thức học trên web

1.1.3.3 Hoạt động của hệ thống E-Learning

Một hệ thống đào tạo có hiệu quả, chất lượng cao phải được xây dựng dựa trên các yếu tố: nhu cầu của học viên và kết quả dự kiến của khóa học Dựa vào những yếu tố này, có thể đưa ra một mô hình cấu trúc điển hình E-Learning cho các trường đại học, cao đẳng

Trang 17

Hình 1.6 Cấu trúc điển hình cho hệ thống E-Learning

- Giảng viên (A): Giảng viên cung cấp nội dung của khóa học cho phòng xây dựng nội dung (C) dựa trên kết quả học tập dự kiến nhận từ phòng quản lý đào tạo (D) Giảng viên cũng tham gia tương tác với học viên (B) qua hệ thống quản lý học tập LMS (2)

- Học viên (B): Sử dụng cổng thông tin người dùng để học tập, trao đổi với giảng viên qua hệ thống quản lý học tập LMS (2) và sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập (3)

- Phòng quản lý đào tạo (D): Quản lý việc đào tạo qua hệ thống LMS (2), tập hợp các nhu cầu, nguyện vọng, kiến nghị của học viên để cải thiện nội dung, chương trình giảng dạy, tổ chức lớp học tốt hơn, nâng cao chất lượng dạy và học

- Cổng thông tin người dùng (User’s Portal): Giao diện chính cho học viên (B), giảng viên (A) cũng như các bộ phận (C), (D) truy cập vào hệ thống đào tạo, hỗ trợ truy cập qua Internet từ máy tính cá nhân hay thậm chí từ các thiết bị di động thế hệ mới

- Hệ thống quản lý nội dung học tập LCMS (1): cho phép giảng viên (A) và phòng xây dựng chương trình (C) cùng hợp tác để tạo ra nội dung bài giảng điện tử LCMS kết nối với các ngân hàng kiến thức (I) và ngân hàng bài giảng điện tử (II)

Trang 18

- Hệ thống quản lý học tập LMS (2): là giao diện chính cho học viên học tập cũng như phòng quản lý đào tạo quản lý việc học của học viên

- Các công cụ hỗ trợ học tập cho học viên (3): như thư viện điện tử, phòng thực hành ảo, …tất cả đều có thể được tích hợp vào hệ thống LMS

- Các công cụ thiết kế bài giảng điện tử (4): như máy ảnh, máy quay phim, máy ghi

âm, các phần mềm chuyên dụng trong xử lý đa phương tiện, …để hỗ trợ xây dựng, thiết kế bài giảng điện tử Đây là những công cụ hỗ trợ chính cho phòng xây dựng chương trình (C)

- Ngân hàng kiến thức (I): là cơ sở dữ liệu lưu trữ các đơn vị kiến thức cơ bản, có thể tái sử dụng trong nhiều bài giảng điện tử khác nhau Phòng xây dựng chương trình (C) sẽ thông qua hệ thống LCMS để tìm kiếm, chỉnh sửa, cập nhật và quản lý ngân hàng dữ liệu này

- Ngân hàng bài giảng điện tử (II): là cơ sở dữ liệu lưu trữ các bài giảng điện tử Học viên sẽ truy cập đến cơ sở dữ liệu này thông qua hệ thống LMS

1.1.4 Ƣu điểm và hạn chế của E-Learning

1.1.4.1 Ưu điểm của E-Learning

E-Learning được xem là phương thức đào tạo cho tương lai Về bản chất, có thể coi E-Learning cũng là một hình thức đào tạo từ xa và nó có những điểm khác biệt so với đào tạo truyền thống Những ưu điểm nổi bật của E-Learning so với đào tạo truyền thống là:

- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: Sự phát triển của Internet đã dần xóa đi khoảng cách về không gian và thời gian cho giáo dục đào tạo Một khóa học E-Learning được chuyển tải qua mạng tới máy tính người học, điều này cho phép học viên học vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu

- Học liệu hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ Multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh họa, âm thanh, video clip tăng thêm tính hấp dẫn của bài học Bạn giờ đây không chỉ được nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh họa trực quan, thậm chí còn có thể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm bắt kiến thức cũng tăng lên

- Tính linh hoạt: Một khóa học E-Learning được phục vụ theo nhu cầu người học, chứ không nhất thiết phải theo một thời khóa biểu cố định Người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, chọn lựa cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình

Trang 19

- Dễ tiếp cận và truy cập ngẫu nhiên: Bảng danh mục bài giảng trên trang web cho phép học viên chọn lựa bài giảng, tài liệu một cách tùy ý theo trình độ kiến thức và điều kiện truy cập mạng của mình Học viên tự tìm ra các kỹ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡ của tài liệu trực tuyến

- Tính cập nhật: Nội dung khóa học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng tốt nhất kiến thức cho học viên

- Hợp tác, phối hợp trong học tập: Các học viên có thể dễ dàng trao đổi với nhau cũng như với giáo viên qua email, chatting, diễn đàn, …trong quá trình học tập

- Tính chủ động của học viên: Môi trường E-Learning đặt học viên làm trung tâm,

vì vậy đề cao ý thức tự giác học tập của người học

- Tiến trình học được theo dõi chặt chẽ và cung cấp công cụ tự đánh giá: Các lớp học E-Learning cung cấp cho người học kế hoạch học tập chi tiết đến từng tuần Cung cấp các công cụ điện tử để tự đánh giá (ví dụ: trắc nghiệm trực tuyến, bài tập trực tuyến), cho phép lưu vết các hoạt động của người học

- Các dịch vụ đào tạo được triển khai đồng bộ: như dịch vụ giải đáp trực tuyến, tư vấn học tập, tư vấn hướng nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, … E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, E-Learning đang thu hút được

sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với sự ra đời của rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning

- Người học cũng cần phải biết lập kế hoạch phù hợp với bản thân, tự định hướng trong học tập, thực hiện tốt kế hoạch học tập đã đề ra

Về nội dung học tập

- Trong nhiều trường hợp, không thể và không nên đưa ra các nội dung quá trừu tượng, quá phức tạp Đặc biệt là nội dung liên quan tới thí nghiệm, thực hành mà công nghệ thông tin không thể hiện được hay thể hiện kém hiệu quả

Trang 20

- Hệ thống E-Learning cũng không thể thay thế được các hoạt động liên quan tới việc rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động

Quan điểm của cơ sở đào tạo

Cơ sở đào tạo là một tổ chức thiết kế và cung cấp các khóa học trực tuyến Learning Hãy thử so sánh ưu và nhược điểm đối với cơ sở đào tạo khi chuyển đổi các khoá học truyền thống sang khoá học E-Learning

Bảng 1.1 Ƣu và nhƣợc điểm của khóa học truyền thống và khóa học Learning

- Giảm chi phí đào tạo: Sau khi đã phát

triển xong, một khoá học E-Learning có

thể dạy cho hàng ngàn học viên với chi

phí chỉ cao hơn một chút so với tổ chức

đào tạo cho 20 học viên

- Chi phí phát triển một khoá học: Việc học qua mạng còn mới mẻ và cần

có các chuyên viên kỹ thuật để thiết kế khoá học

- Rút ngắn thời gian đào tạo: Việc học

trên mạng có thể đào tạo cấp tốc cho một

lượng lớn học viên mà không bị giới hạn

bởi số lượng giảng viên hướng dẫn hoặc

lớp học

- Lợi ích của việc học trên mạng vẫn chưa được khẳng định: Cơ sở đào tạo phải chứng tỏ cho học viên thấy với học phí tương đương nhưng E-Learning mang lại hiệu quả cao hơn so với học truyền thống trên lớp

- Cần ít phương tiện hơn: Các máy chủ

và phần mềm cần thiết cho việc học trên

mạng có chi phí rẻ hơn rất nhiều so với

trang bị các phòng học, bảng, bàn ghế,

và các cơ sở vật chất khác

- Yêu cầu kỹ năng mới: Cơ sở đào tạo phải đào tạo cho giảng viên những kỹ năng mới để thiết kế chương trình dạy, soạn giáo án, quản lý lớp học được tốt nhất

Trang 21

- Rút ngắn được khoảng cách địa lý:

Giảng viên và học viên không phải tập

trung gặp nhau trên lớp

- Đòi hỏi phải thiết kế lại chương trình đào tạo: Cơ sở đào tạo phải xây dựng các khóa học sao cho khắc phục được hạn chế trong trường hợp học viên không có kết nối mạng với tốc độ cao, đảm bảo tiến độ và chất lượng bài giảng

- Tổng hợp được kiến thức: Việc học

trên mạng có thể giúp học viên nắm bắt

được nhiều kiến thức hơn, có cái nhìn

tổng quan, dễ dàng sàng lọc, và tái sử

dụng chúng

Quan điểm của người học

Cá nhân hoặc tổ chức tham gia các khoá học E-Learning trên mạng chắc chắn sẽ

thấy việc đào tạo này xứng đáng với thời gian và số tiền họ bỏ ra Bảng 1.2 dưới đây

sẽ so sánh thuận lợi và khó khăn đối với học viên khi họ chuyển đổi việc học tập theo phương pháp truyền thống sang học tập bằng E-Learning:

Bảng 1.2 Ưu và nhược điểm của phương pháp học tập bằng E-Learning

- Có thể vào học ở bất cứ lúc nào, tại

- Tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại - Chi phí kỹ thuật cao: Học viên phải

trang bị máy tính kết nối mạng và có kiến thức sử dụng máy tính thông thạo

- Có thể tự quyết định việc học của

mình Học viên chỉ học những gì mà họ

cần

- Không tiếp xúc với trực tiếp với bạn học và giảng viên trong lớp mà chỉ trao đổi, thảo luận trên mạng

- Khả năng truy cập cao Việc tiếp

cận những khóa học trên mạng được

thiết kế hợp lý sẽ dễ dàng hơn đối với

- Yêu cầu ý thức cá nhân cao Việc học qua mạng yêu cầu bản thân học viên phải

có trách nhiệm đối với việc học của

Trang 22

những người không có khả năng nghe

nhìn; những người học ngoại ngữ hai;

và những người bị mắc chứng khó đọc

chính họ

Những thuận lợi và khó khăn trên là không tránh khỏi Nếu học viên có đầy đủ trang thiết bị cũng như kiến thức sử dụng chúng, kết hợp với cơ sở đào tạo tổ chức, quản lý tốt, học viên có thể khắc phục được hầu hết các khó khăn nêu trên và nhận thấy được những ưu điểm vượt trội của E-Learning

- Đào tạo dựa trên web (WBT- Web- Based Training): Là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khóa học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người học có thể dễ dàng truy cập thông qua trình duyệt web Người học có thể trao đổi với nhau và với giáo viên, sử dụng các chứa năng trai đổi trực tuyến, diễn đàn, email, … thậm chí có thể nghe được giọng nói

và hình ảnh của người giao tiếp với mình

- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/ Training): Là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học, lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau, với giáo viên, …

- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong

đó người học và người dạy không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm

Tuy nhiên nếu tổng hợp lại chúng ta có hai hình thức cơ bản sau:

Trang 23

1.1.5.1 Học tập trực tuyến (Online Learning)

Là hình thức mà việc hoàn thành khóa học được thực hiện toàn bộ trên môi trường mạng thông qua hệ thống quản lý học tập Theo cách này E-Learning chỉ khai thác được nhưng lợi thế của E-Learning chứ chưa quan tâm đến thế mạnh của dạy học giáp mặt

Thuộc về hình thức này có hai cách thể hiện là dạy học đồng bộ (Synchronous Learning) khi người dạy và người học cùng tham gia vào hệ thống quản lý học tập và dạy học không đồng bộ (Asynchronous Learning), khi người dạy và người học tham gia vào hệ thống quản lý học tập ở những thời điểm khác nhau

1.1.5.2 Học tập hỗn hợp (Blended Learning)

Đây là hình thức kết hợp cả hai hình thức học tập trực tuyến va dạy học giáp mặt Theo cách này E-Learning được thiết kế với mục đích hỗ trợ quá trình dạy học và chỉ quan tâm tới những nội dung, chủ điểm phù hợp nhất với loại hình này Còn lại với những nội dung khác vẫn được thực hiện thông qua hình thức dạy học giáp mặt với việc khai thác tối đa ưu điểm của nó Hai hình thức này cần được thiết kế phù hợp, có mối liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cho khóa học

Có thể tổ chức thực hiện E-Learning ở nhiều cấp độ khác nhau

Hình 1.7 Ba cấp độ tổ chức thực hiện E-Learning

Trang 24

Cấp độ 1: CBT (Computer-Based Training-Học trên máy tính) & WBT

(Web-Based Training – Học trên Web/Internet/Intranet): Khởi đầu của mọi mô hình Eearning

E Học thông qua CDE ROM hoặc Web (Mô hình học qua Web đang ngày càng phát triển)

- Có kiểm tra đầu vào

- Học từng bước, có kiểm tra mức độ tiếp thu bài

- Học viên tự học, không có giáo viên hướng dẫn

- Chi phí thấp

Cấp độ 2: Học trực tuyến có giảng viên

- Học thông qua Internet/Intranet, sử dụng Hệ thống Quản lý Học tập (LMS)

- Có sự giao tiếp giữa giảng viên – học viên, học viên – học viên

- Giảng viên có thể trực tiếp trả lời câu hỏi, đặt câu hỏi, chấm điểm đánh giá học viên

- Giảng viên có thể đánh giá khả năng của học viên, đồng thời có thể chỉ dẫn học viên tham gia các khóa học mức cao hơn

Cấp độ 3: Lớp học ảo

- Học thông qua mạng Internet/Intranet, sử dụng Hệ thống Quản lý học tập (LMS)

- Các “lớp học ảo” được tổ chức ngay trên mạng như các lớp học thông thường

- Các giờ học “live” được tổ chức để thảo luận về các “case studies” Giáo viên có thể thực hiện các hướng dẫn trực tiếp (hands-on) nhờ E-Lab

- Sinh viên có thể học trực tiếp hoặc xem lại các bài giảng và làm bài tập off-line với hình thức giống như đang tham gia lớp học trực tiếp

- Tất cả các khoá học trực tuyến có thể được quản lý, giám sát giống như các lớp học thông thường

1.1.6 Thực trạng E-Learning

1.1.6.1 Ở một số nước trên thế giới

Nhiều nước trên thế giới đã triển khai mạnh mẽ E-Learning ở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và huấn luyện nhân viên ở các công ty Những năm gần đây E-Learning cũng đã và đang triển khai cho học sinh phổ thông, điển hình là các nước Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản Ở Hoa Kỳ đã có hàng triệu học sinh phổ thông đăng

Trang 25

ký học Online Đưa lớp học lên mạng Internet là một trào lưu đang bùng nổ tại nước này Không chỉ là một phong trào tự phát, tại nhiều bang ở Hoa Kỳ các nhà quản lý giáo dục đã ban hành quy định trước khi được công nhận tốt nghiệp, mỗi học sinh phải đăng ký học một số môn nhất định tại các lớp học trực tuyến Các lớp học trực tuyến này có thể được tổ chức tập trung tại các trường hoặc học sinh có thể học tại nhà Theo

lý giải của các nhà quản lý, đây là bước chuẩn bị nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc học tại các trường đại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỷ 21

Theo ước tính của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ, nước này đã có khoảng 770 trường phổ thông áp dụng phương thức học trực tuyến, với khoảng 1,03 triệu học sinh (trong đó

có hơn 200.000 học trực tuyến toàn phần) tính đến năm học 2007-2008 Nhưng chính

Bộ Giáo dục cũng lên tiếng cảnh báo, việc học trực tuyến rất hiệu quả với sinh viên đại học, cao đẳng nhưng chưa đủ bằng chứng khoa học cho thấy nó cũng tốt với các học sinh phổ thông Tuy nhiên, E-Learning là giải pháp khá phù hợp với học sinh trượt tốt nghiệp và nhóm học sinh lười Chẳng hạn, ở Quận 13, Tokyo (Nhật Bản) có hàng chục học sinh lười học, không muốn đến trường Phòng Giáo dục Quận đã xây dựng

Website riêng để những học sinh này học ở nhà, theo hình thức "vừa học vừa chơi"

Là một quốc gia châu Á, kinh tế của Hàn Quốc chưa phải là “top ten” của thế giới, nhưng giáo dục nước này đã không ngần ngại khi đầu tư cho E-Learning, hàng tỷ USD

mà xứ sở kim chi đầu tư cho phát triển Internet gấp 10 lần vào năm 2014 Hàn Quốc phấn đấu sẽ trở thành một tiêu điểm về xu hướng giáo dục mới để thế giới nhìn vào Nhiều "trường học trên mạng" (Web school) ra đời và trở thành nổi tiếng, Megastudy là một điển hình và trở thành mạng giáo dục trực tuyến lớn nhất tại Hàn Quốc, với doanh số hàng năm lên đến 245 tỷ won (3.500 tỷ đồng Việt Nam) Lượng học sinh theo học các cấp được phân ra: trung học phổ thông (www.megastudy.net) với 2,1 triệu người ghi danh, trung học cơ sở (www.mbest.net) với 2 triệu người, tiểu học (www.mjunior.net) với 3,7 triệu người

Chính phủ Hàn Quốc xem web như một công cụ để hạ nhiệt chi phí dạy kèm tại các trung tâm luyện thi, tái lập bình đẳng trong giáo dục EBS, kênh truyền hình học đường của chính phủ, mở trang web cung cấp các bài giảng ôn thi đại học miễn phí, cho đến nay thu hút trên 3 triệu thành viên Một số giáo viên, giảng viên giỏi ở Hàn Quốc cho rằng: E-Learning mang lại công bằng hơn cho giáo dục, do những học sinh

Trang 26

nghèo có thể tham gia vào khóa luyện thi của những thầy giỏi với mức học phí rất ít so với lớp luyện thi thông thường

1.1.6.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, phong trào E-Learning thực chất đã nhen nhóm từ những năm 1990 với hàng loạt phần mềm hỗ trợ đào tạo do các công ty tin học sản xuất Trong điểm nổi bật nhất là công ty Công nghệ tin học nhà trường School@net với các sản phẩm phục

vụ đào tạo trong nhà trường School@net ngày càng mở rộng và quy mô sản phẩm cũng đã vươn đến phục vụ nhiều đối tượng khơng chỉ là học sinh mà cả sinh viên và giới trẻ Việt Nam với khá nhiều chương trình bổ ích, một phần khẳng định tiềm năng phát triển hình thức học này ở Việt Nam

Đến năm 2001, khi Trung tâm VASC (trực thuộc Bộ Bưu chính viễn thông) kết hợp với công ty TMC ra mắt trang web truongthi.com.vn với mục tiêu hỗ trợ luyện thi đại học trực tuyến, thì E-Learning bắt đầu được dư luận chú ý đến như một phương pháp học mới mẻ Chi phí khá rẻ, thủ tục đăng ký đơn giản (dùng thẻ mệnh giá 50.000

và 100.000 đồng), nội dung phong phú, chỉ sau gần 2 năm, số thành viên của truongthi.com đã lên tới 100.000 người Số lượng thành viên truy cập trung bình một ngày khoảng 30.000 lượt, vào những ngày cao điểm lên tới 50.000 lượt Truongthi.com.vn đã đánh dấu một bước nhảy vọt về nhận thức của ngành giáo dục Việt Nam và người dân nói chung Tiềm năng của hình thức học này cũng thể hiện rõ qua những số liệu trên

Sau thành công của truongthi.com.vn, hàng loạt trang web E-Learning ra đời, nổi bật nhất là trang elearning.com.vn chuyên đào tạo tiếng Anh trực tuyến do công ty FPT kết hợp với Englishtown.com thực hiện Đây được đánh giá là trang web vụ E-Learning chuyên nghiệp nhất Việt Nam hiện nay với hàng loạt dịch vụ mới mẻ Học viên có thể download tài liệu tự học, tham gia học trực tuyến với các giảng viên từ Anh, Mỹ, Úc và Canada và được cấp chứng chỉ của Englishtown

Những chủ trương và giải pháp lớn:

CNTT đối với giáo dục Việt Nam phát triển mạnh mẽ khi bước vào thế kỉ 21 Chỉ thị 58 – CT/TW ngày 17/02/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nêu rõ “Đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, các ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn

Trang 27

xã hội Đặc biệt, tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối mạng Internet tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”

Thực hiện Chỉ thị số 29 (năm 2001) về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn giáo dục 2002 – 2003 và Chỉ thị số 55 (năm 2008) về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn giáo dục 2008 – 2012, trong những năm qua, hạ tầng CNTT trong ngành giáo dục được đầu tư mạnh mẽ với việc hoàn thành “mạng giáo dục Edunet” năm 2010 (chương trình hợp tác giữa Bộ giáo dục

và đào tạo với Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel), kết nối Internet băng thông rộng đến tất cả các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học Nhiều trường đại học, cao đẳng

đã trang bị hạ tầng CNTT, thiết bị dạy học hiện đại và từng bước triển khai Learning Một số khóa học trực tuyến, dạy học qua mạng được mở ra

E-Chủ trương của Bộ giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn tới là tích cực triển khai các hoạt động xây dựng một xã hội học tập mà ở đó mọi công dân (từ THPT, sinh viên, các tầng lớp người lao động, …) đều có cơ hội được học tập, bất cứ lúc nào (any time), bất cứ nới đâu (any where) và học tập suốt đời (life long learning) Để thực hiện được mục tiêu trên, E-Learning có một vai trò chủ đạo trong việc tạo ra một môi trường học tập ảo

Một số h h n hi triển hai -Learning ở Việt Na

Một à Về xây dựng nguồn tài nguyên bài giảng: Để soạn bài giảng E-Learning có

chất lượng đòi hỏi tốn nhiều công sức của giảng viên Hiện nay chế độ hỗ trợ chưa phù hợp với công sức bỏ ra để soạn bài giảng E-Learning, vì vậy chưa khuyến khích được giảng viên Đời sống của giảng viên gặp nhiều khó khăn, áp lực thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục, … Hậu quả là giảng viên không có thời gian đầu tư cho E-Learning Nhiều giảng viên giỏi về chuyên môn và khả năng sư phạm, sử dụng phần công nghệ (ghi hình, thu âm, sử dụng phần mềm) còn hạn chế nên chưa phát huy được đội ngũ này

Hai à Về phía người học: Học tập theo phương pháp E-Learning đòi hỏi người

học phải có tinh thần tự học, do ảnh hưởng của cách học thụ động truyền thống, tâm lý học phải có thầy (“không thầy đố mày làm nên”), nội dung quá tải tại trường, … dẫn đến việc tham gia học E-Learning chưa trở thành động lực học tập Nhiều sinh viên nghèo, nhất là ở vùng sâu vùng xa, chưa thể trang bị máy vi tính kết nối Internet, nhiều

Trang 28

thông tin trên mạng Internet dẫn đến gia đình lo lắng khi con em mình vào mạng cũng

là lý do hạn chế E-Learning

a à Về cơ sở vật chất: Đòi hỏi phải có hạ tầng CNTT đủ mạnh, có đường truyền

cáp quang, xây dựng website trường học và website E-Learning hoàn chỉnh chi phí cao, nếu không tận dụng hết khả năng của web sẽ gây lãng phí

ốn à Về nhân lực phục vụ website E-Learning: Cần có cán bộ chuyên trách

phục vụ sự hoạt động của hệ thống E-Learning Tuy nhiên, theo quy định hiện tại chưa

có cơ hế hoạt động này ở các trường

 Đề uất giải pháp

Trên những cơ sở bước đầu và thực trạng E-Learning của sinh viên Việt Nam chúng tôi đề xuất giải pháp sau:

Thứ nhất Về nhận thức: Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học và cao đẳng,

các cơ sở giáo dục cần xác định E-Learning là một chiến lược trong giáo dục mới hướng tới xã hội học tập Cần triển khai, tuyên truyền, nhân rộng E-Learning không chỉ có ngành giáo dục mà còn với toàn xã hội Bộ và các trường tăng cường hợp tác doanh nghiệp trong việc xây dựng các website E-Learning của các nước

Thứ hai Tăng cường tập huấn về phương pháp, kỹ năng, sử dụng tổng hợp nhiều

hợp phần để tạo bài giảng E-Learning

Thứ ba: Đầu tư trang thiết bị, hỗ trợ kinh phí cho giảng viên trong việc tạo bài

giảng

Thứ tƣ Các trường phổ thong hướng đến online hóa trường học bao gồm online

về quản lý, điều hành, tác nghiệp và online về dạy học Website trường học phải trở thành địa chỉ thân thiện với cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên Hướng dẫn phương pháp tự học, học tập và trao đổi qua mạng cho người học Đây là kỹ năng cần thiết để học tập ở các trường đại học và giáo dục nghề nghiệp

Thứ n Vai trò của giảng viên là rất quan trọng trong việc triển khai

E-Learning Vì vậy, giảng viên không chỉ nắm bắt được phương pháp học tập mà còn là người tạo ra bài giảng phục vụ cho giảng dạy, các bài giảng E-Learning phục vụ cho tự học của người học Phải có hình thức đào tạo đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu dạy học hiện đại nhất: như có khả năng ứng dụng CNTT vào dạy học, có khả năng sử dụng

Trang 29

các phương tiện dạy học hiện đại, và quan trọng hơn cả là năng lực tự học, tự nghiên cứu khoa học Vì đó là nền tảng quan trọng để người giảng viên không bị tụt hậu so với thời đại

Như vậy, E-Learning có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp dạy học truyền thống, tạo ra được một môi trường rất tốt phục vụ cho phương pháp dạy học tương tác,

cá nhân hóa người học Tuy vậy, với những nhược điểm nêu trên, E – Learning cũng không phải là một giải pháp hoàn hảo và cũng không thể thay thế hoàn toàn phương pháp học truyền thống

Vì vậy, một giải pháp kết hợp là sử dụng E-Learning và những phương pháp giảng dạy truyền thống song song Người học có thể thực hiện mọi hoạt động học tập có thể trên E-Learning, tham gia như đang học trên một khóa học thực sự Trừ giờ thực hành, thí nghiệm sẽ phải lên phòng thí nghiệm để tiếp cận thực sự với công việc Ngoài ra,

có thể gặp giảng viên trong một số buổi để thảo luận, trao đổi và giải quyết một số vấn

đề nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng giao tiếp xã hội

Learning đang là xu hướng chung của giáo dục thế giới Việc triển khai Learning trong giáo dục đào tạo là một xu hướng tất yếu nhằm đưa giáo dục Việt Nam tiếp cận với giáo dục thế giới

E-Tuy vẫn chịu khá nhiều hạn chế, chủ yếu do vẫn chưa có chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển từ các cơ quan chủ quản, nhưng E-Learning vẫn đang dần khẳng định tương lai mở rộng thị trường ở Việt Nam Có thể trong tương lai, ngành nào, đơn vị nào cũng có thể sử dụng E-learning như một công cụ phục vụ cho bất cứ hoạt động đào tạo nội bộ hay bên ngoài của mình, đặc biệt là các đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ đào tạo Các trường đại học điển hình như trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Ngoại ngữ… đã bắt đầu có kế hoạch xây dựng hệ thống E-Learning hỗ trợ phương pháp đào tạo truyền thống của mình Chính phủ cũng đang lập các kế hoạch dài hạn nhằm hỗ trợ xúc tiến triển khai E-Learning cho các hoạt động tuyên truyền và giáo dục cho nhân dân

1.1.7 Nguồn ực cho -Learning

1.1.7.1 Con người

Người quản trị

Là người có trách nhiệm quản lý toàn bộ hệ thống quản lý học tập với những chức năng như tạo lập khóa học, phân quyền cho giáo viên, cấp phát tài khoản cho người

Trang 30

dùng, thiết lập môi trường học tập, trợ giúp người dạy và người học về công nghệ, Người quản trị là người phải nắm vững chương trình đào tạo, nghiệp vụ quản lý đào tạo, có kỹ năng tốt về công nghệ thông tin và quản lý hệ thống học tập

Người dạy

Người dạy là nhân tố chính trong việc cung cấp các khóa học trên hệ thống quản lý học tập Ngoài các hoạt động học tập, các học liệu đã được thiết kế theo kịch bản sư phạm định trước theo hướng phỏng theo các hoạt động học tập của hình thức dạy học giáp mặt để giúp người học tự lực trong học tập, người dạy cũng cần thao tác trực tiếp với các chức năng của hệ thống học tập, thông báo, cảnh báo, đánh giá, chỉ dẫn, trợ giúp người học một cách thường xuyên và kịp thời

 Người học

Người học là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học dựa vào E-Learning Các khóa học cần được thiết kế theo định hướng lấy người học làm trung tâm Khi tham gia học tập người học sẽ thực hiện các hoạt động học tập đã được thiết kế theo kịch bản sư phạm để tự lực, chủ động khám phá tri thức, kỹ năng của khóa học Bên cạnh

đó người học cũng thường xuyên nhận được các thông tin chỉ dẫn, giúp đỡ khi gặp khó khăn hay cùng nhau thảo luận, chia sẻ thông qua chức năng hợp tác trên mạng

1.1.7.2 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin

Với cơ sở giáo dục

Cần sở hữu hoặc thuê máy chủ đủ mạnh để đảm bảo hoạt động ổn định đồng thời của người dạy, người học trên hệ thống quản lý học tập Trên máy chủ cần cài đặt phần mềm quản lý học tập LMS

 Với người dạy và người học

Có máy tính kết nối với Internet Riêng người dạy cần sở hữu các công cụ thiết kế khóa học (Authoring Tools) để thiết kế nội dung học tập Bên cạnh đó cũng cần sử dụng các phần mềm trong việc tạo ra, xử lý các đối tượng đa phương tiện, tạo hoạt hình, tạo bài trắc nghiệm, các công cụ chụp ảnh màn hình, để tạo ra nguồn tài nguyên sử dụng trong khóa học

Trang 31

1.1.8 So sánh hình thức học truyền thống và hình thức học -Learning

ảng 1.3 So sánh hình thức học truyền thống và hình thức học -Learning Thành phần của

hệ thống đào tạo Lớp học truyền thống Lớp học E-Learning

dụ một tệp tin bài học dưới dạng HTML hoặc DOC; bài giảng được ghi hình bằng video,

Phân phối nội

dung đào tạo

- Tại phòng học, bảng phấn

- Thực hiện bằng các phương tiện điện tử, ví dụ tài liệu được gởi tới học viên qua e-mail, bài tập dưới dạng file DOC cho phép học viên tải xuống, học viên học trên trang web của lớp học, sử dụng CD-ROM đa phương tiện,

Quản ý đào tạo

- Phòng giáo vụ gặp gỡ quản lý sinh viên hoặc thông qua bảng thông báo

- Quản lý đào tạo qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ: kế hoạch học tập được đăng trên trang web của lớp học, đăng ký học tập trên mạng qua SMS

- Được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông điện tử như trao đổi bằng e-mail, diễn đàn trên mạng, hay công cụ hội nghị qua mạng (web hoặc video)

Trang 32

1.2 BÀI GIẢNG E-LEARNING

1.2.1 Khái niệm bài giảng E-Learning

Bài giảng E-Learning (viết tắt của Electronic Learning – là việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông) là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (Authoring Tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (Multimedia) gồm phim, hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, và tuân thủ một trong các chuẩn SCROM, AICC

Bài giảng E-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bài trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (Powerpoint) thường gọi

Bài giảng E-Learning có thể dùng để học ngoại tuyến (off-line) hoặc trực tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường-lớp

Có thể nói E-Learning là bài giảng của giáo viên được soạn thảo trên nền web Nếu bạn thành thạo trong việc soạn thảo, lập trình trên trang web có thể dễ dàng thiết kế một bài giảng trên mạng

Để giúp cho người thầy tạo một bài giảng E-Learning được dễ dàng hơn mà không cần có kiến thức chuyên sâu về lập trình mạng, một số đơn vị làm phần mềm đã tạo ra các chương trình để tạo một bài giảng E-Learning Cụ thể một số phần mềm được Cục CNTT giới thiệu như sau:

1 Adobe Presenter 8 Adobe Director

5 Adobe Authorware; 12 LMS Dokeos

Trang 33

1.2.2 Quy trình thiết kế bài giảng E-Learning

1.2.2.1 Xác định mục tiêu bài học

Mục tiêu là cái đích cần đạt được sau mỗi bài học, do chính giáo viên đề ra để định hướng hoạt động dạy học Mục tiêu giống mục đích ở chỗ đều là cái đề ra nhằm đạt đến, nhưng chúng khác nhau cơ bản:

- Mục đích (aims) là mục tiêu khái quát, dài hạn

Ví dụ: Mục đích của chương trình trung học phổ thông

- Mục tiêu (objectives) là mục đích ngắn hạn, cụ thể

Ví dụ: Mục tiêu của một bài dạy học

Như vậy mục đích quy định mục tiêu Mục đích chung của chương trình quy định mục tiêu cụ thể của các chương, các bài cụ thể ở lớp

Xác định mục tiêu đúng, cụ thể mới có căn cứ để tổ chức hoạt động dạy học khoa học và đánh giá khách quan, lượng hóa kết quả dạy học Trong dạy học hướng tập trung vào học sinh, thông thường mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài học sinh cần đạt được cái gì Ở đây là mục tiêu học tập (Learning Objectives) chứ không phải làm mục tiêu dạy học (Teaching Objectives)

Mỗi mục tiêu cụ thể nên diễn đạt bằng một động từ cụ thể để xác định rõ mức độ học sinh phải cần đạt bằng hành động, tránh viết chung chung như “ nắm được”, “hiểu được” Để viết mục tiêu cụ thể, nên dùng các động từ như phân tích, so sánh, liên hệ, tổng hợp, chứng minh, đo đạc, tính toán, quan sát, lập được, vẽ được, thu thập, áp dụng, …

Mục tiêu được đề ra nhằm vào việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ Liên quan với ba nhiệm vụ cơ bản của lý luận dạy học, bài học thường có các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ

Trang 34

Theo B Bloom nhóm mục tiêu nhận thức có 6 mức nhận thức từ thấp đến cao:

Hình 1.8 Các bậc nhận thức của B Bloom

- iết nhận biết, ghi nhớ, tái hiện, định nghĩa khái niệm

- Hiểu thông báo, thuyết minh, tóm tắt, thông tin, giải thích, suy rộng

- Vận dụng áp dụng kiến thức vào tình huống mới

- Phân tích: nhận biết các bộ phận của một tổng thể, so sánh, phân tích, đối chiếu,

phân loại

- Tổng hợp tập trung các bộ phận thành một tổng thể thống nhất, lập kế hoạch, dự

đoán

- Đánh giá khả năng đưa ra ý kiến về một vấn đề

1.2.2.2 Xác định trọng tâm và kiến thức cơ bản

Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa phổ thông được chọn lọc

từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, sắp xếp theo lôgic khoa học và lôgic

sư phạm, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục, tính phổ thông của chương trình Tuy nhiên trong thực tế quá trình dạy học đã có nhiều mâu thuẫn xuất hiện giữa:

- Khối lượng tri thức phong phú và thời gian tiết lên lớp có hạn với nhiều nhiệm vụ

đa dạng

- Yêu cầu đảm bảo tính khoa học và đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh

- Yêu cầu đảm bảo sự lĩnh hội kiến thức vững chắc với sự phát triển toàn diện những năng lực nhận thức của học sinh

Trang 35

Nhiều giáo viên đã rơi vào hai cực của việc dạy học: một số tham lam, ôm đồm kiến thức làm cho tiết học nặng nề đối với học sinh, ngược lại một số khác rơi vào cực kia – quá “tóm lược” sách giáo khoa, không bảo đảm truyền thụ đủ cho học sinh kiến thức cần thiết Kiến thức cơ bản là những kiến thức vạch ra được bản chất của sự vật hiện tượng

Chọn đúng các kiến thức cơ bản của một bài dạy học là công việc khó, phức tạp

Để chọn đúng kiến thức cơ bản của một bài dạy học, cần phải quan tâm đến các điểm sau:

- Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn Do tính tổng hợp cao của khoa học bộ môn mà nội dung tri thức liên quan đến hàng loạt ngành khoa học khác

- Bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn Đây là điều bắt buộc tất yếu vì sách giáo khoa là tài liệu dạy học và học tập chủ yếu; chương trình là pháp lệnh cần phải tuân theo Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản là nhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học trong toàn quốc Mặt khác các kiến thức trong sách giáo khoa đã được quy định để dạy cho học sinh Do đó, chọn kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong đó chứ không phải là ở tài liệu nào khác

Nắm vững chương trình và sách giáo khoa, ngoài nắm vững nội dung từng chương, từng bài giáo viên phải có cái nhìn khái quát chung toàn bộ chương trình và mối liên

hệ “móc xích” giữa chúng để thấy tất cả các mối liên quan và sự kế tiếp Do đó mới xác định đúng đắn những vấn đề, khái niệm, … cần giảng kỹ, cần đi sâu, cần bổ sung vào hoặc giảm bớt đi được mà không làm có ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống kiến thức, trên cơ sở đó chọn lọc các kiến thức cơ bản

Tuy nhiên, để xác định được đúng kiến thức cơ bản mỗi bài thì cần phải đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cấn dạy học và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản Đồng thời muốn chọn lọc cái không nhiều, cái quan trọng thường cần phải học tập rất nhiều (hầu như tất cả mọi thứ) và không phải chỉ học tập mà còn phải hiểu biết khá sâu sắc nữa Điều đáng chú ý là khi nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, giáo viên không chỉ dừng lại ở nội dung bài khóa mà phải nghiên cứu các bản số liệu thống kê, tranh ảnh, câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa với tư cách

là một thành phần của nội dung bài giảng

Trang 36

Phải hết sức quan tâm đến trình độ học sinh Cần phải biết học sinh đã nắm vững cái gì, dựa vào kiến thức của các em để cân nhắc lựa chọn kiến thức cơ bản của bài giảng, xem kiến thức nào cần bổ sung, cải tạo hoặc cần phát triển, đi sâu hơn

Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài từ đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xây dựng

1.2.2.3 Xây dựng kịch bản dạy học

ƣớc 1 Chia nhỏ kiến thức

Xác định nội dung bài học (N), chia nhỏ kiến thức (Ni) và thiết kế các câu hỏi tương ứng (Qi) Việc chia nhỏ kiến thức và thiết kế câu hỏi phải dựa trên nguyên tắc là nội dung chia nhỏ (Ni) phải đủ nhỏ để được xác định bởi câu hỏi chính (Qi)

ƣớc 2 Xây dựng lược đồ thực hiện

Trang 37

ƣớc 4 Xây dựng các hoạt động của người dạy, người học và nội dung tương ứng

hiện trên máy tính Nội dung có thể được trình bày ở nhiều dạng khác nhau như văn bản (text), hình ảnh (image), âm thanh (audio), phim (video clip), …

1.2.2.4 Xác định tư liệu và lựa chọn công cụ

Tư liệu cho hoạt động dạy học có thể là tư liệu nội dung bằng văn bản, hình ảnh sơ

đồ hay video clip có liên quan Vì vậy cũng cần phải chuẩn bị máy tính có kết nối mạng Internet, các phần mềm hỗ trợ soạn bài giảng e-Learning và các dụng cụ thu âm

và quay video clip bài giảng

1.2.2.5 Multimedia hóa kịch bản

- Dữ liệu hóa thông tin kiến thức

- Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ họa, tranh ảnh, phim, …

- Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài

- Chọn lựa các phần mềm hỗ trợ cho việc soạn bài giảng và tạo liên kết

- Xử lý các tư liệu thu đươc để nâng cao chất lượng của tư liệu

1.2.2.6 Chạy thử, chỉnh sửa và hoàn thiện

Sau khi hoàn thiện bài giảng phải tiến hành chạy thử, kiểm tra các sai sót, các liên kết, tiến hành sửa chửa và hoàn thiện Kinh nghiệm cho thấy không nên chạy thử từng

phần trong quá trình thiết kế

1.2.3 Tiêu chí đánh giá bài giảng e-Learning

1.2.3.1 Tiêu chí về nội dung

- Bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học phải đảm bảo đúng với chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng và sách giáo khoa của lớp học, bậc học

- Nội dung bài giảng đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn và nội dung, phương pháp bài dạy Thể hiện nổi bật được bài học; khơi gợi được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong nhận thức, luyện tập

+ Đảm bảo chính xác về nội dung kiến thức, nội dung tư tưởng; chính xác về chính tả, từ ngữ, …

+ Khoa học trong cách thiết kế, trình bày Các slide không quá nhiều (bình thường

≤ 30 slide /1tiết), được thiết kế phù hợp với đặc trưng bộ môn, có tác dụng giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, luyện tập Nội dung các slide được thiết kế, trình bày sao cho thể hiện nổi bật kiến thức, có tính hệ thống, trình tự, logic; hình thức thẩm mỹ,

Trang 38

hấp dẫn, giúp học sinh tập trung chú ý, không gây phân tán chú ý của học sinh; phù hợp với PPDH tích cực - thể hiện rõ dụng ý dẫn dắt học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, …

- Trình bày cô đọng không đưa quá nhiều nội dung lý thuyết từ sách giáo khoa vào bài giảng Hàm lượng lý thuyết, kỹ năng vận dụng, câu hỏi gợi mở, kiến thức trọng tâm và bài tập cũng cố cần thiết kế hợp lý

- Bài giảng phải được viết dưới dạng mở để giáo viên có thể chủ động bổ sung hoặc thay đổi cho phù hợp với tiết dạy thực tế

- Minh họa sinh động: Bài giảng phải có hình ảnh minh họa trực quan và sinh động, ưu tiên chọn bài giảng có hình ảnh động sát hợp với nội dung bài giảng, tạo sự phấn khích và ấn tượng với học sinh

- Các phần mềm giáo khoa và các slide, các phim tư liệu (nếu có) làm rõ và thể hiện được sinh động nội dung bài học, đạt hiệu quả cao cho minh hoạ, khám phá, hệ thống hóa và làm rõ trọng tâm kiến thức Ghép nối giữa phần mềm giáo khoa và phim

tư liệu khéo léo, phù hợp trình tự bố cục, logic bài học Tùy bài chọn dùng phần mềm ứng dụng và các slide chữ, slide hình (hình động hoặc hình tĩnh), slide sơ đồ cho phù hợp Nội dung và dữ liệu trong các slide phải đảm bảo minh họa, hệ thống hóa được kiến thức (đặc biệt phần trọng tâm bài), hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá bài học Phần mềm ứng dụng đạt hiệu quả cao và sinh động trong thể hiện kiến thức và dẫn dắt học sinh xây dựng bài học

- Câu hỏi – giải đáp: đảm bảo chính xác, thích hợp với nội dung (có sự tương tác giữa tư liệu dạy học với học sinh, giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh)

- Câu hỏi – giải đáp: đảm bảo tính logic của vấn đế

- Câu hỏi – giải đáp: Phản hồi của giáo viên mang tính sư phạm cao

- Trắc nghiệm sinh động, đạt hiệu quả củng cố, luyện tập, đánh giá tiết học

1.2.3.2 Tiêu chí về hình thức

- Thiết kế kênh chữ, kênh hình, âm thanh phù hợp, khoa học

- Giao diện đối thoại tương tác giữa thầy và trò phải có tính sư phạm, động viên và kích thích học sinh tư duy năng động

- Giao diện thân thiện, có tính thẩm mỹ, phù hợp với lứa tuổi học sinh, tạo cảm giác hứng thú trong học tập

Trang 39

- Trình bày thẩm mỹ, rõ nét, dễ hiểu, dễ nắm, kích thích được sự hưng phấn, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

- Hình và chữ phải rõ, nét, cỡ chữ đủ lớn để xem, gọn lời, trình bày đẹp và có tính trực quan, thể hiện nổi bật được kiến thức

Các hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng hợp lý, không bị lạm dụng, không quá tải đối với học sinh, không gây nhiễu loạn làm mất tập trung vào bài học Các hiệu ứng không làm học sinh phân tán chú ý, không quá nhiều,

sử dụng có cân nhắc đến ảnh hưởng bất lợi của nó, các dòng chữ chuyển động quá cầu

kỳ hoặc rời rạc Màu sắc sặc sỡ, lòe loẹt; âm thanh ồn ào chối tai khi chuyển slide hoặc đánh dấu trắc nghiệm Phối màu không khoa học khiến các dòng chữ mờ nhạt, khó nhìn, khó thấy chữ, …

1.2.3.3 Tiêu chí về kỹ thuật

- Sử dụng đa phương tiện phim (Video), âm thanh (Audio), tranh ảnh (Image), hoạt hình (Flash), các file EXE, nhúng, liên kết, …

- Thiết kế khoa học, dễ sử dụng, nâng cấp, bổ sung, điều chỉnh, có tính sáng tạo, …

- Giáo viên làm chủ được kỹ thuật, thao tác nhuần nhuyễn, trình chiếu không trục trặc Phối hợp nhịp nhàng giữa trình chiếu với ghi bảng, ghi vở, ăn khớp giữa các slide với lời giảng, hoạt động của thầy - trò, với tiến trình bài dạy

- Sử dụng công cụ, phần mềm, …

- Nhịp độ trình chiếu và triển khai bài dạy vừa phải, phù hợp với sự tiếp thu của phần đông học sinh Học sinh theo dõi kịp và ghi vở kịp

1.2.3.4 Tiêu chí về hiệu quả

- Thực hiện được mục tiêu bài học - HS hiểu bài bài và hứng thú học tập

- Học sinh tích cực, chủ động tìm ra bài học

- Học sinh được thực hành - luyện tập (rèn luyện kỹ năng)

- Đánh giá được kết quả giờ dạy

- Phát huy được tác dụng nổi bật của CNTT mà bảng đen và các ĐDDH khác khó đạt được

Trang 40

Chương 2 DẠY HỌC BẰNG NGÔN NGỮ TIẾNG ANH 2.1 SƠ LƯỢC VỀ VIỆC DẠY HỌC BẰNG TIẾNG ANH

Song song với việc nâng cao chất lượng dạy và học trong trường phổ thông hiện nay, đặc biệt giúp học sinh có thể hội nhập nhanh với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới là vấn đề rất được quan tâm Rào cản lớn nhất cho việc hòa nhập quốc tế là trình độ tiếng Anh của giáo viên và học sinh còn hạn chế Trước nhu cầu đó, thực hiện

quy mô của việc dạy học tiếng Anh theo Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 ” của Chính phủ thì việc xây dựng và triển

khai chương trình dạy và học bằng ngoại ngữ cho một số môn học ở các trường THPT

là một trong những giải pháp quan trọng và hết sức cần thiết Đó là một hình thức đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên nó chỉ mới được triển khai ở Việt Nam trong một vài năm gần đây

Chương trình đào tạo bằng tiếng Anh mang đến cho học sinh cơ hội học tập và sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Đây cũng là một bước đệm quan trọng nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng để tự tin hội nhập trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

2.1.1 Mục tiêu của dạy học bằng tiếng Anh

- Thúc đẩy phát triển các kỹ năng ngôn ngữ tiếng Anh một cách tự nhiên thông qua việc sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai

- Tạo ra một môi trường sử dụng và thực hành các kỹ năng, năng lực tiếng Anh bổ ích cho học sinh, giúp học sinh làm quen với việc tiếp cận tri thức thế giới bằng công

cụ ngôn ngữ là tiếng Anh

- Giúp học sinh có nhận thức sâu sắc về nền văn minh thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu và phát triển tiềm năng của chính mình

2.1.2 Đặc trưng và ưu điểm của dạy học bằng tiếng Anh

2.1.2.1 Đặc trưng

- Ngôn ngữ tiếng Anh là phương tiện cho việc lĩnh hội và tiếp thu nội dung bài giảng Trong một tiết dạy học, người dạy sử dụng tiếng Anh để truyền thụ kiến thức, còn người học vận dụng năng lực tiếng Anh của mình để lĩnh hội kiến thức đó Song song đó cả người dạy và người học đều phải giao tiếp với nhau bằng ngoại ngữ là tiếng Anh

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w