1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý THIẾT kế bài GIẢNG BẰNG PHẦN mềm POWERPOINT CHƯƠNG từ TRƯỜNG SÁCH GIÁO KHOA vật lý 11 NÂNG CAO

83 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 4,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần mềm dạy học là một phương tiện trực quan hữu hiệu có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học, giúp người dạy học thực hiện tốt việc phân hoá, cá thể hoá t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÝ - -

Tên đề tài:

THIẾT KẾ BÀI GIẢNG BẰNG PHẦN MỀM POWERPOINT CHƯƠNG TỪ TRƯỜNG

SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÝ 11 NÂNG CAO

Luận văn Tốt nghiệp đại học

Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ-TIN HỌC

MSSV: 1090287 Lớp: SP Vật lý – Tin học K35

Cần Thơ, 2013

Trang 2

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Học Liệu và Thư Vi ện Khoa Sư Phạm cùng các thầy cô trong trung tâm và Thư Vi ện Khoa đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình hướng dẫn em tìm kiếm tài liệu trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đề tài

Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Trân trọng kính chào

Cần Thơ, tháng 05 năm 2013

SVTH

Phạm Hoàng Thơ

Trang 3

2.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong GD ở một số nước trên thế giới 3

Phần 2

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ

Trang 4

1.1.5.2 Thí nghiệm HS 13

1.2.4.2 Những điểm mạnh, điểm yếu của giáo viên khi thiết kế bài giảng bằng

Trang 5

2.1 Trình bày hệ thống nội dung bài giảng 32

Chương III: Giới thiệu một số bài giảng về từ trường sách giáo khoa vật lý 11

Trang 6

1.2 Xuất phát từ ưu thế của phương tiện trực quan nói chung và phần mềm dạy học nói riêng trong quá trình dạy

Quá trình dạy học thực chất là một hệ thống thông báo giữa thầy và trò, trong đó điều quan trọng là sự truyền thông tin, lĩnh hội và xử lí thông tin Sự truyền thông tin được diễn ra trên các kênh: kênh thị giác, kênh thính giác và kênh khứu giác, trong đó kênh thị giác là kênh có khả năng truyền thông tin lớn nhất điều đó cho thấy việc sử dụng các phương pháp trực quan trong dạy học sẽ tạo điều kiện cho học sinh hình thành khái niệm nhanh hơn, ghi nhớ tốt hơn, học tập chất lượng hiệu quả hơn Phương pháp trực quan luôn gắn liền với việc sử dụng các phương tiện trực quan như: máy chiếu, mô hình, tranh vẽ ngoài các phương tiện vật chất hoá thì phần mềm dạy học đã và đang thể hiện ưu thế của mình Phần mềm dạy học là một phương tiện trực quan hữu hiệu có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học, giúp người dạy học thực hiện tốt việc phân hoá, cá thể hoá trong dạy học Đây cũng là một trong những lí do mà Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đã đề ra kế hoạch thực hiện „„Năm học 2008 - 2009 là năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT ”

Trang 7

PowerPoint là phần mềm có sẵn trong Microsoft Office 97/2000/XP/2003 Với những tiện ích kì diệu và dễ sử dụng của nó mà trong thời gian gần đây phần mềm này đã thu hút rất nhiều giáo viên nghiên cứu và sử dụng trong dạy học ở các trường phổ thông nước ta

PowerPoint có nhiều tính năng ưu việt như: Tạo một trình diễn bằng mẫu thiết kế, khả năng định dạng văn bản, các chức năng lập dàn bài và tổ chức trình diễn Khả năng trình diễn của PowerPoint rất linh hoạt Với số lượng lớn các hiệu ứng PowerPoint cho phép trình bày bài giảng một cách khoa học, rõ ràng, hình ảnh sinh động có sự kết hợp hài hoà và sắp xếp các đề mục logic Nhờ sử dụng PowerPoint mà việc dạy và học trở nên hấp dẫn hơn, học sinh dễ tiếp thu bài giảng hơn

Phần mềm PowerPoint rất hữu ích trong thiết kế các trình diễn phục vụ dạy học nhưng hiệu quả sử dụng nó thực sự vẫn chưa cao Các hiệu ứng sẵn có của phần mềm PowerPoint vẫn chưa được khai thác triệt để và có hiệu quả trong thiết kế các trình diễn

Trong trường Đại học Cần Thơ nói riêng hay các trường đại học trong cả nước nói chung việc sử dụng PowerPoint không những trong dạy học mà trong các hội nghị, hội thảo đang rất phổ biến.Với những tiện ích kì diệu và dễ sử dụng của PowerPoint mà trong thời gian gần đây phần mềm này đã thu hút rất nhiều giáo viên nghiên cứu và sử dụng trong dạy học ở các trường đại học cũng như trường phổ thông nước ta Vật Lí là môn khoa học thực nghiệm đặc biệt là nội dung phần từ trường, đây là phần kiến thức khó và trừu tượng Để học sinh có thể hiểu dễ dàng hơn, nhanh hơn, sâu sắc hơn thì việc thiết kế

và sử dụng các mô hình động bằng phương tiện máy tính đã trở nên hết sức cần thiết

Điện học là môn khoa học xuất hiện lâu đời song chỉ mang lại sự thú vị đối với những người đam mê nó Ngày nay, Điện học được biết đến như một ngành khoa học đa ngành, hiện đại nhất có nhiều ứng dụng trong đời sống và cũng là ngành khoa học phục vụ nhiều cho công cuộc cải tạo tự nhiên trong tương lai của loài người Tuy nhiên, để thật sự hiểu biết về Điện học thì người học cần biết được ít nhiều về lịch sử phát minh cũng như phát triển của ngành khoa học này

Xuất phát từ những lí do trên mà em giáo khoa vật lý 11 nâng cao” Nội dung em chọn là thiết kế bài giảng PowerPoint cho phần Từ trường:từ trường, phương và chiều của lực từ tác dụng lên dòng điện, cảm ứng từ-định luật Am-pe, từ trường của một số dòng

Trang 8

điện đơn giản, tương tác giữa hai dòng điện song song-định nghĩa đơn vị ampe, lực ren-xơ, khung dây có dòng điện đặt trong từ trường, sự từ hóa các chất-sắt từ, từ trường trái đất

Về kỹ thuật máy tính, em sẽ nghiên cứu tình hình của việc sử dụng máy tính trong giảng dạy ở các trường, chủ yếu là ở Đại học Cần Thơ Các kỹ thuật sử dụng ở đây chủ yếu là khai thác tất cả các tính năng của phần mềm PowerPoint kết hợp sử dụng các phần mềm hổ trợ như Photoshop, Flash,…

2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

2.1 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong GD ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã được quan tâm từ lâu, nhất là các nước tư bản phát triển Từ những năm 1984, 1985 tổ chức NSCU (National Sofware – Cordination Unit) được thành lập, cung cấp chương trình giáo dục máy tính cho các trường trung học Các môn học đã có phần mềm dạy học bao gồm: Nông nghiệp, Nghệ thuật, Thương mại, Giáo dục kinh tế, tiếng Anh, Địa lí, Sức khoẻ, Lịch sử, Kinh tế gia đình, Nghệ thuật công nghiệp, Toán, Âm nhạc, Tôn giáo, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, Giáo dục đặc biệt

Ở Ấn Độ tổ chức NCERT (National Council of Education Resarch and Training) ở New Dehli đã thực hiện đề án CLASS (Computer Literacy and Studies in School) Đề án xem xét việc sử dụng máy tính trợ giúp việc dạy học trong lớp, đồng thời quan tâm đến

Trang 9

vai trò của máy tính như là một công cụ ưu việt đánh dấu sự thay đổi có ý nghĩa về phương pháp luận dạy học

Năm 1985 các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Srilanka, Thái lan, Malaysia tổ chức các hội thảo về phần mềm dạy học tại Malaysia đã đưa ra tiêu chuẩn đánh giá phần mềm gồm 3 yếu tố: Đặt vấn đề, trình bày bài giảng và kỹ thuật lập trình Ở Nhật Bản, máy tính được dùng làm công cụ để giáo viên trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng, tiếp thu bài mới và giải quyết các vấn đề đặt ra trong tiết học Nhật Bản khẳng định việc sử dụng máy tính trong dạy học, đặc biệt ở phổ thông, đã có tác dụng kích thích sự hứng thú học tập của học sinh Hiện nay các nước trong khu vực như: Singapore, Thái Lan việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng đã trở nên rất phổ biến

2.2 Tình hình nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học ở Việt Nam

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, nước ta đã bắt đầu sử dụng máy tính điện tử Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ra Nghị quyết số: 173- HĐBT (1975) và số: 245- HĐBT (1976) về tăng cường ứng dụng toán học và máy tính điện tử trong cả nước Viện Công nghệ thông tin được thành lập và có những đề án nghiên cứu ứng dụng CNTT, đưa tin học vào nhà trường Đặc biệt trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về việc ứng dụng tin học trong dạy học các môn học ở trường phổ thông Chẳng hạn như:

- Năm 2002, các tác giả Phạm Xuân Quế, Phạm Kim Chung đã thử nghiệm xây dựng trang Web dạy học chương “Dao động cơ học” ở chương trình Vật lí lớp 12 THPT theo hướng phát triển hứng thú, tích cực, tự lực tham gia giải quyết vấn đề trong học tập của học sinh

- Năm 2005, tác giả Hoàng Trọng Phú đã ứng dụng phần mềm Working model để thiết kế các thí nghiệm mô phỏng trong dạy Vật lí Theo tác giả thì những hiện tượng vật

lí như được thu nhỏ lại trước màn hình giúp HS có thể theo dõi, quan sát hiện tượng ở nhiều góc độ khác nhau

- Lê Công Triêm đã giới thiệu một số Website điển hình dùng cho việc khai thác tư liệu hỗ trợ cho việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lí

Vấn đề ứng dụng CNTT trong GD& ĐT được Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ GD& ĐT đã thể hiện rõ điều này (Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Chỉ thị số 29 của Bộ GD& ĐT

Trang 10

(30/7/2001/CT)) Đặc biệt, chiến lược phát triển GD& ĐT 2001 - 2010 của Bộ GD& ĐT

đã yêu cầu ngành GD& ĐT phải từng bước phát triển dựa trên CNTT, vì: “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lí hệ thống GD& ĐT, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy

và học”

Tại trường Đại học Cần Thơ, việc sử dụng PowerPoint để báo cáo trong hội nghị là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cán bộ Cũng có nhiều giáo viên ở Khoa Sư phạm dạy môn học của mình với sự hổ trợ của máy tính Ngay từ năm 1997 đề tài nghiên cứu cấp bộ do PGS.TS Lê Phước Lộc chủ trì “Nghiên cứu việc sử dụng máy tính vào dạy và học ở các trường phổ thông (Mã số: B92-10-14)” đã được bảo vệ thành công cho thấy tập thể tác giả (các cán bộ giảng dạy của Khoa Sư phạm) đã là những người đi tiên phong trong lĩnh vực

áp dụng tin học vào dạy học Từ đó cho đến nay lượng cán bộ giảng dạy của khoa tiếp cận

và sử dụng máy tính trong dạy học càng nhiều mà phổ biến là sử dụng PowerPoint Không những thế sinh viên của khoa còn được khuyến khích sử dụng máy tính để dạy học Thực

tế, trong nhiều năm qua đã có rất nhiều sinh viên thực hiện một số bài giảng ở phổ thông bằng máy tính trong các đợt đi thực tập sư phạm

Nhìn chung cơ sở vật chất thiết bị dạy học trong các trường học ở Việt Nam còn thiếu, không đồng bộ Đội ngũ giáo viên chưa xem việc sử dụng máy tính, cũng như các phương tiện dạy học hiện đại khác trong quá trình giảng dạy là một nhu cầu thiết yếu Mặt khác để soạn thảo một giáo án điện tử không chỉ đòi hỏi những kỹ năng sử dụng máy tính nhất định mà còn đầu tư về thời gian của giáo viên Hiện nay đa số các trường đều được trang bị các phòng máy tính và phương tiện hiện đại khác Vì vậy em hy vọng đề tài này

sẽ có ích cho thời gian tới

3 CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- Các phương pháp nghiên cứu:

+ Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu Điện học và các vấn đề liên quan đến Từ Trường; Nghiên cứu thêm về lý thuyết tin học; Nghiên cứu LLDH,…

+ Nghiên cứu các địa chỉ Internet có liên quan đến nội dung đề tài để học tập cách trình bày hình ảnh kết hợp với nội dung sao cho kích thích sự hứng thú học tập của người học

- Thực hành trên máy tính: Thiết lập 9 bài giảng trên trang PowerPoint có kết hợp các

kỹ thuật khai thác phần mềm ứng dụng như đã đề cập ở trên

Trang 11

- Các phương tiện nghiên cứu:

+ Máy tính (Personal Computer)

+ Máy chiếu: Video Projecter

+ Các loại tài liệu: Sách Điện học, tạp chí, băng, đĩa CD-ROM, DVD,…

4 CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Với thời gian thực hiện gần một năm học (từ tháng 09 năm 2012 đến tháng 05 năm 2013), đề tài này được thực hiện theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Sưu tầm tài liệu, nghiên cứu cơ sở lý thuyết về lý luận dạy học, các

phương pháp dạy học hiện đại, nghiên cứu các lọai tài liệu về Điện học,…

- Giai đoạn 2: Khảo sát thực tế việc sử dụng phần mềm PowerPoint vào giảng dạy

ở các trường Phổ thông, thử nghiệm soạn và giảng dạy Vật lý ở trường THPT Nguyễn Việt Hồng bằng phần mềm PowerPoint

- Giai đoạn 3: Tiến hành thực hiện đề tài, soạn các bài Từ trường SGK 11 NC

- Giai đoạn 4: Phân tích và viết luận văn

5 LÀM RÕ MỘT SỐ KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

1) Máy tính (MT): Là máy tính điện tử (MTĐT) hay là máy vi tính (MVT) đôi khi

còn gọi là PC (Personal Computer)

2) Chương trình (Program): Trong đề tài tuy không sử dụng cho mục đích lập trình

đối tượng nhưng sản phẩm của công việc được gọi chung là chương trình, tạo ra để ra lệnh cho máy tính thực hiện

3) Phần mềm( Software): Là các chương trình cài đặt trên hệ thống MVT để điều

4) Hổ trợ (trợ giúp): Trước hết hổ trợ là sự “giúp đỡ”, cụ thể trong đề tài này là sự trợ

giúp của máy tính đối với việc dạy và học Song trong đề tài này, em không dùng từ “giúp đỡ” bởi lẽ nó có một số sự khác biệt như sau:

Trang 12

- Khi người ta không làm được cái gì đó thì cần giúp đỡ Song việc gì đó người ta đã làm được, cần làm cho tốt hơn, chất lượng hơn lúc đó cần một sự “hổ trợ”

- Có sự tương tác giữa phương tiện “hổ trợ” và người được “hổ trợ” Người được

“hổ trợ” không ỉ lại vào công cụ , cần suy nghĩ song song với sự hổ trợ đó để lĩnh hội cũng như đôi khi cần tác động ngược lại để có phương tiện tốt

5) Mô phỏng (Simulation): đó là sự bắt chước, làm theo (ở đây đề cập đến biễu diễn

trên màn hình máy tính) một sự vật, sự việc có trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra, trong đó lưu lại những thuộc tính bản chất của sự vật, sự việc ấy nhằm mục đích đơn giản hóa để dễ hiểu hoặc làm nổi bật những thuộc tính riêng để khai thác, tận dụng những ưu điểm của các thuộc tính ấy

6) Hình tĩnh: Là loại hình được sao chép lại tại một trạng thái vận động của sự vật

Khi thực hiện trình chiếu chỉ làm cho người học quan sát được rõ ràng hơn, chi tiết hơn

7) Hình động (hoặc Video clip) :Được sao chép hay copy lại toàn bộ trạng thái vận

động của một sự vật hiện tượng nào đó mà không làm mất đi các đặc tính của chuyển động

8) Quá trình dạy học: Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất của hoạt động chỉ

đạo của thầy với họat động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò, nhằm làm cho thầy đạt được mục đích dạy học

9) Giáo án điện tử:Tạm hiểu theo nghĩa đơn giản đó là giáo án được soạn bằng MVT

trên các trang PowerPoint để thực hiện giảng dạy của giáo viên

10) Internet: Là hệ thống mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn

thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa, truyền các tập tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin

Thông tin lưu trữ trên Internet ở dạng siêu văn bản, sử dụng đồng thời nhiều phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ họa, âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác, MVT thì kết hợp với hệ thống đa phương tiện, làm việc với các siêu văn bản hoàn toàn đáp ứng được khả năng nghe-nhìn-điều khiển Khả năng này tạo mối tương tác hai chiều giữa học sinh với chương trình ở mức độ cao hơn Thể hiện sự phản ứng linh hoạt với các sự kiện xảy ra trên màn hình máy tính

Trang 13

Phần 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ

rõ ràng các đặc tính bản chất bên trong, đôi khi đi vào duy ý chí ( phát biểu tính chất bên trong của đối tượng theo chủ quan của chủ thể ); nếu không có nhận thức lí tính thì chủ thể sẽ nhận thức sự vật, hiện tượng một cách rời rạc, không bản chất

1.1.2 Nhận thức cảm tính

Khi nói đến vấn đề này ta không thể không chú ý đến hoạt động cảm giác và tri giác của con người Hai yếu tố cấu thành ấy, yếu tố nào cũng quan trọng Cảm giác phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bề ngoài của sự vật và hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta Nhưng những tác động ấy đôi khi làm chủ thể chưa thật sự ý thức vấn đề học tập mà nó thể hiện ra là chủ thể lơ là, không tập trung và do đó kết quả nhận thức chưa có gì là đảm bảo Chúng ta nói đến hoạt động tri giác Hoạt động này thể hiện

sự lưu tâm thật sự của chủ thể vào đối tượng, quan sát có ý thức, quan sát có tập trung và quan sát toàn diện, không bỏ qua chi tiết nhỏ nào ở đối tượng Hai hoạt động này phải kết hợp với nhau và chúng có vai trò:

- Giúp con người định hướng hành vi, hoạt động trong cuộc sống và có thể thích ứng

sự thay đổi của môi trường

Trang 14

- Nó là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của vỏ não giúp cho con người có cuộc sống tinh thần bình thường Các công trình nghiên cứu cho thấy những người “đói cảm giác” thì các chức năng tâm lý sẽ bị rối loạn

- Nó là nguồn cung những nguyên vật liệu cho những quá trình tâm lý cao hơn Hay nói cách khác là nó là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài của nhận thức

Như vậy trong dạy học, đây quả là một bước nhận thức cơ bản nhằm làm cho học sinh bị thu hút bởi những vấn đề trong bài giảng của mình Sau cảm giác các vấn đề học tập, học sinh phải tri giác, liên tưởng nó tới các vấn đề khác nhau hưng có dấu hiệu bề ngoài giống nhau để có thể tạm thời đưa ra một số kết luận về hình thức bên ngoài của (một hoặc nhiều) sự vật, hiện tượng chuẩn bị nghiên cứu chúng sâu hơn về bản chất bằng

các hoạt động tư duy (nhận thức lí tính)

Xu thế đổi mới giáo dục hiện nay là đào tạo nên những con người thông minh, sáng tạo, đứng trước một vấn đề phải biết soi xét, áp dụng vào hoàn cảnh thực tế Đây là mức

độ nhận thức cao hơn về chất so với cảm giác, tri giác Tư duy trừu tượng, khái quát đến mấy cũng phải dựa vào các tài liệu trực quan mà cảm giác và tri giác đưa lại Hơn nữa muốn tư duy trước hết phải tri giác được hoàn cảnh có vấn đề, tri giác được các sự kiện Kết quả của tư duy phải được kiểm tra trong thực tiễn và lại thông qua các quá trình nhận thức cảm tính để đánh giá…

Như vậy để phát huy được hết các đặc điểm tâm lý nói trên đối với người học, trong các hoạt động này đòi hỏi người học phải vận động tích cực, bắt tay vào nhiệm vụ học tập như tri giác, tư duy, tưởng tượng cao độ…Trong điều kiện giảng dạy, học sinh thoải mái đón nhận nhiệm vụ học tập, tích cực hợp tác, thì không có gì khó khăn, nhưng vào các trường hợp ngược lại, hoặc lượng thông tin quá nhiều, thời gian thực hiện quá lâu thì lại mang ý nghĩa ngược lại Trong tâm lý của con người, ai cũng muốn mình hoàn thiện, muốn tìm đến cái mới và hữu ích hơn Vì thế để giảng dạy có hiệu quả, phải cần

Trang 15

thay đổi phương pháp, phương tiện dạy học Do đó mà dạy học bằng MVT có thể kết hợp được các ưu điểm của các họat động tâm lý nói trên

Nói như vậy để ta khẳng định lại nhận thức luận mà Lê – nin đã viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thức hiện thực khách quan” Cũng chính từ quan điểm nhận thức ấy mà trong dạy học cần các phương tiện trực quan như mô hình, biểu bảng, hình ảnh, thí nghiệm,…Và trong thời đại ngày nay, chúng ta có thêm nhiều công cụ hiện đại để trực quan hóa bài học Chiếc máy tính đã giúp cho quá trình nhận thức cảm tính (các hình ảnh động và cố định, các biểu bảng,…) được tích cực hóa Tuy nhiên với những kỹ xảo của các chương trình hiện nay, chiếc máy tính làm cho con người nhanh chóng đạt được kết quả của nhận thức lí tính (biễu diễn, mổ xẻ và mô phỏng sự vật, hình tượng hóa sự việc,…) Việc dùng PowerPoint để dạy học cũng với mục đích trên, nếu chỉ xét về mặt tâm lý

1.1.4 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học

1.1.4.1 Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm nhận thức

a) Thí nghiệm là phương tiện thu nhận tri thức

Thí nghiệm là một phương tiện quan trọng của hoạt động nhận thức của con người,

thông qua thí nghiệm con người sẽ thu nhận được những tri thức khoa học cần thiết nhằm nâng cao năng lực của bản thân để có thể tác động và cải tạo thực tiển.Trong dạy học thí nghiệm là phương tiện của hoạt động nhận thức của HS, nó giúp người học tìm kiếm và thu nhận kiến thúc khoa học cần thiết

b)Thí nghiệm là phương tiện kiểm tra tính đúng đắn của những tri thức đã thu nhận

Trong khoa học, phương pháp thực nghiệm được coi là “hòn đã thử vàng” của mọi tri thức chân chính Bởi vậy, thí nghiệm có chức năng kiểm tra trong việc kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã thu nhận

c)Thí nghiệm là phương tiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn

Trong quá trình vận dụng kiến thức vào thực tiễn, vào việc thiết kế và chế tạo các thiết bị kĩ thuật, người ta gặp phải những khó khăn nhất định do tính khái quát và trừu tượng của các tri thức cần vận dụng, cũng như tính phức tạp của các thiết bị cần chế tạo Trong trường hợp đó thí nghiệm sử dụng với tư cách là thử nghiệm cho việc vận dụng tri thức vào thực tiễn

d) Thí nghiệm là một bộ phận của nghiên cứu nhận thức

Trang 16

Thí nghiệm luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong phương pháp nhận thức khoa học, chẳng hạn: đối với phương pháp thực nghiệm, thí nghiệm luôn có mặt ở nhiều khâu khác nhau: làm xuất hiện các vấn đề nghiên cứu, kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết Trong phương pháp mô hình, thí nghiệm giúp ta thu thập thông tin về đối tượng gốc làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình Ngoài ra đối với mô hình vật chất, điều bắt buộc là người ta tiến hành các thí nghiệm thực sự với nó.Cuối cùng, nhờ những kết quả của thí nghiệm được tiến hành trên vật gốc tạo cơ sở để đối chiếu với kêt quả thu được từ

mô hình, qua đó có thể kiểm tra tính đúng đắn của mô hình được xây dựng và chỉ ra giới hạn áp dụng của nó

1.1.4.2 Vai trò của thí nghiệm theo quan điểm lí luận dạy học

a) Thí nghiệm có thể sử dụng trong tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học

Thí nghiệm có thể sử dụng trong tất cả các giai đoạn khác nhau của tiến trình dạy học: đề xuất vấn đề nghiêm cứu, giải quyết vấn đề (hình thành kiến thức, kĩ năng mới….), củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng, kĩ xảo học HS

b) Thí nghiệm góp phần vào việc phát triển toàn diện HS

Việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện những phẩm chất và kĩ năng của học sinh, đưa đến sự phất triển toàn diện cho người học.Trước hết thí nghiệm là phương tiện nhằm nâng cao kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho HS

c) Thí nghiệm là phương tiện góp phần quan trọng vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS

Qua thí nghiệm HS có nhiều cơ hội trong rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành, góp phần thiết thực vào việc giáo dục tổng hợp cho HS Thí nghiệm còn là điều kiện để học sinh rèn luyện phẩm chất của người lao động mới ,như:đức tính cẩn thận, kiên trì, …

d) Thí nghiệm là phương tiện kích thích hứng thú học tập của HS

Thí nghiệm là phương tiện kích thích hứng thú, là yếu tố kích thích tính tò mò ham hiểu biêt học tập của HS, nhờ đó làm cho các em tích cực và sáng tạo hơn trong quá trình nhận thức

e) Thí nghiệm là phương tiện tổ chức các hình thức hoạt động của HS

Thí nghiệm là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc độc lập hoặc là tập thể, qua đó góp phần bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của HS Qua thí nghiệm học sinh phải

Trang 17

làm việc tự lực hoặc là phối hợp tập thể, nhờ đó có thể phát huy vai trò cá nhân hoặc là tính cộng đồng trách nhiệm trong công việc của các em

f) Thí nghiệm vật lý làm đơn giản hóa các hiện tiện và quá trình vật lý

Thí nghiệm vật lí góp phần đơn giản hóa các hiện tượng, tạo trực quan sinh động nhằm hổ trợ tư duy trừu tượng của HS, giúp cho học sinh tư duy trên những đối tượng cụ thể, những hiện tượng và quá trình đang diễn ra trước mắt họ Các hiện tượng xảy ra trong

tự nhiên vô cùng phức tạp, có mối quan hệ chằng chịt lấy nhau , do đó không thể cùng một lúc phân biệt những tính chất đặc trưng của từng hiện tượng riêng lẻ, cũng như không cùng lúc phân biệt được ảnh hưởng của tính chất này lên tính chất khác

Ngoài ra, thí nghiệm vật lí hiểu theo nghĩa rộng là một trong những PPDH dạy học vật lí ở trường phổ thông đó là cách thức hoạt động của thầy và trò, giúp cho trò chiếm lĩnh kiieens thức kĩ năng thực hành…

Cuối cùng, thí nghiệm giúp học sinh củng cố niềm tin khoa học nhằm hình thành thế giới quan duy vật biện chứng cho HS

1.1.5 Phân loại thí nghiệm Vật lí

Dựa vào hoạt động của GV và học sinh người ta có thể phân thí nghiệm vật lí thành các loại sau đây:

- Thí nghiệm biểu diễn

- Thí nghiệm HS

1.1.5.1 Thí nghiệm biểu diễn

a) Phân loại thí nghiệm biểu diễn

- Thí nghiệm mở đầu: là những thí nghiệm dùng để đặt vấn đề định hướng bài học Thí nghiệm mở đầu phải hết sức ngắn gọn và cho kết quả ngay

- Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng mới: được tiên hành trong nghiên cứu bài mới Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng mới có thể là thí nghiệm khảo sát hay là thí nghiệm kiểm chứng

- Thí nghiệm củng cố: là những this nghiệm dùng để củng cố bài học Cũng giống với thí nghiệm mở đầu thí nghiệm củng cố cũng phải ngắn gọn và cho kết quả ngay

b) Các yêu cầu của thí nghiệm biểu diễn

- Thí nghiệm biểu diễn phải gắng liền hữu cơ với bài giảng

-Thí nghiệm biểu diễn phải ngắn gọn hợp lí

-Thí nghiệm biểu diễn phải đủ sức thuyết phục

Trang 18

-Thí nghiệm biểu diễn phải đảm bảo cả lớp quan sát được

-Thí nghiệm biểu diễn phải đảm bảo an toàn

c) Kĩ thuật biểu diễn thí nghiệm

-Sắp xếp dụng cụ: Các dụng cụ thí nghiệm phải bố trí và sắp xếp sao cho lôi cuốn sự chú

ý của HS và đảm bảo cả lớp quan sát được

- Dùng vật chỉ thị: Để tăng cường tính trực quan của thí nghiệm ta có thể dùng các vật chỉ thị: dùng màu pha vào nước, dùng khói trong thí nghiệm truyền thẳng ánh sáng…

- Dùng các phương tiện hỗ trợ: máy chiếu, gương phẳng, Video Camera…

Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong QTDH, bao gồm các

đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng trong dạy học, các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác

Phương tiện trực quan bao gồm mọi thiết bị và kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong QTDH để hổ trợ cho quá trình dạy và học của GV và HS Phương tiện trực quan tác động trực tiếp đến giác quan của người học, qua đó những thông tin được học sinh tiếp thu và xử lí

Theo Lotsklinbo: “PTDH là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp GV hay HS tổ chức tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục và giáo dưỡng ở các cấp học, ở các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện những yêu cầu của chương trình giảng dạy PTTQ bao gồm mọi thiết kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong QTDH, để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo”

1.1.6.2 Chức năng của phương tiện trực quan

a) Chức năng của phương tiện trực quan theo quan điểm lí luận nhận thức

PTTQ góp phần hỗ trợ cho quá trình nhận thức của HS, định hướng hoạt động nhận thức của HS trong QTDH và kích thích hứng thú hoạt động nhận thức của HS

Trang 19

Ngoài ra PTTQ còn góp phần phát triển năng lực làm việc độc lập sáng tạo của HS,

qua đó góp phần rèn luyện phẩm chất người lao động mới

PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức hết sức phong phú và sinh động, giúp

HS lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác, đồng thời giúp củng cố, khắc sâu, mở rộng, nâng cao và hoàn thiện tri thức Qua đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp, tình hình phát triển động cơ học tập tích cực, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học Từ đó có khả năng vận dụng những tri thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống

b) Chức năng của phương tiện trực quan theo quan điểm lí luận dạy học

Trực quan trong dạy- học là một nguyên tắc lý luận dạy- học ra đời sớm nhất Từ

cổ xưa, người ta đã sử dụng nó trong quá trình truyền đạt những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, ở những chỗ mà lời giảng không đủ để đảm bảo cho trẻ em hiểu thấu được đối tượng

J.A.Cômenxki (1592 - 1679) nhà giáo dục nổi tiếng Slovakia được xem là

người đầu tiên nêu ra luận đề cơ bản về giảng dạy trực quan Theo ông, không hề có gì hết trong trí não nếu như trước đây không có gì trong cảm giác Vì vậy, dạy- học không thể bắt đầu từ sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp của chúng Trực quan được xem là một phương tiện phản ánh khách quan, trung thực vào đối tượng và các quá trình của thế giới hiện thực, nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với việc phát triển tư duy trừu tượng của HS

PTTQ là một công cụ trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở tất cả các khâu của QTDH Nó không thể thiếu trong việc vận dụng phối hợp các PPDH cụ thể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giảm nhưng đầy đủ, sâu sắc

và sinh động, điều khiển quá trình nhận thức của HS một cách hiệu quả, sánh tạo

PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sư phạm Tuy nhiên, PTTQ có giá trị dạy học cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ sư phạm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng của người GV Nếu trong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp

lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu về mặt sư phạm và kinh tế Chúng có thể phá vỡ cấu trúc bài giảng, phân tán sự chú ý của HS, lãng phí thời gian và tiền của Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng các PTTQ phải gắn liền với việc hướng dẫn sử dụng có hiệu quả cho đội ngũ GV Đây cũng chính là một vấn đề còn ít được quan tâm đầy đủ, và là một khâu yếu nhất trong nhà trường phổ thông hiện nay

Trang 20

Trong lí luận dạy học, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông tin bao gồm

sự lựa chọn sắp xếp và truyền đạt thông tin trong một môi trường sư phạm thích hợp tối

ưu cho người học Trong bất kỳ tình huống dạy- học cũng có một thông điệp để dạy, cũng

có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, và các phản hồi từ người học, kể cả sự kiểm soát quá trình này về sự nhận xét đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác PTTQ chính là các cầu nối truyền thông tin từ GV tới HS và ngược lại Mỗi môn học đều cần có các PTTQ phù hợp, đặc biệt là trong thế kỷ 21 với sự bùng nổ của thông tin thì PTTQ lại càng có vai trò quan trọng hơn

1.1.6.3 Các loại phương tiện trực quan

a)Các phương tiện trực quan truyền thống

-Các vật thật trong đời sống và kĩ thuật

-Các thiết bị thí nghiệm dùng làm thí nghiệm hoặc thí nghiệm HS

-Các mô hình vật chất như: mô hình máy biến thế, mô hình động cơ điện, …

-Bảng

-Tranh ảnh, biểu bảng và các bảng vẽ sẵn

-Các tài liệu in: SGK, sách bài tập,……

b) Các tổ hợp các phương tiện trực quan, phương tiện đa năng trong dạy học

- Tổ hợp máy tính và máy chiếu đa chức năng (Projector)

- Tổ hợp máy Scanner, máy vi tính và máy chiếu đa chức năng

- Tổ hợp máy camera, máy chiếu đa chức năng hoặc là video và tivi

1.2 Cơ sở lý luận dạy học

1.2.1 Quá trình dạy học (QTDH)

Khái niệm này đã được đề cập ở trên Song để hiểu được điều này một cách cụ thể, người

ta phải biết xem nội dung bên trong nó là gì, nó được xây dựng bởi những yếu tố (thành tố) cơ bản nào và tìm hiểu ý nghĩa của các thành tố đó

1.2.1.1 Sơ lược các thành tố của quá trình dạy học

Các thành tố của quá trình dạy học

* Các thành tố phi vật chất:

- Mục tiêu đào tạo: Thành tố này chi phối toàn bộ việc dạy học của chúng ta, hay nói khác đi nó qui định mức độ cũng như chất lượng cấu thành của các thành tố khác trong QTDH Thành tố này luôn được điều chỉnh bởi xã hội, vì vậy các thành tố khác cũng phải thay đổi cho phù hợp

Trang 21

- Phương pháp dạy và phương pháp học: Thành tố này thể hiện ra bên ngoài ở người dạy và người học, là con đường, cách thức để QTDH đạt được mục đích dạy học Thành

tố này cũng vận động khi mục tiêu đào tạo thay đổi

- Thành tố môi trường xã hội và môi trường giáo dục: Thành tố này bao gồm thể chế

xã hội – quy định mục tiêu đào tạo – môi trường xã hội quanh trường, tập thể học sinh, tập thể giáo viên - ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu đào tạo Đây là thành tố quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến QTDH

* Các thành tố mang tính vật chất:

- Người dạy: Cùng với mục tiêu đào tạo, thành tố này chỉ đạo trong QTDH

- Người học: Đây là thành tố vừa bị chỉ đạo bởi các thành tố khác, đặc biệt là người dạy, vừa là tự chỉ đạo (chủ động) trong QTDH

- Phương tiện dạy học: Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển rất cao về phương tiện nghe nhìn và máy móc thông tin Nếu ngành giáo dục tận dụng được các phương tiện hiện đại vào dạy học thì có thể nói QTDH trong thời đại mới sẽ thay đổi sâu sắc về hình thức lẫn chất lượng

Thế nhưng mục đích của ta là đi tìm bản chất của QTDH Ở trên ta thấy nổi bật lên hai thành tố chính yếu mà nếu không có chúng thì sẽ không có quá trình dạy học, đó là người dạy và người học Nói rõ hơn, đó là quá trình làm việc của người học và bản chất của QTDH cũng được thể hiện ra ở mối quan hệ giữa hai thành tố này, đặc biệt là sự vận động bên trong của quá trình học dưới sự hổ trợ, dẫn dắt của người dạy

Hoạt động giảng dạy của giáo viên giữ vai trò chủ đạo: Tổ chức, lãnh đạo, điều khiển quá trình dạy học Người học trong quá trình học tập, vừa là đối tượng, vừa là khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động nhận thức, chủ thể chiếm lĩnh tri thức,

kỹ năng theo mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học Họ không ngừng phát huy tính cao độ tự giác, tính tích cực, tính sáng tạo, tính độc lập trong học tập dưới sự hướng dẫn, điều khiển của giáo viên

Để đảm bảo được sự thống nhất giữa vai trò tổ chức, điều khiển quá trình học tập của người học, trước hết hoạt động dạy học phải tiến hành hướng về người học, phải phát huy cao độ tính tích cực, sáng tạo của họ, tạo điều kiện để họ có thể học bằng hoạt động của chính mình

Trang 22

1.2.1.2 Mối liên hệ nghịch giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Nếu như quan sát sơ đồ dưới đây:

Ta thấy rằng mũi tên chỉ theo hai chiều: Chiều thuận (ngược chiều kim đồng hồ)

chỉ liên hệ thuận tác động từ người dạy (D) đến người học (H) – Quan hệ điều khiển

Chiều ngược lại chỉ liên hệ nghịch từ người học đến người dạy hoặc đến các đối tượng của hoạt động học, gọi lại mối liên hệ nghịch ngoài Riêng mối liên hệ nghịch từ kết quả đến người học là mối liên hệ nghịch trong, thể hiện sự tự điều chỉnh của bản thân người học các hoạt động học của mình (gọi là liên hệ nghịch trong)

Các mối liên hệ xuôi là các hoạt động dạy học – các hoạt động chỉ đạo Sự thể hiện các mối liên hệ này không hoàn toàn như trước đây Các hoạt động dạy có thể không xuất hiện thường xuyên và tường minh Nghĩa là, không phải lúc nào người dạy cũng đứng trên bục giảng, trước mặt học sinh Thầy có thể đứng ngoài lớp học, thậm chí ở nhà nhưng học sinh phải làm việc theo sự hướng dẫn của thầy

Thầy đứng trước lớp nhưng không phải lúc nào cũng thuyết giảng mà có thể thầy hướng dẫn học sinh học tập, thảo luận,…Trong dạy học tích cực, các hoạt động ấy nằm trong quan hệ chỉ đạo từ thầy đến trò Các hoạt động chỉ đạo còn bao gồm cả việc hướng dẫn học sinh lựa chọn nội dung tham khảo ở nhà, chọn bài tập để làm, giới thiệu cho học sinh phương pháp học sao cho thích hợp với mỗi các nhân

Trong lý luận dạy học hiện đại, người ta quan tâm nhiều đến các mối quan hệ nghịch Bên cạnh việc học SGK học sinh còn phải đi thư viện theo sự giới thiệu của thầy

Trang 23

trên lớp Đặc biệt quan trọng là mối quan hệ nghịch từ học sinh tới thầy Trong quá trình học tập, học sinh phản hồi những thăc mắc, mâu thuẫn trong tư duy phát triển QTDH Sự

“giao lưu” này cùng kết quả kiểm tra, thầy đánh giá được học sinh của mình và cũng từ đó thầy tự điều chỉnh các hoạt động chỉ đạo của mình cho sát với khả năng của từng lớp, từng học sinh Muốn có QTDH tối ưu, thầy phải tự điều chỉnh hoạt động dạy của mình cho thích hợp, quan tâm nhiều đến phương pháp dạy, dạy như thế nào để đi đôi với hành Như vậy việc sử dụng các phương tiện trực quan trong giảng dạy là hết sức cần thiết, như vậy MVT trở thành phương tiện không thể thiếu trong QTDH

Theo lý thuyết này thì việc sử dụng MVT để hổ trợ cho dạy học sẽ đáp ứng ở mức

độ cao sự chỉ đạo của thầy cũng như giữ được mối quan hệ xuôi và ngược ở mức độ cao Việc thiết kế giáo án dạy học trên máy tính sẽ thể hiện rất rõ sự chỉ đạo của thầy: lúc nào cần đưa nội dung, lúc nào đưa các hình ảnh mô phỏng, lúc nào để cho học sinh hoạt động,…Phản ứng của học sinh trong giờ học (phấn khởi, ngạc nhiên, nhàm chán,…) sẽ được thể hiện trong khi trình diễn các trang PowerPoint Sự tự điều chỉnh của giáo viên sẽ được thể hiện ở việc thầy sửa chữa, cập nhật các trang PowerPoint của mình ngay sau giờ giảng

1.2.2 MVT được nhìn dưới góc độ sư phạm

QTDH là quá trình hoạt động của thầy lẫn trò, đôi khi riêng biệt, đôi khi chung, nó

diễn ra không chỉ ở lớp học mà còn ở nhà, ngoài xã hội QTDH bao gồm cả việc dạy bài

học mới, ôn tập, kiểm tra, đánh giá

Với tính cách là một công cụ dạy học bình đẳng với các công cụ truyền thống khác, MVT có thể sử dụng theo hướng khác nhau với nhiều mục đích khác nhau Trước hết, chiếc máy tính như là phương tiện trực quan trong QTDH

1.2.2.1 MVT – Phương tiện trực quan hiện đại trong QTDH

Trong mỗi nội dung dạy học đòi hỏi phải có những phương pháp và phương tiện dạy học tương ứng Ngày nay, mục đích của QTDH là đào tạo nên những con người thông minh, sáng tạo, phù hợp với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật Chính vì vậy mà nội dung dạy học cũng đã được điều chỉnh và phương tiện dạy học cũng đã được cải tiến, hiện đại hóa MVT là một phương tiện dạy học hiện đại Việc sử dụng MVT trong dạy học có những đặc điểm sau:

- Tăng tính trực quan, sự hứng thú học tập kích thích sự chú ý của học sinh ở mức độ cao

Trang 24

- Giao tiếp người – máy trong quá trình học tập là hoàn toàn chủ động theo sự điều khiển của giáo viên và học sinh

- Tạo cơ hội để chương trình hóa không chỉ nội dung tri thức mà cả những con đường nắm vững tri thức, điều khiển được QTDH

- Giảm thời gian viết, nói của giáo viên trên lớp vì nhiều nội dung đã được chuẩn bị trên màn hình, kể cả những hình ảnh động Cụ thể, đối với việc sử dụng phần mềm PowerPoint trong giảng dạy Điện học, những hình ảnh, những kết quả của lý thuyết được ghi nhận lại và được trình diễn lại Đối tượng học tập coi như đã tri giác thực tế và hình dung được nội dung đó

- Dạy học với MVT không bị hạn chế, gò bó theo thời gian biểu, có thể thực hiện dạy học ở tình huống “không lớp” như phụ đạo riêng cho một số người, giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà tự học trên máy, trong đĩa CD v v

- MVT cho phép củng cố ngay lập tức và thường xuyên hơn so với dạy học truyền thống, kế thừa kết quả của hoạt động trước đó

- Cá thể hóa hoạt động học tập của học sinh ở mức độ cao Học sinh có thể được giao nhiệm vụ học tập với mức độ riêng phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều kiện học tập của từng cá nhân

- Các mô hình, hiện tượng,…khi quan sát có sự trợ giúp của MVT được thực hiện một cách nhanh chóng với độ chính xác cao

- Các số liệu, hình ảnh, đánh giá và biểu diễn linh hoạt

- Với các phần mềm thích hợp, với các thiết bị ngoại vi kèm theo có thể xây dựng được phần mềm giảng dạy Điện học cho tất cả các đối tượng như chương trình đào tạo từ

xa, qua mạng Internet Đây là vấn đề mà Đảng và nhà nước ta đang quan tâm Thông qua Internet chúng ta có thể lấy được những thông tin mới nhất liên quan đến nội dung dạy học

- Việc sử dụng MVT trong dạy học cũng làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học của giáo viên Hình thức tổ chức dạy học cũng từ đó được cải tiến, hoàn thiện theo hướng linh hoạt phong phú hơn

1.2.2.2 Các xu hướng sử dụng MVT ở trường Phổ thông

Giáo dục tin học cho học sinh thông qua giảng dạy các môn học khác, sử dụng hình thức nội, ngoại khóa,…Sự nghiệp giáo dục phải đáp ứng những đòi hỏi của xã hội Đó là yêu cầu có tính chất nguyên tắc Trong thời đại ngày nay MVT trở thành học vấn phổ

Trang 25

thông của mọi thành viên trong xã hội Nếu như sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi của tin học là một đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học công nghệ của thế

kỷ này thì việc đưa tin học vào nhà trường cũng là một bước ngoặc trọng đại trong sự nghiệp đào tạo, nó vừa sử dụng công nghệ thông tin cho chính nó, nó cũng vừa đào tạo cho xã hội những con người ra đời tiếp cận với MVT để làm việc

Có hai xu hướng để đưa tin học vào trường phổ thông:

- Đưa tin học vào chương trình giảng dạy, xem tin học như một môn học tương tự các môn học khác (thực tế đã thực hiện tại hầu hết các trường phổ thông hiện nay)

- Sử dụng MVT như một công cụ dạy học: công cụ xử lí số liệu trong phòng thí nghiệm và công cụ trực tiếp phục vụ cho người giáo viên trên lớp

Dưới đây em chỉ đề cập đến xu hướng thứ hai có liên quan trực tiếp tới đề tài này

1.2.2.3 Sử dụng máy tính như công cụ dạy học

a Mô phỏng các nội dung dạy học

Theo hướng này, các môn học chẳng hạn như Vật Lý, Toán, Hóa Học, Sinh Học và

cả các môn kỹ thuật sẽ có rất nhiều lợi thế trong việc tận dụng màn hình của chiếc MVT Với các ngôn ngữ lập trình không đến nỗi phức tạp lắm như: Pascal, Visualbasic, htlm và đặc biệt là các phần mềm sẵn có (Maple, Mathlap, Interactive Physic 2000,…), nếu biết kết hợp những lợi điểm của MVT cùng với những ưu thế tuyệt đối của người giáo viên về những ý tưởng cũng như những cái nhìn mang tính sư phạm, chúng ta có thể biểu diễn các hình ảnh, hiện tượng cũng như các thí nghiệm trên màn hình, giả sử áp dụng cho mô phỏng Vật Lý:

- Biễu diễn cái cụ thể nhưng rất trừu tượng (hệ chuyển động tương đối - hệ quy chiếu)

- Có thể làm chậm hóa một vấn đề để quan sát (hình ảnh dòng điện chạy trong dây dẫn)

- Biễu diễn các hiện tượng của Vật Lý vĩ mô có bản chất mang tính vi mô (biễu diễn

sự truyền dao động của sóng ngang, sóng dọc, sự dính ướt,…)

- Biễu diễn dao động cơ điều hòa và trực quan hóa sự biến đổi năng lượng trong khung dao động điện,…

- Mô phỏng nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của các động cơ, mô phỏng các hiện tượng Vật Lý

Trang 26

- Mô phỏng các thí nghiệm Vật Lý từ đơn giản đến phức tạp (các thí nghiệm cơ nhiệt, điện, quang, nguyên tử hạt nhân, thuyết tương đối,…)

Đây là một công việc hết sức cần thiết, bởi lẽ trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay còn yếu kém, thiết bị hiện đại chưa được trang bị đầy đủ

b Soạn thảo giáo án dựa vào phần mềm PowerPoint

Thực tế giảng dạy cho thấy, sử dụng phần mềm PowerPoint trên lớp đã có thể thay thế gần như hoàn toàn cho bảng viết trong suốt tiết học Cũng có thể sử dụng MVT ở từng giai đoạn của tiết học: củng cố tri thức cho học sinh trước khi bắt đầu giờ giảng, xây dựng tri thức mới, ôn luyện và vận dụng tri thức, tổng kết hệ thống hóa kiến thức và kiểm tra MVT có thể mô phỏng các thí nghiệm ảo với hình ảnh, âm thanh, màu sắc hợp lí để có thể kích thích học sinh trong lớp học Trong dạy học Điện học, hệ thống các hình ảnh tĩnh, động mô tả dòng điện, hình ảnh các nhà nghiên cứu lịch sử về điện,… cần thiết cho nội dung bài học sẽ được biễu diễn nhanh chóng và hoàn toàn động mà không cần lập trình phức tạp Những cách làm ấy sẽ góp phần tích cực hóa các hoạt động học tập của người học

1.2.3 Hiện trạng ứng dụng PowerPoint trong dạy học

Microsoft PowerPoint là chương trình ứng dụng trong bộ sản phẩm nổi tiếng của Microsoft mang tên Microsoft Office Cùng với Microsoft Word và Microsoft Excel, PowerPoint thực sự cần thiết cho tất cả các cơ quan, công sở, trường học, văn phòng Hiện nay, phần mềm PowerPoint là công cụ được sử dụng với nhiều mục đích và ngày càng được khẳng định tầm quan trọng trong nhiều lĩnh vực Nó cũng được nghiên cứu sâu những chức năng vốn có để phục vụ nhu cầu ngày càng lớn về giảng dạy và học tập trong các nhà trường Khác với hai sản phẩm phổ biến của Microsoft, PowerPoint với công cụ tinh xảo, biểu mẫu, biểu đồ có sẵn và tự thiết kế cũng như một loạt những chức năng tự động hóa các quá trình này dùng để tạo ra các biểu mẫu đồ hoạ trang trí đẹp mắt và phim dương bản được kết nối tạo nên các trình phim biểu diễn các cơ chế, các quá trình được ứng dụng rất nhiều trong việc thiết kế các bài giảng, các thuyết minh khoa học, các báo cáo hết sức sinh động Nhờ đó, PowerPoint thực sự mang lại hiệu quả cho những ứng dụng nhằm tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực

Hiện nay, một số giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ về đổi mới phương pháp dạy- học Khi sử dụng PowerPoint, nhiều giáo viên quên việc sử dụng bảng và coi màn hình là công cụ duy nhất Kết quả là trong giờ học, học sinh chỉ làm nhiệm vụ chép lại

Trang 27

những chữ phóng to trên màn hình, không còn thời gian để nghe hoặc trao đổi về bài học

Vì vậy mỗi GV cần phân tích những ưu nhược điểm của việc áp dụng công nghệ thông tin, phân tích sự khác nhau về mức độ áp dụng cho từng bài, từng phần kiến thức

Nghiên cứu bước đầu của em cho thấy phần mềm PowerPoint có thể thực hiện được các công việc phục vụ giảng dạy, học tập sau:

 Tạo giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách hướng dẫn phục vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường và tự học của HS

 Tạo các trình phim, mô hình động mang tính trực quan, phù hợp với việc tổ chức dạy- học, phục vụ hội thảo, triển lãm

Phần mềm PowerPoint có những tính năng sau:

- PowerPoint là một phần mềm cho phép chúng ta thiết kế ở diện rộng phù hợp với tất cả các môn học, nó có tác dụng giúp giáo viên trình bày nội dung kiến thức một cách lôgic, dẫn dắt học sinh đi sâu vào từng vấn đề cụ thể, đặt các em trước những tình huống

có vấn đề cần phải giải quyết

- Giáo viên có thể dựng hình ảnh, âm thanh, cùng với chữ viết dưới dạng câu hỏi, bài tập Các vấn đề cụ thể được trình bày lần lượt trên một phông nền có màu sắc hài hoà, không gian ba chiều kèm theo hình ảnh, âm thanh sinh động gây ấn tượng mạnh tới người học

- Giáo viên có thể hiển thị nội dung theo những biểu mẫu có sẵn hay tự thiết kế nội dung bằng các sơ đồ, biểu bảng, chữ viết kết hợp với việc dựng đồ họa; có thể cho các hình ảnh, sơ đồ, nội dung của các câu hỏi, bài tập lần lượt xuất hiện trên màn hình theo tiến trình dạy học; cũng có thể sử dụng âm thanh, lời nói, nhạc nền phụ họa cho bài giảng tạo cảm giác hưng phấn giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức tốt hơn

- Giáo viên có thể kết nối các slide trong từng phần của nội dung dạy học để tạo thành một chương trình lôgic theo hình thức tự động hoá hoàn toàn, hoặc theo hình thức

tự điều khiển thông qua bàn phím hay con chuột cho phép giáo viên hoàn toàn chủ động điều khiển hoạt động dạy học trong một tiết dạy để đạt hiệu quả cao nhất

- Phần mềm PowerPoint dễ thiết kế, dễ sử dụng và sử dụng linh hoạt trong các điều kiện dạy học khác nhau: cụ thể sử dụng trực tiếp bằng máy tính kết hợp với máy chiếu đa năng, cũng có thể ghi toàn bộ phần mềm dạy học đó ra đĩa CD để sử dụng với đầu VCD phát ra màn hình vô tuyến mà hiện nay rất phổ biến ở các trường học

Trang 28

- So với sử dụng đèn chiếu, dùng PowerPoint có nhiều ưu điểm: giáo viên hoàn toàn chủ động không mất nhiều thời giờ vào các động tác như phải thay hoặc lật các bản trong trên đèn chiếu; hình ảnh chữ biết thể hiện các màu sắc sinh động, giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh theo chương trình tự động trong thời gian một tiết học, hay tự điều khiển bằng bàn phím hoặc con chuột cho linh hoạt phù hợp với tiến trình bài giảng và đối tượng học sinh, cho phép cụ thể hoá từng phần kiến thức hay sơ đồ hoá một cách hệ thống chứ không đơn điệu như khi đưa bản trong lên đèn chiếu

- Việc thiết kế và sử dụng phần mềm PowerPoint giảng dạy bằng máy vi tính thực sự đơn giản và tiện ích, không tốn kém nhưng khả năng phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học lại đạt hiệu quả cao Các hình thức sử dụng hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ trong giảng dạy linh hoạt, phong phú cho phép giáo viên dẫn dắt học sinh đi từ các chi tiết cụ thể đến khái quát hoặc ngược lại Hơn thế nữa, những kiến thức quan trọng cần phải nhấn mạnh và phải dành nhiều thời gian hơn thì khi thiết kế, chúng ta có thể hoàn toàn chủ động điều chỉnh bằng cách đặt chế độ tự động về thời gian, hay điều khiển các slide bằng bàn phím hoặc con chuột; hoặc ghi toàn bộ phần mềm dạy học đó ra đĩa CD để sử dụng

1.2.4 Tính sƣ phạm của một bài giảng PowerPoint

1.2.4.1 Các ưu, nhược điểm của việc sử dụng bài giảng bằng PowerPoint

- Vấn đề kĩ thuật sử dụng máy tính, máy chiếu còn là một khó khăn chưa thể vượt qua ở nhiều giáo viên Nếu không có ý thức sử dụng PowerPoint tốt thì các ưu thế của phần mềm này có lẽ sẽ trở thành nhược điểm lớn và cơ bản: sinh viên thích học vì mới lạ nhưng tâm lí bị phân tán, không theo dõi được bài học, không ghi được nội dung cơ bản của bài…

Trang 29

1.2.4.2 Những điểm mạnh, điểm yếu của giáo viên khi thiết kế bài giảng bằng

- Rất chịu khó thu thập tư liệu cho môn học

* Những điểm yếu của giáo viên khi sử dụng PowerPoint:

- Sử dụng màn hình không hợp lí trong việc bố trí chữ (viết quá nhiều - dư, viết quá ít - phải lật trang liên tục), kích cỡ chữ, nội dung viết cũng như tính nhất quán trong trình bày

- Lạm dụng các hiệu ứng làm học sinh mất tập trung vào bài giảng

- Lạm dụng màu sắc, âm thanh hoặc sử dụng chúng không hợp lí, không nhất quán

- Cỡ chữ, kiểu chữ không được quy định thống nhất làm cho bài giảng lộn xộn, khó theo dõi

* Các yêu cầu cơ bản để đảm bảo một bài giảng bằng PowerPoint đạt chất lượng

* Về nội dung trang trình chiếu

Cần:

- Đủ nội dung cơ bản của bài học

- Phải được mở rộng, cập nhật

- Nhiều thông tin có ý nghĩa và được chọn lọc

- Trên các trang trình chiếu phải thể hiện được cả tính phương pháp

Tránh:

- Nội dung nghèo nàn, chỉ nhằm thay thế chiếc bảng đen

- Quá nhiều thông tin làm học sinh bị "nhiễu"

- Sai sót các loại lỗi chính tả, lỗi văn bản

* Về hình thức trang tình chiếu:

Cần:

- Bố cục các trang trình chiếu sao cho học sinh dễ theo dõi, ghi được bài

- Các trang trình chiếu phải mang tính thẩm mĩ để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, vừa giáo dục được học sinh

Trang 30

- Cỡ chữ phù hợp với số lượng người học, quá lớn thì loãng thông tin, quá nhỏ thì người cuối lớp không nhìn thấy Thông thường dùng cỡ chữ 24 hoặc 28 là vừa

- Cố gắng tận dụng kĩ thuật trong phần mềm (nhưng không cần thiết cầu kì)

để thể hiện tính sư phạm của bài giảng

Tránh:

- Lạm dụng các hiệu ứng tới mức không cần thiết

- Lạm dụng màu và dùng các màu chói nhau trên cùng một trang

1.3 Khai thác phần mềm PowerPoint để thiết kế chương trình dạy học

Trong những năm gần đây, bài giảng điện tử được sử dụng tương đối phổ biến ở nhiều bộ môn Bài giảng điện tử có thể được thiết kế dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tuỳ theo trình độ có được về công nghệ thông tin của người viết hoặc dựa vào các phần mềm trình diễn sẵn có như FrontPage, Publisher, PowerPoint… Trong đó thiết kế bài giảng điện tử trên Microsoft PowerPoint là đơn giản và dễ sử dụng đối với đa số giáo viên

Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều thực hiện thông qua môi trường Multimedia do máy tính tạo ra Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Thông tin được truyền dưới các dạng: Văn bản (Text), đồ hoạ (Graphics), ảnh động (animation), ảnh tĩnh (image), âm thanh (audio) và phim video (video clip)

Đặc trưng cơ bản nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của giáo viên đều được Multimedia hoá

* Quy trình thiết kế bài giảng điện tử:

Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình 6 bước sau:

- Xác định mục tiêu bài học

- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm

- Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức

- Xây dựng thư viện tư liệu

- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể

- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

1.3.1 Một số kĩ thuật cơ bản khai thác phần mềm PowerPoint

1.3.1.1 Khởi động PowerPoint

Trang 31

Hiện nay phần mềm PowerPoint đã được nâng cấp và giao diện thay đổi nhiều nhưng cách sử dụng vẫn không đổi, nên ta chọn PowerPoint 2003 cơ bản và dễ sử dụng Vào Menu Start/Program/Microsoft Office/Microsoft Office PowerPoint 2003 hoặc

đổi mà bạn đã thực hiện trong quá trình sử dụng, màn hình PowerPoint 2003 xuất hiện sẽ sai khác nhau một chút Tuy nhiên, thông thường màn hình của PowerPoint 2003 sẽ xuất hiện như hình bên dưới:

Các thành phần của màn hình PowerPoint 2003 được đánh số lần lượt theo thứ tự như hình bên trên:

1 Thanh tiêu đề (Title bar): Cho chúng ta biết tên chương trình (Microsoft

PowerPoint) và tên của tập tin đang làm việc (Presentation 1)

2 Thanh trình đơn (Menu bar): Gồm 9 mục từ File đến Help Mỗi mục sẽ chứa

nhiều mục khác nếu ta nhấp vào chúng

3 Thanh công cụ chuẩn (Standard Toolbar): Chứa biểu tượng của các lệnh

thường dùng

4 Thanh công cụ định dạng (Formatting Toolbar): chứa các biểu tượng dùng cho

việc trình bày văn bản như font chữ, cỡ chữ, màu sắc, canh biên,…Ngoài ra, chúng ta còn

có thể mở thêm nhiều thanh công cụ khác từ menu lệnh View/Toolbars/

Trang 32

5 Normal Pane: Dùng chọn cách xem các slide hay dàn bài của bài trình diễn

Phía dưới Normal Pane có 3 biểu tượng:

a Normal View: Trình bày theo kiểu thông thường, dùng để xử lý từng

slide

b Slide Sorter View: Trình bày toàn thể các slide có trong bài trình diễn,

dùng để theo dõi vị trí, thứ tự các slide

c Slide Show: trình chiếu bài trình diễn từ slide đang chỉnh sửa

6 Khu vực của slide đang được chỉnh sửa

7 Task Pane: Chứa nhiều thành phần khác nhau như:

b Slide Layout: Chọn kiểu bố trí cho mỗi slide

c Slide Design: Chọn các kiểu trang trí slide có sẵn, các hệ màu, các hiệu

ứng cho toàn bộ bài trình diễn

9 Thanh công cụ vẽ (Drawing Toolbar): Dùng để vẽ và chỉnh sửa một số hình

đơn giản, chèn các các chữ nghệ thuật, thay đổi màu sắc của văn bản,…

10 Thanh trạng thái: Thông báo về số lượng slide có trong bài trình diễn và một

số thông tin khác

1.3.1.2 Chọn trang PowerPoint để soạn thảo bài giảng

Có thể chọn một trong ba cách sau:

- Auto content wizard: Trình hướng dẫn tạo nội dung

- Design template: Chọn dạng mẫu thiết kế

- Blank presentation: Mẫu trống để thiết kế

- Open an existing: Mở tập tin có sẵn

Như vậy thông thường để đơn giản ta chọn Presentation để tự bắt một thiết kế mới Khi

đó có nhiều template khác nhau, click vào các template trong cửa sổ apply design template

để xem các mẫu nền trước khi click apply để chấp nhận

Trang 33

1.3.1.3 Chọn màu nền cho Template

- Vào trình đơn Format background

- Click mở khung màu: Trong khung này có hai mục lựa chọn đó là: More colors và Fill effects

+ More colors: Mở bảng màu tiêu chuẩn và chọn màu tùy ý

+ Fill effects: Các dạng màu hiệu ứng trong cửa sổ Fill effects có bốn bảng:

Gradient: Các dạng màu pha

Texture: Mẫu màu nền texture

Pattern: Dạng mẫu pattern

Picture: Lấy ảnh có sẵn làm màu nền

1.3.1.4 Nhập văn bản cho trang soạn thảo

a Nhập văn bản vào khung cỡ chữ có sẵn:

- Các mẫu thiết kế đều có sẵn các khung cỡ chữ với tiêu đề “click to add…” (click

vào để nhập…) Nếu muốn nhập chữ vào khung này có thể thực hiện như sau:

+ Click trỏ chuột vào ô muốn nhập chữ

+ Nếu cần chọn lại kiểu chữ và cỡ chữ ta chọn trong khung font và khung size trên thanh công cụ hoặc từ menu Format\ Font Nói chung là ta có thế trình bày tương tự như

Word

b Chèn khung nhập chữ:

Nhấp vào biểu tượng text box trên thanh công cụ Sau đó Click & Drag trên màn

hình thiết kế để tạo khung chữ sau đó nhập bình thường như phần a Còn nếu không chọn đối tượng khác nó sẽ biến mất

Trang 34

+ Align left: Canh đều trái

+ Center: Canh giữa

+ Align right: Canh đều phải

+ Justify: Canh đều hai biên

c Một số thuộc tính khác:

- Line spacing: Khoảng cách giữa các dòng

- Change case: Đổi dạng chữ

kế (View\ Normal) ta có thể thực hiện theo các cách sau:

1.3.2.1 Mở cửa sổ Custom Animation

- Click chọn Slide show \ Custom Animation hoặc Right click tại đối tượng và chọn Custom Animation

- Trong cửa sổ Custom Animation click chọn các dạng hiệu ứng khác nhau tùy theo ý

thích của mỗi người

Trang 35

sẽ xuất hiện sau Khung này xuất hiện ở bên phải của màn hình soạn thảo PowerPoint trong Microsoft office XP

1.3.2.3 Thiết lập thời gian bắt đầu thực hiện

Sau khi đã sắp đặt đúng thứ tự, click chọn từng đối tượng và thiết lập thời gian bắt đầu thực hiện hiệu ứng bên khung Start Animation, ta có ba sự chọn lựa sau:

+ Chọn Insert \ Picture\ From flie

+ Trong cửa sổ Insert Picture chọn tên ổ đĩa và thư mục chứa tập tin trong khung lock in, click chọn tập tin muốn chèn và click Insert để chèn hình ảnh vào trang thiết kế

+ Chèn phim và âm thanh

Chọn Insert\ Moves and Sound\ , trong trình đơn này có các mục chọn sau: + Movie from gallery: Chèn phim từ thư viện hình ảnh của chương trình MS Office + Movie from file: Chèn tập tin dạng *.avi tự chọn

+ Sound from gallery: Chèn âm thanh từ thư viện hình của chương trình MS Office + Sound from file: Chèn âm tập tin âm thanh tự chọn

+ Play Click & Dag Audio track: Chèn âm thanh từ đĩa Audio Click & Drag (nhất thiết phải đưa đĩa vào ổ đĩa CD ROM)

+ Record sound: ghi âm

Như vậy, những ưu điểm vượt trội của PowerPoint so với các phần mềm ứng dụng khác chắc chắn nó sẽ được sử dụng rộng rãi không chỉ trong tất cả các trường học và kể cả trong các ngành khoa học khác (dùng để báo cáo trong các hội nghị, hội thảo,…) Và lý thuyết đưa ra như trên không chỉ bản thân em có thể vận dụng được để thiết kế bài giảng với PowerPoint mà có thế sẽ làm tài liệu tham khảo cho những người muốn làm quen với PowerPoint

1.3.3 Ƣu việt của phần mềm PowerPoint

Trang 36

a Tính năng mạnh mẽ

- Tạo được hiệu ứng cho các trang và tất cả đối tượng

- Hàng trăm dạng hiệu ứng hoạt hình khác nhau

- Nhiều âm thanh, hình ảnh sinh động

- Kết hợp được với các phần mềm thiết kế đồ họa Hổ trợ tính động cho bài giảng như phần mềm: Flash, Wisch, Visual Basic,…

b Thiết kế nhanh chóng

- Quản lí từng trang, từng đối tượng Trong mỗi trang, mỗi đối tượng có thể tạo mỗi kiểu hiệu ứng độc lập, tùy thuộc vào dữ liệu trình diễn theo kiểu nào cho phù hợp

- Phương pháp trang trí giống như Word, Excel

- Không cần lập trình nhưng chương trình vẫn hoạt động tốt

- Thiết lập hiệu ứng cho từng đối tượng nhanh chóng

- Hoàn toàn tự động và linh hoạt

- Với chế độ Right/ Click các tác vụ nhanh chóng và hiệu quả

c Dễ dàng trình diễn

- Tập tin có nhỏ, ít tốn bộ nhớ và di chuyển dễ dàng

- Có thể đóng gói, làm cài đặt

- Cấu hình máy đòi hỏi thấp

- Có thể chạy trên hệ điều hành Win3.x, 9.x, 2000, NT, XP,…Nhưng các hệ điều

hành Windows và Office càng mới khi sử dụng sẽ tốt hơn, hiệu ứng cũng như hổ trợ đa

phương tiện hiệu quả hơn

- Dễ dàng kiểm soát từng trang, từng đối tượng

PowerPoint sử dụng đơn giản, tiện lợi và hiệu quả, đặc biệt là tính kinh tế Nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, nguồn tài chính đầu tư cho công tác phát triển giáo dục chưa nhiều, cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy thiếu thốn đã gây không ít khó khăn cho giáo viên khi họ muốn thay đổi PPDH Một nghịch lý xảy ra là trong khi các máy móc chuyên biệt cho ngành giáo dục đôi khi có tiền nhưng không thể mua hoặc mua không đồng bộ thì các loại máy tính lại rất dễ mua, tuy không phải là rẻ khi trang bị đồng loạt Vậy thì việc sử dụng phần mềm PowerPoint để dạy học với những tính năng ưu việt của

nó (gọn, nhẹ, trực quan, dễ mô phỏng hiện tượng, làm thí nghiệm ảo,…) là khả thi, đặc biệt phù hợp với xu thế thay đổi PPDH hiện nay

Trang 37

Chương II

ỨNG DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT CHO BÀI GIẢNG CỤ THỂ

2.1 Trình bày hệ thống nội dung bài giảng

Bên cạnh đó một vài trang ví dụ từ các bài giảng đã nói lên ý đồ của người trình bày các trang PowerPoint về phương diện lý luận dạy học Bài giảng tiến triển tới đâu, GV

có thể cho nội dung hiển thị tới đó bằng cách bấm phím bất kì nào trên bàn phím (dùng

effect ) Việc làm này thay cho công việc ghi bảng, không phải tốn thời gian, câu viết được

chuẩn bị trước mang tính mẫu mực Nếu dạy theo phương pháp thảo luận nhóm hoặc dạy học khám phá, những nhiệm vụ học tập có thể được viết lên màn hình và cho nó hiển thị đúng lúc đũng chỗ như ý đồ giảng dạy của GV Bài giảng dễ sử dụng, chỉ cần bất cứ ai có

thể biết và sử dụng thành thạo Window (Microsoft Word) là có thể sử dụng tốt

PowerPoint để viết trình bày bài giảng điện tử như vậy

Sau đây là một số hướng dẫn quy trình xây dựng hệ thống bài giảng cho phần Điện học Phần quan trọng nhất của quy trình tập trung vào phần thể hiện nội dung trong một bài giảng

(1) Xác định tóm tắt nội dung cần học

(2) Tập hợp các tài liệu tham khảo cho bài giảng

(3) Bố cục nội dung thành các phần nhỏ

(4) Trình bày bài giảng

a Định rõ mục tiêu bài giảng

b Trình bày bài giảng gồm nhiều ý giảng Mỗi ý giảng nên giới hạn trong một trang màn hình

c Xác định mối quan hệ giữa các ý giảng theo một đồ thị kiến thức lập sẵn

d Xây dựng tóm tắt của bài giảng

Trang 38

c Nếu trong ý giảng có sử dụng các kiến thức của các môn học khác, cần xây dựng một ý giảng tham khảo để giải thích hoặc minh họa ý giảng này Các ý giảng này có thể là một màn hình văn bản, một hình ảnh tĩnh hoặc động được soạn riêng và được liên kết vào

ý giảng chính qua các liên kết hay các từ khóa

Nếu cần, có thể soạn thêm một số ví dụ minh họa theo hình thức tạo ý giảng tham khảo và để sẵn để người học, nếu cần có thể chọn xem để hiểu rõ hơn về ý giảng chính

2.2 Sử dụng các tính năng của PowerPoint để minh họa nội dung

Kiến thức Điện học rất phong phú nhưng cũng rất trừu tượng Cho nên nếu kết hợp đưa các hình ảnh phù hợp cả về nội dung lẫn tính sư phạm (màu sắc, âm thanh, chuyển động,…) vào bài giảng thì bài học sẽ biến thành một buổi sinh hoạt khoa học lí thú và bổ ích

2.2.2 Các đoạn phim

Các đoạn phim được sao chép dưới dạng *.AVI có được do tự ghép các đối tượng sau đó thực hiện quay video, một phần chọn lọc từ các đĩa CD – ROM, các trang biễu diễn được lập trình bởi phần mềm Java tải từ Internet sao cho có liên quan tới nội dung kiến thức Điện học và phục vụ tốt cho đề tài Việc đưa các đoạn phim vào bài học dưới sự trình diễn trong trang PowerPoint nhằm vào các mục đích Biểu diễn cái cụ thể nhưng người học không thể thấy hoặc khó thấy được thực tế nó biểu diễn như thế nào Ví dụ như hình ảnh xác định phương và chiều của lực từ:

Trang 39

Về nguyên lí, HS có thể biết vấn đề này nhưng khó có thể hình dung cụ thể ra làm sao Nếu thực hiện đoạn trình chiếu *.AVI thì đó cũng là một sự giải thích trực quan cho người học hiểu và “cảm thấy” được Ví dụ xác định chiều của đường sức từ trong trong dây dẫn uốn thành vòng tròn:

2.2.3 Các mô hình chuyển động

Nếu như để mô phỏng đối tượng một cách trực quan mà ta thực hiện bằng đoạn

phim (video clip) thì không khó khăn, nhưng không phải nội dung nào cũng có sẵn cho ta

copy theo ý đồ riêng của mình Khi soạn giáo án điện tử, người GV có những ý đồ sư

Trang 40

phạm riêng cần thể hiện bằng hình ảnh trực quan Vì vậy, người GV cũng cần có những kĩ năng nhất định về đồ họa để có thể tự thiết kế những hình ảnh riêng cho giáo án của mình vừa sinh động vừa mang tính mĩ thuật và sư phạm của cá nhân Cụ thể là, để thiết lập được các mô hình trong Điện học cũng như tất cả các mô hình động của các đối tượng khác cần thực hiện như sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu thiết kế

Bước 2: Phân tích nội dung thiết kế

Bước 3: Sưu tầm tài liệu

Bước 4: Thiết kế

Với cách làm này ta có thể thiết lập không chỉ cho các mô hình trong Điện học, mà còn thực hiện được các thí nghiệm “ảo” trong Vật Lý, các mô hình phân tử trong Hóa Học, Sinh Học,…trong điều kiện dụng cụ thí nghiệm không mua sắm được

Từ những ý tưởng như vậy, em đã thiết lập được các mô hình chuyển động thực thi như các đoạn phim, thể hiện được nhiều ưu điểm nổi bật, mang lại tính trực quan cho người học, góp phần kích thích hứng thú học tập không những ở môn Điện học mà còn kích thích em học lập trình vi tính

* Nguyên tắc thiết kế mô hình động:

2.2.3.1 Nguyên tắc quán triệt mục tiêu dạy học

Thực chất của việc xác định mục tiêu bài học là xác định yêu cầu cần đạt được của người học sau khi học xong bài học đó chứ không phải là việc mô tả những yêu cầu của nội dung chương trình qui định; nó không phải là chủ đề của bài học mà là cái đích HS phải đạt tới là nhiệm vụ học tập mà HS phải hoàn thành

Mục tiêu dạy - học đặt ra cho HS thực hiện, nó được diễn đạt ngắn gọn, cụ thể bằng những cụm từ hành động cho phép ta dễ dàng đo được kết quả của các hành động học tập của HS Căn cứ vào mục tiêu đó, khi thiết kế bài giảng mỗi mục tiêu phải được cụ thể hóa bằng các câu hỏi, các phiếu học tập cùng với việc quan sát các hình ảnh… để định hướng các hoạt động học và tự học của HS Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết được các câu hỏi, phiếu học tập đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy - học

đã đề ra

GV lưu ý khi thiết kế câu hỏi, phiếu học tập theo từng nội dung dạy- học, phải gắn liền với việc thiết kế, sưu tầm và sử dụng các hình ảnh, phim video… tương ứng phù hợp với nội dung và ý đồ về PPDH Một kịch bản tốt là phải bám sát vào mục tiêu dạy - học,

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w