Muốn làm được đều đó, thì việc giáo dục môi trường phải được thực hiện ở mọi lứa tuổi, ở tất cả các bậc học, nhằm tạo ra những người công dân có hiểu biết ngày càng tốt hơn về môi trường
Trang 1TẬP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
II, IV, V, VI, VII VẬT LÍ 12
Sinh viên thực hiện:
Trương Văn Ngoan MSSV: 1090312 Chuyên ngành: Sp Vật lí – Công nghệ K.35
Cần thơ, ngày 09 tháng 5 năm 2013
Trang 2Lời cảm ơn
Sau một thời gian dài làm việc, tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu Để có được kết quả trên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều thầy cô và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô Trường Đại Học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ Môn Sư Phạm Vật
Lý đã cung cấp, truyền đạt những vốn kiến thức quý báu cho tôi, đã tạo điều kiện cho tôi học tập và giúp tôi có nền tảng vững chắc để hoàn
thành luận văn này
Riêng Thạc sĩ – Giảng viên chính Đặng Thị Bắc Lý, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất Cô đã bỏ ra rất nhiều thơi gian để hướng dẫn và góp ý rất nhiều cho luận văn của tôi
Tôi cũng chân thành cám ơn những ý kiến đóng góp của các anh chị đi trước và bạn bè, đặc biệt là các bạn ngành sư phạm Vật lý – Công nghệ khóa 35 đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài
Cuối lời, xin kính chúc thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe, công tác tốt, thành công và hạnh phúc
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến quý báu của quý thầy cô và bạn bè để đề tài được phong phú và hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Cần thơ, Ngày 27 tháng 4 năm 2013
Sinh viên thực hiện Trương Văn Ngoan
Trang 3Phần 1: PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện 2
3.1 Phương pháp nghiên cứu 2
3.2 Các bước thực hiện 2
Phần 2: NỘI DUNG Chương 1: VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 4
1 VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG 4
1.1 Môi trường 4
1.2 Các chức năng của môi trường 8
1.3 Sự suy thoái và ô nhiễm môi trường 12
1.4 Tác nhân gây ô nhiễm 14
2 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 15
2.1 Khái niệm 15
2.2 Nội dung giáo dục môi trường 16
2.3 Giáo dục môi trường trong nhà trường 17
2.3.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu đưa giáo dục môi trường vào nhà trườn 17
2.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường và biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường 18
2.3.3 Giáo dục môi trường trong giảng dạy vật lí 21
Chương 2: TẬP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG II, IV, V, VI, VII VẬT LÍ 12 26
1 CHƯƠNG II: SÓNG CƠ 27
Trang 41.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 26
1.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 27
1.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 27
1.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 10: “Đặc trưng vật lí của âm” 29
1.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 29
1.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 31
1.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 31
2 CHƯƠNG IV: DAO ĐỘNG VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ 33
2.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 21: “Điện từ trường” 33
2.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 33
2.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 35
2.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 35
2.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 22: “Sóng điện từ” 36
2.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 36
2.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 38
2.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 38
3 CHƯƠNG V: SÓNG ÁNH SÁNG 40
3.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 27: “Tia hồng ngoại và tia tử ngoại” 41
3.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 41
3.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 43
3.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 43
4 CHƯƠNG VI: LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG 45
4.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 31: “Hiện tượng quan điện trong” 45
Trang 54.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 46
4.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 47
5 CHƯƠNG VII: HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ 49
5.1 Tập lồng ghép giáo dục mối trường cho bài 37: “Phóng xạ” 50
5.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 50
5.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 54
5.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 54
5.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 56: “ Phản ứng phân hạch” 56
5.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 56
5.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 58
5.1.3 Đề nghị cách lồng ghép 59
Phần 3: KẾT LUẬN 1 Kết quả đạt được của đề tài 61
2 Những hạn chế của đề tài 62
3 Những dự định trong tương lai 62 PHẦN PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
tế nước ta đang đi lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đẩy mạnh quá trình đô thị hóa dẫn tới tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm Cùng với các quá trình đó thì các hoạt động, sinh hoạt vô ý thức của con người cũng góp phần làm cho môi trường ngày càng bị ô nhiễm Để làm giảm tình trạng ô nhiễm môi trường thì việc giáo dục môi trường, giáo dục ý thức, nhận thức cho người dân và cụ thể là học sinh, sinh viên là vấn
đề cần được quan tâm và thực hiện
Muốn làm được đều đó, thì việc giáo dục môi trường phải được thực hiện ở mọi lứa tuổi, ở tất cả các bậc học, nhằm tạo ra những người công dân có hiểu biết ngày càng tốt hơn về môi trường và ô nhiễm môi trường, cùng tham gia tuyên truyền vận động bảo vệ môi trường, góp phần cho việc phát triển bền vững Giáo dục môi trường sẽ tạo ra những người công dân có nhận thức, có trách nhiệm về môi trường và biết sống về môi trường,
đó không chỉ riêng để giáo dục môi trường mà còn là thước đo cuộc sống
Nhìn chung, những người công dân có nhận thức và trách nhiệm về môi trường đang được giáo dục trên ghế nhà trường qua từng môn học của từng mảng kiến thức có liên quan đến môi trường Trong đó, khoa học vật lí có thể tham gia giáo dục môi trường rất tích cực, nhiều nội dung trong các bài học vật lí có thể lồng ghép giáo dục môi trường vào bài giảng một cách thuận lợi trong giờ học chính khóa hay ngoại khóa, các hoạt động
tổ chức câu lạc bộ vật lí, các buổi tìm hiểu về những điều kỳ thú trong vật lí, câu lạc bộ vật lí môi trường… Tuy nhiên, lồng ghép giáo dục môi trường trong các giờ học chính khóa sẽ thuận lợi hơn và hiệu quả hơn Đồng thời, không mất nhiều thời gian như các hoạt động trên
Như chúng ta đã biết, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học đang là việc làm rất phổ biến ở các trường phổ thông Nhiều giáo viên đã mạnh dạn áp dụng những phương pháp mới này vào công tác giảng dạy của mình Trong thời gian học môn “Lí luận dạy học vật lí” tôi đã tìm hiểu nhiều Phương pháp giáo dục tư
Trang 7GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
2
tưởng nói chung và giáo dục môi trường nói riêng Ngoài ra, tôi đã tập lồng ghép giáo dục môi trường trong học phần tập giảng và áp dụng khi thực tập ở trường phổ thông nhưng bản thân tôi nhận thấy còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu về phương pháp này Chính vì thế tôi chọn đề tài “Tập lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học chương II, IV, V, VI, VII vật lí 12” để tìm hiểu thêm những vấn đề mới về phương pháp này
2 Mục tiêu đề tài
- Tổng hợp lại vấn đề môi trường hiện nay
- Hệ thống lại cơ sở lí thuyết về giáo dục môi trường
- Đưa ra qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí
- Tìm cơ hội ở các bài lồng ghép giáo dục môi trường và vận dụng qui trình lồng ghép giáo dục vào bài học
3 Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện
3.1 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: tìm các tài liệu liên quan đến môi trường, tài liệu về giáo dục môi trường, SGK vật lí 12, sách giáo viên vật lí 12
- Vận dụng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí vào chương
II, IV, V, VI,VII vật lí 12
3.2 Các bước thực hiện
- Xác định mục tiêu cho đề tài
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Lập đề cương cho đề tài
- Hệ thống lại cơ sở lí thuyết cho đề tài
- Trên những cơ sở lí thuyết đã nghiên cứu, xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường vào từng bài
- Viết, chỉnh sửa và hoàn thành đề tài
- Báo cáo thử luận văn
Trang 8GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
3
- Báo cáo luận văn
Trang 9GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
4
B NỘI DUNG Chương 1 VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
1 VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG
1.1 Môi trường
Từ trước tới nay ta, môi trường sống luôn là bầu sữa nuôi sống con người và thiên nhiên, môi trường được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau thông qua sách báo, internet, hay các khái niệm của các nhà nghiên cứu về lĩnh vực môi trường và con người Tuy nhiên, môi trường có thể được định nghĩa một cách khái quát như sau:
“Môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể, hoặc một cộng đồng Những nhân tố này bao gỗm
cả biện pháp quản lí hơp lí, việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho
sự tồn tại của loài người hiện nay và trong tương lai.” [8, tr 31]
Môi trường theo khái niệm này, bao gồm cả sinh thái học con người, y tế, xã hội, bảo hộ lao động, ô nhiễm không khí, nước và đất, cả những biện pháp hạn chế phế thải
và tăng cường sử dụng nguồn phế thải có thể tái chế sử dụng lại, nhằm làm giảm nguồn phế thải vào môi trường, bao gồm các biện pháp chống xói mòn, quản lí nơi cư trú của động thực vật, đặc biệt là các loài quí hiếm, bảo vệ mĩ quan và văn hóa
Hay có thể hiểu theo cách khác : “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu
tố vật chất thiên nhiên” [15, Điều 1] Trong đó, các yếu tố tự nhiên như: không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và yếu tố vật chất thiên nhiên như: đất, nước, hệ động thực vật, Hai yếu tố này bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Ngoài ra, các khái niệm môi trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, song nhìn chung nó không nằm ngoài nội dung của luật Bảo vệ môi trường trong quốc gia Việt Nam
Riêng với con người, khái niệm về môi trường của con người chứa đựng nội dung rộng hơn Theo UNESCO (1981) thì “ Môi trường của con người bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin ), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và
Trang 10GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
5
nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu cho cuộc sống sinh hoạt của mình” Do vậy môi trường sống không những là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và vui chơi giải trí của con người” [8, tr 32] Tóm lại, môi trường của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ Mặt trời và Trái Đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất
Ngày nay, khoa học và công nghệ đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp của con người, thông tin và trí thức trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quí giá, hàm lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng Công nghệ tin học, internet là phương tiện lao động phổ biến và hiệu quả nhất Vì thế, nền kinh tế mới có sức sống mãnh liệt hơn nhiều so với nền kinh tế cũng như: kinh tế nguyên thủy, kinh tế công nghệp, kinh tế nông nghiệp Nền kinh tế mới phát triển dựa trên tri thức khoa học của con người, cho nên tốc độ tăng trưởng của nó tỉ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng của khối lượng tri thức khoa học mà loài người tích lũy được Và ta thấy rằng, đa phần con người trong nền kinh
tế mới phát triển dựa trên tri thức khoa học ngày nay đều hoạt động theo một khuôn khổ nhất định, có mối quan hệ giữa con người với con người rất rõ ràng, họ chú trọng nhiều đến các nguyên tắc, các luật lệ, nhằm để đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn và ngày một phát triển văn minh
Do đó, môi trường sống của con người ngoài các nhân tố môi trường tự nhiên còn
có cả môi trường xã hội:
“ Môi trường tự nhiên: là các nhân tố thiên nhiên có tính chất vật lí, hóa học, sinh học,
nó tồn tại và vận động theo qui luật của tự nhiên, nhưng cũng ít nhiều chịu sự tác động của con người như: năng lượng Mặt Trời, đại dương, sông núi, không khí, động vật, thực vật”.[8, tr 32]
Môi trường tự nhiên cung cấp cho con người nguồn tài nguyên thiên nhiên như: không khí, đất và các khoáng sản để cho con người sinh tồn và phát triển Thế thì, đối với môi trường xã hội thì sao?
Môi trường xã hội: chính là các mối qúan hệ giữa con người với con người, đó là các luật lệ, các phong tục tập quán Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo những khuôn khổ nhất định đảm bảo cho cuộc sống sinh tồn và ngày một phát triển, văn minh.” [8, tr 33]
Trang 11GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
6
Ngoài ra, cần phải phân biệt giữa khái niệm môi trường nhân tạo và môi trường xã hội Với môi trường nhân tạo thì bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, hoặc cải biến nó như: các phương tiện, công cụ, máy móc, thiết bị, nhà ở, công viên, nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và lao động sản xuất của con người
Tuy nhiên, gắn liền với cuộc sống của con người và ảnh hưởng trực tiếp đến con người chính là môi trường vật lí Môi trường vật lí là môi trường bao gồm các thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên như: môi trường khí quyển, môi trường thủy quyển, môi trường thạch quyển và môi trường sinh quyển
- Thạch quyển (đất)
“Thạch quyển là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của các hành tinh có đất đá Trên Trái Đất, thạch quyển bao gồm lớp vỏ và tầng trên cùng nhất của lớp phủ (lớp phủ trên hoặc thạch quyển dưới), được kết nối với lớp vỏ Thạch quyển bị chia nhỏ ra thành các mảng khác nhau như trên hình.” [20]
Đặc trưng phân biệt của thạch quyển không phải là thành phần của nó mà là các thuộc tính về sự trôi dạt của nó Dưới ảnh hưởng của các ứng suất dài hạn và cường độ thấp gây ra các chuyển động kiến tạo địa tầng, thạch quyển phản ứng về cơ bản như là lớp vỏ cứng, trong khi quyển astheno có tác động như là một lớp chất lỏng có độ nhớt nhẹ Cả lớp vỏ và tầng trên của lớp phủ trôi trên quyển astheno có "độ dẻo" cao hơn Lớp vỏ được phân biệt với lớp phủ và như vậy là tầng trên của lớp phủ bằng sự thay đổi trong thành phần hóa học tại khu vực của điểm gián đoạn Mohorovičić
Độ dày của thạch quyển dao động từ khoảng 1,6 km (1 dặm) ở các sống lưng giữa đại dương tới khoảng 130 km (80 dặm) gần lớp vỏ đại dương cổ Độ dày của mảng thạch quyển lục địa là khoảng 150 km (93 dặm)
Do lớp bề mặt đang nguội đi trong hệ thống đối lưu của Trái Đất, độ dày của thạch quyển tăng dần lên theo thời gian Nó bị chia cắt ra thành các mảng tương đối lớn, được gọi là các mảng kiến tạo và chúng chuyển động tương đối độc lập với nhau Chuyển động này của các mảng thạch quyển được miêu tả như là kiến tạo địa tầng Có hai dạng của thạch quyển là: Thạch quyển vỏ đại dương và thạch quyển vỏ lục địa
Trên quan điểm sinh thái và môi trường, WinKer đã coi “ đất như một cơ thể sổng vì trong nó có nhiều sinh vật như vi khuẩn, nấm tảo, thực vật ” Do đó, đất cũng tuân thủ
Trang 12GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
- Thủy quyển (nước)
“ Thủy quyển là một trong những yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái Đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người Thủy quyển bao gồm tất cả các dạng nguồn nước có trên Trái Đất như: Đại dương, biển, hồ, sông, suối các nguồn chứa băng đá ở hai cực Trái Đất và các nguồn nước ngầm Khối lượng thủy quyển ước tính vào khoảng l,38.1021kg (tương đương 0,03% tổng khối lượng Trái Đất)
Nước trong hành tinh phân bố không đều, 97% là nước mặn (biển, đại dương), 2% nước thuộc dạng băng đá (Bắc cực, Nam cực), chỉ có 1% nước ngọt được con người sử dụng.” [8, tr 34]
Theo qui luật tự nhiên thì nước không ngừng vận động và chuyển trạng thái, tạo nên vòng tuần hoàn của nước trong sinh quyển: nước bốc hơi ngưng tụ rồi mưa Nước bề mặt
dễ bị ô nhiễm vì tiếp nhận nhiều nguồn phế thải từ tự nhiên và nhân tạo như: cháy rừng, núi lửa, bụi, khí, hay nước thải công nghiệp và sinh hoạt, các hóa chất như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, Đó đang là vấn đề chưa có biện pháp giải quyết và khắc phục được
- Khí quyển
“Khí quyển Trái Đất là lớp các chất khí bao quanh hành tinh Trái Đất và được giữ lại bởi lực hấp dẫn của Trái Đất Nó gồm có nitơ (78,1% theo thể tích) và ôxy (20,9%), với một lượng nhỏ agon (0,9%), điôxít cacbon (dao động, khoảng 0,035%), hơi nước và một số chất khí khác Bầu khí quyển bảo vệ cuộc sống trên Trái Đất bằng cách hấp thụ các bức xạ tia cực tím của mặt trời và tạo ra sự thay đổi về nhiệt độ giữa ngày và đêm Bầu khí quyển không có ranh giới rõ ràng với khoảng không vũ trụ nhưng mật độ không khí của bầu khí quyển giảm dần theo độ cao Ba phần tư khối lượng khí quyển nằm trong khoảng 11 km đầu tiên của bề mặt hành tinh.” [21]
Không riêng gì thạch quyển và thủy quyển, khí quyển có vai trò quan trọng trong
Trang 13GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
8
việc giữ cân bằng nhiệt lượng của Trái Đất, thông qua quá trình hấp thụ tia tử ngoại từ Mặt Trời chiếu xuống và tia nhiệt từ mặt đất phản xạ lên Cấu trúc tầng của khí quyển được hình thành do kết quả của lực hấp dẫn và nguồn phát sinh khí từ bề mặt Trái Đất,
có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ và duy trì sự sống trên Trái đất
Khí quyển là nguồn cung cấp O2 và CO2 cần thiết cho sự sống trên Trái Đất, cung cấp nitơ cho quá trình cố định đạm ở thực vật hay sản xuất phân đạm, hóa chất cho công nghiệp, nông nghiệp Khí quyển còn tham gia vào quá trình tuần hoàn nước
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm khí quyển như: núi lửa, cháy rừng, sấm chớp, quá trình phân hủy xác chết động thực vật, khí thải các khu công nghiệp, làm cho chất lượng môi trường ngày càng kém hơn
1.2.Các chức năng của môi trường
Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có các chức năng cơ bản sau:
“Môi trường là không gian sống của con người và thế giới sinh vật” [16] Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục
vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, nơi để sản xuất Như vậy chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người Không gian này lại đòi hỏi phải đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, cảnh quan và xã hội
Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi tuỳ theo trình độ khoa học và công nghệ Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, có 2 tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng (homestasis), nghĩa
là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất và tính bền vững của hệ sinh thái Khi xã hội càng phát triển, thì diện tích không gian sống của con người càng bị thu hẹp (bảng 1.1) Do vậy, không gian sống ngày càng cần có chất lượng cao hơn
Trang 14GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
9
Bảng 1.1 Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới [Nguồn: Lê Thạc
Cán, 1996]
Năm -106 -105 -104 0 1650 1840 1930 1994 2010 Dân số
“Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người.” [16] Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu từ khi con người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm, vào thời
kỳ đồ đá giữa cho đến khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVII, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực
Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên về cả số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội Chức năng này của môi trường còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:
+ Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái
+ Các thuỷ vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các nguồn thuỷ hải sản
+ Động - thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm
Trang 15GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
Hình 1.2 Hệ thống sinh thái của tự nhiên và nhân tạo
Con người khai thác trong thiên nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết như: đất, nước, không khí, khoáng sản, gỗ, than đá, dầu mỡ và các nguồn năng lượng khác để tạo
ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu: ăn, ở và lao động sản xuất của mình Thiên nhiên là nguồn cung, và mức độ phức cấp mọi tài nguyên cần thiết, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng tùy thuộc theo trình độ phát triển của xã hội con người Vì vậy, vấn đề tài nguyên luôn được đặt ra, con người cần phải bảo vệ, sử dụng tài nguyên một cách hợp lí để đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường
“Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống” [16] Trong quá trình sống, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường Tại đây các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác
sẽ bị phân huỷ, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quá trình sinh địa hoá phức tạp Trong thời kỳ sơ khai, khi dân số của nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân huỷ tự nhiên làm cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất
Vật tư, công cụ Con người
Lao động cơ bắp
Tự nhiên (các hệ thống sinh thái) Trí tuệ
Trang 16GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
11
định lại trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức năng này nhiều nơi, nhiều chổ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải trong một khu vực nhất định gọi là khả năng đệm (buffer capacity) của khu vực đó Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phân huỷ thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm Chức năng này có thể phân loại chi tiết như sau:
+ Chức năng biến đổi lý - hoá học (phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng, hấp thụ, tách chiết các vật thải và độc tố)
+ Chức năng biến đổi sinh hoá (sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình nitơ và cacbon, khử các chất độc bằng con đường sinh hoá)
+ Chức năng biến đổi sinh học (khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, amôn hoá, nitrat hoá và phản nitrat hoá)
Môi trường còn là nơi “lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người” [16] Môi trường trái đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:
+ Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người
+ Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tín chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm hoạ đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa
+ Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các
hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo và văn hoá khác
Môi trường còn “Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài” Các thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời
Trang 17GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
12
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở sống và phát triển Con người luôn cần khoảng không gian dành cho sinh hoạt, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác nhau như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Nhưng việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
1.3 Sự suy thoái và ô nhiễm môi trường
Ta thấy rằng, môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất Trong số đó
có những yếu tố vật chất tự nhiên như: đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ động vật, hệ thực vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả Yếu tố này, hình thành và phát triển theo những qui luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người, con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng mực nhất định
Bên cạnh những yếu tố vật chất tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân của con người như: hệ thống đê điều, các công trình nghệ thuật, các công trình văn hóa, kiến trúc mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác xây dựng nên
Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như: đất, nước, không khí, hệ thực vật, động vật Tình trạng môi trường thay đổi và bị ô nhiễm theo chiều hướng xấu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu nói chung, Việt Nam nói riêng
Theo ông Lê Văn Trưởng thì “ô nhiễm môi trường là làm thay đổi cả về tính chất vật lí, hóa học, sinh học của môi trường, làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường không có lợi cho môi trường sống Nó gây nguy hại đến sức khỏe con người, đồng thời làm ảnh hưởng đến nhiều quá trình khác nhau của sản xuất, làm tổn hại tài sản văn hóa, gây tổn thất hoặc hủy hoại tài nguyên dự trữ của Trái Đất” [7,
tr 71] Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm cho môi trường trở nên độc hại, hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe của con người và sinh vật trong môi trường đó Thông thường, tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực giới hạn cho phép được qui
Trang 18GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
13
định - dùng làm căn cứ để quản lí môi trường
Với định nghĩa về ô nhiễm môi trường ở trên, thì rõ ràng ô nhiễm môi trường là hiện tượng làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần, các đặc tính vật lí, hóa học, sinh thái học củạ bất kỳ thành phần nào của môi trường, hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định Sự gia tăng các chất lạ vào môi trường làm thay đổi các yếu tố môi trường sẽ gây tổn hại, hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn, hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó
Trong phạm vi toàn cầu, sự thay đổi theo chiều hướng xấu của môi trường diễn ra ở nhiều yếu tố của môi trường với nhiều cấp độ khác nhau:
“- Sự thay đổi của khí hậu toàn cầu dưới tác dụng của nhiều yếu tố khác nhau như: rừng bị tàn phá, đặc biệt các khu rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ và Châu Á, sự gia tăng khí thải: CO2, NOx, CFC, ”[8, tr 48]
- Sự suy giảm tầng ozon, tầng ozon luôn được coi là vỏ bọc, là chiếc áo giáp của Trái Đất, là tầng khí quyển ngoài tầng biên hành tinh Nếu hàm lượng tầng ozon bị suy giảm, hoặc tạo những lỗ thủng ở tầng ozon sẽ tạo ra những biến đổi xấu của môi trường trên Trái Đất
“- Chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt là vấn đề mà môi trường thế giới đang phải đổi mặt Sự gia tăng dân sổ, sự gia tăng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng dẫn tới sự gia tăng chất thải.” [8, tr 48] Mọi quốc gia đều cớ chất thải mà nếu không có biện pháp
xử lí thì chỉ có thể thải vào môi trường, môi trường thì không giãn nở thêm được Trong khi đó chất thải ngày càng tăng, thế nên một số quốc gia phát triển đã lợi dụng sự thiếu thổn của các quốc gia nghèo tìm các xuất khẩu vào những nơi đó chất thải, đặc biệt là những chất thải rắn
“- Sự suy giảm của nhiều loài thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật cũng là một vấn đề môi trường cấp bách.” [8, tr 49] Lúc nào môi trường cũng là nơi tổng hợp các hệ sinh thái có mối liên hệ mật thiết với nhau Sự tồn tại của hệ sinh thái này là điều kiện để duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái khác, sự tồn tại của loài động vật này chính
là điều kiện cân bằng cho các loài động vật khác Vì vậy sự suy thoái của hệ sinh thái này, của loài động vật này cũng kéo theo sự suy thoái của hệ sinh thái, loài động vật kia Tóm lại, suy thoái môi trường là một quá trình suy giảm mà kết quả của nó đã làm
Trang 19GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
14
thay đổi cả về chất lượng và số lượng thành phần môi trường vật lí (như: suy thoái đất, nước, không khí, biển, hồ ) và làm suy giảm đa dạng sinh học Quá trình đó gây hại rất nhiều cho đời sống sinh vật, con người và thiên nhiên Ví dụ: “ miền đồi núi dốc miền Trung Bộ, Đông Nam Bộ đã và đang bị phá rừng, đất bị xói mòn cạn kiệt, bị đá ong hóa, cây cối xác xơ, chim muông, thú rừng không nơi sinh sống, sông ngòi khô kiệt về mùa khô, lũ lớn về mùa mưa, năng suất cây trồng, sản lượng trong nông nghiệp sụt giảm, đời sống con người gặp khó khăn…” [22] Đó là một hình ảnh về suy thoái môi trường
1.4 Tác nhân gây ô nhiễm
Những thay đổi của môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến con người thông qua thức
ăn, nước uống, không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến con người do thay đổi các điều kiện vật lí - hóa học và suy giảm môi trường tự nhiên Tuy nhiên sự thay đổi ấy không đơn thuần hiển nhiên mà có, không đơn thuần tự bản thân môi trường bị suy thoái một cách nghiêm trọng như vậy Mà đó là, do các tác nhân gây ô nhiễm (hay chất ô nhiễm) gây nên Vậy tác nhân gây ô nhiễm là gì?
“ Tác nhân gây ô nhiễm là những chất, những nguyên tố hóa học có tác động vào môi trường làm cho môi trường từ trong sạch trở nên độc hại Những tác nhân này thường được gọi khái quát là “Chất gây ô nhiễm môi trường” Chất ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn, nó gây tác động có hại cho môi trường tự nhiên, cho con người cũng như sinh vật sống Chất ô nhiễm có thể là chất rắn (rác, phế thải rắn ), chất lỏng (các dung dịch hóa chất, chất thải của công nghiệp dệt nhuộm, chế biến thực phẩm ), chất khí (SO2 từ núi lửa, CO2, NO2 trong khói thải của xe hơi, co trong khói bếp, lò gạch ), các kim loại nặng như: chì, đồng, thủy ngân ( Pb, Cu, Hg, ).” [8, tr 48] Chúng làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên do chúng không cho các tia bức xạ từ mặt đất thoát ra, gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính rất nghiêm trọng Có thể có lúc có nơi có ít chất ô nhiễm nhưng có lúc
có nơi rất nhiều chất ô nhiễm Ví dụ như: “ Môi trường đất phèn có thể do các cation
Al3+, Fe3+ và các anion SO42- , Cl- cùng với các chất khí H2S, SO2 cùng tồn tại Các chất này đồng thời tác động vào cây trồng, vào động vật, làm suy giảm sự phát triển của mọi sinh vật Mạnh hơn nữa có thể làm chết động thực vật Đối với con người thì không khí đô thị thường vừa bị bụi đất, bụi xi măng, khí SO2, NO2 trong khói xe, mùi hôi thổi cống rãnh bốc lên, cộng với tiếng ồn, từ trường quá mức cho phép, gây tổn hại sức khỏe
Trang 20GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
15
con người, thậm chí gây chết người” [22]
2 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
2.1 Khái niệm
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, giáo dục môi trường được thực hiện bàng cách kết họp giữa giáo dục và thực tế, giữa nhà trường và các hoạt động xã hội Trong trường học, giáo dục môi trường được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường của đất nước hiện nay Riêng đối với đề tài này, tôi chỉ nghiên cứu về giáo dục môi trường trong trường học, còn các hoạt động tổ chức xã hội như: chiến dịch mùa hè xanh, tuyên truyên bảo vệ môi trường, vận động công dân trồng cây gây rừng tôi không đưa vào đề tài của tôi Vì nó nằm ngoài nội dung nghiên cứu trong đề tài của tôi Thế thì, như thế nào mới được gọi là giáo dục môi trường?
“ Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước vấn đề môi trường bao gồm: kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm và
kỹ năng để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường, trước mắt cũng như lâu dài” [Bộ GD-ĐT/Chương trình phát triển Liên hợp quốc 1998]
1.2.2 Nội dung giáo dục môi trường
Giáo dục là công cụ để thay đổi nhận thức của mỗi con người, để con người có cái nhìn thật đúng đắn về vấn đề nào có liên quan đến môi trường Muốn làm được điều đó thì đòi hỏi giáo dục phải có nội dung giáo dục cụ thể mới đạt được kết quả như mong muốn Vì lí do đó mà giáo dục môi trường có các nội dung giáo dục sau:
- Thứ nhất : “Giáo dục môi trường phải xem xét môi trường như một tổng thể hợp thành bởi nhiều thành phần Thiên nhiên và các hệ sinh thái của nó: kinh tế, dân số, xã hội, công nghệ, văn hóa.” [6, tr 21]
- Thứ hai: “Giáo dục môi trường nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức, trong thái độ, ứng xử và hành động trước vấn đề môi trường.” [6, tr 21] Có như vậy thì người được giáo dục mới có góc nhìn khả quan về môi trường và có ý thức nhiều hơn với môi trường
Trang 21GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
16
- Thứ ba: “Giáo dục môi trường cung cấp cho người học không chỉ những kiến thức cụ thể, kỹ năng thực hành, phương pháp phân tích, đánh giá chi phí - lợi ích để họ
có thể hành động độc lập, ra những quyết định phù hợp, hoặc cùng cộng đồng phòng ngừa xử lý các vấn đề môi trường một cách có hiệu quả.” [6, tr 21, 22]
- Thứ tư: “Giáo dục môi trường phải đề cập đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế.” [6, tr 22]
- Thứ năm: “Giáo dục môi trường phải xem xét các vấn đề môi trường hiện nay và quan hệ với các vấn đề môi trường tương lai.” [6, tr 22]
Nhìn chung, giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng rất nhiều phương thức khác nhau nhưng áp dụng rộng nhất là 3 phương thức: tiến hành như một môn học mới hoặc một chuyên đề mới đưa vào chương trình học, lồng ghép với các môn học khác, giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa
2.3 Giáo dục môi trường trong nhà trường
Trong giáo dục môi trường, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ thiên nhiên, trong đó có tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi quốc gia trên Trái Đất Nhưng có bảo vệ được môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên được hay không thì còn phụ thuộc vào ý thức của mỗi con người Môi trường tự nhiên có lành mạnh, tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học có được bảo
vệ và phát triển tốt thì con người mới tồn tại và phát triển được
Thời kì công nghiệp đang phát triển, việc khai thác các nguồn tài nguyên quá mức như: phá rừng, làm suy thoái thổ nhưỡng đã gây ra những tai hại và tổn thất lớn lao cho con người Trong thông điệp kỉ niệm ngày Môi trường thế giới 5/6/1999, giám đốc điều
hành UNEP đã nêu: “Hạnh phúc và mọi hy vọng của các dân tộc trên thế giới sẽ không thể có, nếu môi trường và các hệ sinh thái trên Trái Đất chưa được đảm bảo an toàn” [8,
tr 53]
Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường đã và đang trở thành quốc sách hàng đầu của các quốc gia, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, chính trị Có như vậy, mới khắc phục được tình trạng ô nhiễm toàn cầu như hiện nay
Ở nước ta, Quốc hội đã ban hành luật bảo vệ môi trường ngày 27 tháng 12 năm
1993 và ngày 17 tháng 10 năm 2001 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số
Trang 22GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
17
1363/QĐ/TTg phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc gia” của Bộ Giáo dục và Đào tạo [8, tr 53]
2.3.1 Ý nghĩa, vai trò và mục tiêu đưa giáo dục môi trường vào nhà trường
Có nhiều phương thức để giáo dục môi trường nhưng nhìn chung, trong mọi quốc
gia trên thế giới số lượng người làm công tác giáo dục, học sinh các cấp đều chiếm tỉ lệ đông đảo Lực lượng này góp phần quan trọng đảm bảo tính hiệu quả của nhiệm vụ giáo dục môi trường Trong nhiệm vụ giáo dục môi trường chung hiện nay thì “hệ thống 73 trường sư phạm ở 64 tỉnh thành trong cả nước có một trọng trách đặc biệt, nhà trường sư phạm là nơi đào tạo những thầy cô giáo cho mọi cấp học, bậc học có tri thức về lí luận và thực hành giáo dục bảo vệ môi trường để phục vụ cho giáo dục phổ thông và giáo dục cộng đồng” [8, tr 53, 54]
Nếu nhà trường phổ thông từ bậc tiểu học đến bậc trung học phổ thông với mạng lưới phân bố rộng khắp đến tận từng thôn xóm ở mọi miền đất nước, có hệ thống giáo dục được tổ chức chặt chẽ, liên tục, có mục tiêu, nội dung và phương pháp phù hợp, sẽ góp phần tạo ra một lực lượng xã hội hùng hậu tham gia trực tiếp bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc thì trong tương lai thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước sẽ có tri thức về môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường hạn chế tới mức tối thiểu
Để đạt được mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam “phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc, có đầy đủ phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [22] Giáo dục môi trường trở thành một nhiệm vụ thiết yếu của nhà trường phổ thông, nhằm tăng cường hiểu biết của học sinh đối với thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, đặc biệt là tăng cường hiểu biết về mổi quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và trong lao động sản xuất Đồng thời, góp phần hình thành ở thế hệ trẻ ý thức và đạo đức mới đối với môi trường, có thái độ và hành động đúng để bảo vệ môi trường
Nhìn về góc độ của nhà trường phổ thông thì nhà trường phải có chức năng hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường theo mục tiêu, theo chương trình của từng bậc học, cấp học Giáo dục môi trường là một bộ phận cấu thành
Trang 23GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
18
nội dung, chương trình giáo dục ở các cấp, các bậc học phổ thông từ tiểu học đến trung học Giáo dục môi trường nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về môi trường, hình thành và phát triển ý thức, kĩ năng, thái độ gìn giữ và bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng môi trường sống trọng sạch, lành mạnh ở mọi nơi trên phạm vi cả nước Công tác giáo dục nói chung và giáo dục môi trựờng nói riêng trong các nhà trường phổ thông, không chỉ có tác động cho thế hệ trẻ hôm nay mà còn có tác động lâu dài đến nhiều thế hệ mai sau và cho toàn xã hội
Nhà trường phổ thông là một trung tâm văn hóa - giáo dục ở cộng đồng địa phương,
có một vai trò quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động các tầng lớp dân cư thực hiện các chủ trương, các chính sách của Đảng và Nhà nước về môi trường và bảo vệ môi trường như phong trào trồng cây gây rừng, vệ sinh môi trường và nước sạch nông thôn, vệ sinh đô thị Những hoạt động này, trực tiếp góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục môi trường và có tác động tích cực tới cộng đồng dân cư Trong công tác giáo dục môi trường ở trường phổ thông cần có những hoạt động thực tiễn như tìm hiểú, nghiên cứu về môi trường địa phương sao cho phù hợp với điều kiện, lứa tuổi, cấp học Giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí, sách giáo khoa, phim ảnh ), qua hoạt động của các tổ chức quần chúng (như Hội Bảo Vệ Môi Trường, Hội môi trường và sinh thái ) và qua nội dung giảng dạy trong từng môn học có lồng ghép giáo dục môi trường
Tóm lại, hình thức giáo dục môi trường ở trường phổ thông chiếm vị trí rất quan trọng hơn hẳn các hoạt động khác như: tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường, Vì nhà trường phổ thông là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước
Họ sẽ biết sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả và khoa học, đồng thời biết giữ gìn và bảo vệ môi trường Bởi vậy, giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và lâu bền nhất
2.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường và biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường
Đây chính là cái chất cơ bản của nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa ở nước ta so với các nền giáo dục khác Nhà trường Xã hội chủ nghĩa đào tạo những con người Xã hội chủ
Trang 24GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
19
nghĩa Vì vậy, nó phải tuân theo những nguyên tắc giáo dục của nhà nước Xã hội chủ nghĩa Đối với hoạt động dạy học thì thực chất các nguyên tắc đưa ra chính là những yêu cầu đối với người giáo viên để đảm bảo việc dạy và học tuân theo các qui luật của quá trình dạy học Trong giáo dục môi trường cũng vậy, giáo dục môi trường cũng cần có các nguyên tắc và biện pháp chủ yếu thực hiện:
Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường:
“- Nhà nước Việt Nam coi giáo dục môi trường như là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân nói chung Để thực hiện giáo dục môi trường, nhà trường có hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương và đến cơ sở Giáo dục thông qua quản lí Nhà nước của Bộ GD và ĐT
- Giáo dục môi trường được thực hiện vì môi trường, về môi trường và trong môi trường, trong đó hiệu quả cao nhất sẽ đạt được thái độ và tình cảm vì môi trường
- Giáo dục môi trường là một thành phần bắt buộc trong chương trình GĐ-ĐT và phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học - giáo dục hiện hành Tạo ra cơ hội bình đẳng về giáo dục môi trường cho mọi người, mọi bậc học từ dưới lên
- Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích họp với môi trường của trường học Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải liên quan trực tiếp đến môi trường của địa bàn nhà trường
- Làm cho người học thấy được giá trị của môi trường đối với giá trị cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc của con người, bất kể thuộc chủng tộc màu da hay tín ngưỡng nào, đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có nước sạch để dùng và không khí trong lành để thở
- Triển khai giáo dục môi trường bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, học sinh bằng những việc làm của chính mình mà thu được hiệu quả thực tiễn Thầy giáo là người tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường dựa trên chương trình qui định và tìm cách vận dụng phù hợp với địa phương.” [6, tr 25, 26]
Các biện pháp chủ yếu thực,hiện giáo dục môi trường:
“- Đưa giáo dục môi trường vào tất cả các bậc học: mầm non, tiểu học, THCS, THPT và các bậc học khác
Trang 25GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
20
- Kết hợp giáo dục môi trường vào tất cả các môn của các cấp, các bậc học
- Thực hiện giáo dục môi trường bằng phương pháp hiện đại đặt trọng tâm ở người học và cách tiếp cận học bằng việc làm thực tế
- Cung cấp kiến thức về môi trường và rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường Các trường tổ chức và tích cực tham gia cùng cộng đồng các hoạt động bảo vệ môi trường trong và ngoài trường
- Luôn chú ý tạo ra thái độ đúng, tinh thần trách nhiệm cao đối với việc bảo vệ môi trường
- Giáo dục môi trường không chỉ cung cấp hiểu biết về môi trường, mà còn được thực hiện trong môi trường, với thái độ và tình cảm vì môi trường.” [6, tr 26]
Trong thực tiễn sư phạm, mỗi trường học cụ thể thuộc về một vùng địa lí cụ thể trong bối cảnh văn hóa cụ thể, sẽ có một nhu cầu giáo dục môi trường cụ thể và phù họp với vùng địa lí đó Nên người giáo viên cần phải lựa chọn những nội dung, phương pháp thực hiện cho phù hợp nhằm giúp học sinh nhận thức được vấn đề về môi trường
Thế nhưng, việc thay đổi thái độ của học sinh trước các vấn đề môi trường là một dấu hiệu mấu chốt cho phép đánh giá mức độ thành công của các chương trình giáo dục môi trường Đều trước tiên là cần làm cho học sinh có thói quen hành động tích cực tương ứng với thái độ của chúng trước các vấn đề môi trường
Muốn vậy, người giáo viên thực hiện giáo dục môi trường sẽ:
“- Áp dụng một hiểu biết về triết lý giáo dục để chọn lựa và xây dựng các chương trình giảng dạy hoặc chiến lược nhằm đạt được cả hai mục tiêu: mục tiêu giáo dục và mục tiêu giáo dục môi trường
- Sử dụng các lí thuyết về việc chuyển hóa trong học tập, tư duy, đạo đức, về quan hệ giữa tri thức - thái độ - hành động và xã hội hóa các tư tưởng trong việc lựa chọn, biên soạn và thực hiện các chiến lược giảng dạy một cách có hiệu quả để đạt được các mục tiêu giáo dục môi trường
- Áp dụng lí thuyết về việc chuyển hóa trong học tập để chọn lựa và ra quyết định của người học liên quan đến lối sống và hành động
- Thực hiện có hiệu quả các biện pháp dưới đây đạt các mục tiêu giáo dục môi
Trang 26GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
21
trường:
• Liên kết giữa các môn học
• Giáo dục ngoài trời và thực địa
• Suy nghĩ có phê phán và học tập dựa trên nhu cầu tìm hiểu
• Giáo dục có giá trị
• Các trò chơi và mô phỏng
• Học tập dựa trên cơ sở liên hệ với cộng đồng
• Truyền tải một cách có hiệu quả phương pháp và tài liệu giáo dục môi trường vào tât cả môn học mà giáo viên đang được yêu câu thực hiện nhiệm vụ
• Đánh giá một cách có hiệu quả các kết quả của phương pháp và giáo trình giáo dục môi trường ở cả hai lĩnh vực nhận thức và tình cảm.” [6, tr 27, 28]
2.3.3 Giáo dục môi trường trong giảng dạy vật lí
Thật ra mục tiêu chủ yếu của giáo viên là đào tạo học sinh trở thành những người toàn diện, những người nắm vững được kiến thức mà người dạy truyền đạt Sau khi rời ghế nhà trường, biết sử dụng tri thức một cách hữu ích cho xã hội và tất nhiên là phải có đạo đức tốt Vì vậy, ngoài những giờ học về giáo dục công dân, những giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn, đội, người giáo viên bộ môn cũng phải quan tâm đến việc giáo dục con người thông qua nội dung chuyên môn của mình Đây là nhiệm vụ chung của mọi giáo viên trong nhà trường Xã hội chủ nghĩa của chúng ta hiện nay.về nội dung giáo dục tư tưởng thì gồm có hai nội dung giáo dục sau:
Mặc dù, người giáo viên lựa chọn biện pháp giáo dục nào trong bài giảng của mình thì nhiệm vụ của dậy học là phải bồi dưỡng, khắc sâu cho học sinh về thể giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, chủ nghĩa vô thần, lòng ham mê
và cố gắng học tập, Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ này và đều có thế mạnh riêng trong việc thực hiện nó Trong đó, môn học vật lí có điều kiện và có hiệu quả rất lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng cho học sinh, đó cũng là ưu thế của người giáo viên vật lí
Khoa học vật lí có thể tham gia giáo dục môi trường rất tích cực, nhiều nội dung
Trang 27GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
22
trong bài học vật lí có thể lồng ghép giáo dục nhân sinh quan cộng sản nói chung, giáo dục môi trường nói riêng vào bài giảng một cách thuận lợi trong giờ học chính khóa, hoặc tô chức các hoạt động ngoại khóa
Các thầy cô giảng dạy môn Vật lí được trang bị kiến thức, tiếp cận với tài liệu hướng dẫn về môi trường và bảo vệ môi trường, giáo dục môi trường thì có thể trở thành các chiến sĩ tuyên truyền tạo “Phản ứng dây chuyền” trong giáo dục môi trường, góp phần cho việc giáo dục bền vững
Theo tài liệu “Các hướng dẫn chung về giáo dục môi trường dành cho người đào tạo giáo viên PTTH năm 1998” [11] Có một số nội dung có thể giáo dục môi trường được nêu một cách sơ lược trong mục các địa chỉ cho việc giáo dục môi trường trong chương trình giảng dạy ở PTTH đối với môn Vật Lý
Bên cạnh những thuận lợi về lồng ghép giáo dục môi trường thì có rất nhiều những trở ngại trong việc lồng ghép cũng như việc phát triển, thực hiện và đánh giá hoạt động giáo dục môi trường Điều quan trọng là biết cách phân biệt các trở ngại đó và tạo ra nỗ lực chung cùng giải quyết, để thuận lợi cho việc lồng ghép thì điều đầu tiên cần làm là xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí
Để lồng ghép giáo dục môi trường vào trong một bài học Vật lí cho học sinh lả cả một nghệ thuật của người giáo viên khi đứng lớp Trong rất nhiều bài học trong chương trình sách giáo khoa Vật lí, giáo viên phải hết sức cân nhắc và chọn ra những nội dung kiến thức có thể đưa vào để giáo dục các em học sinh có ý thức bảo vệ môi trường Qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học vật lí (hay các bước thực hiện lồng ghép):
“Bước 1: Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường:
Phân tích sơ bộ các mục tiêu mà sách giáo khoa đề nghị Nếu chưa có mục tiêu về lồng ghép giáo dục môi trường thì phân tích xem mục tiêu nào có thể lồng ghép thêm mục tiêu về giảo dục môi trường Khi đã xác định được các mục tiêu về giáo dục môi trường, tìm nội dung thích hợp để lồng ghép
Bước 2: Xác định nhiệm vụ lồng ghép:
Từ nội dung kiến thức vật lí, xác định vấn đề môi trường có liên quan đến kiến thức
Trang 28GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
- Kể một câu chuyện mở đầu chứa đựng sự kiện mang tính tư tưởng ( những gợi ý ở trên) có liên quan tới nội dung bài học Sau khi học xong nội dung bài học, giáo viên liên
hệ lại câu chuyện đã kể lúc mở đầu và yêu cầu học sinh rút ra bài học cho bản thân có liên quan đến việc bảo vệ môi trường
- Sau khi giảng dạy xong, phát phiếu câu hỏi yêu cầu học sinh điền vào phiếu nhằm khảo sát tác động của bài dạy đến ý thức bảo vệ môi trường đối với mỗi cá nhân
- Giao bài tập về nhà, tìm và sưu tập một số tranh ảnh về môi trường có liên quan đến nội dung bài vừa học Từ đó, mỗi cá nhân học sinh rút ra bài học gì cho bản thân và với bản thân có thể đề ra những biện pháp như thế nào để hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường đó
- Đặt câu hỏi sau khi vừa kết thúc xong nội dung được chọn lồng ghép (câu hỏi phải
có mối liên hệ từ nội dung kiến thức vật lí trong bài học đến vấn đề môi trường trong thực tế), giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm Sau thời gian thảo luận, một học sinh đại diện nhóm phát biểu ý kiến của nhóm đã thảo luận và đề ra được những giải pháp của nhóm mình
- Đổi với giáo án điện tử (PowerPoint, Video ), sau khi dạy xong nội dung được chọn lồng ghép thì giáo viên có thể trình chiếu một số hình ảnh từ nội dung bài học có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường Yêu cầu học sinh nhận diện các dạng ô nhiễm (ô nhiễm không khí, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm tiếng.ồn, hay là ô nhiễm nước, đất ), từ các ahình ảnh miêu tả vừa nhận diện, học sinh có thể rút rạ bài học gì cho bản thân về cách bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường sổng của con người
- Dành vài phút cuối trong tiết học cho mục đố vui có thưởng, để củng cố kiến thức
và hình thành ý thức bản thân của mỗi cá nhân về bảo vệ môi trường
- Chuẩn bị sẵn một số tranh ảnh về ô nhiễm môi trường thường gặp trong thực tế
Trang 29GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
24
cuộc sống có liên quan đến nội dung kiến thức vật lí vừa học Bên dưới hình, có vài dòng trống để học sinh viết câu trả lời của mình khi giáo viên đưa ra yêu cầu phải thực hiện Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhìn hình và cho biết nguyên nhân bị ô nhiễm từ đâu, biện pháp khắc phục, hoặc đề ra một vài biện pháp hạn chế một phần tác hại do bị ảnh hường của ô nhiễm môi trường trên
- Đặt câu hỏi và học sinh trả lời câu hỏi do giáo viên đặt ra Trong đó, những câu hỏi
mà người giáo viên đặt ra, phải có mối liên hệ từ nội dung kiến thức vật lí bài học đến vấn đề trong thực tế (cụ thể là: vấn đề về môi trường)
Trang 30GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
25
Chương 2
TẬP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG II, IV, V, VI, VII VẬT LÍ 12
Trái Đất, hành tinh duy nhất tồn tại sự sống Trải qua hàng tỉ năm hình thành và tiến hóa, Trái Đất của chúng ta mới có được như ngày hôm nay Nhưng hiện nay, Trái Đất đang đứng trước thách thức bị tàn phá dữ dội từ con người: nạn bùng nổ dân số, công nghiệp hóa tăng đến mức độ kinh khủng, các đô thị, các khu công nghiệp đua nhau mọc lên như nấm Giao thông vận tải, thông tin ngày càng được nâng cấp và mở rộng, sự khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng dồn dập, thảm thực vật ngày càng tàn lụi, đất đai trở nên cằn cỗi, nạn ô nhiễm không khí, đất, nước, tiếng ồn,… đang trở nên nghiêm trọng Các chu trình sinh - địa – hóa của Trái Đất như: chu trình oxi, nitơ, các kim loại nặng đang bị nhiễu loạn
Nhân loại hiện nay đang đứng trước tình trạng khủng hoảng về dân số, kinh tế, chính trị - xã hội, năng lượng, lương thực,… Nó ngày càng trầm trọng hơn, nhưng không phải là không giải quyết được Giải pháp lâu dài và có hiệu quả để giải quyết những vấn
đề trên là xây dựng ý thức trách nhiệm, nhận thức đúng đắn về vấn đề sinh thái học và bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ chất lượng môi trường sống Cần phải nhanh chóng có các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường Trong đó, điều quan trọng chúng ta cần chú ý đến đó là học sinh, sinh viên Vì đó
là những chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần phải xây dựng ý thức bảo vệ môi trường và chỉ cho họ thấy rằng môi trường có ý nghĩa như thế nào đối với loài người ngay khi họ còn ngồi ở ghế nhà trường Chính vì vậy, nên lồng ghép giáo dục môi trường vào trong dạy học là việc làm cấp bách và hiệu quả dài lâu nhất hiện nay, không phân biệt cấp bậc với mạng lưới phân bố rộng khắp đến tận thôn xóm của các trường ở mọi miền đất nước chúng ta sẽ dễ dàng xây dựng được ý thức bảo vệ môi trường đến từng người dân Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tôi chỉ tập lồng ghép giáo dục môi trường trong bốn chương (chương II, IV, V, VI, VII) – vật lí 12 Vì vậy, tôi sẽ tập lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh trong bốn chương này Đầu tiên, tôi tập lồng ghép giáo dục môi trường trong chương II : Sóng cơ và sóng âm
Trang 31GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
26
1 CHƯƠNG II: SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM
Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường
Chương này gồm bốn bài (có sáu tiết lí thuyết, hai tiết bài tập và một tiết kiểm tra), sau khi tìm hiểu xong bốn bài này và các mục tiêu cần đạt của các bài, tôi thấy rằng: bài
“Giao thoa sóng” có chứa kiến thức vật lí quan trọng để giúp ta phát hiện ra nước có bị ô nhiễm hay không, bài “Đặc trưng vật lí của âm” cho ta biết được những âm như thế nào
là nằm trong ngưỡng, những âm ảnh hưởng đến sức khỏe con người Riêng hai bài còn lại, xét thấy không có cơ hội để tôi lồng ghép giáo dục môi trường cho hoc sinh Vì lí đó tôi chọn bài 8: “Giao thoa sóng” và bài 10: “Đặc trưng vật lí của âm” để lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh
Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho từng bài 1.1 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 8: “Giao thoa sóng” [2, tr 41] 1.1.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép
Về kiến thức vật lí, “Hiện tượng giao thoa là hiện tượng hai sóng kết hợp khi gặp nhau thì có những điểm ở đó chúng luôn luôn tăng cường lẫn nhau; có những điểm ở đó chúng luôn luôn triệt tiêu nhau.” [2, tr 45] Trên lí thuyết thì hiện tượng giao thoa được định nghĩa như trên Thật ra, đa số chúng ta đều nhìn thấy một số loại giao thoa quang hầu như mỗi ngày, nhưng không nhận ra được những sự kiện xảy ra đằng sau đó, sự biểu hiện thường rất huyền ảo của màu sắc sinh ra khi các sóng ánh sáng giao thoa với nhau Một trong những thí dụ rõ nhất của hiện tượng giao thoa là biểu hiện bởi ánh sáng phản
xạ từ một màng dầu nổi trên mặt nước Nó phản chiếu một phổ màu sắc khi được rọi sáng bằng một nguồn sáng tự nhiên hay nhân tạo
Ngày nay, ở nơi chúng ta đang sinh sống tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ngày càng tăng, do nước thải chưa được sử lí mà đỗ thẳng xuống ao, hồ, sông, suối,… Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy một váng phổ màu sắc trên mặt nước do xăng dầu nhớt gây ra Chất thải trong sinh hoạt của chúng ta không chỉ làm ô nhiễm nguồn nước bên trên mà các lớp nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng Ngoài ra tình trạng ô nhiễm ở đại dương cũng rất nghiêm trọng do sự tràng dầu của các vụ đấm tàu chở dầu và các chất thải công nghiệp
Mà ta biết, dầu nhớt là dung môi không hòa tan và không phân hủy được trong nước, vô tình người khác sử dụng và gây hậu quả rất nghiêm trọng đối với sức khỏe bản
Trang 32GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
27
thân, của gia đình họ Để biết được nguồn nước có bị ô nhiễm hay chưa người ta thường căn cứ vào màu sắc, mùi và vị, độ đục, hàm lượng chất lơ lửng, độ cứng, độ PH,… Nhờ hiện tượng giao thoa ánh sáng khả kiến mà con người có thể phát hiện ra nước có bị ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra hay không – nó được biểu hiện bởi một váng phổ màu sắc trên mặt nước Từ đó con người có thể tránh được hậu quả cho bản thân và những người xung quanh
Vì lí do đó nên tôi chọn bài “Giao thoa sóng” để lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh
1.1.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Cho học sinh thấy được tình trạng ô nhiễm môi trường hiện tai Từ kiến thức vật lí
về giao thoa, đưa ra cơ sở để phát hiện ra nước có bị ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra không Sau đó, hình thành ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh (đối với bản thân của học sinh và sự tác động của học sinh đối với những người xung quanh)
1.1.3 Đề nghị cách lồng ghép
Vị trí lồng ghép Hoạt động dạy Hoạt hoạt động học
III Điều kiện giao
thoa Sóng kết hợp
“Nếu phát hiện ra hiện tượng giao thoa thì ta có thể kết luận quá trình đó là quá trình giao thoa sóng, chẳng hạn như: hiện tượng giao thoa ánh sáng khả kiến, nhờ phát hiện ra hiện tượng giao thoa
mà con người có thể nhận biết nước bị ô nhiễm do xăng, dầu, nhớt gây ra hay không, biểu hiện bằng một váng phổ màu sắc trên mặt nước khi được gọi bằng một nguồn sáng tự nhiên hay nhân tạo, lúc đó có thể kết luận rằng quá trình đó là quá trình giao thoa sóng
Trang 33GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
Và hiện nay như các em đã biết, môi trường sống của chúng
ta đang bị ô nhiễm trầm trọng và không có xu hướng giảm bớt
Vậy nên muốn cải thiện lại tình hình môi trường hiện nay cho có hiệu quả thì cách tốt nhất đó chính là mỗi người phải biết ý thức về môi trường xung quanh
ta, cụ thể nhất là sự ý thức của các em, hãy góp phần bảo vệ môi trường từ những việc làm nhỏ nhất
? Em sẽ làm những gì và hạn chế những gì để góp phần bảo vệ môi trường?
Đó là màu sắc của bong bóng xà phòng khi được chiếu sáng bởi ánh sáng mặt trời, váng dầu nhớt trên mặt nước khi được rọi sáng
Trồng thêm cây xanh quanh nhà, tuyên truyền giữ vệ sinh chung Không
xả rác bừa bãi, không chặc phá những cây hai bên
Trang 34GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
29
Kết quả đạt được
Giúp học sinh ý thức được môi trường xung quanh đang bị ô nhiễm như thế nào
và gợi mở được những biện pháp bảo vệ môi trường từ những việc làm hằng ngày Mỗi học sinh một việc nhỏ, một tập thể có thể gây được sự chú ý của cộng đồng, làm cho cộng đồng ý thức được môi trường sống hiện nay và có những hành động thiết thực hơn
để giữ cho môi trường sống hiện tại thêm trong lành hơn
1.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài 10: “Đặc trưng vật lí của âm” [2,
tr 50]
1.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép
Như ta đã biết, “Theo nghĩa hẹp âm là những sóng truyền trong các môi trường khí, lỏng, rắn khi đến tai ta sẽ làm cho màng nhĩ dao động, gây ra cảm giác âm Sóng này gọi là sóng âm” và “Một vật dao động phát ra âm là một nguồn âm Tần số của âm phát
ra bằng tần số dao động của nguồn âm.” [2 ,tr 50]
Như vậy, “những âm có tác dụng làm cho màng nhĩ trong tai ta dao động, gây ra
cảm giác âm gọi là âm nghe được Người ta còn dùng thuật ngữ âm thanh chỉ âm mà ta
nghe được.” [2, tr 50] Trong thực tế tai người chỉ có thể nghe thấy âm thanh có tần số nằm trong khoảng từ 16Hz đến 20000Hz Âm có tần số nhỏ hơn 16Hz, thì tai người không nghe được và gọi là hạ âm Âm có tần số lớn hơn 20000Hz được gọi là siêu âm, ở mức âm này tai người cũng không nghe được Trong khi đó, độ nhạy cảm âm thanh của tai người phụ thuộc vào tần số âm thanh Tai người có thể cảm nhận khoảng mức âm thanh rất rộng, từ 0dB đến 130dB, cường độ âm thanh được đo bằng dexiben (dB) Như chúng ta đã thấy, hàng ngày tiếng ồn trong cuộc sống (nguồn âm) phát sinh từ: tiếng ồn trong giao thông (tiếng động cơ, tiếng kèn,…); tiếng ồn trong công nghiệp (do quá trình va chạm, do chuyển động qua lại của thiết bị, ); tiếng ồn từ khu vực dân cư
Các em về nhà sưu tầm các hình ảnh về ánh sáng khả kiến cho thấy sự ô nhiễm nguồn nước
[phụ lục 1]
đường
Về sưu tầm
Trang 35GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
Do đó, tiếng ồn được xem là một khái niệm tương đối mà không đơn thuần là một khái niệm tuyệt đối Vì nó tùy thuộc vào cường độ của tiếng ồn, tần số (trầm hay bổng),
độ dài thời gian, tính bất ngờ Sự khó chịu do tiếng ồn gây ra còn phụ thuộc vào thời điểm (ngày hay đêm), tâm trạng người nghe (vui hay buồn, có chú ý hay không,…), đối tượng (giận, ghét, yếu, thương) và “âm thanh nền” xung quanh Một tiếng nói, một điệu nhạc có thể dễ chịu, thoải mái đối với người này, nhưng có thể gây khó chịu bực mình đối với người khác
Mặc dù tiếng ồn là một khái niệm tương đối, nhưng tiếng ồn cần phải được quan tâm vì tác hại của nó tuy “thầm lặng” nhưng hậu quả rất rõ ràng như: sự mệt mỏi thính giác, đó là sự hụt hẫng tạm thời của thính năng (ví tiếng ồn mà không thể nói chuyện), tiếng ồn còn làm yếu hoặc mất khả năng nghe tùy theo cường độ và thời gian nghe tiếng
ồn, tiếng ồn tác động lên hệ tim mạch như: tăng hoặc giảm huyết áp, mạch yếu ớt
Nghiêm trọng hơn tiếng ồn trong cuộc sống còn ảnh hưởng đến hệ thần kinh gây
ức chế thần kinh (stress) Tiếng ồn làm cản trở sự phát ngôn ngữ và tập đọc của trẻ em, làm cho con người gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Tiếng ồn còn phá rối giấc ngủ gây khó ngủ, tỉnh giấc ban đêm, giảm thời gian ngủ say,…
Ô nhiễm tiếng ồn là vấn đề xã hội tập chung chủ yếu ở đô thị, khu công nghiệp Điều may mắn là, so với các loại ô nhiễm khác thì có nhiều cách khắc phục và hạn chế ô nhiễm tiếng ồn có hiệu quả bằng các biện pháp kĩ thuật (giảm tiếng ồn từ nguồn phát sinh, giảm tiếng ồn bằng hấp thu bề mặt và phản xạ tại chỗ, giảm tiếng ồn bằng cách cách li nguồn phát tiếng ồn hoặc bọc kín máy gây ồn nhiều,…), biện pháp phòng hộ cá nhân (chụp tai, xen kẻ lao động và nghỉ ngơi ngắn,…), biện pháp tuyên truyền và giáo dục con người, biện pháp y tế
Trang 36GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
31
Nội dung có thể lồng ghép: khi sóng âm tác dụng vào tai ta thì mỗi đặc trưng vật lí của âm (tần số, cường độ âm, mức cường độ âm, đồ thị dao động) gây ra một loại cảm giác riêng, gọi là đặc trưng sinh lí của âm (độ to, độ cao, âm sắc) Những đặc trưng sinh
lí của âm có liên quan chặc chẽ với những đặc trưng vật lí của âm Chẳng hạng tiếng nói chuyện bình thường có mức cường độ âm bằng 40 dB, trong khi đó ngưỡng nghe tai người là 50 dB, nếu tiếng ồn trên ngưỡng nghe này được xem như ô nhiễm tiếng ồn Do
đó, tôi chọn bài “Đặc trưng vật lí của âm” để lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh
1.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Sau khi phân tích những cơ sở vật lí về sóng âm, những đặc trưng của âm và liên
hệ vào thực tế về ô nhiễm tiếng ồn Nhiệm vụ lồng ghép là: từ kiến thức vật lí về sóng
âm, những đặc trưng của âm, đưa ra cơ sở để nhận biết tác hại của ô nhiễm tiếng ồn đối với con người và nguyên nhân phát sinh tiếng ồn Từ đó, hình thành ở học sinh những ý thức trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường sống của con người Đồng thời, rút ra bài học cho bản thân học sinh
? Ô nhiễm tiếng ồn do nguồn gốc nhân tạo chủ yếu từ đâu?
Tiếng ồn gây ô nhiễm là tiếng ồn lớn và kéo dài làm ảnh hưởng xấu đến thần kinh của con người
Có 2 nguồn: Tự nhiên và nhân tạo Chủ yếu là nhân tạo
Từ bốn nguồn chính: Giao thông (tiếng động cơ của các phương tiện lưu thông trên đường, tiếng kèn của các xe,…); xây dựng
Trang 37GVHD: Đặng Thị Bắc Lý SVTH: Trương Văn Ngoan
32
? Nơi em đang sống có bị ô nhiễm tiếng ồn không?
? Theo em thì trường của em đang học có bị ảnh hưởng của
ô nhiễm tiếng ồn không?
? Em nào hãy đưa ra một số biện pháp để chống ô nhiễm tiếng ồn?
? Các em rút ra được bài học gì cho bản thân?
? Các em về nhà sưu tầm các tranh ảnh nói về sự ô
(tiếng máy móc); công nghiệp và sản xuất; sinh hoạt
- Xây dựng tường bê tông ngăn cách khu dân cư với đường cao tốc
- Trồng nhiều cây xanh
để âm truyền đến gặp lá cây
sẽ phản xạ theo các hướng khác nhau
- Làm trần nhà, tường nhà bằng xốp, làm tường phủ dạ, phủ nhung để ngăn bớt âm truyền qua chúng
Không nên mở nhạc lớn vào buổi trưa hay vào các giờ nghỉ ngơi, không chặc phá những cây xanh bên đường,…
Học sinh về sưu tầm