1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý tổ CHỨC CHO học SINH tự lực THAM GIA vào GIẢI QUYẾT các vấn đề học tập KHI GIẢNG dạy “CHƯƠNG IV các ĐỊNH LUẬT bảo TOÀN” vật lí 10 NÂNG CAO

72 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 687,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Giáo Dục điều 28 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học....” Hiện nay, để tạo

Trang 1

Giáo Viên Hướng Dẫn: Sinh Viên Thực Hiện:

ThS-GVC: Trần Quốc Tuấn Lê Thị Kim Thoa

MSSV: 1060170

Cần thơ 05/2010

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn:

Cha mẹ và người thân đã luôn bên cạnh cổ vũ, tiếp thêm sức

mạnh tinh thần lớn lao cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Quý thầy, cô trong bộ môn Vật Lí trường Đại Học Cần Thơ đã

tận tình giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức, kĩ năng và

phương pháp sư phạm trong suốt bốn năm học đại học, giúp em có

nền tảng vững chắc để hoàn thành luận văn này

Đặc biệt là ThS-GVC Trần Quốc Tuấn, người thầy đã định

hướng, tận tình chỉ bảo và đào tạo cho em lòng tin trong thời gian

thực hiện đề tài Người thầy đã truyền cho em niềm say mê trong

nghiên cứu khoa học, trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt em thực hiện

những bước đi đúng đắn trong tiến trình thực hiện đề tài

Trân trọng!

SV: Lê Thị Kim Thoa

Trang 3

trong học tập nhằm đem lại kết quả học tập tốt nhất

Luật Giáo Dục điều 28 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học ”

Hiện nay, để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH, nâng cao chất lượng giáo dục tạo ra nguồn nhân lực có trình độ nước ta đã và đang tiến hành một cuộc cách mạng về đổi mới giáo dục phổ thông, việc cần làm của mỗi

GV phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, lấy “học” là trung tâm thay vì lấy “dạy” là trung tâm, người học phải tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Người GV không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn HS hành động Thực tế vật lí là môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc lựa chọn phương pháp dạy học và cách thức tổ chức các hoạt động dạy học giúp HS phát huy tính

tự lực trong học tập, tăng thêm hứng thú và niềm vui khi học vật lí là rất quan trọng và cần thiết

Là người GV trẻ tương lai để có thể dạy tốt chúng em phải biết vận dụng những kiến thức về phương pháp mà thầy cô đã truyền đạt, áp dụng những phương pháp dạy học tích cực để có hiệu quả dạy học cao nhất, phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta

Từ những yêu cầu trên em chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức cho HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập khi giảng dạy “Chương IV Các định luật bảo toàn” - Vật lý 10 NC”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là xây dựng tiến trình hoạt động dạy các kiến thức thuộc

“Chương IV Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 NC theo hướng rèn luyện cho HS tính tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập Áp dụng PPGQVĐ kết hợp với các phương pháp khác để nâng cao chất lượng giảng dạy

3.Giả thuyết khoa học

* Có thể nghiên cứu lí luận về vấn đề tổ chức và xây dựng tiến trình tổ chức cho HS tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề trong học tập

* Có thể vận dụng cơ sở lí luận đã nghiên cứu để giảng dạy 1 số bài SGK

“Chương IV Các định luật bảo toàn” - Vật lý 10 NC theo hướng tổ chức cho HS tính tự lực nhằm nâng cao hiệu quả dạy học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

1/ Nghiên cứu lí luận về vấn đề tổ chức và xây dựng tiến trình tổ chức cho HS

tự lực tham gia giải quyết các vấn đề trong học tập

2/ Nghiên cứu nội dung và phương pháp xây dựng “Chương IV Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 NC

3/ Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học 1 số bài trong “Chương IV Các định luật bảo toàn” - Vật lý 10 NC theo hướng rèn luyện cho HS tính tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập

4/ Vận dụng soạn giáo án một số bài trong “Chương IV Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 NC:

Bài 1: Định luật bảo toàn động lượng

Bài 2: Động năng Định lí động năng

Bài 3: Thế năng Thế năng trọng trường

Bài 4: Định luật bảo toàn cơ năng

Bài 5: Bài tập về các định luật bảo toàn

5/ Tiến hành thực nghiệm sư phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

* Nghiên cứu tài liệu:

- SGK lớp 10 NC

- Sách giáo viên 10 NC

- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên lớp 10 CB, NC; 11; 12; …

* Nghiên cứu kinh nghiệm: tham khảo, trao đổi, học tập kinh nghiệm các anh chị đã nghiên cứu đề tài này

* Quan sát sư phạm

* Thực nghiêm sư phạm

6 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS về vấn đề tự lực trong học tập vật lí thông qua 1 số bài nêu trên

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài

- Giai đoạn 1: Trao đổi với thầy hướng dẫn về đề tài nghiên cứu, nhận đề tài, viết

đề cương, lập kế hoạch thực hiện đề tài

- Giai đoạn 2: Nghiên cứu cơ sở lí thuyết, thu thập tài liệu tham khảo

- Giai đoạn 3: Soạn giáo án 5 bài SGK Vật lí 10 NC theo hướng phát huy tính tự lực tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập

- Giai đoạn 4: Chỉnh sửa, hoàn chỉnh đề tài, báo cáo thử

- Giai đoạn 5: Báo cáo luận văn

8 Những chữ viết tắt trong luận văn

Trang 5

5

ĐLBT: định luật bảo toàn

TNKT: thí nghiệm kiểm tra

TNKQ: trắc nghiệm khách quan

HQ: hệ quả

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày ….tháng … năm 2010 Giáo viên hướng dẫn

Trần Quốc Tuấn

Trang 7

7

CHƯƠNG I: ĐỔI MỚI PPDH 1.1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH

1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học

a/ Mục tiêu mới của giáo dục nước ta

Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức mà công nghệ nhân loại đã tích lũy mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Nghị quyết hội nghị BCH

TW Đảng cộng sản Việt Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thể chế thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ….” [tr 49 _ 15]

Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng nề về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải minh họa học trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo ra con người có tính tích cực cá nhân, tư duy sáng tạo khả năng thực hành giỏi Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới nền giáo dục nước ta chuyển từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một phương pháp dạy học mới có khả năng thực hiện mục tiêu nói trên Nghị quyết TW2, khóa III của

Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và

đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện tư duy sáng tạo của người học…” [tr 50 _ 15]

1.1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH vật lí THPT

a/ Khắc phục cách dạy học truyền thống

Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục nước ta Nét đặc trưng của nó là: “GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi im, cố mà ghi nhớ và nhắc lại”

Cách dạy này rõ ràng là dồn HS vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội

để suy nghĩ, phát triển ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẽ của mình, còn

GV thì trở thành nhân vật đầy quyền uy khiến HS phải sợ hãi và cha mẹ HS phải kính nể Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Đối với chúng ta cũng cần đổi mới PPDH Tư tưởng chủ đạo bao trùm nhất là

tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Ở THPT cần phải tiếp tục phát triển tư duy đó để hình thành cho HS những kĩ năng hoạt động học tập vững chắc, tạo một sự chuyển biến về chất trong phương pháp học tập của HS Bất kì ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập

là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS

Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV,

Trang 8

cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với vật lí học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm, SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học

b/ Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS

Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, rèn luyện khả năng tự học hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua

tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Vì vậy, ngay trên ghế nhà trường HS phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức Vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mĩ, kĩ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kĩ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không phải chỉ áp dụng cho những HS ở các lớp trên

c/ Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học

Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS bằng cách làm,

tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động

Phương pháp dạy học tích cực này còn mới mẽ, có rất nhiều điều còn phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm trong thực tế Nhưng cách học này đem lại cho

HS niềm vui sướng, hào hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của đa số trẻ

em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các em khẳng định được mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Bởi thế việc dạy học tích cực này được đa số HS hưởng ứng nhiệt liệt

d/ Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học

Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.Piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan

Trang 9

Tuy nhiên tự lực không có nghĩa là không cần sự trợ giúp của GV khi HS gặp khó khăn, không có sự trao đổi tranh luận của HS với nhau GV có thể chia nhiệm

vụ bộ phận vừa sức cho HS, nêu những câu hỏi định hướng quá trình làm việc của

HS hoặc hướng dẫn HS xây dựng cơ sở định hướng khái quát các hoạt động khi làm việc với nguồn thông tin cụ thể, tổ chức cho HS tự lực làm việc với các thí nghiệm vật lí, cho HS nghiên cứu nhiều nội dung kiến thức ngay trên lớp, áp dụng rộng rãi kiểu dạy học phát hiện giải quyết vấn đề

1.3 ĐỔI MỚI VIỆC SOẠN GIÁO ÁN

1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án

Yêu cầu nổi bật của việc soạn giáo án là việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS

Khi soạn giáo án GV phải suy nghĩ trả lời những câu hỏi sau:

- Trong bài học, HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức độ đến

đâu?

- Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào?

- Những hoạt động chủ yếu nào của HS trên con đường dẫn tới chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng đó? Những hoạt động đó của HS diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc nhóm?

1.3.2 Những nội dung của việc soạn giáo án

* Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học

- Mục tiêu bài học phải chỉ rõ mức độ HS đạt được sau bài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ đủ để làm cơ sở đánh giá chất lượng và hiệu quả của bài học, phải chú ý tới nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức, phù hợp với nội dung bài học

- Mục tiêu bài học phải chỉ ra những hành vi mà HS phải thể hiện ra khi học một kiến thức cụ thể

* Xác định những nội dung kiến thức của bài học: Nó thuộc loại kiến thức nào (khái niệm, định luật, qui tắc…), bao gồm những kết luận nào?

* Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các phương tiện dạy học cần sử dụng

Trang 10

* Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học Để làm tốt việc này GV cần xác định kiến thức cần xây dựng được diễn đạt như thế nào? Giải pháp nào giúp trả lời được câu hỏi này?

* Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể:

- Phải thể hiện rõ hoạt động dạy là hoạt động nào, trình tự diễn ra như thế nào

- Mỗi hoạt động của HS, cần viết hoạt động tương ứng của GV, lệnh hoạt động, câu hỏi, gợi ý để hướng dẫn hoạt động của HS, thông báo bổ sung của GV Cần coi trong việc chuẩn bị các câu hỏi, nhất là câu hỏi then chốt Trên cơ sở đó, khi lên lớp, GV sẽ phát triển thêm tùy diễn biến của giờ học

* Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

* Soạn nội dung bài tập về nhà

1.3.3 Một số kế hoạch bài dạy

a/ Tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng

Hoạt động học của HS rất đa dạng, ta có thể chia thành 3 nhóm:

- Nhóm hoạt động thu thập thông tin

+ Quan sát các hiện tượng thiên nhiên, các tranh ảnh, mô hình, thí nghiệm … + Thực hành, bản thân HS làm thí nghiệm …

+ Đọc SGK và các tài liệu khác, tra cứu bảng biểu…

+ Nghe thông báo của GV, báo cáo của bạn bè, các phương tiện truyền thông…

- Nhóm các hoạt động xử lí thông tin

+ Suy luận logic (phân tích, tổng hợp, so sánh,…) để rút ra một kết luận

+ Lập biểu bảng, vẽ đồ thị… rút ra quy luật của hiện tượng

+ Đề ra một dự án và thiết kế một phương án thí nghiệm nhằm kiểm tra dự đoán

- Nhóm các hoạt động truyền đạt thông tin

+ Thông báo bằng lời những kết quả xử lí thông tin, những kết quả thí nghiệm… + Tham gia thảo luận, tranh luận về một nội dung học tập

+ Viết một báo cáo nhỏ

+ Trình bày một biểu đồ, một đồ thị, một tranh vẽ

Việc tổ chức các hoạt động học tập của HS phải được tiến hành một cách hết sức linh hoạt, đổi mới dần dần từng hoạt động trên lớp để GV quen dần với PPDH, HS chuyển dần từ thói quen học tập thụ động sang thói quen học tập tích cực, sáng tạo Khó khăn nhất đối với việc đổi mới PPDH theo hướng này là vấn đề khối lượng kiến thức và thời gian dạy học Vì vậy, đòi hỏi phải có sự cân nhắc kĩ lưỡng của GV giữa việc tổ chức cho HS hoạt động học tập trên lớp, việc thuyết giảng của GV và việc tổ chức cho HS tự học ở nhà

b/ Một số hình thức trình bày khoa học bài học

* Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới

* Viết 2 cột: Hoạt động của GV và hoạt động học của HS

* Viết 3 cột: Hoạt động của GV; hoạt động học của HS; nội dung ghi bảng; hoặc tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện

* Viết 4 cột: Hoạt động của GV; hoạt động học của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện

c/ Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học

Sau đây là hình thức trình bày bài học theo mẫu 2:

- Hoạt động: Kiểm tra kiến thức cũ

Trang 11

11

- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của

GV

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

- Gợi ý trả lời, nhận xét đánh giá

- Hoạt động: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Tạo tình huống học tập

- Trao nhiệm vụ học tập

- Hoạt động: Thu thập thông tin

- Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu

- Yêu cầu HS hoạt động

- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu

- Giảng sơ lược nếu cần thiết

- Làm thí nghiệm biểu diễn

- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu

- Chủ động về thời gian

- Hoạt động: Xử lí thông tin

- Thảo luận theo nhóm hay làm việc cá

nhân

- Tìm hiểu các thông tin liên quan

- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về tính qui

luật của hiện tượng

- Trả lời các câu hỏi của GV

- Tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc

trong lớp…

- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những

thông tin thu được

- Đánh giá nhận xét, kết luận của

- Hoạt động: Truyền đạt thông tin

- Trả lời câu hỏi

- Giải thích các vấn đề

- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận

- Báo cáo kết quả

- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề

- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ

- Hướng dẫn mẫu báo cáo

- Hoạt động: Củng cố bài học

- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

- Vận dụng vào thực tiễn

- Ghi chép những kết luận cơ bản

- Giải bài tập

- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc

cá nhân hoặc theo nhóm

Trang 12

- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà

- Ghi những chuẩn bị cho bài sau

- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà

- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau

d/ Cấu trúc của GA soạn theo các hoạt động học tập

Tên bài: ………

Tiết: ………theo phân phối chương trình

A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)

Hoạt động 1 (… phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)

Hoạt động 2 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1

Hoạt động 3 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2

Hoạt động i (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng i

Hoạt động n-1 (… phút): Vận dụng, củng cố

Hoạt động n (… phút): Hướng dẫn về nhà

D Rút kinh nghiệm

Ghi những nhận xét của GV sau khi dạy xong

1.4 ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

1.4.1 Nguyên tắc cơ bản của việc thi, kiểm tra

Việc thi và kiểm tra phải theo các nguyên tắc cơ bản sau:

- Nội dung phải bám sát mục tiêu dạy học Không nên dựa vào trình độ HS để qui định nội dung thi, kiểm tra

- Phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học, đảm bảo ba yêu cầu “Hiểu - Nhớ - Vận dụng” về ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và thái độ

- Hình thức thi, kiểm tra phải phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc điểm môn học

- Nội dung và hình thức thi, kiểm tra phải đảm bảo việc phân loại trình độ HS

- Việc tổ chức phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện cần thiết cho kì thi được tiến hành nghiêm túc và thuận lợi

- Việc đánh giá phải thông qua đáp án, thang điểm chi tiết, rõ ràng, phải được tiến hành đảm bảo tính khách quan, nghiêm túc, khẩn trương …

Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom

1 Nhận biết Nhắc lại sự kiện Nhắc lại định luật, công thức… 2.Thông hiểu Trình bày hoặc hiểu được ý

nghĩa của các sự kiện

Tìm được một trong các đại lượng liên quan trong một công thức

3 Vận dụng Vận dụng các nguyên lí và

các trường hợp riêng biệt

Thiết kế được phương án khi có

Trang 13

13

trình bày một giải pháp mới

6 Đánh giá Vận dụng các nguyên lí vào

các trường hợp để đưa ra các giải pháp mới và so sánh nó với các giải pháp đã biết khác

Thiết kế được phương án mới

1.4.2 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả học tập của HS

Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình học tập gồm:

- Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của HS ngay trên lớp, dạng vấn đáp

- Kiểm tra thí nghiệm thực hành: kiểm tra kĩ năng thực hành của HS trong quá trình làm các bài thực hành thí nghiệm, dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả

- Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS, dạng kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra học kì Đây là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả học tập của HS

- Kiểm tra đề tài: dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc nhóm HS phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các HS giỏi

1.4.3 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận

Một câu hỏi TNKQ bao gồm ba yếu tố hình thành là: nội dung câu hỏi; các phương án hoặc giải pháp cho trước và các qui tắc đưa ra Các dạng câu hỏi gồm: trắc nghiệm đúng/sai; ghép đôi; điền khuyết; nhiều lựa chọn

Một câu hỏi TNKQ hoàn hảo cần được xây dựng trên lỗi HS hay mắc phải Có như vậy, các yếu tố gây sự sao nhãng mới có tác dụng trắc nghiệm khả năng tiếp thu của HS

Qui trình soạn một đề kiểm tra viết môn vật lí:

Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra

Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)

- Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng

- Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)

Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra

Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận

Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm

Trang 14

CHƯƠNG II TỔ CHỨC CHO HS TỰ LỰC THAM GIA GIẢI QUYẾT

CÁC VẤN ĐỀ HỌC TẬP 2.1 PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC

2.1.1 Phương pháp tự học trong quá trình dạy học Vật lí

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức Tự học không có nghĩa là không cần đến sự trợ giúp của GV khi HS gặp khó khăn, không có sự tranh luận của HS với nhau

Sự giúp đỡ của GV có thể chia nhiệm vụ nhận thức thành những nhiệm vụ bộ phận vừa sức với HS, đưa ra những nhận xét theo kiểu phản biện, nêu những câu hỏi định hướng trong quá trình làm việc của HS hoặc hướng dẫn HS xây dựng cơ

sở định hướng khái quát các hoạt động khi làm việc với nguồn thông tin cụ thể (làm việc với bản đồ, đồ thị, thí nghiệm vật lí) cơ sở định hướng khái quát của quá trình xây dựng các loại kiến thức vật lí khác nhau (khái niệm về các sự vật khác nhau, hiện tượng vật lí, khái niệm về đại lượng vật lí, định luật, qui tắc và nguyên

lý cơ bản, thuyết, ứng dụng vật lí) cơ sở định hướng của việc giải bài tập sau đó

b/ Phương pháp tích cực tự lực là gì?

Tính tự lực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người phải luôn chủ động tích cực và tự lực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy hình thành và phát triển tính tự lực là một những nhiệm vụ trọng yếu của giáo dục

Tính tự lực trong học tập về thực chất là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tự lực trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú nghiên cứu tìm tòi Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố hình thành tính tự lực của HS Tính tự lực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sự sáng tạo Tính tự lực thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:

- Làm theo mẫu hoạt động của thầy, của bạn…

- Tìm tòi độc lập giải quyết vấn đề đưa ra, tìm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề

- Sáng tạo tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

c/ Vai trò của việc đẩy mạnh phương pháp tự học ở HS

Lâu nay người ta thường quan niệm tự học là khi học ở nhà Nhưng sự thực việc tự học có phương pháp phải bắt đầu từ trên lớp học Không thể tách rời việc học ở lớp với việc học ở nhà Trên lớp học, HS phải biết chú ý lắng nghe lời thầy giảng, tập trung tư tưởng theo dõi một cách không thụ động, biết đề xuất những thắc mắc, những chỗ chưa hiểu được rõ để thầy giải đáp, cùng với người thầy xây dựng bài giảng Thầy chú ý phát huy năng lực trí tuệ của trò, trò biết tự phát huy để hưởng ứng Trò là chủ thể không phải nhân vật thụ động, tiếp thu máy móc Nếu nói bí quyết để học giỏi cũng bắt đầu từ đây Đã từ lâu, các thầy giáo giảng dạy có kinh nghiệm cũng đã đề ra phương pháp dạy và học đạt yêu cầu này

Trang 15

15

Thời gian tự học ở nhà cũng rất quan trọng, đây là lúc HS có nhiều thời giờ suy ngẫm, đào sâu vấn đề, tiếp tục đề xuất những thắc mắc để thầy giải đáp, suy nghĩ liên hệ hoặc vận dụng vào thực tế Việc học ở nhà còn phải làm tốt việc chuẩn bị trước theo yêu cầu của từng bài giảng Những HS xuất sắc thường phải học theo hướng này

Thay đổi phương pháp học của HS đòi hỏi sự nỗ lực, tâm huyết của GV và nhà trường và phải xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho các em, thì học mới say

mê, thay đổi phương pháp dạy và kiểm tra của GV nhất là đổi mới vấn đề thi cử,

ra đề của các cấp có thẩm quyền vì người ta thưòng nói: dạy học, thi cử như thế nào thì HS học như thế Vì vậy những vấn đề trên phải làm đồng thời nhưng không thể chờ đợi, trông chờ làm xong vấn đề này, mới làm vấn đề kia

(Giáo dục & Thời đại)

Mục tiêu dạy học không chỉ ở những kết quả học tập cụ thể, ở những kiến thức kỹ năng cần hình thành, mà điều quan trong hơn cả là ở bản thân việc học, ở khả năng tự tổ chức và thực hiện quá trình học tập có hiệu quả của HS Mục tiêu dạy HS phương pháp tự học chỉ đạt hiệu quả khi bản thân HS chủ động, tích cực, tự lực hoạt động và chỉ đạt được sau 1 quá trình rèn luyện của HS

Cạnh đó, HS cần vận dụng một cách sáng tạo các phương pháp học tập tích cực với nhau như: học nhóm, làm việc tập thể, thảo luận, làm thí nghiệm, nghiên cứu phát hiện vấn đề…

Như vậy, để hoạt động học tập của HS đạt chất lượng và hiệu quả, HS phải có tri thức và kỹ năng tự học Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để

HS biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho HS tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của HS

b/ Vận dụng hệ các phương pháp tự học vào chu trình tự học của HS

Đó là một chu trình ba giai đoạn:

Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải

thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học)

Trang 16

Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng

lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy

Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự

hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra,

tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh

Chu trình tự nghiên cứu ® tự thể hiện® tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực

chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học

c/ Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của HS

Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân HS để hoàn thành nhiệm vụ học

tập đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học - đào tạo trong nhà trường

Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của

HS Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của GV

Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, HS cần tự rèn luyện

phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập Phương pháp tự học sẽ trở thành

cốt lõi của phương pháp học tập

2.1.3 Vai trò của GV trong việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học

Trong quá trình học tập, có rất nhiều việc phải làm: phát hiện vấn đề, thực hiện giải pháp đã đề xuất, xử lí kết quả thực hiện giải pháp, khái quát hóa rút ra kết luận mới và vận dụng kiến thức Trong một loạt công việc đó GV cần tính toán xem với thời gian cho phép lên lớp, trình độ HS trong lớp thì việc được giao cho

HS tự làm (tự làm ngay trên lớp hay ở nhà), việc gì cần sự trợ giúp của GV, còn việc gì GV phải cung cấp thêm thông tin để HS có thể hoàn thành Trong mọi bài học, GV có thể tìm ra một vài công việc để HS tự làm

Trong dạy học vật lý 10, ngoài việc tổ chức cho HS tự lực làm việc với các thí nghiệm, GV có thể cho HS tự nghiên cứu nhiều nội dung kiến thức ngay trên lớp như thiết lập phương trình biểu diễn sự biến đổi vận tốc trước và sau va chạm, thiết lập phương trình trạng thái khí lí tưởng… GV cần lựa chọn một số nội dung kiến thức mới trong các bài học để HS tự học ở nhà

Với mỗi chủ đề học tập, GV có thể giao cho mỗi nhóm HS những đề tài nghiên cứu nhỏ, đòi hỏi HS phải sưu tầm thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (sách báo, phương tiện nghe nhìn, quan sát tự nhiên…) xử lí thông tin theo nhiều cách (lập bảng đo các giá trị, biểu đồ, so sánh phân tích các dữ liệu ) rút ra kết luận và truyền đạt thông tin qua thảo luận, báo cáo viết…

Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, kết hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác với các hình thức khác nhau (cặp, nhóm, lớp) các hình thức học tập này rèn luyên cho HS kỹ năng làm việc tập thể trong công việc được giao GV cần tiếp tục rèn luyện các kỹ năng làm việc tập thể mà HS có trong các giờ học trên lớp và cả trong tự học ở nhà

Trang 17

Theo quan niệm cũ về việc dạy học thì GV là người truyền thụ kiến thức, còn

HS là người tiếp thu kiến thức PPDH phổ biến hiện nay ở các trường THPT là phương pháp giảng giải - minh họa; trong nhiều trường hợp, do những khó khăn

về thiết bị thí nghiệm, khâu minh họa cụ thể đã bị bỏ qua

Theo quan niệm mới về việc dạy học vai trò chính yếu của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS (tìm tòi, khám phá, nghiền ngẫm, trao đổi và giao tiếp) sao cho HS có thể tự lực chiếm lĩnh được kiến thức Do đó, trong tiết học đổi mới, ta cần quan tâm HS hoạt động học như thế nào? Các em đã thu hoạch được những giá trị gì? Diễn viên chính của lớp học phải là HS GV đóng vai trò của người đạo diễn Trong giờ học, mọi HS đều làm việc hết sức tích cực,

GV trong có vẻ nhàn nhã nhưng kì thực họ cũng làm việc hết sức căng thẳng để thu thập thông tin phản hồi và điều khiển kịp thời hoạt động của HS

2.2.2 Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác

Theo tinh thần của các PPDH tích cực, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản Các hình thức học tập hợp tác không những góp phần làm cho việc học tập cá nhân có hiệu quả hơn mà còn có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau,

ý thức trách nhiệm trong công việc chung Theo lí thuyết về vùng phát triển gần của Vugotki, các tương tác thầy – trò và trò – trò trong lớp học có thể giúp HS vượt qua những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa Mặt khác, trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều

đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS

Cách phân chia các hình thức hoạt động thành hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác cũng chỉ có tính tương đối Các hình thức hoạt động này thường được tiến hành xen kẽ lẫn nhau

Nhìn chung, không nên tổ chức dạy học theo nhóm một cách tràn lan vì không

có điều kiện thời gian Trong mỗi tiết học chỉ nên tổ chức một lần cho HS hoạt động theo nhóm để tìm hiểu một nội dung phù hợp nhất Những nội dung phù hợp với việc tổ chức hoạt động theo nhóm có thể là: bài học nghiên cứu một vấn đề bằng thực nghiệm; bài học nghiên cứu một khái niệm mới, một định luật vật lí có những điểm cần tranh luận cho sáng tỏ, tránh sự hiểu lầm …

Hiện nay lại nảy sinh một xu thế ngược lại: đó là “Hội chứng hoạt động nhóm” Nhiều người quan niệm một cách sai lầm và cực đoan là: đổi mới PPDH thì phải tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, lấy đó làm tiêu chí của các PPDH tích cực Điều đó dẫn đến việc dạy học theo nhóm cách tràn lan, hình thức, lãng

Trang 18

phí thời gian và không có hiệu quả Cần chú ý rằng trong mọi PPDH, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếu giúp cho việc phát triển các năng lực của mỗi HS; các PPDH tích cực đều nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động nhận thức của mỗi cá thể

2.2.3 Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học

Một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kĩ thuật rất hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa Vì những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội hiện đại phải biết cách cập nhật thông tin Một không những cách khả dĩ là phải biết tự học

Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi HS phải thực sự động não

để tiếp thu những điều cần học Không ai có thể học thay ai được Vì vậy trong

những hoạt động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS

Việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng và một bên là sự hạn hẹp của thời gian dành cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm hiểu ở nhà Có lẽ không cần chuyển tải từ A tới Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu

ở nhà rồi sao đó sẽ kiểm tra kết quả sự tự học của các em Có như thế chúng ta mới có thời gian để thực hiện việc đổi mới PPDH

2.2.4 Coi trọng việc rèn luyện kĩ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức

Trong nhà trường, chúng ta chỉ dạy cho HS những nguyên tắc đại cương Khi vào đời, HS sẽ gặp phải những tình huống thực tế vô cùng phong phú, đa dạng Làm sao các em có thể giải quyết được những tình huống đó? Từ thực tế đó đã đặt cho chúng ta nhiệm vụ phải bồi dưỡng cho HS những kĩ năng rèn luyện cho HS, người ta đặt biệt chú ý tới các kĩ năng thực hiện các tiến trình khoa học Đó là các

kĩ năng thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt thông tin

Các kĩ năng thu thập thông tin trong học tập gồm: kĩ năng đọc sách, kĩ năng đọc bảng biểu …, tóm tắt đề bài, sử dụng thư viện…, kĩ năng quan sát, lấy số liệu thực nghiệm từ thí nghiệm…

Các kĩ năng xử lí thông tin trong học tập bao gồm: kĩ năng xây dựng bảng, biểu đồ, vẽ đồ thị, rút ra kết luận bằng suy luận qui nạp…

Các kĩ năng truyền đạt thông tin trong học tập bao gồm: trình bày báo cáo, thảo luận, viết báo cáo, trình bày bảng …

Các kĩ năng này được đưa vào các hoạt động học tập thích hợp theo một chiến lược đã được hoạch định trước

2.3 HƯỚNG DẪN HS GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Hoạt động nhận thức của con người chỉ thực sự bắt đầu khi gặp mâu thuẫn: Một bên là trình độ hiểu biết đang có, bên kia là nhiệm vụ mới phải giải quyết một vấn đề mà những kiến thức, kĩ năng đã có không đủ Để giải quyết được nhiệm vụ nhận thức mới, khắc phục được mâu thuẫn trên thì phải xây dựng kiến thức mới, phương pháp mới, kĩ năng mới Như vậy, hoạt động nhận thức của HS trong học tập thực chất là hoạt động giải quyết vấn đề nhận thức

Trang 19

19

HS không thể tự hoàn toàn tự lực xây dựng kiến thức khoa học được mà cần có

sự giúp đỡ của GV (tạo điều kiện để họ có thể trải qua các giai đoạn chính của quá trình giải quyết vấn đề và tự lực thực hiện một số khâu trong tiến trình đó, động viên khuyến khích HS kịp thời)

2.3.1 Tổ chức tình huống học tập

* Tình huống học tập là hoàn cảnh trong đó xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mà

HS chấp nhận việc giải quyết mâu thuẫn đó như một nhiêm vụ học tập và sẵn sàng đem sức lực, trí tuệ để giải quyết

* Những đặc điểm tình huống học tập

- Chứa đựng vấn đề (mâu thuẫn nhận thức) mà việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kĩ năng, phương pháp mới

- Gây sự chú ý ban đầu, kích thích hứng thú, khởi động tiến trình nhận thức của

HS HS chấp nhận mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan

- Vấn đề cần giải quyết được phát biểu rõ ràng, gồm cả những điều kiện đã cho và mục đích cần đạt được HS cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn đề

a/ Các kiểu tình huống học tập

* Tình huống phát triển, hoàn chỉnh

- HS đứng trước một vấn đề chỉ mới được giải quyết một phần, một bộ phận, trong một phạm vi hẹp, cần phải tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng thêm sang những phạm vi mới, lĩnh vực mới

- Phát triển, hoàn chỉnh vốn kiến thức của mình luôn luôn là niềm khao khát của tuổi trẻ, đồng thời, “đó cũng là con đường phát triển khoa học” (Feynman) Quá trình phát triển, hoàn thiện kiến thức sẽ đem lại những kết quả mới (kiến thức mới,

kĩ năng mới, phương pháp mới) nhưng trong quá trình đó, vẫn có thể sử dụng kiến thức, kĩ năng, phương pháp đã biết

* Tình huống lựa chọn

HS đứng trước một vấn đề có mang một số dấu hiệu quen thuộc, có liên quan đến một số kiến thức hay một số phương pháp giải quyết đã biết, nhưng chưa chắc chắn là có thể dùng kiến thức nào, phương pháp nào để giải quyết vấn đề thì sẽ có hiệu quả HS cần phải lựa chọn, thậm chí thử làm xem kiến thức nào, phương pháp nào có hiệu quả giải quyết được vấn đề đặt ra

* Tình huống bế tắc

HS đứng trước một vấn đề mà trước đây chưa gặp một vấn đề tương tự Vấn đề cần giải quyết không có một dấu hiệu nào liên quan đến một kiến thức hoặc một phương pháp đã biết HS bắt buộc phải xây dựng kiến thức mới hay phương pháp mới để giải quyết vấn đề Tình huống này thường gặp khi bắt đầu nghiên cứu một lĩnh vực kiến thức mới

* Tình huống “tại sao?”

Trong nhiều trường hợp, HS quan sát thấy một hiện tượng vật lí nào đó xảy ra trái với những suy nghĩ thông thường, “trái” với những kiến thức mà HS đã biết hoặc chưa bao giờ gặp nên không biết dựa vào đâu mà lí giải HS cần phải tìm xem nguyên nhân vì đâu lại có sự trái ngược đó, sự lạ lùng đó Để trả lời câu hỏi này, cần phải xây dựng kiến thức

b/ Tổ chức tình huống học tập

Trang 20

* Tổ chức tình huống học tập thực chất là tạo ra hoàn cảnh để HS tự ý thức được vấn đề cần giải quyết, có nhu cầu, hứng thú giải quyết vấn đề, biết được mình cần phải làm gì và sơ bộ xác định được làm như thế nào

* Cần thiết kế mỗi bài học thành một chuỗi tình huống học tập liên tiếp, được sắp đạt theo một trình tự hợp lí của sự phát triển vấn đề nghiên cứu nhằm đưa HS tiến dần từ chỗ chưa biết đến biết, từ biết không đầy đủ đến biết đầy đủ và nâng cao dần năng lực giải quyết vấn đề của HS

* Qui trình tổ chức tình huống học tập trong lớp có thể gồm các giai đoạn chính sau:

- GV mô tả một hoàn cảnh cụ thể mà HS có thể cảm nhận được bằng kinh nghiệm thực tế, biểu diễn một thí nghiệm hoặc yêu cầu HS làm một thí nghiệm đơn giản

để làm xuất hiện hiện tượng cần nghiên cứu

- GV yêu cầu HS mô tả lại hoàn cảnh hoặc hiện tượng bằng chính lời lẽ của mình theo ngôn ngữ vật lí

- GV yêu cầu HS dự đoán sơ bộ hiện tượng xảy ra trong hoàn cảnh đã mô tả hoặc giải thích hiện tượng quan sát được trên những kiến thức và phương pháp đã có từ trước (giải quyết sơ bộ vấn đề)

- GV giúp HS phát hiện ra chỗ không đầy đủ của họ trong kiến thức, trong cách giải quyết vấn đề và đề xuất nhiệm vụ mới cần giải quyết (dưới dạng câu hỏi, nêu

rõ những điều kiện đã cho và yêu cầu cần đạt được)

Như vậy, tình huống học tập xuất hiện khi HS ý thức được rõ ràng nội dung, yêu cầu của vấn đề cần giải quyết và sơ bộ nhận thấy mình có khả năng giải quyết được vấn đề, nếu cố gắng suy nghĩ và tích cực hoạt động

2.3.2 Các kiểu hướng dẫn HS giải quyết vấn đề

a/ Hướng dẫn tìm tòi quy về kiến thức, phương pháp đã biết

* Các định luật vật lí đơn giản, nhưng biểu hiện của chúng trong thực tế lại rất phức tạp Các định luật vật lí thường phát biểu lên các mối quan hệ trong điều kiện lí tưởng, hiện tượng chỉ bị chi phối bởi một nguyên nhân, nhưng hiện tượng thực tế thường lại bị chi phối bởi nhiều nguyên tắc tác động đồng thời hoặc diễn biến nhanh theo nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có một nguyên nhân nhưng ta chỉ quan sát thấy giai đoạn cuối cùng

* Hướng dẫn tìm tòi qui về kiến thức – phương pháp đã biết có nghĩa là: Thoạt mới tiếp xúc với vấn đề cần giải quyết, không thấy ngay mối quan hệ của

nó với những cái đã biết, không thể áp dụng ngay một qui tắc, một định luật hay cách làm đã biết mà cần phải tìm tòi bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để tìm ra những dấu hiệu tương tự với cái đã biết Kiểu hướng dẫn này thường gặp khi HS vận dụng kiến thức đã biết nhưng chưa có phương pháp, qui trình hữu hiệu

* Có ba trường hợp phổ biến sau đây:

- Hướng dẫn HS diễn đạt vấn đề cần giải quyết bằng ngôn ngữ vật lí

Nhiều khi ngôn ngữ sử dụng trong đời sống hàng ngày không giống như ngôn ngữ dùng trong các định luật, qui tắc vật lí Nếu không chuyển được sang ngôn ngữ vật lí thì không thể áp dụng được những định luật, qui tắc đã biết

- Hướng dẫn HS phân tích một HTVL phức tạp bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân thành những hiện tượng đơn giản, chỉ bị chi phối bởi một nguyên nhân, một định luật đã biết

Trang 21

21

- Hướng dẫn HS phân chia quá trình diễn biến của hiện tượng thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đó tuân theo một qui luật xác định đã biết

b/ Hướng dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần

Kiểu hướng dẫn này thường được sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới,

HS được giao nhiệm vụ phát hiện những tính chất mới, những mối liên hệ có tính qui luật mà trước đây HS chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ

Ở đây, không thể hoàn toàn chỉ sử dụng những kiến thức đã biết, không có con đường suy luận logic để suy từ cái đã biết sang cái chưa biết mà đòi hỏi sự sáng tạo thực sự, một bước nhảy vọt trong nhận thức GV có thể tạo điều kiện thuận lợi cho HS tập dượt những bước nhảy đó, bằng cách phân chia một bước nhảy vọt lớn trong khoa học thành những bước nhỏ nằm trong vùng phát triển gần của HS Sau khi được rèn luyện nhiều lần, HS sẽ tích lũy được kinh nghiệm, có sự nhạy cảm phát hiện, đề xuất được giải pháp mới để vượt qua khó khăn

c/ Hướng dẫn tìm tòi sáng tạo khái quát

Ở kiểu hướng dẫn này, GV chỉ hướng dẫn HS xây dựng phương hướng chung giải quyết vấn đề, còn việc vạch kế hoạch chi tiết và thực hiện kế hoạch đó

do HS tự làm Kiểu hướng dẫn này áp dụng cho đối tượng HS khá và giỏi

Trong điều kiện không tách những HS khá giỏi ra thành một lớp riêng, GV vẫn

có thể sử dụng kiểu hướng dẫn này kết hợp với kiểu hướng dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần, HS khá giỏi thì có thể tích cực tham gia thảo luận ngay từ khi xác định phương hướng chung và lập kế hoạch tổng thể, còn HS yếu hơn thì tham gia vào giải quyết từng phần cụ thể của kế hoạch đó

2.3.3 Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề, xây dựng một kiến

thức vật lí mới

Có thể mô tả khái quát bằng sơ đồ sau:

Pha thứ 1: Đề xuất vấn đề - bài toán

* Từ nhiệm vụ, nảy sinh nhu cầu về 1 cái chưa biết, chưa có cách

giải quyết, hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng được

* Diễn đạt nhu cầu thành vấn đề - bài toán

Pha thứ 2: Suy đoán giải pháp, thực hiện giải pháp

* Suy đoán giải pháp:

+ Suy đoán điểm xuất phát cho phép đi tìm lời giải

+ Chọn mô hình có thể vận hành được để đi tới cái cần tìm

+ Phỏng đoán các biến cố TN có thể xảy ra, nhờ đó có thể khảo

sát TN để xây dựng cái cần tìm

* Thực hiện giải pháp

+ Vận hành mô hình rút ra kết luận logic về cái cần tìm

+ Thiết kế PATN, THTN, thu thập thông tin, xử lí thông tin,

rút ra kết luận

Pha thứ 3: Kiểm tra, vận dụng kết quả

* Xem xét khả năng chấp nhận được của các kết quả tìm được, sự

phù hợp của lí thuyết và thực nghiệm

* Xem xét sự cách biệt giữa kết kuận lí thuyết với kết luận thực

nghiệm để kết luận hoặc tiếp tục tìm tòi xây dựng cái cần tìm

Trang 22

2.4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC ( DẠY HỌC THEO NHÓM) 2.4.1 Khái niệm

- Nhóm dài hạn: Nhóm này được thành lập cho mục đích nào đó, không phải trong lớp học, kéo dài thời gian trong ngày hoặc rải ra trong tuần

- Nhóm đôi: Nhóm này thường có hai người, thường dùng trong học ngoại ngữ (trong lớp, ngoài lớp) để rèn luyện các kĩ năng nghe nói

- Nhóm thảo luận (hoặc nhóm tạm thời): Tổ chức ngay trong lớp học để thảo luận, khám phá theo yêu cầu của GV

2.4.2 Sự khác nhau giữa dạy học theo nhóm (hợp tác) và nhóm truyền thống

* Không phải cá nhân nào cũng chịu

trách nhiệm về kết quả chung của

nhóm

* Không dạy kĩ năng hợp tác

* Nhóm trưởng được thầy chỉ định

* Mỗi cá nhân có một nhiệm vụ

* Thầy tổ chức, quan sát, có đánh giá

2.4.3 Ưu việt của học theo nhóm hợp tác

* Làm việc hợp tác là phong cách làm việc của thời đại

* Nguyên tắc học bằng hành động

* Sự giúp đỡ lẫn nhau xen kẽ với sự bổ sung những “lỗ hổng” cho nhau

* Mọi HS đều làm việc thực sự và tích cực, đều có cơ hội làm việc như nhau

* Không khí học tập sinh động (thảo luận, thay đổi nhóm…)

* Các kiểu nhóm có tác dụng và ưu việt chung nhưng mỗi kiểu cũng có tác dụng riêng theo ý đồ của GV

* Giảm lượng nói của thầy

Cách chia nhóm: tự chọn, xếp theo vần chữ cái, theo số thứ tự, theo màu sắc phát cho HS ngẫu nhiên…

Trang 23

23

- Số thành viên trong nhóm bằng số vấn đề giải quyết cùng lúc

- Mỗi nhóm giải quyết một vấn đề không trùng nhau

- Sau khi giải quyết xong vấn đề, ghép nhóm lần thứ 2, mỗi HS là một “đại sứ” cho nhóm mới, truyền đạt lại những gì mà nhóm cũ đã giải quyết

Bài học sẽ được giải quyết trọn vẹn sau hai lần làm việc:

Tinh thần trách nhiệm (vai trò mỗi HS thật sự trong nhóm)

Rèn luyện lòng tự tin cho HS (khi làm việc ở nhóm sau)

- Có cơ hội hỏi nhiều người (mà không ngại ngùng)

Nội dung làm việc: Tự kiểm tra bảng trả lời câu hỏi (không làm được thì hỏi bạn) để kiểm tra, xác minh kết quả của mình

2.4.5 Một số kiểu nội dung bài học có thể tổ chức học hợp tác

Kiến thức qui trình thường được cấu trúc thành các bước hoặc các giai đoạn Để

HS theo dõi tốt và tự nhận thức qui trình, có thể ra nhiệm vụ cho các nhóm trao đổi Ví dụ, để biểu diễn một bài thí nghiệm GV sẽ tuần tự thực hiện 6 bước, GV chuẩn bị trước các bản photo để phát cho các nhóm trước khi làm thí nghiệm và dặn HS cách làm việc nhóm sau khi kết thúc thí nghiệm

Một cuộc trao đổi đầu giờ học sẽ tạo cho HS một bầu không khí tâm lí thuận lợi trong suốt giờ học Có nhiều cách mở đầu bài học để có bầu không khí như vậy, song cách này là 1 kiểu làm đặc biệt, với sự tham gia hào hứng của toàn thể HS

- Có thể HS trao đổi bằng sự tái hiện kiến thức cũ để làm cơ sở cho bài mới Cũng như vậy nhưng các nhóm HS đi tìm những ví dụ thực tế trong cuộc sống hằng ngày mà những ví dụ ấy sẽ là những ứng dụng cho bài học mới

Trang 24

- Có thể cho HS biết chủ đề bài học mới, các nhóm sẽ đón nhận nội dung cụ thể

sẽ học hôm nay, đề xuất những yêu cầu mà các em muốn biết có liên quan đến

đề tài bài học…

Về hình thức, các nhóm có thể liệt kê theo yêu cầu, vẽ sơ đồ suy nghĩ, vẽ hình

mà các em tưởng tượng Sau đó các ap-phic sẽ được treo lên tường, lưu lại suốt buổi học để thầy sử dụng hoặc các em sẽ trình bày vào 1 lúc nào đó

Trong cách làm này thì những HS yếu sẽ hăng hái tham gia bài học, đôi khi các em có những bổ sung cho những HS khá về kiến thức thực tế của mình, những suy nghĩ đặc biệt của mình

Với các nội dung này các nhóm sẽ trao đổi, so sánh các sự kiện, ngữ nghĩa để sắp xếp lại cho đúng logic hoặc nội dung môn học Kiểu làm này rất hợp với các bài học ứng dụng, mở đầu bài học mới hoặc bài ôn tập

Cũng làm như trên nhưng với nội dung phân loại

Việc làm này mang ý nghĩa tư duy cao hơn là tìm sự tương ứng bởi vì khi phân loại hoặc so sánh bao giờ cũng yêu cầu HS phân tích hoặc giải thích hoặc trình bày trước lớp với những lí lẽ của mình

Muốn HS làm điều này thì trước hết phải cho các em học và luyện tập biểu diễn một phần kiến thức bằng sơ đồ Các nội dung học cho cách thảo luận này là:

- Lập sơ đồ tóm tắt nội dung một chương, một phần hoặc một bài đã học

- Lập sơ đồ khái niệm

- Lập sơ đồ tư duy

- Cho sơ đồ cấu trúc một bài học với một số ô trống, HS đọc SGK rồi điền các nội dung vào các nội dung vào ô trống cho hợp lí

2.5 HƯỚNG DẪN HS GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ

2.5.1 Phương pháp giải bài tập vật lí

Việc rèn luyện cho HS biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết Nó không những giúp HS nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng suy luận logic, làm việc một cách khoa học, có kế họach

Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà HS rút ra được nên tư duy HS được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển

Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú Tuy nhiên, cũng có thể vạch ra một dàn bài chung gồm những bước chính sau:

a/ Tìm hiểu đầu bài

Bước này bao gồm việc xác nhận ý nghĩa vật lí của các thuật ngữ, phân biệt đâu là ẩn số, đâu là dữ kiện

Với những bài tập tính toán, sau khi tìm hiểu đầu bài, cần dùng các kí hiệu để tóm tắt đầu bài cho gọn

Trang 25

25

Trong trường hợp cần thiết, phải vẽ hình để diễn đạt những điều kiện của đầu bài Nhiều khi hình vẽ giúp HS dễ nhận biết diễn biến của hiện tượng, mối quan

hệ giữa các đại lượng vật lí

b/ Phân tích hiện tượng

Trước hết là nhận biết những dữ kiện cho trong đầu bài có liên quan đến những khái niệm nào, hiện tượng nào, quy tắc nào, định luật nào trong vật lí Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tượng nêu trong đầu bài, mỗi giai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào Cần phải hình dung rõ diễn biến của hiện tượng và các định luật chi phối nó trước khi xây dựng bài giải cụ thể Có như vậy mới hiểu rõ bản chất của hiện tượng, tránh được sự mò mẫm, máy móc áp dụng các công thức

c/ Xây dựng lập luận

Thực chất của bước này là tìm quan hệ giữa ẩn số phải tìm với các dữ kiện đã cho Đối với những bài tập tổng hợp phức tạp, có 2 phương pháp xây dựng lập luận để giải: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp

Theo phương pháp phân tích thì xuất phát từ ẩn số của bài tập, tìm ra mối quan hệ giữa ẩn số đó với một đại lượng nào đó theo một định luật đã xác định ở bước 2, diễn đạt bằng 1 công thức có chứa ẩn số Sau đó, tiếp tục phát triển lập luận họăc biến đổi công thức này theo các dữ kiện đã cho Cuối cùng, tìm được một công thức chỉ chứa mối quan hệ giữa ẩn số với các dữ kiện đã cho

Theo phương pháp tổng hợp thì trình tự làm ngược lại: điểm xuất phát không phải từ ẩn số mà là từ những dữ kiện của đầu bài, xây dựng lập luận hoặc biến đổi các công thức diễn đạt mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho với các đại lượng khác để tiến dần đến công thức cuối cùng có chứa ẩn số và các dữ kiện đã cho

Cả 2 phương pháp đều có giá trị, nhiều khi chúng bổ sung cho nhau Tuy nhiên, trong giai đọan đầu của quá trình vận dụng kiến thức để giải bài tập thì phương pháp phân tích dễ thực hiện hơn đối với HS vì mục tiêu của lập luận rõ ràng hơn

d/ Biện luận

Trong bước này ta phải phân tích kết quả cuối cùng để lọai bỏ những kết quả không phù hợp với điều kiện của đầu bài tập hoặc không phù hợp với thực tế Việc biện luận này cũng là một cách để kiểm tra sự đúng đắn của quá trình lập luận Đôi khi, nhờ sự biện luận này mà HS có thể tự phát hiện ra những sai lầm của quá trình lập luận, do sự vô lý của kết quả thu được

2.5.2 Xây dựng lập luận trong giải bài tập vật lí

Xây dựng lập luận trong giải bài tập là một bước quan trọng của quá trình giải bài tập vật lí Trong bước này, ta phải vận dụng những định luật vật lí, những qui tắc, những công thức để thiết lập mối quan hệ giữa đại lượng cần tìm, hiện tượng cần giải thích hay dự đoán với những dữ kiện cụ thể đã cho trong đầu bài Muốn làm được điều đó, cần phải thực hiện những suy luận logic hoặc những biến đổi toán học thích hợp Có rất nhiều cách lập luận tùy theo loại bài tập hay đặc điểm của từng bài tập Tuy nhiên, tất cả các dạng bài tập đều chứa đựng một số yếu tố của bài tập định tính và bài tập tính toán tổng hợp

a/ Xây dựng lập luận trong giải bài tập định tính

Bài tập định tính thường có 2 dạng: giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ xảy ra

Trang 26

* Bài tập giải thích hiện tượng

Giải thích hiện tượng thực tế là cho biết 1 hiện tượng và lí giải xem vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế Đối với HS, nguyên nhân đó là những đặc tính, những định luật vật lí Như vậy, trong các bài tập này, bắt buộc phải thiết lập được mối quan hệ giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật, hiện tượng hay với một số định luật vật lí Ta phải thực hiện phép suy luận logic, trong đó tiên đề thứ nhất là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có tính tổng quát, tiên đề thứ 2 là những điều kiện cụ thể, kết luận là hiện tượng nêu ra Cần phải mô

tả hiện tượng theo ngôn ngữ vật lí và phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản chỉ tuân theo 1 định luật, 1 qui tắc nhất định

Qui trình sau đây để định hướng cho việc tìm lời giải bài tập định tính giải thích hiện tượng:

1 Tìm hiểu đầu bài, đặc biệt chú trọng diễn đạt hiện tượng mô tả trong toàn bài bằng ngôn ngữ vật lí

2 Phân tích hiện tượng

3 Xây dựng lập luận

- Tìm trong đầu bài những dấu hiệu có liên quan đến một số tính chất vật lí, một định luật vật lí đã biết

- Phát biểu đầy đủ tính chất đó, định luật đó

- Xây dựng một lập luận ba đoạn để thiết lập mối liên hệ giữa định luật đó với hiện tượng đã cho, nghĩa là giải thích được nguyên nhân của hiện tượng Trong trường hợp hiện tượng phức tạp thì phải xây dựng nhiều luận ba đoạn liên tiếp

* Bài tập dự đoán hiện tượng

- Dự đoán hiện tượng thực chất là căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đầu bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoán được hiện tượng gì xảy

ra và xảy ra như thế nào Như vậy là ta đã biết những điều kiện cụ thể, bây giờ phải tìm qui luật chung chi phối hiện tượng cùng loại và rút ra kết luận Về mặt logic, ta phải thiết lập một luận ba đoạn, trong đó ta mới biết tiên đề thứ 2, cần phải tìm tiên đề thứ 1 và kết luận

b/ Xây dựng lập luận trong giải bài tập tính toán

Muốn giải bài tập tính toán, trước hết phải hiểu rõ hiện tượng xảy ra, diễn biến của nó từ đầu đến cuối Cho nên, có thể nói phần đầu của bài tập tính toán là một bài tập định tính Do đó, khi giải bài tập tính toán cần phải thực hiện các bước 1 và bước 2 giống như khi giải bài tập định tính Riêng bước 3 về xây dựng lập luận, có thể áp dụng các công thức và những cách biến đổi toán học chặt chẽ, rõ ràng hơn, ta sẽ xét kĩ dưới đây

Có thể có 2 phương pháp xây dựng lập luận: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp

* Phương pháp phân tích

Phương pháp phân tích bắt đầu bằng việc tìm 1 định luật, 1 qui tắc diễn đạt bằng 1 công thức có chứa đại lượng cần tìm và 1 vài đại lượng khác chưa biết Công việc tiếp theo là tiếp tục tìm những định luật, công thức khác cho biết mối quan hệ giữa các đại lượng chưa biết này với các đại lượng đã biết trong đầu bài Cuối cùng, ta tìm được một công thức trong đó chỉ chứa đại lượng cần tìm với các đại lượng đã biết Thực chất của phương pháp phân tích là 1 bài toán phức tạp thành nhiều bài toán đơn giản hơn

Trang 27

27

* Phương pháp tổng hợp

Theo phương pháp tổng hợp, việc giải bài tập bắt đầu từ những đại lượng đã cho trong điều kiện của bài tập Dựa vào các định luật, qui tắc vật lí, ta phải tìm các công thức chứa đại lượng đã cho và các đại lượng trung gian mà ta dự kiến có liên quan tới đại lượng phải tìm Cuối cùng, ta tìm được công thức chỉ chứa đại lượng phải tìm và những đại lượng đã biết

c/ Phối hợp phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp

Trên đây là 2 phương pháp xây dựng lập luận để cho lời giải được chặt chẽ Trong thực tế giải bài tập, 2 phương pháp đó không tách rời nhau mà thường xen kẽ, hỗ trợ nhau

Phương pháp tổng hợp đòi hỏi người giải bài tập có kiến thức rộng rãi, kinh nghiệm phong phú để có thể dự đoán được con đường đi từ những dữ kiện trung gian, thoạt mới nhìn hình như không có quan hệ gì chặt chẽ tới 1 kết quả có liên quan đến tất cả những điều đã cho Trong những bài tập tính toán tổng hợp, hiện tượng xảy ra do nhiều nguyên nhân, trải qua nhiều giai đọan, khi xây dựng lập luận, có thể phối hợp 2 phương pháp

Trang 28

CHƯƠNG III TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC KIẾN THỨC

TRONG CHƯƠNG IV VẬT LÍ 10 NC 3.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHƯƠNG IV VẬT LÍ 10 NC

* Những thay đổi trong cách sắp xếp nội dung kiến thức của chương thể hiện ở các điểm sau:

- SGK NC có sửa đổi cách sắp xếp để được hợp lí hơn Để dẫn đến khái niệm cơ năng, lần lượt xét Động năng, Thế năng trọng trường và Thế năng đàn hồi thành 3 bài cứng Bài Thế năng trọng trường (thay đổi thuật ngữ thế năng của vật nặng) đặt sau Động năng và gắn với Công của trọng lực áp đặt ngay trong trường hợp tổng quát đường đi của vật có dạng bất kì Thế năng đàn hồi là dạng thứ 2 của Thế năng, do đó cũng được khảo sát độc lập thành một bài riêng

Công – Năng lượng:

* Công: A=Fscosa ; Công suất: P A

* Định luật bảo toàn cơ năng: W =W d +W t

* Bài tập về các định luật bảo toàn

Trang 29

- Cuối cùng, với mục đích cập nhật các kiến thức về thiên văn học, SGK NC có thêm một bài các định luật Keple

3.2 PHÂN TÍCH CHƯƠNG IV VẬT LÍ 10 NC

Hệ thống kiến thức cơ bản của chương IV: Các định luật bảo toàn

giải các bài toán

* Hiểu khái niệm hệ kín

* Hiểu ý nghĩa động lượng

* Phân biệt khái niệm chuyển động bằng phản lực có ý nghĩa khác với chuyển động của vật nhờ phản lực của mặt đất hoặc nước…

* Biết vận dụng định luật BTĐL để giải một số bài toán với

hệ kín

* Động lượng là đại lượng vecto có cùng hướng với vận tốc của vật

* Đối với hệ kín tổng động lượng được bảo toàn (cả độ lớn và phương chiều)

* Phân biệt náy bay cánh quạt và máy bay phản lực Phân biệt động cơ máy bay phản lực và tên lửa vũ trụ

* Thường gặp trường hợp đơn giản: các vận tốc cùng phương và giải (1) là phương trình đại

không đổi F thực hiện

trên độ dời s của vật:

phương của độ dời s

* Công suất của một

độ dời của điểm đặt của lực theo phương của lực

* Phân biệt được công dương và công

® ®

=

* Công của nhiều lực tác dụng đồng thời trên một vật bằng tổng đại

số các công của từng lực thực hiện trên vật A= A1+A2+…

* Giải thích công dụng của hợp số trong động

cơ ô tô, xe máy…

Động

năng * Định nghĩa động * Hiểu rõ động năng - Nắm vững mối quan

* Phân biệt động lượng

và động năng về ý nghĩa

Trang 30

năng: 1 2

(1) 2

và bản chất vật lí

- Ngoại lực sinh công, vật nhận công nên động năng tăng

Ngược lại, khi vật sinh công thì động năng của vật giảm…

d h

+ Hiểu rõ thế năng trọng trường là năng lượng cơ học phụ thuộc vị trí của vật trong trọng trường (vị trí tương đối giữa vật

và Trái Đất)

+ Biết cách tính công của trọng lực trong trường hợp tổng quát

+ Hiểu rõ thế năng đàn hồi

+ Biến cách tính công

do lực đàn hồi thực hiện bằng phương pháp đồ thị

+ Nắm vững cách tính công của lực thế

+ Thế năng có giá trị tương đối vì phụ thuộc gốc tọa độ, tại đó coi mức thế năng bằng không

+ Thế năng trọng trường có thể dương hoặc âm

Thế năng đàn hồi luôn dương

Tính chất của lực thế: công của lực thế không phụ thuộc dạng đường

+ Nắm vững ý nghĩa tổng quát: cơ năng vật bảo toàn chỉ khi lực tác dụng là lực thế Nếu thêm lực không thể tác dụng,

sẽ có biến thiên cơ năng

+ Động năng và thế năng biến thiên ngược chiều nhau sao cho cơ năng của vật giữ không đổi

+ Công của lực cần (lực không thế) bằng độ giảm cơ năng Độ giảm này chuyển sang dạng năng lượng khác (nội năng)

Trang 31

M là khối lượng của

vật ban đầu đứng yên

Phân biệt được và nhận rõ tính chất của mỗi loại va chạm

Biết vận dụng các định luật bảo toàn động lượng và bảo toàn cơ năng (động năng) cho hệ kín để khảo sát

Tính được vận tốc của mỗi vật sau va chạm và phần động năng của hệ bị giảm sau va chạm mềm

Trong chương trình chỉ giới hạn khảo sát va chạm xuyên tâm

Các kết quả tìm vận tốc sau va chạm có giá trị đại số phụ thuộc chiều dương chọn trước Phần động năng bị giảm chuyển thành năng lượng làm biến dạng vật

và nhiệt tỏa ra

luật III Keple: tìm

khối lượng của một

+ Nắm được nội dung

ba định luật Keple và

hệ quả suy từ các định luật

+ Phân biệt được các tốc độ vũ trụ cấp I, II, III và các quĩ đạo tương ứng với các tốc

độ đó

+ Ba định luật Keple được thành lập từ tổng kết các số liệu thiên văn, quan sát nhưng thực chất có thể duy trì

từ các định luật cơ học của Niuton

Trang 32

3.3 CÁC GIÁO ÁN

BÀI 1 ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG

I Mục tiêu

1/ Về kiến thức

- Phát biểu được định nghĩa hệ kín và cho được ví dụ minh họa

- Viết công thức tính động lượng và nêu được đơn vị đo động lượng

- Phát biểu và biểu thức tính động lượng đối với hệ kín

2/ Kĩ năng

- Suy luận được định luật bảo toàn từ các kiến thức đã biết (định luật I, II, III Newton, biểu thức tính gia tốc)

- Suy ra hệ quả và thí nghiệm kiểm chứng

- Sử dụng dụng cụ TN về tương tác của 2 trên máng ngang có độ cao h, nghiệm lại định luật bảo toàn động lượng

- Áp dụng được định luật bảo toàn cho trường hợp hệ vật

II Công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh

1/ Giáo viên

- Chuẩn bị sẵn bảng câu hỏi cho học sinh chuẩn bị sẵn ở nhà

- Chế tạo dụng cụ để kiểm tra cho ĐLBTĐL

- Phiếu học tập

2/ Học sinh

- Ôn tập các kiến thức về ĐL II, III Newton

- Trả lời bảng câu hỏi

* Phiếu học tập

* Câu hỏi xây dựng bài

1 Sự biến đổi v liên quan a, a biểu thị qua F, các lực có mối liên hệ lẫn nhau Từ

đó suy ra điều gì?

2 Áp dụng ĐLII NT, ĐL III NT, tìm MQH vận tốc hai vật trước và sau tương tác?

* Câu hỏi củng cố bài

3 Hai vật có khối lượng m1, m2 tương tác nhau ban đầu vận tốc vr1, vr2 sau thời gian

Dt vận tốc '

2 '

1, v

vr r

2 2 ' 1 1 2 2 1

2 2 ' 2 2 ' 1 1 1

5 Phát biểu nào sau đây đúng:

a tổng động lượng hệ được bảo toàn

b tổng động lượng hệ kín được bảo toàn

c vectơ tổng động lượng được bảo toàn

d vectơ tổng động lượng hệ kín được bảo toàn

Trang 33

33

* Cơ hội đạt được của đề tài đối với bài này:

- Đưa ra vấn đề cần nghiên cứu: Khi 2 vật tương tác nhau, mỗi vật đều thu được gia tốc, vận tốc của vật bị thay đổi, vậy vận tốc của vật trước và sau khi tương tác quan hệ với nhau như thế nào?

- Giải quyết vấn đề: Áp dụng ĐL II, III Newton, biểu diễn F21

m

m s s v

Trang 34

III Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức

Khi 2 vật tương tác nhau, mỗi vật đều thu gia tốc, vận tốc của mỗi vật bị thay đổi

Khi 2 vật tương tác mỗi vật thu a rr,v thay

m

m s s v

, 2 2

, 1 1 2 2 1

m r + r = r + rĐộng lượng

ĐLBT động lượng

Câu hỏi và Bài tập

Sự biến đổi v liên quan

Trang 35

35

IV Tổ chức tiến trình dạy học cụ thể

Hoạt động 1: Kiểm tra, chuẩn bị điều kiện, đề xuất vấn đề cho bài học mới (7phút) Hoạt động của học sinh Hoạt động của giáo viên

Biểu thức định luật II Niuton:

Biểu thức định luật III Niuton:

Hoạt động 2: Tìm hiểu khái niệm hệ kín (7 phút)

Hoạt động của học sinh Hoạt động của giáo viên

Gợi ý: Xét tổng ngoại lực tác dụng lên vật

- Thông báo: Trong các vụ nổ, va chạm các nội lực xuất hiện thường rất lớn so với ngoại lực thông thường nên

hệ vật có thể coi gần đúng là hệ kín trong thời gian ngắn xảy ra hiện tượng

- Dưới tác dụng của lực F trong thời

gian Dt thì vận tốc của vật thay đổi từ

GV tiến hành thí nghiệm 1:

Thả viên bi từ độ cao khác nhau đến

va chạm vào khúc gỗ Khúc gỗ chuyển động như thế nào?

Trang 36

v thay đổi ® vật thu ar

®có lực, theo

ĐL III Newton®vận tốc trước và sau

tương tác có mối quan hệ nhau

- Xét hệ kín: m1, m2 tương tác nhau, vận tốc trước và sau khi hệ tương tác

có mối quan hệ gì? Tìm mối quan hệ đó?

- Gọi lên bảng trình bày

- Trình bày hệ thống lại trên bảng

- Động lượng của một vật là đại lượng

đo bằng tích khối lượng và vận tốc của

- Động lượng đặc trưng cho sự truyền

chuyển động giữa các vật tương tác

Khi một vật chịu tương tác thì động

lượng của vật thay đổi

Kết luận: Vậy tổng động lượng của hệ

trước và sau tương tác không thay đổi

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm