Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, tôi chỉ tìm thấy một tài liệu duy nhất hướng dẫn áp dụng PPĐS cho việc dạy học cụ thể của SGK vật lý phổ thông, đó là công trình nghiên cứu: “ Tập vận d
Trang 1KHOA SƯ PHẠM -o0o -
Giáo viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện :
Lớp: Sư phạm Vật Lý – Công Nghệ K33
Mã số SV: 1070387
Cần Thơ, 2011
Trang 2Trong bốn năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Cần Thơ, được sự quan tâm dạy dỗ và truyền thụ kiến thức tận tình của các thầy cô đã trang bị cho em rất nhiều hành trang kiến thức quí giá để bước vào công tác giảng dạy sắp tới Đặc biệt, với sự hướng dẫn tận tình của cô Đặng Thị Bắc Lý đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho em hoàn thành đề tài luận văn này Vì vậy, lời đầu tiên em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến cô, xin chúc cô luôn dồi dào sức khỏe và công tác tốt trong sự nghiệp trồng người.
Cũng nhân đây, em xin gởi lời cảm ơn đến tất cả quí thầy cô đang công tác giảng dạy tại trường, những người đã hết lòng truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quí báu cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường; Xin cảm ơn và gởi lời chúc thành công đến tất cả các bạn Lớp sư phạm Vật lí-Công nghệ khóa 33 đã đồng hành và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập
Do đây là đề tài khoa học đầu tiên mà em nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quí thầy cô
và các bạn
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thanh Tâm
Trang 3
Trang 4
Trang 5
MỞ ĐẦU 1
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
III- PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 2
IV- CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3
III- GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 3
VI- Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA 4
1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 4
1.1 Quá trình dạy học 4
1.2 Phương pháp dạy học 5
2 VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 5
2.1 Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm 6
2.2 Sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS 8
3 PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA 9
3.1 Tầm quan trọng của SGK trong quá trình dạy học 9
3.2 Khái niệm về phương pháp làm việc với sách giáo khoa 10
3.3 Các hình thức tổ chức PPĐS 11
3.3.1 Đọc SGK trước ở nhà 11
3.3.2 Nghiên cứu SGK tại lớp 12
3.3.3 HS làm việc với sơ đồ 13
3.4 Qui trình chuẩn bị cho PPĐS 14
3.4.1 Chọn nội dung bài học (hoặc một đoạn bài học) trong SGK 14
3.4.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS 16
3.4.3 Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, lời hướng dẫn cho PPĐS 16
3.5 Gợi ý kĩ thuật đọc sách 17
4 CÂU HỎI VÀ VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHI THỰC HIỆN DẠY HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH 18
4.1 Sự cần thiết của việc đặt câu hỏi trước khi đọc sách 18
4.2 Vấn đề sử dụng câu hỏi hiện nay ở nhà trường phổ thông 19
4.3 Các loại câu hỏi 19
4.3.1 Phân loại câu hỏi theo mức độ phát triển trí tuệ 20
4.3.2 Phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy 21
4.3.3 Phân loại câu hỏi theo mục tiêu nhận thức (dựa theo tiêu chí phân loại mục tiêu của Bloom) 23
Chương 2 : TẬP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA VÀO 10 BÀI TRONG SÁCH VẬT LÍ 11 NÂNG CAO 28
1 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 2 THUYẾT ÊLECTRON ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐIỆN TÍCH” 28
Trang 64 Bảng tổng hợp 32
2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 10 DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI NGUỒN ĐIỆN” 34
1 Chọn nội dung cho HS đọc 34
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 37
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 38
4 Bảng tổng hợp 39
3 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 12 ĐIỆN NĂNG VÀ CÔNG SUẤT ĐIỆN ĐỊNH LUẬT JUN LEN-XƠ” 41
1 Chọn nội dung cho HS đọc 41
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 46
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 47
4 Bảng tổng hợp 48
4 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 17 DÒNG ĐIỆN TRONG KIM LOẠI ” 50
1 Chọn nội dung cho HS đọc 50
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 53
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 53
4 Bảng tổng hợp 54
5 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 19 DÒNG ĐIỆN TRONG CHẤT ĐIỆN PHÂN ĐỊNH LUẬT FA-RA-ĐÂY ” 56
1 Chọn nội dung cho HS đọc 56
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 60
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 61
4 Bảng tổng hợp 61
6 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 34 SỰ TỪ HÓA CÁC CHẤT SẮT TỪ ” 62
1 Chọn nội dung cho HS đọc 62
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 65
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 66
4 Bảng tổng hợp 66
7 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 35 TỪ TRƯỜNG TRÁI ĐẤT” 69
1 Chọn nội dung cho HS đọc 69
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 71
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 71
4 Bảng tổng hợp 72
8 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 40 DÒNG ĐIỆN FU-CÔ” 73
1 Chọn nội dung cho HS đọc 73
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 75
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 75
4 Bảng tổng hợp 76
9 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 45 PHẢN XẠ
Trang 72 Chọn hình thức tổ chức dạy học 79
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 80
4 Bảng tổng hợp 80
10 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 50 MẮT” 81
1 Chọn nội dung cho HS đọc 81
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 85
3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 85
4 Bảng tổng hợp 86
KẾT LUẬN 89
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 89
2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 89
3 NHỮNG DỰ ĐỊNH TRONG TƯƠNG LAI 89
PHỤ LỤC 91
PHỤ LỤC 1 91
PHỤ LỤC 2 93
PHỤ LỤC 3 95
PHỤ LỤC 4 97
PHỤ LỤC 5 99
PHỤ LỤC 6 101
PHỤ LỤC 7 103
PHỤ LỤC 8 104
PHỤ LỤC 9 106
PHỤ LỤC 10 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 82 Mục tiêu của đề tài
3 Phương pháp và phương tiện thực hiện đề tài
4 Các bước thực hiện đề tài
5 Giới hạn của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3 Phương pháp làm việc với sách giáo khoa
3.1 Tầm quan trọng của SGK trong quá trình dạy học
3.2 Khái niệm về phương pháp làm việc với sách giáo khoa
Trang 9Chương 2 : TẬP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH
GIÁO KHOA VÀO 10 BÀI TRONG SÁCH VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
1 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 2 Thuyết êlectron Định luật bảo toàn
điện tích”
2 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 10 Dòng điện không đổi Nguồn
điện”
3 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 12 Điện năng và công suất điện Định
luật Jun- Lenxơ”
4 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 17 Dòng điện trong kim loại ”
5 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 19 Dòng điện trong chất điện phân
Định luật Fa-ra-đây”
6 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 34 Sự từ hóa các chất Sắt từ”
7 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 35 Từ trường Trái Đất”
8 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 40 Dòng điện Fu-cô”
9 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 45 Phản xạ toàn phần”
10 Vận dụng phương pháp đọc sách cho “Bài 50 Mắt”
PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đang sống trong thời đại mà cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật và công
nghệ diễn ra hết sức mạnh mẽ, nó tạo ra cơ sở mới cho sự phát triển của xã hội, nâng cao
đời sống của con người Để theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ, để hòa
nhập được với nền kinh tri thức trong thế kỉ XXI thì sự ngiệp giáo dục cũng phải đổi mới
nhằm tạo ra những con người mới không những có đủ trình độ kiến thức phổ thông cơ
bản mà còn phải năng động, giàu tính sáng tạo, độc lập tự ch ủ Với yêu cầu đó, ngành
giáo dục nước ta phải đổi mới toàn diện về: mục tiêu giáo dục, chương trình sách giáo
khoa, đội ngũ giáo viên (GV), phương tiện dạy học và đặc biệt là phương pháp dạy học
(PPDH)
Văn kiện đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học, phát
triển tư duy sáng tạo và năng lực sáng tạo của người học, coi trọng thực hành và ngoại
khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay ”[15] là nhiệm vụ hàng đầu
của ngành Giáo dục Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Đảng cũng chỉ rõ nhiệm vụ
cơ bản của giáo dục và đào tạo là: “Xây dựng những con người làm chủ tri thức, khoa
học và công nghệ, có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi”[15] và “ Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp
tư duy sáng tạo của người học”[15] Như vậy, việc nghiên cứu các phương pháp giáo dục
nhằm phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh (HS) để nâng cao chất
lượng dạy học là vấn đề cấp thiết đối với mọi GV và các nhà quản lí giáo dục Nó đã và
đang trở thành một xu hướng ở các trường phổ thông hiện nay Và một trong những
phương pháp dạy học tích cực đó là phương pháp làm việc với sách giáo khoa (SGK),
hay còn gọi là phương pháp đọc sách (PPĐS)
PPĐS có thể hiểu là: HS tự khai thác nội dung của bài học hoặc một nội dung
thành phần nào đó của bài học trong SGK dưới sự hướng dẫn của GV Thông qua đó, HS
biết tìm nội dung trọng tâm để ghi nhớ, vận dụng để giải thích các hiện tượng vật lý, giải
các bài tập Tuy nhiên, để đạt được điều đó, hay để PPĐS thực sự là PPDH tích cực
đúng nghĩa thì cần phải có sự hợp tác một cách nghiêm túc ở cả hai phía: người dạy và
người học Tức là, GV phải nghiên cứu SGK và các tài liệu có liên quan thật kĩ, tìm
Trang 11những nội dung thích hợp để HS có thể đọc và khai thác nội dung theo đúng mục tiêu của
bài đề ra Khi được giao nhiệm vụ đọc sách, HS phải làm việc một cách tự lực, không
phải ngồi nghe, ghi chép nội dung do thầy cô cung cấp HS phải tự đọc sách, tìm kiếm
nội dung trong bài để trả lời những câu hỏi mà GV yêu cầu Dần dần, PPĐS sẽ rèn cho
HS thói quen chủ động trong học tập, tự bản thân HS nhận thấy mình còn thiếu những gì,
tự tìm sách để đọc
PPĐS như đã trình bày thực sự rất hữu ích trong việc phát huy tính tích cực, chủ
động học tập của HS Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, tôi chỉ tìm thấy một tài liệu duy
nhất hướng dẫn áp dụng PPĐS cho việc dạy học cụ thể của SGK vật lý phổ thông, đó là
công trình nghiên cứu: “ Tập vận dụng phương pháp đọc sách cho 10 bài trong sách Vật
lý 10 nâng cao” của tác giả Ngô Hồng Sa (Luận văn tốt nghiệp – năm 2009 – ĐH Cần
Thơ) Vì vậy, với mong muốn tiếp tục góp phần vào việc nghiên cứu nâng cao chất
lượng, hiệu quả dạy và học vật lý tôi nghiên cứu đề tài: “Tập vận dụng phương pháp
đọc sách cho 10 bài trong sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao”.
Đó cũng là lí do của đề tài
II- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài hướng tới các mục tiêu sau:
- Xây dựng qui trình chuẩn bị cho PPĐS và các hình thức dạy học cho PPĐS
- Thiết kế các nhiệm vụ đọc sách, và đề ra hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS hỗ
trợ việc dạy học 10 bài trong SGK Vật lí 11 nâng cao
III- PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí thuyết: tìm đọc các tài liệu có liên quan, sau đó phân tích và tổng
hợp lí thuyết
+ Vận dụng lí thuyết đã nghiên cứu để tập vận dụng PPĐS vào 10 bài trong SGK
Vật lí 11 nâng cao
- Phương tiện thực hiện đề tài
Các tài liệu : Giáo trình Lý luận dạy học, giáo trình Lý luận dạy học vật lý, sách giáo
khoa Vật lý 11 nâng cao, sách giáo viên Vật lý 11 nâng cao, tài liệu bồi dưỡng giáo viên
Trang 12Vật lý 11, giáo trình Đánh giá giáo dục Vật lý, tài liệu từ Internet và các sách tham khảo
khác
IV- CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Bước 1: Xác định mục tiêu của đề tài
- Bước 2: Xác định đề cương nghiên cứu đề tài
- Bước 3: Sưu tầm các tài liệu liên quan đến đề tài
- Bước 4: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Bước 5: Xây dựng cơ sở lí thuyết
- Bước 6: Vận dụng lí thuyết đã nghiên cứu để thiết kế các nhiệm vụ đọc sách, và đề
ra hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS hỗ trợ việc dạy học 10 bài trong SGK Vật lí 11
nâng cao
- Bước 7 : Hoàn thành luận văn
- Bước 8 : Báo cáo, bảo vệ luận văn
V- GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Do thời gian nghiên cứu có hạn, nên trong bài luận văn này, tôi chỉ tập trung nghiên
cứu lí thuyết về PPĐS và các dạng câu hỏi phục vụ cho việc dạy học bằng PPĐS Sau đó,
tôi vận dụng lí thuyết đã nghiên cứu để thiết kế các nhiệm vụ đọc sách, và đề ra hình thức
tổ chức dạy học cho PPĐS hỗ trợ việc dạy học 10 bài trong SGK Vật lí 11 nâng cao
VI- Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về PPĐS
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hỗ trợ cho việc giảng
dạy của GV phổ thông
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC
VỚI SÁCH GIÁO KHOA
1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1.1 Quá trình dạy học
Dạy học có thể hiểu là quá trình hoạt động phối hợp giữa GV và HS; trong đó, hoạt
động của GV đóng vai trò chủ đạo, hoạt động của HS đóng vai trò chủ động nhằm thực
hiện mục đích và nhiệm vụ dạy học [9, tr 5]
Trong đó : GV thực hiện hoạt động dạy học; HS thực hiện hoạt động học; hai hoạt
động này được tiến hành phối hợp, tương tác hay ăn khớp với nhau, mục đích cuối cùng
là nhằm bồi dưỡng cho HS hệ thống tri thức về mọi vấn đề diễn ra trong cuộc sống, hệ
thống kỹ năng sống để thông qua đó hình thành cho HS thái độ đúng đắn đối với cuộc
sống
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, quá trình dạy học cũng đã và đang
thay đổi tích cực để có thể thích ứng được với yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển
Theo đó, quá trình dạy học hiện nay có các đặc điểm cơ bản sau :
- Hoạt động học tập của HS được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng
hiện đại hóa Từ đặc điểm này đòi hỏi GV trong quá trình dạy học không chỉ là người
cung cấp thông tin mà quan trọng hơn, họ phải là người hướng dẫn HS biết cách tự mình
thu thập, xử lí và vận dụng thông tin
- HS hiện nay có vốn sống và năng lực nhận thức phát triển hơn so với HS ở các thế
hệ trước ( với cùng độ tuổi ) Do đó, trong quá trình dạy học, GV cần phải tính đến khả
năng nhận thức của HS, quan tâm khai thác vốn sống phong phú và đa dạng của các em,
tạo điều kiện để các em có cơ hội phát huy tiềm năng vốn có của mình
- Trong quá trình học tập, nhu cầu hiểu biết của HS có xu hướng vượt ra khỏi nội
dung tri thức, kỹ năng do chương trình qui định Xu hướng này thể hiện ở chỗ HS thường
chưa thỏa mãn với những tri thức được cung cấp qua chương trình học Các em luôn
Trang 14muốn biết thêm, biết sâu hơn những điều đã học và nhiều điều mới lạ của cuộc sống
nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình
Với thực tế như vậy, đòi hỏi GV cần tăng cường sử sụng các PPDH tích cực và
không ngừng học hỏi kinh nghiệm sử dụng các cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy
học nhằm tối ưu hóa quá trình dạy học
1.2 Phương pháp dạy học
PPDH không phải là một thực thể độc lập, vì mục đích tự thân, mà chỉ là hình thức
vận động của một hoạt động đặc thù : hoạt động dạy học Vì vậy, định nghĩa chung nhất
về PPDH là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học [10, tr145]
Phan Trọng Ngọ và một số nhà lí luận dạy học khác [10, tr186] đã chia các PPDH
thành các nhóm sau :
- Nhóm phương pháp chủ yếu dùng lời của GV;
- Nhóm phương pháp trao đổi;
- Nhóm phương pháp tổ chức hành động học của HS;
- Nhóm phương pháp tổ chức tương tác hành động;
- Nhóm phương pháp làm việc độc lập của HS có sự trợ giúp của GV;
- Nhóm phương pháp kích thích động cơ học tập của người học
Trong thực tế, có nhiều phương pháp triển khai một nội dung dạy học, trong đó có
một phương pháp tốt nhất Vì thế, muốn đạt hiệu quả cao trong dạy học phải trả lời được
câu hỏi : Phương pháp, phương tiện dạy học nào là tối ưu nhất để chuyển tải nội dung
dạy học đến cho HS ? Có thể nói, hiệu quả của quá trình dạy học tùy thuộc vào sự lựa
chọn và vận dụng các phương pháp và phương tiện dạy học một cách khoa học
2 VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở NHÀ TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Trong nền kinh tế tri thức của thế kỉ 21 này, nền giáo dục phải tạo ra con người có trí
tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và nhân văn Do đó, việc đổi mới PPDH là một yêu cầu
cấp thiết để thay thế PPDH truyền thống kém hiệu quả Định hướng đổi mới PPDH đã
được xác định trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước, ví dụ như trong luật giáo dục,
điều 28.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
Trang 15phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [2, tr8]
Đổi mới PPDH được xem là khâu đột phá trong việc thực hiện đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông Mục đích của nó là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang
dạy học theo PPDH tích cực nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng
kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn Làm cho
“Học” là quá trình kiến tạo Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và
tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã
hội
Như vậy, việc đổi mới PPDH ở nhà trường trung học phổ thông hiện nay là một tất
yếu khách quan nhằm thích ứng với đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, đáp ứng nhu cầu
về con người trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.1 Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm
Quan điểm dạy học ngày nay được nhiều nhà giáo dục hướng tới, đó là : HS là trung
tâm trong quá trình dạy học Theo quan điểm này, trong quá trình dạy học, người học –
đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học – được cuốn hút vào
các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV
sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan
sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó
nắm được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ
năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng
sáng tạo Dạy theo cách này, GV không chỉ giản đơn truyền lại tri thức mà còn hướng
dẫn hành động Nội dung và PPDH phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực
tham gia các chương trình hành động của cộng đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ
động
Để thấy được sự khác nhau giữa PPDH truyền thống ( dạy học lấy GV làm trung
tâm) và PPDH mới ( dạy học lấy HS làm trung tâm ), cũng như thấy được những ưu điểm
của PPDH mới, ta có thể xem bảng so sánh sau[9, tr9] :
Trang 16Dạy học lấy GV làm trung tâm Dạy học lấy HS làm trung tâm
- Quan niệm : Học là quá trình tiếp thu
và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến
thức, kỹ năng, tư tưởng, tình cảm
- Bản chất : Truyền thụ tri thức, truyền
thụ và chứng minh chân lí mà GV đưa
ra
- Mục tiêu : Chú trọng cung cấp tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo Học để đối phó
với thi cử Sau khi thi xong những điều
đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng
đến
- Cách tiếp cận : Tiếp cận cơ bản lên
nội dung
- Vai trò của GV và HS : GV chủ động
điều khiển, HS thụ động tiếp thu
Mối quan hệ chủ yếu : GV à HS
- Nội dung : Từ SGK và sách giáo viên
(SGV)
- Phương pháp : Các phương pháp dạy
học truyền thống ( trong đó, chủ yếu
GV độc thoại, phát vấn, áp đặt kiến
- Quan niệm : Học là quá trình kiếm tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
- Bản chất : Tổ chức hoạt động nhận thức cho
HS, dạy HS cách tìm ra chân lí
- Mục tiêu : Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác, ), dạy phương pháp
và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học
Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội
- Cách tiếp cận : Tiếp cận cơ bản lên các vấn đề
- Vai trò của GV và HS : GV chủ đạo; HS chủ động, tích cực, sáng tạo
Mối quan hệ chủ yếu : GV ó HS, HS ó
HS, HS ó XH
- Nội dung : Từ nhiều nguồn khác nhau : SGK, SGV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế gắn với vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS, tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương, những vấn đề HS quan tâm
- Phương pháp : Các phương pháp dạy học hiện đại ( trong đó, GV hướng dẫn; HS học cách học, cách giải quyết vấn đề, cách sống
Trang 17thức sẵn có, độc quyền đánh giá, cho
điểm cố định; HS nghe, ghi, học thuộc
và trả bài )
- Hình thức tổ chức : Cố định : Giới
hạn trong bốn bức tường của lớp học,
GV đối diện với cả lớp
- Kết quả : Chủ yếu bồi dưỡng cho HS
trí nhớ, tư duy tái hiện, khó có khả
năng thích ứng với cuộc sống
như tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề, dạy học tương tác HS tự đánh giá, tự điều chỉnh làm cơ sở để GV cho điểm cơ động )
- Hình thức tổ chức : Cơ động, linh hoạt : Học
ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế ; học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối diện với GV
- Kết quả : Bồi dưỡng cho HS tính tự chủ, năng động, sáng tạo; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, khả năng hợp tác để có khả năng thích ứng cao trong cuộc sống
Yêu cầu của thời kì đổi mới hiện nay là đào tạo những con người tự chủ, năng động
và sáng tạo Để đáp ứng những yêu cầu này, nền giáo dục nước ta hiện nay đang có xu
hướng chuyển dịch mối quan hệ tác động giữa GV và HS, từ mối quan hệ tác động chủ
yếu và phổ biến một chiều từ GV đến HS sang mối quan hệ tương tác hai chiều giữa GV
và HS, và nhiều chiều của HS bằng cách tiếp cận dần mục tiêu, nội dung và PPDH tích
cực Qua đó, GV chỉ đóng vai trò chủ đạo nhằm phát huy tính chủ động, tích cực và sáng
tạo của HS
2.2 Sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống theo tinh thần phát huy
tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học
truyền thống Cho nên trong việc đổi mới PPDH, chúng ta không phủ định vai trò của các
PPDH truyền thống, tuy nhiên chúng ta sẽ sử dụng các phương pháp đó theo tinh thần
mới GV phải lựa chọn PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của HS trong những tình huống cụ thể
Ví dụ : Phương pháp cho HS làm việc với SGK
- Trong PPDH cũ : Việc cho HS đọc SGK chỉ nhằm mục đích ghi nhớ thuộc lòng
không những nội dung mà cả cách phát biểu những kết luận mà ta muốn chốt lại
Trang 18- Trong PPDH mới : Việc cho HS đọc SGK coi như một hoạt động thu thập thông
tin Thông tin này sau đó phải được HS xử lí để rút ra những kết luận cần thiết
Có nhiều cách phân loại các PPDH Theo PGS.TS.Lương Duyên Bình và một số nhà
lí luận khác [1, tr55]thì hệ thống PPDH truyền thống có thể chia làm 3 nhóm :
- Nhóm các phương pháp dùng lời gồm : diễn giảng, trần thuật, giảng giải, vấn đáp,
đọc SGK ( thay lời nói của thầy hoặc bạn ), hội thảo, dùng phiếu học tập, nghe băng, đĩa
CD
- Nhóm các phương pháp trực quan gồm : biểu diễn vật thật, biểu diễn thí nghiệm,
biểu diễn mô hình, tranh ảnh, xem phim, băng, đĩa ghi hình
- Nhóm các phương pháp thực hành gồm : quan sát, đo đạc, thí nghiệm, thực hành,
thực tập tại xưởng, khảo sát, nghiên cứu thực địa, sưu tầm tư liệu Nhóm phương pháp
này đặc biệt quan trọng đối với việc rèn luyện kỹ năng, thói quen
Việc sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần mới không những có tác dụng
khắc sâu được kiến thức, kỹ năng mà HS cần chiếm lĩnh mà còn có tác dụng làm cho tiết
học không nhàm chán, tạo thêm hứng thú học tập cho HS
Nói tóm lại, việc đổi mới PPDH cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ
thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở từng vùng miền để nền giáo dục nước ta từng bước
tiến lên vững chắc
3 PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA
3.1 Tầm quan trọng của SGK trong quá trình dạy học
SGK là một trong những phương tiện dạy học rất quan trọng trong nhà trường phổ
thông hiện nay và nó thực hiện đồng thời hai chức năng : là phương tiện làm việc của HS
và là phương tiện hỗ trợ GV hiểu và thực hiện chương trình dạy học đã qui định
Trong SGK của từng môn học, nội dung kiến thức được trình bày một cách có hệ
thống và phù hợp với các yêu cầu chung đối với SGK như : tính khoa học của nội dung,
tính trực quan, tính dễ hiểu, tính lôgic của việc trình bày và có mối liên hệ hữu cơ với các
môn học khác Ngoài ra, hệ thống câu hỏi, bài tập được đưa vào SGK còn đảm bảo hình
thành ở HS những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết
Trang 19Như vậy, việc GV hướng dẫn HS sử dụng SGK đúng phương pháp sẽ giúp HS mở
rộng, đào sâu vốn hiểu biết một cách có hệ thống; rèn luyện kỹ năng, thói quen sử dụng
sách GV dạy cho HS tiếp nhận tri thức từ sách chính là huấn luyện cho các em PPĐS;
kỹ năng, kỹ xảo đọc sách, tra cứu sách; thu thập tri thức từ sách ở nhà cũng như ở trường
3.2 Khái niệm về phương pháp làm việc với sách giáo khoa
Như đã nói ở trên, trong PPDH cũ, việc cho HS đọc SGK chỉ nhằm mục đích ghi nhớ
thuộc lòng không những nội dung mà cả cách phát biểu những kết luận mà GV muốn
chốt lại Kết quả của PPDH này đã làm cho HS ngày càng thụ động và kìm hãm năng lực
tư duy của các em Nhưng theo quan điểm dạy học mới, chúng ta sẽ nghiên cứu PPĐS
dưới góc độ là một PPDH tích cực, tức là việc GV tổ chức cho HS đọc sách trong quá
trình dạy học sẽ giúp rèn luyện tốt khả năng tự học và tăng cường năng lực tư duy ở các
em
PPĐS, đây thực chất là việc đọc hiểu một tài liệu khoa học Trong khi đọc hiểu, HS
cần động não nhiều về nội dung mà tài liệu phản ánh Muốn vậy, HS phải hiểu các khái
niệm đã học, cách lập luận khoa học, phân tích cách đặt vấn đề, vận dụng kiến thức đã có
để tìm kiếm kiến thức mới và đặc biệt là HS phải biết được ý nào là ý chí nh, là quan
trọng Theo cách phân tích này, đây thực sự là một PPDH lấy HS làm trung tâm, trong
đó vai trò chỉ đạo, hướng dẫn của GV là rất quan trọng Giả sử với một nội dung nào đó,
nếu GV chỉ yêu cầu HS “đọc” mà không hướng dẫn gì thêm thì khi đọc xong , HS cũng
chỉ có thể mô tả lại một cách thuần túy các sự việc đơn giản trong bài đọc mà không thể
tóm tắt, phát biểu được nội dung chính của đoạn đọc hiểu này Do đó trong PPĐS, sự
hướng dẫn của GV là rất cần thiết để rèn luyện được cho HS thói quen nghiên cứu một tài
liệu khoa học
Vậy, PPĐS có thể hiểu là : HS tự khai thác một phần hoặc toàn bộ bài học trong
SGK, ở lớp hoặc ở nhà, dưới sự hướng dẫn của thầy. [7, tr50]
Có thể biểu diễn PPĐS theo sơ đồ dưới đây :
GV
Trang 203.3 Các hình thức tổ chức PPĐS
Trong PPĐS, vai trò của GV là rất quan trọng, vì chính họ là người quyết định trong
việc lựa chọn hình thức tổ chức nào cho quá trình giảng dạy bằng phương pháp này Tuy
nhiên, để đạt hiệu quả cao, hình thức tổ chức đó phải phù hợp với nội dung và với khả
năng đọc của HS Do đó, nhằm đa dạng hóa các hình thức tổ chức cho PPĐS và tập cho
HS quen dần với việc đọc hiểu một tài liệu khoa học, PGS.TS Lê Phước Lộc [7, tr50] đã
đề nghị 3 hình thức tổ chức cho PPĐS, đó là : Đọc SGK trước ở nhà, nghiên cứu SGK tại
lớp và HS làm việc với sơ đồ
3.3.1 Đọc SGK trước ở nhà
Đọc SGK trước ở nhà là hình thức HS tự đọc SGK đơn giản nhất Theo đó, HS quen
dần với việc nghiên cứu trước bài giảng ở nhà Ý nghĩa của hình thức này là làm cho HS
biết tìm tòi ý chính của đoạn phải đọc, viết được tóm tắt ý; đọc sách trước cũng có thể coi
như là hình thức nêu vấn đề, làm cho HS có tâm lí chờ đợi tới giờ học để giải quyết
những vấn đề còn thắc mắc hay chưa hiểu trong quá trình nghiên cứu nội dung đọc ở nhà
Lúc này, HS biết ghi lại để đến lớp hỏi GV hoặc sẽ tập trung nhiều hơn vào bài giảng
Thực tế là trước đây, hình thức này cũng được nhiều GV sử dụng , song chưa có định
hướng và chưa khoa học nên kết quả đạt được không cao là điều tất nhiên Nếu được tổ
chức thích hợp, hình thức này sẽ làm cơ sở tốt cho việc tiếp tục thực hiện PPĐS theo các
hình thức tiếp theo
Khi chọn hình thức này cho HS đọc, GV cần lưu ý một số điểm sau : bước đầu chỉ
nên cho HS đọc trước một đoạn nào đó trong bài mà thôi, sau đó các em sẽ trả lời các câu
hỏi cho trước của GV Lúc giao nhiệm vụ cho HS, GV cần hướng dẫn cụ thể là các em sẽ
phải làm gì (chẳng hạn như các câu trả lời phải viết vào tập chuẩn bị) để các em không bị
lúng túng trong quá trình chuẩn bị Vì vậy, để đạt hiệu quả cao, các câu hỏi của GV phải
được soạn kĩ, có yêu cầu để HS tư duy, có hướng đến mục tiêu rõ ràng để HS có thể nhận
ra và đáp ứng được ý đồ của GV
Bài chuẩn bị của HS sẽ được GV kiểm tra tại lớp Trong quá trình dạy đoạn này, GV
có thể giảng nhanh để dành thời gian cho việc cập nhật, mở rộng thêm kiến thức
Ví dụ : Bài 7 Tụ điện [4, tr32]
- Tụ điện là gì ?
Trang 21- Cho biết đặc điểm nào của tụ điện làm cho nó có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật
điện và điện tử Hãy chỉ ra một vài dụng cụ điện trong gia đình có sử dụng tụ điện.
Đối với hình thức đọc sách ở nhà, GV còn có thể cho HS làm một số việc khác như :
- Lí giải một định nghĩa, một kết luận trong bài học hoặc rút ra kết luận từ thí
nghiệm, từ thực tế
Ví dụ : Bài 11 Pin và acquy [4, tr53]
- Hãy giải thích thí nghiệm Hình 11.3.
- Lí giải một hình vẽ trong SGK, một sơ đồ nào đó, một đồ thị, một bảng số liệu của
bài sắp học
Ví dụ : Bài 22 Dòng điện trong chân không [4, tr106]
- Khảo sát chi tiết cho thấy đặc tuyến vôn-ampe trên Hình 22.3 có dạng đoạn thẳng ở
gần gốc tọa độ (tức là với các trị số U rất nhỏ) Từ đó có thể rút ra kết luận gì ?
3.3.2 Nghiên cứu SGK tại lớp
Không như hình thức chuẩn bị ở nhà, đặc điểm của hình thức nghiên cứu SGK tại lớp
là có sự ràng buộc về mặt thời gian Vì vậy, việc GV quyết định chọn bài nào hoặc đoạn
nào cho HS đọc cần được cân nhắc kĩ (vấn đề này sẽ được nói rõ hơn ở nội dung kế tiếp)
Đối với hình thức này, GV cần tập cho HS quen dần với từng mức độ
- Mức độ 1 : (Đọc một đoạn trong bài) Chọn một đoạn đơn giản trong bài để thực
hiện
Thông thường, ở mức độ này được thực hiện bằng một hệ thống câu hỏi dẫn dắt
(phương pháp đàm thoại gợi mở) Cho nên, để cho HS có thể làm việc tốt trên lớp, GV
cần yêu cầu HS đọc bài trước ở nhà (chỉ đọc để nắm nội dung, không cần soạn như hình
thức đọc SGK ở nhà) Trên lớp, GV và HS làm việc với nhau bằng hệ thống câu hỏi mà
GV đã chuẩn bị sẵn
- Mức độ 2 : (Đọc cả bài) Chọn bài dễ, nội dung không phân tán ra nhiều vấn đề,
không có nhiều khái niệm lạ hoặc ví dụ khó hiểu Dần dần sẽ tăng độ khó bằng cách cho
HS đọc những bài phức tạp hơn
Mức độ “khó, dễ” nói ở trên chỉ mang tính tương đối, do GV quyết định dựa theo
trình độ thực tế của HS Chẳng hạn đối với những vùng kinh tế xã hội còn khó khăn, nền
giáo dục còn ở mức thấp thì việc ra câu hỏi của GV có thể chỉ tập trung vào mức biết và
Trang 22mức hiểu do khả năng nhận thức của HS không cao; ở những vùng có nền giáo dục phát
triển, khả năng nhận thức của HS khá cao thì GV cần yêu cầu ở mức cao hơn như mức
hiểu và mức vận dụng Nói chung, sự “khó, dễ” tùy thuộc vào hệ thống câu hỏi mà GV
đưa ra, hay nói khác đi là tùy thuộc vào yêu cầu của GV đối với HS Việc tăng dần mức
độ khó có ý nghĩa quan trọng trong việc kích thích hoạt động học tập này vì nó tạo cho
HS một sự tự tin khi đọc tài liệu
Để hướng dẫn HS đọc hiểu một bài học ở mức độ này, GV có thể thực hiện 3 bước
sau [8, tr54] :
- Bước 1 : Yêu cầu HS đọc lướt để nói được chủ đề của bài học hay nội dung chính
của bài học Cần yêu cầu HS nói sự chờ đợi sẽ được biết điều gì mới về chủ đề này (có
thể một số mong đợi của các em sẽ không được giải quyết trong bài này, đến bước 3 sẽ
chỉ cho HS đọc ở đâu hoặc lúc nào sẽ học vấn đề đó)
GV có thể sử dụng hệ thống câu hỏi dành cho bước này (hệ thống câu hỏi khái quát
nội dung cả bài) như : Bài này đem đến cho chúng ta những kiến thức gì ? (nội dung
chính của bài); Có mấy vấn đề được trình bày trong bài? (nội dung thành phần); Em
mong đợi gì ở bài này ? Tạm gọi đây là hệ thống câu hỏi thứ nhất nhằm tiếp cận nội
dung bài học một cách khái quát
- Bước 2 : Tìm các phân đoạn thể hiện những nội dung thành phần của bài Các câu
hỏi này sẽ đưa HS tiếp cận các nội dung thành phần
GV có thể sử dụng hệ thống câu hỏi dành cho bước này (hệ thống câu hỏi khai thác
nội dung thành phần) như : Đoạn này nói gì ? Có những sự kiện (sự vật, hiện tượng, từ
ngữ) nào nói lên điều đó ?
- Bước 3 : Sử dụng các câu hỏi để đúc kết nội dung bài học Khác với các câu hỏi thứ
nhất, ở đây ta yêu cầu HS cho biết đã thu lượm được cái gì
GV có thể sử dụng hệ thống câu hỏi dành cho bước này (hệ thống câu hỏi đúc kết nội
dung bài học) như : Cái gì mới mà các em tiếp thu được từ bài này ? Điều mong đợi ban
đầu của các em đã được thỏa mãn chưa, hãy nói tóm gọn điều đó ?
Ngoài ra, đối với việc cho HS đọc cả bài, GV cũng cần phải chú ý đến vấn đề thời
gian, tức là phải tổ chức tiết học sao cho vừa tạo hứng thú học tập ở HS, đảm bảo đạt
Trang 23được mục tiêu của bài, đồng thời vừa đảm bảo thời gian trên lớp, không để bị “cháy”
hoặc bị “ướt” giáo án
Nhìn chung, việc thực hiện dạy học bằng PPĐS theo hình thức dạy học tích cực vẫn
còn khá mới đối với HS, cho nên GV luyện tập cho HS quen với PPĐS không nhất thiết
phải cho HS làm việc cả tiết học (toàn bài học) Do đó, bước đầu nên chỉ cho HS làm
việc với một đoạn trong bài học mà thôi Vì vậy chỉ nên chuẩn bị hệ thống thứ hai, giải
quyết một đoạn nào đó trong bài học là được
3.3.3 HS làm việc với sơ đồ
Có thể nói, đây là hình thức phức tạp nhất trong ba hình thức tổ chức dạy học bằng
PPĐS Nó đòi hỏi cần phải có sự chuẩn công phu ở GV và mức độ tư duy khá ở HS
Nhưng việc sử dụng hình thức này lại có nhiều ý nghĩa :
- HS luyện tập tư duy trên tổng thể nội dung một bài học, có cái nhìn tổng quát để
tìm thấy cấu trúc lôgic của bài học đó
- Biết tìm từ khóa cho một nội dung thành phần
- Nếu sử dụng hình thức này tốt thì nó giống như một trò ch ơi xen kẽ với các phương
pháp khác (diễn giảng, thí nghiệm, vấn đáp, )
- GV có thể sử dụng overhead hoặc projecter để tiến hành thực hiện “trò chơi” như
vừa nói trên
Tuy nhiên thực hiện hình thức này không đơn giản Trước tiên, GV phải có khả năng
phân tích chính xác nội dung một bài học (hoặc một đoạn bài học) Tiếp đến là GV phải
cho HS làm quen với các kí hiệu lôgic Trong phương pháp này, một việc làm có ý nghĩa
nữa là HS phải tự hoàn chỉnh bài học trong tập ở nhà t heo dàn bài mà GV đưa ra sau khi
GV và HS hoàn thành sơ đồ bài học trên lớp
3.4 Qui trình chuẩn bị cho PPĐS
3.4.1 Chọn nội dung bài học (hoặc một đoạn bài học) trong SGK
Đây là bước quan trọng tạo điều kiện cho sự thành công của việc thực hiện PPĐS Vì
vậy, khi quyết định cho HS đọc sách, GV cần nghiên cứu kĩ để chọn nội dung phù hợp
cho các em đọc Nếu GV chọn nội dung không thích hợp (ví dụ như bài (đoạn) có nhiều
khái niệm mới, nhiều ví dụ phức tạp hoặc nội dung phân tán ra nhiều vấn đề ) thì HS sẽ
lúng túng, sẽ gặp khó khăn trong quá trình giải quyết nhiệm vụ mà GV yêu cầu Khi đó,
Trang 24HS sẽ trả lời câu hỏi hoặc chuẩn bị theo gợi ý không đúng theo ý muốn của GV, dẫn đến
kết quả thất bại trong PPĐS
Theo PGS.TS Lê Phước Lộc [8,tr59], những bài học có nội dung sau đây có thể phù
hợp với PPĐS :
- Nội dung nâng cao kiến thức đã học mà trong đó nhiều vấn đề có liên quan đến kiến
thức cũ hoặc kinh nghiệm của bản thân HS
- Nội dung có tập trung vào một vấn đề mới rõ ràng
- Nội dung không có nhiều khái niệm lạ (hoặc khái niệm đã học lâu, hoặc có liên
quan đến các khái niệm thuộc các bộ môn khác hoặc tính toán nhiều)
Để rõ hơn vấn đề đã trình bày ở trên, ta hãy xét “Bài 12 Điện năng và công suất
điện Định luật Jun-Lenxơ” [4, tr57] Trong bài này, ta thấy nội dung mục “1 Công và
công suất của dòng điện chạy qua một đoạn mạch” và mục “2 Công và công suất của
nguồn điện” là các nội dung đơn giản, dễ hiểu Hơn nữa, đây còn là các nội dung mà HS
đã biết Do đó, đối với các nội dung này, GV có thể tổ chức cho HS làm việc bằng PPĐS
Còn nội dung mục “3 Công suất của các dụng cụ tiêu thụ điện” là kiến thức ở mức độ
khó hơn và cũng là kiến thức HS chưa biết, vì vậy nếu GV cho HS tự đọc phần này sẽ
gây khó khăn cho các em, hiệu quả giảng dạy sẽ không cao Tóm lại đối với bài này, GV
áp dụng PPĐS cho mục 1 và mục 2 là phù hợp nhất
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu SGK, tôi nhận thấy có một số bài có những nội
dung phù hợp với các tiêu chí nói trên nhưng cũng không thích hợp cho HS tự đọc
Chẳng hạn xét nội dung mục “2 Sự điều tiết Điểm cực cận và điểm cực viễn” của bài
“50 Mắt” [4,tr250], đây là nội dung mở rộng kiến thức mà HS đã học ở lớp 9, cụ thể đó
là những kiến thức về sự điều tiết của mắt, điểm cực cận, điểm cực viễn và khoảng nhìn
rõ của mắt Đây là những khái niệm đơn giản, dễ hiểu Tuy nhiên, nội dung của mục này
quá dài, hơn nữa lại là kiến thức cơ sở của bài tiếp theo, cho nên có một vài vấn đề GV
cần lưu ý giảng kĩ để HS có thể khắc sâu được kiến thức Do đó, nếu GV chọn mục này
cho HS tự đọc sẽ không phù hợp, hiệu quả giảng dạy sẽ không cao, từ đó dẫn đến thất bại
trong mục tiêu đã đề ra Vì vậy, để dễ dàng cho việc chọn một nội dung phù hợp với
PPĐS trong một bài học, tôi sẽ xây dựng một qui trình cụ thể như sau:
- Xác định mục tiêu của bài
Trang 25+ Nghiên cứu những mục tiêu đã được trình bày trong SGV.
+ Lượng hóa các mục tiêu theo thang bậc nhận thức Bloom cho từng nội dung của
bài để xác định rõ mục tiêu mà HS sẽ đạt được
- Từ bảng lượng hóa mục tiêu, tôi sẽ xác định mục tiêu của những nội dung mà HS
có thể đạt được bằng PPĐS
- Xem xét thêm các nội dung cụ thể đã được trình bày trong SGK trên cơ sở đối chiếu
với các mục tiêu để có quyết định chính xác
Như vậy với qui trình trên, GV đã có thể xác định được những nội dung phù hợp để
áp dụng PPĐS Vấn đề đặt ra tiếp theo là với những nội dung này, GV sẽ lựa chọn hình
thức tổ chức đọc sách nào (trong ba hình thức đọc sách đã được trình bày) để có thể đạt
hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy Vì vậy, bước quan trọng tiếp theo trong qui trình
chuẩn bị cho PPĐS đó là “Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS”
3.4.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS
Bước này tùy thuộc vào chủ kiến của GV Tuy nhiên như đã nói ở trên, đối với
PPĐS, GV nên tập cho HS làm quen dần từ hình thức dễ đến hình thức khó (theo 3 hình
thức tổ chức dạy học cho PPĐS đã trình bày) Nhìn chung, với khả năng đọc của HS phổ
thông, thường sẽ cho các em làm việc theo hai hình thức là HS đọc sách tại nhà và đọc tại
lớp là chủ yếu Hai hình thức này đơn giản, có hệ thống câu hỏi dẫn dắt nên HS có thể
thực hiện được Cũng vì lí do đó, nên trong bài luận văn này, tôi chỉ chọn hai hình thức
trên để cho HS làm việc với SGK Theo đó, đối với từng nội dung đã được chọn cho HS
đọc, tôi sẽ phân tích kĩ để lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhất Còn với hình
thức HS làm việc với sơ đồ, tôi sẽ tổ chức thực hiện khi đã có nhiều kinh nghiệm trong
quá trình giảng dạy ở nhà trường phổ thông
3.4.3 Chuẩn bị hệ thống câu hỏi, lời hướng dẫn cho PPĐS
Đây cũng là một bước rất quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến chất lượng đọc SGK
của HS Nếu trong quá trình chuẩn bị, các câu hỏi hướng dẫn được GV soạn kĩ, bám sát
mục tiêu bài học và có yêu cầu rõ ràng thì trong quá trình làm việc, HS mới biết mình sẽ
làm gì và sẽ thu được kiến thức, kỹ năng gì khi trả lời các câu hỏi đó Còn ngược lại, nếu
bước này không được GV chuẩn bị tốt, các câu hỏi đặt ra không cụ thể, không có yêu cầu
rõ ràng và không bám sát mục tiêu thì việc thực hiện PPĐS sẽ rất dễ thất bại Do đó, đối
Trang 26với bước này, sự sáng tạo của GV là rất cần thiết để đảm bảo cho sự thành công trong
việc tổ chức dạy học theo PPĐS
3.5 Gợi ý kĩ thuật đọc sách
Trong quá trình giảng dạy, GV cần hướng dẫn HS PPĐS, tức trang bị cho các em các
kỹ năng đọc sách, nhằm làm tăng hiệu quả dạy học, sau đây sẽ là một số kĩ năng HS cần
đạt được khi đọc sách [9, tr41] :
- Kỹ năng đọc lướt ( để tìm ý chính, bố cục) và kỹ năng đọc kĩ ( để đi sâu, nắm vững
chủ đề, các luận điểm chính, để giải quyết nhiệm vụ mà GV đưa ra )
- Kỹ năng tách ra nội dung bản chất từ tài liệu đọc được Cần dạy cho HS biết luôn
luôn đặt ra các câu hỏi khi đọc sách : Ở đây nói về cái gì ? Cái đó đề cập đến những khía
cạnh nào? Trong những khía cạnh đó thì khía cạnh nào là chủ yếu, là bản chất ?
- Kỹ năng lập dàn bài Dàn bài là tổ hợp các đề mục chứa đựng những ý cơ bản có
trong bài đọc Để lập dàn bài cần tách ra các ý chính, sau đó tìm và thiết lập mối quan hệ
giữa chúng
- Kỹ năng tóm tắt tài liệu đọc được Tóm tắt là ghi lại những ý cơ bản đã được chứng
minh trong bài đọc, những dẫn chứng minh họa Để làm tóm tắt, cần biết phân tích bài
đọc, tách ra đối tượng và những đặc điểm của đối tượng đó, thiết lập mối quan hệ giữa
các đối tượng
- Kỹ năng đọc và phân tích bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ, đồ thị, hình vẽ trong sách
Việc hướng dẫn HS cách đọc nhằm hình thành các kỹ năng trên là rất quan trọng, về
vấn đề này tùy thuộc vào sự chủ động của mỗi GV Tuy nhiên, cũng có một số thao tác kĩ
thuật đọc sách có thể tham khảo và áp dụng [10, tr308] :
- Bước 1 : Khảo sát Đọc lướt qua nội dung của đoạn bài học ( hoặc cả bài ) Lưu ý
đến nội dung và bố cục của chúng
- Bước 2 : Đặt câu hỏi Trước khi đọc kĩ từng phần, hãy dừng lại và đặt câu hỏi : Cái
gì đang được đề cập đến trong nội dung này ? Ta cần thông tin gì trong nội dung này ?
- Bước 3 : Đọc kĩ Trong khi đọc hãy tập trung suy nghĩ vào tài liệu và các câu hỏi đã
nêu Cố gắng trả lời các câu hỏi đó
- Bước 4 : Chốt lại Khi đọc đến cuối nội dung, hãy dừng lại và chốt các điểm chính
Trang 27- Bước 5 : Kiểm tra Đối với đọc cả bài, sau khi đọc xong có thể kiểm tra lại toàn bộ,
đặc biệt chú ý đến cách bố cục của tác giả
Chúng ta thường nghĩ đọc sách là việc rất đơn giản, tuy nhiên, đọc như thế nào để
hình thành các kĩ năng như đã nêu, đọc như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất thì ít ai
quan tâm Vì vậy, để đọc trở thành một trong những phương pháp học chủ yếu trong dạy
học, thì vấn đề dạy phương pháp đọc cho HS phải được GV đặt lên hàng đầu
4 CÂU HỎI VÀ VIỆC SỬ DỤNG CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC SINH
KHI THỰC HIỆN DẠY HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH
4.1 Sự cần thiết của việc đặt câu hỏi trước khi đọc sách
Trong dạy học, câu hỏi đóng một vai trò đặt biệt, nó dùng để giao tiếp giữa GV-HS,
HS-HS, dùng để đánh giá kết quả học tập, dùng để khai thác kiến thức, phát triển tư duy
cho người học Riêng đối với PPĐS, việc sử dụng câu hỏi có một ý nghĩa quan trọng,
quyết định rất lớn đến sự thành công và chất lượng giảng dạy bởi nhiều lí do[13, tr10] :
- Việc đặt câu hỏi trước khi đọc sách giúp nâng cao hiệu quả cho PPĐS Bởi vì nếu
GV yêu cầu HS đọc sách mà không có câu hỏi kèm theo thì các em sẽ rất lúng túng khi
nhận nhiệm vụ Khi đọc, HS không biết sẽ tập trung vào vấn đề gì, không biết nên chú
trọng vào vấn đề nào là chính, dẫn đến không nhớ gì ngay khi đọc xong Mục tiêu đề ra
không đạt hiệu quả như mong muốn
- Đối với những bài có nội dung dài, việc đặt câu hỏi trước khi cho HS đọc sách là rất
cần thiết Vì khi đó dựa vào câu hỏi, HS sẽ có thể hình dung được nội dung mà mình sắp
đọc, xác định được nội dung cần ghi nhớ nên mục tiêu dạy học rất dễ đạt được
- Bên cạnh đó, việc đặt câu hỏi trước khi yêu cầu HS đọc sách còn giúp các em tập
trung hơn Nó tương tự như việc gây chú ý khi GV vào bài bằng cách nêu vấn đề Câu
hỏi hay, gắn liền với thực tế sẽ càng thu hút HS tham gia vào các hoạt động mà GV tổ
chức
Từ việc phân tích trên phần nào cho chúng ta thấy rõ sự cần thiết của câu hỏi và việc
đặt câu hỏi trước khi GV cho HS đọc sách Ngoài ra, để PPĐS thực sự thành công khi áp
dụng trong quá trình dạy học thì chất lượng câu hỏi cũng là một yếu tố rất quan trọng
Vậy vấn đề này hiện nay đã được quan tâm v à thực hiện như thế nào, điều này sẽ được
phân tích rõ hơn ở mục kế tiếp
Trang 284.2 Vấn đề sử dụng câu hỏi hiện nay ở nhà trường phổ thông
Như đã nói, muốn nâng cao hiệu quả của các PPDH tích cực, mà ở đây cụ thể là
PPĐS thì GV cần đầu tư nâng cao chất lượng câu hỏi Giảm bớt các câu hỏi yêu cầu thấp
về mặt nhận thức (chỉ đòi hỏi tái hiện kiến thức) Tăng dần số câu hỏi có yêu cầu cao về
mặt nhận thức (câu hỏi có sự thông hiểu và sáng tạo trong vận dụng kiến thức để trả lời
câu hỏi, )
Loại câu hỏi thứ hai có tác dụng kích thích tư duy tích cực của HS Tuy nhiên, cũng
không nên xem thường loại câu hỏi thứ nhất, vì không tích lũy kiến thức đến một mức độ
nhất định nào đó thì khó mà tư duy sáng tạo
Trong thực tế dạy học hiện nay, GV ít sử dụng đến loại câu hỏi để kích thích tư duy
[2, tr99] Mục tiêu của việc đặt câu hỏi thường bị thất bại vì GV không biết cách đặt câu
hỏi như thế nào và khi nào thì nên dùng nó Ví dụ, khi dạy bài “ Định luật Ôm cho đoạn
mạch”, câu hỏi “ Dựa vào số liệu đo được, các em hãy cho biết cường độ dòng điện I
chạy qua điện trở và hiệu điện thế U giữa hai đầu điện trở đó có tỉ lệ thuận với nhau
không ?” là câu hỏi đã chứa đựng kiến thức và chỉ yêu cầu HS trả lời có hoặc không,
không đòi hỏi HS tư duy tìm ra mối quan hệ ra mối liên hệ giữa hai đại lượng I và U
Nhiều khi các em trả lời đúng câu hỏi này nhưng có thể chưa biết thế nào là tỉ lệ thuận và
có thể cho rằng U phụ thuộc I, tức là chưa nắm được bản chất của sự phụ thuộc này Còn
câu hỏi “ Dựa vào số liệu đo được, em hãy nhận xét về mối liên hệ giữa hai đại lượng I
và U ?” đòi hỏi HS phải tư duy tìm ra sự phụ thuộc tỉ lệ thuận và có khả năng bộc lộ sai
sót cho rằng U phụ thuộc I, thông qua đó GV có thể phân tích, điều chỉnh nhận xét của
HS, giúp các em hiểu đúng bản chất của sự phụ thuộc
Đặt câu hỏi không khó, nhưng đặt câu hỏi như thế nào để có thể phát huy và năng
cao khả năng tư duy của HS là một việc làm không dễ Vấn đề này đòi hỏi cần phải có sự
đầu tư tích cực và tâm huyết của từng GV để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy trong
quá trình thực hiện đổi mới PPDH hiện nay
4.3 Các loại câu hỏi
Có nhiều loại câu hỏi được sử dụng trong dạy học và cũng có nhiều cách phân loại
chúng Chẳng hạn, người ta có thể phân loại câu hỏi theo nhiều tiêu chí khác nhau như:
theo chức năng của câu hỏi trong hoạt động dạy học; theo mức độ phát triển trí tuệ; theo
Trang 29kiến thức trả lời và mức độ tư duy; theo mục tiêu nhận thức (dựa theo tiêu chí phân loại
mục tiêu của Bloom); theo mức độ xác định của các phương án trả lời Tuy nhiên, trong
bài luận văn này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu ba cách phân loại câu hỏi được sử dụng phổ
biến trong nhà trường phổ thông hiện nay là “phân loại câu hỏi theo mức độ phát triển trí
tuệ, phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy, và phân loại câu hỏi theo
mục tiêu nhận thức”
4.3.1 Phân loại câu hỏi theo mức độ phát triển trí tuệ
Trong PPDH tích cực, GV phải biết cách khai thác triệt để sự đóng góp của HS vào
bài học Sự đóng góp ấy không chỉ ở HS khá giỏi mà còn phải huy động cả HS yếu kém
Vì vậy, GV cần thiết kế câu hỏi sao cho phù hợp với từng mức độ về năng lực trí tuệ của
HS Việc làm này không những có nghĩa về PPDH mà còn có ý nghĩa về tâm lí HS kém
trả lời được câu hỏi sẽ tăng thêm lòng tin ở các em khi tham gia vào bài học
Theo PGS.TS Lê Phước Lộc [8, tr31] thì việc phân loại câu hỏi theo mức độ phát
triển trí tuệ có thể chia thành các loại câu hỏi như sau:
4.3.1.1 Câu hỏi bình thường
Loại câu hỏi này chỉ đơn thuần yêu cầu HS tái hiện lại kiến thức, tức là HS chỉ cần
nhớ lại những gì đã biết và trả lời chứ không cần sáng tạo gì thêm Tuy nhiên, trong các
câu hỏi này cần có chỉ dẫn hoặc giới hạn yêu cầu của GV để HS định hướng, không bị
hoang mang
- Các câu hỏi chỉ để kiểm tra trí nhớ
Ví dụ: Hãy trình bày cấu tạo của kính hiển vi và nêu tác dụng của nó
- Các bài toán áp dụng lí thuyết mới học một cách máy móc (các bài tập giải theo
mẫu hoặc bài tập áp dụng thuần túy để nhớ lí thuyết)
4.3.1.2 Câu hỏi tình huống
Trong quá trình dạy học, đôi khi GV cần tạo ra các tình huống có vấn đề để HS suy
nghĩ giải quyết Từ đó giúp HS nâng cao khả năng nhận thức và mở rộng hơn kiến thức
vừa học Các câu hỏi tình huống là những câu hỏi có chứa đựng một trở ngại trong nhận
thức: giữa biết và chưa biết, giữa biết chưa chính xác với biết chính xác, một sự giải
thích, một sự tìm kiếm ví dụ trong thực tế
Ví dụ:
Trang 30+ So sánh các công thức tính mật độ năng lượng điện trường và công thức tính mật
độ năng lượng từ trường, ta nhận thấy có sự tương tự gì đáng chú ý ? (Trở ngại: So sánh
và chọn lựa)
+ Cho hai thấu kính hai mặt lồi, làm bằng thủy tinh có cùng chiết suất Các thấu kính
phồng, dẹt khác nhau Thấu kính nào có khả năng làm hội tụ chùm tia sáng đi qua mạnh
hơn ? (Trở ngại: phán đoán)
+ Bài toán vận dụng tổng hợp (Trở ngại: phân tích, trừu tượng hóa tìm lời giải
đúng)
4.3.1.3 Câu hỏi mở
Trong quá trình dạy học, đôi khi GV cũng có thể sử dụng những câu hỏi ở mức độ
khó để HS suy nghĩ mà chưa có câu trả lời nào đúng, thậm chí không có câu trả lời nào
Câu hỏi như vậy gọi là câu hỏi “treo”, nhằm nêu tình huống, tập trung sự chú của HS vào
bài giảng mới hoặc đoạn bài giảng tiếp theo
Ví dụ: Để mở đầu bài “Điện trường” [4, tr13] GV có thể đặt câu hỏi : “Hai điện tích
trong chân không không tiếp xúc với nhau nhưng vẫn hút hoặc đẩy nhau Chúng tác dụng
lên nhau bằng cách nào ?”
4.3.2 Phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy
Theo PGS.TS Lê Phước Lộc [ 8, tr32] thì cơ sở của việc phân loại theo cách này đó
là
- Kiến thức mà HS trả lời: mức độ khó dễ và dung lượng nhiều hay ít
- Mức độ truy xuất các hoạt động tư duy của HS để trả lời câu hỏi
Với cơ sở trên thì câu hỏi có thể phân thành bốn loại như sau:
4.3.2.1 Câu hỏi loại “phát biểu”
Đây là loại câu hỏi chỉ đơn thuần yêu cầu HS nhắc lại, đôi khi không cần nhắc lại
nguyên văn Do đó mức độ tư duy không cao, HS chủ yếu chỉ cần tái hiện hoặc bắt chước
là chính Tuy nhiên, câu hỏi dạng này cần cho HS yếu để các em có cơ hội tham gia vào
bài học, có cơ hội được khen Câu trả lời đúng của các em cũng thể hiện một sự cố gắng
nhất định trong học bài cũng như trong việc rèn luyện ngôn ngữ nói trong chuyên môn
Mẫu câu hỏi:
- Hãy nhắc lại (phát biểu)
Trang 31(Mềm hóa câu hỏi: Em cho biết, được định nghĩa như thế nào ?)
- Hãy cho biết kết quả đo được từ thí nghiệm
(Mềm hóa: Em có thể cho biết kết quả đo của thí nghiệm được không ?)
- Hãy cho một ví dụ khác về !
(Mềm hóa: Em hãy cho một ví dụ khác về được không ?)
4.3.2.2 Câu hỏi loại “Trình bày”
Đây là loại câu hỏi yêu cầu mức tư duy cao hơn so với câu hỏi loại “phát biểu” Để
trả lời câu hỏi này, HS cần tái hiện nội dung, lựa chọn ngôn từ, tự mình cấu trúc câu, và
tập khả năng nói ra cái mình suy nghĩ, biết cách nói khái quát một vấn đề Nói chung, loại
câu hỏi này chủ yếu rèn luyện cho HS tư duy ngôn ngữ
Mẫu câu hỏi: cũng là một mệnh đề có yêu cầu trực tiếp
- Hãy mô tả !
- Hãy trình bày !
- Hãy chứng minh !
(Mềm hóa: Em có thể mô tả (trình bày, chứng minh) được không ?)
- Chuyện gì xảy ra nếu ?
4.3.2.3 Câu hỏi loại “Giải thích”
Câu hỏi loại này thuộc dạng khó, bởi vì để đá p ứng được yêu cầu, HS phải có khả
năng truy suất các hoạt động tư duy, tự mình cấu trúc câu trả lời và phải trả lời tương đối
nhiều Với loại câu hỏi này, có thể nhiều HS sẽ gặp khó khăn do không hiểu hết nội dung
yêu cầu của câu hỏi, hoặc có thể hiểu nhưng khó xác định nội dung trả lời Tuy nhiên, để
tạo điều kiện cho HS suy nghĩ, tìm cách trả lời, trong câu hỏi này có ngầm chứa một sự
gợi ý Có hai cách đặt câu hỏi:
- Cách đặt câu hỏi có dùng từ hỏi trực tiếp: (Từ hỏi) + (nội dung hỏi có ngầm chứa sự
Trang 32Ví dụ: Hãy giải thích tính chất điện của kim loại bằng cách dựa vào thuyết electron tự
do trong kim loại !
4.3.2.4 Câu hỏi loại “Luận chứng”
Đây là loại câu hỏi phức tạp hơn so với ba loại câu hỏi trên Để trả lời được, ngoài
việc HS phải có khả năng truy xuất các hoạt động tư duy, tự cấu trúc câu trả lời mà còn
đòi hỏi HS có năng lực tư duy cao để có thể tự tìm các phương án trả lời, phương án tối
ưu, tự biện luận lời giải (nếu cần)
Ví dụ:
+ Loại câu hỏi có một phương án tối ưu: Một bài tập vật lí mang tính tổng hợp chỉ có
một cách giải duy nhất
+ Loại câu hỏi có nhiều phương án giải quyết:
Làm thế nào để giảm công suất hao phí trên đường dây tải điện ?
4.3.3 Phân loại câu hỏi theo mục tiêu nhận thức (dựa theo tiêu chí phân loại mục
tiêu của Bloom)
Theo Bloom [1, tr99] thì nhận thức của HS được chia thành sáu mức độ từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp Sáu mức độ nhận thức đó là: Biết, hiểu, vận dụng, phân
tích, tổng hợp và đánh giá Dựa theo đó thì ở mỗi mức độ sẽ có một dạng câu hỏi kiểm tra
phù hợp với mức độ đó Những dạng câu hỏi này sẽ đánh giá được khả năng HS cũng
như những yêu cầu đề ra cho HS có đạt được hay không
4.3.3.1 Câu hỏi “Biết”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu,
các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp HS ôn lại được
những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
Các từ để hỏi thường là : “Cái gì”, “Bao nhiêu”, “Hãy phát biểu định nghĩa ”, “Hãy
mô tả ”,
Ví dụ: Hãy phát biểu định nghĩa cường độ điện trường
4.3.3.2 Câu hỏi “Hiểu”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số
liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời được các câu hỏi này cho thấy HS có
Trang 33khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ
bản trong nội dung đang học Những hoạt động sau đây của HS có thể gọi là “hiểu”:
- Diễn giảng được: HS có thể diễn đạt lại một vấn đề nào đó bằng lời lẽ riêng của
mình nhưng vẫn đảm bảo người nghe có thể hiểu được, và vẫn bảo toàn được nghĩa ban
đầu
Ví dụ: Em hiểu định luật Len-xơ như thế nào ?
- Tóm tắt được: HS có thể xác định được mục đích hoặc tóm tắt một bài viết, có thể
tóm gọn một đoạn bài học thành một cụm từ hoặc một từ đại diện
- Giải thích được: HS có thể lí giải các hiện tượng, sự kiện thậm chí một quá trình
hay một qui trình làm việc nào đó trong thực tế dựa vào những kiến thức đã được học
Ví dụ: Cùng một dòng điện chạy qua dây dẫn và dây tóc một bóng đèn Tại sao dây
tóc thì nóng đến sáng trắng mà dây dẫn lại hầu như không nóng lên ?
Các cụm từ để hỏi thường là: “Giải thích ”, “Tại sao ”, “Hãy phân tích ”, “Hãy so
sánh ”, “Hãy liên hệ ”, “Hãy phân tích các yếu tố cơ bản ”,
4.3.3.3 Câu hỏi “Vận dụng”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái
niệm, các qui luật, các phương pháp, vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời được
các câu hỏi vận dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được các qui luật, các khái niệm ,
có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết các vấn đề, vận dụng các phương án này
vào thực tiễn
Khi đặt câu hỏi cần tạo ra các tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học
và sử dụng các cụm từ như : “Làm thế nào ”, “Chỉ ra cách ”
Ví dụ: Làm thế nào để biết có dòng điện chạy qua một vật dẫn ?
4.3.3.3 Câu hỏi “Phân tích”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm ra khả năng phân tích một nội dung vấn đề,
từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm Để đạt được
tiêu chuẩn ở bậc này, người học không những phải làm chủ tri thức của mình mà còn phải
nhanh nhạy trong thao tác tư duy Việc trả lời được các câu hỏi này cho thấy HS có khả
năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận
Trang 34Việc đặt các câu hỏi phân tích đòi hỏi HS phải giải thích được các nguyên nhân thực
tế: “Tại sao ?”, đi đến kết luận: “Em có nhận xét gì về ”, “Hãy chứng minh ”, Các
câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải
Ví dụ: Từ kết quả thí nghiệm, hãy nhận xét mối quan hệ giữa độ lớn của lực từ với
cường độ dòng điện chạy qua đoạn dây dẫn và với chiều dài đoạn dây dẫn ấy
4.3.3.3 Câu hỏi “Tổng hợp”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán,
giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Cho nên, ta thấy
bậc nhận thức này yêu cầu khá cao đối với người học nhưng lại có thể thúc đẩy sự sáng
tạo của họ, các em phải tìm ra những nhân tố và ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội
dung HS đạt được mức độ này có thể thâu tóm được ý chính mà GV đã giảng, có thể đọc
một đoạn SGK và phát biểu ngắn gọn nội dung ấy, có thể tìm được kết luận chung cho thí
nghiệm biểu diễn
Thực ra trong nghiên cứu khoa học thì phân tích và tổng hợp là hai hoạt động luôn
luôn đi kèm nhau để tìm hiểu một sự việc, hiện tượng một cách trọn vẹn Tuy nhiên, để
đánh giá HS, hai mức độ này là hai khả năng tư duy cao thấp của một con người Có
người chỉ có thể phân tích nhưng không có khả năng tổng hợp Vì vậy, GV nên cân nhắc
khi sử dụng cho phù hợp với từng đối tượng HS
Các động từ dùng để hỏi kiểm tra bậc nhận thức này thường là : kết hợp, phối hợp, đề
ra, sáng tác, tạo, thiết kế, tổ chức, sắp xếp lại, cấu trúc lại, viết lại, tóm tắt, tìm cách giải
Ví dụ: Hãy đề ra những biện pháp giảm công suất hao phí khi truyền tải điện năng đi
xa
4.3.3.4 Câu hỏi “Đánh giá”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và đánh
giá các ý tưởng, giải pháp dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Để đạt được các mục tiêu
này, HS phải vững vàng về tri thức, thuần thục các hoạt động tư duy như: phân tích và
tổng hợp, so sánh, phân loại, trừu tượng hóa Phải kiên định với những định chuẩn đã đặt
ra, tuy nhiên cũng phải biết kết hợp hoàn cảnh của đối tượng, ngữ cảnh của sự kiện để có
thể gia giảm hợp lí các điểm số của đánh giá Có thể chia năng lực này theo các mặt công
việc như sau:
Trang 35- Đánh giá nội dung: Sau khi hoàn thành một bài luận, một bài tập hoặc một bài viết
nào đó, HS có thể xem lại để biết công việc mình làm có đạt chuẩn (tự đặt ra) hay không
để có thể hoàn chỉnh nó; Trong học tập, HS có thể đánh giá độ khó dễ của một bài tập,
thậm chí đánh giá cách giải của bạn là hay, chưa hay Khi HS phát biểu, trao đổi nhóm,
các em khác có thể nhận xét nội dung phát biểu, tranh luận của bạn
- Đánh giá hình thức: Trong quá trình dạy học, GV nên chú ý rèn luyện cho HS các
kỹ năng liên quan đến hình thức trình bày (mĩ thuật, hợp qui định), hình thức văn chương
(câu đúng ngữ pháp, chính tả) và hình thức lôgic trong cách nói và viết thông qua cách
đánh giá của GV đối với công việc, bài làm của HS Điều này rất có ích cho HS trong
công việc sau này của các em Cho nên muốn HS mình có được các kỹ năng này, trước
hết phải nói đến sự gương mẫu và sự nghiêm khắc của người thầy đối với HS của mình
- Đánh giá tư tưởng: Mỗi một công việc đều mang một mục đích tư tưởng nhất định
(đạo đức, nhân đạo, tính phục vụ, tính môi trường, tính thế giới quan ) Các mụch đích
ấy đôi khi không được thể hiện tường minh bằng câu chữ, cho nên người đánh giá cần có
cái nhìn sắc sảo khi đọc và khi nghe Để đạt được kĩ năng này, trước tiên mỗi người học
cần có thức tốt về mục đích học tập của mình, khi đó họ sẽ nhìn mọi công việc dưới cái
nhìn toàn diện hơn, không thiên lệch quá nhiều về chuyên môn Một người có thế giới
quan đúng và nhân sinh quan tốt thì mới biết đánh giá tư tưởng và có thể có những đánh
giá rất sâu sắc
- Đánh giá mức độ: Ngoài việc định chuẩn cho các nội dung đánh giá, người đánh giá
cần biết chia điểm hợp lí cho mỗi tiêu chí đánh giá Ở bậc trí tuệ cao nhất này, người
đánh giá có thể lượng hóa từng tiêu chí, biết so sánh, phân loại, sao cho việc đánh giá
được công bằng
Để đánh giá hoạt động tư duy này ở HS, GV có thể sử dụng các câu hỏi có chứa các
cụm từ: Đánh giá, kết luận, nhận xét, phê bình, phê phán, bảo vệ, phán đoán,
Trên đây là một số cách phân loại câu hỏi Thực ra, việc phân loại chỉ là tương đối
Vấn đề quan trọng là ở mục đích sử dụng cũng như trình độ soạn thảo và sử dụng chúng
trong các tình huống dạy học của GV Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó
để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả
lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần có nhận xét, động viên
Trang 36ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng Nếu tất cả HS đều trả lời sai
thì GV cần đặt câu hỏi đơn giản hơn để HS có thể trả lời được vì HS chỉ hứng thú học tập
khi họ thành công trong học tập Dưới đây là 10 điều cần lưu ý cho GV khi đặt câu hỏi
trên lớp [10, tr213]:
- Câu hỏi được đặt ra với mục đích gì ? (gợi vấn đề; định hướng HS; hướng dẫn hành
vi HS; kiểm tra kiến thức đã có của HS, )
- HS có thể trả lời được câu hỏi đặt ra hay không? (độ khó của câu hỏi)
- HS có đủ thời gian để suy nghĩ và trả lời câu hỏi đặt ra hay không? (không nên yêu
cầu HS trả lời ngay sau khi đặt câu hỏi Càng không nên gọi HS đứng lên rồi mới đặt câu
- Câu hỏi có được sử dụng bằng ngôn ngữ ngắn gọn, rõ ràng, đơn giản?
- Câu hỏi có được phân phối đều cho mọi thành viên trong lớp hay chỉ tập trung vào
một số ít HS?
- Các loại câu hỏi được dùng như thế nào? Có tránh được việc dùng một loại câu hỏi,
nhất là dùng quá nhiều câu hỏi gợi nhớ hay không?
- Khi giảng bài có thường xuyên đặt ra câu hỏi hay không?
Trang 37Chương 2 : TẬP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH
GIÁO KHOA VÀO 10 BÀI TRONG SÁCH VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
PPĐS là một trong những phương pháp dạy học tích cực rất hiệu quả trong việc rèn
luyện thói quen chủ động trong học tập, phát triển khả năng tư duy ở HS Vì vậy, ngoài
việc nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến phương pháp đọc sách, tôi còn tập vận dụng
phương pháp này vào việc thiết kế dạy học một số nội dung trong 10 bài thuộc SGK Vật
lí 11 nâng cao Trong quá trình nghiên cứu nội dung của từng bài, tôi sẽ vận dụng qui
trình như đã trình bày để lựa chọn nội dung thích hợp cho HS đọc Ngoài ra, việc tôi
lượng hóa các mục tiêu của từng bài theo thang bậc nhận thức Bloom còn nhằm để dễ
dàng trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cũng như đặt câu hỏi Đối với
từng nội dung đã được chọn, tôi sẽ phân tích kĩ nhằm lựa chọn hình thức tổ chức dạy học
hợp lí để đảm bảo HS đều hiểu bài Thêm vào đó, đối với các nội dung cho HS đọc tại
lớp, tôi còn kết hợp với hình thức thảo luận nhóm nhằm lằm tăng thêm hiệu quả giảng
dạy
Tuy đây là phương pháp hướng đến việc phát huy tính tự học của HS, nhưng GV
cũng không thể xem nhẹ việc kiểm tra sau khi giao nhiệm vụ cho các em đọc sách Việc
kiểm tra có tác dụng cho GV biết HS đã hiểu bài hay chưa, từ đó GV có thể chỉnh sửa, bổ
sung, nhận xét, mở rộng khi cần thiết Trong đề tài này, tôi kiểm tra thực sự HS đã hiểu
nội dung vừa đọc hay chưa bằng cách nêu ra hệ thống câu hỏi và yêu cầu các em hoạt
động để tìm câu trả lời Đây là hình thức kiểm tra đơn giản, dễ thực hiện nhưng cũng rất
hiệu quả
Tóm lại, có thể nói kiểm tra là một khâu rất quan trọng trong việc thiết kế dạy học
bằng PPĐS Nếu áp dụng phương pháp này trong dạy học mà thiếu nội dung kiểm tra thì
sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí làm mất đi tính tích cực của
PPĐS
1 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 2 THUYẾT
ÊLECTRON ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐIỆN TÍCH”
1 Chọn nội dung cho HS đọc
1.1 Xác định mục tiêu của bài
§ Theo SGV Vật lí 11 nâng cao[5, tr26], mục tiêu của bài được xác định như sau :
Trang 38“ - Trình bày những nội dung chính của thuyết êlectron Từ đó trình bày được ý
nghĩa của các khái niệm hạt mang điện và vật nhiễm điện.
- Giải thích được tính dẫn điện, tính cách điện của một chất, ba hiện tượng nhiễm
điện của các vật.
- Phát biểu được nội dung của định luật bảo toàn điện tích.”
§ Các mục tiêu ở trên đã được lượng hóa, tuy nhiên để dễ dàng trong việc thiết kế
các câu hỏi theo từng mức độ khó dễ khác nhau, cũng như để thuận tiện cho việc áp dụng
các phương pháp dạy học tích cực, tôi sẽ khai triển và sắp xếp lại các mục tiêu theo thang
bậc nhận thức Bloom
Mức độ
Nội dung
1 Thuyết êlectron - Trình bày được nội
dung chính của thuyết êlectron
- Trình bày được ý nghĩa của các khái niệm hạt mang điện
- Lấy được ví dụ thực
tế về vật dẫn điện và vật cách điện
- Giải thích được tính dẫn điện và tính cách điện của một chất
3 Giải thích ba hiện
tượng nhiễm điện
- Giải thích được ba hiện tượng nhiễm điện theo quan điểm của thuyết êlectron
Trang 394 Định luật bảo
toàn điện tích
- Phát biểu được nội dung của định luật bảo toàn điện tích
1.2 Chọn nội dung cho HS đọc
Từ bảng lượng hóa mục tiêu ở trên , tôi nhận thấy HS có thể đạt được các mục tiêu
của mục 1 và mục 2 thông qua PPĐS Tuy nhiên cũng cần phải xem xét thêm các nội
dung cụ thể đã được trình bày trong SGK để có quyết định chính xác:
- Mục “1 Thuyết êlectron” là nội dung đơn giản, dễ hiểu Hơn nữa, nội dung của
mục này cũng được SGK trình bày chi tiết, rõ ràng nên HS chỉ cần đọc sách là có thể hiểu
được Vì vậy, nhằm phát huy thái độ tích cực trong việc tham gia vào bài học của HS, tôi
sẽ cho các em tự đọc phần này để tìm câu trả lời cho các câu hỏi mà tôi đặt ra Khi đọc
xong phần này, HS có thể trình bày được những nội dung chính của thuyết êlectron Từ
đó trình bày được ý nghĩa của các khái niệm hạt mang điện và vật nhiễm điện Tới đây,
HS đã đạt được mục tiêu của nội dung này
- Mục “2 Vật (chất) dẫn điện và vật (chất) cách điện” : Về định nghĩa vật dẫn điện
và vật cách điện HS đã được biết ở lớp 7 [11, tr55] Trong mục này, SGK cũng đưa ra
định nghĩa vật dẫn điện và vật cách điện nhưng với một cách phát biểu khác mang tính
vận dụng thuyết êlectron Khi hiểu được hai định nghĩa này thì cũng đồng nghĩa với việc
HS đã giải thích được tính dẫn điện, tính cách điện của một chất Như vậy, nội dung mục
này giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức mà các em đã biết Sau khi đã tìm hiểu bài này, tôi
nhận thấy đây là mục có nội dung ngắn và tương đối đơn giản, cho nên nhằm tiết kiệm
thời gian để tập trung cho mục 3, tôi sẽ cho HS đọc nhanh phần này, sau đó các em sẽ trả
lời cho các câu hỏi mà tôi đưa ra để đảm bảo rằng các em đã hiểu được nội dung của
phần này
- Mục “3 Giải thích ba hiện tượng nhiễm điện” : Mục tiêu khi dạy mục này là HS
vận dụng được thuyết êlectron để giải thích ba hiện tượng nhiễm điện Thực ra mục này
cũng không khó, tuy nhiên nội dung của nó tương đối dài Mặt khác khi dạy phần này,
nhằm giúp HS khắc sâu kiến thức, có một số chi tiết GV cần giảng giải và nhấn mạnh cho
HS ( ví dụ như khi giải thích hiện tượng nhiễm điện do tiếp xúc, GV cần nhấn mạnh vai
Trang 40trò quan trọng của êlectron tự do trong hiện tượng này, đồng thời cũng nên giải thích cho
HS biết sự khác nhau của “tiếp xúc” nói đến ở đây và “tiếp xúc” nói đến ở hiện tượng
nhiễm điện do cọ xát) Vì những lí do đó, cho nên tôi không vận dụng PPĐS khi dạy mục
này mà sẽ kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm khai thác triệt để kiến thức được
trình bày
- Mục “4 Định luật bảo toàn điện tích” : Ở các lớp dưới, HS đã từng được tìm hiểu
nhiều định luật bảo toàn Đến đây, các em lại được tìm hiểu thêm một định luật bảo toàn
nữa đó là định luật bảo toàn điện tích Mục tiêu của mục này cũng chỉ yêu cầu HS phát
biểu được nội dung của định luật bảo toàn điện tích Do đó, để tránh mất nhiều thời gian,
tôi không chọn mục này cho HS tự đọc mà sử dụng phương pháp thông báo để giảng
nhanh nội dung này
Tóm lại đối với bài này, tôi sẽ vận dụng PPĐS khi dạy mục 1 và mục 2
2 Chọn hình thức tổ chức dạy học
2.1 Chọn hình thức đọc
- Mục “1 Thuyết êlectron” là nội dung đơn giản, dễ hiểu nhưng tương đối dài, vì
vậy nếu cho HS đọc trên lớp sẽ mất khá nhiều thời gian Do đó, tôi sẽ chọn nội dung này
cho HS đọc ở nhà theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn mà tôi giao cho các em ở cuối tiết
trước
- Mục “2 Vật (chất) dẫn điện và vật (chất) cách điện” là phần vận dụng thuyết
êlectron để giải thích tính dẫn điện hoặc cách điện của một chất Như vậy, HS chỉ có thể
tiếp thu tốt nội dung của phần này khi các em đã hiểu rõ nội dung mục 1 Do đó để đạt
hiệu quả cao, tôi sẽ cho HS đọc mục này tại lớp
2.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS
- Mục “1 Thuyết êlectron”
Tôi sẽ yêu cầu HS đọc trước mục này ở nhà và ghi vào vở chuẩn bị theo hệ thống
câu hỏi mà tôi đã phát cho các em Hệ thống câu hỏi này được tôi trình bày trên giấy A4
và phát cho HS ở cuối tiết trước
Trong tiết học, trước khi dạy mục này, tôi đề nghị HS nộp lại phần nội dung mà
các em đã chuẩn bị Kế đến, tôi chiếu lại hệ thống câu hỏi lên bảng và yêu cầu HS xung