1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý THIẾT kế bài GIẢNG điện học BẰNG POWERPOINT PHẦN DÒNG điện TRONG các môi TRƯỜNG

74 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 14,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ năm 1997 đề tài nghiên cứu cấp bộ do PGS.TS Lê Phước Lộc chủ trì “Nghiên cứu việc sử dụng máy tính vào dạy và học ở các trường phổ thông Mã số: B92-10-14” đã được bảo vệ thành cô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH SƯ PHẠM VẬT LÝ – TIN HỌC

ĐỀ TÀI:

THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN HỌC BẰNG

POWERPOINT PHẦN DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC

MÔI TRƯỜNG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Dương Quốc Chánh Tín Trần Hồng Khoa

Tháng 5/2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy: Dương Quốc Chánh Tín đã

tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn tập thể Thầy, Cô trong Bộ môn Vật lý thuộc khoa Sư phạm trường Đại học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Học liệu cùng các thầy cô trong trung tâm đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình hướng dẫn em tìm kiếm tài liệu trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đề tài

Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Trân trọng Cần Thơ, tháng 5 năm 2012

SVTH

Trần Hồng Khoa

Trang 3

Phần 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

2.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong GD ở một số nước trên thế giới 2

Phần 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ

Trang 4

1.2.4 Tính sư phạm của một bài giảng Powerpoint 20 1.2.4.1 Các ưu, nhược điểm của việc sử dụng bài giảng bằng PowerPoint 20 1.2.4.2 Những điểm mạnh, điểm yếu của giáo viên khi thiết kế bài giảng bằng

Trang 5

được thiết kế bằng PowerPoint 37

Phần 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 6

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, sự bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và khoa học công

nghệ nói chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời

sống xã hội Trong bối cảnh đó, để ngành giáo dục đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của

công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chúng ta cần cải cách phương pháp dạy

học (PPDH) theo hướng vận dụng CNTT và các trang thiết bị dạy học hiện đại phát huy

mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành để nâng cao chất lượng dạy học Máy vi tính

(MVT) được sử dụng rộng rãi trong nhà trường với tư cách là phương tiện dạy học với

nhiều loại phần mềm được thiết kế dưới các quan điểm khác nhau Hình thức sử dụng

MVT vào dạy học rất đa dạng, đang được ứng dụng phổ biến ở các nước có nền công

nghệ dạy học tiên tiến và nó được coi là một trong những PPDH tích cực

Trong trường Đại học Cần Thơ nói riêng hay các trường đại học trong cả nước nói

chung việc sử dụng PowerPoint không những trong dạy học mà trong các hội nghị, hội

thảo đang rất phổ biến.Với những tiện ích kì diệu và dễ sử dụng của PowerPoint mà trong

thời gian gần đây phần mềm này đã thu hút rất nhiều giáo viên nghiên cứu và sử dụng

trong dạy học ở các trường đại học cũng như trường phổ thông nước ta Vật Lí là môn

khoa học thực nghiệm đặc biệt là nội dung phần điện học, đây là phần kiến thức khó và

trừu tượng Để học sinh có thể hiểu dễ dàng hơn, nhanh hơn, sâu sắc hơn thì việc thiết kế

và sử dụng các mô hình động bằng phương tiện máy tính đã trở nên hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lí do trên mà em chọn đề tài “Thử thiết kế bài giảng Điện học

bằng PowerPoint phần Dòng điện trong các môi trường” Nội dung em chọn là thiết kế

bài giảng PowerPoint cho phần Dòng điện trong các môi trường: kim loại, chất bán dẫn,

chất điện phân, chất khí và chân không

Điện học là môn khoa học xuất hiện lâu đời song chỉ mang lại sự thú vị đối với

những người đam mê nó Ngày nay, Điện học được biết đến như một ngành khoa học đa

ngành, hiện đại nhất có nhiều ứng dụng trong đời sống và cũng là ngành khoa học phục

vụ nhiều cho công cuộc cải tạo tự nhiên trong tương lai của loài người Tuy nhiên, để thật

Trang 7

sự hiểu biết về Điện học thì người học cần biết được ít nhiều về lịch sử phát minh cũng

như phát triển của ngành khoa học này

1.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận chung về việc thiết kế bài giảng điện tử phần Điện học trong

Vật Lí

- Nghiên cứu ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học theo hướng tích cực

nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập học phần Điện học ở trường Đại học

1.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian có hạn em chỉ nghiên cứu và thực hiện đề tài ở phần “Dòng điện

trong các môi trường” ở giáo trình Điện học hiện hành, mặc dù để đủ tri thức em phải đọc

lại toàn bộ giáo trình này Để phục vụ cho đề tài (Dòng điện trong các môi trường) em

phải khai thác nhiều tài liệu có liên quan, chú trọng vào lĩnh vực khai thác kiến thức phần

“Dòng điện trong các môi trường” trên mạng Internet, đĩa CD-ROM, DVD và các sách

phổ biến khoa học Em có ý định soạn 5 bài giảng về Dòng điện trong các môi trường

Về kỹ thuật máy tính, em sẽ nghiên cứu tình hình của việc sử dụng máy tính trong

giảng dạy ở các trường, chủ yếu là ở Đại học Cần Thơ Các kỹ thuật sử dụng ở đây chủ

yếu là khai thác tất cả các tính năng của phần mềm PowerPoint kết hợp sử dụng các phần

mềm hổ trợ như Photoshop, Flash,…

2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

2.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong GD ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã được quan tâm từ lâu, nhất là

các nước tư bản phát triển Từ những năm 1984, 1985 tổ chức NSCU (National Sofware –

Cordination Unit) được thành lập, cung cấp chương trình giáo dục máy tính cho các

trường trung học Các môn học đã có phần mềm dạy học bao gồm: Nông nghiệp, Nghệ

thuật, Thương mại, Giáo dục kinh tế, tiếng Anh, Địa lí, Sức khoẻ, Lịch sử, Kinh tế gia

đình, Nghệ thuật công nghiệp, Toán, Âm nhạc, Tôn giáo, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã

hội, Giáo dục đặc biệt

Ở Ấn Độ tổ chức NCERT (National Council of Education Resarch and Training) ở

New Dehli đã thực hiện đề án CLASS (Computer Literacy and Studies in School) Đề án

xem xét việc sử dụng máy tính trợ giúp việc dạy học trong lớp, đồng thời quan tâm đến

Trang 8

vai trò của máy tính như là một công cụ ưu việt đánh dấu sự thay đổi có ý nghĩa về

phương pháp luận dạy học

Năm 1985 các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Srilanka, Thái lan,

Malaysia tổ chức các hội thảo về phần mềm dạy học tại Malaysia đã đưa ra tiêu chuẩn

đánh giá phần mềm gồm 3 yếu tố: Đặt vấn đề, trình bày bài giảng và kỹ thuật lập trình Ở

Nhật Bản, máy tính được dùng làm công cụ để giáo viên trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ

năng, tiếp thu bài mới và giải quyết các vấn đề đặt ra trong tiết học Nhật Bản khẳng định

việc sử dụng máy tính trong dạy học, đặc biệt ở phổ thông, đã có tác dụng kích thích sự

hứng thú học tập của học sinh Hiện nay các nước trong khu vực như: Singapore, Thái

Lan việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng đã trở nên rất phổ biến

2.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học ở Việt Nam

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, nước ta đã bắt đầu sử dụng máy tính điện tử Hội

đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ra Nghị quyết số: 173- HĐBT (1975) và số: 245-

HĐBT (1976) về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong cả nước Viện

Công nghệ thông tin được thành lập và có những đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa

tin học vào nhà trường Đặc biệt trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có nhiều tác giả

nghiên cứu về việc ứng dụng tin học trong dạy học các môn học ở trường phổ thông

Chẳng hạn như:

- Năm 2002, các tác giả Phạm Xuân Quế, Phạm Kim Chung đã thử nghiệm xây

dựng trang Web dạy học chương “Dao động cơ học” ở chương trình Vật lí lớp 12 THPT

theo hướng phát triển hứng thú, tích cực, tự lực tham gia giải quyết vấn đề trong học tập

của học sinh

thiết kế các thí nghiệm mô phỏng trong dạy Vật lí Theo tác giả thì những hiện tượng vật

lí như được thu nhỏ lại trước màn hình giúp HS có thể theo dõi, quan sát hiện tượng ở

nhiều góc độ khác nhau

- Lê Công Triêm đã giới thiệu một số Website điển hình dùng cho việc khai thác tư

liệu hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lí

Trang 9

Vấn đề ứng dụng CNTT trong GD& ĐT được Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng,

coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại là điều hết

sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ GD& ĐT đã

thể hiện rõ điều này (Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Chỉ thị số 29 của Bộ GD& ĐT

(30/7/2001/CT)) Đặc biệt, chiến lược phát triển GD& ĐT 2001 - 2010 của Bộ GD& ĐT

đã yêu cầu ngành GD& ĐT phải từng bước phát triển dựa trên CNTT, vì: “CNTT và đa

phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lí hệ thống GD& ĐT, trong chuyển

tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy

và học”

Tại trường Đại học Cần Thơ, việc sử dụng PowerPoint để báo cáo trong hội nghị là

yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ Cũng có nhiều giáo viên ở Khoa Sư phạm dạy môn

học của mình với sự hổ trợ của máy tính Ngay từ năm 1997 đề tài nghiên cứu cấp bộ do

PGS.TS Lê Phước Lộc chủ trì “Nghiên cứu việc sử dụng máy tính vào dạy và học ở các

trường phổ thông (Mã số: B92-10-14)” đã được bảo vệ thành công cho thấy tập thể tác giả

(các cán bộ giảng dạy của Khoa Sư phạm) đã là những người đi tiên phong trong lĩnh vực

áp dụng tin học vào dạy học Từ đó cho đến nay lượng cán bộ giảng dạy của khoa tiếp cận

và sử dụng máy tính trong dạy học càng nhiều mà phổ biến là sử dụng PowerPoint

Không những thế sinh viên của khoa còn được khuyến khích sử dụng máy tính để dạy

học Thực tế, trong nhiều năm qua đã có rất nhiều sinh viên thực hiện một số bài giảng ở

phổ thông bằng máy tính trong các đợt đi thực tập sư phạm

Nhìn chung cơ sở vật chất thiết bị dạy học trong các trường học ở Việt Nam còn

thiếu, không đồng bộ Đội ngũ giáo viên chưa xem việc sử dụng máy tính, cũng như các

phương tiện dạy học hiện đại khác trong quá trình giảng dạy là một nhu cầu thiết yếu Mặt

khác để soạn thảo một giáo án điện tử không chỉ đòi hỏi những kỹ năng sử dụng máy tính

nhất định mà còn đầu tư về thời gian của giáo viên Hiện nay đa số các trường đều được

trang bị các phòng máy tính và phương tiện hiện đại khác Vì vậy em hy vọng đề tài này

sẽ có ích cho thời gian tới

3 CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- Các phương pháp nghiên cứu:

Trang 10

+ Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu Điện học và các vấn đề liên quan đến Dòng

điện trong các môi trường; Nghiên cứu thêm về lý thuyết tin học; Nghiên cứu LLDH,…

+ Nghiên cứu các địa chỉ Internet có liên quan đến nội dung đề tài để học tập cách

trình bày hình ảnh kết hợp với nội dung sao cho kích thích sự hứng thú học tập của người

học

- Thực hành trên máy tính: Thiết lập 5 bài giảng trên trang PowerPoint có kết hợp

các kỹ thuật khai thác phần mềm ứng dụng như đã đề cập ở trên

- Các phương tiện nghiên cứu:

+ Máy tính (Personal Computer)

+ Máy chiếu: Video Projecter

+ Các loại tài liệu: Sách Điện học, tạp chí, băng, đĩa CD-ROM, DVD,…

4 CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Với thời gian thực hiện gần một năm học (từ tháng 09 năm 2011 đến tháng 05 năm

2012), đề tài này được thực hiện theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Sưu tầm tài liệu, nghiên cứu cơ sở lý thuyết về lý luận dạy học, các

phương pháp dạy học hiện đại, nghiên cứu các lọai tài liệu về Điện học,…

- Giai đoạn 2: Khảo sát thực tế việc sử dụng phần mềm PowerPoint vào giảng dạy

ở các trường Phổ thông, thử nghiệm soạn và giảng dạy Vật lý ở trường THPT Nguyễn

Việt Dũng bằng phần mềm PowerPoint

- Giai đoạn 3: Tiến hành thực hiện đề tài, soạn các bài Dòng điện trong các môi

trường, giáo trình Điện học hiện hành

- Giai đoạn 4: Phân tích và viết luận văn

5 LÀM RÕ MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

1) Máy tính (MT): Là máy tính điện tử (MTĐT) hay là máy vi tính (MVT) đôi khi

còn gọi là PC (Personal Computer)

2) Chương trình (Program): Trong đề tài tuy không sử dụng cho mục đích lập trình

đối tượng nhưng sản phẩm của công việc được gọi chung là chương trình, tạo ra để ra

lệnh cho máy tính thực hiện

3) Phần mềm( Software): Là các chương trình cài đặt trên hệ thống MVT để điều

Trang 11

Trong đề tài này, phần mềm là các chương trình đơn giản đựoc tạo ra nhằm hai

mục đích:

- Cung cấp các công cụ để người giáo viên có thể sử dụng chúng trong quá trình

trình diễn bài trên lớp

- Cung cấp các chương trình nguồn (PowerPoint) để các giáo viên có thể sử dụng

trực tiếp, có thế thay đổi theo ý mình hoặc tham khảo trong quá trình thực hiện soạn thảo

giáo án điện tử

4) Hổ trợ (trợ giúp): Trước hết hổ trợ là sự “giúp đỡ”, cụ thể trong đề tài này là sự trợ

giúp của máy tính đối với việc dạy và học Song trong đề tài này, em không dùng từ “giúp

đỡ” bởi lẽ nó có một số sự khác biệt như sau:

- Khi người ta không làm được cái gì đó thì cần giúp đỡ Song việc gì đó người ta đã

làm được, cần làm cho tốt hơn, chất lượng hơn lúc đó cần một sự “hổ trợ”

- Có sự tương tác giữa phương tiện “hổ trợ” và người được “hổ trợ” Người được

“hổ trợ” không ỉ lại vào công cụ , cần suy nghĩ song song với sự hổ trợ đó để lĩnh hội

cũng như đôi khi cần tác động ngược lại để có phương tiện tốt

5) Mô phỏng (Simulation): đó là sự bắt chước, làm theo (ở đây đề cập đến biễu diễn

trên màn hình máy tính) một sự vật, sự việc có trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra,

trong đó lưu lại những thuộc tính bản chất của sự vật, sự việc ấy nhằm mục đích đơn giản

hóa để dễ hiểu hoặc làm nổi bật những thuộc tính riêng để khai thác, tận dụng những ưu

điểm của các thuộc tính ấy

6) Hình tĩnh: Là loại hình được sao chép lại tại một trạng thái vận động của sự vật

Khi thực hiện trình chiếu chỉ làm cho người học quan sát được rõ ràng hơn, chi tiết hơn

7) Hình động (hoặc Video clip) :Được sao chép hay copy lại toàn bộ trạng thái vận

động của một sự vật hiện tượng nào đó mà không làm mất đi các đặc tính của chuyển

động

8) Quá trình dạy học: Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của hoạt động chỉ

đạo của thầy với họat động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò, nhằm làm

cho thầy đạt được mục đích dạy học

9) Giáo án điện tử:Tạm hiểu theo nghĩa đơn giản đó là giáo án được soạn bằng MVT

trên các trang PowerPoint để thực hiện giảng dạy của giáo viên

Trang 12

10) Internet: Là hệ thống mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn

thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa,

truyền các tập tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin

Thông tin lưu trữ trên Internet ở dạng siêu văn bản, sử dụng đồng thời nhiều

phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ họa, âm thanh cùng với sự gây ấn tượng

bằng tương tác, MVT thì kết hợp với hệ thống đa phương tiện, làm việc với các siêu văn

bản hoàn toàn đáp ứng được khả năng nghe-nhìn-điều khiển Khả năng này tạo mối tương

tác hai chiều giữa học sinh với chương trình ở mức độ cao hơn Thể hiện sự phản ứng linh

hoạt với các sự kiện xảy ra trên màn hình máy tính

Trang 13

Phần 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ

Chương I:

CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 1.1 Cơ sở tâm lý học

1.1.1 Hoạt động tâm lý

Trong các hoạt động tâm lý diễn ra trong suốt quá trình nhận thức của con người

Đặc trưng cơ bản của hoạt động này là phản ánh hiện thực khách quan và nó phải có

hướng đích Quá trình nhận thức được chia ra làm hai giai đoạn, thể hiện những mức độ

phản ánh khác nhau về lượng cũng như về chất: quá trình nhận thức cảm tính và quá trình

nhận thức lí tính, hai quá trình này sẽ cho chủ thể những sản phẩm khác nhau về hiện thực

khách quan, thể hiện ở các dấu hiệu của đối tượng Nhận thức cảm tính chủ yếu cho chủ

thể những hình ảnh chính xác về sự việc, sự vật với những dấu hiệu bên ngoài còn nhận

thức lí tính cho chủ thể biết cái bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng Hai quá trình

nhận thức này có mối quan hệ biện chứng: không có nhận thức cảm tính thì đối tượng sẽ

không phản ánh đầy đủ về hình thức bên ngoài và do đó chủ thể sẽ không tìm thấy được

rõ ràng các đặc tính bản chất bên trong, đôi khi đi vào duy ý chí ( phát biểu tính chất bên

trong của đối tượng theo chủ quan của chủ thể ); nếu không có nhận thức lí tính thì chủ

thể sẽ nhận thức sự vật, hiện tượng một cách rời rạc, không bản chất

1.1.2 Nhận thức cảm tính

Khi nói đến vấn đề này ta không thể không chú ý đến hoạt động cảm giác và tri

giác của con người Hai yếu tố cấu thành ấy, yếu tố nào cũng quan trọng Cảm giác phản

ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bề ngoài của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động

vào các giác quan của ta Nhưng những tác động ấy đôi khi làm chủ thể chưa thật sự ý

thức vấn đề học tập mà nó thể hiện ra là chủ thể lơ là, không tập trung và do đó kết quả

nhận thức chưa có gì là đảm bảo Chúng ta nói đến hoạt động tri giác Hoạt động này thể

hiện sự lưu tâm thật sự của chủ thể vào đối tượng, quan sát có ý thức, quan sát có tập

Trang 14

trung và quan sát toàn diện, không bỏ qua chi tiết nhỏ nào ở đối tượng Hai hoạt động này

phải kết hợp với nhau và chúng có vai trò:

- Giúp con người định hướng hành vi, hoạt động trong cuộc sống và có thể thích ứng

sự thay đổi của môi trường

- Nó là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của vỏ não giúp cho

con người có cuộc sống tinh thần bình thường Các công trình nghiên cứu cho thấy những

người “đói cảm giác” thì các chức năng tâm lý sẽ bị rối loạn

- Nó là nguồn cung những nguyên vật liệu cho những quá trình tâm lý cao hơn Hay

nói cách khác là nó là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài của nhận thức

Như vậy trong dạy học, đây quả là một bước nhận thức cơ bản nhằm làm cho học

sinh bị thu hút bởi những vấn đề trong bài giảng của mình Sau cảm giác các vấn đề học

tập, học sinh phải tri giác, liên tưởng nó tới các vấn đề khác nhau hưng có dấu hiệu bề

ngoài giống nhau để có thể tạm thời đưa ra một số kết luận về hình thức bên ngoài của

(một hoặc nhiều) sự vật, hiện tượng chuẩn bị nghiên cứu chúng sâu hơn về bản chất bằng

các hoạt động tư duy (nhận thức lí tính)

1.1.3 Nhận thức lý tính

Để các kết quả của tri giác trở thành có ý nghĩa, chủ thể phải suy ngẫm bằng các

hoạt động phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, so sánh, khái quát hóa, v.v mà ta gọi đó

là các hoạt động tư duy để tiến tới các quá trình qui nạp hoặc diễn dịch để phản ánh cái

bản chất bên trong của sự vật hiện tượng Đây là quá trình hình thành một lí thuyết nào

đó Trong quá trình này, tư duy ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng và nó phải thể hiện

các kết quả bằng ngôn ngữ (viết hoặc nói)

Xu thế đổi mới giáo dục hiện nay là đào tạo nên những con người thông minh,

sáng tạo, đứng trước một vấn đề phải biết soi xét, áp dụng vào hoàn cảnh thực tế Đây là

mức độ nhận thức cao hơn về chất so với cảm giác, tri giác Tư duy trừu tượng, khái quát

đến mấy cũng phải dựa vào các tài liệu trực quan mà cảm giác và tri giác đưa lại Hơn nữa

muốn tư duy trước hết phải tri giác được hoàn cảnh có vấn đề, tri giác được các sự kiện

Kết quả của tư duy phải được kiểm tra trong thực tiễn và lại thông qua các quá trình nhận

thức cảm tính để đánh giá…

Trang 15

Như vậy để phát huy được hết các đặc điểm tâm lý nói trên đối với người học,

trong các hoạt động này đòi hỏi người học phải vận động tích cực, bắt tay vào nhiệm vụ

học tập như tri giác, tư duy, tưởng tượng cao độ…Trong điều kiện giảng dạy, học sinh

thoải mái đón nhận nhiệm vụ học tập, tích cực hợp tác, thì không có gì khó khăn, nhưng

vào các trường hợp ngược lại, hoặc lượng thông tin quá nhiều, thời gian thực hiện quá lâu

thì lại mang ý nghĩa ngược lại Trong tâm lý của con người, ai cũng muốn mình hoàn

thiện, muốn tìm đến cái mới và hữu ích hơn Vì thế để giảng dạy có hiệu quả, phải cần

thay đổi phương pháp, phương tiện dạy học Do đó mà dạy học bằng MVT có thể kết hợp

được các ưu điểm của các họat động tâm lý nói trên

Nói như vậy để ta khẳng định lại nhận thức luận mà Lê – nin đã viết: “Từ trực

quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con

đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thức hiện thực khách

quan” Cũng chính từ quan điểm nhận thức ấy mà trong dạy học cần các phương tiện trực

quan như mô hình, biểu bảng, hình ảnh, thí nghiệm,…Và trong thời đại ngày nay, chúng

ta có thêm nhiều công cụ hiện đại để trực quan hóa bài học Chiếc máy tính đã giúp cho

quá trình nhận thức cảm tính (các hình ảnh động và cố định, các biểu bảng,…) được tích

cực hóa Tuy nhiên với những kỹ xảo của các chương trình hiện nay, chiếc máy tính làm

cho con người nhanh chóng đạt được kết quả của nhận thức lí tính (biễu diễn, mổ xẻ và

mô phỏng sự vật, hình tượng hóa sự việc,…) Việc dùng PowerPoint để dạy học cũng với

mục đích trên, nếu chỉ xét về mặt tâm lý

1.1.4 Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học

Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong QTDH, bao gồm các

đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết bị hỗ trợ và các

điều kiện cơ sở vật chất khác

Theo Lotsklinbo: “PTDH là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp GV

hay HS tổ chức tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục và giáo dưỡng ở các cấp

học, ở các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện những yêu cầu của chương trình

giảng dạy PTTQ bao gồm mọi thiết kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong

QTDH, để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo”

Trang 16

PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức hết sức phong phú và sinh động, giúp

HS lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác, đồng thời giúp củng cố, khắc sâu, mở rộng, nâng

cao và hoàn thiện tri thức Qua đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy tìm tòi

sáng tạo, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp, tình hình phát triển động cơ học tập tích

cực, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học Từ đó có khả năng vận dụng những

tri thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

Trực quan trong dạy- học là một nguyên tắc lý luận dạy- học ra đời sớm nhất Từ

cổ xưa, người ta đã sử dụng nó trong quá trình truyền đạt những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ

xảo, ở những chỗ mà lời giảng không đủ để đảm bảo cho trẻ em hiểu thấu được đối tượng

J.A.Cômenxki (1592 - 1679) nhà giáo dục nổi tiếng Slovakia được xem là

người đầu tiên nêu ra luận đề cơ bản về giảng dạy trực quan Theo ông, không hề có gì

hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảm giác Vì vậy, dạy- học không

thể bắt đầu từ sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp của chúng Trực quan được xem là

một phương tiện phản ánh khách quan, trung thực vào đối tượng và các quá trình của thế

giới hiện thực, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với việc phát triển tư duy trừu tượng của

HS

PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạt động

dạy học ở tất cả các khâu của QTDH Nó không thể thiếu trong việc vận dụng phối hợp

các PPDH cụ thể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giảm nhưng đầy đủ, sâu sắc

và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của HS một cách hiệu quả, sánh tạo

PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông tin nhằm đáp ứng nhu

cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sư phạm Tuy nhiên, PTTQ có giá trị dạy

học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ sư phạm trong quá trình nghiên cứu

xây dựng và sử dụng của người GV Nếu trong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp

lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế Chúng có thể phá vỡ cấu trúc

bài giảng, phân tán sự chú ý của HS, lãng phí thời gian và tiền của Vì vậy, một trong

những vấn đề quan trọng hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng các PTTQ

phải gắn liền với việc hướng dẫn sử dụng có hiệu quả cho đội ngũ GV Đây cũng chính là

một vấn đề còn ít được quan tâm đầy đủ, và là một khâu yếu nhất trong nhà trường phổ

Trang 17

Trong lí luận dạy học, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tin bao gồm

sự lựa chọn sắp xếp và truyền đạt thông tin trong một môi trường sư phạm thích hợp tối

ưu cho người học Trong bất kỳ tình huống dạy- học cũng có một thông điệp để dạy, cũng

có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, và các phản hồi từ người học, kể cả sự

kiểm soát quá trình này về sự nhận xét đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác

PTTQ chính là các cầu nối truyền thông tin từ GV tới HS và ngược lại Mỗi môn học đều

cần có các PTTQ phù hợp, đặc biệt là trong thế kỷ 21 với sự bùng nổ của thông tin thì

PTTQ lại càng có vai trò quan trọng hơn

1.2 Cơ sở lý luận dạy học

1.2.1 Quá trình dạy học (QTDH)

Khái niệm này đã được đề cập ở trên Song để hiểu được điều này một cách cụ thể, người

ta phải biết xem nội dung bên trong nó là gì, nó được xây dựng bởi những yếu tố (thành

tố) cơ bản nào và tìm hiểu ý nghĩa của các thành tố đó

1.2.2.1 Sơ lược các thành tố của quá trình dạy học

Các thành tố của quá trình dạy học

* Các thành tố phi vật chất:

- Mục tiêu đào tạo: Thành tố này chi phối toàn bộ việc dạy học của chúng ta, hay nói

khác đi nó qui định mức độ cũng như chất lượng cấu thành của các thành tố khác trong

QTDH Thành tố này luôn được điều chỉnh bởi xã hội, vì vậy các thành tố khác cũng phải

thay đổi cho phù hợp

- Phương pháp dạy và phương pháp học: Thành tố này thể hiện ra bên ngoài ở người

dạy và người học, là con đường, cách thức để QTDH đạt được mục đích dạy học Thành

tố này cũng vận động khi mục tiêu đào tạo thay đổi

- Thành tố môi trường xã hội và môi trường giáo dục: Thành tố này bao gồm thể chế

xã hội – quy định mục tiêu đào tạo – môi trường xã hội quanh trường, tập thể học sinh,

tập thể giáo viên - ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu đào tạo Đây là thành tố quan trọng,

ảnh hưởng mạnh mẽ đến QTDH

* Các thành tố mang tính vật chất:

- Người dạy: Cùng với mục tiêu đào tạo, thành tố này chỉ đạo trong QTDH

Trang 18

- Người học: Đây là thành tố vừa bị chỉ đạo bởi các thành tố khác, đặc biệt là người

dạy, vừa là tự chỉ đạo (chủ động) trong QTDH

- Phương tiện dạy học: Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển rất cao về phương tiện

nghe nhìn và máy móc thông tin Nếu ngành giáo dục tận dụng được các phương tiện hiện

đại vào dạy học thì có thể nói QTDH trong thời đại mới sẽ thay đổi sâu sắc về hình thức

lẫn chất lượng

Thế nhưng mục đích của ta là đi tìm bản chất của QTDH Ở trên ta thấy nổi bật lên

hai thành tố chính yếu mà nếu không có chúng thì sẽ không có quá trình dạy học, đó là

người dạy và người học Nói rõ hơn, đó là quá trình làm việc của người học và bản chất

của QTDH cũng được thể hiện ra ở mối quan hệ giữa hai thành tố này, đặc biệt là sự vận

động bên trong của quá trình học dưới sự hổ trợ, dẫn dắt của người dạy

Hoạt động giảng dạy của giáo viên giữ vai trò chủ đạo: Tổ chức, lãnh đạo, điều

khiển quá trình dạy học Người học trong quá trình học tập, vừa là đối tượng, vừa là

khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động nhận thức, chủ thể chiếm lĩnh

tri thức, kỹ năng theo mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học Họ không ngừng phát

huy tính cao độ tự giác, tính tích cực, tính sáng tạo, tính độc lập trong học tập dưới sự

hướng dẫn, điều khiển của giáo viên

Để đảm bảo được sự thống nhất giữa vai trò tổ chức, điều khiển quá trình học tập

của người học, trước hết hoạt động dạy học phải tiến hành hướng về người học, phải phát

huy cao độ tính tích cực, sáng tạo của họ, tạo điều kiện để họ có thể học bằng hoạt động

của chính mình

1 1.2 Mối liên hệ nghịch giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Nếu như quan sát sơ đồ dưới đây:

Trang 19

Ta thấy rằng mũi tên chỉ theo hai chiều: Chiều thuận (ngược chiều kim đồng hồ)

chỉ liên hệ thuận tác động từ người dạy (D) đến người học (H) – Quan hệ điều khiển

Chiều ngược lại chỉ liên hệ nghịch từ người học đến người dạy hoặc đến các đối tượng

của hoạt động học, gọi lại mối liên hệ nghịch ngoài Riêng mối liên hệ nghịch từ kết quả

đến người học là mối liên hệ nghịch trong, thể hiện sự tự điều chỉnh của bản thân người

học các hoạt động học của mình (gọi là liên hệ nghịch trong)

Các mối liên hệ xuôi là các hoạt động dạy học – các hoạt động chỉ đạo Sự thể hiện

các mối liên hệ này không hoàn toàn như trước đây Các hoạt động dạy có thể không xuất

hiện thường xuyên và tường minh Nghĩa là, không phải lúc nào người dạy cũng đứng

trên bục giảng, trước mặt học sinh Thầy có thể đứng ngoài lớp học, thậm chí ở nhà

nhưng học sinh phải làm việc theo sự hướng dẫn của thầy

Thầy đứng trước lớp nhưng không phải lúc nào cũng thuyết giảng mà có thể thầy

hướng dẫn học sinh học tập, thảo luận,…Trong dạy học tích cực, các hoạt động ấy nằm

trong quan hệ chỉ đạo từ thầy đến trò Các hoạt động chỉ đạo còn bao gồm cả việc hướng

dẫn học sinh lựa chọn nội dung tham khảo ở nhà, chọn bài tập để làm, giới thiệu cho học

sinh phương pháp học sao cho thích hợp với mỗi các nhân

Trong lý luận dạy học hiện đại, người ta quan tâm nhiều đến các mối quan hệ

nghịch Bên cạnh việc học SGK học sinh còn phải đi thư viện theo sự giới thiệu của thầy

trên lớp Đặc biệt quan trọng là mối quan hệ nghịch từ học sinh tới thầy Trong quá trình

Trang 20

học tập, học sinh phản hồi những thăc mắc, mâu thuẫn trong tư duy phát triển QTDH Sự

“giao lưu” này cùng kết quả kiểm tra, thầy đánh giá được học sinh của mình và cũng từ

đó thầy tự điều chỉnh các hoạt động chỉ đạo của mình cho sát với khả năng của từng lớp,

từng học sinh Muốn có QTDH tối ưu, thầy phải tự điều chỉnh hoạt động dạy của mình

cho thích hợp, quan tâm nhiều đến phương pháp dạy, dạy như thế nào để đi đôi với hành

Như vậy việc sử dụng các phương tiện trực quan trong giảng dạy là hết sức cần thiết, như

vậy MVT trở thành phương tiện không thể thiếu trong QTDH

Theo lý thuyết này thì việc sử dụng MVT để hổ trợ cho dạy học sẽ đáp ứng ở mức

độ cao sự chỉ đạo của thầy cũng như giữ được mối quan hệ xuôi và ngược ở mức độ cao

Việc thiết kế giáo án dạy học trên máy tính sẽ thể hiện rất rõ sự chỉ đạo của thầy: lúc nào

cần đưa nội dung, lúc nào đưa các hình ảnh mô phỏng, lúc nào để cho học sinh hoạt

động,…Phản ứng của học sinh trong giờ học (phấn khởi, ngạc nhiên, nhàm chán,…) sẽ

được thể hiện trong khi trình diễn các trang PowerPoint Sự tự điều chỉnh của giáo viên sẽ

được thể hiện ở việc thầy sửa chữa, cập nhật các trang PowerPoint của mình ngay sau giờ

giảng

1 2 MVT được nhìn dưới góc độ sư phạm

QTDH là quá trình hoạt động của thầy lẫn trò, đôi khi riêng biệt, đôi khi chung, nó

diễn ra không chỉ ở lớp học mà còn ở nhà, ngoài xã hội QTDH bao gồm cả việc dạy bài

học mới, ôn tập, kiểm tra, đánh giá

Với tính cách là một công cụ dạy học bình đẳng với các công cụ truyền thống

khác, MVT có thể sử dụng theo hướng khác nhau với nhiều mục đích khác nhau Trước

hết, chiếc máy tính như là phương tiện trực quan trong QTDH

1.2.2.1 MVT – Ph ương tiện trực quan hiện đại trong QTDH

Trong mỗi nội dung dạy học đòi hỏi phải có những phương pháp và phương tiện

dạy học tương ứng Ngày nay, mục đích của QTDH là đào tạo nên những con người

thông minh, sáng tạo, phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật Chính vì vậy mà

nội dung dạy học cũng đã được điều chỉnh và phương tiện dạy học cũng đã được cải tiến,

hiện đại hóa MVT là một phương tiện dạy học hiện đại Việc sử dụng MVT trong dạy

học có những đặc điểm sau:

Trang 21

- Tăng tính trực quan, sự hứng thú học tập kích thích sự chú ý của học sinh ở mức

độ cao

- Giao tiếp người – máy trong quá trình học tập là hoàn toàn chủ động theo sự điều

khiển của giáo viên và học sinh

- Tạo cơ hội để chương trình hóa không chỉ nội dung tri thức mà cả những con

đường nắm vững tri thức, điều khiển được QTDH

- Giảm thời gian viết, nói của giáo viên trên lớp vì nhiều nội dung đã được chuẩn bị

trên màn hình, kể cả những hình ảnh động Cụ thể, đối với việc sử dụng phần mềm

PowerPoint trong giảng dạy Điện học, những hình ảnh, những kết quả của lý thuyết được

ghi nhận lại và được trình diễn lại Đối tượng học tập coi như đã tri giác thực tế và hình

dung được nội dung đó

- Dạy học với MVT không bị hạn chế, gò bó theo thời gian biểu, có thể thực hiện

dạy học ở tình huống “không lớp” như phụ đạo riêng cho một số người, giao nhiệm vụ

cho học sinh về nhà tự học trên máy, trong đĩa CD v v

- MVT cho phép củng cố ngay lập tức và thường xuyên hơn so với dạy học truyền

thống, kế thừa kết quả của hoạt động trước đó

- Cá thể hóa hoạt động học tập của học sinh ở mức độ cao Học sinh có thể được

giao nhiệm vụ học tập với mức độ riêng phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều

kiện học tập của từng cá nhân

- Các mô hình, hiện tượng,…khi quan sát có sự trợ giúp của MVT được thực hiện

một cách nhanh chóng với độ chính xác cao

- Các số liệu, hình ảnh, đánh giá và biểu diễn linh hoạt

- Với các phần mềm thích hợp, với các thiết bị ngoại vi kèm theo có thể xây dựng

được phần mềm giảng dạy Điện học cho tất cả các đối tượng như chương trình đào tạo từ

xa, qua mạng Internet Đây là vấn đề mà Đảng và nhà nước ta đang quan tâm Thông qua

Internet chúng ta có thể lấy được những thông tin mới nhất liên quan đến nội dung dạy

học

- Việc sử dụng MVT trong dạy học cũng làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy

học của giáo viên Hình thức tổ chức dạy học cũng từ đó được cải tiến, hoàn thiện theo

hướng linh hoạt phong phú hơn

Trang 22

1.2.2.2 Các xu hướng sử dụng MVT ở trường Phổ thông

Giáo dục tin học cho học sinh thông qua giảng dạy các môn học khác, sử dụng

hình thức nội, ngoại khóa,…Sự nghiệp giáo dục phải đáp ứng những đòi hỏi của xã hội

Đó là yêu cầu có tính chất nguyên tắc Trong thời đại ngày nay MVT trở thành học vấn

phổ thông của mọi thành viên trong xã hội Nếu như sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng

rộng rãi của tin học là một đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học công nghệ của

thế kỷ này thì việc đưa tin học vào nhà trường cũng là một bước ngoặc trọng đại trong sự

nghiệp đào tạo, nó vừa sử dụng công nghệ thông tin cho chính nó, nó cũng vừa đào tạo

cho xã hội những con người ra đời tiếp cận với MVT để làm việc

Có hai xu hướng để đưa tin học vào trường phổ thông:

- Đưa tin học vào chương trình giảng dạy, xem tin học như một môn học tương tự

các môn học khác (thực tế đã thực hiện tại hầu hết các trường phổ thông hiện nay)

- Sử dụng MVT như một công cụ dạy học: công cụ xử lí số liệu trong phòng thí

nghiệm và công cụ trực tiếp phục vụ cho người giáo viên trên lớp

Dưới đây em chỉ đề cập đến xu hướng thứ hai có liên quan trực tiếp tới đề tài này

1.2.2.3 S ử dụng máy tính như công cụ dạy học

a Mô phỏng các nội dung dạy học

Theo hướng này, các môn học chẳng hạn như Vật Lý, Toán, Hóa Học, Sinh Học và

cả các môn kỹ thuật sẽ có rất nhiều lợi thế trong việc tận dụng màn hình của chiếc MVT

Với các ngôn ngữ lập trình không đến nỗi phức tạp lắm như: Pascal, Visualbasic, htlm và

đặc biệt là các phần mềm sẵn có (Maple, Mathlap, Interactive Physic 2000,…), nếu biết

kết hợp những lợi điểm của MVT cùng với những ưu thế tuyệt đối của người giáo viên về

những ý tưởng cũng như những cái nhìn mang tính sư phạm, chúng ta có thể biểu diễn các

hình ảnh, hiện tượng cũng như các thí nghiệm trên màn hình, giả sử áp dụng cho mô

Trang 23

- Biễu diễn các hiện tượng của Vật Lý vĩ mô có bản chất mang tính vi mô (biễu diễn

sự truyền dao động của sóng ngang, sóng dọc, sự dính ướt,…)

- Biễu diễn dao động cơ điều hòa và trực quan hóa sự biến đổi năng lượng trong

khung dao động điện,…

- Mô phỏng nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của các động cơ, mô phỏng các hiện

tượng Vật Lý

- Mô phỏng các thí nghiệm Vật Lý từ đơn giản đến phức tạp (các thí nghiệm cơ

nhiệt, điện, quang, nguyên tử hạt nhân, thuyết tương đối,…)

Đây là một công việc hết sức cần thiết, bởi lẽ trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam

hiện nay còn yếu kém, thiết bị hiện đại chưa được trang bị đầy đủ

b Soạn thảo giáo án dựa vào phần mềm PowerPoint

Thực tế giảng dạy cho thấy, sử dụng phần mềm PowerPoint trên lớp đã có thể thay

thế gần như hoàn toàn cho bảng viết trong suốt tiết học Cũng có thể sử dụng MVT ở từng

giai đoạn của tiết học: củng cố tri thức cho học sinh trước khi bắt đầu giờ giảng, xây dựng

tri thức mới, ôn luyện và vận dụng tri thức, tổng kết hệ thống hóa kiến thức và kiểm tra

MVT có thể mô phỏng các thí nghiệm ảo với hình ảnh, âm thanh, màu sắc hợp lí để có thể

kích thích học sinh trong lớp học Trong dạy học Điện học, hệ thống các hình ảnh tĩnh,

động mô tả dòng điện, hình ảnh các nhà nghiên cứu lịch sử về điện,… cần thiết cho nội

dung bài học sẽ được biễu diễn nhanh chóng và hoàn toàn động mà không cần lập trình

phức tạp Những cách làm ấy sẽ góp phần tích cực hóa các hoạt động học tập của người

học

1.2.3 Hiện trạng ứng dụng PowerPoint trong dạy học

Microsoft PowerPoint là chương trình ứng dụng trong bộ sản phẩm nổi tiếng của

Microsoft mang tên Microsoft Office Cùng với Microsoft Word và Microsoft Excel,

PowerPoint thực sự cần thiết cho tất cả các cơ quan, công sở, trường học, văn phòng

Hiện nay, phần mềm PowerPoint là công cụ được sử dụng với nhiều mục đích và ngày

càng được khẳng định tầm quan trọng trong nhiều lĩnh vực Nó cũng được nghiên cứu sâu

những chức năng vốn có để phục vụ nhu cầu ngày càng lớn về giảng dạy và học tập trong

các nhà trường Khác với hai sản phẩm phổ biến của Microsoft, PowerPoint với công cụ

Trang 24

tinh xảo, biểu mẫu, biểu đồ có sẵn và tự thiết kế cũng như một loạt những chức năng tự

động hóa các quá trình này dùng để tạo ra các biểu mẫu đồ hoạ trang trí đẹp mắt và phim

dương bản được kết nối tạo nên các trình phim biểu diễn các cơ chế, các quá trình được

ứng dụng rất nhiều trong việc thiết kế các bài giảng, các thuyết minh khoa học, các báo

cáo hết sức sinh động Nhờ đó, PowerPoint thực sự mang lại hiệu quả cho những ứng

dụng nhằm tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực

Hiện nay, một số giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ về đổi mới phương pháp

dạy- học Khi sử dụng PowerPoint, nhiều giáo viên quên việc sử dụng bảng và coi màn

hình là công cụ duy nhất Kết quả là trong giờ học, học sinh chỉ làm nhiệm vụ chép lại

những chữ phóng to trên màn hình, không còn thời gian để nghe hoặc trao đổi về bài học

Vì vậy mỗi GV cần phân tích những ưu nhược điểm của việc áp dụng công nghệ thông

tin, phân tích sự khác nhau về mức độ áp dụng cho từng bài, từng phần kiến thức

Nghiên cứu bước đầu của em cho thấy phần mềm PowerPoint có thể thực hiện

được các công việc phục vụ giảng dạy, học tập sau:

• Tạo giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách hướng dẫn phục vụ giảng

dạy, học tập trong nhà trường và tự học của HS

• Tạo các trình phim, mô hình động mang tính trực quan, phù hợp với việc tổ chức

dạy- học, phục vụ hội thảo, triển lãm

Phần mềm PowerPoint có những tính năng sau:

- PowerPoint là một phần mềm cho phép chúng ta thiết kế ở diện rộng phù hợp với

tất cả các môn học, nó có tác dụng giúp giáo viên trình bày nội dung kiến thức một cách

lôgic, dẫn dắt học sinh đi sâu vào từng vấn đề cụ thể, đặt các em trước những tình huống

có vấn đề cần phải giải quyết

- Giáo viên có thể dựng hình ảnh, âm thanh, cùng với chữ viết dưới dạng câu hỏi,

bài tập Các vấn đề cụ thể được trình bày lần lượt trên một phông nền có màu sắc hài

hoà, không gian ba chiều kèm theo hình ảnh, âm thanh sinh động gây ấn tượng mạnh tới

người học

- Giáo viên có thể hiển thị nội dung theo những biểu mẫu có sẵn hay tự thiết kế nội

dung bằng các sơ đồ, biểu bảng, chữ viết kết hợp với việc dựng đồ họa; có thể cho các

Trang 25

tiến trình dạy học; cũng có thể sử dụng âm thanh, lời nói, nhạc nền phụ họa cho bài giảng

tạo cảm giác hưng phấn giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn

- Giáo viên có thể kết nối các slide trong từng phần của nội dung dạy học để tạo

thành một chương trình lôgic theo hình thức tự động hoá hoàn toàn, hoặc theo hình thức

tự điều khiển thông qua bàn phím hay con chuột cho phép giáo viên hoàn toàn chủ động

điều khiển hoạt động dạy học trong một tiết dạy để đạt hiệu quả cao nhất

- Phần mềm PowerPoint dễ thiết kế, dễ sử dụng và sử dụng linh hoạt trong các điều

kiện dạy học khác nhau: cụ thể sử dụng trực tiếp bằng máy tính kết hợp với máy chiếu đa

năng, cũng có thể ghi toàn bộ phần mềm dạy học đó ra đĩa CD để sử dụng với đầu VCD

phát ra màn hình vô tuyến mà hiện nay rất phổ biến ở các trường học

- So với sử dụng đèn chiếu, dùng PowerPoint có nhiều ưu điểm: giáo viên hoàn toàn

chủ động không mất nhiều thời giờ vào các động tác như phải thay hoặc lật các bản trong

trên đèn chiếu; hình ảnh chữ biết thể hiện các màu sắc sinh động, giáo viên có thể tổ chức

hoạt động nhận thức cho học sinh theo chương trình tự động trong thời gian một tiết học,

hay tự điều khiển bằng bàn phím hoặc con chuột cho linh hoạt phù hợp với tiến trình bài

giảng và đối tượng học sinh, cho phép cụ thể hoá từng phần kiến thức hay sơ đồ hoá một

cách hệ thống chứ không đơn điệu như khi đưa bản trong lên đèn chiếu

- Việc thiết kế và sử dụng phần mềm PowerPoint giảng dạy bằng máy vi tính thực

sự đơn giản và tiện ích, không tốn kém nhưng khả năng phát huy tính tích cực của học

sinh trong giờ học lại đạt hiệu quả cao Các hình thức sử dụng hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ

trong giảng dạy linh hoạt, phong phú cho phép giáo viên dẫn dắt học sinh đi từ các chi tiết

cụ thể đến khái quát hoặc ngược lại Hơn thế nữa, những kiến thức quan trọng cần phải

nhấn mạnh và phải dành nhiều thời gian hơn thì khi thiết kế, chúng ta có thể hoàn toàn

chủ động điều chỉnh bằng cách đặt chế độ tự động về thời gian, hay điều khiển các slide

bằng bàn phím hoặc con chuột; hoặc ghi toàn bộ phần mềm dạy học đó ra đĩa CD để sử

dụng

1.2.4 Tính sư phạm của một bài giảng PowerPoint

1.2.4.1 Các ưu, nhược điểm của việc sử dụng bài giảng bằng PowerPoint

* Ưu điểm:

Trang 26

- Các hiệu ứng màu sắc, kiểu chữ…rất tiện lợi cho việc xử lí một bài giảng linh

- Tốn khá nhiều kinh phí để đào tạo giáo viên sử dụng máy tính, cán bộ kĩ thuật

đảm bảo cho việc thực hiện của giáo viên được thông suốt, máy móc không bị hư hỏng

một cách vô lí và mua sắm máy móc trang bị cho các đơn vị giáo dục

- Vấn đề kĩ thuật sử dụng máy tính, máy chiếu còn là một khó khăn chưa thể

vượt qua ở nhiều giáo viên Nếu không có ý thức sử dụng PowerPoint tốt thì các ưu thế

của phần mềm này có lẽ sẽ trở thành nhược điểm lớn và cơ bản: sinh viên thích học vì

mới lạ nhưng tâm lí bị phân tán, không theo dõi được bài học, không ghi được nội dung

cơ bản của bài…

1.2.4.2 Nh ững điểm mạnh, điểm yếu của giáo viên khi thiết kế bài giảng bằng

PowerPoint

* Mặt mạnh của giáo viên sử dụng PowerPoint:

- Thiết kế màn hình đẹp, đa dạng

- Đã sử dụng nhiều các phần mềm chuyên dụng làm các thí nghiệm ảo, lồng ghép

phim ảnh minh họa

- Rất chịu khó thu thập tư liệu cho môn học

* Những điểm yếu của giáo viên khi sử dụng PowerPoint:

- Sử dụng màn hình không hợp lí trong việc bố trí chữ (viết quá nhiều - dư, viết

quá ít - phải lật trang liên tục), kích cỡ chữ, nội dung viết cũng như tính nhất quán

trong trình bày

- Lạm dụng các hiệu ứng làm sinh viên mất tập trung vào bài giảng

- Lạm dụng màu sắc, âm thanh hoặc sử dụng chúng không hợp lí, không nhất

quán

- Cỡ chữ, kiểu chữ không được quy định thống nhất làm cho bài giảng lộn xộn,

Trang 27

* Các yêu cầu cơ bản để đảm bảo một bài giảng bằng PowerPoint đạt chất lượng

* Về nội dung trang trình chiếu

C ần:

- Đủ nội dung cơ bản của bài học

- Phải được mở rộng, cập nhật

- Nhiều thông tin có ý nghĩa và được chọn lọc

- Trên các trang trình chiếu phải thể hiện được cả tính phương pháp

Tránh:

- Nội dung nghèo nàn, chỉ nhằm thay thế chiếc bảng đen

- Quá nhiều thông tin làm sinh viên bị "nhiễu"

- Sai sót các loại lỗi chính tả, lỗi văn bản

* Về hình thức trang tình chiếu:

C ần:

- Bố cục các trang trình chiếu sao cho sinh viên dễ theo dõi, ghi được bài

- Các trang trình chiếu phải mang tính thẩm mĩ để kích thích sự hứng thú học

tập của sinh viên, vừa giáo dục được sinh viên

- Cỡ chữ phù hợp với số lượng người học, quá lớn thì loãng thông tin, quá

nhỏ thì người cuối lớp không nhìn thấy Thông thường dùng cỡ chữ 24 hoặc 28 là vừa

- Cố gắng tận dụng kĩ thuật trong phần mềm (nhưng không cần thiết cầu kì)

để thể hiện tính sư phạm của bài giảng

Tránh:

- Lạm dụng các hiệu ứng tới mức không cần thiết

- Lạm dụng màu và dùng các màu chói nhau trên cùng một trang

1.3 Khai thác phần mềm PowerPoint để thiết kế chương trình dạy học

Trong những năm gần đây, bài giảng điện tử được sử dụng tương đối phổ biến ở

nhiều bộ môn Bài giảng điện tử có thể được thiết kế dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào

tuỳ theo trình độ có được về công nghệ thông tin của người viết hoặc dựa vào các phần

mềm trình diễn sẵn có như FrontPage, Publisher, PowerPoint… Trong đó thiết kế bài

giảng điện tử trên Microsoft PowerPoint là đơn giản và dễ sử dụng đối với đa số giáo

viên

Trang 28

Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch

hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường Multimedia do máy tính tạo ra

Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Thông tin được

truyền dưới các dạng: Văn bản (Text), đồ hoạ (Graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh

(image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)

Đặc trưng cơ bản nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi

hoạt động điều khiển của giáo viên đều được Multimedia hoá

* Quy trình thi ết kế bài giảng điện tử:

Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình 6 bước sau:

- Xác định mục tiêu bài học

- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm

- Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức

- Xây dựng thư viện tư liệu

- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông

qua các hoạt động cụ thể

- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

1.3.1 Một số kĩ thuật cơ bản khai thác phần mềm PowerPoint

1.3.1.1 Kh ởi động PowerPoint

Hiện nay phần mềm PowerPoint đã được nâng cấp và giao diện thay đổi nhiều

nhưng cách sử dụng vẫn không đổi, nên ta chọn PowerPoint 2003 cơ bản và dễ sử dụng

Trang 29

Vào Menu Start/Program/Microsoft Office/Microsoft Office PowerPoint 2003

thay đổi mà bạn đã thực hiện trong quá trình sử dụng, màn hình PowerPoint 2003 xuất

hiện sẽ sai khác nhau một chút Tuy nhiên, thông thường màn hình của PowerPoint 2003

sẽ xuất hiện như hình bên dưới:

Các thành phần của màn hình PowerPoint 2003 được đánh số lần lượt theo thứ tự như

hình bên trên:

1 Thanh tiêu đề (Title bar): Cho chúng ta biết tên chương trình (Microsoft

PowerPoint) và tên của tập tin đang làm việc (Presentation 1)

2 Thanh trình đơn (Menu bar): Gồm 9 mục từ File đến Help Mỗi mục sẽ chứa

nhiều mục khác nếu ta nhấp vào chúng

Trang 30

3 Thanh công cụ chuẩn (Standard Toolbar): Chứa biểu tượng của các lệnh

thường dùng

4 Thanh công cụ định dạng (Formatting Toolbar): chứa các biểu tượng dùng cho

việc trình bày văn bản như font chữ, cỡ chữ, màu sắc, canh biên,…Ngoài ra, chúng ta còn

có thể mở thêm nhiều thanh công cụ khác từ menu lệnh View/Toolbars/

5 Normal Pane: Dùng chọn cách xem các slide hay dàn bài của bài trình diễn

Phía dưới Normal Pane có 3 biểu tượng:

a Normal View: Trình bày theo kiểu thông thường, dùng để xử lý từng

slide

b Slide Sorter View: Trình bày toàn thể các slide có trong bài trình diễn,

dùng để theo dõi vị trí, thứ tự các slide

c Slide Show: trình chiếu bài trình diễn từ slide đang chỉnh sửa

6 Khu vực của slide đang được chỉnh sửa

7 Task Pane: Chứa nhiều thành phần khác nhau như:

b Slide Layout: Chọn kiểu bố trí cho mỗi slide

c Slide Design: Chọn các kiểu trang trí slide có sẵn, các hệ màu, các hiệu

ứng cho toàn bộ bài trình diễn

d Custom Animation: Chọn các hiệu ứng cho mỗi thành phần của bài

trình diễn

khác Để đóng hay mở Task Pane, ta vào View/Task Pane

8 Trang ghi chú (Notes Page): Dùng để ghi các ghi chú cho slide đang được

chỉnh sửa

9 Thanh công cụ vẽ (Drawing Toolbar): Dùng để vẽ và chỉnh sửa một số hình

đơn giản, chèn các các chữ nghệ thuật, thay đổi màu sắc của văn bản,…

10 Thanh trạng thái: Thông báo về số lượng slide có trong bài trình diễn và một

số thông tin khác

1.3.1.2 Ch ọn trang PowerPoint để soạn thảo bài giảng

Trang 31

- Auto content wizard: Trình hướng dẫn tạo nội dung

- Design template: Chọn dạng mẫu thiết kế

- Blank presentation: Mẫu trống để thiết kế

- Open an existing: Mở tập tin có sẵn

Như vậy thông thường để đơn giản ta chọn Presentation để tự bắt một thiết kế mới Khi

đó có nhiều template khác nhau, click vào các template trong cửa sổ apply design

template để xem các mẫu nền trước khi click apply để chấp nhận

1.3.1.3 Ch ọn màu nền cho Template

- Vào trình đơn Format background

- Click mở khung màu: Trong khung này có hai mục lựa chọn đó là: More colors và Fill

effects

+ More colors: Mở bảng màu tiêu chuẩn và chọn màu tùy ý

+ Fill effects: Các dạng màu hiệu ứng trong cửa sổ Fill effects có bốn bảng:

Gradient: Các dạng màu pha

Texture: Mẫu màu nền texture

Pattern: Dạng mẫu pattern

Picture: Lấy ảnh có sẵn làm màu nền

1.3.1.4 Nh ập văn bản cho trang soạn thảo

a Nhập văn bản vào khung cỡ chữ có sẵn:

- Các mẫu thiết kế đều có sẵn các khung cỡ chữ với tiêu đề “click to add…” (click

vào để nhập…) Nếu muốn nhập chữ vào khung này có thể thực hiện như sau:

+ Click trỏ chuột vào ô muốn nhập chữ

+ Nếu cần chọn lại kiểu chữ và cỡ chữ ta chọn trong khung font và khung size

trên thanh công cụ hoặc từ menu Format\ Font Nói chung là ta có thế trình bày tương tự

như Word

b Chèn khung nhập chữ:

Nhấp vào biểu tượng text box trên thanh công cụ Sau đó Click & Drag trên màn

hình thiết kế để tạo khung chữ sau đó nhập bình thường như phần a Còn nếu không chọn

đối tượng khác nó sẽ biến mất

1.3.1.5 Hi ệu chỉnh văn bản:

Trang 32

Hiệu chỉnh các đoạn chữ tỏng text box, bôi đen văn bản cần hiệu chỉnh hay click

tại biên của khung đế chọn cả text box và thực hiện định dạng như sau:

Vào trình đơn Format\font (mở cửa sổ Font), trong cửa sổ font có các mục lựa chọn sau:

+ Font: Chọn các loại font chữ

+ Font style: Xác định kiểu chữ như:

+ Align left: Canh đều trái

+ Center: Canh giữa

+ Align right: Canh đều phải

+ Justify: Canh đều hai biên

- Line spacing: Khoảng cách giữa các dòng

- Change case: Đổi dạng chữ

- Tô màu…

Các thuộc tính trên sử dụng hoàn toàn tương tự như Word

1.3.2 Thiết lập hiệu ứng

Như ta đã biết qua các chương trình DEMO PowerPoint có thể tạo hiệu ứng hoạt

hình cho mỗi đối tượng theo thứ tự trên mỗi slide Do đó giả sử ta sử dụng ở chế độ thiết

kế (View\ Normal) ta có thể thực hiện theo các cách sau:

Trang 33

- Click chọn Slide show \ Custom Animation hoặc Right click tại đối tượng và chọn

Custom Animation

- Trong cửa sổ Custom Animation click chọn các dạng hiệu ứng khác nhau tùy theo ý

thích của mỗi người

1.3.2.2 Thi ết lập thứ tự hiệu ứng

Tất cả các đối tượng trong slide hiện hành sẽ hiển thị trong khung Check to

animate shide objects, ta cần click đánh dấu vào khung của các đối tượng đó sẽ được chọn

và ta dễ dàng nhìn thấy dấu chọn ở cửa sổ View, điều đó giúp ta phân biệt các đối tượng

trên slide nhờ đó mà ta dễ dàng thiết lập thứ tự hiệu ứng thích hợp cho chúng

Khi đối tượng được click chọn để tạo hiệu ứng chúng sẽ hiển thị theo thứ tự khung

Animation order, tức là đối tượng nào ở trên sẽ xuất hiện trước, đối tượng nào ở bên dưới

sẽ xuất hiện sau Khung này xuất hiện ở bên phải của màn hình soạn thảo PowerPoint

trong Microsoft office XP

1.3.2.3 Thi ết lập thời gian bắt đầu thực hiện

Sau khi đã sắp đặt đúng thứ tự, click chọn từng đối tượng và thiết lập thời gian bắt

đầu thực hiện hiệu ứng bên khung Start Animation, ta có ba sự chọn lựa sau:

+ Chọn Insert \ Picture\ From flie

+ Trong cửa sổ Insert Picture chọn tên ổ đĩa và thư mục chứa tập tin trong khung

lock in, click chọn tập tin muốn chèn và click Insert để chèn hình ảnh vào trang thiết kế

+ Chèn phim và âm thanh

Chọn Insert\ Moves and Sound\ , trong trình đơn này có các mục chọn sau:

+ Movie from gallery: Chèn phim từ thư viện hình ảnh của chương trình MS Office

Trang 34

+ Movie from file: Chèn tập tin dạng *.avi tự chọn

+ Sound from gallery: Chèn âm thanh từ thư viện hình của chương trình MS Office

+ Sound from file: Chèn âm tập tin âm thanh tự chọn

+ Play Click & Dag Audio track: Chèn âm thanh từ đĩa Audio Click & Drag (nhất

thiết phải đưa đĩa vào ổ đĩa CD ROM)

+ Record sound: ghi âm

Như vậy, những ưu điểm vượt trội của PowerPoint so với các phần mềm ứng dụng

khác chắc chắn nó sẽ được sử dụng rộng rãi không chỉ trong tất cả các trường học và kể

cả trong các ngành khoa học khác (dùng để báo cáo trong các hội nghị, hội thảo,…) Và

lý thuyết đưa ra như trên không chỉ bản thân em có thể vận dụng được để thiết kế bài

giảng với PowerPoint mà có thế sẽ làm tài liệu tham khảo cho những người muốn làm

quen với PowerPoint

1.3.3 Ưu việt của phần mềm PowerPoint

a Tính năng mạnh mẽ

- Tạo được hiệu ứng cho các trang và tất cả đối tượng

- Hàng trăm dạng hiệu ứng hoạt hình khác nhau

- Nhiều âm thanh, hình ảnh sinh động

- Kết hợp được với các phần mềm thiết kế đồ họa Hổ trợ tính động cho bài giảng

như phần mềm: Flash, Wisch, Visual Basic,…

b Thiết kế nhanh chóng

- Quản lí từng trang, từng đối tượng Trong mỗi trang, mỗi đối tượng có thể tạo

mỗi kiểu hiệu ứng độc lập, tùy thuộc vào dữ liệu trình diễn theo kiểu nào cho phù hợp

- Phương pháp trang trí giống như Word, Excel

- Không cần lập trình nhưng chương trình vẫn hoạt động tốt

- Thiết lập hiệu ứng cho từng đối tượng nhanh chóng

- Hoàn toàn tự động và linh hoạt

- Với chế độ Right/ Click các tác vụ nhanh chóng và hiệu quả

c Dễ dàng trình diễn

- Tập tin có nhỏ, ít tốn bộ nhớ và di chuyển dễ dàng

Trang 35

- Cấu hình máy đòi hỏi thấp

- Có thể chạy trên hệ điều hành Win3.x, 9.x, 2000, NT, XP,…Nhưng các hệ điều

hành Windows và Office càng mới khi sử dụng sẽ tốt hơn, hiệu ứng cũng như hổ trợ đa

phương tiện hiệu quả hơn

- Dễ dàng kiểm soát từng trang, từng đối tượng

PowerPoint sử dụng đơn giản, tiện lợi và hiệu quả, đặc biệt là tính kinh tế Nền

kinh tế nước ta còn kém phát triển, nguồn tài chính đầu tư cho công tác phát triển giáo

dục chưa nhiều, cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy thiếu thốn đã gây không ít khó khăn

cho giáo viên khi họ muốn thay đổi PPDH Một nghịch lý xảy ra là trong khi các máy

móc chuyên biệt cho ngành giáo dục đôi khi có tiền nhưng không thể mua hoặc mua

không đồng bộ thì các loại máy tính lại rất dễ mua, tuy không phải là rẻ khi trang bị đồng

loạt Vậy thì việc sử dụng phần mềm PowerPoint để dạy học với những tính năng ưu việt

của nó (gọn, nhẹ, trực quan, dễ mô phỏng hiện tượng, làm thí nghiệm ảo,…) là khả thi,

đặc biệt phù hợp với xu thế thay đổi PPDH hiện nay

Trang 36

Chương II:

ỨNG DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT CHO BÀI GIẢNG CỤ THỂ

2.1 Trình bày hệ thống nội dung bài giảng

Bên cạnh đó một vài trang ví dụ từ các bài giảng đã nói lên ý đồ của người trình

bày các trang PowerPoint về phương diện lý luận dạy học Bài giảng tiến triển tới đâu,

GV có thể cho nội dung hiển thị tới đó bằng cách bấm phím bất kì nào trên bàn phím

(dùng effect ) Việc làm này thay cho công việc ghi bảng, không phải tốn thời gian, câu

viết được chuẩn bị trước mang tính mẫu mực Nếu dạy theo phương pháp thảo luận nhóm

hoặc dạy học khám phá, những nhiệm vụ học tập có thể được viết lên màn hình và cho nó

hiển thị đúng lúc đũng chỗ như ý đồ giảng dạy của GV Bài giảng dễ sử dụng, chỉ cần bất

cứ ai có thể biết và sử dụng thành thạo Window (Microsoft Word) là có thể sử dụng tốt

PowerPoint để viết trình bày bài giảng điện tử như vậy

Sau đây là một số hướng dẫn quy trình xây dựng hệ thống bài giảng cho phần Điện

học Phần quan trọng nhất của quy trình tập trung vào phần thể hiện nội dung trong một

bài giảng

(1) Xác định tóm tắt nội dung cần học

(2) Tập hợp các tài liệu tham khảo cho bài giảng

(3) Bố cục nội dung thành các phần nhỏ

(4) Trình bày bài giảng

a Định rõ mục tiêu bài giảng

b Trình bày bài giảng gồm nhiều ý giảng Mỗi ý giảng nên giới hạn trong một trang

màn hình

c Xác định mối quan hệ giữa các ý giảng theo một đồ thị kiến thức lập sẵn

d Xây dựng tóm tắt của bài giảng

(5) Trình bày ý giảng

a Trình bày nội dung chính của ý giảng Nội dung của ý giảng là một đoạn văn bản

giới hạn trong một trang màn hình

Trang 37

b Nếu trong ý giảng có sử dụng các kiến thức đã được trình bày trong các ý giảng

hay bài giảng trước, dựa vào đồ thị kiến thức, thiết lập các liên kết đến các bài giảng

trước

c Nếu trong ý giảng có sử dụng các kiến thức của các môn học khác, cần xây dựng

một ý giảng tham khảo để giải thích hoặc minh họa ý giảng này Các ý giảng này có thể là

một màn hình văn bản, một hình ảnh tĩnh hoặc động được soạn riêng và được liên kết vào

ý giảng chính qua các liên kết hay các từ khóa

Nếu cần, có thể soạn thêm một số ví dụ minh họa theo hình thức tạo ý giảng tham

khảo và để sẵn để người học, nếu cần có thể chọn xem để hiểu rõ hơn về ý giảng chính

2.2 Sử dụng các tính năng của PowerPoint để minh họa nội dung

2.2.1 Các hình tĩnh

Trong các bài giảng Điện học, hình ảnh là cần thiết bởi vì đó là những tư liệu quí

báu mà đôi khi người học không tìm thấy hoặc thấy mà không hiểu Những hình ảnh này

có thể là hình ảnh mô phỏng của tác giả nào đó Nếu biết tận dụng chúng đúng lúc, đúng

chỗ thì không những giá trị của bài học sẽ được tăng lên mà còn kích thích sự học tập của

người học Cho nên tùy theo đặc trưng mỗi bài, với nội dung khác nhau mà ta sử dụng các

loại hình ảnh khác nhau sao cho phù hợp Những tác động tâm lí của các hình như: hình lạ

mắt, màu sắc sẽ làm cho bài giảng trở nên sinh động, tập trung được sự chú ý của người

học và bài học trở nên nhẹ nhàng, hứng thú, dễ hiểu

Kiến thức Điện học rất phong phú nhưng cũng rất trừu tượng Cho nên nếu kết hợp

đưa các hình ảnh phù hợp cả về nội dung lẫn tính sư phạm (màu sắc, âm thanh, chuyển

động,…) vào bài giảng thì bài học sẽ biến thành một buổi sinh hoạt khoa học lí thú và bổ

ích

2.2.2 Các đoạn phim

Các đoạn phim được sao chép dưới dạng *.AVI có được do tự ghép các đối tượng

sau đó thực hiện quay video, một phần chọn lọc từ các đĩa CD – ROM, các trang biễu

diễn được lập trình bởi phần mềm Java tải từ Internet sao cho có liên quan tới nội dung

kiến thức Điện học và phục vụ tốt cho đề tài Việc đưa các đoạn phim vào bài học dưới sự

trình diễn trong trang PowerPoint nhằm vào các mục đích Biểu diễn cái cụ thể nhưng

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w