Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN VẬT LÝ Tên đề tài: TÌM HIỂU TÍNH LIÊN THÔNG KIẾN THỨC TRONG HỌC PHẦN QUANG HỌC Ở
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN VẬT LÝ
Tên đề tài: TÌM HIỂU TÍNH LIÊN THÔNG KIẾN THỨC TRONG HỌC PHẦN QUANG HỌC Ở TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG – CAO ĐẲNG - ĐẠI HỌC THÔNG QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệpNgành: Sư phạm Vật lý
GV hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ts.GVC Nguyễn Thị Thu Thủy Lê Chí Hiếu
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, chúng tôi đã gặp phải không ít những khó khăn, trở ngại Nhưng qua gần năm tháng thực hiện, được sự giúp đỡ của thầy cô hướng dẫn, bạn bè đến nay đề tài nghiên cứu của chúng tôi đã cơ bản hoàn chỉnh
Được như vậy trước tiên chúng tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong Bộ môn Vật lý, Khoa Sư phạm, trường Đại học Cần Thơ, cùng các bạn sinh viên trong các khối lớp Sư phạm Vật lý, Vật lý – Tin học khóa 30, khóa 31 và khóa 32 đã có những nhận xét, đóng góp ý kiến chân thành để đề tài của chúng tôi được thành công hơn Đặc biệt chúng tôi xin
chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Thu Thủy là người trực tiếp,
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài này
Trong quá tình nghiên cứu và thực hiện đề tài, mặc dù đã
có cố gắng và dù cố gắng đến mấy cũng không thể tránh những sai sót và hạn chế nhất định Chính vì vậy rất mong quý thầy cô cùng các bạn góp ý, nhận xét, bổ sung để đề tài nghiên cứu của chúng tôi được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên thực hiện đề tài
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU Trang
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 2
3 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 2
5 GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 2
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
7 CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
8 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 4
PHẦN II: NỘI DUNG Chương I: GIỚI THIỆU NHỮNG QUI ĐỊNH, VĂN BẢN VỀ YÊU CẦU LIÊN THÔNG KIẾN THỨC TRONG TÌNH HÌNH GIÁO DỤC HIỆN NAY 1.1 Những qui định của Bộ về đào tạo liên thông 5
1.2 Các ưu điểm và nhược điểm của học chế tín chỉ 8
1.2.1 Ưu điểm 8
1.2.2 Các nhược điểm của học chế tín chỉ và cách khắc phục 9
1.3 Hiện trạng áp dụng học chế tín chỉ ở Việt Nam 10
1.3.1 Việc triển khai học chế học phần 10
1.3.2 So sánh các học chế học phần được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở Mỹ 10
1.3.3.Việc triển khai học chế học phần triệt để (học chế tín chỉ) ở một số trường ĐH nước ta 12
1.4 Về phương hướng mở rộng và cải tiến học chế tín chỉ ở nước ta 14
1.5 Về lộ trình chuyển đổi 15
1.6 Phương hướng đổi mới và hoàn thiện nội dung dạy học ĐH 16
1.7 Các phương pháp học tập ở bậc ĐH 17
1.7.1.Tự học ở ĐH 17
1.7.2 Nghiên cứu khoa học 18
1.8 Những thuận lợi, khó khăn trong giảng dạy và học tập học phần quang học 19
1.8.1 Thuận lợi 19
1.8.2 Khó khăn 19
Chương II: PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH QUANG HỌC Ở THPT VÀ CAO ĐẲNG 2.1 Chương trình Quang học ở THPT 20
2.1.1 Đại cương 20
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.2 Một số quan điểm xây dựng chương trình Quang học 21
2.1.3 Cấu trúc nội dung chương trình Quang học ở THPT 22
2.1.3.1 Tổng quan chương trình Quang học ở THPT 22
2.1.3.2 Quang hình học 23
2.1.3.3 Quang học Vật lý 27
2.1.4 Phân tích một số nội dung chính trong chương trình Quang học 30
2.1.4.1 Quang hình học 30
2.1.4.2 Quang học Vật lý 37
2.1.5 Nhận xét chung về chương trình quang học ở THPT 43
2.2 Chương trình Quang học ở trường Cao đẳng Sư phạm Cần thơ 44
Chương III: PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH QUANG HỌC NGÀNH SƯ PHẠM VẬT LÝ, ĐHCT 3.1 Đại cương 46
3.1.1 Quang hình học 46
3.1.2 Quang học Vật lý 46
3.2 Cấu trúc nội dung 47
3.2.1 Tổng quan 47
3.2.1.1 Chương I: Mở đầu 48
3.2.1.2 Chương II: Sự giao thoa ánh sáng 48
3.2.1.3 Chương III: Nhiễu xạ ánh sáng 50
3.2.1.4 Chương IV: Quang hình học 51
3.2.1.5 Chương V: Sự phân cực ánh sáng 53
3.2.1.6 Chương VI: Truyền ánh sáng qua môi trường đẳng hướng 54
3.2.1.7 Chương VII: Bức xạ nhiệt 56
3.2.1.8 Chương VIII: Tính chất lượng tử của ánh sáng 57
3.2.1.9 Chương IX: Hiện tượng quang học phi tuyến 58
3.2.2 Phân tích một số nội dung chính trong chương trình Quang học Ngành Sư phạm Vật lý, ĐHCT 59
3.2.2.1 Tia sáng – Điểm sáng – Nguồn sáng 59
3.2.2.2 Vật thật – vật ảo – ảnh thật – ảnh ảo 60
3.2.2.3 Quang sai của một hệ quang học 60
3.2.2.4 Sự giao thoa ánh sáng 65
3.2.2.5 Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng 66
3.2.2.6 Sự phân cực ánh sáng 70
3.2.2.7 Sự tán sắc ánh sáng 71
3.2.2.8 Bức xạ nhiệt 73
3.3 Nhận xét chung chương trình quang học ở ĐHCT 74
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương IV: NHẬN XÉT TÍNH LIÊN THÔNG KIẾN THỨC GIỮA CHƯƠNG
TRÌNH QUANG HỌC Ở THPT – CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC
4.1 Nhận xét tính liên thông kiến thức giữa chương trình quang học
ở THPT - Ngành Sư phạm Vật lý, ĐHCT 76
4.1.1 Nhận xét tính liên thông kiến thức 76
4.1.1.1 Quang hình học 76
4.1.1.2 Quang học Vật lý 80
4.1.2 Một số đề suất trong giảng dạy học phần quang học ở Ngành Sư phạm Vật lý, ĐHCT 87
4.1.2.1 Khảo sát thực tế 87
4.1.2.2 Một số đề xuất trong việc giảng dạy và học tập học phần Quang học 90
4.2 Nhận xét tính liên thông kiến thức giữa chương trình quang học ở Cao đẳng Sư phạm Cần thơ – Ngành Sư phạm Vật lý, ĐHCT 94
4.2.1 Quang hình học 93
4.2.2 Quang học Vật lý 93
PHẦN III: KẾT LUẬN 1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 95
2 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 98
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đều biết, hầu hết các nước trên thế giới nói chung, và Việt Nam nói riêng đều đặc biệt xem giáo dục là quốc sách Bởi lẻ một đất nước mà trình độ dân trí càng cao thì đất nước đó càng phát triển Các nhà giáo dục đã không ngừng nghiên cứu cải tiến nội dung chương trình giáo dục các cấp học, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, để có thể nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà tri thức và kỹ năng của con người, được coi là yếu tố quyết định cho sự phát triển của xã hội Hiện nay kiến thức khoa học, những thành tựu khoa học - công nghệ mà con người tìm được đang từng ngày, từng giờ tăng lên theo cấp số nhân Vì vậy xã hội đòi hỏi phải có những người tham gia vào ngành giáo dục, tham gia nâng cao trình độ chuyên môn, không những có trình độ cao về chuyên môn,nghiệp vụ mà còn phải năng động sáng tạo Không ngừng cải tiến nội dung phương pháp dạy học, đảm bảo chất lượng giáo dục ngày càng cao Ngoài ra chất lượng học tập cũng phải cải tiến về phương pháp để nắm vững, đáp ứng yêu cầu kiến thức của bậc học
Để giải quyết vấn đề cải tiến nội dung và phương pháp dạy học ở các bậc học, Bộ GD&ĐT đã không ngừng thay đổi chương trình giáo dục từ phổ thông cho đến ĐH Đối với bậc phổ thông, tính đến nay Bộ đã có hơn 3 lần thay đổi chương trình giáo dục Đối với cao Đẳng và ĐH thì Bộ đã không ngừng thay đổi chương trình khung cho các ngành đào tạo Lần gần đây nhất là chủ trương về đào tạo liên thông và thực hiện việc chuyển đổi học chế tín chỉ triệt để
Nhằm thực hiện chủ trương mới của Bộ GD&ĐT, về đào tạo liên thông và thực hiện chuyển đổi học chế tín chỉ triệt để, thì các trường ĐH trong cả nước nói chung và trường ĐHCT nói riêng, đã khẩn trương xây dựng chương trình đào tạo mới cho tất cả các ngành nghề của trường Tại Bộ môn Vật lý của Khoa Sư phạm Trường ĐHCT, cũng đang xây dựng chương trình đào tạo mới cho ngành Sư phạm Vật lý, Sư phạm Vật lý –Tin học Ngoài ra bộ môn cũng đang xây dựng chương trình chuẩn, đào tạo liên thông từ cao Đẳng lên ĐH đối với ngành Sư phạm Vật lý Trong khung chương trình đào tạo đó,thì học phần Quang học là một học phần không thể thiếu Do vậy, việc nghiên cứu để tìm ra một chương trình Quang học phù hợp, đảm bảo tính liên thông kiến thức giữa các bậc học và phù hợp với qui chế mới của Bộ là vấn đề cấp thiết hiện nay
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Để góp phần làm rõ hơn tính liên thông kiến thức Quang học ở các bậc học THPT
– Cao đẳng – ĐH chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu tính liên thông kiến thức
trong Học phần Quang học ở Trung học Phổ thông – Cao Đẳng - Đại học thông qua các chương trình học tại Thành phố Cần Thơ ” để làm luận văn tốt nghiệp.
2 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ tìm hiểu vấn đề liên thông kiến thức trong giảng dạy học phần Quang học ở ba cấp học: THPT – Cao đẳng – ĐH tại thành phố Cần Thơ Cụ thể chỉ nghiên cứu chương trình Quang học ở THPT, chương trình Quang học của Trường Cao Đẳng
Sư phạm Cần Thơ và chương trình Quang học Ngành Sư phạm Vật lý, ĐHCT
3 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Tìm hiểu chương trình giảng dạy học phần Quang học ở THPT– Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ – Ngành Sư phạm Vật lý, ĐHCT Từ đó biết được thực trạng vấn đề liên thông kiến thức ở các bậc đào tạo tại thành phố Cần Thơ
Bước đầu đề xuất giải pháp hiệu chỉnh, cải tiến nội dung chương trình dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với chủ trương mới của Bộ GD&ĐT về áp dụng và thực hiện các phương án chuyển đổi học chế tín chỉ triệt để
Đề xuất một số phương pháp dạy học học phần Quang học ngành sư phạm Vật lý, ĐHCT nhằm giúp sinh viên tiếp thu học phần này một cách hiệu quả hơn
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
- Đối với học phần Quang học, thì ở THPT HS được học theo chương trình SGK
do Bộ GD&ĐT ban hành, ở bậc Cao đẳng và ĐH thì các trường tự biên soạn chương trình giảng dạy học phần này, dựa trên chương trình khung - chương trình Quang học do
Bộ GD&ĐT qui định Vấn đề đặt ra ở đây là các chương trình Quang học, ở các bậc học trên có đảm bảo tính liên thông kiến thức hay không? Tại đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tại thành phố Cần Thơ nói riêng, cũng có nhiều tài liệu về các chương trình giảng dạy liên thông giữa các bậc học ở học phần Quang học Song những nghiên cứu
cụ thể, về vấn đề liên thông kiến thức trong giảng dạy học phần này, ở các bậc học hầu như chưa có tài liệu nào cụ thể
5 GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nắm được các chủ trương, chính sách của Bộ GD&ĐT về đào tạo liên thông và thực hiện chuyển đổi học chế tín chỉ triệt để
Tìm hiểu và nắm được nội dung chương trình Quang học ở THPT– Cao đẳng Sư phạm Cần Thơ – Ngành Sư phạm Vật lý ĐHCT
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tìm hiểu các chương trình khung – chương trình Quang học ở các bậc học trên
do Bộ GD&ĐT qui định
Các biện pháp giúp đảm bảo tính liên thông giữa các kiến thức trong nội dung chương trình các bậc học
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu lý thuyết là chủ yếu
Thống kê một số ý kiến sinh viên từ bảng câu hỏi
- Đối tượng nghiên cứu:
Chương trình Quang học ở các bậc học tại các trường đã chọn trong vùng nghiên cứu
Các chương trình khung – chương trình Quang học ở các bậc học do Bộ GD&ĐT qui định
Các chủ trương, chính sách, qui định của Bộ GD&ĐT về đào tạo liên thông
và thực hiện chuyển đổi học chế tín chỉ triệt để
Các tài liệu liên quan đến khoa học giáo dục như: Giáo dục học, Lý luận dạy học, Lý luận dạy học Vật lý,…
7 CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đề tài được thực hiện trong thời gian 8 tháng, từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 5 năm 2008 và qua các bước sau:
Bước 1: Nhận đề tài và xác định rõ mục tiêu của đề tài
Bước 2: Tìm và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
Bước 4: Tiến hành viết bản thảo đề tài và trao đổi với giáo viên hướng dẫn
Bước 5: Viết đề tài và báo cáo luận văn
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
8 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương I: GIỚI THIỆU NHỮNG QUI ĐỊNH, VĂN BẢN VỀ YÊU CẦU LIÊN THÔNG KIẾN THỨC TRONG TÌNH HÌNH GIÁO DỤC HIỆN NAY
1.1 Những qui định của Bộ về đào tạo liên thông [19]
Điều 1 Khái niệm và mục đích
1 Đào tạo liên thông (ĐTLT) là quá trình đào tạo cho phép công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, rèn luyện của người học từ một trình độ này một số trình độ khác
hoặc trong các ngành khác nhau của cùng một trình độ thuộc hệ thống GD&ĐT
2 Qui định về ĐTLT nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và ĐH xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo và
công nhận kết quả học tập, tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của người học để quá trình
đào tạo liên thông diễn ra thông suốt với chất lượng và hiệu quả cao
Điều 2 Phạm vi điều chỉnh
Qui định này áp dụng cho những trường được Bộ GD&ĐT cho phép thí điểm đào tạo liên thông
Điều 3 Đối tượng được đào tạo liên thông
1 Những người đã tốt nghiệp hệ chính quy các trường Dạy nghề (DN), Trung học chuyên nghiệp (THCN) và Cao đẳng (CĐ) có nhu cầu học tập nâng cao
2 Những người đã tốt nghiệp những khoá đào tạo chính qui nước ngoài với trình
độ tương đương DN, THCN, CĐ của Việt Nam và phải được Bộ GD&ĐT thừa nhận
Điều 4 Nguyên tắc chung và điều kiện thực hiện đào tạo liên thông
1 Các trường được phép tổ chức ĐTLT phải thoả mãn điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo
2 Chương trình đào tạo phải được xây dựng theo những nguyên tắc sau:
- Chương trình đào tạo được thiết kế theo nguyên tắc mềm và phát triển theo hướng kế thừa và tích hợp để giảm tối đa thời gian học lại kiến thức và kỹ năng mà
người học đã tích luỹ ở các trình độ khác
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Chương trình đào tạo phải phản ánh đúng mục tiêu đào tạo, yêu cầu học tập, nội dung, phương pháp dạy và học, thời gian đào tạo, kế hoạch thực hiện và phương pháp đánh giá theo trình độ và theo ngành đào tạo tương ứng
- Chương trình đào tạo được thiết kế phải phù hợp với điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo
-Ở giai đoạn thí điểm, chương trình đào tạo được ghi trong thoả thuận ĐTLT phải trình lên Bộ GD&ĐT để phê duyệt
3 Các thủ tục tuyển chọn và tổ chức đào tạo phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, dân chủ và công khai, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người
4 Ngành nghề ĐTLT và chỉ tiêu đào tạo được Bộ GD&ĐT phê duyệt hàng năm trên cơ sở nhu cầu nhân lực của từng ngành kinh tế và của địa phương cũng như điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường
5 Danh mục ngành ĐTLT dọc phải đảm bảo tính nhất quán về tên gọi, nội dung chương trình và thuộc danh mục ngành đào tạo đã được Nhà nước ban hành
Điều 10 Công nhận kết quả học tập của người học giữa hai trường thoả thuận
đào tạo liên thông
1 Việc thừa nhận kết quả học tập của người học trong hệ thống giáo dục quốc dân phải căn cứ vào sự tương đương về nội dung đào tạo, yêu cầu học tập, thời gian đào tạo và thực tế thi kiểm tra tại thời điểm đào tạo
2 Việc công nhận văn bằng chứng chỉ đào tạo của những người tốt nghiệp từ nước ngoài về để được vào học trong các trường CĐ và ĐH tại Việt Nam phải căn cứ vào sự tương đương nội dung chương trình đào tạo, kết quả học tập, thời gian đào tạo và thực tế thi kiểm tra đánh giá Tên gọi bằng cấp và bảng điểm được dịch thuật từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, phải công chứng tại Việt Nam hoặc phải trình bản gốc của văn bằng cho cơ sở đào tạo khi có yêu cầu
3 Tuỳ theo qui trình đào tạo tại mỗi trường, người học có thể được công nhận kết quả học tập theo tín chỉ, học phần, chương trình môn học và kết quả toàn khoá học để được miễn trừ
4 Nếu một trường từ chối công nhận kết quả học tập của một thí sinh đã tốt nghiệp ở một trường khác thì phải trả lời bằng văn bản, trong đó nêu rõ những lý do để
từ chối Thời gian trả lời cho đương sự trong vòng một tháng kể từ ngày ký nhận được yêu cầu
Điều 12 Tổ chức các khoá đào tạo liên thông thí điểm
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1 Thời gian đào tạo được xác định trên cơ sở nội dung đào tạo, phương pháp tổ chức đào tạo, điều kiện giảng dạy và thực hành để đảm bảo đạt được mục tiêu đào tạo ( theo chuẩn trình độ) Thời gian ĐTLT từ trình độ THCN đến trình độ cao đẳng không dưới một năm 6 tháng và không quá hai năm Thời gian ĐTLT từ trình độ cao đẳng đến trình độ ĐH không dưới một năm sáu tháng và không quá hai năm
2 Các môn học tiên quyết do các trường tự quy định dựa theo chương trình đào tạo được phê duyệt
3 Trong trường hợp cần phải tổ chức các kháo học bổ sung kiến thức cho những người đã trúng tuyển để có thể theo học được ở trình độ cao hơn, nhà trường phải tổ chức các khoá học này trước khi bắt đầu tiến hành ĐTLT Thời gian đào tạo các khoá bổ sung kiến thức không vượt quá 2 tháng và không tính vào thời gian ĐTLT qui định tại khoản 1 điều này
4 Tổ chức ĐTLT thí điểm phải theo hình thức đào tạo tập trung chính qui
Điều 13 Quản lý đào tạo liên thông
1 Vụ ĐH và Vụ Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề có trách nhiệm quản lý chương trình ĐTLT, hướng dẫn giúp các trường phát triển chương trình đào tạo và giám sát việc thực hiện các qui định
2 Mỗi trường phân công một bộ phận với các chức năng tổ chức liên kết, xây dựng chương trình, xác định các khoá ĐTLT, tư vấn hướng dẫn người học, giám sát, đánh giá và báo cáo quá trình thực hiện
Điều 17 Trách nhiệm của người học
1 Người học muốn tham dự thi tuyển vào học trong các chương trình ĐTLT cần phải điền vào một bản đăng ký dự thi và nộp đủ hồ sơ, lệ phí theo yêu cầu Trong trường hợp cần thiết, người học phải xuất trình bản chính của chứng chỉ hoặc văn bằng đã được cấp
2 Người học phải tham dự một kỳ thi tuyển với một môn chuyên môn và một môn cơ sở
3 Khi được tuyển vào học, người học phải đóng học phí theo qui định chung của Nhà nước
4 Người học phải tuân thủ mọi qui chế đào tạo khác
Điều 18 Quyền của người học
1 Người học được tuyển chọn theo nguyên tắc:
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Người tốt nghiệp đạt loại giỏi sẽ được tham gia dự tuyển ngay sau khi tốt nghiệp Kết quả thi tuyển sẽ được cộng thêm từ 1-2 điểm do Hiệu trưởng quyết định điểm cộng này; người tốt nghiệp loại khá sẽ được tham gia dự tuyển ngay sau khi tốt nghiệp; người tốt nghiệp loại trung bình phải có kinh nghiệm làm việc gắn với chuyên môn được đào tạo từ 2 năm trở lên mới được thi tuyển
Người học thuộc diện chính sách, khi thi tuyển được ưu tiên theo các Qui chế tuyển sinh hiện hành do Bộ GD&ĐT ban hành
2 Người học phải được cung cấp thông tin trước lúc bắt đầu khoá học của họ tại trường chuyển đi về những khoá học tương thích, điều kiện tiên quyết, hình thức thi kiểm tra, và những yêu cầu khác mà trường chuyển đến sẽ dựa trên đó để tuyển chọn
3 Người học có quyền yêu cầu cơ sở giáo dục đào tạo cung cấp các điều kiện giáo dục với chất lượng như đã thông báo
Điều 20 Công nhận tốt nghiệp
1 Việc công nhận tốt nghiệp tuân theo Qui chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi
và công nhận tốt nghiệp ĐH và CĐ hệ chính qui ban hành tại Quyết định số 04/1999/QĐ-Bộ GD&ĐT ngày 11-02-1999 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
2 Người học trước đây đã tốt nghiệp loại hình đào tạo chính quy thì trên văn bằng tốt nghiệp các khoá ĐTLT sẽ được ghi nguyên loại hình đào tạo chính quy Trong ĐTLT, không được phép chuyển đổi tên gọi loại văn bằng từ hệ đào tạo không chính quy thành hệ đào tạo chính quy
1.2 Các ưu điểm và nhược điểm của học chế tín chỉ [21]
1.2.1 Ưu điểm
Học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi nhờ có nhiều ưu điểm Có thể tóm tắt các ưu điểm chính của nó như sau:
+Có hiệu quả đào tạo cao.
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích lũy kiến thức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, sinh viên được chủ động thiết
kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường ĐH trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo ĐH và giữa các ngành đào tạo khác nhau
Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích lũy được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học ĐH một cách thuận lợi
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao.
Với học chế tính chỉ, sinh viên có thể chủ động ghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những qui định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu Với học chế tín chỉ, các trường ĐH có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường ĐH một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước
+Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo
Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế
Nếu triển khai học chế tín chỉ, các trường ĐH lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lắp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học Kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường ĐH tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho một tín chỉ tương đương, thì
sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng ĐH Ở Mỹ trên một nghìn trường ĐH chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích lũy được ngoài nhà trường
1.2.2 Các nhược điểm của học chế tín chỉ và cách khắc phục
Người ta thường nhắc đến 2 nhược điểm quan trọng sau đây của học chế tín chỉ:
+ Cắt vụn kiến thức:
Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được qui định tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc
4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự có đầu, có đuôi, theo một qui trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự
là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các môđun quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để sinh viên có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học
+Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên:
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Vì các lớp học theo môđun không ổn định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên có thể gặp nhiều khó khăn Chính vì nhược điểm này mà có người nói học chế tín chỉ "khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng" Khó khăn này là một nhược điểm thật sự của học chế tín chỉ, tuy nhiên người ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp khóa học trong năm thứ nhất, khi sinh viên phải học chung phần lớn các môđun kiến thức, và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khóa biểu để sinh viên có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoànthể chung
1.3 Hiện trạng áp dụng học chế tín chỉ ở Việt Nam [21]
1.3.1 Việc triển khai học chế học phần
Cùng với học chế học phần, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định 2677/ GD&ĐT ngày 3/12/1993 ban hành khung chương trình đào tạo, trong đó qui định khối lượng kiến thức tối thiểu và phân bố các thành phần kiến thức cho các văn bằng ĐH Cũng trong văn bản nêu trên có đưa ra định lượng cho đơn vị học trình cơ bản (=15 tiết giảng lý thuyết hoặc thảo luận = 30 đến 45 giờ thực hành thí nghiệm = 45 đến 90 giờ thực tập tại cơ sở = 45 đến 80 giờ chuẩn bị tiểu luận hoặc luận văn) Theo qui định đó một chương trình dẫn đến bằng cử nhân 4 năm phải có khối lượng 210 đơn vị học trình
Để đảm bảo sự thống nhất chung của qui trình đào tạo trong toàn bộ hệ thống GDĐH, Bộ GD& ĐT ban hành các qui chế khung về đánh giá kết quả học tập, xét lên lớp, tốt nghiệp, để căn cứ vào đó từng trường ĐH, cao đẳng xây dựng qui chế đánh giá kết quả học tập riêng của mình Do sự vận dụng khác nhau tùy theo điều kiện và trình độ của từng trường, học chế học phần được thực hiện ở mỗi trường có các sắc thái khác nhau: mức độ khác nhau về việc cung cấp trước cho sinh viên thông tin về chương trình đào tạo, mức độ có sẵn các học phần để lựa chọn ở các trường, để học thêm các ngành đào tạo chính, ngành đào tạo phụ hoặc văn bằng thứ hai
1.3.2 So sánh các học chế học phần được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở Mỹ
Để hiểu rõ học chế học phần hiện nay ở Việt Nam và học chế tín chỉ ở ngay tại Mỹ, chiếc nôi của học chế học phần, dưới đây sẽ nêu những điểm giống nhau và khác nhau
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
-Việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện nhờ điểm trung bình chung với trọng số là số lượng tín chỉ của các môđun
+ Khác nhau
- Các môđun kiến thức trong học chế tín chỉ của các trường ĐH Mỹ được thiết kế theo trình độ năm học của sinh viên, tạo thuận lợi cho lựa chọn và lắp ghép, và nói chung mỗi môđun bao gồm 3 hoặc 4 tín chỉ, các học phần trong các chương trình học ở các trường ĐH nước ta đôi khi được thiết kế theo kiểu chia cắt cơ giới, có một số học phần quá dài (hơn 4 đơn vị học trình) hoặc quá ngắn (1 đến 2 đơn vị học trình)
- Đối với các chương trình đào tạo của Mỹ có nhiều môđun khác nhau được đưa
ra để sinh viên lựa chọn nên mức độ tự do lựa chọn cao hơn; trong các chương trình đào tạo của các trường ĐH của nước ta thường có rất ít môđun để lựa chọn
- Lớp học theo học chế tín chỉ ở Mỹ thường được sắp xếp theo môđun, còn lớp học trong học chế học phần ở Việt Nam vẫn sắp xếp theo khóa học
- Tín chỉ ở Mỹ được qui định theo số giờ học mỗi tuần kéo dài trong một học kỳ, tùy theo học kỳ ngắn hay dài mà tín chỉ lớn hay nhỏ (ví dụ semester credit bằng cỡ 1,5 quater credit vì semester kéo dài khoảng 15 tuần, quater kéo dài khoảng 10 tuần); Đơn
vị học trình của nước ta được qui định bằng tổng số 15 tiết học lý thuyết ở lớp mà không nói rõ số giờ học trong tuần
- Trong học chế tín chỉ ở Mỹ có qui định số giờ lao động học tập tối thiểu cần thiết của sinh viên cho một giờ lên lớp (thường là 2/1) Để đảm bảo qui định này thực sự được thực hiện, ở các trường ĐH Mỹ phương pháp dạy và học đảm bảo tính chủ động tích cực của sinh viên được áp dụng rộng rãi, đều kiện vật chất để áp dụng phương pháp dạy và học đó cũng được đảm bảo đầy đủ (tài liệu học tập, thư viện, phòng thí nghiệm cần cho sinh viên làm việc ) Việc qui định khối lượng tài liệu học tập và tham khảo
mà sinh viên phải đọc đối với một môđun và cách ra đề thi cho môđun đó dựa vào yêu cầu của môn học và khối lượng tài liệu qui định (chứ không phải dựa vào những điều
mà giáo viên trình bày ở lớp) Việc ra đề như thế cho phép việc kiểm tra khả năng tự học ngoài giờ cảu mỗi sinh viên Ở Việt Nam chưa có qui định nói trên đối với học chế học phần và cũng chưa đủ các điều kiện để thực hiện qui định như vậy Vì khối lượng lên lớp mỗi tuần khá lớn (thường là 30 tiết/tuần) nên ở Việt Nam thực chất thời gian chuẩn
bị của sinh viên cho mỗi tiết học ở lớp thường không quá 1/1 Như vậy, tính theo khối lượng lao động học tập của sinh viên 1 tín chỉ của Mỹ bằng 1.5 đơn vị học trình của nước ta
- Ở các trường ĐH Mỹ, việc cung cấp thông tin về chương trình và lịch trình giảng dạy, thi, kiểm tra cho sinh viên rất đầy đủ, đặc biệt thể hiện ở niên lịch giảng dạy
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
được công bố chính thức trước mỗi năm học Thời gian biểu học và thi đã công bố được thực hiện nghiêm chỉnh Ở Việt Nam khi thực hiện học chế học phần điều này nói chung chưa được nhiều trường thực hiện
Như vậy, qua các so sánh nêu trên, có thể thấy rõ học chế học phần ở Việt Nam cũng có bản chất như học chế tín chỉ của Mỹ, đó là tích lũy dần kiến thức được môđun hóa Nói cách khác, học chế học phần ở nước ta đã chứa một số yếu tố của học chế tín chỉ ở Mỹ Tuy nhiên tính mềm dẻo của học chế học phần ở nước ta chưa cao như học chế tín chỉ ở Mỹ, nói cách khác chúng ta chưa tận dụng triệt để các ý tưởng làm mềm dẻo qui trình đào tạo như học chế tín chỉ của Mỹ
1.3.3.Việc triển khai học chế học phần triệt để (học chế tín chỉ) ở một số trường ĐH nước ta
Như đã phân tích ở trên, căn cứ vào qui chế đào tạo đã ban hành và việc thực hiện học chế học phần, có thể thấy học chế học phần ở nước ta chưa đạt được độ mềm dẻo, vì nó chưa thể hiện các ý tưởng của học chế tín chỉ một cách triệt để Bởi vậy học chế học phần chỉ có thể xem như một bước đệm trong quá trình chuyển từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ Bước đệm này là cần thiết khi điều kiện vật chất và trình độ đội ngũ giáo chức chưa hội đủ để thực hiện học chế tín chỉ thực sự
Từ niên khóa 1993-1994 Bộ GD& ĐT khuyến khích các trường ĐH cải tiến học chế học phần để học chế học phần triệt để hơn, hoặc nói cách khác là áp dụng học chế tín chỉ kiểu Mỹ cho qui trình đào tạo ĐH ở nước ta
Nơi đầu tiên thực hiện quá trình chuyển đổi này là các trường ĐH Đà Lạt, Cần Thơ, Thủy Sản Nha Trang (niên khóa 1994-1995), một khoa của trường ĐH Xây dựng
Hà Nội, trường ĐH dân lập Thăng Long Cần lưu ý là việc chuyển từ học chế học phần sang học chế tín chỉ thực chất là cải tiến và tăng sự mềm dẻo của học chế học phần hiện
có, do đó đây là một quá trình liên tục, không phải đột biến Cũng không phải hễ sử dụng thuật ngữ tín chỉ thay cho đơn vị học trình để đo lường khối lượng lao động học tập thì được gọi là áp dụng học chế tín chỉ Một ví dụ về hiện tượng này là trường hợp
ĐH mở Bán công Tp.HCM: trong "Sổ tay sinh viên năm 2003" có ghi là nhà trường áp dụng học chế tín chỉ nhưng trong "Sổ tay sinh viên 2004" lại tuyên bố là áp dụng học chế niên chế kết hợp với học phần
+ Hiện trạng áp dụng học chế tín chỉ ở nước ta
- Về đơn vị đo lường
Tuy tất cả các trường nói trên đều gọi đơn vị đo lường khối lượng lao động học tập của sinh viên là tín chỉ, nhưng định mức của đơn vị không thống nhất Các trường ĐHCT, ĐHKHTN thuộc ĐH Quốc Gia Tp.HCM định nghĩa tín chỉ giống như định
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nghĩa đơn vị học trình trong Quyết định 2677/GD&ĐT của Bộ GD&ĐT, và cũng qui định văn bằng cử nhân ứng với khối lượng học tập là 210 tín chỉ Riêng ĐHBK Tp.HCM định nghĩa tín chỉ giống như định nghĩa của hệ thống tín chỉ của Mỹ, và qui định văn bằng kỹ sư thiết kế cho 4,5 năm ứng với khối lượng 155 tín chỉ Các trường nói trên đều có tổ chức thêm học kỳ hè 7 đến 8 tuần ĐH Dân lập Thăng Long thiết kế học chế tín chỉ theo môn học tương tự như các niên lịch giảng dạy ở các trường ĐH của Mỹ
-Về cách thiết kế các học phần.
Mỗi học phần được thiết kế có từ 1 đến 6 tín chỉ ở ĐH KHTN thuộc ĐHQG Tp.HCM, thậm chí có học phần chứa số bán nguyên 1,5 tín chỉ từ 1 đến 4 tín chỉ tại ĐHBK thuộc ĐHQG Tp.HCM, tại đây có một số trường hợp số giờ lên lớp hàng tuần nhiều hơn số tín chỉ Như vậy là ngay trong một ĐHQG cách định nghĩa tín chỉ và cách thiết kế môn học cũng không giống nhau
- Về điều kiện dạy và học, phương pháp dạy và học
ĐHBK Tp.HCM là nơi đảm bảo tài liệu học tập tương đối tốt: mỗi môn học được qui định phải có ít nhất 1 tài liệu tiếng Việt, 1 tài liệu Tiếng Anh và một tài liệu tham khảo khác Ở các trường khác việc đảm bảo tài liệu có yếu hơn Điều kiện giảng dạy, ĐHBK Tp.HCM trang bị máy chiếu lắp ở mọi phòng học và máy chiếu đa phương tiện cho 17 giảng đường, các trường khác cũng có nhiều cố gắng về phương diện này Tuy nhiên, phương pháp dạy và học mới nhằm dạy cách học, đảm bảo tính chủ động của sinh viên và tận dụng công nghệ mới được sử dụng chỉ ở một bộ phận giáo chức và học phần, chưa trở thành phổ biến trong các trường áp dụng học chế tín chỉ Vì vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học chủ yếu không phải ở phương tiện, trang bị mà là ở con người
- Về tổ chức thu học phí
Học phí được thu theo số lượng học phần mà sinh viên đăng ký, giá mỗi học phần được tính tùy theo số giờ lý thuyết, bài tập, thực tập, ĐHBK Tp.HCM qui đổi ra tín chỉ học phí đối với mỗi học phần để định giá học phần ĐHCT có sáng kiến hợp đồng với ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn để Ngân hàng giúp thu học phí và chuyển về tài khoản nhà trường, sáng kiến này tăng tính chuyên môn hóa và đảm bảo sự trong sáng của khâu thu phí
- Về các tổ chức sinh hoạt tập thể trong cộng đồng sinh viên
Đây là vấn đề nhiều người quan tâm, vì nó liên quan đến một nhược điểm của học chế tín chỉ Các trường áp dụng học chế tín chỉ đều tổ chức hai loại lớp học: lớp khóa học gồm các sinh viên đăng ký vào học cùng ngành đào tạo ở năm đầu tiên, lớp học phần gồm các sinh viên cùng học một học phần Lớp khóa học giữ cố định trong cả
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khóa học, nơi thông báo các thông tin về học tập và tổ chức các sinh hoạt học tập liên quan đến học phần Để đảm bảo các sinh hoạt của lớp khóa học đều tổ chức vào thứ 7 và chủ nhật ĐHBK Tp.HCM tổ chức tốt các hoạt động "mùa hè xanh", vận động quyên góp ximăng xây hàng trăm "cầu Bách Khoa" cho các vùng nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long Các sinh hoạt theo chủ đề tỏ ra hấp dẫn hoặc tổ chức đi phỏng vấn người nước ngoài ở các cơ sở du lịch để về trình bày lại trong các hội thảo nhằm tăng cường năng lực ngoại ngữ Đối với các lớp học phần, do sức ép của khối lượng học tập lớn nên sinh viên cũng tự động tổ chức các hình thức trao đổi học tập theo nhóm để hỗ trợ nhau trong việc chuẩn bị bài tập Nói chung tuy việc tổ chức lớp theo khóa học hoàn toàn cố định bị phá vỡ, "lớp khóa học" tương đối ổn định trong một vài năm đầu vẫn được duy trì để tổ chức mọi sinh hoạt đoàn thể của sinh viên, kết hợp với các "lớp học phần" tạm thời Hơn nữa, với sự sáng tạo của sinh viên trong hoàn cảnh mới, với sức ép mạnh mẽ của khối lượng học tập đòi hỏi tính chủ động cao của sinh viên, nhược điểm liên quan của học chế tín chỉ có thể được khắc phục tốt Thành tích hoạt động sinh viên và Đoàn TNCS của ĐHBK Tp.HCM trong phong trào sinh viên Tp.HCM chứng tỏ điều đó
Qua việc triển khai học chế tín chỉ ở một số trường ĐH nước ta, có thể thấy rõ học chế tín chỉ mang lại nhiều lợi ích trong công tác giáo dục đào tạo ở trường ĐH: nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong hoạt động học tập, đặc biệt nó tạo một tác phong công nghiệp đối với mọi hoạt động của nhà trường, kể cả trong sinh viên và trong giáo chức, vì mọi hoạt động đào tạo trong trường phải được khớp nối đúng thời gian và địa điểm Với học chế tín chỉ việc hỗ trợ sinh viên thuộc diện chính sách hoặc diện học yếu phải kéo dài thời gian học tập thuận lợi hơn nhiều so với kiểu học theo niên chế Tuy nhiên, việc triển khai học chế tín chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn về phía những người trực tiếp thực hiện: trước hết, đối với sinh viên, những người đã được "chăn dắt" từ trường phổ thông khi bước vào trường ĐH hết sức ngỡ ngàng về mọi mặt, học chế tín chỉ tạo nên bước chuyển khá đột ngột, họ phải mất một thời gian để làm quen Đối với giáo chức, khó khăn lớn nhất là tình trạng quá tải hiện nay của hoạt động giảng dạy ở tất
cả mọi trường ĐH làm họ không còn đủ thời gian đầu tư vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và các hoạt động khác mà học chế tín chỉ đòi hỏi Hơn nữa, học chế tín chỉ làm cho mức độ tự do của giáo chức giảm nhiều vì họ phải được gắn với các giờ học và lớp học xác định phân bố trong suốt cả học kỳ, rất khó bố trí tập trung thời gian cho các hoạt động khác ở ngoài trường Từ đó cần có những vận động để hoạt hóa sinh viên và nâng cao trách nhiệm của giáo chức thì việc triển khai học chế tín chỉ mới thuận lợi
1.4 Về phương hướng mở rộng và cải tiến học chế tín chỉ ở nước ta [21]
Chủ trương về việc mở rộng và cải tiến học chế tín chỉ ở nước ta Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống GDĐH nước ta và hội nhập với GDĐH thế giới, trong mấy năm gần đây Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GDĐH nước ta Trong "Qui hoạch mạng lưới trường ĐH, cao đẳng giai đoạn 2010" được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ-TTg có nêu: các trường cần "thực hiện qui trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức qui trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ" Trong "Báo cáo về tình hình giáo dục" của Chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn:
2001-"Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường ĐH, cao đẳng, trung học
và dạy nghề ngay từ năm học 2005-2006, phấn đấu để đến năm 2010 hầu hết các trường
ĐH, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này Như vậy để thực hiện được các chủ trương của Nhà nước về mở rộng học chế tín chỉ, cần khẩn trương xây dựng một
lộ trình chuyển đổi từ học chế học phần hiện nay sang học chế tín chỉ trong toàn hệ thống GDĐH
b Chuẩn bị đầy đủ các văn bản khung cho toàn bộ hệ thống về học chế tín chỉ Điều chỉnh những qui định trong các văn bản đã có trái với bản chất của học chế tín chỉ
Tổ chức tập huấn cho giáo chức và cán bộ quản lý các trường ĐH về học chế tín chỉ
c Các trường tổ chức thiết kế lại hoặc rà soát lại chương trình đào tạo các ngành học, phân chia và xây dựng lại chương trình chi tiết các học phần theo tinh thần học chế tín chỉ và kiến thức cập nhật, hiện đại Bộ điều phối xây dựng chương trình mẫu của một
số học phần thuộc khu vực giáo dục đại cương để các trường tham khảo nhằm tăng mức
độ thống nhất tạo cơ hội để chuyển tiếp tín chỉ Các khối ngành đào tạo triển khai áp dụng thành quả của quá trình xây dựng chương trình khung vừa qua
d Bộ và các trường tìm biện pháp tăng số lượng đội ngũ giáo chức để giảm một cách đáng kể tải trọng giảng dạy, đồng thời tạo cơ chế nâng cao thu nhập của giáo chức, xem đây là khâu quan trọng nhất để triển khai thành công việc chuyển đổi sang học chế tín chỉ
e Triển khai một cuộc vận động đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập trong hệ thống GDĐH
f Chuẩn bị nghiệp vụ cho đội ngũ cố vấn học tập Nghiên cứu các hình thức thích hợp cho việc tổ chức và hoạt động của các đoàn thể sinh viên
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
g Xây dựng các công cụ phổ biến cho sinh viên về chương trình và qui trình học tập, phục vụ học chế tín chỉ, đặc biệt là niên lịch giảng dạy
h Xây dựng hệ thống tài liệu học tập cho mọi học phần bằng cách: (1) qua mạng liên kết thư viện thông báo các tài liệu liên quan đến học phần đã có trong các trường ĐH; (2) Tổ chức liên kết các trường ĐH khai thác các nguồn tư liệu mở trên mạng (tổ chức biên dịch, phổ biến); (3)Tổ chức phối hợp biên soạn các tài liệu phục vụ các học phần không đủ tài liệu
i Dựa vào các trung tâm học liệu nòng cốt và các trường ĐH mạnh xây dựng các
bộ công cụ phục vụ giảng dạy và đánh giá học phần, trước hết là các học phần giáo dục đại cương, các học phần các môn cơ sở cho nhóm ngành Tổ chức trao đổi và chuyển giao các công cụ này
k Liên kết xây dựng và phổ biến, chuyển giao các công nghệ điều hành đào tạo theo học chế tín chỉ: các phần mềm quản lý đào tạo, các công cụ chuyên dụng để đăng
ký học phần, các phần mềm tiếp cận trực tuyến
l Với sự khuyến khích và điều phối của Bộ, các trường có khả năng có nhiều sinh viên chuyển đổi tổ chức trao đổi ký kết công nhận lẫn nhau về học phần tín chỉ, đặc biệt là các trường cao đẳng cộng đồng và các trường ĐH có chuyên ngành liên quan
m Quan hệ với các trường ĐH và các tổ chức điều phối GDĐH trong khu vực và trên thế giới để thỏa thuận về việc công nhận văn bằng và tín chỉ của nhau
1.6 Phương hướng đổi mới và hoàn thiện nội dung dạy học ĐH
Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo các cử nhân khoa học tương lai, tùy theo yêu cầu của các trường ĐH, các chuyên ngành khoa học, nội dung dạy học cần được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn của các lĩnh vực khoa học nhất định Tuy nhiên với xu hướng phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ và thời đại, nội dung dạy học ở ĐH phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện theo các hướng cơ bản sau:
+ Nội dung dạy học ở ĐH phải phù hợp với mục tiêu giáo dục đào tạo nói chung,
các nhiệm vụ dạy học ở ĐH nói riêng.
Với mục tiêu đào tạo có chất lượng và hiệu quả cao các cử nhân khoa học, nội dung dạy học ở ĐH phải phản ánh đậm nét những tri thức khoa học cơ sở và tri thức khoa học chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học chuyên nghành Trên cơ sở những tri thức đã có phải rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng phương pháp luận và các phương pháp tự học, tự nghiên cứu khoa học cho sinh viên Nội dung học vấn phải đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, đảm bảo logic khoa học chặt chẽ cũng như sự cân đối giữa các môn học, giữa lý thuyết và thực hành, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục…
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Phải hiện đại hóa nội dung dạy học ở ĐH
Một trong những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay là cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật – công nghệ phát triển như vũ bão với sự bùng nổ thông tin và sự lão hóa tri thức đang diễn ra ở mọi lĩnh vực khoa học và đời sống xã hội Thực tiễn đó đòi hỏi phải không ngừng phản ánh những thành tựu mới nhất về các lĩnh vực khoa học vào nội dung chương trình dạy học ở ĐH Đó là yêu cầu cấp bách trong giáo dục – đào tạo ĐHnhằm tiến tới cập nhật hóa, quốc tế hóa, từng bước làm cho giáo dục ĐH nước ta ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
+ Tăng cường tính tư tưởng và tính nhân văn trong nội dung dạy học ở ĐH
Để đào tạo các cử nhân khoa học có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kì công nghiệp, hiện đại hóa đất nước, cùng với việc trang bị nội dung học vấn, nội dung dạy học ĐH phải mang tính chất giáo dục tư tưởng đạo đức, giáo dục
ý thức công dân, giáo dục lòng nhân ái, sự khoan dung và ý thức trách nhiệm với cộng đồng… Tính tư tưởng và tính nhân văn phải được lồng ghép, được phản ánh đậm nét trong nội dung từng bài giảng, tùy theo tính chất và đặc trưng của các môn học
+ Nội dung dạy học ĐH phải phản ánh được thực tiễn đời sống xã hội của đất nước nói chung, thực tiễn giáo dục - đào tạo nói riêng
Việc xác định nội dung giáo dục đào tạo nói chung, nội dung dạy học ĐH nói riêng phải xuất phát từ thực tiễn giáo dục phong phú, đa dạng của cách mạng khoa học –
kỹ thuật, của nền kinh tế tri thức, của cơ chế thị trường đang sôi động trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực tiễn đó cần được phản ánh đậm nét trong nội dung các môn học Điều đó thể hiện mối quan hệ tương tác giữa mục đích – nội dung và môi trường trong qui trình đào tạo ở ĐH
Với các phương hướng trên, vấn đề đổi mới hoàn thiện nội dung dạy học ĐHđang là yêu cầu cấp bách trong lý luận dạy học ĐH hiện nay Vấn đề này đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các cán bộ quản lý và giảng dạy ở ĐH cần đầu tư trí tuệ và dành cho sự quan tâm đặc biệt.[3,tr.90-92]
1.7 Các phương pháp học tập ở bậc ĐH
1.7.1.Tự học ở ĐH
Tự học là hình thức dạy học cơ bản ở ĐH Đó là hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình mà sách giáo khoa đã được qui định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Hoạt động tự học ở ĐH có ý nghĩa rất quan trọng.
Nó giúp cho sinh viên tự lực nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo về nghề nghiệp tương lai Trong quá trình tự học, mỗi sinh viên tự vận động, từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người đã tích lũy trong quá trình lịch sử thành vốn kiến thức riêng cho bản thân Ở đây, sinh viên đã thể hiện ở trình độ cao vai trò của chủ thể nhận thức của mình Kết hợp và thống nhất một cách hài hòa vai trò chủ thể nhận thức với vai trò đối tượng điều khiển trong dạy học
Tự học không những giúp cho sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường ĐH mà trong tương lai, người cán bộ khoa học cần phải có năng lực, hứng thú, thói quen, phương pháp tự học thường xuyên,
để không ngừng làm phong phú thêm, hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình, tránh khỏi
sự lạc hậu trước sự bùng nổ thông tin khoa học, kỹ thuật trong thời đại ngày nay
Mặc khác, tự học còn giúp cho sinh viên hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện
ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, say mê nghiên cứu khoa học…
+ Tự học ở ĐH là 1 hình thức tổ chức dạy học cơ bản có nội dung rất phong phú.
Nội dung này bao gồm toàn bộ những công việc học tập do cá nhân và có khi do tập thể sinh viên tiến hành ngoài giờ học chính khóa: hoặc bản thân người sinh viên độc lập tiến hành, ngay cả giờ học trên lớp Ví dụ như chỉnh lý lại vở ghi, đọc sách, ghi nhớ bài, làm bài tập, chuẩn bị tham gia các hoạt động thực tế, thực tập… Như vậy, ở ĐHkhối lượng công việc tự học rất lớn, tính chất hoạt động tự học rất đa dạng, thời gian dành cho sinh viên tự học tương đối nhiều Thông thường, thời gian tự học tương đương với thời gian học chính khóa Vì vậy khi tiến hành tự học sinh viên sẽ gặp nhiều mâu thuẫn như mâu thuẫn giữa khối lượng công việc phải hoàn thành và chất lượng cần đạt được; mâu thuẫn giữa khối lượng, chất lượng công việc với các điều kiện chủ quan (ý thức và trình độ tổ chức tự học, điều kiện sức khỏe…) và các điều kiện khách quan (tài liệu, điều kiện sinh hoạt )
Để giải quyết mâu thuẫn đảm bảo chất lượng tự học, sinh viên phải biết xây dựng
và thực hiện kế hoạch cũng như thời gian biểu tự học [3,tr.156-157]
1.7.2 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một hình thức tổ chức dạy học bắt buộc đối với sinhviên Qua nghiên cứu khoa học, sinh viên bước đầu tập vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học về nghề nghiệp tương lai của mình, qua đó có thể đào sâu, mở rộng vốn hiểu biết của họ
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Qua nghiên cứu khoa học, sinh viên từng bước vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong thực tiễn Đó là điều kiện để học, tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu của mình, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề do thực tiễn nghề nghiệp đặt ra Trên cơ sở đó sinh viên sẽ tiếp tục hoàn thiện và đổi mới vốn tri thức của mình dưới ảnh huởng của cách mạng khoa học – công nghệ; rèn luyện tác phong phẩm chất tốt đẹp của nhà nghiên cứu (làm việc có kế hoạch, cẩn thận, tỉ mỉ, nghiêm túc….)
Vì vậy, trong quá trình học tập ở trường ĐH, mọi sinh viên nhất thiết phải tham gia nghiên cứu khoa học Có thể nói rằng, chúng ta không thể chấp nhận được người sinh viên với tư cách là người cán bộ khoa học có trình độ cao trong tương lai mà lại đứng ngoài dửng dưng với hoạt động nghiên cứu khoa học.[3,tr.166-167]
1.8 Những thuận lợi, khó khăn trong giảng dạy và học tập học phần quang học
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương II: PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
xạ, độ phân cực… Không phụ thuộc vào cường độ của chùm sáng Quang học phi tuyến thì ngược lại, nó khảo sát các hiện tượng quang học với các nguồn sáng mạnh như laze hay máy phát lượng tử Khi đó các tính chất quang học của môi trường phụ thuộc vào cường độ của ánh sáng Môi trường lúc này có tính chất phi tuyến
Chương trình quang học ở THPT chỉ nghiên cứu các hiện tượng quang học, nằm trong phạm vi của quang học tuyến tính Nó bao gồm các lý thuyết về quang học như: lý thuyết quang hình học, lý thuyết phôtôn, lý thuyết quang học sóng …Nhằm làm cơ sở để giải thích các hiện tượng quang học như: phản xạ, khúc xạ, giao thoa, nhiễu xạ ánh sáng Tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ cơ bản không đi sâu vào các nguyên lý, các biểu thức toán học phức tạp, vì trình độ toán học và các môn khoa học khác của HS chưa đủ.Không phải ngẫu nhiên mà chương trình Quang học được xếp sau các phần khác như: cơ học, nhiệt học, điện học Sở dĩ có sự sắp xếp như thế, là vì các phần trước có nhiệm vụ bổ sung kiến thức, cho HS có thể hiểu được phần Quang học Ví dụ như: HSkhông thể hiểu được thuyết sóng ánh sáng, nếu như chưa học phần sóng cơ học và sóng điện từ, cũng như không thể hiểu được phần lượng tử ánh sáng, nếu như không có kiến thức cơ bản về điện học
Về kiến thức cơ bản và rèn luyện các kỹ năng cho HS: có thể nói chương trình
quang học ở THPT nhằm cung cấp cho HS những kiến thức hết sức cơ bản và phù hợp với quan điểm hiện đại Các định luật các thuyết được đưa ra dưới dạng thông báo, HSchỉ cần hiểu và vận dụng chúng để giải thích các hiện tượng quang học, không cần phải
đi sâu nghiên cứu Các hiện tượng quang học cũng được trình bày thật đơn giản, các công thức được chứng minh bằng những thủ thuật toán học mà HS đã biết, nhằm giúp
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
HS dễ dàng tiếp thu kiến thức Ví dụ như trong phần đường đi của tia sáng qua lăng kính, ta chỉ xét các tia sáng nằm trong mặt phẳng tiết diện chính của lăng kính và là ánh sáng đơn sắc Khi thành lập các công thức về thấu kính, thì ta coi chiết suất của môi trường ở trước và sau thấu kính là như nhau, vấn đề này sẽ được phân tích ở phần sau.Trong chương trình quang học cũng có nhiều thí nghiệm, điều này là rất cần thiết nhằm giúp HS rèn luyện kỹ năng HS làm thí nghiệm, kỹ năng hành động Vật lý Qua các thí nghiệm HS sẽ khắc sâu kiến thức hơn và tin tưởng hơn vào lý thuyết đã học Các dụng cụ quang học được trình bày nhằm giúp cho HS có sự liên hệ giữa kiến thức đã học với thực tế, và cũng nhằm giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS Đây là một điều thật cần thiết vì trong các môn khoa học, thì Vật lý học là môn khoa học gần gũi với thực tếnhất
2.1.2 Một số quan điểm xây dựng chương trình Quang học
Theo chương trình SGK mới thì phần quang học trình bày khá rõ ràng, mạch lạc Chương trình Quang học một phần đã đưa xuống lớp 11 đó là phần Quang hình học So sánh về khối lượng kiến thức, nhìn sơ bộ ta nhận thấy hầu như là viết ngắn gọn hơn chương trình cũ, nhưng nhìn kỹ lại ta lại thấy yêu cầu của sách đối với người dạy và người học nhiều hơn lúc trước
Ví dụ như chương trình Quang học ở SGK 11 nâng cao, soạn theo tinh thần nối tiếp chương trình THCS, có nghĩa là một số phần đã học ở THCS thì lên lớp 11 sẽ không được học nữa Như ở THCS đã được học phản xạ ánh sáng qua gương phẳng, phản xạ ánh sáng qua gương cầu, thì lên lớp 11 những phần này không có trong chương trình SGK Phần đầu của chương trình quang học là bài Định luật khúc xạ ánh sáng, chứ không phải là bài Gương phẳng như lúc trước Do đó nhìn SGK ta tưởng chừng như bị rút ngắn lại, nhưng trên thực tế để giảng dạy tốt ở những phần tiếp theo thì người giáo viên phải nhắc lại những phần đã học ở THCS
Một quan điểm nữa đối với phần Quang học là, phần nào đã học rồi thì lên chương trình lớp 11 chỉ mang tính nhắc lại một cách vừa đủ rồi từ đó mở rộng ra Ví dụ như hiện tượng khúc xạ ánh sáng, thấu kính hội tụ, thấu kính phân kì…HS đã học ở THCS,thì ở đây SGK chỉ nhắc lại một phần và tiếp tục mở rộng ra một phần
Theo phương pháp dạy học mới, thì người giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn
HS, giáo viên phải dạy như thế nào để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS Làm thế nào để HS luôn hoạt động trong giờ học Trong phần Quang học, SGK ngoài những nội dung chính bắt buộc phải dạy phải học, còn có những nội dung bổ sung Đó là những phần viết chữ nhỏ, những câu hỏi gợi ý, những bài đọc thêm Giáo viên có thể sử dụng những câu hỏi gợi ý để HS tìm ra câu trả lời Ngoài ra trong phần
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
này SGK có những cách biến đổi hơi tắt, nhưng không khó nhằm tạo cho HS có khả năng tư duy, tự nghiên cứu tìm tòi Đây là phương pháp kích thích hoạt động học tập của HS
Chương trình SGK mới nói chung và chương trình Quang học nói riêng, cũng rất chú trọng đến những bài thực hành SGK đưa ra những thí nghiệm phù hợp với tình hình
cơ sở vật chất của nước ta Đây là những thí nghiệm cơ bản nhất đã được chọn lọc thật
kỹ, với hy vọng là tất cả các trường phổ thông đều thực hiện được Một điểm mới nữa là SGK đưa ra rất nhiều những ứng dụng của các dụng cụ Quang học mang tính giáo dục
tư tưởng cao Ví dụ như đưa ra ứng dụng gương cầu lồi để làm kính chiếu hậu ở các xe môtô, mang tính giáo dục về an toàn giao thông Bên cạnh những ứng dụng mang tính giáo dục của dụng cụ Quang học, còn có những bài tập ứng dụng dưới dạng trắc nghiệm
và tự luận Việc đưa những bài tập trắc nghiệm vào chương trình, là phù hợp với chủ trương đổi mới của Bộ vì hầu hết các kỳ thi ở Phổ thông, đều tổ chức ở hình thức thi trắc nghiệm
2.1.3 Cấu trúc nội dung chương trình Quang học ở THPT
Hiện nay ở THPT chương trình Quang học được giảng dạy ở lớp 11 và 12 Ở lớp
11 thì có 2 chương trình Quang học: Theo SGK Vật lý 11 nâng cao và SGK Vật lý 11 cơ bản Tuy nhiên, chương trình Quang học trong 2 quyển sách này nhìn chung, không có
gì khác nhau nhiều lắm Ở lớp 12 thì HS học theo chương trình SGK mới do vậy kiến thức sẽ không trùng lặp giữa hai phần này mà có sự nối tiếp với nhau Tuy nhiên mục đích của đề tài, không phải là so sánh chương trình Quang học trong các quyển sách nói trên, mà vấn đề đặt ra ở đây là sau khi hoàn thành chương trình ở bậc THPT, thì HSđược trang bị những kiến thức Quang học nào, để tiếp tục học lên cao hơn Vì vậy trong quá trình phân tích chương trình Quang học ở THPT, chúng tôi sẽ không chia chương trình Quang học ra theo từng lớp, mà phân tích trên quan điểm, xét toàn bộ chương trình Quang học mà HS đã được học ở bậc THPT
2.1.3.1 Tổng quan chương trình Quang học ở THPT
Có thể nói Quang học ở THPT được chia làm hai phần là: Quang hình học và Quang học Vật lý Lý thuyết Quang hình học, trong đó dùng phương pháp hình học để giải thích các hiện tượng Quang học, nó đã giải thích thành công các hiện tượng như:phản xạ ánh sáng, khúc xạ ánh sáng….Tuy nhiên để nghiên cứu một số hiện tượng khác như: giao thoa, nhiễu xạ ánh sáng….thì không thể dùng lý thuyết này Khi đó ta phải dùng các lý thuyết trong Quang học Vật lý như: lý thuyết Quang học sóng, lý thuyết photon…
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ta có thể hình dung chương trình Quang học ở THPT qua sơ đồ cấu trúc nội dung như sau:
Việc đưa quang hình học vào giảng dạy ở lớp 11, phần Quang lý giảng dạy ở lớp
12 là hợp lý, vì thật ra Quang hình học là trường hợp giới hạn của Quang học sóng Kiến thức ở Quang hình học giúp cho HS bắt đầu làm quen với Quang học, bước đầu làm quen với một số khái niệm cơ bản như vật sáng, nguồn sáng, tia sáng… một số định luật
về ánh sáng như:định luật truyền thẳng ánh sáng, định luật phản xạ ánh sáng, định luật khúc xạ ánh sáng làm cơ sở cho việc học phần Quang học Vật lý Ở lớp 11 HS chưa học phần sóng cơ học, sóng điện từ vì thế không thể học phần quang học sóng được
2.1.3.2 Quang hình học
Như phần trên đã nói, quang hình học là trường hợp riêng của quang học sóng Thật vậy, các hiện tượng giao thoa và nhiễu xạ ánh sáng, chứng tỏ sự truyền ánh sáng là quá trình truyền sóng Vì vậy dựa vào thuyết sóng, có thể giải thích được các bài toán về
sự truyền ánh sáng qua các môi trường, cũng như qua các hệ quang học Tuy nhiên trong nhiều lĩnh vực, việc tính toán, giải thích các hiện tượng có liên quan đến sự truyền ánh sáng qua các dụng cụ quang học như: thấu kính, lăng kính, gương… có thể thực hiện được một cách đơn giản và tiện lợi hơn, nếu dùng phương pháp Quang hình học.Quang hình học là một phương pháp gần đúng, dựa trên khái niệm về các tia sáng riêng rẻ, độc lập đối với nhau và tuân theo các định luật phản xạ và khúc xạ ánh sáng
Quang hình học
Các thuyết làm
cơ sở
Các định luật làm cơ sở
Định luật phản
xạ ánh sáng
Quang họcVật lý
Định luật truyền thẳng ánh sáng
Định luật khúc
xạ ánh sáng
Nghiên cứu các hiện tượng nhiễu xạ, giao thoa ánh sáng…
Nghiên cứu các hiện tượng giao thoa, tán sắc ánh sáng, hiện tượng quang điện…
Thuyết sóng ánh sáng
Thuyết lượng tử phôtôn Quang học
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Khái niệm về tia sáng được hình thành từ một chùm sáng thực, cho truyền qua một
lỗ hẹp Ta tưởng tượng rằng nếu lỗ càng hẹp, thì chùm tia sáng càng gần với tia sáng Tuy nhiên khi nghiên cứu hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng, ta thấy rằng nếu lỗ hẹp đến một mức nào đó, thì chùm sáng đi qua lỗ chẳng những không bị thu hẹp lại, mà trở nên rộng
ra Vì vậy không thể bằng cách giảm kích thước của lỗ để tách riêng một tia sáng Góc nhiễu xạ của chùm sáng đi qua lỗ có đường kính D được xác định bởi biểu thức:
D
sin (ứng với cực tiểu nhiễu xạ thứ nhất)Như vậy, chỉ trong trường hợp khi =0 thì =0 tức là hiện tượng nhiễu xạ không xảy ra, khi đó mới có thể nói về tia sáng như một đường thẳng hình học Do đó tia sáng chỉ là một khái niệm toán học không có ý nghĩa Vật lý, và quang hình học chỉ là một trường hợp giới hạn của quang học sóng khi bước sóng =0 Tất cả các định luật cơ bản của quang hình học có thể suy ra từ quang học sóng
Tuy nhiên vì đây là bậc THPT nên kiến thức phần Quang hình học cũng chỉ dừng lại ở những định luật cơ bản nhất, và những hiện tượng quang học điển hình nhất Nhằm giúp HS có những kiến thức sơ bộ, cơ bản về Quang học nói chung và Quang hình học nói riêng Nhưng vấn đề phức tạp hơn sẽ được trình bày ở các bậc học cao hơn như Cao đẳng, ĐH Ngoài ra phần này HS còn được cung cấp những kiến thức về các dụng cụ quang học, và các bài thí nghiệm Vật lý Việc phân tích chi tiết các vấn đề trong Quang hình học sẽ được trình bày ở phần sau
Phần quang hình học ở THPT cung cấp cho HS những kiến thức sau:
- Sự phản xạ và khúc xạ ánh sáng+Sự truyền ánh sáng, sự phản xạ ánh sáng, gương phẳng+Gương cầu lõm
+Gương cầu lồi, công thức gương cầu, những ứng dụng của gương cầu+Sự khúc xạ
+Hiện tượng phản xạ toàn phần+Lăng kính
+Thấu kính mỏng+Ảnh của một vật qua thấu kính Công thức thấu kính
- Mắt và các dụng cụ quang học+Máy ảnh và mắt
+Các tật của mắt và cách khắc phục+Kính lúp
+Kính hiển vi+Kính thiên văn+Thực hành xác định chiết suất của nước, tiêu cự của thấu kính phân kỳ
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
i
1
2 sin
* Điều kiện tương điểm
1 1 1
Chiết suất
r
i n
2 21
v
v n
2
2 sin sini n r
2
1 r r
A i i
D 1 2
2 sin 2
n A D
Thấu kính
TK hội tụ
Phân kỳ
Độ tụ
f
) 1 1 )(
1 ( 1
2
1 R R n
CT thấu kính
d d
1 1 1
Cấu tạo
Ứng dụng
Ứng dụng
* Cách vẽ ảnh
* T/C của ảnh
* Độ phóng đại ảnh
* Cách vẽ ảnh
* T/C của ảnh
* Độ phóng đại ảnh
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Sự điều tiết.
Cc, Cv Góc trông vật
NS phân li
Sự lưu ảnh
Các tật của mắt và cách khắc phục
Phẫu thuật
TK f 2 >0, ngắn
Cấu tạo
VK f 1 > 0 lớn
TK f 2 > 0 nhỏ
Phản xạ
Khúc xạ
Đ k tg
tg G
0
Đ l
Đ k k G
2 2 1
Đ l
d
→ G c k1k2
2
1 1
f
B A
tg
→
2 1 2
1 f f
Đ G
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.3.3 Quang học Vật lý
Quang học Vật lý ở bậc THPT cung cấp cho HS những kiến thức về sóng và hạt của ánh sáng Trong đó quan trọng nhất là thuyết sóng ánh sáng và thuyết lượng tử ánh sáng Nếu như Quang hình học, chỉ cung cấp cho HS những khái niệm có tính chất toán học, thì ở phần Quang học Vật lý HS được đi sâu nghiên cứu những tính chất Vật lý của ánh sáng Đến đây, HS đã có cái nhìn sâu sắc hơn về ánh sáng Thông qua hiện tượng tán sắc ánh sáng và giao thoa ánh sáng, HS biết được ánh sáng có tính chất sóng Còn khi nghiên cứu hiện tượng quang điện HS biết được ánh sáng có tính chất hạt Kết quả là
HS nhận thức được rằng ánh sáng vừa có tính chất sóng, vừa có tính chất hạt hay còn gọi là lưỡng tính sóng hạt Tuy nhiên HS chưa phân biệt được khi nào ánh sáng có tính chất sóng, khi nào ánh sáng có tính chất hạt Hay nói cách khác, SGK chưa cung cấp cho HS giới hạn sử dụng hai thuyết trên Khi đứng trước các hiện tượng quang học mới,
HS chắc sẽ không khỏi lúng túng rằng, khi nào vận dụng thuyết sóng khi nào thì vận dụng thuyết hạt để giải thích các hiện tượng đó Những vấn đề đó sẽ được giải quyết,khi HS học ở bậc học cao hơn như Cao đẳng hoặc ĐH Cụ thể Quang học Vật lý ở THPT bao gồm những vấn đề sau:
-Tính chất sóng của ánh sáng+Hiện tượng tán sắc ánh sáng+Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng và giao thoa ánh sáng+Đo bước sóng ánh sáng, bước sóng và màu sắc ánh sáng
+Máy quang phổ, quang phổ liên tục+Quang phổ vạch
+Tia hồng ngoại và tia tử ngoại+Tia X, thuyết điện từ ánh sáng , thang sóng điện từ-Lượng tử ánh sáng
+Hiện tượng quang điện+Thuyết lượng tử và các định luật quang điện+Vài hiện tượng quang học liên quan đến tính chất lượng tử của ánh sáng.+Ứng dụng của thuyết lượng tử trong nguyên tử Hydrô
+ Sự phát quang, cơ lược về laze
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Thí nghiệm tìm ra các bức xạ
Liên
Phát xạ
Hấp thụ
Hồng ngoại ngoạiTử
AS có tính chất sóng
Các công thức
a
D k
AS đơn sắc là as có bước sóng xác định.
* AS là sóng ( sóng điện từ).
* Mỗi as đơn sắc có một bước sóng hoàn toàn xác định.
* AS đơn sắc có bước sóng càng lớn thì chiết suất của môi trường đối với nó càng nhỏ.
Sơ đồ cấu trúc nội dung phần Quang học Vật lý
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tính chất lượng tử của ánh sáng
Hiện tượng
quang điện
Hiện tượng quang dẫn
Sự phát quang
Các phản ứng quang hóa
Các ĐL quang điện
ĐL I 0
mv
eU h
Quang trở
Pin quang điện
Thuyết lượng tử
hf
Nguyên tử Hiđrô
vạch
Tiên đề về các trạng thái dừng
Tiên đề về
sự bức xạ và hấp thụ NL
Sơ đồ cấu trúc nội dung về tính chất lượng tử của ánh sáng
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.4 Phân tích một số nội dung chính trong chương trình Quang học
2.1.4.1 Quang hình học
Lý thuyết quang hình học, trong đó dùng phương pháp hình học, để lí giải các hiện tượng quang học như: hiện tượng phản xạ ánh sáng, hiện tượng khúc xạ ánh sáng Trong đó quan trọng nhất là 3 định luật về ánh sáng là: định luật truyền thẳng ánh sáng, định luật phản xạ ánh sáng và định luật khúc xạ ánh sáng
* Nguồn sáng – vật sáng – tia sáng.
Mở đầu chương trình quang hình học, HS được cung cấp những khái niệm làm
cơ sở như: nguồn sáng, vật sáng, vật chắn sáng, vật trong suốt, tia sáng, chùm sáng Nguồn sáng là những vật tự phát ra ánh sáng Vật sáng bao gồm các nguồn sáng và các vật được chiếu sáng Vật chắn sáng là vật không cho ánh sáng truyền qua Vật trong suốt
là vật để cho ánh sáng truyền qua gần như hoàn toàn Tia sáng là đường truyền của ánh sáng Trong môi trường trong suốt và đồng tính thì tia sáng là những đường thẳng Chùm sáng gồm vô số tia sáng, ta chỉ nghiên cứu 3 loại chùm sáng: chùm sáng phân kì, chùm sáng hội tụ và chùm sáng song song
Trong các khái niệm trên, thì có thể nói khái niệm tia sáng là quan trọng nhất Tia sáng lý tưởng hóa được coi như một đường thẳng hình học dọc theo đó ánh sáng lan truyền Một nguồn sáng sẽ phát ra vô số tia sáng xung quanh nó Khái niệm của tia sáng không nêu lên được bản chất của ánh sáng mà nó chỉ có ý nghĩa toán học Nhưng nhờ có khái niệm tia sáng mà ta có thể vẽ được đường đi của ánh sáng, vẽ được ảnh của một vật qua các dụng cụ quang học một cách dễ dàng
* Định luật truyền thẳng của ánh sáng:
Trong một môi trường trong suốt và đồng tính ánh sáng truyền theo đường thẳng Định luật này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế như: giải thích được hiện tượng vùng bóng đen, vùng nửa tối, nhật thực, nguyệt thực và nhiều ứng dụng khác… Tuy nhiên định luật này chỉ đúng trong trường hợp, ánh sáng truyền xa mép các vật chắn sáng
* Định luật phản xạ ánh sáng:
Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng tới và ở bên kia pháp tuyến so với tia tới Góc phản xạ bằng góc tới (i’ = i) Định luật này được rút ra từ thực nghiệm, khi cho ánh sáng truyền đến một bề mặt nhẳn thì thấy các tia sáng bị đổi hướng trở lại môi trường cũ, hiện tượng này gọi là hiện tượng phản xạ ánh sáng Qua nhiều lần thí nghiệm người ta đã rút
ra định luật phản xạ ánh sáng Định luật này có vai trò rất quan trọng trong phần quang hình học, vì nhờ nó mà ta có thể vẽ được ảnh của một vật qua các dụng cụ quang học như gương phẳng, gương cầu
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Gương cầu lồi là gương cầu có tâm nằm sau gương
Các định nghĩa: Tâm của mặt cầu gọi là tâm gương (C) Đỉnh của chỏm cầu được gọi là đỉnh gương O; OC gọi là trục chính của gương, đường thẳng qua C mà không qua
O gọi là trục phụ của gương, f =R/2 là tiêu cự của gương Khi chiếu 1 tia sáng SI đến gặp gương, để vẽ tia phản xạ ta coi một mẫu nhỏ gương tại I như là một mẫu gương phẳng có pháp tuyến là bán kính của mặt cầu qua điểm I Áp dụng định luật phản xạ ánh sáng ta vẽ được tia phản xạ IR
Cách vẽ ảnh của một vật cho bởi gương cầu (ta vẽ 2 trong 4 tia đặc biệt sau)
-Tia qua tâm gương (hoặc có đường kéo dài qua tâm) Tia này khi gặp gương sẽ phản xạ ngược lại, qua tâm
- Tia song song với trục chính Sau khi phản xạ, tia này đi qua tiêu điểm chính
- Tia qua tiêu điểm chính (hoặc có đường kéo dài qua tiêu điểm chính) Sau khi phản
xạ, tia này đi song song với trục chính
R S
H
S’
I N
Hình 2.1: Phản xạ ánh sáng qua gương phẳng
S I
O
i i’
Hình 2.2: Phản xạ ánh sáng qua gương cầu lõm
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Tia đi qua đỉnh gương Sau khi phản xạ, tia này đi theo phương đối xứng với tia tới qua trục chính
+ Công thức gương cầu:
Qui ước về dấu:
d = OA(d>0 nếu AB là vật thật, d<0 nếu AB là vật ảo),
d’ =OA’ (d’>0 nếu A’B’ là ảnh thật, ngược lại d’<0 nếu A’B’ là ảnh ảo)
f = OF(f> 0 nếu là gương cầu lõm, f<0 gương cầu lồi)
Công thức gương cầu:
OA' (1) Xét 2 tam giác đồng dạng CA’B’ và CAB ta có:
AB
B' A' CA CA' (2)
So sánh (1) và (2) suy ra:
CA
CA' OA
d
d' - 2f hay 2dd’ = 2df + 2d’f
Chia 2 vế cho 2dd’f , ta được:
f
1 d'
1 d
1 công thức này dùng cho cả gương cầu lồi và cho các trường hợp tạo ảnh
khác
+ Độ phóng đại ảnh: độ phóng đại ảnh là tỉ số giữa chiều cao của ảnh và chiều cao của vật
A h B
Trang 38Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
AB
B' A'
k theo như chứng minh trên thì
* Hiện tượng khúc xạ ánh sáng:
Là hiện tượng chùm tia sáng bị đổi phương đột ngột, khi đi qua mặt phân cách hai môi trường truyền ánh sáng Qua nhiều lần thí nghiệm ta rút ra được định luật khúc
xạ ánh sáng như sau: “Tia khúc xạ nằm trong mặt phẳng tới Tia tới và tia khúc xạ nằm
ở hai bên pháp tuyến tại điểm tới Đối với hai môi trường trong suốt nhất định, tỉ số giữa sin của góc tới và sin của góc khúc xạ là một hằng số: n21
sinr
sini ”
Qua hiện tượng khúc xạ ánh sáng ta thấy, đối với một cặp môi trường nhất định thì n21 không đổi và đặc trưng cho cặp môi trường đó về mặt quang học Khi n21 > 1 tia khúc xạ đi gần pháp tuyến hơn tia tới, n21 < 1 tia khúc xạ đi xa pháp tuyến hơn tia tới
Từ đó người ta đưa ra một đại lượng đặc trưng cho môi trường về mặt quang học
và gọi là chiết suất của môi trường n n21 là chiết của môi trường 2 đối với môi trường 1
n21
2
1 1
2 v
v n
n
(v1, v2 là vận tốc của ánh sáng trong môi trường 1 và 2) Chiết suất của
một môi trường đối với chân không được gọi là chiết suất tuyệt đối của môi trường đó (chân không có chiết suất n 1) nên n1
1 v
c
; n2
2 v
c
Như trên đã nói định luật phản xạ ánh sáng là một trong 3 định luật quan trọng nhất của phần quang hình học Nhờ có các định luật này mà ta có thể vẽ được đường đi của tia sáng qua lăng kính từ đó xác định được các công thức của lăng kính, vẽ ảnh của một vật qua thấu kính và xác định được các công thức của thấu kính như sau:
+ Lăng kính: Là một khối trong suốt đồng chất
được giới hạn bởi hai mặt phẳng không song song
Cho một tia sáng SI đến gặp mặt bên của lăng kính tại
I, áp dụng định luật khúc xạ ánh sáng tại I ta vẽ được
tia khúc xạ IJ, áp dụng định luật khúc xạ tại J ta vẽ
được tia khúc xạ (tia ló) JR Từ đó người ta xây dựng
được các công thức về lăng kính:
Gọi r là góc khúc xạ tại I và r’ là góc tới tại J Từ định luật khúc xạ ta có:
sini = nsinr
nsinr’ =sini’
Xét tam giác IKJ ta có: r + r’ =A
Hình 2.4: Đường đi của tia
sáng qua lăng kính
Trang 39Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Xét tam giác IMJ, ta có góc lệch:
A D sin( m n A
+ Thấu kính mỏng:
Thấu kính là một khối trong suốt, được giới hạn bởi 2 mặt cầu hoặc một mặt phẳng và một mặt cầu Thấu kính hội tụ (còn gọi là thấu kính có rìa mỏng) Thấu kính phân kỳ (còn gọi là thấu kính có rìa dày)
Để vẽ ảnh của một vật qua thấu kính ta vẽ 2 trong 3 tia đặc biệt sau:
+ Tia tới song song với trục chính, tia ló tương ứng (hoặc đường kéo dài) đi qua tiêu điểm ảnh F’
+ Tia tới (hoặc đường kéo dài) qua tiêu điểm vật chính F cho tia ló song song với trục chính
+ Tia tới qua quang tâm O thì truyền thẳng
Ta cũng cần lưu ý rằng để có ảnh rõ nét thì các tia sáng tới thấu kính phải lập một góc nhỏ với trục chính
* Công thức thấu kính
a) Để thành lập công thức liên hệ giữa vị trí của vật và
ảnh, ta xét trường hợp vật thật, ảnh thật như hình bên
Xét các tam giác đồng dạng BIJ và FOJ,
Ta có :
IB
OF IJ
OJ
Xét các tam giác đồng dạng BI’J và F’OJ,
Ta có :
' IB
OF' JI
OJ
Cộng hai phương trình vế với vế, ta được :
' JB
OF' IB
OF JI
Trang 40Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Suy ra
OF'
1 JB'
1 IB
Hay
OF'
1 OA'
1 OA
b) Để lập công thức liên hệ giữa độ lớn của ảnh và vật ta chia vế với vế hai phương trình
đầu tiên ở trên, ta được :
IB
JB' OI
OJ suy ra:
OA
OA' AB
B' A'
c) Để tổng quát hoá các công thức trên, ta thay các khoảng cách hình học bằng các giá
trị đại số với quy ước như sau :
OA d ; OA’ d’ ; OF’ f
d > 0 với vật thật, d < 0 với vật ảo,
d’ > 0 với ảnh thật, d’ < 0 với ảnh ảo
f > 0 với thấu kính hội tụ, f < 0 với thấu kính phân kỳ
Ta được công thức tổng quát :
f
1 d'
1 d
1
Độ phóng đại được định nghĩa là :
d
d' AB
B' A'
k
Nếu ảnh và vật cùng chiều, k > 0
Nếu ảnh và vật ngược chiều, k < 0
* Hiện tượng phản xạ toàn phần:
Khi cho ánh sáng truyền từ môi trường có chiết suất lớn hơn, sang môi trường có chiết suất nhỏ hơn, thì ta thấy có trường hợp không có tia khúc xạ Toàn bộ ánh sáng chiếu tới bị phản xạ lại tại mặt phân cách giữa 2 môi trường, và được gọi là hiện tượng phản xạ toàn phần Qua thực nghiệm người ta đã rút ra điều kiện để có hiện tượng phản
xạ toàn phần là: Ánh sáng truyền từ môi trường chiết quang hơn sang môi trường kém chiết quang (n1 > n2) và góc tới i igh với sinigh =
1
2 n
n
* Mắt
Về phương diện quang hình học ta có thể coi mắt như một thấu kính hội tụ, về cấu tạo mắt có những bộ phận sau:
+ Giác mạc nằm ngoài cùng của mắt là một màng trong suốt, cứng như sừng.
+ Thủy dịch là một chất lỏng trong suốt nằm trước thủy tinh thể có n =1,333.
+ Dịch thủy tinh là một chất lỏng trong suốt nằm sau thủy tinh thể có n = 1,333.