1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý tập vận DỤNG PHƯƠNG PHÁP đọc SÁCH vào 6 bài TRONG SÁCH vật lý 12 NÂNG CAO

69 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 844,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Với tư cách là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản cho HS, SGK được sử dụng để giúp HS ôn tập và củng cố kiến thức đã học trên lớp; học thuộc hay tra cứu chính xác những số liệu,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM



Tên đề tài

TẬP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH VÀO 6 BÀI

TRONG SÁCH VẬT LÝ 12 NÂNG CAO

Luận văn tốt nghiệp Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ Chuyên Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ – TIN HỌC

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths - GVC: Đặng Thị Bắc Lý Trần Tấn Tỷ

Lớp: Sư phạm Lý- Tin k35

Cần Thơ, 5/2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Đặng Thị Bắc Lý, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Khoa Sư Phạm, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình thực hiện luận văn mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý

Trân trọng kính chào!

Trần Tấn Tỷ

Trang 4

Lời cảm ơn

Danh mục từ viết tắt

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Giới hạn đề tài 2

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3

4 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3

PHẦN 2: NỘI DUNG 4

Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA 4

1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 4

1.1 Quá trình dạy học 4

1.2 Phương pháp dạy học 6

2 PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA 6

2.1 Khái niệm 6

2.2 Các hình thức tổ chức phương pháp đọc sách 7

2.2.1 Chuẩn bị ở nhà 7

2.2.2 Nghiên cứu SGK tại lớp 9

2.2.3 Học sinh làm việc với sơ đồ 10

2.3 Quy trình chuẩn bị cho PPĐS 11

2.3.1 Chọn nội dung bài (hoặc một đoạn trong bài học) trong SGK 11

2.3.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS 11

2.3.3 Chuẩn bị hệ thống câu hỏi hướng dẫn cho PPĐS 12

3 CÁC DẠNG CÂU HỎI SỬ DỤNG ĐỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHI THỰC HIỆN PPĐS 12

3.1 Sự cần thiết của việc đặt câu hỏi trước khi đọc SGK 12

3.2 Các dạng câu hỏi 13

3.2.1 Phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy 13

3.2.2 Phân loại câu hỏi theo các bậc nhận thức Bloom 15

3.3 Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi 23

Trang 5

TRONG SÁCH VẬT LÍ 12 NÂNG CAO 25

1 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 17: SÓNG ÂM VÀ NGUỒN NHẠC ÂM” 25

1.1 Chọn nội dung cho HS đọc 25

1.1.1 Xác định mục tiêu của bài 25

1.1.2 Chọn nội dung cho HS đọc 27

1.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS 28

1.2.1 Chọn hình thức đọc 28

1.2.2 Chọn hình thức trình bày 28

1.3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS 28

2 VẬN DỤNG PHUƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 18: HIỆU ỨNG ĐỐP-PLE” 31

2.1 Chọn nội dung cho HS đọc sách 31

2.1.1 Xác định mục tiêu của bài 31

2.1.2 Chọn nội dung cho PPĐS 32

2.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS 33

2.2.1 Chọn hình thức đọc 33

2.2.2 Chọn hình thức trình bày 33

2.3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc SGK 33

3 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “ BÀI 30: MÁY PHÁT ĐIỆN XOAY CHIỀU” 35

3.1 Chọn nội dung cho HS đọc 35

3.1.1 Xác định mục tiêu của bài 35

3.1.2 Chọn nội dung cho HS đọc 36

3.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS 37

3.2.1 Chọn hình thức đọc 37

3.2.2 Chọn hình thức trình bày 37

3.3 Hệ thống câu hỏi 37

4 VẬN DỤNG PHUƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 32: MÁY BIẾN ÁP TRUYỀN TẢI ĐIỆN” 39

4.1 Chọn nội dung cho HS đọc sách 39

4.1.1 Xác định mục tiêu của bài 39

4.1.2 Chọn nội dung cho PPĐS 40

Trang 6

4.3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn cho HS đọc sách 41

5 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 39: MÁY QUANG PHỔ CÁC LOẠI QUANG PHỔ” 42

5.1 Chọn nội dung cho HS đọc 42

5.1.1 Xác định mục tiêu của bài 42

5.1.2 Chọn nội dung cho PPĐS 45

5.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học 46

5.2.1 Chọn hình thức đọc 46

5.2.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS 47

5.3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc 47

6 VẬN DỤNG PHUƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “ BÀI 49: SỰ PHÁT QUANG SƠ LUỢC VỀ LAZE” 50

6.1 Chọn nội dung cho HS đọc sách 50

6.1.1 Xác định mục tiêu của bài 50

6.1.2 Chọn nội dung cho HS đọc 51

6.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học theo PPĐS 51

6.2.1 Chọn hình thức đọc 51

6.2.2 Chọn hình thức trình bày 52

6.3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc sách 52

PHẦN 3: KẾT LUẬN 54

1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 54

2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 54

3 NHỮNG DỰ ĐỊNH TRONG TƯƠNG LAI 54

PHỤ LỤC 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 7

Tuy nhiên những phương tiện như: micro, loa truyền thanh, đài cassete, video, máy chiếu, projector, máy vi tính cũng chỉ là những công cụ phụ trợ chúng không thể nào thay thế cho người thầy Người thầy phải có một hệ thống các công cụ đặc thù, đặc trưng nghề nghiệp Đó chính là nghệ thuật dẫn dắt, khơi gợi vấn đề, khơi gợi năng lực của người học, xây dựng nền tảng kiến thức, xây dựng năng lực tư duy cho người học, giúp người học tự mình xây nên toà lâu đài kiến thức của bản thân trong suốt những năm tháng cuộc đời Người thầy trong thời đại mới cũng phải luôn đổi mới, luôn tích luỹ kiến thức để tạo

ra những phương thức, cách thức mới giúp cho người học tiếp thu kiến thức một cách đơn giản, dễ dàng nhất Để làm được điều đó, việc vận dụng khéo léo, phù hợp từng phương pháp cụ thể vào từng bài học là việc làm hết sức cân nhắc của người giáo viên Như ở đây, phương pháp làm việc với sách giáo khoa hay còn gọi là phương pháp đọc sách giúp khai thác tối đa khả năng tự lực họat động của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên

PPĐS là phương pháp dạy và học mang tính tích cực, không chỉ HS phải tự hoạt động mà GV cũng phải tư duy sáng tạo PPĐS nghĩa là HS phải tự đọc SGK, sau đó tìm nội dung trọng tâm để ghi nhớ, vận dụng để giải thích các hiện tượng vật lí, các bài

Trang 8

tập Tuy nhiên, để đạt được điều đó, hay để PPĐS thực sự là PPDH tích cực đúng nghĩa thì cần phải có sự hợp tác một cách nghiêm túc ở cả hay phía: người dạy và người học Muốn HS làm được điều đó thì không phải dễ, GV phải nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan thật kĩ, tìm những nội dung thích hợp để HS có thể tự đọc và khai thác nội dung theo đúng mục tiêu của bài đề ra Khi được giao nhiệm vụ đọc sách, HS phải làm việc một cách tự lực, không phải ngồi nghe, ghi chép nội dung do thầy cô cung cấp HS phải

tự đọc sách, tìm kiếm nội dung trong bài để trả lời những câu hỏi mà GV yêu cầu Dần dần, PPĐS sẽ tập cho HS thói quen chủ động trong học tập, tự bản thân HS nhận thấy mình còn thiếu những gì và tự tìm sách để đọc PPĐS rất hữu ích với chúng ta, không chỉ đối với HS phổ thông mà còn đối với tất cả mọi người, phương pháp này làm giàu thêm tri thức, vốn kinh nghiệm, giúp vốn sống con người ngày càng được nâng cao

Theo tôi , đây là phương pháp rất hữu ích đối với HS, giúp các em rèn luyện khả năng tự lực là chính Khi vận dụng tốt phương pháp này, tôi đã một phần tạo nền tảng giúp HS từng bước tiến đến bến bờ tri thức bằng chính năng lực của mình Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, tôi chỉ tìm thấy hai tài liệu hướng dẫn áp dụng PPĐS cho việc dạy

học cụ thể là của SGK vật lí phổ thông, đó là công trình nghiên cứu: “ Tập vận dụng phương pháp đọc sách vào 10 bài trong sách Vật lý 10 nâng cao” của tác giả Ngô Hồng

Sa (Luận văn tốt nghiệp- năm 2009- ĐH Cần Thơ) và công trình nghiên cứu: “ Tập vận dụng phương pháp đọc sách vào 10 bài trong sách Vật lí 11 nâng cao” của tác giả

Huỳnh Thanh Tâm ( Luận văn tốt nghiệp- năm 2011- ĐH Cần Thơ) Vì vậy, với mong

muốn tiếp tục góp phần vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học

vật lí tôi nghiên cứu đề tài: “Tập vận dụng phương pháp đọc sách vào 6 bài trong sách Vật lý 12 nâng cao”

Đó cũng là lí do của đề tài

1.2 Giới hạn đề tài

Do hạn chế thời gian làm luận văn, trong đề tài này, tôi chỉ tổng hợp lý thuyết về PPĐS và xây dựng qui trình chuẩn bị cho PPĐS Sau đó, tôi sẽ vận dụng lý thuyết PPĐS vào dạy 6 bài trong SGK Vật lý 12 nâng cao

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Trong đề tài này, các mục tiêu cần hướng tới là:

 Tổng hợp lý thuyết về PPĐS

Trang 9

 Xây dựng quy trình chuẩn bị cho PPĐS

 Thiết kế các nhiệm vụ đọc sách, đề ra các hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS hỗ trợ việc dạy học 6 bài trong SGK Vật lý 12 nâng cao

3 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng phương pháp nghiên cứu sau:

 Nghiên cứu lý thuyết: tìm đọc các tài liệu có liên quan, sau đó phân tích và tổng hợp lý thuyết về PPĐS

 Vận dụng lý thuyết đã nghiên cứu vào dạy 6 bài trong SGK Vật Lý 12 nâng cao

- Phương tiện thực hiện đề tài:

Các tài liệu tham khảo: Giáo trình lý luận, đánh giá, sách giáo khoa, tài liệu từ mạng internet và các sách tham khảo khác

4 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- Bước 1: Xác định mục tiêu của đề tài

- Bước 2: Xây dựng đề cương

- Bước 3: Sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài

- Bước 4: Xây dựng cơ sở lý thuyết

- Bước 5: Vận dụng lý thuyết về PPĐS vào 6 bài trong SGK Vật Lý 12 nâng cao

- Bước 6: Hoàn thành luận văn

- Bước 7: Báo cáo, bảo vệ luận văn

Trang 10

PHẦN 2: NỘI DUNG

Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LÀM

VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA

1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

1.1 Quá trình dạy học

“Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhầm đạt được mục đích dạy học.” [6, tr22]

Từ khái niệm trên ta thấy trong QTDH, dạy chỉ đạo học, học vừa được chỉ đạo vừa

tự chỉ đạo Hoạt động dạy và hoạt động học liên hệ mật thiết với nhau, diễn ra đồng thời

và phối hợp chặt chẽ, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học, mục đích cuối cùng là nhằm bồi dưỡng, giáo dục cho học sinh tri thức và kỹ năng sống để thông qua đó hình thành cho HS thái độ và nhận thức đúng đắn đối với cuộc sống

Cùng với xu hướng chung của cả thế giới và sự phát triển xã hội của nước ta, quá trình dạy học cũng đã và đang thay đổi tích cực để có thể thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển Theo đó quá trình dạy học hiện nay có các đặc điểm cơ bản

sau [9, tr14]:

* Hoạt động học tập của HS được tích cực hóa trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng được hiện đại hóa Sự phát triển như vũ bão của xã hội, nhất là của cách mạng khoa học, kỹ thuật- công nghệ hiện nay khiến nội dung dạy học trong nhà trường không ngừng được đổi mới, được hiện đại hóa Do đó, GV trong QTDH không chỉ là người cung cấp thông tin mà quan trọng hơn, họ phải là người hướng dẫn HS biết cách tự mình thu thập, xử lý và sử dụng thông tin

* Học sinh hiện nay có vốn sống và năng lực nhận thức phát triển hơn so với học sinh ở các thế hệ trước (cùng lứa tuổi)

 HS hiện nay thường xuyên được tiếp cận với nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ các phương tiện truyền thông khác nhau

 HS hiện nay chịu ảnh hưởng tác động từ nhiều phía khác nhau của cuộc sống

Trang 11

 HS hiện nay đã và đang nhận được ngày càng nhiều những ảnh hưởng của giáo

dục với hệ thống các phương pháp tích cực

Từ đó, trong quá trình dạy học GV cần phải:

 Tìm hiểu khả năng nhận thức của HS để dạy học cho phù hợp

 Quan tâm khai thác vốn sống phong phú và đa dạng của các em bằng các biện pháp tích cực hóa tri thức của HS trong quá trình dạy học như cho HS liên hệ tri thức cơ bản với thực tiễn; thông báo tài liệu, thông tin mà các em tìm kiếm được

 Tạo điều kiện để HS có cơ hội phát huy tiềm năng vốn có của mình bằng việc tổ chức các hoạt động cho HS giải quyết những nhiệm vụ, những tình huống học tập

* Nhu cầu nhận thức của học sinh có xu hướng vượt ra ngoài phạm vi nội dung tri thức,

kỹ năng do chương trình quy định Xu hướng này thể hiện ở chỗ HS thường chưa thỏa mãn với hệ thống tri thức được cung cấp trong chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác được quy định Các em luôn muốn biết nhiều hơn, hiểu sâu hơn những điều đã học và nhiều điều mới lạ khác của cuộc sống muôn màu muôn vẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và các nhu cầu cần thiết khác của bản thân

Để đáp ứng xu hướng trên:

 Ngoài “phần cứng”, chương trình dạy học cần thiết kế các “phần mềm” trong các môn học

 Tăng cường môn học tự chọn

 Luôn cập nhật thông tin trong quá trình dạy học

 Hướng dẫn HS cách sưu tầm, xử lý, sử dụng tài liệu, thông tin để thực hiện các nhiệm vụ học tập

 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa môn học, tham quan, học nhóm, tự học nhằm phát huy tiềm năng và hứng thú của HS, tạo điều kiện cho HS kiểm nghiệm,

mở mang vốn hiểu biết của mình, có khả năng thích ứng nhanh với cuộc sống sau này

* Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học ngày càng hiện đại

 Các trường học ở Việt Nam hiện nay đã và đang được quan tâm đầu tư nâng cấp

cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật theo hướng hiện đại nhằm phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học

Trang 12

 Trình độ sử dụng các điều kiện, phương tiện dạy học của GV ở một số trường hiện nay chưa tương xứng dẫn đến sự lãng phí hoặc làm giảm hiệu quả dạy học

Với thực tế như vậy, đòi hỏi GV cần tăng cường sử dụng PPDH tích cực và không ngừng học hỏi kinh nghiệm sử dụng các cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học, từ

đó tạo nên hiệu quả cho QTDH

2 PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH GIÁO KHOA

2.1 Khái niệm

Với tư cách là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản cho HS, SGK được sử dụng để giúp

HS ôn tập và củng cố kiến thức đã học trên lớp; học thuộc hay tra cứu chính xác những

số liệu, định nghĩa, định lý, công thức, các sự kiện ; khái quát hóa nội dung từ các phần, các chương, các bài theo một chủ đề nhất định

SGK là nguồn tri thức bổ sung quan trọng, phong phú, sinh động; là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho GV và HS trong dạy học, nhất là khi khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão với sự bùng nổ thông tin như hiện nay

Trang 13

Việc sử dụng SGK có phương pháp giúp khai thác tốt khả năng tự lực, hoạt động sáng tạo của HS Qua đó, HS mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết một cách có hệ thống; rèn luyện kỹ năng, thói quen sử dụng SGK; bồi dưỡng óc nhận xét, phê phán, tình cảm trong sáng, hứng thú học tập một cách thường xuyên, liên tục, suốt đời trong tương lai

Từ đó, trong quá trình giảng dạy, GV luôn phải tìm tòi, sáng tạo, luôn tư duy tìm cách làm thế nào để có thể khai thác tốt khả năng tiềm ẩn của HS Sự chỉ đạo của GV là hết sức cần thiết, GV cần làm cho HS có ý thức và thái độ đúng đắn đối với việc học tập

từ SGK, nhất là biết hướng dẫn HS phương pháp học tập từ SGK

Như vậy, phương pháp làm việc với sách giáo khoa (PPĐS) có thể hiểu là:

“ HS tự khai thác nội dung của bài học hoặc nội dung thành phần nào đó của SGK, dưới sự hướng dẫn của GV, khi các em đã quen học cách này, GV có thể cho các em làm việc với tài liệu ngoài SGK.” [7, tr50]

Phương pháp đọc sách có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau [7, tr50]

TS Lê Phước Lộc [7, tr50] đã đề nghị 3 hình thức cho PPĐS, đó là: chuẩn bị ở nhà, nghiên cứu SGK tại lớp và HS làm việc với sơ đồ

2.2.1 Chuẩn bị ở nhà

GV

HS SGK

Trang 14

Chuẩn bị ở nhà là hình thức đọc sách đơn giản và dễ thực hiện nhất Ý nghĩa của hình thức này là làm cho HS biết tìm tòi ý chính của đoạn phải đọc, viết được tóm tắt ý; đọc sách trước làm cho HS có tâm lí chờ đợi tới giờ học, để giải quyết những vấn đề còn thắc mắc hay chưa thông hiểu trong quá trình nghiên cứu nội dung đọc ở nhà Khi đó, lúc lên lớp HS sẽ cần giáo GV hướng dẫn hoặc tập trung vào bài giảng để tìm câu trả lời cho mình Lâu nay, hình thức này vẫn được nhiều GV áp dụng song chưa định hướng cụ thể hay chưa có phương pháp rõ ràng, nên HS cũng không hoàn thành nhiệm vụ được giao Hoặc có đọc sách nhưng HS chỉ đọc cho có chứ không thu được kết quả gì Nếu tổ chức tốt, hình thức này sẽ tạo thói quen cho HS tự tìm hiểu SGK nói riêng và tài liệu ngoài nói chung Theo đó, HS luôn có ý thức đọc sách trước ở nhà, tạo cơ sở quan trọng cho việc thực hiện PPĐS theo các hình thức tiếp theo

Tuy đây là hình thức đơn giản, dễ thực hiện nhưng cũng cần phải chú ý một số vấn

đề sau: khi giao cho HS tự đọc sách, bước đầu chỉ nên đọc một đoạn ngắn nào đó trong bài thôi (không nên cho HS đọc hết cả bài) Như vậy, ta sẽ cho một đoạn nào đó có nội dung đơn giản, dễ hiểu để giao cho HS tự đọc SGK Ngoài ra, ta cũng cần chú ý thêm là khi cho câu hỏi theo yêu cầu của GV Vì vậy, để có kết quả tốt thì câu hỏi phải được GV soạn kỹ, có yêu cầu tư duy, có hướng đến mục tiêu cụ thể, rõ ràng để HS có thể nhận ra, đáp ứng được yêu cầu và không đi lệch hướng ban đầu

Bài chuẩn bị đó được sử dụng để: kiểm tra sự chuẩn bị của HS ở nhà, giảng nhanh nội dung đã chuẩn bị, bổ sung kiến thức cần thiết, mở rộng vấn đề, củng cố kiến thức

Ví dụ: Bài 11: Dao động cưỡng bức - cộng hưởng [3, tr52]

* Thế nào là hiện tượng cộng hưởng?

* Cho biết điều kiện xảy ra cộng hưởng Hãy chỉ ra một vài ứng dụng của hiện tượng cộng hưởng trong thực tế?

Ngoài ra, hình thức chuẩn bị ở nhà còn có thể làm một số việc khác nhau như:

- Lí giải một định nghĩa, một kết luận trong bài học (muốn làm được, HS phải đọc đoạn bài trước đó để đi đến định nghĩa, kết luận đó), hoặc rút ra kết luận từ thí nghiệm, từ thực tế (cũng phải đọc nội dung trước đó, nghiên cứu quá trình thực hiện thí nghiệm mới

có thể rút ra kết luận được)

Ví dụ: Bài 6: Dao động điều hòa [3, tr28]

Trang 15

* Hãy nhận xét và đưa ra kết luận thế nào là dao động? từ các thí nghiệm Hình 6.1

- Lí giải một hình vẽ trong SGK, một sơ đồ nào đó, một đồ thị, một bảng số liệu của bài sắp học

Ví dụ: Bài 16: Giao thoa sóng [3, tr87]

* Hình 16.4 là ảnh chụp mặt nước khi có giao thoa sóng Vì sao ở đây các vân giao thoa không phải là những đường liền nét như khi nhìn trực tiếp bằng mắt thường

2.2.2 Nghiên cứu SGK tại lớp

Hình thức đọc sách tại lớp đã nâng lên một bậc so với việc đọc sách ở nhà Đặc điểm của hình thức này là có ràng buộc về thời gian không như hình thức đọc ở nhà Vì vậy, khi GV giao cho HS đọc sách tại lớp phải chú ý lựa chọn nội dung phù hợp, đoạn ngắn dễ hiểu, nội dung không phân tán, tập trung vào một vấn đề nhất định nào đó Để phù hợp với khả năng tập luyện ban đầu của HS GV cần cân nhắc kỹ khi thực hiện vấn

đề này Cần tập cho HS dần dần quen và từng bước nâng lên mức độ khó hơn đối với hình thức đọc SGK tại lớp

Mức độ 1: (thực hiện một đoạn trong bài) chọn một đoạn đơn giản trong bài để HS đọc và thực hiện phương pháp kèm theo việc đọc sách tại lớp (đàm thoại gợi mở, thảo luận,…)

Mức độ 2: (Thực hiện cả bài) GV cần chọn những bài dễ, nội dung tập trung vào một vấn đề nào đó, không phân tán ra nhiều vấn đề, không có nhiều khái niệm lạ hoặc có nhiều ví dụ khó hiểu Tăng dần độ khó của bài đọc

Mức độ thể hiện với sự “khó, dễ” của hình thức này chỉ là tương đối phụ thuộc vào yêu cầu đề ra của GV Tuỳ vào mức độ, trình độ, khả năng của HS từng vùng khác nhau,

ví dụ như: đối với HS ở những vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu vùng xa, nền giáo dục còn ở mức thấp, khả năng nhận thức của HS không cao Vậy khi yêu cầu đọc sách GV chỉ có thể yêu cầu các em biết được vấn đề như: phát biểu, nhắc lại… còn những vùng có nền giáo dục phát triển, khả năng nhận thức của HS khá cao thì cần yêu cầu ở những mức cao hơn như mức hiểu và vận dụng Nói chung, sự “khó, dễ” phụ thuộc vào hệ thống câu hỏi mà GV đề ra yêu cầu HS thực hiện trong khi đọc sách Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng dần mức độ khó của bài đọc khi HS đã quen dần với hình thức này

Trang 16

Để có thể làm tốt hình thức đọc sách tại lớp, GV yêu cầu HS đọc qua nội dung đó trước ở nhà (chỉ nắm bắt nội dung, không cần ghi lại vào vở chuẩn bị như hình thức đọc SGK tại nhà) đến khi đọc tại lớp vừa tiết kiệm thời gian vừa thực hiện có hiệu quả hơn

Để chuẩn bị cho hình thức này, ta cần chú ý những yêu cầu chung sau đây [7, tr51]:

- Đảm bảo thời gian trên lớp

- Các câu hỏi hướng dẫn phải đảm bảo liên kết thành hệ thống để HS “đi từng bước” đến mục tiêu cuối cùng Cụ thể là:

 Hệ thống câu hỏi khái quát nội dung cả bài (HS đọc lướt nhanh qua để trả lời)

Ví dụ: Bài này đem đến cho ta những kiến thức gì?(nội dung chính của bài);

có mấy vấn đề trình bày trong bài này (nội dung thành phần); em mong đợi điều gì ở bài này? Tạm gọi đây là hệ thống câu hỏi thứ 1 nhằm tiếp cận nội dung của bài học một cách khái quát

 Hệ thống câu hỏi khai thác nội dung từng phần( một đoạn trong bài)

Ví dụ: Đoạn này nói gì? Có những sự kiện (sự vật, hiện tượng, từ ngữ) nào nói lên điều đó? Ta cũng tạm gọi đây là hệ thống câu hỏi thứ 2 nhằm khai thác nội dung thành phần của bài

 Hệ thống câu hỏi kết thúc nội dung bài học, khác với hệ thống thứ nhất, hệ

thống này sẽ yêu cầu HS trả lời rõ hơn, cụ thể hơn

Ví dụ: Cái gì mới mà em tiếp thu được ở đây? Điều mong đợi của em đã được thỏa mãn chưa, hãy nói tóm gọn điều đó?

Tóm lại, thực hiện phương pháp làm việc với SGK theo hình thức dạy học tích cực vẫn còn khá mới đối với học sinh, cho nên ở đây chỉ mang tính là luyện tập cho HS làm quen với phương pháp mới mà thôi Thực tế, HS chưa thể thích nghi được với phương pháp mới ngay được Do vậy, bước đầu chỉ cho HS đọc một đoạn trong bài mà thôi, không nên cho các em đọc cả bài vì việc đó quá sức HS và gây cảm giác nhàm chán Hiệu quả sẽ không cao, đôi khi gây tác dụng ngược lại Vì vậy, GV chỉ nên chuẩn bị hệ thống thứ hai, giải quyết một vấn đề nào đó trong bài học là được

2.2.3 Học sinh làm việc với sơ đồ

Có thể nói, đây là hình thức khá phức tạp không chỉ đối với HS mà còn đối với GV khi chuẩn bị cho hình thức này Tuy nhiên, khi sử dụng hình thức này lại có nhiều ý nghĩa:

Trang 17

- HS luyện tập tư duy trên tổng thể nội dung của cả bài học, có cái nhìn tổng quát để tìm thấy cấu trúc logic của bài học đó

- Nếu sử dụng tốt hình thức này thì nó giống như một trò chơi xen kẽ các phương pháp khác (diễn giảng, thí nghiệm, vấn đáp…)

- GV có thể dùng Overhead để tiến hành thực hiện “trò chơi” như vừa nói trên Tuy nhiên, để thực hiện hình thức này không đơn giản Trước tiên, người GV phải

có khả năng phân tích chính xác nội dung của cả bài (một đoạn trong bài) Công việc quan trọng nữa là GV phải cho HS làm quen với các kí hiệu logic Một việc làm khác có

ý nghĩa nữa đối với HS là các em phải tự hoàn thành nội dung bài học ở nhà theo dàn bài

mà GV đưa ra sau khi GV và HS hoàn thành sơ đồ bài học đó trên lớp

2.3 Quy trình chuẩn bị cho PPĐS

2.3.1 Chọn nội dung bài (hoặc một đoạn trong bài học) trong SGK

Đây là công việc khá quan trọng trong việc góp phần thành công của PPĐS GV cần chú ý công đoạn này Khi cho HS đọc sách, GV cần nghiên cứu kỹ các bài (một đoạn trong bài học) trong SGK rồi chọn nội dung phù hợp cho HS đọc Nếu GV chọn nội dung không phù hợp (ví dụ: như bài (đoạn) có nhiều khái niệm mới, nhiều ví dụ phức tạp, …) thì HS sẽ gặp lúng túng, khó khăn khi nhận nhiệm vụ mà GV yêu cầu Khi đó, HS sẽ không hiểu được nội dung đã đọc, không tập trung vào trọng tâm của bài, trả lời câu hỏi của GV không đạt yêu cầu, dẫn đến kết quả thất bại trong PPĐS

Theo PGS.TS Lê Phước Lộc [7, tr55] những bài học có nội dung sau đây có thể phù hợp với PPĐS:

 Nội dung có vận dụng hoặc nâng cao kiến thức đã học, khi đọc có thể hiểu được

 Nội dung có tập trung vào một vấn đề mới rõ ràng

 Nội dung không có nhiều khái niệm lạ (hoặc khái niệm đã học lâu, hoặc có liên quan đến các khái niệm thuộc các bộ môn khác)

2.3.2 Chọn hình thức tổ chức dạy học cho PPĐS

Buớc này hoàn toàn dựa vào sự linh hoạt của giáo viên Tuy nhiên, ở phần trên đã trình bày ba hình thức đọc sách và tuỳ vào nội dung của từng bài (hoặc một đoạn trong bài) mà ta lựa chọn hình thức cho phù hợp Vì có bài (hoặc một đoạn trong bài) phù hợp

Trang 18

với hình thức này nhưng nội dung khác lại phù hợp với hình thức khác Vì vậy, GV cần tập cho HS làm quen dần từ hình thức dễ đến hình thức khó Nhìn chung, với khả năng đọc của HS phổ thông, thường sẽ cho các em làm việc theo hai hình thức đơn giản nhất là đọc sách ở nhà và đọc sách tại lớp là chủ yếu Bên cạnh đó, GV sẽ chuẩn bị hệ thống câu hỏi hướng dẫn cho HS nên các em dễ thực hiện và có thể hoàn thành nhiệm vụ Vì các lí

do nêu trên, nên trong bài luận văn này, tôi chỉ sử dụng hai hình thức là đọc sách ở nhà và đọc sách tại lớp trong PPĐS, còn đối với hình thức làm việc với sơ đồ tôi sẽ tổ chức thực hiện khi đã có kinh nghiệm trong quá trình tôi giảng dạy ở trường phổ thông

2.3.3 Chuẩn bị hệ thống câu hỏi hướng dẫn cho PPĐS

Đây là một giai đoạn quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho PPĐS vì nó quyết định sự thành công cũng như chất lượng của PPĐS Vì nếu trong quá trình chuẩn bị, GV chuẩn bị tốt phần này, đặt câu hỏi có nội dung yêu cầu rõ ràng, bám sát mục tiêu của bài thì HS sẽ biết được mình sẽ làm gì và tiếp thu những gì sau khi đọc sách Có rất nhiều dạng câu hỏi, câu hỏi theo các bậc nhận thức Bloom, câu hỏi theo cách trình bày…tuỳ vào nội dung mà ta đặt câu hỏi cho phù hợp Còn ngược lại, nếu bước này không được

GV chuẩn bị tốt, các câu hỏi đặt ra không cụ thể, không có yêu cầu rõ ràng và không bám sát mục tiêu thì việc thực hiện PPĐS sẽ thất bại Do đó, đối với bước này trong khi đặt câu hỏi GV cần chú ý tính sáng tạo vì không có khuôn mẫu nào quy định sẵn tạo ra được

hệ thống câu hỏi cho từng bài

3 CÁC DẠNG CÂU HỎI SỬ DỤNG ĐỂ HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHI THỰC HIỆN PPĐS

3.1 Sự cần thiết của việc đặt câu hỏi trước khi đọc SGK

Trong dạy học, câu hỏi đóng vai trò hết sức quan trọng, nó dùng để giao tiếp giữa GV- HS, HS-HS Tác dụng của câu hỏi là rất nhiều, từ việc sử dụng để dẫn dắt vào bài mới; khám phá kiến thức mới; nối kết kiến thức mới với kiến thức cũ;…còn rất nhiều tác dụng khác nữa Riêng đối với PPĐS, câu hỏi đóng vai trò rất quan trọng quyết định sự thành công cũng như chất lượng của PPĐS bởi nhiều lí do [11, tr18]:

- Việc đặt câu hỏi trước khi đọc sách giúp cho PPĐS đạt hiệu quả hơn Bởi vì khi

GV yêu cầu HS tự đọc sách mà không có hệ thống câu hỏi kèm theo thì các em sẽ không biết, lúng túng khi nhận nhiệm vụ Khi đọc xong, HS không biết nên chú trọng vào nội

Trang 19

dung nào là chính, dẫn đến không nhớ gì ngay khi đọc xong Mục tiêu đề ra không đạt hiệu quả đúng như mong muốn

- Đối với những bài có nội dung dài, việc đặt câu hỏi trước khi yêu cầu HS đọc sách

là điều rất cần thiết Vì khi dựa vào câu hỏi, HS sẽ không bị lúng túng, xác định được mục tiêu cần ghi nhớ nên mục tiêu dạy học dễ dàng đạt được Còn nếu không đặt câu hỏi trước khi yêu cầu HS đọc sách thì HS sẽ đọc tràn lan, không xoáy sâu vào vấn đề chính dẫn đến kết quả của PPĐS bị thất bại

- Ngoài ra, việc đặt câu hỏi trước khi đọc sách còn giúp thu hút sự tập trung của HS hơn Nó cũng giống như việc gây chú ý của GV khi vào bài bằng cách đặt vấn đề Câu hỏi hay, gắn liền với thực tế và càng hấp dẫn thì khả năng thu hút HS cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao càng cao

Từ những phân tích trên cho ta thấy rõ, việc đặt câu hỏi trước khi đọc sách là một việc làm cần thiết Tuỳ vào nội dung của bài, tuỳ theo trình độ của HS mà ta có các dạng câu hỏi phù hợp cho từng đối tượng này Vậy, việc nghiên cứu các dạng câu hỏi cũng hết sức cần thiết và quan trọng GV cần tích cực nghiên cứu kĩ vấn đề này để khi vận dụng vào bài, đặt câu hỏi có chất lượng và phù hợp hơn

3.2 Các dạng câu hỏi

Có nhiều loại câu hỏi được sử dụng trong dạy học và cũng có nhiều cách phân loại câu hỏi khác nhau: phân loại câu hỏi theo mục tiêu lí luận dạy học của bài (câu hỏi sử dụng cho việc khai thác kiến thức; câu hỏi dùng để kiểm tra kiến thức, kỹ năng), phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy (phát biểu, trình bày,…), phân loại câu hỏi theo hình thức trả lời (câu hỏi trắc nghiệm; câu hỏi tự luận)… Trong bài luận văn này, tôi tìm hiểu hai cách phân loại câu hỏi được sử dụng phổ biến là “phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy” và “phân loại câu hỏi theo các bậc nhận thức Bloom”

3.2.1 Phân loại câu hỏi theo kiến thức trả lời và mức độ tư duy

Theo PGS.TS Lê Phước Lộc [8, tr32] thì cơ sở của việc phân loại câu hỏi này đó là:

- Kiến thức mà HS trả lời tuỳ vào mức độ khó dễ và dung lượng nhiều hay ít

- Mức độ truy xuất các hoạt động tư duy của HS để trả lời câu hỏi

Theo kiểu phân loại này thì câu hỏi phân thành có bốn loại như sau:

Trang 20

3.2.1.1 Câu hỏi “phát biểu” (loại 1)

Loại câu hỏi kiểu này khá đơn giản Người GV dựa trên kiến thức có sẵn (định nghĩa, khái niệm, quy luật) để đặt câu hỏi Do đó, mức độ tư duy cũng không cao, không cần sáng tạo, chỉ cần tái hiện lại, lặp lại và bắt chước Tuy nhiên, nếu GV sử dụng dạng câu hỏi này có nghệ thuật thì sẽ thu hút HS rất nhiều vào bài giảng Khi hỏi sẽ tạo cảm giác thoải mái giúp HS tập trung vào bài hơn

Mẫu câu hỏi:

Hãy nhắc lại (phát biểu)…

(Mềm hoá câu hỏi: Em cho biết,…được định nghĩa như thế nào?)

Hãy cho biết kết quả đo được từ thí nghiệm…

(Mềm hoá câu hỏi: Em hãy cho biết kết quả đo thí nghiệm… được không?)

Hãy cho một ví dụ khác về…!

(Mềm hoá câu hỏi: Em có thể cho 1 ví dụ khác về…được không?)

3.2.1.2 Câu hỏi loại “trình bày” (loại 2)

Dạng câu hỏi này cũng đơn giản nhưng đòi hỏi sự tư duy ở mức cao hơn dạng câu hỏi “loại 1: loại sự kiện mới được xem, được nghe….” Để trả lời cho câu hỏi này, HS cần

tư duy có phần cao hơn, có yếu tố sáng tạo trong đó Phát biểu không theo khuôn mẫu có sẵn, có lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ của bản thân Nói chung, loại này giúp HS chủ yếu rèn luyện tư duy ngôn ngữ

Mẫu câu hỏi:

Hãy mô tả…!

Hãy trình bày…!

Hãy chứng minh…!

(Mềm hóa: Em có thể mô tả (trình bày, chứng minh) … được không?)

Chuyện gì xảy ra nếu…?

3.2.1.3 Câu hỏi “giải thích” (loại 3)

Có thể nói đây là loại câu hỏi mức độ khó, không dựa trên kiến thức có sẵn, phải

tự trả lời nhiều, phức tạp Vì vậy, loại câu hỏi này đòi hỏi mức độ tư duy cao hơn, khả năng sáng tạo tốt, khả năng truy xuất các hoạt động tư duy và tự mình cấu trúc trả lời

Trang 21

tương đối nhiều Với loại câu hỏi này, nhiều HS sẽ gặp khó khăn, không hiểu hết nội dung yêu cầu của câu hỏi hoặc có thể hiểu nhưng khó xác định nội dung trả lời cho nên

để tạo điều kiện cho HS suy nghĩ, tìm cách trả lời, trong câu hỏi có ngầm chứa gợi ý Có

2 cách đặt câu hỏi:

- Cách đặt câu hỏi có dùng từ hỏi trực tiếp: (từ hỏi) + (nội dung hỏi có ngầm chứa gợi ý)

Ví dụ: Hãy lí giải hiện tượng cầu vồng sau mưa?

(Sau cơn mưa, thường thấy cầu vồng xuất hiện, tại sao?)

- Cách đặt câu hỏi dùng từ mệnh lệnh: (mệnh lệnh) + ( nội dung cần trả lời + gợi ý)!

Ví dụ: Hãy giải thích (hoặc lí giải), sự khác biệt của chuyển động quay ở hai tư thế tren Hình 3.2, dựa vào định luật bảo toàn mômen động lượng!

3.2.1.4 Câu hỏi “luận chứng” (loại 4)

Đây là dạng câu hỏi phức tạp, không đơn giản như ba loại câu hỏi trên Loại câu hỏi này có tính tổng quát đòi hỏi tư duy cao, khả năng sáng tạo nhiều: tự tìm phương án trả lời, phương án tối ưu, tự lựa chọn sắp xếp câu trả lời Từ đó, kiến thức trả lời nhiều, khá phức tạp, không có sẵn mà phải tự suy nghĩ ra Mức độ này mang tính sáng tạo cao

3.2.2 Phân loại câu hỏi theo các bậc nhận thức Bloom

* Phân loại mục tiêu giáo dục của bloom [ 9, tr124]

 Lĩnh vực nhận thức

Lĩnh vực nhận thức bao hàm các cách thức chiếm lĩnh, liên kết và sử dụng tri thức; các quá trình nắm bắt, ghi nhớ, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, học các quy tắc, khái niệm

Các cấp độ nhận thức cùng với các động từ minh họa được thể hiện qua bảng dưới đây:

Trang 22

Cấp độ Các động từ minh họa

Nhận biết (knowledge): ghi nhớ và nhớ lại

được những ngữ liệu đã học trước đây, bao gồm

các sự việc, sự kiện cụ thể, con người, ngày tháng,

phương pháp, quy trình, khái niệm, nguyên tắc và

các luận thuyết

Gọi tên, tìm tương ứng, liệt

kê, chọn lựa, kể lại, trình bày, xếp loại làm lại

Thông hiểu (comprehension): Hiểu và nắm ý

nghĩa của một việc gì đó, bao gồm việc chuyển từ

một dạng biểu tượng này sang một dạng khác

(ví dụ: từ phần trăm sang phân số), giải thích,

lý giải, tiên đoán, suy đoán, nói lại ước tính,

khái quát hóa và những dạng khác thể hiện khả

năng lĩnh hội

Giải thích, chuyển đổi, diễn giải, đoán trước, ước tính, sắp xếp lại, nói lại cho rõ nghĩa, tóm lược

Phân tích (analysis): Phân tách một thông tin

giao tiếp thành những phần hợp thành hoặc các

thành tố và hiểu được mối quan hệ giữa chúng

Phân biệt, phân nhỏ, so sánh, lập sơ đồ, liên hệ, phân loại, phân hạng

Đánh giá (evaluation): đánh giá chất lượng,

giá trị của một việc gì đó theo những tiêu chí đã

xác định (ví dụ: xác định đủ minh chứng để ủng

hộ một kết luận)

Chứng minh là đúng, phê phán, quyết định, đánh giá, xét đoán, tranh luận, kết luận, ủng hộ, bảo vệ, xác minh, khẳng định

Trang 23

 Lĩnh vực tâm lý-vận động

Lĩnh vực tâm lý - vận động bao hàm việc làm chủ cơ thể và cử động của chủ thể, việc học cách phát triển các cử động, các kỹ năng vận động lớn liên kết các cử động của toàn bộ cơ thể hoặc của cơ bắp như chạy, nhảy, bơi và các kỹ năng vận động nhỏ, tinh

vi, liên kết các cử động chính xác của cơ thể như viết, vẽ, nặn

- Năng lực thể chất: như quá trình trên, song trên bình diện các khả năng về thể lực như sức nhanh, mạnh, bền, khéo

- Kỹ năng vận động: phát triển từ hai trình độ trên, làm chủ những cử động cho phép thực hiện các hoạt động cần vận dụng cả năng lực tri giác, thể chất và vận động như đánh máy chữ, chơi bóng

- Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ: trình độ cao nhất, phức tạp nhất của tâm vận động; đó là khả năng sử dụng cơ thể của mình như là phương tiện diễn đạt để trao đổi thông tin với người khác bằng cử chỉ, điệu bộ

lý- Lĩnh vực tình cảm (thái độ)

Lĩnh vực tình cảm bao hàm các cách thức phản ứng của chủ thể với môi trường, với

xã hội, sự phát triển của niềm tin, sở thích, hứng thú và các mối quan hệ xã hội

- Tiếp nhận: khả năng chú ý đến một tình huống, một hiện tượng hay con người Chủ thể có khả năng lắng nghe, tiếp nhận, chấp nhận vật kích thích (thụ động)

- Đáp lại: không chỉ tiếp nhận mà còn phản ứng với kích thích bên ngoài bằng hành vi - đáp lại (đồng tình đơn giản đến ham thích, hứng thú)

- Giá trị hóa: hành vi có cấu trúc cao hơn, thể hiện sự lựa chọn của chủ thể đối với một số giá trị nào đó Động cơ hành vi gắn liền mật thiết với giá trị (không chỉ nhận

Trang 24

thấy bản nhạc hay mà còn đi nghe hòa nhạc) Từ niềm tin đơn giản ở giá trị của sự vật đến niềm tin sâu sắc, hình thành động cơ thúc đẩy chủ thể hành động

- Tổ chức: khả năng sắp đặt, bố trí các giá trị đã chọn thành hệ thống trong một lĩnh vực nhất định Sự hệ thống hóa đó tác động đến hành vi của chủ thể trong lĩnh vực đang được đề cập đến

- Tính cách hóa: trình độ cao nhất, phức tạp nhất trong lĩnh vực tình cảm; khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa toàn bộ các giá trị để hình thành “thế giới quan”, “triết

lý về cuộc sống”, “tính cách con người” Tất cả các trình độ trên được quán triệt thành tính cách và chủ thể sẵn sàng hành động một cách nhất quán trên cơ sở hệ thống giá trị của bản thân

* Phân loại câu hỏi theo mục tiêu nhận thức

Bloom

Theo Bloom [5, tr8] nhận thức của học sinh được xét

theo mức độ từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến

phức tạp Đó là: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và

đánh giá Dựa trên cơ sở đó thì ở mỗi mức độ sẽ có một

dạng câu hỏi để kiểm tra thích hợp cho mức độ đó Những

dạng câu hỏi này sẽ đánh giá được khả năng HS cũng như

yêu cầu đề ra cho HS có đạt được hay không Ta có các

dạng câu hỏi sau:

3.2.2.1 Câu hỏi mức độ “Biết” (knowledge)

Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ liệu, số liệu, các định nghĩa, định luật, Việc trả lời cho các loại câu hỏi này giúp HS ôn lại những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua

Muốn đạt được mục tiêu thì trước hết HS phải biết được vấn đề như thế nào

Mức độ biết có thể kể ra theo các chi tiết sau:

- Biết được các điều đặc biệt

Chi tiết này yêu cầu HS nhớ lại các dữ kiện đặc biệt, riêng rẻ: một sự việc, một sự kiện, một định nghĩa, một khái niệm, địa danh, danh nhân…

- Biết các phương cách và phương tiện thông thường để có thể xử lí các nhiệm vụ thông thường

Trang 25

HS phải biết cách quy ước, biết những chuỗi diễn biến, biết cách phân loại, biết các tiêu chuẩn, biết các phương pháp tìm hiểu, kỹ thuật thủ thuật khảo sát vấn đề và các hiện tượng

- Biết các điều tổng quát và trừu tượng trong một lĩnh vực khoa học

Trong phần này sẽ yêu cầu HS biết các nguyên lý và các điều tổng quát hóa dùng để

mô tả, tiên đoán các hiện tượng, biết các lý thuyết và cấu trúc

Dạng câu hỏi này thường bắt đầu bằng những động từ như: cái gì, bao nhiêu, mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, tiên đoán, xác định, kể tên…

Ví dụ:

Hãy phát biểu định luật bảo toàn mômen động lượng của một vật rắn

Hãy kể tên các dao động mà em biết

3.2.2.2 Câu hỏi mức độ “Hiểu” (comprehension)

Mức “hiểu” đã được nâng lên một bậc Ở mức này, HS không chỉ đơn thuần là nhớ được kiến thức có sẵn (định lý, định nghĩa, nguyên lý…) mà còn phải hiểu được, liên

hệ, kết nối các dữ liệu Mức “hiểu” có thể được thể hiện qua các hoạt động: diễn giải được, tóm tắt được, giải thích được…

- Diễn giải được

“Diễn giải được” có nghĩa là tự bản thân HS có thể tự hiểu vấn đề đó và có thể diễn đạt lại bằng lời lẽ riêng của mình (có thể người khác nghe cũng hiểu được), hoặc dưới một dạng thức khác Nhưng chúng ta cần chú ý là phải đảm bảo điều kiện là bảo toàn ý nghĩa ban đầu Như vậy, khả năng này được đánh giá dựa trên tiêu chí chính xác, trung thực

Dựa vào cơ sở là những kiến thức đã được học (định lý, định luật, nguyên lý…) HS

có thể giải thích được các sự kiện, hiện tượng, sự kiện tậm chí một quá trình hay quy

Trang 26

trình làm việc nào đó trong thực tế Tiêu chuẩn này của mức hiểu được sử dụng khá phổ biến trong dạy học

Ví dụ:

Hãy giải thích hiện tượng tạo thành cầu vồng sau cơn mưa

Hãy giải thích vì sao khi nhảy từ ván cầu xuống nước người ta thường hay thực hiện động tác gập người và bó gối thật chặt lúc xoay người trên không?

Câu hỏi ở mức hiểu thường bắt đầu bằng những động từ như: giải thích, lí giải, so sánh,… hoặc các từ hỏi “tại sao?”, “nghĩa là gì?”

Ví dụ:

Tại sao người ta lại coi độ tự cảm trong dao động điện từ tương đương với khối lượng trong dao động cơ? [3, tr123]

3.2.2.3 Câu hỏi mức độ “Vận dụng” (application)

Mục tiêu phần này nhằm kiểm tra người học không chỉ nhớ, hiểu mà còn áp dụng những nguyên tắc, khái niệm…vào vấn đề mới, tình huống mới để giải quyết, đặc biệt là đưa chúng vào thực tiễn để giải thích, cải tiến cho hợp lí hơn, khoa học hơn Tiêu chuẩn này đặt ra yêu cầu cho HS là luôn có thái độ đúng đắn trong học tập, luôn có ý thức rằng

“học đi đôi với hành”, kiến thức phải được sử dụng vào các công việc thực tế thì mới phát huy tối đa vai trò của nó Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được các quy luật, các khái niệm Từ đó GV rèn luyện cho HS luôn có thói quen liên tưởng từ sách vở ra ngoài đời và ngược lại Muốn giải quyết một khó khăn trong thực tế, trước tiên HS cần phải biết sử dụng đúng những gì đã học được trong sách vở (cả về phương pháp lẫn nội dung kiến thức) cộng với sự tư duy của trí tuệ Sự sáng tạo cũng bắt nguồn từ những mối liên tưởng thường xuyên như vậy

Khi đặt câu hỏi cần tạo ra những tình huống mới lạ với điều kiện đã học trong bài học Bên cạnh các bài tập vận dụng, câu hỏi ở mức này thường bắt đầu bằng các động từ như: Tìm, chỉ ra, liên hệ, giải thích (trong thực tế), xây dựng,…

Giải thích vì sao hai đây đàn giống nhau, mắc trên hai hộp đàn có hình dạng, kích thước khác nhau lại có thể phát ra hai âm có âm sắc khác nhau? [3 ,tr98]

3.2.2.4 Câu hỏi mức độ “Phân tích” (analysis):

Trang 27

Mục tiêu câu hỏi này là khả năng phân tích nội dung vấn đề, tìm ra mối quan hệ hay chứng minh một vấn đề nào đó Khi đó, người học không những phải làm chủ tri thức mà còn phải nhanh nhạy trong các thao tác tư duy Việc trả lời cho câu hỏi này cho thấy HS có khả năng tìm ra được mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận

Việc đặt câu hỏi phân đòi hỏi HS phải giải thích được các nguyên nhân từ thực tế: “Tại sao…” đi đến kết luận : Em có nhận xét gì về…”Các câu hỏi phân tích thường có nhiều

lời giải (thể hiện sáng tạo)

3.2.2.5 Câu hỏi mức độ “Tổng hợp” (synthesis):

Có thể nói “Tổng hợp” là khái quát lại một chỉnh thể gồm nhiều bộ phận (sau khi

đã phân tích), mô tả lại toàn bộ một chỉnh thể, các mối liên hệ giữa các bộ phận của chỉnh thể với nhau và quan hệ giữa chỉnh thể với môi trường xung quanh Mục tiêu của câu hỏi loại này là để kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung

Để trả lời câu hỏi tổng hợp khiến HS phải: dự đoán, giải quyết vấn đề, đưa ra câu trả lời sáng tạo

Trong học tập sự tổng hơp, sự yêu cầu của HS không phức tạp đến như vậy HS đạt được ở mức độ này có thể bắt đầu từ việc thâu tóm ý chính mà GV đã giảng, có thể đọc một đoạn trong SGK và phát biểu ngắn gọn nội dung ấy, có thể tìm ra kết luận chung cho các thí nghiệm biểu diễn

Trong nghiên cứu khoa học thì hai mức độ phân tích và tổng hợp luôn luôn đi đôi với nhau Nhưng để đánh giá HS, hai mức này là hai khả năng cao thấp của một con người Có người chỉ có thể phân tích nhưng không thể tổng hợp Cho nên, GV cần chú ý

và áp dụng cho phù hợp từng đối tượng HS

Trang 28

Các động từ dùng để hỏi kiểm tra bậc nhận thức này là: kết hợp, phối hợp, sáng tác, viết lại, tóm tắt,…

Ví dụ: Hãy đề ra những biện pháp giảm công suất hao phí khi truyền tải điện năng đi xa

3.2.2.6 Câu hỏi mức độ “Đánh giá” (evaluation):

Mục tiêu của câu hỏi “đánh giá” nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của HS trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng, dựa trên các tiêu chí đã đưa ra “Đánh giá” là mức độ cao nhất trong các bậc nhận thức của Bloom Mức độ này bao gồm tất cả mức độ dưới nó “Đánh giá” là khả năng tìm hiểu một vấn đề về các mặt: nhận biết sự đúng hay sai, hay hay dở, chính xác hay không chính xác, có giá trị hay không có giá trị…và mức độ của những nhận định đó Để đạt được mục tiêu này, HS phải vững vàng về tri thức, thuần thục các hoạt động tư duy, phân tích

và tổng hợp, so sánh, phân loại, trừu tượng hoa, phải kiên định với những tiêu chí đã đặt

ra, tuy nhiên cũng phải biết kết hợp với hoàn cảnh đối tượng, ngữ cảnh của sự kiện để có những tiêu chí hợp lí trong đánh giá Khả năng này phải được rèn luyện rất nhiều, có nhiều kinh nghiệm mới có thể thực hiện tốt mức độ này Có thể chia năng lực này theo các mặt như sau:

- Đánh giá nội dung: Sau khi hoàn thành một bài luận, một bài tập hoặc một bài viết nào đó, học sinh có thể xem lại để biết công việc mình làm có đạt chuẩn (tự đặt ra) hay không để có thể hoàn chỉnh nó Một người, sau khi trình bày vấn đề khoa học trước công chúng (hoặc Hội Đồng), một giáo viên sau khi hoàn thành bài giảng, phải biết tự đánh giá nội dung trình bày của mình để có thể rút kinh nghiệm cho lần sau Đây cũng là yêu cầu ở mức độ cao đối với những người làm khoa học khi họ thẩm định một công trình khoa học Người đó không chỉ có trình độ chuyên môn mà còn biết đặt ra định chuẩn cho từng đối tượng để đánh giá (sinh viên làm luận văn, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ,…) Trong học tập, HS có thể đánh giá độ khó dễ của một bài tập, thậm chí đánh giá cách giải của bạn là hay, chưa hay Khi HS phát biểu, thảo luận nhóm, các em khác

có thể nhận xét nội dung phát biểu, tranh luận vấn đề của bạn

- Đánh giá hình thức: các loại hình thức cần được đánh giá là: hình thức trình bày (mĩ thuật, hợp quy định), hình thức văn chương (câu đúng ngữ pháp, chính tả) và hình thức logic trong cách nói và viết Trong quá trình dạy học, cần lưu ý chúng để rèn luyện

Trang 29

học sinh thông qua cách đánh giá của giáo viên đối với công việc, bài làm của học sinh Điều này rất có ý nghĩa đối với con người của học sinh trong công việc sau này của các

em Cho nên muốn học sinh của mình có khả năng này, trước hết phải nói đến sự gương mẫu và sự nghiêm khắc của giáo viên đối với học sinh của mình

- Đánh giá tư tưởng: Mỗi một công việc mang một mục đích tư tưởng nhất định (đạo đức, nhân đạo, tính phục vụ, tính môi trường…) Các mục đích ấy đôi khi không được thể hiện tường minh bằng câu chữ, cho nên người đánh giá cần có cái nhìn sắc sảo khi đọc hoặc khi nghe Để đạt được tiêu chí này, trước tiên ở mỗi người học cần có ý thức tốt về mục đích học tập của mình, khi đó họ sẽ nhìn công việc dưới con mắt toàn diện hơn, không thiên lệch quá nhiều về chuyên môn Một người có nhân sinh quan và thế giới quan đúng thì mới biết đánh giá tư tưởng và có thể có những đánh giá sâu sắc

- Đánh giá mức độ: Ngoài việc định chuẩn cho các nội dung đánh giá, người đánh giá cần biết chia điểm hợp lí cho mỗi tiêu chí đánh giá (mức độ đạt được) Ở bậc trí tuệ cao nhất này, người đánh giá cần biết lượng hoá từng tiêu chí, biết so sánh, phân loại…sao cho việc đánh giá được công bằng

Để đánh giá các hoạt động tư duy này của HS, GV có thể sử dụng các câu hỏi:

Đánh giá, kết luận, nhận xét, phê bình,…

Trong các câu hỏi dựa theo bậc nhận thức Bloom, ta có thể nói đánh giá được toàn diện đối với người học, từ mức độ cơ bản nhất đến mức độ phức tạp nhất Những mức độ này không tự nhiên mà trở thành kỹ năng, kỹ xảo của con người mà phải rèn luyện từ từ, lâu dài và thường xuyên từ cơ bản tới phức tạp Vì vậy, trong bài luận văn này, tôi chỉ sử dụng ba mức độ cơ bản đầu là chính (mức biết, mức hiểu, mức vận dụng) trong mục tiêu của bài học cũng chỉ có yêu cầu như thế là chủ yếu Ngoài ra, còn tuỳ vào khả năng tự tìm hiểu của HS còn hạn chế, chưa được rèn luyện tốt về kỹ năng đọc hiểu cho nên khi đạt đến mức vận dụng trong khi đọc sách cũng đã rất hợp lí đối với HS phổ thông

3.3 Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi

Theo tác giả Ngô Hồng Sa [11, tr18] Có rất nhiều dạng câu hỏi và cũng có rất nhiều mức độ khác nhau cho từng đối tượng HS Do vậy, khi ta soạn thảo câu hỏi nên hết sức cẩn thận, đặc biệt trong PPĐS, soạn thảo câu hỏi phải có nội dung rõ ràng, dễ hiểu mới giúp HS trong việc đọc sách có hiệu quả hơn Có rất nhiều vấn đề cần chú ý khi soạn thảo câu hỏi nhưng sau đây là những vấn đề chung:

Trang 30

- Cần kiểm tra lại nhiều lần để tránh việc thừa, thiếu từ ngữ Cần tự trả lời trước

để định lại độ khó dễ, phạm vi trả lời, định thời gian cho phù hợp đối tượng trả lời Đối với câu hỏi cho kiểm tra viết càng chú ý nghiêm ngặt hơn vấn đề này

- Trong đàm thoại cần chuẩn bị câu gợi ý để sử dụng khi cần thiết

- Hệ thống câu hỏi trong phương pháp đàm thoại cần có mục đích rõ ràng và có dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

- Hành văn đơn giản, đúng ngữ pháp, chú ý đến tính logic và tính vừa sức của câu hỏi

Bên cạnh những mặt cần đạt được còn có những mặt cần lưu ý để tránh mắc phải: tránh đặt câu hỏi chung chung, không đi sát mục tiêu đề ra; tránh đặt câu hỏi mà yêu cầu không rõ ràng, HS không xác định được cần làm bao nhiêu và làm như thế nào; phải tránh đặt câu hỏi mà phạm vi trả lời quá rộng, trả lời như thế nào cũng đúng, không thiên

về chuyên môn nào Đó chỉ là một số điểm cần lưu ý cơ bản Trong khi soạn thảo câu hỏi,

GV cần chú ý và cẩn trọng nhiều hơn

Trang 31

Chương 2: TẬP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH VÀO 6 BÀI TRONG SÁCH VẬT LÍ 12 NÂNG CAO

1 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁCH CHO “BÀI 17: SÓNG ÂM VÀ NGUỒN NHẠC ÂM”

1.1 Chọn nội dung cho HS đọc

1.1.1 Xác định mục tiêu của bài

 Theo sách giáo viên Vật Lý 12 nâng cao [4, tr101], mục tiêu của bài được xác định như sau:

- “Nêu được nguồn gốc của âm và cảm giác âm

- Nêu được cường độ âm, mức cường độ âm là gì, đơn vị mức cường độ âm

- Nêu được mối quan hệ giữa các đặc trưng vật lí và các đặc trưng sinh lí của âm

- Trình bày được phương pháp khảo sát những đặc điểm của sóng âm dựa trên đồ thị dao động của nguồn âm

- Giải thích được vì sao các nhạc cụ (nguồn nhạc âm) lại phát ra các âm có tần số

âm sắc khác nhau Phân biệt được âm cơ bản và họa âm

- Nêu được tác dụng của hộp cộng hưởng.”

Lượng hóa mục tiêu theo các bậc nhận thức Bloom

về nguồn âm

Nêu được cảm giác âm có được từ đâu Cảm giác âm phụ thuộc vào những yếu tố nào

2 Phương pháp khảo sát

thực nghiệm những tính

Trình bày được phương pháp khảo sát những đặc điểm

Trang 32

chất của âm của sóng âm dựa trên đồ thị

dao động của nguồn âm

3 Nhạc âm và tạp âm Phát biểu được định nghĩa

đồ thị dao động) và các đặc trưng sinh lí của âm (độ cao,

độ to và âm sắc)

Nêu được cường độ âm, mức cường độ âm là gì

Viết được biểu thức mức cường độ âm Chú thích các đại lượng và đơn vị của chúng

có tần số âm sắc khác nhau

6 Hộp cộng hưởng Nêu được cấu tạo của hộp

cộng hưởng Chúng có tác dụng gì

Giải thích được hiện tượng cộng hưởng âm

Trang 33

1.1.2 Chọn nội dung cho HS đọc

Sau khi tìm hiểu xong bài này, do bài được bố trí dạy trong 2 tiết nên tôi chọn một

số nội dung trong bài cho HS tự đọc SGK

Phần “1 Nguồn gốc của âm và cảm giác về âm” đối với nội dung phần này về cơ bản các em đã được tìm hiểu ở các lớp THCS như về nguồn gốc của âm Trong phần này, chủ yếu nhắc lại kiến thức cũ nhưng đi sâu hơn, cụ thể hơn Với lại nội dung phần này cũng được SGK trình bài rõ ràng khi đọc xong HS có thể hiểu và phát biểu được định nghĩa nguồn âm Cho một số ví dụ về nguồn âm Nêu được cảm giác âm xuất hiện khi nào? Cảm giác âm phụ thuộc vào những yếu tố nào Đây cũng chính là mục tiêu mà HS cần đạt ở đây nên tôi sẽ áp dụng PPĐS khi dạy phần này

Phần “2 Phương pháp khảo sát thực nghiệm những tính chất của âm” muốn khảo sát bằng thực nghiệm thì đầu tiên GV phải chuyển dao động âm thành dao động điện tương ứng rồi đưa tính hiệu này vào dao động kí điện tử Dao động điện phản ánh trung thành nhiều tính chất của dao động âm Vì thế quan sát đồ thị của dao động điện trên màn hình có thể suy ra những đặc tính của dao động âm Với lí do đó, để đạt mục tiêu phần này tôi thấy cần sự hướng dẫn và giảng dạy trực tiếp GV trên lớp là phù hợp nhất

Phần “3 Nhạc âm và tạp âm” phần này chỉ cần giới thiệu cho các em biết định nghĩa nhạc âm, tạp âm và đồ thị của chúng Vì thế để tránh mất thời gian trên lớp nên GV chỉ cần giảng nhanh phần này

Phần “4 Những đặc trưng của âm” và phần “5 Nguồn nhạc âm” là nội dung khá quan trọng vì nội dung 2 phần này được xét trong các phần sau và giải bài tập Ngoài ra,

ở đây còn xuất hiện nhiều khái niệm mới cần HS ghi nhớ để vận dụng Thời gian trên lớp thì có hạn và khả năng tự đọc của HS không cao lắm nên rất dễ bị lúng túng, nhầm lẫn nên phần này cần GV giảng kỹ càng hơn để HS hiểu rõ và khắc sâu hơn Để khi gặp và giải thích các hiện tượng trong thực tế đối với các em sẽ dễ dàng hơn Tôi không chọn 2 phần này cho HS tự đọc SGK

Phần “6 Hộp cộng hưởng” là phần vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng vật lý có liên quan, nhằm củng cố lại kiến thức đã học một cách khoa học nhất và cũng nhận xét được HS hiểu bài đến đâu Phần này cho HS tự đọc sách là phù hợp nhất, khi đọc các ví dụ trong sách, các em có thể tìm thêm những ví dụ khác về ứng dụng của hộp cộng hưởng Tôi cũng chọn phần này cho HS tự đọc SGK

Trang 34

ở nhà Khi đọc xong, HS ghi lại nội dung và vở chuẩn bị theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn mà tôi đã giao cho các em Hệ thống câu hỏi này các em sẽ nhận sau khi học xong ở tiết trước

Phần “6 Hộp cộng hưởng” do là phần vận dụng kiến thức vừa học để giải thích các hiện tượng vật lý có liên quan Phần này dựa trên cơ sở lý thuyết đã học ở các phần trước

đó (nguồn nhạc âm) giải thích cho nên áp dụng hình thức đọc sách tại lớp là phù hợp nhất Ngoài ra, khi thực hiện hình thức đọc trên lớp kết hợp với hình thức thảo luận nhóm kết quả mang lại sẽ cao hơn

1.2.2 Chọn hình thức trình bày

Phần “1 Nguồn gốc của âm và cảm giác về âm” do đã yêu cầu các em chuẩn bị trước ở nhà nên khi vào đầu tiết học tôi thu lại tất cả sản phẩm của các em đã làm để kiểm tra Sau đó, tôi dùng overhead chiếu lại các câu hỏi và gọi ngẫu nhiên một số HS trả lời và yêu cầu các HS khác đứng lên nhận xét và bổ sung Sau đó, tôi chiếu lại đáp án và

bổ sung thêm nội dung còn thiếu để HS theo dõi và củng cố lại

Phần “6 Hộp cộng hưởng” tôi cho HS đọc SGK tại lớp và thảo luận với nhau Tôi chia lớp thành 6 nhóm nhỏ thảo luận vấn đề từ 2 đến 3 phút Sau khi thảo luận xong, đại diện từng nhóm sẽ đứng lên phát biểu, các nhóm còn lại lắng nghe và nhận xét Sau cùng, tôi củng cố lại và đưa ra kết quả, phần này tôi sử dụng Overhead để chiếu lại kết quả cho

HS quan sát

1.3 Hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS

Phần “1 Nguồn gốc của âm và cảm giác về âm”

Câu 1: Nguồn âm là gì? Cho một số ví dụ về nguồn âm?

Câu 2: Cảm giác về âm xuất hiện khi nào? Có những yếu tố nào tham gia vào quá trình tạo ra cảm giác âm về tai ta?

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w