1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý tổ CHỨC CHO học SINH HOẠT ĐỘNG để tự lực CHIẾM LĨNH KIẾN THỨC KHI dạy học CHƯƠNG i ĐỘNG lực học vật rắn, vật lí 12 NÂNG CAO

107 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người thầy còn phải có phương pháp giảng dạy tốt, phải có cách thức giảng dạy làm sao cho học sinh dễ hiểu, hiểu đúng và vận dụng được các kiến thức đó vào trong cuộc sống, đồng thời qua

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

Lời cảm ơn!



Thông qua luận văn này em chân thành cảm ơn:

Thầy Trần Quốc Tuấn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ

em trong suốt quá trình thực hiện đê tài này

Các thầy cô Trường Đại Học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ Môn Vật Lí đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức, kỹ năng và phương pháp sư phạm quý báu, giúp

em có nền tảng để hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến quý báu của quý thầy cô và bạn bè để đề tài được phong phú và hoàn thiện hơn

Một lần nữa, xin trân thành cảm ơn

Sinh viên thực hiện Dương Quốc Quang

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày … tháng … năm……

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, đất nước ta trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đạt được những bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin…kéo theo đó là sự đòi hỏi những con người mới với trang bị đầy đủ tri thức, bản lĩnh

để có thể làm chủ đất nước trong tình hình mới Vì thế vấn đề đặt ra là đổi hỏi ngành giáo dục phải có sự đổi mới, kịp thích nghi với sự phát triển của xã hội và sự tăng nhanh về khối lượng tri thức của loài người Nhiệm vụ ấy trước tiên đặt trên vai của người thầy không phải chỉ có vai trò nhiệm vụ như người thông báo cho học sinh những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa, không chỉ nắm vững kiến thức Người thầy còn phải có phương pháp giảng dạy tốt, phải có cách thức giảng dạy làm sao cho học sinh dễ hiểu, hiểu đúng

và vận dụng được các kiến thức đó vào trong cuộc sống, đồng thời qua đó giáo dục cho học sinh khả năng tự học, tự lực chiếm lĩnh kiến thức

Tuy nhiên, thực tế nền giáo dục nước ta vẫn còn mang đậm chất truyền thống, vấn đề phương pháp giảng dạy vẫn chưa được quan tâm đúng mức, người dạy đa số chỉ truyền thụ các kiến thức có sẵn, mang tính chất thông báo, người học chỉ tiếp nhận thông tin một chiều, kết quả là quá trình học tập tạo ra những con người chỉ là thợ học, thụ động thiếu khả năng xử lí linh hoạt với các tinh huống trong cuộc sống

Đứng trước tình thế đó tại Nghị quyết Ban chỉ huy Trung ương Đảng VIII đã chỉ rõ:

“Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo ra những con người có đủ phẩm chất, năng lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại, có năng lực phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi…”

Vì vậy, để thực hiện mục tiêu giáo dục nói trên vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mới về phương pháp, phát huy tính tích cực, tự lực trong dạy học Các nhà giáo dục đã đề xuất ra nhiều phương pháp, hình thức tổ chức, hoạt động dạy học khác nhau, để có thể đáp ứng yêu cầu thực hiện đổi mới, cũng như để đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho xã hội Bản thân là người GV trẻ trong tương lai để có thể dạy tốt thì

Trang 5

việc nghiên cứu, rèn luyện cho bản than một phương pháp dạy học phù hợp là rất cần thiết

và có ích

Vì những lí do trên, dưới sự hướng dẫn của thầy Trần Quốc Tuấn, tôi đã chọn và thực

hiện đề tài: Tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức khi dạy học

Chương I Động lực học vật rắn, VL 12 nâng cao để làm luận vặn tốt nghiệp đại học

Hy vọng với đề tài này có thể trang bị tốt cho tôi hành trang trở thành một GV tốt trong tương lai

3 Giả thuyết khoa học

 Có thể xây dựng tiến trình hoạt động dạy học theo hướng tổ chức cho HS hoạt động

để tự lực chiếm lĩnh kiến thức

 Có thể vận dụng vào soạn giảng một số bài trong sách giáo khoa VL THPT nhằm:

- Phát huy tinh thần tự học

- Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh trong DHVL

- Kích thích hứng thú học tập của học sinh trong DHVL

- Tập cho học sinh thói quen với phương pháp tự học trong DHVL

 Đem lại chất lượng và hiệu quả cao trong dạy học

 Có thể nghiên cứu để giảng dạy chương I Động lực học vật rắn, VL 12 nâng cao

4 Nhiệm vụ của đề tài

 Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới PPDH VL THPT

 Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động dạy học phát huy tinh thần tự lực chiếm lĩnh kiến thức cho HS

Trang 6

 Xây dựng tiến trình hoạt động dạy học VL THPT theo hướng phát huy tinh thần tự lực chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh

 Nghiên cứu Chương I Động lực học vật rắn, VL 12 nâng cao

- Đại cương về chương

- Lập sơ đồ cấu trúc nội dung của chương và nhận xét (nội dung, phương pháp)

 Soạn giáo án một số bài trong chương:

- Bài 1: Chuyển động quay của vật rắn quanh trục cố định

- Bài 2: Phương trình động lực học của vật rắn quay quanh một trục cố định

- Bài 3: Momen động lượng ĐLBT momen động lượng

- Bài 4: Động năng của vật rắn quay quanh một trục cố định

 Chế tạo đồ dùng dạy học, làm các bản vẽ sẵn,…

 Tiến hành thực nghiệm giảng dạy ở THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu tài liệu:

Bộ sách giáo khoa VL 10, VL 11, VL 12

Các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Vật lý THPT

Tài liệu về chuyên ngành PPDH Vật Lý: Tâm lí học Giáo dục học, LLDH, …

 Trao đổi học tập kinh nghiệm từ các thầy cô, anh chị và các bạn

 Thực nghiệm sư phạm: sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học nêu ở chương

2 để giảng dạy kết hợp với các đồ dùng dạy học ở trường phổ thông

 Quan sát sư phạm: thu nhận những thông tin phản hồi từ GV và HS qua bài kiểm tra trắc nghiệm và phiếu thăm dò ý kiến Tổng kết kinh nghiệm từ đó hệ thống lại về các tình huống và phương pháp đã dùng

6 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học môn VL ở trường trung học phổ thông nhằm học phát huy tinh thần tự lực chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh Đặc biệt là tổ chức cho học sinh hoạt động

để tự lực chiếm lĩnh kiến thức chương I, Động lực học vật rắn, VL 12 nâng cao

Trang 7

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài

 Giai đoạn 1: Tìm hiểu đề tài, trao đổi với thầy hướng dẫn, lập đề cương nghiên cứu

 Giai đoạn 2: Lập đề cương đảm bảo khoa học lôgic, chặt chẽ, hoàn thiện

 Giai đoạn 3: Nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài

 Giai đoạn 4: Nghiên cứu nội dung và PP XDKT chương I, VL 12- NC, soạn giáo án các bài

 Giai đoạn 5: TNSP

 Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng powerpoint

 Giai đoạn 7: Bảo vệ LVTN trước hội đồng chấm LVTN dạy học

8 Những chữ viết tắt trong đề tài

Trang 8

Chương I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC THPT

1.1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta

Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hội nhập với cộng đồng thế giới

trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo

dục, nhằm đào tạo ra những con người có phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng

lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức công nghệ mà nhân loại đã tích lũy được mà

còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực

thực hành giỏi Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa

VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ

thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng,

có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc công nghiệp, hóa hiện đại hóa; giữ gìn

và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,

phát huy tiền năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy

tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy

sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có phong cách công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật,

có sức khỏe, là người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vưa hồng vừa chuyên như lời

căn dặn của Bác Hồ” [5, trang 49]

1.2.2 Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới

Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành

tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng nề về truyền thụ một chiều, thầy giảng

dạy minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo những

con người có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi Cùng

với xu thế phát triển chung của thế giới, nền giáo dục nước ta đang chuyển dần từ trang bị

cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần

phải xây dựng một hệ thống phương pháp dạy học mới có khả năng thực hiện mục tiêu

lớn Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Đổi

mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện

Trang 9

thành nếp tư duy, sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học phát triển mạnh mẽ phong trào tự học tự đào tạo” [5, trang 50]

1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT

1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH Vật Lý ở trường THPT

Có thể xem Nghị quyết Trung ương 2 là phương hướng chiến lược đổi mới, phương

hướng chiến lược này bao gồm bốm điểm sau đây:

a) Khắc phục lối truyền thụ một chiều

Truyền thụ một chiều là một kiểu học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của nước ta Nét đặc trưng của nó là: “GV độc thoại, giảng dạy minh họa, làm mẩu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và nhắc lại” Nói một cách khác, GV là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, GV quyết định hết thảy, từ xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức kĩ năng, đánh giá kết quả học

Theo cách dạy đó GV trình bày, giảng giải các kiến thức cần truyền thụ cho HS một cách rõ ràng, chính xác đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn các thí nghiệm một cách thành công, đúng như đã nói trong lý thuyết hay đúng như mong muốn đã nói cần đạt được

GV chỉ quan tâm đến việc dạy của mình sao cho hoàn mỹ, còn HS có hiểu được, làm được, phát triển được hay không là trách nhiệm của HS Cách dạy đó rõ ràng là dồn HS vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội để suy nghĩ, phát triển ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình, còn GV trở thành nhân vật đầy quyền uy khiến HS phải sợ hãi và cha mẹ HS phải kính nể Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều

là một hoạt động mang tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Những Gv tâm huyết với nghề hết lòng yêu thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong học tập Nhưng không ít GV còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không thích ứng được với đòi hỏi mới

Trang 10

Đối với chúng ta cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Ở THPT cần phải tiếp tục phát triển

tư duy đó để hình thành cho HS những kĩ năng hoạt động học tập vững chắc, tạo một sự chuyển biến về chất trong phương pháp học tập của HS Bất kì ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS

Để thực hiện PPDH mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt quan trong là tài liệu giáo khoa và thiết

bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của việc dạy học

b) Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS

Rèn luyện khả năng tự học hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa trong cuộc đổi mới của con người trong thời buổi hiện nay, những điêu học được trong nhà trường chỉ là rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau nay ra đơi con phải tự học them nhiều mới có thể làm việc được, mới theo kịp được sự phát triển rất nhanh của khoa học kĩ thuật hiện đại Bởi vậy, ngay trên ghế nhà trường HS đã rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức Vấn đề này trước đây chưa được chú trọng đúng mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kĩ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không phải chỉ áp dụng cho những HS ở các lớp trên

Ngành giáo dục mở cuộc vận động rộng rãi nhưng đến nay vẫn chưa khắc phục được như Nghị quyết Trung ương 2 đề ra

c) Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học

Trang 11

Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trong nhất

là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu la tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực

Phương pháp dạy học tích cực này còn mới mẻ ở nước ta Có rất nhiều điều còn phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm trong thực tế Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại cho HS niềm vui sướng, hòa hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của đa số trẻ

em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các em tự khẳng định được mình và nuôi dưỡng long khát khao sáng tạo Bởi thế việc dạy học tích cực này được đa

số HS hưởng ứng nhiệt liệt

d) Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học

Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.Piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều PPDH mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan

Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng,

có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách

có hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng

tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” Nhờ sự phát triển của

KHKT, quá trình DH đã sử dụng phương tiện DH hiện đại:

 Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead

 Phần mềm hổ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor

 CNTT, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính

Trang 12

 Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking

1.2.2 Mục tiêu của chương trình VL THPT

a) Đạt được một hệ thống kiến thức VL THPT cơ bản phù hợp với những quan điểm hiện tại

 Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình VL thường gặp trong đời sống, khoa học và sản xuất

 Các đại lượng, các định luật và nguyên lí VL cơ bản

 Những nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng

 Những ứng dụng của VL trong đời sống, khoa học và sản xuất

 Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của VL

b) Rèn luyện và phát triển các kỹ năng: quan sát, sử dụng dụng cụ thí nghiệm…, đặc biệt là kỹ năng thực hiện tiến trình khoa học

 Quan sát các hiện tượng và các quá trình VL trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập VL

 Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến và các thiết bị tương đối hiện đại của VL, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm VL

 Phân tích, tổng hợp và sử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các

dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình VL, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra

 Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và các quá trình VL, giải các bài tập VL

 Phát hiện và giải quyết các vấn đề VL ở mức độ phổ thong trong khoa học, đời sống và sản xuất

Trang 13

 Sử dụng các thuật ngữ VL, các biểu bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin

c) Hình thành và rèn luyện thái độ, tình cảm của HS: hứng thú học tập môn VL…

 Có hứng thú học VL, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của VL học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học

 Có thái độ khách quan, trung thực, có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn VL, cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết

a) Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho

HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập

Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn chú ý giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã viết đầy đủ trong SGK, thậm chí GV nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống hệt trên bảng Có nhiều điều

HS đọc hay làm theo SGKcũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho học sinh có cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV

Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ GV giảng giải, tóm tắt đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng công thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trong hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu học sinh tự học ở lớp và ở nhà GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể hiểu được kiên quyết không làm thay HS điều gì mà họ có thể

tự làm được trên lớp hay ở nhà

Trang 14

Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được

Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, có rất nhiều việc phải làm như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế…GV cần tính toán xem với trình độ HS cụ thể thì việc gì có thể trao cho HS tự làm, việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của GV, việc gì GV cũng phải giảng dạy để cung cấp them hiểu biết cần thiết cho việc giải quyết vấn đề

Trong mọi bài học GV đều có thể tìm ra một hai chỗ trong bài HS có thể tự lực hoạt động với khỏang thời gian 10 đến 20 phút

b) Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề

Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong

đó dạy cho HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, GV vừa tạo cho HS nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo ; vừa rèn luyện cho họ khả năng sáng tạo

Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẩn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã có của mình không đủ để giải quyết

Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả

Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề

Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:

 Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi

 Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát

 Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế

Trang 15

 Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng

dự đoán mới

 Phát biểu kết luận

Tóm lại: muốn thực hiện được các khâu của phương pháp này, HS phải thực hiện việc thu thập thông tin, xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứ Trong quá trình này có hai lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau : hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Sự kết hợp đó thực hiện thông qua các suy luận lôgic như : phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…

Đối với VL học thì quan sát thấy gì mới chỉ là một nửa, chỉ là nhận biết dấu hiệu bên ngoài và điều này không quá khó khăn Điều khó khăn và quan trọng hơn là thực hiện các phép suy luận để rút ra kết quả khái quát, phổ biến chung cho mọi hiện tượng Điều thứ hai này GV rất khó nắm bắt Cần phải tập cho HS phát biểu ý kiến của họ thành lời mới biết được họ có hiểu hay không Bởi vậy, cần kiên trì tạo điều kiện cho HS phát biểu, tranh luận

c) Rèn luyện cho HS các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lý

Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên

 Về phương pháp thực nghiệm: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông tin hoặc củng cố bảng số liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên dành cho HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn

 Về phương pháp mô hình : Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài mô hình ảnh, còn hay phổ biến mô hình toán học

 Về phương pháp tương tự : Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới

về đối tượng khảo sát

 Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn cơ bản sau :

Trang 16

 Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối tượng đã biết định đem đối chiếu

 Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng Kiểm tra xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng

d) Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị thí nghiệm

 Vai trò, vị trí của phương tiện, thiết bị DH:

Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm

Sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp

Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị DH của nhà trường

Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện DH, thiết

bị DH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm

Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị DH và chuẩn bị phương tiện DH, thiết bị DH theo một số yêu cầu để

có thể phát huy vai trò của thiết bị DH

 Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị DH

Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)

Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng

Trang 17

giúp HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm

Tận dụng phương tiện DH, thiết bị DH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)

 Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện DH, thiết bị DH

Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa phương tiện DH, thiết bị DH góp phần đổi mới PPDH

Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi PP

Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trí lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình DH có sử dụng CNTT

Sử dụng CNTT như phương tiện DH, thiết bị DH không phải chỉ nhằm thí điểm

DH với CNTT mà còn góp phần DH về CNTT

Sử dụng CNTT như một phương tiện DH, thiết bị DH, không phải chỉ để thực hiện DH với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay

cả trong điều kiện không có máy

1.2.4 Giới thiệu một số kế hoạch bài dạy

a) Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học

* Hoạt động : Kiểm tra kiến thức cũ

* Hoạt động : Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của

GV

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

- Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ HT

- Tạo tình huống HT

- Trao nhiệm vụ HT

Trang 18

* Hoạt động : Thu thập thông tin

* Hoạt động : Xử lí thông tin

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Nghe GV giảng Nghe bạn phát

- Yêu cầu HS hoạt động

- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu

- Giảng sơ lược nếu cần thiết

- Làm thí nghiệm biểu diễn

- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu

- Chủ động về thời gian

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân

- Tìm hiểu các thông tin liên quan

- Lập bảng, vẽ đồ thị …nhận xét về tính quy

luật của hiện tượng

- Trả lời các câu hỏi của GV

- Tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc

trong lớp

- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những thông

tin thu được

- Đánh giá nhận xét, kết luận của

Trang 19

* Hoạt động : Truyền đạt thông tin

* Hoạt động : Củng cố bài giảng

* Hoạt động : Hướng dẫn học tập ở nhà

b) Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập

Tên bài:

Tiết: theo phân phối chương trình

A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)

1 Kiến thức

2 Kĩ năng

3 Thái độ

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Trả lời câu hỏi

- Giải thích các vấn đề

- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận

- Báo cáo kết quả

- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề

- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ

- Hướng dẫn mẫu báo cáo

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

- Vận dụng vào thực tiễn

- Ghi chép những kết luận cơ bản

- Giải bài tập

- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc

cá nhân hoặc theo nhóm

- Hướng dẫn trả lời

- Ra bài tập vận dụng

- Đánh giá, nhận xét giờ dạy

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Ghi câu hỏi bài tập về nhà

- Ghi những chuẩn bị cho bài sau

- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà

- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau

Trang 20

B Chuẩn bị (thiết bị dạy học, phiếu học tập,các phương tiện dạy học…)

- Hoạt động 1 (…phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)

- Hoạt động 2 (…phút): Đơn vị, kiến thức, kĩ năng 1

- Hoạt động 3 (…phút): Đơn vị, kiến thức, kĩ năng 2

- Hoạt động i (…phút): Đơn vị, kiến thức, kĩ năng k

- Hoạt động n-1 (…phút): Vận dụng, củng cố

- Hoạt động n (…phút): Hướng dẫn về nhà

D Rút kinh nghiệm

Ghi những nhận xét của giáo viên khi dạy xong

c) Những câu hỏi thảo luận về các kế hoạch bài dạy

 Theo bạn một kế hoạch bài dạy có cấu trúc như thế nào thì thích hợp, nêu lí do?

 Mục tiêu bài dạy và sự chuẩn bị cần thể hiện như thế nào trong bài soạn nhất là những phần có ứng dụng công nghệ thông tin?

 Thông thường trong một tiết dạy có những hoạt động HT nào? Thể hiện hoạt động học tập của học sinh và trợ giúp của giáo viên như thế nào trong bài soạn

 Nêu các kĩ thuật củng cố bài giảng mà bạn đã vận dụng trong quá trình dạy học

 Làm thế nào để xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản trong bài phù hợp đối tượng

HS ở các vùng miền thích hợp trong một tiết dạy

 Hãy soạn một bài theo phân phối chương trình và đối tượng đã lựa chọn

1.3 ĐỔI MỚI VIỆC SOẠN GIÁO ÁN

1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án

Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV

Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

Trang 21

 Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức

độ đến đâu?

 Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?

 GV phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?

 Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?

1.3.2 Những nội dung của việc soạn giáo án

 Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học Để làm tốt việc này

GV cần xác định kiến thức cần xây dựng được diễn đạt như thế nào? Giải pháp nào giúp trả lời được câu hỏi này?

 Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể

 Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

 Soạn nội dung bài tập về nhà

* Một số hình thức trình bày giáo án

 Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới

 Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động của

Trang 22

 Nhóm 1: Hoạt động nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới

 Nhóm 2: Hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt và nêu vấn đề

 Nhóm 3: Hoạt động nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, quy nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề

 Nhóm 5: Tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống

1.3.3 Các bước soạn giáo án

Khi thực hiện soạn thảo một giáo án cho một tiết dạy có thể chia làm 7 bước:

 Bước 1: Lượng hóa mục tiêu kiến thức và kỹ năng của bài học

 Bước 2: Chia bài học thành những đơn vị kiến thức

 Bước 3: Hoạch định các hoạt động của HS ứng với từng đơn vị kiến thức

 Bước 4: Tìm những hình thức học tập phù hợp với từng đơn vị kiến thức

 Bước 5: Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ HS ứng với từng hoạt động Dự kiến những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lý

 Bước 6: Xác định thời gian cho mỗi hoạt động

 Bước 7: Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết hỗ trợ cho tiết học

1.4 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT

1.4.1 Đánh giá kết quả HT của HS phải có tính mục đích, phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản của việc thi và kiểm tra

Đánh giá kết quả HT của HS phải đồng thời thực hiện 2 mục đích vừa cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa là cơ chế điều khiển hữu hiệu chính của quá trình này

a) Những yêu cầu cơ bản về đánh giá kết quả HT của HS :

 Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục

 Đảm bảo tính hệ thống và toàn diện

 Đảm bảo tính khách quan

Trang 23

 Đảm bảo tính công khai

 Đảm bảo tính khả thi

b) Việc thi và kiểm tra phải theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

 Nội dung thi, kiểm tra phải bám sát mục tiêu dạy học đã được ghi rõ trong chương trình, sách giáo khoa bộ môn Không nên dựa vào trình độ HS để quy định nội dung thi, kiểm tra

 Việc thi, kiểm tra phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học, đảm bảo ba yêu cầu “Hiểu- Nhớ- Vận dụng” về ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và thái độ

 Hình thức thi, kiểm tra phải phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc điểm môn học

 Nội dung và hình thức thi, kiểm tra phải đảm bảo việc phân loại trình độ HS

 Việc tổ chức thi, kiểm tra phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện cần thiết cho

kì thi được tiến hành nghiêm túc và thuận lợi

 Việc đánh giá kết quả thi, kiểm tra phải thông qua đáp án, thang điểm chi tiết,

rõ ràng, phải được tiến hành đảm bảo tính khách quan, nghiêm túc, khẩn trương

c) Nội dung thi kiểm tra phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau đây:

 Đánh giá được một cách tòan diện các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái

độ mà HS cần đạt được

 Đặt trọng tâm vào những nội dung có liên quan nhiều đến việc ứng dụng kiến thức và kĩ năng vào thực tế, đánh giá cao khả năng sáng tạo, năng lực hành động của

HS trong việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào những tình huống của cuộc sống thực

 Chú ý đến đặc thù của khoa học VL là khoa học thực nghiệm, do đó cần có những nội dung nhằm đánh giá kiến thức kĩ năng và thái độ của HS về thực hành VL Đây là yêu cầu đòi hỏi những cải thiện đáng kể về tra ng thiết bị, dụng cụ thí nghiệm thực hành

Vận dụng lí thuyết phát triển năng lực để đánh giá kết quả HT của HS, trong đó coi trọng khả năng vận dụng của HS thông qua việc nắm vững kiến thức, thành thục về phương pháp, nhạy bén về giao tiếp và tự kiểm điểm của bản thân

d) Nội dung kiểm tra gồm ba lĩnh vực sau đây:

 Kiến thức là “những thông tin được chứa trong não”

Trang 24

 Kĩ năng là “họat động quan sát được và những phản ứng thực hiện theo mục đích”

 Thái độ là cảm nhận của con người và ứng xử của họ đối với công việc, những thái độ thể hiện có thể có tính chất cá nhân hoặc hành vi cá nhân

e) Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra

Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là: lĩnh vực về nhận thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ

 Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là một

người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng một định nghĩa, định

lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng

Có thể cụ thể mức độ nhận biết bắng các động từ :

 Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất

 Nhận dạng (không cần giải thích ) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản

 Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố

Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, cái gì, bao nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua

 Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện

tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết

Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào .hoặc các từ hỏi “tại sao?”,

“nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời

Trang 25

nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học

 Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể

mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải thích (trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng phương án này vào thực tiễn

 Phân tích là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin nhỏ

sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng

Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối qua hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận

 Tổng hợp là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn

tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ thể hóa mức

đọ tổng hợp bằng các động từ :

 Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh

 Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể

 Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban đầu

Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra những ý

Trang 26

tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Mục tiêu của lợi câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa

ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của

HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung

 Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác

định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định

Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng

a) Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom

3.Vận dụng

Vận dụng các nguyên lí và các trường hợp riêng biệt

Thiết kế được phương án khi có đủ các thông số cần thiết

4 Phân tích

Vận dụng nguyên lí vào các trường hợp phức hợp

Thiết kế được phương án khi phải tìm

các thông số cần thiết

5.Tổng hợp Vận dụng nguyên lí vào các Tìm được lỗi trong

Trang 27

và so sánh nó với các giải pháp đã biết khác

Thiết kế được phương án mới

b) Các mức độ hình thành kĩ năng theo Harrow

5 Làm thuần

thục

Đạt trình độ cao về tốc độ và sự chính xác, ít cần sự can thiệp của ý thức

Làm được chính xác như mẫu, kĩ năng như bản năng

c) Các cấp độ hình thành thái độ theo Bloom

Trang 28

5 Hình thành

đặc trưng Hình thành đặc trưng bản sắc riêng

Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen

1.4.2 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả HT của

 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm bài kiểm tra và xử lí kết quả thi, kiểm tra sao cho vừa nhanh, vừa chính xác, bảo đảm được tính khách quan và sự công bằng, hạn chế được tiêu cực trong việc đánh giá kết quả HT của HS

 Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình HT bao gồm:

 Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của HS ngay trên lớp học, trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập, dưới dạng vấn đáp là chính

 Kiểm tra thí nghiệm thực hành: kiểm tra kĩ năng thức hành của HS trong quá trình làm các bài thực hành thí nghiệm, dưới dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả

 Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức kĩ năng của HS, có các dạng kiểm tra 15phút, kiểm tra 45phút, kiểm tra học kì

Trang 29

 Kiểm tra đề tài: dưới dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc nhóm học sinh phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các HS giỏi có năng lực tốt

Kiểm tra viết là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả HT của HS

Nó có thể là đánh giá định hình hoặc đánh giá tổng kết, đánh giá theo tiêu chuẩn hoặc đánh giá theo tiêu chí, ở đây người ta sử dụng dạng trắc nghiệm khách quan và tự luận

1.4.3 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận

Trắc nghiệm để đánh giá kết quả HT của HS so với mục tiêu môn học Trắc nghiệm

là khách quan vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người chấm Đổi mới phương pháp ra đề kiểm tra đánh giá kết quả HT của HS người ta thường dùng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) và trắc nghiệm tự luận (TNTL)

- TNTL là loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình

- TNKQ là loại câu hỏi hoặc bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu HS phải viết câu trả lời thì câu trả lời là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng

* Quy trình biên soạn một đề kiểm tra viết môn VL:

 Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra

 Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)

Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng

Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)

 Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra

 Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận

 Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm

* Những điều cần lưu ý khi biên sọan đề kiểm tra:

 Phải đảm bảo thể hiện được những mục tiêu cơ bản ghi trong chương trình Không hạ thấp hay nâng cao một cách tùy tiện mức độ khó của đề kiểm tra theo ý muốn hoàn toàn chủ quan của người dạy

Trang 30

 Có thể thay đổi tỉ lệ các câu trắc nghiệm tự luận và khách quan, nhưng trong mọi trường hợp thì đều phải cố gắng sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan

 Để tránh việc HS hỏi nhau khi làm bài nên thay đổi thứ tự của các câu để tạo

ra những đề kiểm tra có nội dung như nhau nhưng có cấu tạo khác nhau Những đề kiểm tra này có thể được dùng nhiều lần

 Để có thể sử dụng đề kiểm tra nhiều lần, không nên để HS làm bài vào tờ giấy in đề kiểm tra mà làm bài ra một tờ giấy riêng có ghi rõ họ tên

 Chú ý rèn luyện kĩ năng biên sọan câu hỏi Sáu kĩ năng để hình thành năng lực đặt câu hỏi nhận thức theo hệ thống phân loại các mức độ câu hỏi của Bloom

1.5 Ứng dụng công nghệ thông tin

Một số phần mền công nghệ thông tin thường được sử dụng rộng rải trong nhà trường

 Phần mềm PowerPoint: thường được được sử dụng trong những buổi trình chiếu, đòi hỏi độ đa dạng về hình ảnh, hiệu ứng Tạo cảm giác hứng thú đối với buổi học…

 Phần mềm Crocodile Physics: là phần mềm rất tiện ít hiện nay, cung cấp đầy

đủ các chương trình mô phỏng VL phổ thông Cơ- Nhiệt- Quang- Điện- VL nguyên tử và hạt nhân Với giao diện đẹp, các linh kiện được thiết kế với hình dạng rất thực tế, làm tăng thêm tính trực quan và tính thực tiễn trong quá trình dạy và học VL

Trang 31

Chương II TỔ CHỨC CHO HỌC SINH HOẠT ĐỘNG ĐỂ TỰ LỰC CHIẾM LĨNH KIẾN THỨC KHI DẠY HỌC VẬT LÍ

Theo quan niệm mới về việc dạy học vai trò chính yếu của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS (tìm tòi, khám phá, nghiền ngẫm, trao đổi và giao tiếp) sao cho HS có thể tự lực chiếm lĩnh được kiến thức Do đó, trong tiết học đổi mới, ta cần quan tâm HS hoạt động học như thế nào? Các em đã thu hoạch được những giá trị gì? Diễn viên chính của lớp học phải là HS GV đóng vai trò của người đạo diễn Trong giờ học, mọi HS đều làm việc hết sức tích cực, GV trong có vẻ nhàn nhã nhưng kì thực họ cũng làm việc hết sức căng thẳng để thu thập thông tin phản hồi và điều khiển kịp thời hoạt động của HS

2.2.2 Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác

Theo tinh thần của các PPDH tích cực, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản Các hình thức học tập hợp tác không những góp phần làm cho việc học tập cá nhân có hiệu quả hơn mà còn có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Theo lí thuyết về vùng phát triển gần của Vugotki, các tương tác thầy – trò và trò – trò trong lớp học có thể giúp HS vượt qua những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa Mặt khác, trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó

có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS

Trang 32

Cách phân chia các hình thức hoạt động thành hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác cũng chỉ có tính tương đối Các hình thức hoạt động này thường được tiến hành xen kẽ lẫn nhau

Nhìn chung, không nên tổ chức dạy học theo nhóm một cách tràn lan vì không có điều kiện thời gian Trong mỗi tiết học chỉ nên tổ chức một lần cho HS hoạt động theo nhóm để tìm hiểu một nội dung phù hợp nhất Những nội dung phù hợp với việc tổ chức hoạt động theo nhóm có thể là: bài học nghiên cứu một vấn đề bằng thực nghiệm; bài học nghiên cứu một khái niệm mới, một định luật VL có những điểm cần tranh luận cho sáng

tỏ, tránh sự hiểu lầm; …

Hiện nay lại nảy sinh một xu thế ngược lại: đó là “Hội chứng hoạt động nhóm” Nhiều người quan niệm một cách sai lầm và cực đoan là: đổi mới PPDH thì phải tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, lấy đó làm tiêu chí của các PPDH tích cực Điều đó dẫn đến việc dạy học theo nhóm cách tràn lan, hình thức, lãng phí thời gian và không có hiệu quả Cần chú ý rằng trong mọi PPDH, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếu giúp cho việc phát triển các năng lực của mỗi HS; các PPDH tích cực đều nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động nhận thức của mỗi cá thể

2.2.3 Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học

Một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kĩ thuật rất hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa Vì những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội hiện đại phải biết cách cập nhật thông tin Một không những cách khả dĩ là phải biết tự học

Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi HS phải thực sự động não để tiếp

thu những điều cần học Không ai có thể học thay ai được Vì vậy trong những hoạt động

cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS Việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng và một bên là sự hạn hẹp của thời gian dành cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm hiểu ở nhà

Có lẽ không cần chuyển tải từ A tới Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một

Trang 33

phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sao đó sẽ kiểm tra kết quả sự tự học của các em Có như thế chúng ta mới có thời gian để thực hiện việc đổi mới PPDH

2.2.4 Coi trọng việc rèn luyện kĩ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức

Trong nhà trường, chúng ta chỉ dạy cho HS những nguyên tắc đại cương Khi vào đời, HS sẽ gặp phải những tình huống thực tế vô cùng phong phú, đa dạng Làm sao các

em có thể giải quyết được những tình huống đó? Từ thực tế đó đã đặt cho chúng ta nhiệm

vụ phải bồi dưỡng cho HS những kĩ năng rèn luyện cho HS, người ta đặt biệt chú ý tới các kĩ năng thực hiện các tiến trình khoa học Đó là các kĩ năng thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt thông tin

Các kĩ năng thu thập thông tin trong học tập gồm: kĩ năng đọc sách, kĩ năng đọc bảng biểu …, tóm tắt đề bài, sử dụng thư viện…, kĩ năng quan sát, lấy số liệu thực nghiệm từ thí nghiệm…

Các kĩ năng xử lí thông tin trong học tập bao gồm: kĩ năng xây dựng bảng, biểu đồ,

vẽ đồ thị, rút ra kết luận bằng suy luận qui nạp…

Các kĩ năng truyền đạt thông tin trong học tập bao gồm: trình bày báo cáo, thảo luận, viết báo cáo, trình bày bảng …

Các kĩ năng này được đưa vào các hoạt động học tập thích hợp theo một chiến lược

đã được hoạch định trước

2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT HUY TINH THẦN TỰ LỰC CHIẾM LĨNH KIẾN THỨC CHO HỌC SINH

2.2.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở

a) Khái niệm

Đàm thoại có nghĩa là hỏi đáp… Song nếu trong dạy học, các câu hỏi đáp lẻ tẻ, không có ý đồ nối tiếp nội dung bài giảng, nối tiếp các hoạt động của thầy và trò, xa hơn nữa, không có ý đồ phát triển trí tuệ học sinh thì đó không phải là phương pháp đàm thoại Thực chất ngày nay chúng ta hiểu, khi dùng phương pháp đàm thoại, cần đặt ra một hệ thống câu hỏi để thầy trò cùng làm việc, vừa mang tính nhất quán (câu hỏi trước

sẽ là cơ sở để trả lơi câu hỏi sau, sao cho các câu trả lời đúng của học sinh, đặt biệt là HS trả lời cuối cùng sẽ đưa đến một nội dung nao đó trong bài học, thay vì thầy phải giảng

Trang 34

nội dung đó), vưa mang tính cấu trúc của hệ thống câu hỏi (gợi mở) với ý đồ học tập cho học sinh tư duy một vấn đề khoa học

Vậy, đàm thoại la phương pháp mà trong đó thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi để một hoặc một số HS trả lời dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy, qua đó lĩnh hội được nội dung bai học một cách tích cực

Có thể hiểu sự chỉ đạo của thầy là ở chỗ: Thầy chuẩn bị hệ thống câu hỏi trước, cách thức thầy tổ chức đàm thoại hoặc thầy can thiệp đúng lúc để cuộc trao đổi không đi lạc hướng và để đảm bảo thời gian

b) Cách tổ chức hoạt động bằng phương pháp đàm thoại:

Mô hình thứ nhất: đối thoại thầy trò riêng biệt ( kiểu bóng bàn): Ở mô hình nay, thầy có một hệ thống nhiều câu hỏi dành cho một học sinh Có thể thầy chủ định gọi HS hoặc để học sinh xung phong trả lời Thầy làm việc với HS đó đến câu hỏi cuối cùng Nguôn thông tin cho lớp là tổng hợp các câu trả lời tương ứng Vấn đề là ở chỗ, độ khó của câu hỏi cuối cùng có phù hợp với HS hay không

Mô hình thứ hai: đối thoại thầy- trò kết hợp (kiểu bóng chuyền): Ở mô hình này, thầy dùng một câu hỏi tương đối khó cho một học sinh nào đó Khi em con chưa biết trả lời sau thì thầy lại “tung” tiếp một vài câu gợi ý cho các học sinh khác Các câu trả lời của các em này là sự gợi ý cho học sinh đầu tiên trả lời câu hỏi chính Có thể những gợi ý của thầy là những cái “bẫy” tập cho học sinh tránh những sai lầm trong quá trình tìm ra chân lí… Tất nhiên chân lí cuối cùng là thầy phát biểu hoặc thầy chỉ đạo cho học sinh tự điều chỉnh rồi chính xác hóa kết quả

Mô hình thứ ba: thảo luận (kiểu bóng rổ) Câu hỏi đặt ra là một vấn đề để học sinh thảo luận Các em thảo luận, tranh luận với nhau trong nhóm (chuyền bóng cho nhau) để sau đó đại diện một HS trả lời (đưa bóng vào rổ) Ở mô hình này, thầy chia nhỉ lớp học

để có thể nhiều nhóm tranh luận

c) Việc sử dụng phương pháp đàm thoại

Ngày nay lượng kiến thức cần cho HS la quá nhiều, vì vậy không thể sử dụng phương pháp đàm thoại trong cả tiết học Song, trong dạy học tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, những cách tổ chức đàn thoại như đã trình bày, nếu được xen vào

Trang 35

các phương pháp khác thì lớp học thật sinh động, kích thích cao sự tò mò và khám phá của học sinh

Điều quan trọng nhất đối với mỗi GV, khi sử dụng phương pháp này cần nghiên cứu từng câu hỏi khi đặt cho học sinh Các câu hỏi phải được “gọt dũa” từng chữ từng phần sao cho phù hợp với mô hinhg như đã giới thiệu ở trên, phù hợp với đối tượng mà mình hỏi để dẫn dắt HS đến kết quả của tùng đoạn bào giảng có áp dụng phương pháp này

2.2.2 Phương pháp dạy học khám phá

a) Khái niệm

Dạy học khám phá không phải là một phương pháp dạy học mới lạ mà chỉ là một cách tổ chức dạy học theo bất kì PPDH nào, song trong tiến trình giảng dạy, người GV thiết kế xen kẽ các nhiệm vụ học tập mang tính tinh huống để HS tự giải quyết trong một thời gian ngắn (2-3 phút) các nhiệm vụ này có thể là nhiệm vụ khám phá, chúng phải phù hợp với nộ dung và tiến trình dạy học

b) Đặc trưng của dạy học khám phá

Muốn nói đến đặc trưng của dạy học khám phá thì trước tiên phải nói đến các đặc trưng của nhiệm vụ khám phá trong giờ học khám phá:

* Nhiệm vụ khám phá (NVKP) là một tình huống trong học tập được giao cho HS

mà độ khó của nó cho HS có thể giải quyết được trong thời gian ngắn để bài học có thể tiếp tục cùng với kết quả của lời giải mà HS đã đạt được

Về nội dung, NVKP phải phù hợp với nội dung bài học Cho nên:

 NVKP là một tinh huống xuất hiện trên con đường tiến triển của bài học

 NVKP có thể là một yêu cầu HS tìm kiếm nhanh trong thực tế, trong nội dung kiến thức cũ để làm ví dụ cho bài học hoặc làm bước dệm tiếp nối đoạn bài học tiếp theo

 NVKP có thể là một yêu cầu suy luận từ một kết quả thí nghiệm vừa mới thực hiện

 Về hình thức, NVKP có thể dưới hình thức một câu hỏi thuần túy bằng lời sau khi giảng hoặc sau khi xem một đoạn phim, một mệnh lệnh, một yêu cầu tìm kiếm ví

dụ thực tế… Tuy nhiên, các nhiệm vụ khám phá không phải là một vấn đề quá khó đối

Trang 36

với HS mà HS không thể giải quyết trong giây phút va cũng không quá dễ đến mức HS không cần tư duy, không cần trao đổi với nhau mà vẫn có thể trả lời được

* NVKP phải hấp dẫn và giao thẳng cho HS Cần phân biệt NVKP với các câu hỏi

trong PPDH đàm thoại hoặc những câu hoit thông thường khác mà GV đặt cho HS trả lời chỉ với mục đích làm cho giờ học them sinh động Tính hấp dẫn của nhiệm vị được giao phụ thuộc vào nội dung tình huống, hình thức ra tình huống, nó cuốn hút HS vài hoạt động học tập

* Hoạt động học tập giải quyết NVKP chủ yếu tập trung vào các hoạt động nhóm,

lớp học sinh động một cách thực sự

* Các phuông tiện dạy học hiện đáiẽ tạo cho Gv thiết kế cũng như giao NVKP

trên lớp thêm phong phú

c) Tổ chức giải quyết NVKP

Học nhóm là cách tổ chức dạy học khám phá có hiệu quả Song do hoàn cảnh lớp học do thời gian… không phải lúc nào cũng có thể tổ chức nhóm được Vì vậy có thể trao NVKP cho cả lớp bằng lơi, bằng hình chiếu, hình vẽ trên giấy, bằng một thí nghiệm đơn giản hoặc bằng việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ cho dạy học Khi tổ chức dạy học khám phá cần chú ý tới một số yêu cầu:

* Các NVKP phải được chuẩn bị trong giáo án (nội dung, hình thức giao nhiệm

vụ, thời gian tiêu phí cho nhiệm vụ) không được tự tiện ra NVKP mà không có sự chuẩn

Trang 37

 HS giỏi có thể trả lời ngay, giơ tay xin phát biểu Trong trường hợp này phải nói cho em đó là chúng ta cần sự làm việc tập thể, để cho mọi người trao đổi tìm kiếm

 Có thể cả lớp không giải quyết được NVKP GV cần đưa ra phương án gợi

ý (đã chuẩn bị trước trong giáo án) Nếu thấy có chiều hướng bế tắc thì thông báo lời giải

và giải thích cách tien kiếm kết quả để có thể nhanh chóng tiếp tục tiến độ của bài học

* Chính vì những yêu cầu chặt chẽ của dạy học khám phá như trên nên GV cần chuẩn bị nghiêm túc, cẩn thận giáo án giờ dạy khám phá, nhất là các NVKP cả về nội dung lẫn hình thức cũng như dự kiến trước các tình huống xảy ra khi trao NVKP cho HS

để có phương án giải quyết

* Đa phần các NVKP nằm dưới dạng câu hỏi hoặc mệnh lệnh Có 4 loại câu hỏi:

 Câu hỏi loại phát biểu

 Câu hỏi loại trình bày

 Câu hỏi loại giải thích

 Câu hỏi loại luận chứng Mức độ của câu hỏi loại 1 và 2 không thể dùng làm NVKP được vì yêu cầu của câu trả lời là đơn giản, HS chỉ tái hiện hoặc bắt chước la đủ trả lời Câu hỏi laoij 4 thì quá phức tạp, độ khó cao yêu cầu HS có đầu óc tổng hợp Cho nên có thể chọn câu hỏi laoij giải thích làm NVKP

2.2.3 Phương pháp dạy học hợp tác (dạy học theo nhóm)

Trang 38

b) Sự khác nhau giữa dạy học theo nhóm (hợp tác) và nhóm truyền thống

- Không phải cá nhân nào cũng

chịu trách nhiệm về kết quả chung của

nhóm

- Không dạy kĩ năng hợp tác

- Nhóm trưởng được thầy chỉ

- Mỗi cá nhân chịu trách nhiệm

về kết quả chung của cả nhóm mình

- Có dạy các kĩ năng hợp tác

- Mỗi cá nhân có một nhiệm vụ

- Thầy tổ chức, quan sát, có đánh giá

c) Ưu việt của học theo nhóm hợp tác

 Làm việc hợp tác là phong cách làm việc của thời đại

 Nguyên tắc học bằng hành động

 Sự giúp đỡ lẫn nhau xen kẽ với sự bổ sung những “lỗ hổng” cho nhau

 Mọi HS đều làm việc thực sự và tích cực, đều có cơ hội làm việc như nhau

 Không khí học tập sinh động (thảo luận, thay đổi nhóm…)

 Các kiểu nhóm có tác dụng và ưu việt chung nhưng mỗi kiểu cũng có tác dụng riêng theo ý đồ của GV

 Giảm lượng nói của thầy

Trang 39

Cách chia nhóm: tự chọn, xếp theo vần chữ cái, theo số thứ tự, theo màu sắc phát cho HS ngẫu nhiên…

* Kiểu nhóm ghép 2 lần

 Số thành viên trong nhóm bằng số vấn đề giải quyết cùng lúc

 Mỗi nhóm giải quyết một vấn đề không trùng nhau

 Sau khi giải quyết xong vấn đề, ghép nhóm lần thứ 2, mỗi HS là một “đại sứ” cho nhóm mới, truyền đạt lại những gì mà nhóm cũ đã giải quyết

Bài học sẽ được giải quyết trọn vẹn sau hai lần làm việc:

Lần 1: 11111 22222 33333 44444 55555 66666 Lần 2: 123456 123456 123456 123456 123456 123456 Tác dụng:

+ HS giỏi không chiếm diễn đàn

+ HS kém không ỷ lại

+ Tinh thần trách nhiệm (vai trò mỗi HS thật sự trong nhóm)

+ Rèn luyện lòng tự tin cho HS (khi làm việc ở nhóm sau)

Trang 40

 Có cơ hội hỏi nhiều người (mà không ngại ngùng)

Nội dung làm việc: Tự kiểm tra bảng trả lời câu hỏi (không làm được thì hỏi bạn) để kiểm tra, xác minh kết quả của mình

e) Một số kiểu nội dung bài học có thể tổ chức học hợp tác

* Thảo luận để đánh giá một qui trình làm việc

Kiến thức qui trình thường được cấu trúc thành các bước hoặc các giai đoạn Để

HS theo dõi tốt và tự nhận thức qui trình, có thể ra nhiệm vụ cho các nhóm trao đổi Ví

dụ, để biểu diễn một bài thí nghiệm GV sẽ tuần tự thực hiện 6 bước, GV chuẩn bị trước các bản photo để phát cho các nhóm trước khi làm thí nghiệm và dặn HS cách làm việc nhóm sau khi kết thúc thí nghiệm

* Trao đổi trước giờ học

Một cuộc trao đổi đầu giờ học sẽ tạo cho HS một bầu không khí tâm lí thuận lợi trong suốt giờ học Có nhiều cách mở đầu bài học để có bầu không khí như vậy, song cách này là 1 kiểu làm đặc biệt, với sự tham gia hào hứng của toàn thể HS

 Có thể HS trao đổi bằng sự tái hiện kiến thức cũ để làm cơ sở cho bài mới Cũng như vậy nhưng các nhóm HS đi tìm những ví dụ thực tế trong cuộc sống hằng ngày

mà những ví dụ ấy sẽ là những ứng dụng cho bài học mới

 Có thể cho HS biết chủ đề bài học mới, các nhóm sẽ đón nhận nội dung cụ thể sẽ học hôm nay, đề xuất những yêu cầu mà các em muốn biết có liên quan đến đề tài bài học…

Về hình thức, các nhóm có thể liệt kê theo yêu cầu, vẽ sơ đồ suy nghĩ, vẽ hình

mà các em tưởng tượng Sau đó các ap-phic sẽ được treo lên tường, lưu lại suốt buổi học

để thầy sử dụng hoặc các em sẽ trình bày vào 1 lúc nào đó

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm