Để theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ, để hòa nhập được với nền kinh tế tri thức trong thế kỷ XXI thì sự nghiệp giáo dục cũng phải đổi mới “phát triển giáo dục và đào tạo l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
* Giáo Viên Hướng Dẫn : * Sinh Viên Thực Hiện :
ThS – GVC Trần Quốc Tuấn Nguyễn Thị Sơn Ân
MSSV: 1070198 Lớp: Sư Phạm Vật Lý K33
Cần thơ 05/2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trường Đại học Cần Thơ, thầy cô
bộ môn Vật lý, Khoa Sư phạm trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em được học tại trường
Em xin chân thành cảm ơn thầy ThS - GVC Trần Quốc Tuấn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn bộ môn vật lý và tập thể lớp sư phạm Vật lý K33, các bạn đã ủng hộ nhiệt tình và cho em những lời cổ vũ, động viên khi em gặp khó khăn
Do vốn kiến thức còn hạn chế và thời gian có hạn, dù cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi sai sót Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Em xin kính chúc sức khỏe quý thầy cô và các bạn
Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 25 tháng 04 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Sơn Ân
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
/
… ngày tháng … năm 2011
Ký tên
Trần Quốc Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .…… 5
1 Lí do chọn đề tài ………5
2 Mục đích đề tài …… 6
3 Giả thiết khoa học ……… 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 7
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 7
6 Đối tượng nghiên cứu ……… 7
7 Các bước thực hiện đề tài ……… 7
8 Các từ viết tắt .…… 8
CHƯƠNG I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở THPT 1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục phổ thông …… 9
1.1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta ……… 9
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới ……… 9
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trung học phổ thông ……… 10
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ………10
1.2.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học ở THPT………… 11
1.2.3 Nội dung đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở THPT ………13
1.3 Đổi mới việc thiết kế bài giảng ……… 15
1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án ………15
1.3.2 Quy trình soạn thảo một giáo án ……….16
1.3.3 Một số kế hoạch bài dạy ……….16
1.4 Đổi mới việc kiểm tra và đánh giá ……… 19
1.4.1 Quan niệm cơ bản về đánh giá ……… 19
1.4.2 Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá ……… 20
1.4.3 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá ……… 21
1.4.4 Yêu cầu về mức độ nhận thức khi ra đề ……….21
1.4.5 Những điều cần lưu ý khi thiết kế đề kiểm tra ……… 21
CHƯƠNG II SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI GỢI MỞ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 2.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở ……… 22
2.1.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở ……… 22
Trang 52.1.2 Các kiểu phương pháp đàm thoại gợi mở ……… 23
2.1.3 Quy trình thực hiện ……….23
2.1.4 Ưu điểm, nhược điểm và cách khắc phục ……… 24
2.1.5 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở ……… ….25
2.1.6 Vai trò của GV trong việc rèn luyện cho HS phát huy năng lực học tập bằng PP đàm thoại gợi mở ……… 26
2.2 Vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học ……… 26
2.2.1 Nhu cầu về các câu hỏi khác nhau trong quá trình dạy học ……… 26
2.2.2 Các dạng câu hỏi sử dụng trong quá trình dạy học ……… 27
2.2.3 Kỹ thuật soạn thảo và sử dụng câu hỏi ……… 28
2.2.4 Những điều GV cần lưu ý khi nêu câu hỏi, trả lời một câu hỏi ……… 32
2.2.5 Lưu ý khi sử dụng câu hỏi trong quá trình dạy học ……… 32
2.3 Cách tổ chức hoạt động bằng phương pháp đàm thoại ………… …… 33
2.3.1 Mô hình thứ nhất : Đối thoại thầy trò riêng biệt ……….33
2.3.2 Mô hình thứ hai : Đối thoại Thầy – Trò kết hợp ……… 33
2.3.3 Mô hình thứ ba : Thảo luận ……… 34
2.4 Việc sử dụng phương pháp đàm thoại ……… 35
CHƯƠNG III THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI TRONG CHƯƠNG V DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU, VL 12 NC 3.1 Mục đích của chương ……… 36
3.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương V Dòng điện xoay chiều……….37
3.3 Giáo án giảng dạy một số bài trong chương V Dòng điện xoay chiều………… 38
CHƯƠNG IV THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 4.1 Mục đích … 90
4.2 Đối tượng … 90
4.3 Phương pháp thực nghiệm ……… 91
4.4 Nội dung thực nghiệm … 91
4.5 Kết quả thực nghiệm … 99
Phần Kết Luận … 102
Tài Liệu Tham Khảo … 104
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ mà tri thức và kĩ năng của con người được coi như
là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội Trong xã hội tương lai - xã hội dựa vào tri thức, nền giáo dục phải đào tạo ra những con người thông minh, có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo Để theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ, để hòa nhập được với nền kinh tế tri thức trong thế kỷ XXI thì sự nghiệp giáo dục cũng phải đổi mới “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự CNH- HĐH đất nước…” nhằm tạo ra những con người mới không những có đủ trình độ kiến thức mà còn phải năng động, giàu tính sáng tạo, độc lập tự chủ Một trong những đổi mới quan trọng góp phần đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng Cộng Sản Việt Nam, khóa VIII đã đề ra nhiệm vụ đổi mới của Giáo Dục “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học là một vấn đề quan trọng có tính quyết định đến việc nâng cao chất lượng dạy và học “Phương pháp là linh hồn của một nội dung đang vận động” Để vận dụng phương pháp dạy học đạt hiệu quả người giáo viên giữ vị trí rất quan trọng, họ phải nắm chắc được những điểm mạnh và điểm hạn chế của các phương pháp mình sẽ sử dụng Vận dụng các phương pháp dạy học không phải đơn giản chỉ là hiểu biết phương pháp mà phải biết tổ chức và thực hiện chúng Một trong những phương pháp tích cực giúp học sinh phát triển tư duy trong quá trình học tập đó là phương pháp đàm thoại gợi mở (PPĐT gợi mở), là một phương pháp tích cực giúp cho giáo viên và học sinh hiểu biết và gần gũi với nhau hơn, rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy độc lập, sự thích ứng tâm lý trước tập thể, hơn nữa giúp cho học sinh phát triển tư duy nhanh, nhạy bén, khơi gợi sự thông minh của học sinh, giúp cho các em nắm bắt kiến thức nhanh và sâu sắc, có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình Nếu người giáo viên biết cách tổ chức và sử dụng tốt phương pháp đàm thoại, các em sẽ bị cuốn hút theo dòng suy nghĩ để giải quyết vấn đề đang đặt ra trong học tập
Trong thực tế dạy học hiện nay, GV đa phần ít sử dùng phương pháp đàm thoại
để kích thích tư duy học sinh, có lẽ họ gặp một số khó khăn trong quá trình dạy như là mục tiêu của việc đặt câu hỏi thường bị thất bại vì giáo viên không biết cách đặt câu hỏi như thế nào cho phù hợp và dùng khi nào mới có hiệu quả, hoặc ngại tốn nhiều thời gian Bên cạnh đó vẫn có một số thầy cô đã lồng phương pháp đàm thoại vào trong quá trình dạy học, nhưng chỉ ở mức độ một thầy - một trò, thầy hỏi - trò đáp Các
em học sinh quen với cách học ngồi nghe giảng - học thuộc nên lười suy nghĩ dẫn tới
Trang 7tư duy của các em chậm nên khi bị hỏi đột ngột các em không có khả năng tư duy nhanh để trả lời câu hỏi Thêm vào đó nữa, cách thức tổ chức dạy học bằng PPĐT chưa phù hợp nên hiệu quả của quá trình dạy học không cao, hơn nữa còn tốn rất nhiều thời gian
Hiện nay ở các trường phổ thông đa phần các em học sinh vẫn quen với cách học
cũ, trông chờ vào thầy cô giảng dạy rồi về học thuộc, chưa tự giác học tập, tìm tòi nâng cao kiến thức
Bản thân em là người giáo viên trong tương lai, em cũng chưa có nhiều kĩ năng đặt câu hỏi và sử dụng nó trong tổ chức giảng dạy cho học sinh Từ đó, em muốn trang
bị thêm cho mình kĩ năng đặt câu hỏi, sắp xếp và cách tổ chức thành phương pháp giảng dạy tích cực, hợp lí về thời gian và mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy để giúp cho học sinh không còn thụ động trong học tập cũng như sau này khi ra đời Nhằm rèn luyện cho học sinh tư duy trước một vấn đề học tập, cách thức để giải quyết vấn đề, tình huống gặp phải trong học tập và kĩ năng diễn đạt và muốn khắc phục phần nào khó khăn mà giáo viên gặp phải khi sử dụng PPĐT vào trong quá trình dạy học
tích cực nên em chọn đề tài: Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh khi giảng dạy chương V Dòng điện xoay chiều, VL
12 NC
2 Mục đích chọn đề tài
Nghiên cứu các phương pháp đàm thoại, phương pháp đặt câu hỏi, cách tổ chức giảng dạy nhằm giúp học sinh rèn luyện tính tích cực trong học tập, khả năng giải quyết vấn đề hay tình huống trong học tập (GV chỉ là người gợi mở, hướng dẫn khi
học sinh bế tắt), sự thích ứng tâm lý trước tập thể và kĩ năng diễn đạt bằng lời
Xây dựng tiến trình dạy và học các kiến thức của chương V “Dòng điện xoay chiều” vật lý 12 nâng cao theo hướng sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở phát
huy tính tích cực của học sinh trong học tập
Áp dụng các lí luận trên vào soạn giáo án và giảng dạy một số bài trong chương
V Dòng điện xoay chiều, VL 12 NC cho học sinh
3 Giả thuyết khoa học
Có thể nghiên cứu các phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp đặt câu hỏi theo các nhận thức của Bloom
Có thể vận dụng các phương pháp đó vào giảng dạy một số bài trong chương V –
VL 12 NC theo tinh thần phát huy tính tích cực, tự lực cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học
Trang 84 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đổi mới PPDHVL ở trường THPT
- Nghiên cứu các phương pháp đàm thoại gợi mở, cách đặt câu hỏi nhằm giúp học
sinh rèn luyện tính tích cực lĩnh hội kiến thức
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung của chương V, VL 12 NC
- Vận dụng các lý thuyết trên soạn giáo án các bài :
+ Bài26 Dòng điện xoay chiều Mạch điện xoay chiều chỉ có điện trở thuần + Bài 27 Mạch điện xoay chiều chỉ có tụ điện, cuộn cảm
+ Bài 28 Mạch có R, L, C mắc nối tiếp.Cộng hưởng điện
+ Bài 30 Máy phát điện xoay chiều
+ Bài 32 Máy biến áp Truyền tải điện
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu : TLH, GDH, LLDH vật lý, tài liệu BDGV lớp 12 ,11,10,
giáo trình Đánh giá, Phân tích chương trình, SGK, tìm tài liệu trên Internet…
- Nghiên cứu kinh nghiệm : tham khảo, trao đổi và học tập kinh nghiệm của các anh chị khóa trước
- Quan sát sư phạm
- Nghiên cứu kinh nghiệm giảng dạy trong quá trình thực tập
- Thực tập sư phạm
6 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp giảng dạy của GV
- Phương pháp học và lĩnh hội kiến thức của học sinh
7 Các giai đoạn nghiên cứu
- Giai đoạn 1 : Trao đổi với thầy hướng dẫn về đề tài nghiên cứu, nhận đề tài,
- Giai đoạn 2 : Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, viết đề cương, lập kế hoạch thực hiện
- Giai đoạn 5 : Chỉnh sửa, hoàn chỉnh đề tài luận văn
- Giai đoạn 6 : Báo cáo luận văn
Trang 98 Những chữ viết tắt trong luận văn
PPDHVL : Phương pháp dạy học vật lý
PPDH : Phương pháp dạy học
PPĐT : Phương pháp đàm thoại
THCVĐ : Tình huống có vấn đề
BCH TW : Ban chấp hành trung ương
BDGV : Bồi dưỡng giáo viên
Trang 10CHƯƠNG I ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ Ở THPT
1.1 VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
1.1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta
Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta rất quang tâm việc đổi mới phương pháp dạy học, với xu thế “dạy học lấy người học làm trung tâm” hay là “phát huy tính tích cực, chủ động , sáng tạo của học sinh” nhằm đào tạo những con người có phẩm chất mới Về mục tiêu, vai trò của ngành Giáo dục – Đào tạo cũng khẳng định
“phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự CNH - HĐH, điều kiện phát huy nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững” Cần tạo chuyển biến cơ bản về giáo dục, đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Đổi mới phương pháp dạy học phát huy tư duy sáng tạo
và năng lực tự đào tạo của người học coi trọng việc làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học chay Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức, công nghệ mà nhân loại đã tích lũy mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động, cá nhân phải có tư duy, sáng tạo và năng lực thực hành giỏi
Cùng với đổi mới mục tiêu phát triển đất nước đòi hỏi mục tiêu Giáo dục ở phổ thông cũng phải đổi mới để đào tạo con người có đủ kiến thức, kỹ năng cho đất nước Mục tiêu của việc đổi mới giáo dục phổ thông là “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu mới
Để thực hiện mục tiêu Giáo dục đề ra, ta phải thay đổi phương pháp dạy học Phương pháp giáo dục phổ thông hiện nay là dạy và học phải hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; bồi dưỡng phương pháp tự học rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật giáo dục 2005, điều 28.2) Phương pháp dạy học truyền thống không còn phù hợp Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới nền giáo dục nước ta chuyển từ trang bị cho học sinh kiến thức sang bồi dưỡng cho họ kỹ năng thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học và năng lực sáng tạo
Nghị quyết TW2, khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc thụ lối truyền thụ một chiều và rèn
Trang 11luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh…” Mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học ở THPT là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp “phương pháp dạy học tích cực” nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập
và trong thực tiễn ; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho “học là quá trình kiến tạo ; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử
lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) Dạy phương pháp và kỹ thuật chuẩn mực khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều học tập cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và sự phát triển của xã hội
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của học sinh cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp học sinh mong muốn được học theo PPDHTC nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Do vậy, giáo viên cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho học sinh Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả Phương pháp dạy học tích cực hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành giáo dục hiện nay
1.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ Ở THPT
1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Để có thể đạt được mục tiêu mới của giáo dục phổ thông, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới PPDHVL theo các định hướng mới Theo Luật Giáo Dục (điều 24.2-1998) đã
đề ra bốn định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là :
Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh
Bồi dưỡng phương pháp tự học
Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Việc đổi mới PPDH đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới cách dạy, phải biết tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động học, dạy học sinh phương pháp học ; tổ chức,
Trang 12kiểm tra, định hướng hoạt động học, thể chế hóa kiến thức Còn đối với học sinh phải thay đổi cách học của mình Trong học tập phải chủ động, tích cực, ý thức được nhiệm
vụ cần giải quyết, tự tìm tòi nghiên cứu, trao đổi tranh luận trong quá trình giải quyết nhiệm vụ Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác
1.2.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học ở THPT
a) Khắc phục cách dạy học truyền thống
Cách dạy truyền thống là lối dạy truyền thụ một chiều, đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của nước ta Nét đặc trưng của cách dạy đó là GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá ; còn HS thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và nhắc lại Giáo viên là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, GV quyết định hết thảy, từ xác định mục đích học, nội dung, cách thức học, con đường đi tới kiến thức, kĩ năng, đánh giá kết quả học tập
Theo cách dạy đó GV trình bày giảng dạy các kiến thức cần truyền thụ cho HS một cách rõ ràng, chính xác đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn các thí nghiệm một cách thành công Giáo viên chỉ quan tâm đến việc dạy của mình sao cho hoàn mĩ, còn HS có hiểu được hay không là trách nhiệm của HS Cách dạy đó rõ ràng là dồn HS vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội để suy nghĩ, phát biểu ý kiến, HS chỉ học thuộc lòng rồi trả bài như đúc cho thầy cô Điều này dẫn tới các em chỉ học dẹt, lười suy nghĩ, tư duy không phát triển được nên không sáng tạo ra cái mới dẫn tới không bao giờ bắt kịp
sự phát triển của thời đại Vì vậy ta cần khắc phục cách dạy truyền thụ một chiều, việc khắc phục này là một hoạt động mang tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có
từ lâu, chống lại đặc quyền của GV.Trong quá trình giảng dạy, GV cần tổ chức, hướng dẫn cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu, rèn luyện kĩ năng thực hành, tư duy, sáng tạo cho HS
Để thực hiện được phương pháp dạy học mới này, GV và HS đều thay đổi cách dạy và học, ngoài ra sách giáo khoa, sách tham khảo và các thiết bị thí nghiệm đều phải đổi mới
Cần đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực tự giác sáng tạo của HS trong học tập bằng các hình thức sau :
Tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động dạy học đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu
HS tích cực tham gia vào việc giải quyết vấn đề
Đổi mới SGK và thiết bị
Áp dụng các phương pháp chung của nhận thức khoa học và các phương pháp đặc thù của Vật lý
Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại
Trang 13b) Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS
Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua tự học của người học thì mới có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa trong cuộc đổi mới của con người trong thời đại hiện nay, những điều học trong nhà trường chỉ rất ít, và là những kiến thức chung chung chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và trong sản xuất Sau này ra làm việc còn phải tự học thêm nhiều mới có thể làm tốt công việc, bắt kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại Vì vậy, ngay trên ghế nhà trường HS cần phải được rèn luyện khả năng tự học, tự hoạt động nhận thức Trong quá trình dạy học
GV chỉ nói cốt lõi nội dung, cần tổ chức các hoạt động, cấu thành nhiệm vụ giao cho
HS và dành thời gian cho HS tìm hiểu, nghiên cứu để giải quyết vấn đề trong học tập Ngoài thời gian trên lớp, các em còn phải tăng cường, chủ động thời gian tự học, tự tìm tòi nghiên cứu thêm ở nhà thì hiệu quả học tập mới đạt kết quả tốt Tóm lại ta cần :
Rèn luyện cho HS khả năng tự học và hình thành thói quen tự học
Phát phiếu học tập cho HS
Tập cho HS phương pháp đọc sách
Tập cho HS làm quen với các phương pháp nhận thức khoa học
Tăng cường giáo dục theo nhóm, hợp tác,…
c) Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học
Để đáp ứng cho sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật hiện nay, nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của học sinh Chính vì vậy, nền giáo dục của nước ta cũng phải thay đổi nhanh để bắt kịp thời đại
Muốn rèn luyện được nếp sống tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là giáo viên phải biết cách tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo
Học sinh học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú chứ không bị ép buộc để giành được kiến thức và phát triển được năng lực
d) Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào QTDH
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ
XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan Theo hướng đổi mới ta nên quan tâm phát triển một số phương pháp sau :
Dạy học vấn đáp đàm thoại
Trang 14 Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như: Phim học tập, dao động kí điện tử, dụng cụ thí nghiệm mới phù hợp và tiện lợi cho bài học, máy vi tính, một số phần mềm ứng dụng (flash, crocodile…) vào soạn giảng để bài giảng sinh động và mang tính thuyết phục hơn, tạo điều kiện cho các em học tập nghiên cứu, sáng tạo…
1.2.3 Nội dung đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trường THPT
a) Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập mang tính tìm tòi nghiên cứu của HS
Để kích thích hứng thú học tập của HS, giáo viên cần tạo các tình huống để tập cho học sinh biết phát hiện ra vấn đề, chú trọng vốn kinh nghiệm hiểu biết của học sinh Vốn kinh nghiệm hiểu biết của HS có thể được sử dụng không những để làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu, tạo nhu cầu nhận thức, mà còn như là những ứng dụng của các kiến thức đã học trong cuộc sống mà HS cần giải thích
Giáo viên cần tạo điều kiện và hướng dẫn HS tự mình nêu ra và thực hiện các giải pháp để giải quyết vấn đề đã phát hiện, đề xuất các giả thuyết, thiết kế và tiến hành các phương án thí nghiệm nhằm kiểm tra tính đúng đắn của các giả thuyết hoặc của các hệ quả được suy ra từ chúng
Học sinh cũng cần được giao những nhiệm vụ đòi hỏi phải vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã thu được không những vào các tình huống quen thuộc, mà còn vào những tình huống mới Với mỗi chủ đề học tập, GV có thể giao cho các nhóm HS những đề tài nghiên cứu nhỏ đòi hỏi HS phải sưu tầm, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (sách báo, các phương tiện nghe nhìn, trên mạng internet, quan sát tự nhiên, thí nghiệm với các dụng cụ đơn giản tự làm…), xử lí thông tin theo nhiều cách (lập bảng các giá trị đo, biểu đồ, xử lí kết quả thí nghiệm bằng số, bằng đồ thị, so sánh phân tích các dữ liệu… để rút ra kết luận) và truyền đạt thông tin thông qua thảo luận, viết báo cáo…
Thông qua các hoạt động học tập tự lực, tích cực, HS không những chiếm lĩnh được kiến thức, rèn luyện được kỹ năng, mà còn có niềm vui của sự thành công trong học tập và phát triển được năng lực sáng tạo của mình
b) Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học (học trong các giờ nội khóa và
trong các giờ tự chọn, học trong lớp, ngoài lớp, ngoài trường, học ở nhà), kết hợp học
tập cá nhân và học tập hợp tác với các hình thức khác nhau (cặp, nhóm, lớp) HS đã
được làm quen với hình thức học tập theo nhóm ngay từ lớp 6 trong các giờ học vật lý
GV cần tiếp tục rèn luyện các kỹ năng làm việc tập thể mà HS đã có trong các giờ học trên lớp và cả trong tự học ở nhà
Trang 15* Quá trình tổ chức cho HS làm việc theo nhóm thường gồm các giai đoạn sau :
Làm việc chung toàn lớp : chia nhóm, xác định và giao nhiệm vụ cho các nhóm, hướng dẫn cách làm việc theo nhóm
Làm việc theo nhóm : thảo luận nhiệm vụ được giao, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân trong nhóm, từng cá nhân làm việc theo sự phân công, rồi toàn nhóm trao đổi, cử đại diện trình bày kết quả hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm
Trong giai đoạn học sinh hoạt động : giáo viên theo dõi, giúp đỡ HS khi có khó khăn và có thể sử dụng phiếu học tập phát cho mỗi nhóm học sinh
Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp : các nhóm báo cáo kết quả, GV chỉ đạo việc thảo luận chung ở toàn lớp và tổng kết, khái quát hóa các kết quả để đi tới kết luận chung
Trong dạy học vật lý lớp 12, GV có thể tổ chức cho HS làm việc theo nhóm khi nghiên cứu nhiều nội dung kiến thức
c) Dạy học sinh phương pháp tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Mục tiêu dạy học không phải chỉ ở những kết quả học tập cụ thể, ở những kiến thức, kỹ năng cần hình thành, mà điều quan trọng hơn là ở bản thân việc học, ở khả năng tự tổ chức và thực hiện quá trình học tập một cách có hiệu quả của HS Mục tiêu dạy học sinh theo phương pháp tự học chỉ có thể đạt được khi bản thân HS chủ động, tích cực, tự lực hoạt động và chỉ đạt được sau một quá trình rèn luyện của HS
Trong một loạt công việc cần thực hiện trong quá trình học tập (phát hiện vấn đề,
đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề đã phát hiện, thực hiện giải pháp đã đề xuất, xử lí kết quả thực hiện giải pháp, khái quát hóa rút ra kết luận mới và vận dụng kiến thức),
GV cần tính toán xem với thời gian cho phép trên lớp, trình độ HS trong lớp thì việc gì được giao cho HS tự làm (tự làm ngay trên lớp hay ở nhà), việc gì cần có sự trợ giúp của GV, còn việc gì GV phải cung cấp thêm thông tin để HS có thể hoàn thành
Tự học không có nghĩa là không cần sự trợ giúp của GV khi HS gặp khó khăn, không có sự trao đổi tranh luận của HS với nhau Sự giúp đỡ của GV có thể là chia nhiệm vụ nhận thức thành những nhiệm vụ bộ phận vừa sức HS, đưa ra những nhận xét theo kiểu phản biện, nêu những câu hỏi định hướng quá trình làm việc của HS hoặc hướng dẫn HS xây dựng cơ sở định hướng khái quát các hoạt động khi làm việc với nguồn thông tin cụ thể (làm việc với văn bản, đồ thị, bảng giá trị của đại lượng vật lý, thí nghiệm vật lý…), cơ sở định hướng khái quát của quá trình xây dựng các loại kiến thức vật lý khác nhau (khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý ; khái niệm về đại lượng vật lý ; định luật, qui tắc và nguyên lí cơ bản ; thuyết ; ứng dụng kĩ thuật của vật lý), cơ sở định hướng của việc giải một loại bài tập nào đó…
Trang 16Trong dạy học vật lý lớp 12, ngoài việc tổ chức cho HS tự lực làm việc với các thí nghiệm vật lý, GV cần lựa chọn một số nội dung kiến thức lí thuyết mới thích hợp trong sách giáo khoa để giao cho HS tự nghiên cứu ngay trên lớp hoặc ở nhà, như : thiết lập phương trình chuyển động của con lắc đơn, con lắc lò xo… HS được giao nhiệm vụ tự học những nội dung kiến thức trên với mức độ yêu cầu tăng dần, từ việc đọc một mục trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi cho trước ; đọc, phân ý, tìm những
ý chính của một mục đến việc đọc, tóm tắt nội dung của cả một bài học trong sách giáo khoa và trình bày trước toàn lớp theo cách hiểu của mình
d) Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Có thể hiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (PHVGQVĐ) dưới dạng
chung nhất là toàn bộ các hành động như tổ chức các tình huống có vấn đề (THCVĐ), biểu đạt VĐ, giúp đỡ những điều cần thiết để HS GQVĐ, kiểm tra cách giải quyết đó
và cuối cùng chỉ đạo quá trình hệ thống hóa, củng cố kiến thức thu nhận được (V.Ôkôn)
* Kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề gồm các giai đoạn sau :
Làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu : GV giao cho HS một nhiệm vụ Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, HS gặp khó khăn, nảy sinh nhu cầu về một cái còn chưa biết, về một cách giải quyết không có sẵn nhưng hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng được Nhu cầu đó được diễn đạt thành một vấn đề - bài toán cần giải quyết Giải quyết vấn đề (đề xuất giải pháp và thực hiện giải pháp) : HS đề xuất giải pháp (khảo sát) lí thuyết hoặc giải pháp (khảo sát) thực nghiệm để giải quyết vấn
đề đặt ra, rồi thực hiện giải pháp đã đề xuất để rút ra kết luận về cái cần tìm
Kiểm tra, vận dụng kết quả : xem xét khả năng chấp nhận được của các kết quả tìm được trên cơ sở vận dụng chúng để giải thích, tiên đoán các sự kiện và xem xét sự phù hợp của lí thuyết và thực nghiệm Trong quá trình vận dụng, nhiều khi
đi tới phạm vi áp dụng của các kiến thức đã thu được và lại làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu tiếp
1.3 ĐỔI MỚI VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG
1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án
Trước đây, soạn giáo án ta chú trọng thiết kế các hoạt động của giáo viên.Theo công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay thì dạy học phải lấy học sinh làm trung tâm Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS
là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV
Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau :
Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào ? Mức độ đến đâu ?
Trang 17 Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào ?
HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có ?
Những hoạt động đó của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục ?
Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì ?
1.3.2 Quy trình soạn thảo một giáo án
Bước 1 : Lượng hóa mục tiêu kiến thức và kỹ năng của bài học
Bước 2 : Chia bài học thành những đơn vị kiến thức
Bước 3 : Hoạch định các hoạt động của học sinh ứng với từng đơn vị kiến thức Bước 4 : Tìm những hình thức học tập phù hợp với từng đơn vị kiến thức
Bước 5 : Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ học sinh ứng với từng hoạt
động Dự kiến những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lý Bước 6 : Xác định thời gian cho mỗi hoạt động
Bước 7 : Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết hỗ trợ cho tiết học
1.3.3 Một số kế hoạch bài dạy
a) Một số hình thức trình bày khoa học bài học
Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới
Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột : hoạt động của GV và hoạt động của HS
Viết 3 cột : hoạt động của GV ; hoạt động của HS ; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
Viết 4 cột : hoạt động của GV ; hoạt động của HS ; nội dung ghi bảng ; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
b) Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học
Căn cứ theo những định hướng đổi mới diễn biến của hoạt động dạy học cụ thể như sau :
GV tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ học tập cho HS) : HS hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh thêm các vấn đề cần tìm tòi giải quyết Dưới sự chỉ đạo của GV, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học các nội dung cụ thể đã xác định
Trang 18HS tự chủ, tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của GV, hoạt động học của HS diễn ra theo một tiến trình hợp lí, phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận
GV chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS ; bổ sung, tổng kết, khái quát hóa, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu dạy học các nội dung cụ thể đã xác định
Sau đây là một số hoạt động phổ biến trong một tiết dạy :
Hoạt động 1 : Kiểm tra kiến thức cũ :
- Tái hiện kiến thức, trả lời câu hỏi
của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá
Hoạt động 2 : Tiếp nhận nhiệm vụ học tập:
- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Tạo tình huống học tập
- Trao nhiệm vụ học tập
Hoạt động 3 : Thu nhập thông tin
- Nghe GV giảng Nghe bạn phát
- Yêu cầu học sinh hoạt động
- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm
- Giảng sơ lược nếu cần thiết
- Làm thí nghiệm biểu diễn
- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu
- Chủ động về thời gian
Hoạt động 4 : Xử lí thông tin
- Tìm hiểu các thông tin liên quan
- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về
tính quy luật của hiện tượng
- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
- Đàm thoại gợi mở, chất vấn HS
- Hướng dẫn HS cách lập bảng, vẽ đồ thị
Trang 19- Trả lời câu hỏi của GV
- Thảo luận với bạn bè
- Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân
Hoạt động 5 : Truyền đạt thông tin
- Giải thích các vấn đề
- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết
luận
- Báo cáo kết quả
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc hình vẽ
- Hướng dẫn mẫu báo cáo Trả lời câu hỏi
Hoạt động 6 : Củng cố bài giảng
- Trả lời câu hỏi trắc nhiệm
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài
sau
- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà
- Ghi những chuẩn bị về sau
c) Cấu trúc của GA soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài:………
Tiết:……… theo phân phối chương trình
A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ)
1 Kiến thức
2 Kỹ năng
3 Thái độ
Trang 20B Chuẩn bị (thiết bị dạy học, phiếu học tập, các phương tiện dạy học…)
1 Giaó viên
2 Học sinh
3 Gợi ý ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại
C Tổ chức các hoạt động học tập
Hoạt động 1 (… phút) : Kiểm tra bài cũ (nếu cần)
Hoạt động 2 (… phút) : Đơn vị, kiến thức kỹ năng 1
Hoạt động 3 (… phút) : Đơn vị, kiến thức kỹ năng 2
Hoạt động i (… phút) : Đơn vị, kiến thức kỹ năng k
Hoạt động n – 1 (… phút) : Vận dụng, củng cố
Hoạt động n (…phút) : Hướng dẫn về nhà
D Rút kinh nghiệm: Ghi những nhận xét của GV sau khi dạy xong
1.4 ĐỔI MỚI VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1.4.1 Quan niệm cơ bản về đánh giá
Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học ; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp
phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Đánh giá là một quá trình đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, minh bạch ; phối hợp hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra, đánh giá ; khắc phục tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho HS thói quen học đối phó, học tủ, học lệch, học không “tư duy”
Nội dung đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của học sinh theo mục tiêu giáo dục
Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của bài học và tình hình thực tế Cần sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá
Tăng cường ứng dụng CNTT vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian đảm bảo chính xác
Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học và lôgic về nội dung
Trang 211.4.2 Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá
a) Đổi mới về mục tiêu kiểm tra
Việc kiểm tra phải đồng thời thực hiện hai mục tiêu của đánh giá : vừa cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa là cơ chế điều khiển hữu hiệu qua trình này
Do mục tiêu giáo dục có những đổi mới so với mục tiêu giáo dục trước đây nên việc kiểm tra cũng phải có những mục tiêu mới về nội dung và hình thức nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới mục tiêu dạy học Việc kiểm tra kết quả học tập của HS phải góp phần thực hiện những yêu cầu cơ bản sau :
- Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục
- Đảm bảo tính hệ thống và toàn diện
- Đảm bảo tính khách quan : Bài kiểm tra phải được đánh gia một cách khách quan, chính xác kết quả học tập của HS đối chiếuvới các mục tiêu được xác định trong chương trình, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá
- Đảm bảo tính công khai : Trong hướng dẫn HS chuẩn bị kiến thức, công bố kết quả kiến thức
- Đảm bảo tính khả thi : Các đề kiểm tra vừa phải đảm bảo thể hiện được mục tiêu chung của giáo dục, vừa phải lưu ý tới các điều kiện cụ thể (trình độ GV, HS, cơ sở vật chất phụ vụ cho việc dạy học) của địa phương, của trường, của lớp
b) Đổi mới nội dung kiểm tra
Về nội dung các đề kiểm tra cần đạt các yêu cầu cơ bản sau :
Đánh giá được một cách toàn vẹn các mục tiêu
Đặt trọng tâm vào những yêu cầu mới : Nội dung liên quan nhiều đến ứng dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tế, đánh giá cao khả năng sáng tạo của
HS trong việc vận dụng kiến thức, kỹ năng vào những tình huống của cuộc sống thực
Chú ý tới tính đặc thù của môn học : đưa nội dung thực hành vào bài kiểm tra Vật lý ; các mức độ thực hiện :
- Học sinh làm một bài thí nghiệm thực hành trọn vẹn : lắp đặt thiết bị,
đo đạc xử lý số liệu, viết báo cáo
- Học sinh vẽ sơ đồ lắp ráp thiết bị, mô tả quá trình làm thí nghiệm, xử lý kết quả
- Đưa các câu hỏi thực hành vào bài kiểm tra, thi tốt nghiệp
Trang 22c) Đổi mới về hình thức kiểm tra
Đa dạng hóa loại hình : cần phối hợp một cách hợp lý các loại hình kiểm tra
Trắc nghiệm khách quan + Trắc nghiệm tự luận
Kiểm tra lý thuyết + Kiểm tra thực hành
Kiểm tra vấn đáp + Kiểm tra viết
1.4.3 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá
Xác định mục đích yêu cầu của đề kiểm tra
Xác định mục tiêu dạy học
Thiết lập ma trận hai chiều
* Thiết lập một ma trận hai chiều :
Một chiều là nội dung cần đánh giá
Một chiều là các mức độ nhận thức của học sinh
* Các bước tiến hành thiết kế ma trận đề kiểm tra :
Xác định số lượng câu hỏi, bài tập sẽ đưa ra trong đề kiểm tra
Xác định số lượng câu hỏi, bài tập của mỗi loại hình đưa vào đề kiểm tra : câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Thiết lập ma trận với đầy đủ số liệu, thông tin đã định
Thiết kế câu hỏi, bài tập theo ma trận
Thiết kế đáp án, biểu điểm
1.4.4 Yêu cầu về mức độ nhận thức khi ra đề
Việc ra đề dựa trên cơ sở phát triển năng lực tư duy cho HS theo 6 mức độ nhận thức của Bloom (biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) Tùy theo tính chất yêu cầu của mỗi kì thi để định ra tỉ lệ kiến thức phù hợp với từng mức độ nhận thức nhưng phải đầy đủ các mức độ khác nhau
Đề kiểm tra phải có độ khó phù hợp với thời gian làm bài Đề kiểm tra phải
đo lường được mức độ nhận thức của học sinh
Nội dung đề kiểm tra phải rộng bao quát chương trình học
1.4.5 Những điều cần lưu ý khi thiết kế đề kiểm tra
Nội dung phải bám sát mục tiêu dạy học
Phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học
Hình thức thi, kiểm tra phải phù hợp
Nội dung và hình thức thi, kiểm tra phải đảm bảo việc phân loại trình độ HS
Việc tổ chức phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện
Việc đánh giá phải thông qua đáp án, thang điểm chi tiết, rõ ràng
Trang 23CHƯƠNG II SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI GỢI MỞ PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 2.1 PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI GỢI MỞ
Phương pháp đàm thoại hay còn gọi là phương pháp vấn đáp, trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và cả GV, qua đó HS lĩnh hội đuợc nội dung bài học
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt 3 hình thức vấn đáp sau :
Vấn đáp tái hiện : GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức
đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Đó là hình thức được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học
Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào
đó, GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để HS
dễ hiểu, dễ nhớ Hình thức này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn
Vấn đáp gợi mở (hay còn gọi là vấn đáp tìm tòi) : GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để dẫn dắt HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết
Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến khích GV sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi Ở đây tôi chỉ tìm hiểu về vấn đáp
gợi mở
2.1.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở
Đàm thoại có nghĩa là hỏi đáp… Song nếu trong dạy học, các câu hỏi đáp lẻ tẻ không có ý đồ nối tiếp nội dung bài giảng, nối tiếp các hoạt động của thầy và trò, xa hơn nữa, không có ý đồ phát triển tư duy, trí tuệ học sinh thì không phải phương pháp đàm thoại Khi dùng phương pháp đàm thoại cần đặt ra một hệ thống câu hỏi để thầy
và trò cùng làm việc, vừa mang tính nhất quán ( câu hỏi trước sẽ là cơ sở để trả lời cho câu hỏi sau, sao cho các câu trả lời đúng của HS, đặc biệt là HS trả lời cuối cùng sẽ đưa đến một nội dung nào đó trong bài học, thay vì thầy phải giảng nội dung đó), vừa mang tính cấu trúc của hệ thống câu hỏi (gợi mở) với ý đồ tập cho HS tư duy một vấn
đề khoa học
Vậy phương pháp đàm thoại gợi mở là hỏi - đáp gợi mở được sử dụng khi giảng bài mới cho học sinh Ở phương pháp này, giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi có tính chất gợi mở dần để dẫn dắt học sinh trả lời hay trao đổi với GV hoặc tranh luận giữa các thành viên trong lớp với nhau để tiếp thu kiến thức mới
Trang 24Trong đàm thoại gợi mở, GV luôn đóng vai trò chỉ đạo, điều khiển hoạt động của học sinh Hệ thống câu hỏi của GV giữ vai trò chỉ đạo định hướng hoạt động nhận thức của học sinh Trật tự logic của câu hỏi góp phần hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất sự vật, quy luật của hiện tượng và quá trình vật lí
2.1.2 Các kiểu phương pháp đàm thoại gợi mở
a) Đàm thoại gợi mở khai thác kiến thức mới (kiến thức thông báo)
Trước tiên, đưa ra vấn đề mới cần tìm hiểu Tiếp đó đặt ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt dần để học sinh trả lời, sau khi hoàn thành các hệ thống câu hỏi các em tiếp thu và hiểu nội dung vấn đề
b) Đàm thoại gợi mở để phát triển tư duy học sinh
Thông thường trong một bài có đoạn vận dụng giải thích, trao đổi về việc thiết lập một thí nghiệm…có thể đặt một câu hỏi để học sinh tự suy nghĩ, phát huy sáng tạo trong tư duy, rèn luyện các thao tác tư duy của mình
c) Đàm thoại để chuyển tiếp
Giáo viên đặt ra câu hỏi dẫn dắt từ từ cho HS trả lời để chuyển tiếp từ mục này
sang mục khác trong bài
2.1.3 Quy trình thực hiện
Đàm thoại gợi mở có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức, chẳng hạn như
GV đặt câu hỏi, gợi mở HS trả lời và kết quả là cùng chung một câu hỏi nhưng nhận được nhiều câu trả lời (đáp số) khác nhau Khi vận dụng phương pháp này người GV
nên biết cách tạo ra các câu hỏi “mồi” như : Em nào có ý kiến khác ?, Em nào muốn bổ
sung ? nên để người học trong trạng thái có nhu cầu tìm tòi kiến thức Nếu GV vận
dụng tốt phương pháp này sẽ giúp cho học sinh cảm nhận và ý thức được rõ rệt kết quả học tập và sự tiến bộ của bản thân, là điều kiện để học sinh tự hình thành kỹ năng, óc phê phán và thái độ trách nhiệm đối với học tập
Giáo viên thường tổ chức hoạt động của HS trong phương pháp đàm thoại theo các bước sau :
Thứ nhất, GV đưa ra câu hỏi Trước khi đưa ra câu hỏi, GV cần phải định hướng
vào nội dung bài giảng để giúp HS định hình được vấn đề để suy nghĩ và đưa ra câu trả lời Câu hỏi phải phù hợp với nội dung mà GV vừa định hướng, mức độ khó của câu hỏi thì tùy vào đối tượng người học và nên đưa ra những câu hỏi mở để HS có điều kiện trao đổi, tranh luận với nhau Việc GV đưa ra câu hỏi như thế nào là bước quan trọng đánh giá mức độ thành công của phương pháp (vì nếu câu hỏi quá đơn giản, câu hỏi đóng thì cuộc trao đổi sẽ ít sôi nổi và nhanh chóng kết thúc)
Thứ hai, để thời gian cho HS suy nghĩ và trả lời Sau khi câu hỏi được đưa ra, GV
phải dành thời gian nhất định cho học sinh suy nghĩ, thời gian dài hay ngắn là tùy vào mức độ câu hỏi Khi thời gian suy nghĩ đã kết thúc, nếu không có ý kiến nào được đưa
Trang 25ra thì GV nên có những câu nói khích lệ lòng nhiệt tình và hăng hái của HS hoặc có thể gọi đích danh một HS trả lời
Thứ ba, bình luận, trao đổi về các câu trả lời (giữa các HS hoặc là GV thực hiện)
Sau khi học sinh đưa ra ý kiến, dù đúng dù sai thì mỗi câu trả lời đều là những ý kiến đóng góp quan trọng nên người GV phải có lời cảm ơn, động viên đối với họ Nhiệm
vụ của người GV lúc này là có thể bình luận trực tiếp về ý kiến của HS hoặc mời HS khác nhận xét về câu trả lời vừa rồi Trong phương pháp hỏi đáp, đây là bước làm sôi nổi không khí của lớp học Do vậy, GV cần phải khuyến khích sự tham gia nhiệt tình của nhiều HS trong lớp Tuy nhiên, khi HS đưa ra những câu trả lời sai thì GV phải sửa lại, định hướng lại cho HS một cách khéo léo để tránh sự e ngại của HS khi trả lời các câu hỏi trên lớp
Thứ tư, GV đánh giá, đưa ra kết luận Để việc trao đổi đạt được mục tiêu thì việc
GV phải tổng hợp, đánh giá được ý kiến trả lời là bước không thể thiếu Giáo viên phải đưa ra được những kết luận, những câu trả lời tổng kết cho câu hỏi, việc này có thể thực hiện bằng việc vừa nói, vừa ghi những câu trả lời chính lên bảng để HS tiện theo dõi và nắm bắt được nội dung của câu hỏi
2.1.4 Ưu điểm, nhược điểm và cách khắc phục
a) Ưu điểm
Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo và hứng thú nhận thức trong học tập của HS
Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt những vấn đề học tập bằng lời
Giúp GV thu thập thông tin từ phía HS để kịp thời điều chỉnh hoạt động DH Tạo không khí học tập sôi nổi trong giờ học
b) Nhược điểm
Nếu người GV chưa có nghệ thuật tổ chức, điều khiển PPĐT thì mang một số hạn chế sau :
Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học
Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa GV và học sinh, giữa các
thành viên của lớp với nhau
c) Cách khắc phục
Muốn nâng cao hiệu quả của phương pháp này GV cần đầu tư nâng cao chất lượng của các câu hỏi Giảm bớt các câu hỏi có yêu cầu thấp về mặt nhận thức (chỉ đòi hỏi tái hiện lại kiến thức), tăng dần câu hỏi có yêu cầu cao về mặt nhận thức (câu hỏi
có sự thông hiểu và sáng tạo trong vận dụng kiến thức để trả lời câu hỏi, cũng như đòi hỏi cả sự phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa,… kiến thức)
Trang 26Sử dụng phối hợp hỏi đáp với các phương pháp dạy học khác (PP đọc sách, PP học nhóm, PP giải quyết vấn đề) Trong quá trình dạy học người giáo viên cần phải linh hoạt vận dụng tổng hợp các phương pháp, chúng ta cần biết rằng không có một phương pháp dạy học “vạn năng” Vì vậy người giáo viên cần tự hoàn thiện, trau dồi nghệ thuật sư phạm, vận dụng phương pháp phù hợp với yêu cầu và tính chất nội dung của từng môn học, bài học cụ thể
2.1.5 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở
* Phương pháp đàm thoại gợi mở cũng giống như những phương pháp khác, đều
có những ưu điểm và hạn chế, vấn đề đặt ra là GV cần phải phát huy đựơc các ưu điểm
và khắc phục được các hạn chế Để làm được điều này thì khi áp dụng phương pháp
hỏi đáp, cần phải quan tâm đến những vấn đề sau đây:
Một là, phải đáp ứng được các yêu cầu để sử dụng phương pháp như : yêu cầu
đối với người dạy và người học Đối với người dạy thì phải lựa chọn được câu hỏi phù hợp với nội dung bài giảng, đối tượng HS ; người GV phải thật khéo léo, linh hoạt trong các tình huống khi đối diện với HS, nhất là những khi học sinh e ngại, không muốn trả lời hay khi họ trả lời sai ; giáo viên phải bao quát được toàn bộ lớp học cả về nội dung trao đổi và không khí trong lớp học để tránh tình trạng cuộc trao đổi trở thành cuộc tranh cãi gay gắt ; GV phải có kĩ năng tổng hợp, phân tích tốt đồng thời sử dụng
nhuần nhuyễn các phương pháp khác khi cần thiết
Còn đối với người học, thì sự tham gia đóng góp ý kiến của người học là một phần quyết định sự thành công của phương pháp, do đó yêu cầu người học phải có sự tham gia tích cực, phải có khả năng tư duy, khả năng phân tích và khả năng trình bày,
tránh tình trạng người học thụ động nghe một chiều
Ngoài ra, để sử dụng phương pháp hỏi đáp thành công thì còn có một số yêu cầu khác nữa, chẳng hạn việc bố trí vị trí ngồi của học sinh trong lớp học cũng phải hợp lý, giúp cho giáo viên có thể di chuyển hợp lý, đến được vị trí của từng học sinh hoặc về
cơ sở vật chất, với các lớp đông thì phải có đầy đủ micro cho cả giáo viên và học sinh,
có bảng, có phấn…
Hai là, phải biết khuyến khích người học cùng tham gia trao đổi : khuyến khích,
động viên những học sinh chưa nhiệt tình tham gia vào hoạt động chung của lớp dưới nhiều hình thức, như đưa ra những câu hỏi cụ thể hoặc đưa ra những gợi ý và chỉ định
đích danh những học sinh đó trả lời câu hỏi
Ba là, GV phải kiểm soát và làm chủ lớp học Công tác quản lý lớp phải tốt để
tránh tình trạng hỗn loạn của lớp khi trao đổi quá sôi nổi, có thể bằng nhiều cách như yêu cầu lớp trật tự, nhắc nhở các học sinh khi muốn trả lời những câu hỏi phải xin phép và được sự đồng ý của giáo viên hay khi học sinh đưa ra những câu trả lời trái
ngược nhau, không đúng thì giáo viên phải định hướng lại…
Trang 27Bốn là, tìm các học sinh hăng hái phát biểu trước Sau khi câu hỏi được đưa ra và
hết thời gian nghiên cứu mà không khí trao đổi của lớp học vẫn trầm lắng thì người
GV phải biết tìm những học sinh có tinh thần hăng hái, nhiệt tình pháp biểu trước
Trong quá trình vận dụng PPĐT giáo viên cần quan tâm một số điểm cần chú ý,
đó là : GV phải dự kiến những điểm chính cần đàm thoại ; xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức của HS theo đó dẫn dắt người học lĩnh hội kiến thức đã
xác định ; nên sử dụng các câu hỏi kích thích sự suy nghĩ của HS đại loại như : Tại sao
em chọn cách làm như vậy ?, Nguyên nhân của hiện tượng này là gì ?
Giáo viên cần chuẩn bị thật tốt hệ thống câu hỏi Các câu hỏi có liên quan chặt chẽ với nhau, câu hỏi trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát triển kết quả của câu hỏi trước Mỗi câu hỏi là một cái “nút” của từng bộ phận mà HS cần lần lượt tháo gỡ thì mới được kết quả cuối cùng
Câu hỏi cần có hướng mục đích Nếu có nhiều câu hỏi thì hệ thống câu hỏi phải
có ý dẫn dắt HS đến mục đích đã định trước Việc dùng từ ngữ sáng sủa, dễ hiểu vẫn là yêu cầu số một của việc chuẩn bị câu hỏi
Cấu trúc câu hỏi phải có phần gợi ý và phần hỏi
Phải dựa vào vốn kiến thức kinh nghiệm đã có của HS
+ HS phải ý thức được mục đích và sẵn sàng tham gia đàm thoại
+ Nội dung và hình thức diễn đạt, cách đặt câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu
+ GV phải tổng kết uốn nắn và động viên kịp thời các HS
Phải điều khiển chung cả lớp học, tránh rơi vào tình trạng tay đôi với HS
Cần lưu ý trình độ của học sinh và thời gian thực hiện đàm thoại để nó có ích, không lãng phí thời gian
2.1.6 Vai trò của GV trong việc rèn luyện cho học sinh phát huy năng lực, tự lực
chiếm lĩnh kiến thức bằng phương pháp đàm thoại gợi mở
- GV luôn đóng vai trò chỉ đạo, điều khiển hoạt động của HS
- Hệ thống câu hỏi của GV giữ vai trò chỉ đạo định hướng hoạt động nhận thức của HS
2.2 VẤN ĐỀ ĐẶT CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC
2.2.1 Nhu cầu về các câu hỏi khác nhau trong quá trình dạy học
Câu hỏi luôn luôn xuất hiện trong các bài giảng của giáo viên, nó là phương tiện giao tiếp chủ yếu giữa người dạy và người học Việc nghiên cứu các dạng câu hỏi, cách đặt câu hỏi là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên Một mẫu đàm thoại ngắn, một vấn đề đặt ra để thảo luận nhóm, một nhiệm vụ cho HS để thu hút sự chú ý của các em vào bài học… Muốn thành công (về mặt phương pháp) trước hết câu hỏi phải tốt
Trang 28Một câu hỏi tốt trước tiên là những câu hỏi không tạo cho HS cơ hội trả lời ngay tức khắc như một cuộc đối đáp thông thường Câu hỏi phải được HS hiểu ngay nhưng phải suy ngẫm, tốt nhất là thảo luận với nhau rồi mới có thể trả lời đúng Câu hỏi tốt sẽ làm cho HS không những hiểu nội dung vấn đề đang học mà còn làm cho các em tăng
sự tự tin, “buộc” phải tư duy, có khả năng giải quyết tốt vấn đề và diễn đạt mang tính sáng tạo, logic Tuy nhiên không phải lúc nào cũng dùng những câu hỏi như vậy Trong dạy học đàm thoại hoặc trong kiểm tra đầu giờ… Đối với đối tượng HS yếu, chúng ta cần các câu hỏi gợi ý, HS chỉ cần tái hiện lại kiến thức là đủ Những câu hỏi như vậy cũng cần có trong giờ học để kích thích sự hoạt động của HS yếu Những câu hỏi được dùng trong phương pháp đàm thoại được xếp kế tiếp nhau, từ dễ tới khó, từ tái hiện đến phải tư duy, có thể coi là những sự chỉ đạo của thầy để mọi HS tham gia tìm chân lý Tuy nhiên, mỗi câu hỏi phải hướng vào một nội dung nhỏ một cách rõ ràng (có thể gợi ý, có thể là “bẫy”) để gây hứng thú cho mọi HS
Mặt khác câu hỏi đơn giản còn giữ những vị trí quan trọng trong các khâu của QTDH Có thể hỏi trong giờ kiểm tra đầu giờ, hỏi để “hộ trợ” thầy trong quá trình dẫn dắt học sinh nghiên cứu tài liệu mới, hỏi để củng cố và ôn tập …mà HS yếu cũng có thể hoàn thành nhiệm vụ
2.2.2 Các dạng câu hỏi sử dụng trong quá trình dạy học
a) Câu hỏi “ phát biểu”
Yêu cầu học sinh phát biểu một mệnh đề, một kết luận, một định luật đã học hoặc nhắc lại điều không phức tạp ở bài trước, đọc một kết quả thí nghiệm…
Mức độ tư duy : Loại câu hỏi này chỉ yêu cầu học sinh tái hiện hoặc bắt chước là chính
Cấu trúc câu hỏi : Đơn thuần là một mệnh lệnh, yêu cầu trực tiếp công việc mà học sinh phải làm (“hãy nhắc lại ”, “em cho biết…”, “… được định nghĩa như thế nào ?”, “em có nhận xét gì về… ?”)
Tuy câu hỏi đơn giản nhưng cần cho HS yếu để các em có cơ hội tham gia vào QTDH, có cơ hội được khen.Câu trả lời đúng của các em cũng thể hiện được sự cố gắng trong học bài cũng như trong rèn luyện ngôn ngữ nói trong chuyên môn Câu hỏi loại này được dùng làm bước đệm cho những câu hỏi phức tạp hơn tiến trình bài giảng theo phương pháp đàm thoại
b) Câu hỏi “trình bày”
Học sinh cần trình bày một vấn đề, mô tả một sự kiện, hiện tượng hoặc mô tả một thí nghiệm, chứng minh lại một định lí
Mức độ tư duy : Những nội dung câu trả lời theo yêu cầu trên đã được học ở trước hoặc các bài trước nhưng không có mẫu sẵn cho HS học thuộc lòng Vì vậy để
Trang 29trả lời câu hỏi này, các em cần tái hiện nội dung, lựa chọn ngôn từ, tự mình cấu trúc câu, và tập khả năng nói ra cái mình suy nghĩ, biết cách nói khái quát một vấn đề
Câu hỏi này chủ yếu rèn cho HS tư duy ngôn ngữ
Cấu trúc câu hỏi : một mệnh đề có yêu cầu trực tiếp
Dạng câu hỏi này thường được dùng để trình bày ý nghĩa một bức tranh, một bản
đồ, mô tả một sự kiện lịch sử, một thí nghiệm, để ôn tập củng cố sau khi nghiên cứu tài liệu mới, để kiểm tra viết hoặc nói
c) Câu hỏi “giải thích”
Học sinh vận dụng kiến thức đã học, có chọn lọc, để giải thích một hiện tượng xảy ra trog thực tế, giải thích nguyên lý hoạt động của máy, giải thích một nguyên nhân nào đó xảy ra đối với sự vật, sự việc nào đó cụ thể
Mức độ tư duy : để trả lời câu hỏi này học sinh cần huy động một số hoạt động tư duy : phân tích, tổng hợp, so sánh…để hình thành giả thuyết, cấu trúc ngôn từ, sắp xếp
ý cho lôgic
Có hai dạng thích hợp cho câu hỏi này
* Câu hỏi với từ hỏi “tại sao”, “phải chăng” “để làm gì”, làm thế nào”,
“nguyên nhân nào”…
* Câu hỏi mệnh lệnh “hãy giải thích”, “hãy lí giải tại sao”…
Những câu hỏi loại “giải thích” được dùng rất nhiều trong việc kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập của HS Để trả lời được câu hỏi loại này, không những HS tái hiện lại kiến thức đã học mà còn biết lọc lựa, phân tích lập luận cũng như sử dụng ngôn ngữ chính xác… cho thấy vai trò của sự giải thích đối với việc ghi nhớ và thông hiểu kiến thức ở học sinh Khi học sinh có khả năng giải thích một vấn đề nào đó cho các bạn tức là bản thân đã nắm rất chắc vấn đề đó
d) Câu hỏi “luận chứng”
Học sinh phải tìm một hoặc nhiều phương án để giải quyết hợp lý một vấn đề
trong thực tế
Mức độ tư duy : Để trả lời câu hỏi loại này, HS cần phải có thói quen tư duy Lúc này HS không những cần tự định hướng tư duy đúng mà phần sáng tạo trong giải quyết vấn đề Trong câu hỏi, người ta chỉ đưa ra một hiện tượng hoặc một vấn đề và yêu cầu giải quyết bằng việc tổng hợp sự hiểu biết của học sinh
Đây không còn đơn thuần là câu hỏi đơn giản nữa mà là một “vấn đề” cần nổ lực giải quyết Có thể dùng kiểu mệnh lệnh: “hãy trình bày…”, “hãy phân loại…”, song mệnh đề yêu cầu nội dung nối tiếp theo không đơn thuần là một sự mô tả chỉ để rèn luyện ngôn ngữ mà là một sự sáng tạo thật sự
Trang 30Loại câu hỏi này bao gồm những bài toán tổng hợp, được dùng trong kiểm tra viết ở trường THPT song cần lưu ý độ khó và dung lượng trả lời sao cho phù hợp trình
độ HS
2.2.3 Kỹ thuật soạn thảo và sử dụng câu hỏi
a) Một số kĩ năng đặt câu hỏi theo mức nhận thức Bloom
* Câu hỏi “Biết” hoặc “Nhận biết”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện,
số liệu, các định nghĩa… Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những
gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua Các từ thường dùng để hỏi là : “cái gì…”, “bao nhiêu…”, “hãy phát biểu định nghĩa…”, “hãy mô tả…”,”em biết những gì về…”, “khi nào…”…
Ví dụ : Hãy phát biểu định nghĩa chuyển động cơ học
Hãy liệt kê một số vật liệu thường dùng để chống ô nhiễm tiếng ồn
* Câu hỏi “Hiểu” hoặc “Thông hiểu”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách học sinh liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa…Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học Các cụm từ để hỏi thường là: “tại sao…”, “hãy phân tích…”, “hãy so sánh…”, “hãy liên hệ…”…
Ví dụ : Hãy tính vận tốc của vật khi biết cụ thể độ dài quãng đường đi được và
thời gian để đi hết quãng đường đó
* Câu hỏi “Vận dụng”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, các khái niệm…, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng các phương
án này vào thực tiễn
Khi đặt câu hỏi cần tạo ra tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học
và sử dụng cụm từ như : “làm thế nào…”, “chỉ ra cách…”
Ví dụ : Hãy tính vận tốc trung bình của một ô tô đi từ tỉnh A đến tỉnh B biết độ dài quãng đường đó là 150 km, ô tô khởi hành lúc 8h15’ và đến vào lúc 12h30’
* Câu hỏi “Phân tích”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi tới kết luận, tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng tìm ra mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận Việc đặt các câu hỏi phân tích đòi hỏi HS phải giải được các nguyên nhân từ
Trang 31thực tế : “tại sao… ?”, đi đến kết luận: “em có nhận xét gì về…”, “hãy chứng minh…”…
Các câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải (thể hiện sáng tạo)
Ví dụ : Từ kết quả thí nghiệm, hãy nhận xét về mối quan hệ giữa độ lớn của lực
kéo với độ nghiêng của mặt phẳng nghiêng
* Câu hỏi “Tổng hợp”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung
Việc trả lời câu hỏi tổng hợp khiến HS phải : dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra các câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ rằng các em có thể tự do đưa ra những
ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Các câu này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khá dài vì vậy hãy để HS có đủ thời gian tìm câu trả lời
Ví dụ : Hãy đề ra những biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn cho những gia đình sống bên cạnh đường giao thông lớn có nhiều loại xe cộ qua lại
* Câu hỏi “Đánh giá”
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,…dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
Ví dụ : Theo em trong 2 phương pháp đo thể tích bằng bình chia độ và bằng bình
tràn thì phương pháp nào cho kết quả chính xác hơn?
Hiệu quả kích thích tư duy cho HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt
ra câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần
có nhận xét động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như những câu trả lời chưa đúng Nếu tất cả HS đều trả lời sai thì GV cần đặt câu hỏi đơn giản hơn để HS có thể trả lời được vì HS chỉ hứng thú học tập khi họ thành công trong học tập
b) Kỹ thuật sử dụng câu hỏi
Hỏi đáp là một PPDH có tác dụng điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh một cách uyển chuyển và linh hoạt vào bậc nhất Để sử dụng phương pháp này có hiệu quả việc soạn thảo và sử dụng câu hỏi cần tuân thủ một quy trình các bước sau :
* Chuẩn bị câu hỏi ban đầu tài liệu học tập để xây dựng hệ thống câu hỏi
Xây dựng hệ thống câu hỏi là việc làm đầu tiên và rất cần thiết trong quá trình dạy học bằng phương pháp đàm thoại gợi mở Cần xác định rõ mục đích dạy và nội dung
Trang 32* Xem xét sự thích hợp của các câu hỏi
Câu hỏi đặt ra phải rõ ràng, sáng sũa, dễ hiểu, chính xác và phù hợp với trình độ của học sinh
Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tư duy tích cực của học sinh
Câu hỏi nên định hướng đến nhóm hay số đông HS để thu hút sự tập trung của tất cả hoặc nhiều HS
* Nên sử dụng hợp lí các loại câu hỏi
* Diễn đạt câu hỏi bằng lời sao cho đạt được mục đích sử dụng tốt
Ai, cái gì, khi nào, ở đâu, cái nào, bao giờ… ? thường được sử dụng ở các câu hỏi đơn giản, trình độ thấp, nhằm vào các sự kiện, câu hỏi tái hiện, ôn tập, hệ thống hoá, tìm hiểu kinh nghiệm của HS
Tại sao, vì sao, như thế nào, do đâu, làm thế nào, bằng cách nào…thường thích hợp để biểu đạt những câu hỏi trình độ cao, khó, có tính vấn đề, gợi suy nghĩ, suy luận, khái quát hóa, đánh giá…
Với cùng một nôiị dung và ý tưởng, cùng một mục đích, câu hỏi càng ngắn gọn, càng ít từ, ít mệnh đề, ít cấu trúc, ít thuật ngữ mới lạ càng tốt
* Điều khiển hỏi – đáp
Điều khiển HS trả lời là cả một nghệ thuật sư phạm Trong đó cần tuân thủ các yêu cầu sau :
Cần nêu câu hỏi sao cho kích thích được sự chú ý và tư duy tích cực của HS
Có những cách nêu câu hỏi trước lớp khác nhau Có GV kêu HS sau đó nêu câu hỏi nhưng cũng có GV nêu câu hỏi trước lớp sau đó mới gọi HS trả lời Nêu câu hỏi theo cách 2 nên được sử dụng phổ biến bởi vì cách đó có tác dụng kích thích thái độ học tập tích cực của tất cả HS trong lớp
Yêu cầu HS chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn để có thể tham gia nhận xét,
bổ sung câu trả lời đó nhằm thu hút sự chú ý và kích thích hoạt động chung của cả lớp
Cần chú ý lắng nghe câu trả lời của HS để có thể đặt thêm câu hỏi phụ, gợi mở dẫn dắt HS trả lời câu hỏi chính
Cần có thái độ bình tĩnh khi nghe HS trả lời ; tránh nôn nóng, vội vàng cắt ngang lời câu trả lời của các em khi không cần thiết Cần biết khuyến khích, động viên để HS trả lời tốt, nhất là đối với những em có tính rụt rè, nhút nhát Chú ý sử dụng mội biện pháp thúc đẩy HS mạnh dạn nêu thắc mắc và khéo léo
sử dụng những thắc mắc đó để tạo nên tình huống có vấn đề và thu hút toàn lớp tham gia thảo luận, tranh luận nhằm giải quyết vấn đề đó
* Uốn nắn, bổ sung và đánh giá câu trả lời của các em về cả nội dung lẫn hình thức
Trang 332.2.4 Những điều GV cần lưu ý khi nêu câu hỏi, trả lời một câu hỏi
Sau khi đặt câu hỏi dừng một chút để HS suy nghĩ
Khi nhận xét câu trả lời của HS, GV cần cố gắn khích lệ, động viên HS
Cần tạo điều kiện để nhiều học sinh đưa ra những gợi ý nhỏ cho các câu trả lời hoặc dựa vào một phần nào đó trong câu trả lời để đặt tiếp câu hỏi
Yêu cầu HS giải thích câu trả lời của mình
Yêu cầu HS liên hệ câu trả lời với những ý kiến khác
GV không nên
- Nhắc lại câu hỏi của mình nhiều lần
- Tự trả lời câu hỏi của mình đưa ra khi HS chưa kịp suy nghĩ
- Nêu nhiều câu hỏi cùng một lúc
Tiến trình của phương pháp vấn đáp tìm tòi
Xác định mục tiêu của bài học
Xác định trọng tâm của bài và những chuẩn bị của GV và HS cho bài học Tiến trình bài học :
- Đặt vấn đề dựa vào kiến thức kinh nghiệm đã có của HS để đặt ra các câu hỏi, vấn đề để định hướng vào bài học
- Giải quyết vấn đề, nêu các nội dung chính của bài dưới dạng các câu hỏi vấn đề theo trình tự lôgíc nội dung với các vấn đề rộng phức tạp phải chia thành các vấn đề dưới dạng các câu hỏi thành phần bổ trợ sao cho
HS có thể trả lời được Sau đó GV nhận xét câu trả lời của HS, bổ sung hoàn thiện, khái quát hóa các câu trả lời thể hiện nội dung bài dạy
- Củng cố bài học hệ thống hóa và chỉ ra lôgíc của các vấn đề, ý nghĩa thực tiễn của chúng
2.2.5 Lưu ý khi sử dụng câu hỏi trong quá trình dạy học
- Người giáo viên phải có năng lực, kinh nghiệm, nhạy bén trong việc lựa chọn
và sử dụng linh hoạt các câu hỏi trong quá trình dạy học
- Câu hỏi phải đơn giản, trong sáng dễ hiểu, không cầu kì vô bổ, dùng từ ngữ chính xác, về mặt logic thì câu hỏi không mâu thuẫn nội tại, câu hỏi phải đơn trị
Trang 34Thầy
Trò
2.3 CÁCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI
2.3.1 Mô hình thứ nhất : Đối thoại thầy trò riêng biệt (kiểu bóng bàn)
Thầy có một hệ thống câu hỏi dành cho một học sinh Có thể thầy chủ động gọi học sinh hoặc để học sinh xung phong trả lời Thầy làm việc với HS đó đến câu hỏi cuối cùng Nguồn thông tin cho cả lớp là tổng hợp các câu trả lời tương ứng
Mô hình : Đối thoại kiểu bóng bàn
Mô hình này chỉ có một thầy - một trò trực tiếp đàm thoại với nhau thì chỉ có một mình em đó có cơ hội để phát biểu và hiểu vấn đề, còn những em còn lại ngồi nghe Nếu tập trung nghe thì cũng nắm được vấn đề đôi chút, nhưng đa phần các em sẽ không chú ý tới nếu nhiệm vụ đó không giao thẳng cho các em, các em không tập trung, nhiều em lơ là làm việc riêng thì sẽ có rất ít học sinh nắm được kiến thức và hiểu vấn đề qua đoạn đàm thoại đó Ta vô tình làm cho các em mất tập trung vào bài, gây cảm giác nhàm chán ở các em Sau cuộc đàm thoại đó ta phải giảng lại thì sẽ làm mất nhiều thời gian mà hiệu quả dạy và học không cao
Kiểu đàm thoại này có thể thực hiện trong tiết dạy nhưng với vấn đề nhỏ, tương đối dễ chỉ khoảng vài ba câu hỏi gợi ý là giải quyết được vấn đề
2.3.2 Mô hình thứ hai : Đối thoại Thầy – Trò kết hợp (kiểu bóng chuyền)
Giáo viên dùng câu hỏi ở mức độ tương đối khó cho một học sinh nào đó Khi
em đó chưa biết câu trả lời ra sao thì thầy “tung” tiếp một vài gợi ý cho học sinh khác Các câu trả lời của học sinh này là sự gợi ý cho học sinh đầu tiên trả lời câu hỏi chính
Có thể những câu gợi ý của thầy là những cái bẫy tập cho học sinh tránh những sai lầm trong quá trình tìm ra chân lí Chân lí cuối cùng sẽ được thầy chỉ đạo cho học sinh tự điều chỉnh rồi chính xác hóa kết quả
Trang 35Phương pháp đàm thoại này tập cho các em biết cách tổng hợp vấn đề Khi tổ chức đàm thoại theo phương pháp này cần khéo léo điều khiển, cách đặt vấn đề phải làm cho các em hứng thú với vấn đề, hăng say phát biểu ý kiến Không nên gây áp lực cho các em mà tạo không khí học tập thoải mái
2.3.3 Mô hình thứ ba : Thảo luận ( kiểu bóng rổ)
Câu hỏi của GV đặt ra là một vấn đề để HS thảo luận, các em thảo luận, tranh luận trong nhóm để sau đó một học sinh đại diện trả lời Ở mô hình này thông thường thầy chia nhỏ lớp ra thành nhiều nhóm để tranh luận
Mô hình : Kiểu bóng rổ Phương pháp đàm thoại này kết hợp với phương pháp học tập hợp tác, các em cùng nhau trao đổi ý kiến, thống nhất ý kiến với nhau Sau đó cử đại diện trao đổi với
GV Trong quá trình đàm thoại, các bạn trong nhóm có thể hổ trợ cho nhau để giải quyết vấn đề giáo viên đặt ra Phương pháp này nếu tổ chức chặt chẽ thì sẽ đạt hiệu quả rất cao, hạn chế thời gian mà các em lại hiểu bài sâu hơn vì các em có cơ hội tìm hiểu kỷ vấn đề, có thể trao đổi học tập từ bạn phần kiến thức đã hỏng để lấp lại lỗ hỏng
đó, học tập kinh nghiệm học tập nhóm, cách trình bày trao đổi vấn đề từ bạn
2.4 VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI
Trong quá trình vận dụng phương pháp đàm thoại giáo viên cần quan tâm một số điểm cần chú ý, đó là : GV phải dự kiến những điểm chính cần đàm thoại ; xây dựng
hệ thống câu hỏi phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh theo đó dẫn dắt người học lĩnh hội kiến thức đã xác định ; nên sử dụng các câu hỏi kích thích sự suy nghĩ của học sinh đại loại như : Tại sao em chọn cách làm như vậy ? ; Nguyên nhân của hiện tượng này là gì ? Điều quan trọng nhất đối với giáo viên, khi sử dụng phương pháp này, cần nghiên cứu từng câu hỏi khi đặt ra cho HS Các câu hỏi phải được gọt dũa từng chữ, từng phần sao cho phù hợp với các mô hình như đã giới thiệu ở trên, phù hợp với đối tượng mà mình hỏi để dẫn dắt học sinh đến kết quả của từng đoạn bài giảng có áp dụng phương pháp này
Thầy
Trò 1
Trang 36Ngày nay lượng kiến thức cần trao đổi với học sinh càng ngày càng nhiều, vì vậy nói chung không thể sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở này trong cả tiết học Song, trong quá trình dạy học tích cực hóa sự học tập của học sinh, những cách tổ chức đàm thoại như trên, nếu được xen kẻ vào các phương pháp khác thì lớp học thật
sự sinh động, kích thích cao sự tò mò và khám phá của học sinh Trong quá trình dạy học người giáo viên cần phải linh hoạt vận dụng tổng hợp các phương pháp, chúng ta cần biết rằng không có một phương pháp dạy học “vạn năng” Vì vậy người giáo viên cần tự hoàn thiện, trau dồi nghệ thuật sư phạm, vận dụng phương pháp phù hợp với yêu cầu và tính chất nội dung của từng môn học, bài học cụ thể
Trang 37CHƯƠNG III SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI GỢI MỞ THIẾT KẾ GIÁO ÁN MỘT SỐ BÀI TRONG CHƯƠNG V DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU,
VL 12 NC 3.1 MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG V DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU, VL 12 NC
Vật lý lớp 11 đã cung cấp cho các em đầy đủ các kiến thức cơ bản về dòng điện không đổi Nhưng trong thực tế cuộc sống, lao động và sản xuất hằng ngày dòng điện xoay chiều lại chiếm ưu thế hơn Chương V Dòng điện xoay chiều Vật
lý lớp 12 nâng cao sẽ cung cấp cho các em học sinh đầy đủ các kiến thức cơ bản
về dòng điện xoay chiều
Chương này được xây dựng trên phương pháp tương tự từ kiến thức “Dao động cơ” Cung cấp cho các kiến thức về dòng điện xoay chiều, điện áp xoay chiều Các đặc tính của đoạn mạch xoay chiều Cụ thể nghiên cứu các kiến thức sau :
Từ những hiểu biết về dao động điều hòa xây dựng khái niệm dòng điện xoay chiều Đưa ra dạng biểu thức của dòng điện xoay chiều Từ đó vẽ dạng đồ thị của cường độ dòng điện xoay chiều Tìm hiểu nguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều để biết được dạng biểu thức và dạng đồ thị của điện áp xoay chiều
Xây dựng biểu thức công suất tỏa nhiệt của điện trở dựa vào biểu thức của dòng điện xoay chiều, ĐL Jun-Lenxơ Từ đó đưa ra khái niệm cường độ dòng điện hiệu dụng và ý nghĩa trị hiệu dụng của các đại lượng của điện xoay chiều
Nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trên đoạn mạch chỉ có R, L, C và đoạn mạch có R, L, C mắc nối tiếp Các đặc điểm của mạch cộng hưởng
Nghiên cứu ĐL Ôm đối với mạch điện xoay chiều Xác định độ lệch pha giữa cường độ dòng điện và điện áp Từ đó tìm ra biện pháp nâng cao hệ số công suất
Nghiên cứu nguyên lý cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các loại máy phát điện xoay chiều, động cơ điện không đồng bộ, máy biến thế và sự truyền tải điện
Trang 383.2 SƠ ĐỒ CẤU TRÚC CỦA CHƯƠNG
Dòng điện xoay chiều
- Suất điện động xoay chiều
- Khái niệm hiệu điện thế xoay chiều, dòng điện xoay chiều
- Đại lượng hiệu dụng
- Biểu diễn giản đồ Fre-nen
Công suất của dòng điện xoay chiều
- Biểu thức công suất
- Hệ số công suất
- Tầm quan trọng của hệ số công suất
Máy phát điện xoay chiều
- Máy phát điện xoay chiều một pha
- Máy phát điện xoay chiều ba pha
- Động cơ không đồng bộ ba pha
Máy biến áp Truyền tải điện năng
Bài tập về dòng điện xoay chiều
Thực hành : Khảo sát đoạn mạch xoay chiều có R, L, C mắc nối tiếp
Trang 39Bài 26 DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU MẠCH ĐIỆN XOAY
CHIỀU CHỈ CÓ ĐIỆN TRỞ THUẦN
Bài 28 Mạch có R, L, C mắc nối tiếp
Bài 30 Máy phát điện xoay chiều
Bài 32 Máy biến áp Truyền tải điện
1 MỤC TIÊU BÀI HỌC
a Mục tiêu kiến thức
- Học sinh phát biểu được định nghĩa suất điện động xoay chiều Giải thích sơ lược sự tạo thành dòng điện xoay chiều và suất điện động xoay chiều
- Hiểu được khái niệm dòng điện xoay chiều và điện áp xoay chiều
- Viết được biểu thức của điện áp xoay chiều và dòng điện xoay chiều theo thời gian, chỉ rõ các đại lượng : cường độ tức thời, cực đại, tần số góc, pha và pha ban đầu
- Viết được biểu thức của dòng điện xoay chiều chạy qua một điện trở thuần và đặc điểm của nó
- Phiếu học tập
Trang 401 Giải thích sơ lược sự tạo thành suất điện động xoay chiều và dòng điện xoay chiều
2 Định nghĩa về suất điện động xoay chiều và viết biểu thức của nó
3 Viết biểu thức xác định dòng điện xoay chiều, điện áp xoay chiều
4 Nhận xét về tính chất của điện áp và dòng điện xoay chiều
5 Nêu phương pháp xác định các giá trị hiệu dụng của dòng điện xoay chiều
6 Nêu cách vẽ giản đồ Fre-nen
Câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1 Chọn câu sai
A Nguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ
B Khi đo cường độ và hiệu điện thế xoay chiều người ta dùng ampe kế và vôn kế
Câu 2 Dòng điện xoay chiều là:
A dòng điện có cường độ biến thiên theo thời gian
B dòng điện có cường độ biến thiên tuần hoàn theo thời gian
C là dòng điện có cường độ biến thiên điều hòa theo thời gian
D dòng điện có cường độ và chiều thay đổi theo thời gian
Câu 3 Trong 2s, dòng điện xoay chiều có tần số f = 50 Hz đổi chiều mấy lần ?
t
A Tần số dòng điện là 50 Hz
B Cường độ hiệu dụng của dòng điện là 2 2A
C Cường độ cực đại của dòng là 2 A
D Chu kỳ dòng điện là 0,02 s
Câu 5 Cường độ dòng điện trong một đoạn mạch có biểu thức:
) ( 3 100