1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý tìm HIỂU các THIẾT bị TRONG đời SỐNG THUỘC LĨNH vực KIẾN THỨC PHẦN điện NHIỆT

58 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài công dụng chiếu sáng trong gia đình, đèn sợi đốt còn được ứng dụng trong nhiều trường hợp khác, như trong y khoa và hóa học...Tuy nhiên, đèn sợi đốt cũng có khá nhiều khuyết điểm d

Trang 1

GV hướng dẫn: Sinh viên:

ThS Dương Quốc Chánh Tín Hứa Thị Hoàn Thẳm

Lớp:TL0934A1 K35 MSSV: 1090284

Cần thơ, 2013

Trang 2

đã cho em một hành trang quý giá để hoàn thành tốt đề tài và phục vụ cho công việc sau này

Để giúp cho em thực hiện được đề tài này, thầy Dương Quốc Chánh Tín đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉnh sửa cũng như góp ý, giúp em có hướng đi đúng và thực hiện xong

đề tài của mình một cách nhanh chóng Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến với thầy, bởi qua sự hướng dẫn nhiệt tình và chu đáo, em không chỉ học hỏi thêm được những kiến thức quan trọng, mà còn học được trình tự thực hiện một đề tài cũng như tác phong làm việc của một người nghiên cứu khoa học

Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn những tác giả của các tài liệu đã cung cấp những thông tin chính xác giúp em hoàn thành tốt luận văn

Gia đình, bạn bè là những người luôn động viên, khích lệ em về mặt tinh thần Em xin gửi lời cảm ơn đến mọi người

Đề tài tuy được chuẩn bị và thực hiện một cách chu đáo, nghiêm túc nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót Một phần do hạn chế về mặt thời gian, một phần do hạn chế trong kinh nghiệm và kiến thức Em mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để có thể tìm cách khắc phục kịp thời

Một lần nữa xin gửi lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe đến tất cả mọi người

Xin chân thành cảm ơn

Người thực hiện đề tài Hứa Thị Hoàn Thẳm

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài:

TÌM HIỂU CÁC THIẾT BỊ TRONG ĐỜI SỐNG THUỘC LĨNH VỰC KIẾN THỨC

PHẦN ĐIỆN - NHIỆT

Phần 1 MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

2 Mục đích của đề tài

3 Mục tiêu của đề tài

4 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu đề tài

5 Giới hạn của đề tài

6 Các bước thực hiện đề tài

Trang 4

MỤC LỤC Lời cảm ơn

Tóm tắt luận văn

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 1

3 Mục tiêu của đề tài 1

4 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu đề tài 2

5 Giới hạn của đề tài 2

6 Các bước thực hiện đề tài 3

Phần 2 NỘI DUNG Chương 1 Đèn sợi đốt 1.1 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động 3

1.2 Phân loại 4

1.3 Ưu điểm và nhược điểm 5

1.4 Hướng sử dụng 6

Chương 2 Bàn là điện 2.1 Lịch sử phát triển của bàn là 8

2.2 Cấu tạo và đặc điểm 8

2.3 Nguyên lý chung 10

2.4 Một số lưu ý khi sử dụng 10

2.5 Tiết kiệm điện khi sử dụng 11

Chương 3 Nồi Cơm Điện 3.1 Một số khái niệm cơ bản 12

3.2 Phân loại 13

3.3 Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động 13

3.4 Ưu điểm và nhược điểm 14

3.5 Các lưu ý khi sử dụng 15

Chương 4 LÕ VI SÓNG 4.1 Lịch sử phát triển lò vi sóng ( lò vi ba) 16

4.2 Tìm hiểu về lò vi sóng 16

4.3 Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động 18

4.4 Phân loại 20

4.5 Ưu điểm và nhược điểm 21

4.6 Các lưu ý khi sử dụng 21

Chương 5 BẾP ĐIỆN TỪ

Trang 5

5.1 Tìm hiểu về Bếp điện từ 23

5.2 Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động 24

5.3 Phân loại 25

5.4 Ưu điểm và nhược điểm 26

5.5 Một số lưu ý khi sử dụng 27

Chương 6 TỦ LẠNH 6.1 Nguyên lý hoạt động 29

6.2 Các bộ phận của tủ lạnh 31

6.3 Cơ chế hoạt động của tủ lạnh 32

6.4 Những hư hỏng thường gặp, nguyên nhân, và cách khắc phục 33

6.5 Một vài ứng dụng của tủ lạnh 38

Chương 7 MÁY ĐIỀU HÕA KHÔNG KHÍ (MÁY LẠNH) 7.1 Tìm hiểu về máy điều hòa nhiệt độ 39

7.2 Nguyên lý cấu tạo 42

7.3 Nguyên tắc hoạt động 45

7.4 Cách chọn máy điều hòa hiệu quả 46

7.5 Tính toán phụ tải 48

7.6 Nhiệt trong phòng 49

7.7 Nhiệt do xâm nhập của các nguồn nhiệt bên ngoài 49

Phần 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 52

2 Kiến nghị 52

3 Những dự định trong tương lai 52

Tài liệu tham khảo 53

Trang 6

Phần 1 MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Vật lý là một trong những ngành khoa học có khả năng ứng dụng cao Trong cuộc sống hàng ngày, ta luôn gặp những hiện tượng, những lĩnh vực Vật lý ở nhiều góc độ khác nhau Ví dụ ta đang sống trong một hệ quy chiếu Vật lý 4 chiều, ta đứng được trên mặt đất là nhờ lực hấp dẫn của Trái Đất và lực ma sát giữa chân ta với mặt đất, khi ta sử dụng quạt gió là có dòng điện Phu-cô v.v Sống trong một môi trường đầy “Vật lý” mà

ta không biết nguyên nhân các hiện tượng và giải thích bản chất các hiện tượng thì đó cũng là một điều thiếu sót Đặc biệt, đối với một sinh viên ngành Sư phạm Vật lý thì nhu cầu đó là hết sức cần thiết

Ca dao tục ngữ ta có câu “Học phải đi đôi với hành” Hầu hết lượng kiến thức mà giảng viên truyền đạt trên lớp đều thuộc phần lý thuyết Do đó, việc vận dụng lý thuyết vào thực tế rất được coi trọng Thứ nhất, nó chứng minh được mức độ thông hiểu và rèn luyện kỹ năng của người học Thứ hai, khi kết hợp được lý thuyết và thực tiễn đôi khi đem lại những sản phẩm và phát minh mới

Hiện nay, khi trình độ khoa học phát triển vượt bậc thì có càng nhiều sản phẩm và thiết bị mới được ra đời Trong khi nhu cầu tìm hiểu của con người là vô hạn, không chỉ đối với người trong chuyên ngành mà những người sử dụng sản phẩm họ cũng có nhu cầu tìm hiểu Công trình nghiên cứu và tìm hiểu của những người đi trước là khá nhiều nhưng lại ít tập trung vào giải thích chi tiết, hoặc có giải thích nhưng còn rời rạc, làm cho người đọc khó hiểu được vấn đề Nếu nắm được những thông tin về một thiết bị, người sử dụng

sẽ mạnh dạn hơn trong việc tiếp cận với nó và yên tâm hơn trong khi sử dụng Một trong những giải pháp cho vấn đề này đó là có một tài liệu tìm hiểu về cấu tạo, nguyên tắc hoạt động và sử dụng thiết bị Đó cũng là lý do để em thực hiện đề tài: ”Tìm hiểu các thiết bị trong đời sống thuộc lĩnh vực kiến thức phần Điện-Nhiệt”

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Vận dụng kiến thức đã học vào giải thích nguyên tắc hoạt động của một số thiết bị điện Nâng cao khả năng vận dụng từ lý thuyết sang thực tế Đồng thời, tạo ra một tài liệu giúp cho người đọc tiếp cận dễ dàng với kiến thức Vật lý

3 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài được xây dựng nhằm ba mục tiêu chính sau đây:

o Vận dụng kiến thức được học vào thực tiễn cuộc sống Một phần để nâng cao tính thiết thực của môn học, một phần để kiểm tra lại những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập

o Đưa ra sự giải thích ngắn gọn, dễ hiểu giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với lĩnh vực Vật lý sơ cấp

Trang 7

o Phân tích các ưu điểm, nhược điểm của từng loại thiết bị từ đó đưa ra cách

sử dụng hợp lý nhất nhằm tăng tuổi thọ của thiết bị

4 CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

4.1 Phương pháp thực hiện đề tài

 Đọc các tài liệu có liên quan đến các thiết bị nằm trong đề tài nghiên cứu, phát hiện ra những khái niệm ban đầu cần làm rõ

 Nghiên cứu lý thuyết về các khái niệm, đi sâu vào bản chất Vật lý

 Phân tích các bộ phận của thiết bị, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận

 Giải thích tổng quát quá trình làm việc của thiết bị dựa trên nền tảng lý thuyết nghiên cứu ở phần trên

 Đưa ra các ưu điểm và khuyết điểm, các lưu ý khi sử dụng thiết bị để giúp người sử dụng nâng cao tuổi thọ của thiết bị và được an toàn trong khi sử dụng các thiết bị này

4.2 Phương tiện thực hiện đề tài

 Các tài liệu tham khảo gồm có: các giáo trình chuyên ngành vật lý, điện- điện tử, điện cơ khí

 Các trang web khoa học, bài phát minh về những thiết bị dùng trong sinh hoạt hàng ngày

5 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Do giới hạn về mặt thời gian nên đề tài chỉ tìm hiểu bảy thiết bị điện được ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, từ những thiết bị này người đọc cũng có thể

tự khám phá những thiết bị khác có nguyên tắc hoạt động tương tự Do đó đề tài mang

tính mở rộng cao, hướng người đọc đi tìm cái mới dựa trên nền tảng những cái đã biết

6 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Bước 1: Nhận đề tài

Bước 2 Tìm kiếm tài liệu, thông tin trên mạng có liên quan tới đề tài

Bước 3 Đọc và phân tích các thông tin, từ đó viết đề cương

Bước 4 Tiến hành viết đề tài theo đề cương và trao đổi với GVHD

Bước 5 Viết bài luận, chỉnh sửa, hoàn thiện bài viết

Bước 6 Viết báo cáo

Bước 7 Bảo vệ luận văn

Trang 8

trong bóng để làm tăng tuổi thọ cho sợi đốt

Kích thước bóng phải đủ lớn, đảm bảo bóng thủy tinh không bị nóng nổ

Hình 1.1 Hình dáng của

nồi cơm điện

Vào năm 1879, nhà bác học người Mỹ Thomas

Edison đã phát minh ra đèn sợi đốt đầu tiên Ông đã đốt

sợi chỉ để lấy các sợi than rồi cho vào bóng đèn, khi nối

dòng điện, đèn cháy sáng và phát ra một thứ ánh sáng

không đổi và chói chan Ngày nay khoa học kỹ thuật tiến

bộ, vật liệu dùng cho đèn sợi đốt cũng có nhiều cải tiến

Ngoài công dụng chiếu sáng trong gia đình, đèn

sợi đốt còn được ứng dụng trong nhiều trường hợp khác,

như trong y khoa và hóa học Tuy nhiên, đèn sợi đốt

cũng có khá nhiều khuyết điểm do công suất tiêu thụ điện

của bóng lớn, nhiệt toả ra bị giữ lại trong đèn nên thời

gian chiếu sáng bị hạn chế,

Hình 1.1: Hình ảnh của đèn sợi đốt

Hình 1.2 Cấu tạo của đèn sợi đốt

Trang 9

Có loại bóng sáng và bóng mờ Loại bóng mờ giảm được độ chói Phần này

có tác dụng cách nhiệt và bảo vệ bên trong bóng, tránh cho dây tóc bên trong tiếp xúc không khí

Có hai kiểu đuôi đèn: Đuôi xoáy và đuôi ngạnh Hiện nay loại đèn đuôi xoáy được sử dụng phổ biến

1.1.2 Nguyên tắc hoạt động

Đèn sợi đốt có dây tóc là bộ phận chính để phát ra ánh sáng, thông qua vỏ thủy tinh trong suốt Các dây tóc - bộ phận phát sáng chính của đèn được bảo vệ bên ngoài bằng một lớp thủy tinh trong suốt hoặc mờ đã được rút hết không khí và bơm vào các khí trơ Kích cỡ bóng phải đủ lớn để không bị hơi nóng của nhiệt tỏa ra làm nổ

Hầu hết bóng đèn đều được lắp vào trong đui đèn, dòng điện sẽ đi qua đui đèn, qua đuôi đèn kim loại, vào đến dây tóc làm nó nóng lên và đến mức phát ra ánh sáng

Đèn sợi đốt thường ít được dùng hơn vì công suất quá lớn (thường là 60W), hiệu suất phát quang rất thấp (chỉ khoảng 5% điện năng được biến thành quang năng, phần còn lại tỏa nhiệt nên bóng đèn khi sờ vào có cảm giác nóng và có thể bị bỏng) Đèn dây tóc dùng điện áp từ 1,5 vôn đến 300 vôn

1.1.3 Đặc điểm

Đèn phát ra ánh sáng liên tục

Hiệu suất phát quang thấp: Khi làm việc, chỉ khoảng 4% đến 5% điện năng tiêu thụ của đèn được biến đổi thành quang năng phát ra ánh sáng, phần còn lại tỏa nhiệt

Tuổi thọ thấp:Chỉ khoảng 1000 giờ Khi đèn làm việc, sợi đốt bị đốt nóng ở nhiệt

độ cao nên nhanh hỏng

1.2 PHÂN LOẠI

Công nghệ chiếu sáng ngày càng thay đổi, các nhà sản xuất liên tục đưa ra những sản phẩm mới có tính năng cũng như hiệu quả chiếu sáng cao, công nghệ hiện đại Những sản phẩm này dần dần thay thế những loại đèn cũ vừa tốn điện, hiệu suất thấp và tuổi thọ không cao

Trang 10

Theo nguyên lý hoạt động ta có thể phân đèn sợi đốt thành 3 loại :

1.2.1 Bóng đèn Sợi đốt thông dụng

Bóng đèn sợi đốt nói chung là bóng đèn có sợi đốt Wolfram tiêu chuẩn, chúng có

nhiều dạng bóng đèn khác nhau (trong suốt, mờ, trắng đục, màu, v v.) Phần lớn hiện nay

là loại trắng đục có công suất trong khoảng 15 đến 1000 watts có đuôi xoáy hoặc đuôi ngạnh Một số loại của bóng đèn này thuộc loại để trang trí có hình dạng như ngọn nến hoặc hình chữ nhỏ Những loại bóng này rất không hiệu quả, hiệu suất thấp Thông thường chúng có thời gian sáng tương đối ngắn khoảng 1000 giờ, nhưng chúng có giá thành ban đầu thấp

1.2.2 Bóng đèn Sợi đốt có lớp phản xạ

Bóng đèn sợi đốt có lớp phản xạ là loại bóng đèn sợi đốt Wolfram tiêu chuẩn có

bóng đèn được tráng ở mặt trong hay mặt ngoài một lớp phản xạ để tăng cường tập trung ánh sáng theo một hướng nhất định Bóng đèn này thường có hai loại: Loại bóng có dạng chụm có lớp phản xạ nhôm và loại bóng phản xạ dạng nở xòe Cũng giống như các bóng sợi đốt khác loại bóng này có thời gian sáng ngắn, hiệu suất rất thấp Công suất của bóng trong khoảng 40-300W

1.2.3 Bóng đèn sợi đốt Halogen

Bóng đèn sợi đốt halogen thường có một hoặc hai đầu dùng ngay nguồn điện lưới không qua bộ biến đổi điện Cũng thuộc loại bóng đèn sợi đốt nên chúng có hiệu suất thấp so với các loại bóng khác Tuy nhiên nhờ có các nguyên tử khí halogen nên so với bóng sợi đốt thông thường chúng có hiệu suất cao hơn 20% và đặc tính quang học cũng

ổn định hơn với thời gian Ngoài ra những bóng halogen loại mới với lớp tráng phản xạ tia hồng ngoại làm tăng hiệu suất của chúng lên đến 25-30% so với bóng đèn halogen thông thường Những đặc trưng chính của loại bóng đèn này là:

• Công suất 25-250 Watt (loại một đầu), 60-2000Watt (loại hai đầu)

• Tuổi thọ khoảng 2000 giờ (một đầu) và 3000 giờ (hai đầu)

1.3 ƢU ĐIỂM VÀ NHƢỢC ĐIỂM

Trang 11

Đèn sợi đốt bổ sung khí Halogen làm tăng hiệu quả phát sáng từ 20-27lm/W, tuổi thọ trung bình 2.000giờ

Các đèn sợi đốt halogen công suất từ 40-300W dùng cho chiếu sáng chất lượng màu cao, tuy nhiên hiệu quả năng lượng thấp

Đèn sợi đốt halogen thường được dùng làm trang trí với độ dày đặc của vô số bóng đèn, nên sử dụng loại công tắc có chức năng điều chỉnh lượng ánh sáng (bộ chiết áp) để phối hợp với đèn halogen trong bố trí cho phòng ngủ, phòng khách

1.4 HƯỚNG SỬ DỤNG

Điện năng cho chiếu sáng thường chiếm trên 20% tổng điện năng tiêu thụ, hơn nữa đèn được sử dụng vào giờ cao điểm khi mà phụ tải đỉnh rất lớn buộc hệ thống điện phải huy động toàn bộ công suất, do đó vấn đề chiếu sáng hiệu quả và tiết kiệm điện cần

được quan tâm

Theo tính toán của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, nếu thay thế khoảng 20 triệu bóng đèn sợi đốt hiện nay (có công suất bình quân là 60W/bóng) bằng đèn compact có độ sáng tương đương nhưng công suất chỉ có 11W/bóng thì VN sẽ cắt giảm được khoảng 1,1

tỷ KW/h/1 năm Trên lý thuyết, đó là một con số tiết kiệm khổng lồ

Tuy nhiên, để thay thế hết 20 triệu bóng đèn sợi đốt hiện nay bằng bóng đèn compact chúng ta phải nhập khẩu gần như toàn bộ Kinh phí để mua đèn trị giá khoảng

575 tỷ đồng, một số tiền đầu tư không nhỏ

Theo các nhà phân tích, đây là một giải pháp quá coi trọng lý thuyết mà ít có khả năng áp dụng được triệt để Đơn cử, Tổng công ty Điện lực Việt Nam đã lấy con số bình quân lượng điện tiêu thụ của bóng đèn sợi đốt gần như ở mức tối đa (60W/h/1 bóng) trong khi lại tính toán lượng điện tiêu hao của loại bóng compact gần mức tối thiểu (11W/h/1 bóng)

Trên thực tế, lượng bóng đèn sợi đốt hiện nay đang được sử dụng thường có công suất trung bình khoảng 40W/h, trong khi đó, loại đèn compact có công suất lớn hơn 11W/h sẽ được ưa chuộng hơn những bóng đèn có công suất thấp Như vậy, khi thay thế hết toàn bộ 20 triệu bóng đèn sợi đốt bằng đèn compac thì lượng điện tiêu hao có giảm như mong đợi?

Mặt khác, nhu cầu sử dụng các loại bóng đèn sợi đốt thường tập trung chủ yếu tại khu vực nông thôn, bởi giá thành của nó phù hợp với điều kiện của vùng kinh tế khó khăn đồng thời lại thích hợp với mạng điện lưới ít ổn định ở những nơi này Vì vậy, khi triển khai thay mới hoàn toàn bóng sợi đốt tại những khu vực này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện thu nhập của nông dân còn quá thấp và mạng điện lưới ở nông thôn còn kém ổn định

Trong thời điểm thiếu hụt điện sinh hoạt và sản xuất trầm trọng như hiện nay, tiết kiệm điện là biện pháp hàng đầu Tuy nhiên, nếu quá coi trọng về lý thuyết và áp dụng

Trang 12

cứng nhắc sẽ đồng nghĩa với lãng phí tiền của của nhân dân Việc sử dụng bóng đèn tiết kiệm điện cũng cần phải xét đến khả năng tài chính của người sử dụng và điều kiện ổn định của mạng lưới điện ở nông thôn Đó là điều mà ngành điện cần nghiên cứu kỹ trước khi triển khai đại trà tại những khu vực này

Tuy nhiên không phải bóng đèn dây tóc sẽ bị "tuyệt chủng" Nó vẫn sẽ phát huy

tác dụng ở một số lĩnh vực như trong y khoa và hóa học Ngoài ra, không phải bóng đèn compact không có khuyết điểm: không chỉ đắt hơn bóng đèn tròn tới 2,50 USD/bóng so với đèn dây tóc chỉ 46 xu, nó còn chứa thủy ngân nên không thể vứt vào thùng rác mà

cần phải được tái chế

Trang 13

Chương 2

BÀN LÀ ĐIỆN

2.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA BÀN LÀ

Bàn là điện đầu tiên được một nhà

phát minh người New York sáng chế ra vào

năm 1882 và ông được cấp bằng sáng chế

vào ngày 6 tháng 6 năm đó (bằng sáng chế

số 259.054) Chiếc bàn là này nặng đến 15

pound (gần 6.8 kg) và mất rất nhiều thời

gian để làm nóng Vài loại bàn là điện khác

cũng được sáng chế trong thời gian đó; một

loại trong đó được phát minh ở Pháp năm

1882 và sử dụng một dây cacbon để làm

nóng mặt là - một phương pháp được đánh

giá là rất nguy hiểm

2.2 CẤU TẠO VÀ ĐẶC ĐIỂM

Bàn là (bàn ủi) là dụng cụ gồm một miếng kim khí được làm nóng dùng để làm thẳng các nếp nhăn của vải Khi các phân tử trong polymer của sớ vải bị nung nóng, sẽ không kết cấu chặt vào nhau và bị nới ra, sức nặng của bàn là và sức ép của người ủi qua đó làm thay đổi hình dạng của sớ vải Một số loại vải ví dụ như vải bông cần được tẩm một lượng nhỏ nước khi ủi nhằm làm giảm các liên kết liên phân tử giữa các sợi vải

Ngoài ra, bàn là điện còn có các bộ phận như: đèn tín hiệu, role nhiệt, núm điều chỉnh nhiệt độ Một số bàn là có bộ phận tự động điều chỉnh nhiệt độ và tự động phun nước

Hình 2.1: Hình ảnh bàn là điện

Trang 14

2.2.2 Đặc Điểm

Kết cấu sao cho có thể đặt dựng đứng bàn là trên phần đuôi của nó, điều này cốt

để cho mặt là nóng không tiếp xúc với các vật khác khiến chúng bị hư hại dưới tác dụng của nhiệt

Một bộ điều nhiệt giúp giữ nhiệt độ bàn là được ổn định

Một thiết bị điều chỉnh nhiệt độ giúp người sử dụng có thể điều chỉnh nhiệt độ của bàn là theo ý mình Thường các mức nhiệt độ không thể hiện bằng số đo nhiệt độ mà bằng tên các loại vải chịu được mức nhiệt độ đó, như các mức lụa, len, vải bông, vải lanh, v.v…

Một cuộn dây điện với lớp cách nhiệt làm bằng Teflon

Một hệ thống phun hơi nước qua lớp vải trong khi ủi quần áo

+ Một khoang chứa nước dùng cho việc phun hơi nước

+ Một dụng cụ chỉ thị cho biết số lượng nước còn lại trong khoang

+ Một thiết bị liên tục đưa hơi nước từ những vùng nóng của mặt là xuống lớp vải + Một thiết bị có chức năng phun một lượng lớn hơi nước vào vải khi người ủi bấm một nút ra lệnh

+ Hệ thống giúp người dùng điều khiển lượng hơi nước do bàn ủi tỏa ra

Hệ thống tự làm sạch (advanced feature) self-cleaning

Hình 2.2 : Cấu tạo bàn là điện

1 Nắp ; 2 Núm điều chỉnh nhiệt độ; 3 Đế; 4 Dây đốt nóng

Trang 15

2.3 NGUYÊN LÝ CHUNG

Bàn là điện được chế tạo dựa trên cơ sở tác dụng nhiệt của dòng điện (Định luật Lenxo) Khi dòng điện chạy qua dây dẫn làm nó nóng lên Lượng nhiệt sinh ra tỉ lệ với bình phương dòng điện, với điện trở và thời gian duy trì dòng điện

Jun-Q= I2.R.t Trong đó: I: dòng điện (A)

R: Điện trở của vật dẫn

t :Thời gian (s) Q: Nhiệt lượng (J) 1J=0,24 Cal Dựa vào định luật trên người ta tính toán thiết kế các đồ dùng điện với nhiều công dụng khác nhau trong đó có bàn là điện Trong bàn là điện có dây đốt nóng được làm bằng những vật liệu có điện trở suất lớn như Vonfam, constantan, maiso, nicrom,…Để tạo ra một điện trở lớn làm lượng nhiệt sinh ra được nhiều hơn Ngoài ra, các vật liệu này còn có khả năng chịu được nhiệt độ rất cao

2.4 MỘT SỐ LƯU Ý KHI SỬ DỤNG

Kiểm tra cách điện của bàn là trước khi sử dụng

Nếu thấy đường dây bị trầy, phích cắm bị hỏng, bị hở,…phải sửa chữa ngay hoặc thay thế mới

Sử dụng núm điều chỉnh để điều chỉnh nhiệt độ thích hợp với từng loại vải

Thỉnh thoảng phải làm vệ sinh đế bàn là bằng giấy nhắm mịn

Nếu bàn là không có role mà đóng cắt trực tiếp bằng công tắc, khi sử dụng phải theo dõi công tắc thường xuyên

K

220V

Trang 16

Tuyệt đối không cắm bàn là vào nguồn rồi đi làm việc khác để tránh hỏa hoạn do bàn là gây ra

Không nên quấn dây bàn là ngay sau khi vừa sử dụng xong (do dây còn nóng lớp cách điện dễ biến dạng trầy xướt làm hở cách điện)

Tuyệt đối không cho trẻ con sử dụng bàn là để tránh bị phỏng hay bị điện giật

2.5 TIẾT KIỆM ĐIỆN KHI SỬ DỤNG

Bàn là là một vật dụng rất cần thiết trong gia đình, tuy nhiên bàn là lại có mức tiêu tốn điện năng khá lớn Những cách dưới đây sẽ phần nào giúp tiết kiệm được điện năng cho loại thiết bị này

Chọn loại bàn là điện tự động có công suất vừa phải (khoảng 500W) giúp tăng nhiệt nhanh và cắt điện tự động, đảm bảo là đồ phẳng đẹp và ít tốn điện hơn Không là đồ vào những giờ cao điểm Tập trung đồ để là một lần (có thể là một lúc vào đầu tuần hay cuối tuần) để tận dụng sức nóng liên tục của bàn là Phân loại quần áo trước khi là: Các loại vải có cùng chất liệu hoặc chất liệu gần giống nhau bạn nên nhóm lại để ùi cùng một lượt

Nếu trong một lần mà phải là nhiều loại vải khác nhau, nên là chung các loại vải

có cùng chất liệu và để chế độ nóng thích hợp với từng loại vải Đầu tiên nên là ở nhiệt

độ thấp, sau mới dùng nhiệt độ cao Sau khi đã ngắt điện dùng nhiệt độ còn dư trên bàn

là, là tiếp những quần áo mỏng như tơ, lụa, hay khăn tay…

Khi là nên kiểm tra cài đặt nhiệt độ của bàn là thích hợp cho loại vải cần là Không

là quần áo khi còn đang ướt, một lượng điện năng lớn sẽ được tiêu thụ cho việc làm khô quần áo trước khi được là thẳng

Không là quần áo trong phòng máy lạnh, vì nhiệt độ môi trường sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ của bàn là dẫn đến điện năng tiêu thụ nhiều hơn trong phòng bình thường Trước khi là quần áo hãy lau sạch bề mặt kim loại của bàn là, điều này giúp cho bàn là hoạt động hiệu quả hơn (nóng, là thẳng, nhanh)

Trang 17

Chương 3

NỒI CƠM ĐIỆN

3.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

3.1.1 Sự thay đổi từ tính của một chất

3.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

3.1.1 Sự thay đổi từ tính của một chất

Các vật liệu làm nam châm vĩnh cửu có đặc tính sắt từ, hình dung đơn giản là nó

được cấu tạo từ các nam châm rất nhỏ Khi chưa được từ hoá các nam châm này sắp xếp

ngẫu nhiên và từ tính tổng cộng xấp xỉ bằng 0

Khi được từ hoá các nam châm này sắp xếp trật tự tạo ra từ trường tổng cộng

các nam châm vĩnh cửu trật tự này suy giảm rất chậm theo thời gian Chính vì vậy từ tính

tồn tại rất lâu và được gọi là nam châm vĩnh cữu

từ trường ngoài

Hình 1.1 Hình dáng của

nồi cơm điện

Việc nội trợ ngày nay cũng nhàn nhã hơn với sự

hỗ trợ của các thiết bị bếp núc, trong đó điển hình là nồi

cơm điện Với nồi cơm điện chỉ cần vài thao tác đơn

giản: vo gạo, đo mực nước, bật công tắc rồi chờ cơm

chín

Nồi cơm điện ngày càng được thiết gọn gàng và

khá đẹp mắt với nhiều hình dáng, màu sắc, họa tiết

Không dừng ở đó, nồi cơm điện bắt đầu có thêm nhiều

chức năng khác nhau, được cải tiến ngày càng cao cấp

hơn: nồi tráng men chống dính; cài đặt chế độ nấu theo

giờ; nồi thế hệ mới còn có chức năng nấu cháo, nấu cơm

gạo nếp, hấp (có vỉ hấp đi kèm) vô cùng tiện dụng

Hình 3.1: Hình ảnh của nồi cơm điện

Trang 18

Trật tự này bị suy giảm theo nhiệt độ, khi nhiệt độ tăng làm cho mọi thứ trở nên

lộn xộn hơn Nói cách khác, khi tăng nhiệt độ thì từ trường của nam châm giảm đi Trong

một giới hạn nào đó, khi nhiệt độ giảm từ tính của nam châm lại khôi phục như cũ

3.1.2 Định luật Jun-Lenxơ

Nhiệt lượng tỏa ra ở dây dẫn khi có dòng điện chạy qua tỉ lệ thuận với bình

phương cường độ dòng điện, với điện trở và thời gian dòng điện chạy qua

Q = I²Rt Trong đó: Q là nhiệt lượng tỏa ra Đơn vị: Jun ( J )

I là cường độ dòng điện Đơn vị: Ampe ( A )

R là điện trở của dây dẫn Đơn vị: Ôm ( )

t là thời gian dòng điện chạy qua Đơn vị: giây ( s ) Nếu đo nhiệt lượng Q bằng đơn vị calo thì hệ thức của định luật Jun - Len-xơ là:

Q = 0,24I²Rt

3.2 PHÂN LOẠI

Theo cách tác động mở tiếp điểm khi cơm chín, nồi cơm điện chia thành 2 loại:

- Nồi cơm điện cơ: dùng tiếp điểm cơ khí để điều khiển nhiệt độ quá trình nấu

- Nồi cơm điện tử: dùng linh kiện điện tử để điều khiển

Hai loại nồi cơm điện này chỉ khác nhau về phương thức điều khiển nhưng về cấu

tạo và hoạt động thì cơ bản là giống nhau

3.3 CẤU TẠO VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG

3.3.1 Cấu tạo

+ Vỏ nồi: có 2 lớp, giữa hai lớp có lớp bông thuỷ tinh cách nhiệt Trên vung nồi có

van an toàn, ngoài vỏ có cốc hứng nước ngưng tụ

Nồi nấu bên trong

Cảm biến nhiệt độ

Các phím

Vỏ ngoài của nồi

Hình 3.4 Cấu tạo của nồi cơm điện

Trang 19

+ Nồi nấu: làm bằng hợp kim nhôm, đặt khít trong vỏ, bên trong phủ lớp men chống dính

+ Bộ phận đốt nóng (mâm nhiệt): Là một dây điện trở đúc trong ống chịu nhiệt, cách điện với ống và đặt trong mâm dưới đáy nồi Giữa mâm nhiệt đặt bộ cảm biến nhiệt bên dưới nồi để tự động ngắt điện khi cơm chín

+ Các bộ phận khác: cảm biến nhiệt độ (rơle nhiệt), nút điều khiển chọn chức năng

3.3.2 Nguyên tắc hoạt động

Nguyên lý hoạt động của nồi cơm điện được giải thích dựa trên sơ đồ mạch điện ở hình trên Mạch làm việc ở 2 chế độ:

- Chế độ nấu cơm: dùng điện trở mâm R1 ở đáy nồi

- Chế độ ủ cơm (hâm nóng): dùng điện trở phụ R2 gắn vào thành nồi Việc chuyển chế độ hoàn toàn tự động

Nấu cơm: ấn nút MO, công tắc K đóng, nối tắt R2, nguồn trực tiếp vào mâm chính R1, đèn đỏ sáng Nhiệt lượng tỏa ra trên R1 được tính theo công thức Định luật Jun-Lenxơ Nhiệt lượng này truyền cho nồi nấu làm chín thức ăn trong nồi

Khi cơm chín, nhiệt độ trong nồi tăng, nam châm vĩnh cửu NC gắn dưới đáy nồi nóng lên, từ tính giảm, công tắc K tự động mở, R2 nối tiếp với R1, chuyển sang chế độ

mở, đèn vàng sáng Lúc này nồi cơm chuyển sang chế độ ủ cơm

3.4 ƢU ĐIỂM VÀ NHƢỢC ĐIỂM

3.4.1 Ƣu điểm

Làm việc tin cậy, an toàn, tiện lợi

Nấu bằng nồi cơm điện không có cháy, tiết kiệm gạo, tiết kiệm điện so với dùng bếp điện Vì nồi cơm diện có bộ phận vỏ nồi có hai lớp và giữa hai lớp có bông thủy tinh cách nhiệt nên nhiệt độ của nồi cơm điện truyền ra bên ngoài môi trường ít giúp cho cơm mau chín ngược lại dùng bếp điện thì nhiệt độ cung cấp toả

Hình 3.5 Cấu tạo mạch điện trong nồi cơm điện

Trang 20

ra bên ngoài môi trường nhiều Do đó, sử dụng nồi cơm điện tiết kiệm điện năng

hơn bếp điện

3.4.2 Nhược điểm

Nồi cơm điện cũng mang một số nhược điểm như: tróc men chống dính ở lồng nồi do người nội trợ có thói quen vo gạo trực tiếp trong lồng nồi làm cơm chín dễ bị khét, dính cháy ở dưới đáy nồi hoặc mâm nhiệt trục trặc, điều tiết sai nhiệt độ nấu làm cho cơm có hiện tượng nửa sống nửa chín Cũng có trường hợp cơm nấu xong mau bị thiu vì nước đọng trên nắp nồi rớt xuống mặt cơm

3.5 CÁC LƯU Ý KHI SỬ DỤNG

Các linh kiện của nồi cơm điện đều đặt ở vỏ ngoài vì thế hết sức tránh va đập làm biến dạng vỏ nồi, đặc biệt không làm va chạm mạnh giữa đáy nồi và tấm tăng nhiệt, nếu gây ra bề mặt lồi lõm, sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả nấu nướng

Không nấu các loại thực phẩm có tính axit hoặc kiềm để tránh làm mòn nồi nấu Không nên vo gạo trực tiếp trong nồi cơm để tránh xước lớp chống dính, hoặc méo nồi do va chạm

Dùng vải mềm lau khô bên ngoài lòng nồi rồi nhẹ nhàng đặt vào thân nồi Xoay lòng nồi vài lần sao cho đáy nồi và mâm phát nhiệt tiếp xúc với nhau

Không được để các vật lạ nằm giữa đáy lòng nồi và mâm điện phát

nhiệt

Nhẹ nhàng nhấn mặt nắp xuống cho đến khi nút mở nắp ăn khớp nhau

Nắp nồi phải được đậy khít, nếu không sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả nấu

Khi lấy cơm ra nhất thiết phải tắt nguồn

Không được dùng lòng nồi để nấu trực tiếp trên thiết bị ra nhiệt khác điều đó làm cho lòng nồi dễ biến dạng

Khi cơm mới vừa chuyển sang trạng thái giữ ấm, không nên dùng cơm ngay, cơm

sẽ mềm và ngon hơn nếu giữ ấm 15 phút

Thời gian giữ ấm không được kéo dài quá 12 giờ tránh cơm bị biến dạng Không được đặt nồi cơm điện ở vị trí không bằng phẳng, ẩm ướt hoặc gần với các dụng cụ phát nhiệt khác, đó là nguyên nhân làm hỏng nồi phát sinh sự cố khác

Trang 21

Chương 4

LÒ VI SÓNG 4.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN LÕ VI SÓNG (LÕ VI BA)

Nam Tước Spencer, kỹ sư vật lý hãng Raytheon - một trong những hãng chế tạo radar lớn nhất thế giới - nhận thấy rằng năng lượng toả ra trong các ống sử dụng cho radar tạo ra nhiệt Năng lượng điện từ này làm ông nảy ra một ý: ông lấy một nắm bắp khô gói vô trong một tờ giấy rồi đặt gói bắp vô trong range của ống thì tức khắc những hạt bắp nổ thành bắp rang

Sau đó ông phát triển thành một chương trình áp dụng cho nhà bếp và giới thiệu lò

vi ba đầu tiên theo kiểu này Lúc đó nó có tên là Radarange (do chữ Radar và Range) Máy này có công suất 1.600 watt Nặng, cồng kềnh và đắt tiền, lúc đầu dùng cho bệnh viện và căngtin quân đội Mãi đến năm 1967 hãng Amana, một chi nhánh của Raytheon mới đưa các lò micro-waves ra thị trường

Có những nguồn cho rằng Percy Spencer phát minh ra lò vi ba nhờ tình cờ thấy miếng chocolat mà ông để gần bộ hướng sóng bị mềm đi khi ông làm việc về radar cho Viện kỹ thuật MIT ở Massachusetts năm 1945 Thấy có ích, phương thức này được kỹ nghệ hoá dưới hình thức một cái máy hâm nóng thức ăn

Có nguồn khác cho rằng nước Anh đã sáng chế magnétron, máy tạo ra những làn sóng ngắn nhưng vào những năm 1950 chính hãng Raytheon Hoa Kỳ đã áp dụng máy magnétron để hâm nóng thức ăn và được làm cho hoàn hảo vào cuối thập niên 60

Lò vi sóng là thiết bị được dùng trong việc nấu nướng đã được phát minh từ lâu nhưng vẫn còn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay vì những ưu điểm độc đáo của

nó Nhu cầu của con người ngày càng cao, theo đó, khoa học không ngừng phát triển với mục tiêu tạo ra những đồ dùng thiết thực, ích lợi cho con người

Trang 22

+ Giả thuyết 1: Mọi từ trường biến thiên theo thời gian đều sinh ra một điện trường xoáy Điện trường xoáy là điện trường có các đường sức bao quanh các đường cảm ứng từ (H.2.3)

+ Giả thuyết 2: Mọi điện trường biến thiên theo thời gian đều sinh ra một từ trường xoáy Từ trường xoáy là từ trường có các đường cảm ứng từ bao quanh các đường đường sức của điện trường

Từ giả thuyết của Măcxoen dẫn đến kết luận không thể có điện trường hoặc từ trường tồn tại riêng biệt, độc lập với nhau Điện trường biến thiên nào cũng sinh ra từ trường biến thiên và ngược lại, từ trường biến thiên nào cũng sinh ra điện trường biến thiên

Điện trường và từ trường biến thiên là hai mặt thể hiện khác nhau của một loại trường duy nhất được gọi là điện từ trường

Sự hình thành sóng điện từ

Khi một điện tích điểm dao động điều hoà với tần số f thì sự chuyển động của điện tích này sinh ra một điện trường biến thiên và từ trường biến thiên trong khoảng không gian xung quanh điện tích với tần số f

Theo giả thuyết của Măcxoen, xung quanh từ trường biến thiên sinh ra điện trường biến thiên và ngược lại, từ trường biến thiên sẽ sinh ra điện trường biến thiên Quá trình này cứ tiếp tục mãi tạo thành điện từ trường Điện từ trường này lan truyền đi xa dưới dạng sóng được gọi là sóng điện từ

Hình 4.3 James Clerk Maxwell

(1831 - 1879), nhà vật lí người Anh

Hình 4.4 Từ trường xoáy Hình 4.2 Điện trường xoáy

Trang 23

Một số tính chất của sóng điện từ

- Sóng điện từ là sóng ngang Sóng điện từ truyền được trong các môi trường vật chất và cả trong chân không Vận tốc truyền sóng điện từ rong chân không bằng vận tốc ánh sáng (3.108

Trang 24

Chú thích:

1 Dây điện nguồn: dùng để nối với nguồn điện cung cấp từ bên ngoài

2 Bộ biến tần: thay đổi tần số dòng điện cung cấp cho phù hợp với lò

3 Bộ lọc

4 Ngăn nấu: là khoảng không gian rộng bên trong lò để chứa thực phẩm

5 Đèn phát sóng (Magnetron): tạo ra sóng vi ba có tần số 915MHz hoặc

2450 MHz

6 Ống dẫn sóng: là ống kim loại hình chữ nhật dùng để truyền dẫn vi sóng

7 Bộ đảo sóng: có chức năng phát tán sóng ra mọi phía trong ngăn nấu

8 Dĩa để thực phẩm

4.3.2 Nguyên tắc hoạt động

Sóng vi ba được sinh ra từ nguồn magnetron, sóng vừa mới sinh ra được dẫn theo ống dẫn sóng đến bộ đảo sóng, tại đây vi sóng được phát tán ra mọi phía vào ngăn nấu

Do các bức tường của ngăn nấu làm bằng kim loại nên sóng vi ba phát xạ ra

có thể phản xạ qua lại và bị hấp thụ bởi các vật cản trên đường truyền sóng, mức

độ phản xạ và hấp thụ phụ thuộc vào chất liệu của vật Các vật chứa nước có khả năng hấp thụ vi sóng mạnh nhất, còn thuỷ tinh, chất dẻo hầu như hấp thụ rất ít sóng này

Quá trình nung nóng thức ăn chia làm 2 giai đoạn: nước trong thức ăn được hâm nóng bằng các sóng cực ngắn và nước nóng sẽ truyền nhiệt cho các phần tử khác của thức

Trang 25

đạt cấu hình bền vững) Kết quả là một đầu của nguyên tử Hyđro bị mất bớt tính âm điện nên nó mang điện tích dương, còn nguyên tử Oxy thì mang điện tích âm Nghĩa là trong phân tử nước có hai đầu dương của Hyđro và một đầu âm của Oxy

Sự phân cực này tạo nên một điện trường nhỏ trong phân tử nước, còn trong lò vi sóng, các sóng cực ngắn có tần số 2,45GHz tạo nên một điện trường mạnh hơn rất nhiều điện trường xung quanh các phân tử nước Điều này làm cho các phân tử nước bị định hướng theo chiều trùng với chiều của đường sức điện trường ngoài Khi điện trường ngoài đổi chiều thì các phân tử nước cũng bị đổi chiều Các sóng cực ngắn có tần số như trên tương đương với điện trường ngoài đổi chiều 2,45 tỉ lần trong 1 giây Nếu như vậy thì trong 1 giây phân tử nước cũng sẽ đổi chiều 2,45 tỉ lần Phân tử nước cọ xát với các phân tử lân cận trong quá trình đổi chiều sẽ sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng này giúp nước nóng dần lên và truyền cho các phân tử lân cận làm chín thức ăn

Thuỷ tinh, chất dẻo hấp thụ rất ít các sóng cực ngắn nên các loại đĩa lót đựng thức

ăn không gây ra tác động gì ảnh hưởng đến thức ăn trong quá trình nung nấu

4.4 PHÂN LOẠI

4.4.1.Phân loại theo tần số sử dụng

Dựa theo tần số của lò vi sóng người ta phân ra 2 loại là lò vi sóng công nghiệp và

lò vi sóng gia đình

+ Lò vi sóng công nghiệp: Loại này sử dụngvi sóng có tần số 915MHz và có công suất lớn nhất từ 1000 đến 2700W, thường được sử dụng trong các nhà hàng để chế biến các loại thức ăn nhanh với chế độ hoạt động liên tục

+ Lò vi sóng gia đình: sử dụng vi sóng có tần số 2450MHz được dùng để phục vụ nhu cầu nấu ăn trong gia đình

4.4.2.Phân loại theo kết cấu và dung lượng

Tuỳ theo kiểu lắp đặt mà lò vi sóng có tên gọi khác nhau, dưới đây là 2 kiểu lắp đặt cơ bản nhất

+ Kiểu tủ: lắp tại chỗ, công suất 1000W trở lên

+ Kiểu tiện lợi: có thể đặt trên bàn, cũng có thể gắn vào tủ tường, công suất dưới 1000W

4.4.3.Phân loại theo chức năng điều khiển

+ Kiểu phổ cập: phối hợp thiết bị hẹn giờ, căn cứ vào loại thực phẩm mà chọn thời gian nấu nướng khác nhau Có thể thay đổi công suất nung nấu theo yêu cầu người sử dụng

+ Kiểu vi tính: lắp máy vi tính có thể cài đặt sẵn lập trình như làm tan băng, làm nóng, giữ nhiệt… Loại này có thể tiến hành thao tác theo thới gian và công suất cài đặt sẵn

Trang 26

4.5 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM

4.5.1.Ưu điểm

 Tiết kiệm năng lượng và thời gian trong việc nấu nướng: khi sử dụng lò vi sóng, thức ăn được nấu chín từ bên trong và các phần trong thức ăn nóng lên đồng loạt, điều này khác với việc dùng lửa, bếp gas hay bếp từ vì khi nấu bằng các loại bếp này, thức ăn được nung nóng từ lớp dưới, mất một thời gian sau mới nóng dần lên phía trên

 Do có đặc điểm làm chín từ bên trong nên vẫn có thể nấu được thịt miếng lớn mà vẫn đảm bảo mức độ chín của thức ăn (vi sóng có thể xuyên sâu tới khoảng 2,5 cm)

 Thực phẩm sau khi nấu chín giữ được nhiều chất dinh dưỡng và hương vị nguyên thuỷ hơn khi nấu bằng các loại bếp khác

 Không cần pha thêm dầu mỡ trong quá trình nấu

 Dễ dàng lau chùi sạch sẽ

 Hâm nóng thức ăn dư đã cất giữ trong tủ lạnh, vì không cần cho thêm nước mà cũng không sợ món ăn khô cháy hoặc dính với nhau

 Trong quá trình sử dụng, không tạo ra hơi nóng trong bếp

 Có thể nấu và ăn thực phẩm trong cùng đồ chứa ban đầu

4.5.2.Nhược điểm

 Các tia phóng xạ có thể thoát ra ngoài, nếu bức xạ quá mức có thể gây tổn hại đến

hệ thống thần kinh và có thể ảnh hưởng đến mắt của con người

 Không phải loại thực phẩm nào cũng nấu bằng lò vi sóng được Thực phẩm khi nấu bằng lò vi sóng không thể hình thành lớp cháy màu vàng, không có được mùi vị xào nướng

 Trong lò, sóng điện từ phân bố không đều, thực phẩm để ở chung quanh của tâm

lò sẽ nóng hơn lúc để giữa lò, do đó thực phẩm ở giữa lò sẽ chậm chín hơn

4.6 CÁC LƯU Ý KHI SỬ DỤNG

Khi sử dụng lò vi sóng cần chú ý một số vấn đề sau:

o Không nấu khi cửa lò chưa đóng kín, không để lò hoạt động khi không có thực phẩm bên trong (tốt nhất nên để sẵn 1 ly nước vào trong lò để phòng rủi quên bật lò khi chưa để thực phẩm)

o Không hâm nóng các đồ nấu bịt kín vì áp suất bên trong lên cao sẽ gây nổ

o Nên dùng đĩa lót thực phẩm bằng sành sứ hoặc giấy vì chúng không hấp thụ cũng như phản xạ vi sóng Các dụng cụ này nóng lên là do thực phẩm nóng truyền nhiệt qua Không nên dùng bao nhựa, xốp vì chúng có thể bị tan chảy vào thức ăn ở nhiệt độ cao

o Không đun nước hoặc các chất lỏng khác quá thời gian quy định của nhà sản xuất Việc quá nhiệt có thể xảy ra khi nước trong cốc bị đun quá lâu Khi đó, nước trông

Trang 27

o Tuyệt đối không cho những dụng cụ làm bằng kim loại, hoặc bát đĩa sứ có trang trí hoa văn kim loại vào lò vi sóng Vì khi lò hoạt động, sóng viba không thể xuyên qua kim loại mà sẽ phản hồi lại, gây phóng tia lửa điện, dẫn đến cháy, nổ lò Với các loại thực phẩm gói giấy bạc, chỉ nên cho vào lò khi sử dụng chức năng nướng Các dụng cụ chứa thực phẩm làm bằng nhựa thông thường cũng không an toàn với lò vi sóng, vì chúng có thể bị biến dạng, tan chảy, thậm chí sinh ra các chất độc hại làm ô nhiễm thức ăn, có hại cho sức khỏe

o Khi lò đang hoạt động có thể ảnh hưởng không tốt đến con người, vì thế, khi sử dụng, tốt nhất nên đứng cách xa lò vi sóng khoảng 1 mét để đảm bảo an toàn khi lò đang hoạt động

o Nên hạn chế cọ rửa bên trong lò và đĩa quay bằng các hóa chất có tính tẩy rửa mạnh Nên ngắt nguồn điện trước khi làm vệ sinh lò, tốt nhất là lau chùi bên trong và cửa

lò bằng khăn mềm nhúng dấm hoặc nước cốt chanh Nếu lò vi sóng có mùi, chỉ cần cho một bát nước cốt chanh vào lò đun khoảng 5 – 7 phút là được

Trang 28

Chương 5

BẾP ĐIỆN TỪ

5.1 TÌM HIỂU VỀ BẾP ĐIỆN TỪ

5.1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

5.1.1.1 Dòng điện cảm ứng Hiện tượng cảm ứng điện từ

Khi số đường sức từ xuyên qua một ống dây biến thiên thì trong ống dây sẽ xuất hiện một dòng điện Dòng điện xuất hiện trong ống dây này được gọi là dòng điện cảm ứng, hiện tượng xuất hiện dòng điện cảm ứng trong ống dây khi số đường sức qua nó thay đổi được gọi là hiện tượng cảm ứng điện từ

Ngược lại, khi có một dòng điện chạy qua ống dây thì nó cũng tạo ra các đường sức từ, và ống dây khi đó được xem như một nam châm có các cực được xác định bằng quy tắc nắm tay phải Cường độ dòng điện qua ống dây tăng giảm sẽ dẫn đến sự tăng giảm số đường qua ống dây Cụ thể là khi cường độ dòng điện qua ống dây tăng thì số

Hình 5.1 Bếp điện từ

Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ, của khoa học kỹ thuật, người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn cho căn bếp của mình ngoài các sản phẩm bếp dùng gas, đó là các mẫu bếp dùng điện : bếp điện từ, .với những ưu điểm như tốc độ nấu nhanh, sang trọng, dễ dàng vệ sinh và đặc biệt an toàn

Việc sử dụng bếp gas để nấu nướng đã trở nên hết sức phổ biến ở cả thành thị lẫn nông thôn So với bếp gas, độ phủ sóng của bếp điện từ tuy không rộng bằng nhưng lại có những tiện lợi riêng bởi thiết kế đa chức năng cùng với nguyên lý tiết kiệm nhiên liệu và an toàn trong sử dụng

Bếp điện từ là một dụng cụ giúp việc nấu nướng được sạch sẽ, không khói, tránh gây cháy và nấu chín thức ăn rất nhanh so với các loại bếp khác

Năm 1830, Farađay khám phá ra hiện tượng cảm ứng điện từ nhưng đến 150 năm sau con người mới có ý tưởng ứng dụng hiện tượng trên vào việc nấu ăn Năm

1976, các kỹ sư đưa ra mẫu thiết kế đầu tiên nhưng do đồ điện tử lúc bấy giờ đắt nên đến 1991, chiếc bếp điện từ mới đến tay người tiêu dùng

Trang 29

đường sức do nó tạo ra tăng lên và ngược lại, cường độ dòng điện qua ống dây giảm thì

số đường sức do nó tạo ra giảm xuống

Số đường sức từ đặc trưng cho độ mạnh yếu của từ trường, chỗ nào từ trường yếu thì số đường sức sẽ thưa, chỗ nào từ trường mạnh thì số đường sức dày hơn Cho nên có thể nói: khi cường độ dòng điện chạy qua ống dây tăng lên thì ống dây sẽ tạo ra một từ trường mạnh hơn Còn khi cường độ dòng điện chạy qua ống dây giảm xuống thì ống dây

sẽ tạo ra một từ trường yếu hơn

5.1.1.2 Dòng điện Phu cô

Khi một khối vật dẫn (đặc) chuyển động trong từ trường thì trong khối vật dẫn sẽ xuất hiện những dòng điện xoáy, những dòng điện này cũng là dòng điện cảm ứng Chúng gây ra tác dụng cản trở lại nguyên nhân đã sinh ra nó Tức là cản trở lại chuyển động của khối vật dẫn Đồng thời, nó cũng gây ra tác dụng nhiệt làm nóng khối vật dẫn lên

Những dòng điện xoáy xuất hiện trong khối vật dẫn khi chuyển động trong từ trường được gọi là dòng điện Phu cô

5.2 CẤU TẠO VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG

5.2.1 Cấu tạo

Các bộ phận chính của bếp từ bao gồm: cuộn dây, mạch khếch đại và mặt bếp + Cuộn dây: cuộn dây quấn được đặt bên dưới mặt bếp cho dòng điện đi qua như hình bên

+ Mạch khếch đại: nhằm thay đổi dòng điện qua cuộn dây

+ Mặt bếp: thường làm bằng thuỷ tinh, gốm sứ kết tinh dày khoảng 4mm, có thể chịu nhiệt khoảng 3000C, cách điện tốt

Hình 5.2 Dây quấn ở mặt bếp

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm