1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý tập LỒNG GHÉP GIÁO dục môi TRƯỜNG TRONG dạy học CHƯƠNG III, IV, VII, IX vật lí 12 (NÂNG CAO)

82 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì tích hợp lồng ghép giáo dục qua các môn học là một hình thức dạy học có thể tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, hình thành ý thức về bảo vệ môi trường cho học sinh, việc tìm

Trang 1

Luận văn Tốt nghiệp

Trang 2

Môi trường sống của chúng ta bao gồm đất, nước và không khí, tất cả được duy trì nhờ năng lượng Mặt Trời Loài người chỉ là một trong những quần thể tồn tại trên Trái Đất và tuân theo các qui luật tự nhiên Không giống các loài sinh vật khác, con người đã phát triển một hệ thống kinh tế nhờ sử dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ tận dụng hầu hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời thải ra môi trường nhiều loại chất thải làm cho môi trường bị ô nhiễm Nhiều hậu quả nghiêm trọng mà con người đang phải gánh chịu do chính con người gây ra Bằng những quyết định và hành động cụ thể, con người cần phải cải thiện môi trường sống của mình không chỉ cho hôm nay mà cả mai sau

Muốn làm được đều đó thì quá trình giáo dục môi trường phải được thực hiện trong một quá trình lâu dài, cần được bắt đầu thực hiện từ tuổi mẫu giáo, được tiếp tục trong những năm học ở phổ thông và trong suốt cuộc đời Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông không phải là một môn học riêng mà là giáo dục tổng thể thông qua các môn học Giáo dục môi trường không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục một

bộ môn tách biệt, hay một chủ đề nghiên cứu mà là khai thác các kiến thức khoa học có trong các môn học để tích hợp lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh bằng các phương pháp dạy học bộ môn Đây chính là phương pháp tiếp cận giáo dục môi trường

Do đó, yêu cầu lồng ghép giáo dục môi trường trong các môn học là một yêu cầu hết sức thiết thực mà người trực tiếp giảng dạy và giáo dục chính là giáo viên sư phạm

Vì vậy, khi nhận được đề tài “ Tập lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học

chương III, IV, VII, IX Vật lí 12 (nâng cao)”, đối với sinh viên sư phạm như tôi đó là

một niềm vui lớn Vì tích hợp lồng ghép giáo dục qua các môn học là một hình thức dạy học có thể tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, hình thành ý thức về bảo vệ môi trường cho học sinh, việc tìm cơ hội lồng ghép trong nội dung bài học là một công việc rất quan trọng và cần thiết Trước khi lên lớp, giáo viên cần chuẩn bị như thế nào, lồng ghép ra sao để có hiệu quả, để học sinh thật hiểu được những vấn đề liên quan đến môi trường từ kiến thức vật lí Đó là một thử thách lớn đối với người giáo viên

Với những suy nghĩ như vậy, tôi rất hoang mang và lo sợ không hoàn thành luận văn

Nhưng được sự hướng dẫn tận tình của cô Đặng Thị bắc Lý và hiện nay luận văn của tôi

đã hoàn thành

Trang 3

Do kiến thức còn hạn hẹp và chưa có kinh nghiệm nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Rất mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến

Cần thơ,… Ngày… tháng… năm… Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thúy An

Trang 4

Trang

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện đề tài 2

3.1 Phương pháp nghiên cứu 2

3.2 Các bước thực hiện 2

Phần 2: NỘI DUNG Chương 1: VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 1.1 VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG 6

1.1.1 Môi trường 6

1.1.2 Các chức năng của môi trường 9

1.1.3 Sự suy thoái và ô nhiễm môi trường 12

1.1.4 Tác nhân gây ô nhiễm 13

1.2 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Nội dung giáo dục môi trường 16

1.2.3 Giáo dục môi trường trong nhà trường 17

1.2.3.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu đưa giáo dục môi trường vào nhà trường 18

1.2.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường và biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường 20

1.2.3.3 Giáo dục môi trường trong giảng dạy vật lí 22

Chương 2: TẬP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ CHƯƠNG III, IV, VII, IX VẬT LÍ 12 (NÂNG CAO) 27

1 CHƯƠNG III : SÓNG CƠ 28

1.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 16: “ Giao thoa sóng” 29

1.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 29

1.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 30

1.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 30

1.2.Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 17:“ Sóng âm Nguồn nhạc âm” 31

Trang 5

1.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 34

2 CHƯƠNG IV: DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ 34

2.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 23: “ Điện từ trường” 35

2.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 35

2.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 37

2.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 37

2.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 24: “ Sóng điện từ ” 38

2.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 38

2.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 42

2.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 42

3 CHƯƠNG VII: LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG 43

3.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 46: “Hiện tượng quang điện trong Quang điện trở và pin quang điện” 43

3.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 43

3.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 45

3.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 45

3.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 48: “Hấp thụ và lọc lựa ánh sáng Màu sắc các vật” 46

3.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 46

3.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 48

3.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 48

3.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 49: “Sự phát quang Sơ lược về Laze” 49

3.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 49

3.3.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 50

3.3.3 Đề nghị cách lồng ghép 50

4 CHƯƠNG IX: HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ 51

4.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 53: “ Phóng xạ” 52

4.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 52

4.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 56

Trang 6

4.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 57

4.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 60

4.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 60

4.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 57: “ Phản ứng nhiệt hạch” 60

4.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 60

4.3.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 62

4.3.3 Đề nghị cách lồng ghép 62

Chương 3: KẾT LUẬN 64

1 Những kết quả đạt được 64

2 Những hạn chế của đề tài 65

3 Những dự định trong tương lai 65

PHẦN PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 1 - SVTH: Nguyễn Thúy An

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, môi trường tự nhiên mà chúng ta đang sinh sống bị ô nhiễm nghiêm trọng,

đã và đang trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu Bên cạnh việc con người đang tìm

ra các giải pháp hữu hiệu để cải thiện chất lượng môi trường thì việc giáo dục môi trường, giáo dục ý thức, nhận thức cho học sinh hiểu và thấy được vai trò của bản thân về vấn đề môi trường cũng là việc làm có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả

Muốn làm được đều đó, thì việc giáo dục môi trường phải được thực hiện ở mọi lứa tuổi, ở tất cả các bậc học, nhằm tạo ra những người công dân có hiểu biết ngày càng tốt hơn về môi trường và ô nhiễm môi trường, cùng tham gia tuyên truyền vận động bảo vệ môi trường, góp phần cho việc phát triển bền vững Giáo dục môi trường sẽ tạo ra những người công dân có nhận thức, có trách nhiệm về môi trường và biết sống về môi trường,

đó không chỉ riêng để giáo dục môi trường mà còn là thước đo chất lượng cuộc sống Nhìn chung, những người công dân có nhận thức và trách nhiệm về môi trường đang được giáo dục trên ghế nhà trường qua từng môn học của từng mảng kiến thức có liên quan đến môi trường Trong đó, khoa học vật lí có thể tham gia giáo dục môi trường rất tích cực, nhiều nội dung trong các bài học vật lí có thể lồng ghép giáo dục môi trường vào bài giảng một cách thuận lợi trong giờ học chính khóa hay ngoại khóa, các hoạt động

tổ chức câu lạc bộ vật lí, các buổi tìm hiểu về những điều kỳ thú trong vật lí, câu lạc bộ vật lí và môi trường….Tuy nhiên, lồng ghép giáo dục môi trường trong các giờ học chính khóa sẽ thuận lợi hơn và hiệu quả hơn Đồng thời, không mất nhiều thời gian như các hoạt động trên

Như chúng ta đã biết, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học đang là việc làm rất phổ biến ở các trường phổ thông Nhiều giáo viên đã mạnh dạn áp dụng những phương pháp mới này vào công tác giảng dạy của mình Trong thời gian học môn lí luận dạy học vật lí, tôi đã tìm hiểu nhiều phương pháp giáo dục tư tưởng nói chung và giáo dục môi trường nói riêng Ngoài ra, tôi đã tập lồng ghép giáo dục môi trường trong học phần tập giảng và áp dụng khi thực tập ở trường phổ thông nhưng bản thân nhận thấy còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu về phương pháp này

Trang 8

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 2 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Chính vì thế, tôi chọn đề tài ― Tập lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học chương III, IV, VII, IX Vật lí 12 (nâng cao)‖ để tìm hiểu thêm những vấn đề mới về phương pháp này

2 Mục tiêu đề tài

Trong đề tài này, các mục tiêu cần hướng tới là:

a Hệ thống lại cơ sở lí thuyết về giáo dục môi trường

b Đưa ra qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí

c Tìm cơ hội ở các bài của từng chương có thể lồng ghép giáo dục môi trường và vận dụng qui trình lồng ghép ở trên để lồng ghép giáo dục vào từng bài học

3 Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện

3.1 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu lí thuyết: tìm các tài liệu có liên quan đến môi trường, tài liệu về giáo dục môi trường, SGK Vật lí 12 (nâng cao), sách giáo viên Vật lí 12 (nâng cao) Đọc và tổng hợp lại lí thuyết Sau đó, xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí

- Vận dụng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí vào chương III, IV, VII, IX vật lí 12 (nâng cao)

3.2 Các bước thực hiện:

- Xác định mục tiêu cho đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Lập đề cương cho đề tài

- Hệ thống lại cơ sở lí thuyết cho đề tài

- Trên những cơ sở lí thuyết đã nghiên cứu, xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường vào từng bài

- Vận dụng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường vào dạy từng nội dung bài học ở các chương

- Viết, chỉnh sửa và hoàn thành đề tài

- Báo cáo thử luận văn

- Báo cáo luận văn

Trang 9

1.1.2 Các chức năng của môi trường

1.1.3 Sự suy thoái và ô nhiễm môi trường

1.1.4 Tác nhân gây ô nhiễm

1.2.1 Khái niệm

1.2.2 Nội dung giáo dục môi trường

1.2.3 Giáo dục môi trường trong nhà trường

1.2.3.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu đưa giáo dục môi trường vào nhà trường

1.2.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường và biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường

1.2.3.3 Giáo dục môi trường trong giảng dạy vật lí

Chương 2: TẬP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY

HỌC VẬT LÍ CHƯƠNG III, IV, VII, IX VẬT LÍ 12 (NÂNG CAO)

1 CHƯƠNG III : SÓNG CƠ

1.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 16: ― Giao thoa sóng‖

1.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

1.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép

1.1.3 Đề nghị cách lồng ghép

1.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 17: ― Sóng âm Nguồn nhạc âm‖

1.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

1.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép

Trang 10

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 4 - SVTH: Nguyễn Thúy An

1.2.3 Đề nghị cách lồng ghép

2 CHƯƠNG IV: DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ

2.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 23: ― Điện từ trường‖

2.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

2.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép

2.1.3 Đề nghị cách lồng ghép

2.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 24: ― Sóng điện từ ‖

2.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

4 CHƯƠNG IX: HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ

4.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 53: ― Phóng xạ‖

4.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

4.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép:

4.1.3 Xác định cách lồng ghép:

Trang 11

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 5 - SVTH: Nguyễn Thúy An

4.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 56: ― Phản ứng phân hạch‖

4.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

4.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép

4.2.3 Đề nghị cách lồng ghép

4.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 57: ― Phản ứng nhiệt hạch‖

4.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép

Trang 12

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 6 - SVTH: Nguyễn Thúy An

B NỘI DUNG Chương 1 VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG

1.1 VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG

1.1.1 Môi trường

Từ trước tới nay ta biết rằng, môi trường sống luôn là bầu sữa nuôi sống con người

và thiên nhiên, có nhiều cách định nghĩa về môi trường được thể hiện qua sách báo, internet, hay các khái niệm của các nhà nghiên cứu về lĩnh vực môi trường và con người…Tuy nhiên, môi trường có thể được định nghĩa một cách khái quát như sau:

― Môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể, hoặc một cộng đồng Những nhân tố này bao gồm

cả biện pháp quản lí hợp lí, việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho

sự tồn tại của loài người hiện nay và trong tương lai.‖ [15, tr 31]

Môi trường theo khái niệm này, bao gồm cả sinh thái học con người, y tế, xã hội, bảo hộ lao động, ô nhiễm không khí, nước và đất, cả những biện pháp hạn chế phế thải và tăng cường sử dụng nguồn phế thải có thể tái chế sử dụng lại, nhằm làm giảm nguồn phế thải vào môi trường, bao gồm các biện pháp chống xói mòn, quản lí nơi cư trú của động thực vật, đặc biệt là các loài quí hiếm, bảo vệ mĩ quan và văn hóa

Hay có thể hiểu theo cách khác : ― Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu

tố vật chất thiên nhiên‖ [23, Điều 1] Trong đó, các yếu tố tự nhiên như: không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật… và yếu tố vật chất thiên nhiên như: đất, nước, hệ động thực vật….Hai yếu tố này bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Ngoài ra, các khái niệm môi trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, song nhìn chung nó không nằm ngoài nội dung của luật Bảo vệ môi trường trong quốc gia Việt Nam

Riêng với con người, khái niệm về môi trường của con người chứa đựng nội dung rộng hơn Theo UNESCO (1981) thì ― Môi trường của con người bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình ( tập quán, niềm tin …), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu cho cuộc sống sinh hoạt của mình‖ Do vậy môi trường

Trang 13

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 7 - SVTH: Nguyễn Thúy An

sống không những là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà còn là ―khung cảnh của cuộc sống, của lao động và vui chơi giải trí của con người‖ [15, tr 32] Tóm lại, môi trường của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ Mặt trời và Trái Đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất

Ngày nay, khoa học và công nghệ đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp của con người, thông tin và trí thức trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quí giá, hàm lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng Công nghệ tin học, internet là phương tiện lao động phổ biến và hiệu quả nhất Vì thế, nền kinh tế mới có sức sống mãnh liệt hơn nhiều so với nền kinh tế cũ như: kinh tế nguyên thủy, kinh tế công nghệp, kinh tế nông nghiệp Nền kinh tế mới phát triển dựa trên tri thức khoa học của con người, cho nên tốc độ tăng trưởng của nó tỉ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng của khối lượng tri thức khoa học mà loài người tích lũy được Và ta thấy rằng, đa phần con người trong nền kinh

tế mới phát triển dựa trên tri thức khoa học ngày nay đều hoạt động theo một khuôn khổ nhất định, có mối quan hệ giữa con người với con người rất rõ ràng, họ chú trọng nhiều đến các nguyên tắc, các luật lệ… nhằm để đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn và ngày một phát triển văn minh

Do đó, môi trường sống của con người ngoài các nhân tố môi trường tự nhiên còn

có cả môi trường xã hội:

―- Môi trường tự nhiên: là các nhân tố thiên nhiên có tính chất vật lí, hóa học, sinh học,

nó tồn tại và vận động theo qui luật của tự nhiên, nhưng cũng ít nhiều chịu sự tác động của con người như: năng lượng Mặt Trời, đại dương, sông núi, không khí, động vật, thực vật… ‖ [15, tr 32]

Môi trường tự nhiên cung cấp cho con người nguồn tài nguyên thiên nhiên như: không khí, đất và các khoáng sản để cho con người sinh tồn và phát triển Thế thì, đối với môi trường xã hội thì sao?

―- Môi trường xã hội: chính là các mối quan hệ giữa con người với con người, đó là các luật lệ, các phong tục tập quán…Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo những khuôn khổ nhất định đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn và ngày một phát triển, văn minh.‖ [15, tr 33]

Trang 14

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 8 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Ngoài ra, cần phải phân biệt giữa khái niệm môi trường nhân tạo và môi trường xã hội Với môi trường nhân tạo thì bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, hoặc cải biến nó như: các phương tiện, công cụ, máy móc, thiết bị, nhà ở, công viên….nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và lao động sản xuất của con người

Tuy nhiên, gắn liền với cuộc sống của con người và ảnh hưởng trực tiếp đến con người chính là môi trường vật lí Môi trường vật lí là môi trường bao gồm các thành phần

vô sinh của môi trường tự nhiên như: môi trường khí quyển, môi trường thủy quyển, môi trường thạch quyển và môi trường sinh quyển

- Thạch quyển (đất)

― Thạch quyển là lớp vỏ cứng ngoài của trái đất, có cấu tạo hình thái rất phức tạp, có thành phần không đồng nhất, có bề dày thay đổi theo những vị trí địa lí khác nhau từ 0 đến 100 km

Các nguyên tố hóa học trong đất tồn tại dưới dạng tổ hợp phức tạp các chất khoáng, chất hữu cơ, không khí và nước Hàm lượng các nguyên tố hóa học của đất không cố định, biến đổi phụ thuộc vào quá trình hình thành đất.‖ [15, tr 34]

Trên quan điểm sinh thái và môi trường, WinKer đã coi ― đất như một cơ thể sống vì

trong nó có nhiều sinh vật như vi khuẩn, nấm tảo, thực vật…‖ Do đó, đất cũng tuân thủ

theo những qui luật sống đó là phát triển, già cỗi, thoái hóa Tùy thuộc vào việc đối xử của con người đối với đất mà đất có thể trở nên màu mỡ hay ngược lại Trong điều kiện

tự nhiên, tốc độ phục hồi độ phì nhiêu của đất rất chậm, con người có thể làm tăng tốc độ phục hồi đất bằng các biện pháp bón phân và canh tác hợp lí

- Thủy quyển ( nước)

― Thủy quyển là một trong những yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái Đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người Thủy quyển bao gồm tất cả các dạng nguồn nước có trên Trái Đất như: Đại dương, biển, hồ, sông, suối các nguồn chứa băng đá ở hai cực Trái Đất và các nguồn nước ngầm Khối lượng thủy quyển ước tính vào khoảng 1,38.1021kg (tương đương 0,03% tổng khối lượng Trái Đất )

Trang 15

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 9 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Nước trong hành tinh phân bố không đều, 97% là nước mặn (biển, đại dương), 2% nước thuộc dạng băng đá (Bắc cực, Nam cực), chỉ có 1% nước ngọt được con người sử dụng.‖ [15, tr 34]

Theo qui luật tự nhiên thì nước không ngừng vận động và chuyển trạng thái, tạo nên vòng tuần hoàn của nước trong sinh quyển: nước bốc hơi ngưng tụ rồi mưa Nước bề mặt

dễ bị ô nhiễm vì tiếp nhận nhiều nguồn phế thải từ tự nhiên và nhân tạo như: cháy rừng, núi lửa, bụi, khí, hay nước thải công nghiệp và sinh hoạt, các hóa chất như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật….Đó đang là vấn đề chưa có biện pháp giải quyết và khắc phục được

- Khí quyển

― Khí quyển là lớp khí bao quanh bề mặt Trái Đất, có khối lượng 5,2.1018kg, nhỏ hơn 0,0001% trọng lượng Trái Đất Khí quyển là một hỗn hợp các khí: khí nitơ (78,08%), khí oxi (khoảng 20,95%), khí cacbonđioxit (khoảng 0,035 %), hơi nước (khoảng 0,1 ÷ 5%)

và nhiều khí khác…Khí quyển có tác dụng duy trì và bảo vệ sự sống trên Trái Đất, ngăn chặn các tia tử ngoại gần đi vào Trái Đất.‖ [15, tr 34]

Không riêng gì thạch quyển và thủy quyển, khí quyển có vai trò quan trọng trong việc giữ cân bằng nhiệt lượng của Trái Đất, thông qua quá trình hấp thụ tia tử ngoại từ Mặt Trời chiếu xuống và tia nhiệt từ mặt đất phản xạ lên Cấu trúc tầng của khí quyển được hình thành do kết quả của lực hấp dẫn và nguồn phát sinh khí từ bề mặt Trái Đất, có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ và duy trì sự sống trên Trái đất

Khí quyển là nguồn cung cấp O2 và CO2 cần thiết cho sự sống trên Trái Đất, cung cấp nitơ cho quá trình cố định đạm ở thực vật hay sản xuất phân đạm, hóa chất cho công nghiệp, nông nghiệp Khí quyển còn tham gia vào quá trình tuần hoàn nước

Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm khí quyển như: núi lửa, cháy rừng, sấm chớp, quá trình phân hủy xác chết động thực vật, khí thải các khu công nghiệp….làm cho chất lượng môi trường ngày càng kém hơn

1.1.2 Các chức năng của môi trường

Khác với các loài sinh vật khác, con người đã phát triển hệ thống kinh tế, sử dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ để tận dụng hầu hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng thải ra môi trường đủ các loại chất thải làm cho môi trường bị ô

Trang 16

Bảng 1.1 Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới [Nguồn: Lê Thạc

Trang 17

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 11 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Hình 1.2 Hệ thống sinh thái của tự nhiên và nhân tạo

Con người khai thác trong thiên nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết như: đất, nước, không khí, khoáng sản, gỗ, than đá, dầu mỡ và các nguồn năng lượng khác để tạo

ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu: ăn, ở và lao động sản xuất của mình Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi tài nguyên cần thiết, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên

cả về số lượng lẫn chất lượng, và mức độ phức tạp tùy thuộc theo trình độ phát triển của

xã hội con người Vì vậy vấn đề tài nguyên luôn được đặt ra, con người cần phải bảo vệ,

sử dụng tài nguyên một cách hợp lí để đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường ―- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống

và hoạt động sản xuất.‖ [13, tr 3] Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng vật chất, con người luôn đào thải ra nhiều chất thải vào môi trường Thời kỳ dân số còn ít, các qúa trình phân hủy tự nhiên làm cho các chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định sẽ trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Sự gia tăng dân số trên thế giới tăng nhanh, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho số lượng chất thải tăng lên không ngừng, dẫn đến các chất thải vào môi trường ngày càng nhiều nên gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, vấn đề chất thải hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của nhiều quốc gia, đặc biệt đối với một số nước phát triển

―- Môi trường còn là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người‖ [13, tr 3] Môi trường con người sinh sống chính là nơi ghi chép và lưu lại lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất, sinh vật cùng với lịch sử xuất hiện và phát triển của loài người, cung cấp các dự báo về các tai biến tự nhiên xấu như: bão, động đất, hoạt động của núi lửa….Đồng thời, môi trường còn là nơi lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các

Con người

Trí tuệ Vật tư, công cụ Lao động cơ bắp

Tư nhiên ( các hệ thống sinh thái)

Trang 18

1.1.3 Sự suy thoái và ô nhiễm môi trường

Ta thấy rằng, môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất Trong số đó

có những yếu tố vật chất tự nhiên như: đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ động vật, hệ thực vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả Những yếu tố này, hình thành và phát triển theo những qui luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân của con người như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hóa, kiến trúc mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác xây dựng nên

Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như: đất, nước, không khí, hệ thực vật, động vật Tình trạng môi trường thay đổi và bị ô nhiễm theo chiều hướng xấu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu nói chung, Việt Nam nói riêng

Theo ông Lê Văn Trưởng thì ― Ô nhiễm môi trường là làm thay đổi cả về tính chất vật lí, hóa học, sinh học của môi trường, làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường không có lợi cho môi trường sống Nó gây nguy hại đến sức khỏe con người, đồng thời làm ảnh hưởng đến nhiều quá trình khác nhau của sản xuất, làm tổn hại tài sản văn hóa, gây tổn thất hoặc hủy hoại tài nguyên dự trữ của Trái Đất ‖ [14, tr 71] Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại, hoặc có tiềm

Trang 19

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 13 - SVTH: Nguyễn Thúy An

năng gây tổn hại đến sức khỏe của con người và sinh vật trong môi trường đó Thông thường, tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực giới hạn cho phép được qui định dùng làm căn cứ để quản lí môi trường

Với định nghĩa về ô nhiễm môi trường ở trên, thì rõ ràng ô nhiễm môi trường là hiện tượng làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần, các đặc tính vật lí, hóa học, sinh thái học của bất kỳ thành phần nào của môi trường, hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định Sự gia tăng các chất lạ vào môi trường làm thay đổi các yếu tố môi trường sẽ gây tổn hại, hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn, hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó

Trong phạm vi toàn cầu, sự thay đổi theo chiều hướng xấu của môi trường diễn ra ở nhiều yếu tố của môi trường với nhiều cấp độ khác nhau:

―- Sự thay đổi của khí hậu toàn cầu dưới tác dụng của nhiều yếu tố khác nhau như: rừng bị tàn phá, đặc biệt các khu rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ và Châu Á, sự gia tăng khí thải: CO2, NOx, CFC… ‖ [15, tr 48]

- Sự suy giảm tầng ozon, tầng ozon luôn được coi là vỏ bọc, là chiếc áo giáp của Trái Đất, ―là tầng khí quyển ngoài tầng biên hành tinh‖ [26, Điều 1, Khoảng 1] Nếu hàm lượng tầng ozon bị suy giảm, hoặc tạo những lỗ thủng ở tầng ozon sẽ tạo ra những biến đổi xấu của môi trường trên Trái Đất

―- Chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt là vấn đề mà môi trường thế giới đang phải đối mặt Sự gia tăng dân số, sự gia tăng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng dẫn tới sự gia tăng chất thải.‖ [15, tr 48] Mọi quốc gia đều có chất thải mà nếu không có biện pháp xử

lí thì chỉ có thể thải vào môi trường, môi trường thì không giãn nở thêm được Trong khi

đó chất thải ngày càng tăng, thế nên một số quốc gia phát triển đã lợi dụng sự thiếu thốn của các quốc gia nghèo tìm các xuất khẩu vào những nơi đó chất thải, đặc biệt là những chất thải rắn

―- Sự suy giảm của nhiều loài thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật cũng là một vấn đề môi trường cấp bách.‖ [15, tr 49] Lúc nào môi trường cũng là nơi tổng hợp các hệ sinh thái có mối liên hệ mật thiết với nhau Sự tồn tại của hệ sinh thái này là điều kiện để duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái khác, sự tồn tại của loài động vật này chính là

Trang 20

1.1.4 Tác nhân gây ô nhiễm

Những thay đổi của môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến con người thông qua thức

ăn, nước uống, không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến con người do thay đổi các điều kiện vật lí – hóa học và suy giảm môi trường tự nhiên Tuy nhiên sự thay đổi ấy không đơn thuần hiển nhiên mà có, không đơn thuần tự bản thân môi trường bị suy thoái một cách nghiêm trọng như vậy Mà đó là, do các tác nhân gây ô nhiễm (hay chất ô nhiễm) gây nên Vậy tác nhân gây ô nhiễm là gì?

― Tác nhân gây ô nhiễm là những chất, những nguyên tố hóa học có tác động vào môi trường làm cho môi trường từ trong sạch trở nên độc hại Những tác nhân này thường được gọi khái quát là ― Chất gây ô nhiễm môi trường‖ Chất ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn, nó gây tác động có hại cho môi trường tự nhiên, cho con người cũng như sinh vật sống Chất ô nhiễm có thể là chất rắn (rác, phế thải rắn…), chất lỏng ( các dung dịch hóa chất, chất thải của công nghiệp dệt nhuộm, chế biến thực phẩm…), chất khí (SO2 từ núi lửa, CO2, NO2 trong khói thải của xe hơi, CO trong khói bếp, lò gạch…), các kim loại nặng như: chì, đồng, thủy ngân (Pb, Cu, Hg…).‖ [15, tr 48] Chúng làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên do chúng không cho các tia bức xạ từ mặt đất thoát ra, gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính rất nghiêm trọng Có thể có lúc có nơi có ít chất ô nhiễm nhưng

có lúc có nơi rất nhiều chất ô nhiễm Ví dụ như: ― Môi trường đất phèn có thể do các cation Al3+, Fe3+ và các anion SO4

, Cl- cùng với các chất khí H2S, SO2…cùng tồn tại

Trang 21

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 15 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Các chất này đồng thời tác động vào cây trồng, vào động vật, làm suy giảm sự phát triển của mọi sinh vật, mạnh hơn nữa có thể làm chết động thực vật Đối với con người thì không khí đô thị thường vừa bị bụi đất, bụi xi măng, khí SO2, NO2 trong khói xe, mùi hôi thối cống rãnh bốc lên, cộng với tiếng ồn, từ trường quá mức cho phép, gây tổn hại sức khỏe con người, thậm chí gây chết người‖ [20]

1.1 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, giáo dục môi trường được thực hiện bằng cách kết

hợp giữa giáo dục và thực tế, giữa nhà trường và các hoạt động xã hội Trong trường học, giáo dục môi trường được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường của đất nước hiện nay Riêng đối với đề tài này, tôi chỉ nghiên cứu về giáo dục môi trường trong trường học, còn các hoạt động tổ chức xã hội như: chiến dịch mùa hè xanh, tuyên truyền bảo vệ môi trường, vận động công dân trồng cây gây rừng…tôi không đưa vào đề tài của tôi Vì nó nằm ngoài nội dung nghiên cứu trong đề tài của tôi Thế thì, như thế nào mới được gọi là giáo dục môi trường?

― Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước vấn đề môi trường bao gồm: kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm và

kỹ năng để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường, trước mắt cũng như lâu dài‖ [Bộ GD-ĐT/Chương trình phát triển Liên hợp quốc 1998]

Trang 22

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 16 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Sơ đồ 1.3 GDMT trước những vấn đề môi trường.[13, tr 21]

1.2.2 Nội dung giáo dục môi trường

Giáo dục là công cụ để thay đổi xã hội và thay đổi nhận thức của mỗi con người, để

con người có cái nhìn thật đúng đắn về vấn đề nào đó có liên quan đến môi trường Muốn làm được điều đó thì đòi hỏi nền giáo dục phải có nội dung giáo dục cụ thể mới đạt được

 Suy giảm đa dạng sinh học

 Suy giảm tầng ozon

 Biến đổi không khí, nóng lên toàn cầu, ngật lụt, khô hạn

Nhận thức vì môi trường

(3)

Kỹ năng hành động TRONG Môi trường

(2)

Ý thức

vì môi trường

Không tính đến Chi phí xã hội

Trách nhiệm xã hội thấp

Coi nhẹ vấn

đề MT

Luật pháp không nghiêm

Đề xuất giải pháp

Cho hôm nay và

mai sau

Trách nhiệm

cá nhân

Trách nhiệm cộng đồng

Trách nhiệm của chính phủ

Trang 23

- Thứ hai: ― Giáo dục môi trường nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức, trong thái độ, ứng xử và hành động trước vấn đề môi trường.‖ [13, tr 21] Có như vậy thì người được giáo dục mới có góc nhìn khả quan về môi trường và có ý thức nhiều hơn với môi trường

- Thứ ba: ― Giáo dục môi trường cung cấp cho người học không chỉ những kiến thức cụ thể, kỹ năng thực hành, phương pháp phân tích, đánh giá chi phí - lợi ích để họ có thể hành động độc lập, ra những quyết định phù hợp, hoặc cùng cộng đồng phòng ngừa xử lý các vấn đề môi trường một cách có hiệu quả.‖ [13, tr 21, 22]

- Thứ tư: ― Giáo dục môi trường phải đề cập đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế.‖ [13, tr 22]

- Thứ năm: ― Giáo dục môi trường phải xem xét các vấn đề môi trường hiện nay và quan

hệ với các vấn đề môi trường tương lai.‖ [13, tr 22]

Nhìn chung, giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng rất nhiều phương thức khác nhau nhưng áp dụng rộng nhất là 3 phương thức: tiến hành như một môn học mới, hoặc một chuyên đề mới đưa vào chương trình học, lồng ghép với các môn học khác, giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa

1.2.3 Giáo dục môi trường trong nhà trường

Trong giáo dục môi trường, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ thiên nhiên, trong đó có tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi quốc gia trên Trái Đất Nhưng có bảo vệ được môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên được hay không thì còn phụ thuộc vào ý thức của mỗi con người Môi trường tự nhiên có lành mạnh, tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học có được bảo

vệ và phát triển tốt thì con người mới tồn tại và phát triển được

Thời kì công nghiệp đang phát triển, việc khai thác các nguồn tài nguyên quá mức như: phá rừng, làm suy thoái thổ nhưỡng đã gây ra những tai hại và tổn thất lớn lao cho

Trang 24

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 18 - SVTH: Nguyễn Thúy An

con người Trong thông điệp kỉ niệm ngày Môi trường thế giới 5/6/1999, giám đốc điều

hành UNEP đã nêu: ―Hạnh phúc và mọi hy vọng của các dân tộc trên thế giới sẽ không

thể có, nếu môi trường và các hệ sinh thái trên Trái Đất chưa được đảm bảo an toàn‖.[15, tr 53]

Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường đã và đang trở thành quốc sách hàng đầu của các quốc gia, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, chính trị Có như vậy, mới khắc phục được tình trạng ô nhiễm toàn cầu như hiện nay

Ở nước ta, Quốc hội đã ban hành luật bảo vệ môi trường ngày 27 tháng 12 năm 1993

và ngày 17 tháng 10 năm 2001 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 1363/QĐ/TTg phê duyệt đề án ―Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc gia‖ của Bộ Giáo dục và Đào tạo [15, tr 53]

1.2.3.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu đưa giáo dục môi trường vào nhà trường

Có nhiều phương thức để giáo dục môi trường nhưng nhìn chung, trong mọi quốc gia trên thế giới số lượng người làm công tác giáo dục, học sinh các cấp đều chiếm tỉ lệ đông đảo Lực lượng này góp phần quan trọng đảm bảo tính hiệu quả của nhiệm vụ giáo dục môi trường Trong nhiệm vụ giáo dục môi trường chung hiện nay thì ― hệ thống 73 trường sư phạm ở 64 tỉnh thành trong cả nước có một trọng trách đặc biệt, nhà trường sư phạm là nơi đào tạo những thầy cô giáo cho mọi cấp học, bậc học có tri thức về lí luận và thực hành giáo dục bảo vệ môi trường để phục vụ cho giáo dục phổ thông và giáo dục cộng đồng‖ [15, tr 53, 54]

Nếu nhà trường phổ thông từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông với mạng lưới phân bố rộng khắp đến tận từng thôn xóm ở mọi miền đất nước, có hệ thống giáo dục được tổ chức chặt chẽ, liên tục, có mục tiêu, nội dung và phương pháp phù hợp, sẽ góp phần tạo ra một lực lượng xã hội hùng hậu tham gia trực tiếp bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc thì trong tương lai thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước sẽ có tri thức về môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường hạn chế tới mức tối thiểu

Để đạt được mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam ―phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc, có đầy đủ phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc‖ [27] Giáo dục môi trường trở thành một nhiệm vụ thiết yếu của nhà

Trang 25

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 19 - SVTH: Nguyễn Thúy An

trường phổ thông, nhằm tăng cường hiểu biết của học sinh đối với thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, đặc biệt là tăng cường hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và trong lao động sản xuất Đồng thời, góp phần hình thành ở thế hệ trẻ ý thức và đạo đức mới đối với môi trường, có thái độ và hành động đúng để bảo vệ môi trường

Nhìn về góc độ của nhà trường phổ thông thì nhà trường phải có chức năng hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường theo mục tiêu, theo chương trình của từng bậc học, cấp học Giáo dục môi trường là một bộ phận cấu thành nội dung, chương trình giáo dục ở các cấp, các bậc học phổ thông từ tiểu học đến trung học Giáo dục môi trường nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về môi trường, hình thành và phát triển ý thức, kĩ năng, thái độ gìn giữ và bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng môi trường sống trong sạch, lành mạnh ở mọi nơi trên phạm vi cả nước Công tác giáo dục nói chung và giáo dục môi trường nói riêng trong các nhà trường phổ thông, không chỉ có tác động cho thế hệ trẻ hôm nay mà còn có tác động lâu dài đến nhiều thế

hệ mai sau và cho toàn xã hội

Nhà trường phổ thông là một trung tâm văn hóa – giáo dục ở cộng đồng địa phương, có một vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động các tầng lớp dân cư thực hiện các chủ trương, các chính sách của Đảng và Nhà nước về môi trường và bảo vệ môi trường như phong trào trồng cây gây rừng, vệ sinh môi trường và nước sạch nông thôn, vệ sinh đô thị…Những hoạt động này, trực tiếp góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục môi trường và có tác động tích cực tới cộng đồng dân cư Trong công tác giáo dục môi trường ở trường phổ thông cần có những hoạt động thực tiễn như tìm hiểu, nghiên cứu về môi trường địa phương sao cho phù hợp với điều kiện, lứa tuổi, cấp học

Giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí, sách giáo khoa, phim ảnh….), qua hoạt động của các tổ chức quần chúng (như Hội Bảo Vệ Môi Trường, Hội môi trường và sinh thái…) và qua nội dung giảng dạy trong từng môn học có lồng ghép giáo dục môi trường

Trang 26

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 20 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Tóm lại, hình thức giáo dục môi trường ở trường phổ thông chiếm vị trí rất quan trọng hơn hẳn các hoạt động khác như: tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường….Vì nhà trường phổ thông là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước

Họ sẽ biết sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả và khoa học, đồng thời biết giữ gìn và bảo vệ môi trường Bởi vậy, giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và lâu bền nhất

1.2.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường và biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường

Đây chính là cái chất cơ bản của nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa ở nước ta so với các nền giáo dục khác Nhà trường Xã hội chủ nghĩa đào tạo những con người Xã hội chủ nghĩa Vì vậy, nó phải tuân theo những nguyên tắc giáo dục của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Đối với hoạt động dạy học thì thực chất các nguyên tắc đưa ra chính là những yêu cầu đối với người giáo viên để đảm bảo việc dạy và học tuân theo các qui luật của quá trình dạy học Trong giáo dục môi trường cũng vậy, giáo dục môi trường cũng cần có các nguyên tắc thực hiện và biện pháp chủ yếu thực hiện:

 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường:

― - Nhà nước Việt Nam coi giáo dục môi trường như là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân nói chung Để thực hiện giáo dục môi trường, nhà trường có hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương và đến cơ sở Giáo dục thông qua quản lí Nhà nước của Bộ GD và ĐT

- Giáo dục môi trường được thực hiện vì môi trường, về môi trường và trong môi trường, trong đó hiệu quả cao nhất sẽ đạt được thái độ và tình cảm vì môi trường

- Giáo dục môi trường là một thành phần bắt buộc trong chương trình GD-ĐT và phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học – giáo dục hiện hành Tạo ra cơ hội bình đẳng về giáo dục môi trường cho mọi người, mọi bậc học từ dưới lên

- Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học Nhũng vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải liên quan trực tiếp đến môi trường của địa bàn nhà trường

- Làm cho người học thấy được giá trị của môi trường đối với giá trị cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc của con người, bất kể thuộc chủng tộc màu da hay tín ngưỡng nào,

Trang 27

 Các biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường:

― - Đưa giáo dục môi trường vào tất cả các bậc học: mầm non, tiểu học, THCS, THPT và các bậc học khác

- Kết hợp giáo dục môi trường vào tất cả các môn của các cấp, các bậc học

- Thực hiện giáo dục môi trường bằng phương pháp hiện đại đặt trọng tâm ở người học

và cách tiếp cận học bằng việc làm thực tế

- Cung cấp kiến thức về môi trường và rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường Các trường tổ chức và tích cực tham gia cùng cộng đồng các hoạt động bảo vệ môi trường trong và ngoài trường

- Luôn chú ý tạo ra thái độ đúng, tinh thần trách nhiệm cao đối với việc bảo vệ môi trường

- Giáo dục môi trường không chỉ cung cấp hiểu biết về môi trường, mà còn được thực hiện trong môi trường, với thái độ và tình cảm vì môi trường.‖ [13, tr 26]

Trong thực tiễn sư phạm, mỗi trường học cụ thể thuộc về một vùng địa lí cụ thể, trong bối cảnh văn hóa cụ thể, sẽ có một nhu cầu giáo dục môi trường cụ thể và phù hợp với vùng địa lí đó Nên người giáo viên cần phải lựa chọn những nội dung, phương pháp thực hiện cho phù hợp nhằm giúp học sinh nhận thức được vấn đề về môi trường:

Thế nhưng, việc thay đổi thái độ của học sinh trước các vấn đề môi trường là một dấu hiệu mấu chốt cho phép đánh giá mức độ thành công của các chương trình giáo dục môi trường Đều trước tiên là cần làm cho học sinh có thói quen hành động tích cực tương ứng với thái độ của chúng trước các vấn đề môi trường

Muốn vậy, người giáo viên thực hiện giáo dục môi trường sẽ:

Trang 28

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 22 - SVTH: Nguyễn Thúy An

― - Áp dụng một hiểu biết về triết lý giáo dục để chọn lựa và xây dựng các chương trình giảng dạy hoặc chiến lược nhằm đạt được cả hai mục tiêu: mục tiêu giáo dục và mục tiêu giáo dục môi trường

- Sử dụng các lí thuyết về việc chuyển hóa trong học tập, tư duy, đạo đức, về quan hệ giữa tri thức - thái độ - hành động và xã hội hóa các tư tưởng trong việc lựa chọn, biên soạn và thực hiện các chiến lược giảng dạy một cách có hiệu quả để đạt được các mục tiêu giáo dục môi trường

- Áp dụng lí thuyết về việc chuyển hóa trong học tập để chọn lựa và ra quyết định của người học liên quan đến lối sống và hành động

- Thực hiện có hiệu quả các biện pháp dưới đây đạt các mục tiêu giáo dục môi trường:

 Liên kết giữa các môn học

 Giáo dục ngoài trời và thực địa

 Suy nghĩ có phê phán và học tập dựa trên nhu cầu tìm hiểu

 Giáo dục có giá trị

 Các trò chơi và mô phỏng

 Học tập dựa trên cơ sở liên hệ với cộng đồng

 Truyền tải một cách có hiệu quả phương pháp và tài liệu giáo dục môi trường vào tất cả môn học mà giáo viên đang được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ

 Đánh giá một cách có hiệu quả các kết quả của phương pháp và giáo trình giáo dục môi trường ở cả hai lĩnh vực nhận thức và tình cảm.‖ [13, tr 27, 28]

1.2.3.3 Giáo dục môi trường trong giảng dạy vật lí

Thật ra mục tiêu chủ yếu của giáo viên là đào tạo học sinh trở thành những người

toàn diện, những người nắm vững được kiến thức mà người dạy truyền đạt Sau khi rời ghế nhà trường, biết sử dụng tri thức một cách hữu ích cho xã hội và tất nhiên là phải có đạo đức tốt Vì vậy, ngoài những giờ học về giáo dục công dân, những giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn, đội, người giáo viên bộ môn cũng phải quan tâm đến việc giáo dục con người thông qua nội dung chuyên môn của mình Đây là nhiệm vụ chung của mọi giáo viên trong nhà trường Xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay

Về nội dung giáo dục tư tưởng thì gồm có hai nội dung giáo dục sau:

Trang 29

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 23 - SVTH: Nguyễn Thúy An

― + Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng: giáo dục những nội dung cơ bản nhất của

triết học biện chứng như: vật chất, ý thức, chân lý khoa học, niềm tin ở trí tuệ, các qui luật của triết học duy vật v v

+ Giáo dục nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa:

- Lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội

- Lòng dũng cảm và tính trung thực

- Giáo dục môi trường và chất lượng cuộc sống.‖ [8, tr 35]

Trong các nội dung giáo dục tư tưởng ở trên, ta thấy nội dung nào cũng thiết yếu, cũng quan trọng trong công tác giáo dục Nhưng nội dung cuối cùng ngày càng trở nên thiết yếu hơn trong việc giáo dục thế hệ trẻ Một trong những vấn đề nổi cộm trong vài ba thập kỉ trở lại đây của con người hiện đại đó là môi trường và chất lượng cuộc sống Một con người tốt, ngoài những quan niệm về đạo đức, chất lượng hoàn thành công việc…còn phải là người biết sống cho mai sau Con người có tri thức càng phải là những người biết gìn giữ môi trường hơn ai hết Bởi vì, họ là những người hiểu rõ bản chất và tầm quan trọng của môi trường sống

Cũng dễ hiểu tại sao để trả lời cho câu hỏi: ― học để làm gì?”, UNESCO đã đưa ra bốn tiêu chí: ― học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để sống với cộng đồng‖ Nếu

nhà trường làm tốt nội dung này tức là đồng nghĩa với việc mỗi giáo viên đều phải suy nghĩ, phải lồng ghép giáo dục môi trường và chất lượng cuộc sống vào bài giảng của mình.Khi đó, nhà trường chúng ta có tác dụng hơn bất cứ một cơ quan tuyên truyền nào

cả về chất lượng lẫn số lượng ở phương diện này Học sinh không những hiểu và làm theo những gì giáo viên nói trên lớp mà còn là những thành viên tuyên truyền nhanh, nhạy, có hiểu biết, dễ thuyết phục cho vấn đề môi trường đối với gia đình, bà con chòm xóm

Muốn như vậy, người giáo viên cần có một số biện pháp giáo dục:

― - Lồng ghép khéo léo, phù hợp nội dung, không áp đặt

- Kể chuyện

- Dạy trong lớp, dạy trong cộng đồng, dạy trong thực tế địa phương

- Không phức tạp hóa vấn đề ( khi giáo dục thế giới quan duy vật), không quá cường độ ( khi giáo dục nhân sinh quan).‖ [8, tr 35, 36]

Trang 30

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 24 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Mặc dù, người giáo viên lựa chọn biện pháp giáo dục nào trong bài giảng của mình thì nhiệm vụ của dạy học là phải bồi dưỡng, khắc sâu cho học sinh về thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, chủ nghĩa vô thần, lòng ham mê và

cố gắng học tập…Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ này và đều có thế mạnh riêng trong việc thực hiện nó Trong đó, môn học vật lí có điều kiện và có hiệu quả rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng cho học sinh, đó cũng là ưu thế của người giáo viên vật lí

Khoa học vật lí có thể tham gia giáo dục môi trường rất tích cực, nhiều nội dung trong bài học vật lí có thể lồng ghép giáo dục nhân sinh quan cộng sản nói chung, giáo dục môi trường nói riêng vào bài giảng một cách thuận lợi trong giờ học chính khóa, hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Các thầy cô giảng dạy môn Vật lí được trang bị kiến thức, tiếp cận với tài liệu hướng dẫn về môi trường và bảo vệ môi trường, giáo dục môi trường thì có thể trở thành các chiến sĩ tuyên truyền tạo ―Phản ứng dây chuyền‖ trong giáo dục môi trường, góp phần cho việc giáo dục bền vững

Theo tài liệu ―Các hướng dẫn chung về giáo dục môi trường dành cho người đào tạo giáo viên PTTH năm 1998‖ [19] Có một số nội dung có thể giáo dục môi trường được nêu một cách sơ lược trong mục các địa chỉ cho việc giáo dục môi trường trong chương trình giảng dạy ở PTTH đối với môn Vật Lý

Bên cạnh những thuận lợi về lồng ghép giáo dục môi trường thì có rất nhiều những trở ngại trong việc lồng ghép cũng như việc phát triển, thực hiện và đánh giá hoạt động giáo dục môi trường Điều quan trọng là biết cách phân biệt các trở ngại đó và tạo ra nỗ lực chung cùng giải quyết, để thuận lợi cho việc lồng ghép thì điều đầu tiên cần làm là xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học Vật lí

Để lồng ghép giáo dục môi trường vào trong một bài học Vật lí cho học sinh là cả một nghệ thuật của người giáo viên khi đứng lớp Trong rất nhiều bài học trong chương trình sách giáo khoa Vật lí, giáo viên phải hết sức cân nhắc và chọn ra những nội dung kiến thức có thể đưa vào để giáo dục các em học sinh có ý thức bảo vệ môi trường

Qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí ( hay các bước thực hiện lồng ghép):

Trang 31

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 25 - SVTH: Nguyễn Thúy An

1 Xác định mục tiêu của chương:

Mục tiêu của chương được xác định trong sách giáo viên Vật lí 12 ( nâng cao)

2 Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường:

Phân tích sơ bộ các mục tiêu mà sách giáo khoa đề nghị Nếu chưa có mục tiêu về lồng ghép giáo dục môi trường thì phân tích xem mục tiêu nào có thể lồng ghép thêm mục tiêu về giáo dục môi trường Khi đã xác định được các mục tiêu về giáo dục môi trường, tìm nội dung thích hợp để lồng ghép

- Kể một câu chuyện mở đầu chứa đựng sự kiện mang tính tư tưởng ( những gợi ý ở trên) có liên quan tới nội dung bài học Sau khi học xong nội dung bài học, giáo viên liên

hệ lại câu chuyện đã kể lúc mở đầu và yêu cầu học sinh rút ra bài học cho bản thân có liên quan đến việc bảo vệ môi trường

- Sau khi giảng dạy xong, phát phiếu câu hỏi yêu cầu học sinh điền vào phiếu nhằm khảo sát tác động của bài dạy đến ý thức bảo vệ môi trường đối với mỗi cá nhân

- Giao bài tập về nhà, tìm và sưu tập một số tranh ảnh về môi trường có liên quan đến nội dung bài vừa học Từ đó, mỗi cá nhân học sinh rút ra bài học gì cho bản thân và với bản thân có thể đề ra những biện pháp như thế nào để hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường

đó

- Đặt câu hỏi sau khi vừa kết thúc xong nội dung được chọn lồng ghép (câu hỏi phải có mối liên hệ từ nội dung kiến thức vật lí trong bài học đến vấn đề môi trường trong thực tế), giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm Sau thời gian thảo luận, một học sinh đại diện nhóm phát biểu ý kiến của nhóm đã thảo luận và đề ra được những giải pháp của nhóm mình

Trang 32

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 26 - SVTH: Nguyễn Thúy An

- Đối với giáo án điện tử (PowerPoint, Video…), sau khi dạy xong nội dung được chọn lồng ghép thì giáo viên có thể trình chiếu một số hình ảnh từ nội dung bài học có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường Yêu cầu học sinh nhận diện các dạng ô nhiễm (ô nhiễm không khí, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm tiếng ồn, hay là ô nhiễm nước, đất….), từ các hình ảnh miêu tả vừa nhận diện, học sinh có thể rút ra bài học gì cho bản thân về cách bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường sống của con người

- Dành vài phút cuối trong tiết học cho mục đố vui có thưởng, để củng cố kiến thức và hình thành ý thức bản thân của mỗi cá nhân về bảo vệ môi trường

- Chuẩn bị sẳn một số tranh ảnh về ô nhiễm môi trường thường gặp trong thực tế cuộc sống có liên quan đến nội dung kiến thức vật lí vừa học Bên dưới hình, có vài dòng trống

để học sinh viết câu trả lời của mình khi giáo viên đưa ra yêu cầu phải thực hiện Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhìn hình và cho biết nguyên nhân bị ô nhiễm từ đâu, biện pháp khắc phục, hoặc đề ra một vài biện pháp hạn chế một phần tác hại do bị ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường trên

- Đặt câu hỏi và học sinh trả lời câu hỏi do giáo viên đặt ra Trong đó, những câu hỏi

mà người giáo viên đặt ra, phải có mối liên hệ từ nội dung kiến thức vật lí bài học đến vấn đề trong thực tế (cụ thể là: vấn đề về môi trường)

Trang 33

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 27 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Chương 2

TẬP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC

CHƯƠNG III, IV, VII, IX VẬT LÍ 12 (NÂNG CAO)

Loài người của chúng ta chỉ có một Trái Đất, Trái Đất là duy nhất và không giãn nở được Trái Đất đã chứng kiến sự ra đời của sự sống và hình thành loài người – bông hoa của sự sống và tiến hóa Nhưng hiện nay, Trái Đất mà loài người đang sinh sống có tình trạng như thế nào? Nạn bùng nổ dân số, công nghiệp hóa tăng đến mức độ kinh khủng, các đô thị, các khu công nghiệp đua nhau mọc lên như nấm Giao thông vận tải, thông tin ngày càng gấp gáp và khẩn trương, sự khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng dồn dập, thảm thực vật rừng – chiếc áo kì diệu màu xanh đảm bảo cho sự sống của Trái Đất ngày càng tàn lụi, đất đai trở nên cằn cỗi, nạn ô nhiễm không khí, tiếng ồn, nước, đất đang trở nên nghiêm trọng Khung cảnh thiên nhiên đa dạng và màu sắc đang bị phá hủy Các chu trình sinh – địa – hóa của Trái Đất như: chu trình oxi, nitơ, các kim loại nặng đang bị nhiễu loạn

Những khủng hoảng to lớn đang xâu xé Trái Đất và nhân loại hiện nay là: khủng hoảng dân số, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng chính trị, xã hội… đang trở nên trầm trọng nhưng không phải là không giải quyết được Giải pháp lâu dài và có hiệu quả để giải quyết những vấn đề trên là xây dựng

ý thức trách nhiệm, nhận thức đúng đắn về vấn đề sinh thái học và bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ chất lượng môi trường sống Cần phải nhanh chóng có các nguyên tắc, biện pháp hữu hiệu bảo vệ môi trường Trong đó, đóng góp một phần công sức không nhỏ vào bảo vệ môi trường là phương thức lồng ghép giáo dục môi trường vào từng môn học ở các trường trung học phổ thông Bởi vì, những người công nhân tương lai của Đất nước có tri thức về môi trường đã, đang và sẽ được giáo dục khi ngồi trên ghế nhà trường, họ sẽ ý thức được vai trò của môi trường đối với

sự sống con người và môi trường tự nhiên quan trọng ra sao, đồng thời có ý thức tự giác bảo vệ môi trường thông qua các môn học Riêng với khoa học vật lí, có thể tham gia giáo dục môi trường rất tích cực, không nhất thiết nội dung giáo dục khai thác từ vật lí lớp mấy, hệ nâng cao hay cơ bản, ở bậc học nào mà phải giáo dục từ bậc tiểu học đến bậc trung học, với mạng lưới phân bố rộng khắp đến tận thôn xóm ở mọi miền đất nước như

Trang 34

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 28 - SVTH: Nguyễn Thúy An

tôi đã nói trong chương 1_mục ― 1.2.3.1: Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu đưa giáo dục môi trường vào nhà trường‖ ở chương trước Tuy nhiên trong phạm vi luận văn, tôi chỉ tập lồng ghép giáo dục môi trường trong bốn chương (chương III, IV, VII, IX) – vật lí 12 (nâng cao) Vì vậy, tôi sẽ tập lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh trong bốn chương này Đầu tiên, tôi tập lồng ghép giáo dục trong chương III: Sóng cơ

1 CHƯƠNG III : SÓNG CƠ [4, tr 69]

Xác định mục tiêu của chương:

Mục tiêu của chương được xác định trong sách giáo viên Vật lí 12 (nâng cao) [5, tr 86] ― - Nêu được các định nghĩa: sóng, sóng dọc, sóng ngang, các đại lượng đặc trưng cho sóng

- Lập được phương trình sóng khi biết các đại lượng đặc trưng và ngược lại xác định được các đại lượng đặc trưng cho sóng khi biết phương trình sóng

- Bố trí được thí nghiệm tạo ra hiện tượng giao thoa sóng trên mặt nước và sóng dừng trên dây đàn hồi, nhận biết được đặc điểm và điều kiện để xãy ra hai hiện tượng đó, hiểu được những ứng dụng quan trọng của hai hiện tượng trên

- Hiểu được sóng âm là gì, nêu được những đặc điểm của âm và mối liên hệ giữa chúng với các đại lượng đặc trưng của sóng âm Hiểu nguyên nhân và nhận biết được bằng thí nghiệm hiện tượng cộng hưởng âm và hiệu ứng Đốp – ple, nêu được những ứng dụng của chúng.‖

Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường:

Chương này gồm bảy bài (năm bài lí thuyết, một bài thực hành và một bài bài tập về sóng cơ), sau khi tìm hiểu xong năm bài lí thuyết trong chương và mục tiêu cần đạt của chương, tôi thấy rằng: mục tiêu thứ nhất và mục tiêu thứ hai chủ yếu cho học sinh hiểu và vận dụng lập được phương trình sóng khi biết các đại lượng đặc trưng, cơ hội lồng ghép giáo dục môi trường từ kiến thức vật lí ở đây chưa thấy Nhưng với mục tiêu thứ ba và thứ tư, về kiến thức vật lí thì học sinh phải hiểu được những ứng dụng quan trọng của hai hiện tượng: giao thoa sóng và sóng dừng, phải hiểu được sóng âm, nêu được những đặc điểm của âm và mối liên hệ giữa chúng với các đại lượng đặc trưng của sóng âm Hiểu nguyên nhân và nhận biết được hiện tượng cộng hưởng âm, nêu được những ứng dụng

Trang 35

Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho từng bài:

1.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 16: “ Giao thoa sóng” [4, tr 84] 1.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép:

Về nội dung kiến thức vật lí, ― Hiện tượng hai sóng kết hợp, khi gặp nhau tại những điểm xác định, luôn luôn hoặc tăng cường nhau, hoặc làm yếu nhau được gọi là hiện tượng giao thoa của sóng.‖ [4, tr 87] Trên lí thuyết thì hiện tượng giao thoa được định nghĩa như trên Thật ra, đa số chúng ta đều nhìn thấy một số loại giao thoa quang hầu như mỗi ngày nhưng không nhận ra được những sự kiện xảy ra đằng sau đó, sự biểu hiện thường rất huyền ảo của màu sắc sinh ra khi các sóng ánh sáng giao thoa với nhau Một trong những thí dụ rõ nhất của hiện tượng giao thoa, biểu hiện bởi ánh sáng phản xạ từ một màng dầu nổi trên mặt nước Nó phản chiếu một phổ màu sắc khi được rọi sáng bằng nguồn sáng tự nhiên hoặc nhân tạo Nhiều người cố tình thải dầu nhớt khi không còn sử dụng được xuống ao, hồ, sông suối… nơi mình ở hoặc gần nơi mình sinh sống, lúc đó trên mặt nước thấy rất rõ một phổ màu sắc váng trên mặt nước

Ngoài ra, ― Dầu mỏ và chất thải công nghiệp gây ra sự nhiễm bẩn ở đại dương Ô nhiễm do dầu ngày càng tăng do sự cố tại các dàn khoan và tàu chở dầu bị tai nạn khoảng 65% sản lượng dầu khai thác trên thế giới (1300 triệu tấn) được vận chuyển bằng đường biển Theo thống kê của UNEP năm 1989, lượng dầu rớt xuống biển trong quá trình vận chuyển là 1,6 triệu tấn (1,1 triệu tấn do tháo rửa tàu và 0,5 triệu tấn do tàu chở dầu bị nạn) Dầu tràn ra biển tạo ra một lớp phủ mỏng ngăn cản quá trình trao đổi năng lượng, nhiệt và khí giữa khí quyển và nước đại dương Sinh vật phù du chết và kém phát triển ảnh hưởng đến dây truyền thức ăn của hệ sinh thái biển và đại dương Các sản phẩm của dầu hòa tan trong nước làm cá, chim biển chết hàng loạt Chất thải công nhiệp và sinh hoạt đưa ra biển hàng trăm hợp chất hóa học khác nhau, làm biến mất một số loài

Trang 36

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 30 - SVTH: Nguyễn Thúy An

sinh vật biển, thay đổi luồng di cư và gây bệnh cho cá Người ta đã gặp những vệt dầu

mỡ kéo dài hàng chục dặm ở Địa Trung Hải, vùng biển phía tây đảo Hoccaiđoo (Nhật Bản) đã trở thành một ― sọt rác‖ lớn nhất thế giới.‖ [14, tr 75]

Việc làm như thế, không những gây ô nhiễm diện tích trên mặt nước mà các lớp nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng Khi dầu nhớt thải ra thì toàn bộ trên mặt nước được bao phủ bởi một lớp dầu nhớt Mà ta biết, dầu nhớt là một dung môi không hòa tan

và phân hủy được trong nước, vô tình người khác sử dụng và gây hậu quả rất nghiêm trọng đối với sức khỏe bản thân, sức khỏe của gia đình họ Để biết được nguồn nước đã

bị ô nhiễm hay chưa, người ta thường căn cứ vào màu sắc, mùi và vị, độ đục, hàm lượng chất lơ lửng, độ cứng, độ PH, độ dẫn điện…

Nhờ hiện tượng giao thoa ánh sáng khả kiến mà con người có thể phát hiện ra nước

có bị ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra không, được biểu hiện bởi một phổ màu sắc váng trên mặt nước Từ đó con người có thể tránh được hậu quả cho bản thân và những người xung quanh

Nội dung có thể lồng ghép: với bài này khi vừa dạy xong mục ― 3 Ứng dụng‖ tôi sẽ lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh

1.1.3 Đề nghị cách lồng ghép:

Đối với bài này, nội dung bài học tương đối nhiều so với thời gian qui định của một tiết học Bên cạnh đó, trong bài có cả thí nghiệm kiểm tra và liên hệ lại công thức toán học để chứng minh công thức cho học sinh hiểu rõ, do đó thời gian lồng ghép giáo dục không nhiều Vì vậy, sau khi vừa học xong mục ― 3 Ứng dụng‖ tôi sẽ lồng ghép giáo dục với cách lồng ghép sau:

Theo nội dung kiến thức vật lí, giao thoa là ― hiện tượng hai sóng kết hợp, khi gặp nhau tại những điểm xác định, luôn luôn hoặc tăng cường nhau, hoặc làm yếu nhau‖ [4,

Trang 37

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 31 - SVTH: Nguyễn Thúy An

tr 87] Và ― Điều kiện để có hiện tượng giao thoa thì hai sóng phải xuất phát từ hai nguồn dao động có cùng tần số, cùng phương dao động và có độ lệch pha không đổi theo thời gian‖ [4, tr 87] Hiện tượng rất đặc trưng của sóng đó là giao thoa, giao thoa xảy ra mọi quá trình sóng có bản chất khác nhau Nhưng vì những lí do khác nhau mà ta không quan sát được quá trình sóng Nếu phát hiện ra hiện tượng giao thoa thì có thể kết luận quá trình đó là quá trình giao thoa sóng (chẳng hạn như: hiện tượng giao thoa ánh sáng khả kiến, nhờ phát hiện ra hiện giao thoa mà con người có thể nhận biết được nước bị ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra hay không, biểu hiện bằng một phổ màu sắc váng trên mặt nước khi được rọi bằng nguồn sáng tự nhiên hay nhân tạo, lúc đó có thể kết luận rằng quá trình đó là quá trình giao thoa sóng) [4, tr 87]

Sau đó, đưa ra một số hình ảnh về ô nhiễm nguồn nước do xăng, dầu, nhớt gây ra ( dùng hình vẽ trên giấy khổ lớn, dùng giấy trong, Projector và laptop… ).[phụ lục 1] Khi học sinh xem xong các hình ảnh giáo viên đưa ra, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhận diện dạng ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra từ một số hình trên Từ đó, liệt kê những bệnh thường gặp khi con người sử dụng phải nguồn nước đã bị ô nhiễm, theo mỗi

cá nhân học sinh ngoài nguồn nước bị ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra thì còn những nguyên nhân nào khác gây ô nhiễm nguồn nước Đồng thời, rút ra được bài học gì cho bản thân học sinh và tác động đối với những người xung quanh để hạn chế gây ô nhiễm môi trường nước

1.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 17: “ Sóng âm Nguồn nhạc âm” [4,

tr 90]

1.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép:

Ta đã biết, ― các vật phát ra âm thanh (gọi tắt là âm) đều dao động và ta gọi các vật

đó là nguồn âm Ví dụ như: dây đàn được gảy, mặt trống bị gõ, đều dao động và phát

ra âm.‖ [4, tr 90] Và ― Vật dao động làm cho lớp không khí ở bên cạnh lần lượt bị nén rồi bị dãn Không khí bị nén hay bị dãn thì làm xuất hiện lực đàn hồi khiến cho dao động

đó được truyền cho các phân tử không khí ở xa hơn Dao động được truyền đi trong

không khí, tạo thành sóng gọi là sóng âm, có cùng tần số với nguồn âm

Sóng âm truyền qua không khí, lọt vào tai ta, gặp màng nhĩ, tác dụng lên màng nhĩ một áp suất biến thiên, làm cho màng nhĩ dao động Dao động của màng nhĩ lại được

Trang 38

dB đến 130 dB, cường độ âm thanh được đo bằng dexiben (dB) Mức 0 dB là ngưỡng bắt đầu nghe được, còn mức cao nhất tai người có thể chịu đựng được, gọi là ngưỡng chói tai hay ngưỡng đau đớn, thường là khoảng 140 dB [4, tr 92]

Chúng ta thấy rằng, hằng ngày tiếng ồn trong cuộc sống (nguồn âm) phát sinh từ: tiếng ồn trong giao thông (động cơ xe và sự rung động từ các bộ phận của xe, tiếng ồn của các ống xả khói của xe gắn máy; tiếng ồn trong công nghiệp (do quá trình va chạm,

do chuyển động qua lại của thiết bị ); tiếng ồn từ khu vực dân cư (xưởng máy, quán rượu, các cửa hàng video, karaoke, nhà cửa, tiếng cãi vã, la ó, tiếng chó, gà…) Tiếng ồn trong cuộc sống luôn phát sinh và tồn tại, tiếng ồn cũng là một dạng sóng âm, tiếng ồn là

âm thanh, nhưng là âm thanh không giá trị, không phù hợp với mong muốn người nghe Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm không khí phổ biến ở các đô thị, khu công nghiệp và giao thông vận tải Ô nhiễm tiếng ồn trong cuộc sống thường tỉ lệ thuận với qui mô thành phố, với mức độ giao thông và sản xuất

Tiếng ồn thường được định nghĩa là ―Một tập hợp âm thanh không hài hòa, lộn xộn, không có nhạc tính‖ [15, tr 61], hoặc là ―mọi cảm giác khó chịu hoặc quấy rầy thính giác‖ [15, tr 61]

Do đó, tiếng ồn được xem là một khái niệm tương đối mà không đơn thuần là một khái niệm tuyệt đối Vì nó tùy thuộc vào cường độ của tiếng ồn, tần số (trầm hay bổng),

độ dài thời gian, tính bất ngờ Sự khó chịu do tiếng ồn gây ra còn phụ thuộc vào thời điểm (ngày hay đêm), người nghe (vui, buồn, chú ý hay không…), đối tượng (giận, ghét, yêu thương) và ―âm thanh nền‖ xung quanh Một tiếng nói, một điệu nhạc có thể dể chịu hay ho đối với người này, nhưng lại gây khó chịu hay bực mình đối với người khác

Trang 39

GVHD: Đặng Thị Bắc Lý - 33 - SVTH: Nguyễn Thúy An

Mặc dù tiếng ồn là một khái niệm tương đối, nhưng tiếng ồn cần phải được quan tâm

vì tác hại của nó tuy ―thầm lặng‖ nhưng hậu quả rất rõ ràng như: sự mệt mỏi thính giác, tức là sự hụt hẫng tạm thời của thính năng (vì tiếng ồn mà không thể nói chuyện), nghe tín hiệu báo động, hình thành trạng thái như ―cô lập‖, mất hẳn thính giác nếu tiếng ồn quá mạnh hoặc lớn kéo dài Sự tê liệt thính giác thường do những nguyên nhân nghề nghiệp, hoặc do những trò chơi quá ồn (Nhạc rock, máy nghe nhạc cá nhân để âm thanh

to hết cỡ), tiếng ồn còn làm yếu hoặc mất khả năng nghe tùy theo cường độ và thời gian

ồn, tiếng ồn tác động đến hệ tim mạch như: tăng hoặc giảm huyết áp, mạch yếu ớt

Nghiêm trọng hơn, tiếng ồn trong cuộc sống còn ảnh hưởng:

- Đến hệ thần kinh, gây ức chế thần kinh (stress) Tiếng ồn cản trở sự phát triển ngôn ngữ và tập đọc của trẻ em, làm cho con người gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội

- Tiếng ồn phá rối giấc ngủ, gây khó ngủ, tỉnh giấc ban đêm, giảm thời gian ngủ say…

Tiếng ồn có tác hại rất lớn đến con người, có thể lúc đầu chỉ tác hại trước mắt nhưng thời gian tiếp xúc với tiếng ồn ngày càng lâu thì tiếng ồn ảnh hưởng lâu dài đến con người qúa nghiêm trọng

Ô nhiễm tiếng ồn là vấn đề xã hội tập trung chủ yếu ở đô thị, các khu công nghiệp Điều may mắn là, so với các loại ô nhiễm khác thì có nhiều cách khắc phục và hạn chế ô nhiễm tiếng ồn có hiệu quả bằng các biện pháp kĩ thuật (như: giảm tiếng ồn từ nguồn phát sinh, giảm tiếng ồn bằng hấp thu bề mặt và phản xạ tại chỗ, giảm tiếng ồn bằng cách cách ly nguồn phát sinh tiếng ồn, hoặc bọc kín máy gây ồn nhiều…), biện pháp phòng hộ các nhân (như: nút chai, chụp tai, xen kẻ lao động và nghỉ ngơi ngắn…), biện pháp tuyên truyền và giáo dục con người, biện pháp y tế

Nội dung có thể lồng ghép: khi sóng âm tác dụng vào tai ta thì mỗi đặc trưng vật lí của âm ( tần số, cường độ âm, mức cường độ âm, đồ thị dao động) gây ra một loại cảm giác riêng, gọi là đặc trưng sinh lí của âm (độ to, độ cao, âm sắc) Những đặc trưng sinh lí của âm có liên quan chặt chẽ với những đặc trưng vật lí của âm Chẳng hạn tiếng nói chuyện bình thường có mức cường độ âm bằng 40 dB, trong khi đó ngưỡng nghe tai người là 50 dB, nếu tiếng ồn trên ngưỡng nghe này được xem như ô nhiễm tiếng ồn Do

Trang 40

1.2.3 Đề nghị cách lồng ghép:

Theo phân phối chương trình của bộ giáo dục và đào tạo thì với bài này giáo viên giảng dạy trong một tiết học, về nội dung kiến thức thì tương đối dài Do đó, thời gian để lồng ghép giáo dục môi trường trên lớp không nhiều như bài 16: ― Giao thoa sóng‖ Vì lí

do đó, khi vừa dạy xong nội dung mục ― 4 Những đặc trưng của âm‖ tôi sẽ lồng ghép giáo dục cho học sinh với cách lồng ghép sau:

Sau khi học xong mục ― 4 Những đặc trưng của âm‖, học sinh có thể hiểu sóng âm

là những sóng cơ truyền trong các môi trường rắn, lỏng, khí Nguồn âm là các vật dao động và tần số dao động cũng là tần số âm Do đặc điểm sinh lí của tai, tai con người chỉ

có thể nghe được (nghe thấy) những âm có tần số trong khoảng từ 16 Hz đến 20.000 Hz , những âm có tần số nhỏ hơn hay lớn hơn giới hạn trên thì tai con người không nghe được, nếu vượt mức ngưỡng nghe của tai sẽ gây cảm giác đau đớn

Khi học sinh hiểu được cơ sở vật lí nêu trên, tôi sẽ giao bài tập về nhà cho học sinh tìm và sưu tập một số tranh ảnh về ô nhiễm tiếng ồn trong cuộc sống (mỗi cá nhân phải sưu tầm ít nhất là 3 tranh ảnh)

Qua đó, yêu cầu mỗi cá nhân học sinh rút ra bài học gì cho bản thân và với bản thân

có thể đề ra những biện pháp như thế nào để hạn chế vấn đề ô nhiễm tiếng ồn trong cuộc sống (viết vào phía sau mỗi tranh ảnh mà cá nhân sưu tầm được)

2 CHƯƠNG IV: DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ [4, tr 116]

Xác định mục tiêu của chương:

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w