ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ● Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học vật lý của giáo viên và học sinh trong việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập.. NHỮNG VẤN ĐỀ
Trang 1HỖ TRỢ VIỆC ĐỊNH HƯỚNG HỌC SINH GIẢI
QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ HỌC TẬP KHI GIẢNG DẠY
CHƯƠNG 6 CHẤT KHÍ, VẬT LÝ 10 NÂNG CAO
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS-GVC Trần Quốc Tuấn Trang Như Hải
Lớp: SP Vật Lý K33
Cần Thơ, tháng 5/2011
Trang 2Cuối lời xin chúc thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe
và công tác tốt
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhƣng cũng không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận đƣợc những ý kiến quý báu của quý thầy cô và bạn bè để đề tài đƣợc phong phú và hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Trang Nhƣ Hải
Trang 3MỤC LỤC
Phần mở đầu 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích của đề tài 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Giả thuyết khoa học 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 8
8 Các từ viết tắt 8
Phần nội dung 9
Chương 1 Đổi mới PPDH VL ở THPT 1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH Vật Lí 9
1.2 Đổi mới PPDH môn VL ở trường THPT 9
1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 9
1.2.2 Những định hướng đổi mới PPDH theo chương trình THPT mới 10
1.3 Đổi mới việc thiết kế bài học (soạn GA) 12
1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA 12
1.3.2 Các bước soạn GA 13
1.3.3 Nội dung của việc soạn GA 13
1.3.4 Giới thiệu một số kế hoạch bài dạy 14
1.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 16
1.4.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá 16
1.4.2 Các hình thức kiểm tra 17
1.4.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 17
1.4.4 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 19
Chuơng 2 Định hướng HS giải quyết các vấn đề học tập 2.1 Những cơ sở lý luận về hoạt động học của HS 22
2.1.1 Khái niệm hoạt động học 22
2.1.2 Đối tượng của hoạt động học 23
2.1.3 Bản chất của hoạt động học 22
Trang 42.1.4 Cấu trúc của hoạt động học 23
2.2 Định hướng HS giải quyết các vấn đề học tập 29
2.2.1 Định hướng HS tự lực học tập 39
2.2.2 Các bước soạn thảo tiến trình dạy học giúp HS giải quyết các vấn đề học tập bằng định hướng của GV 39
2.3 Phương pháp giải quyết vấn đề - bài toán 41
2.3.1 Khái niệm 41
2.3.2 Cấu trúc phương pháp dạy học nêu vấn đề 42
2.3.3 Tổ chức tình huống học tập 44
2.3.4 Các kiểu hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 46
2.3.5 Dạy học nêu vấn đề trong dạy học VL 48
2.3.6 Xây dựng tình huống có vấn đề 49
2.4 Phương pháp thực nghiệm 51
2.4.1 Vai trò của phương pháp thực nghiệm 51
2.4.2 Khái niệm phương pháp thực nghiệm 51
2.4.3 Phương pháp thưc nghiệm trong dạy học Vật Lý 52
Chương 3 Giới thiệu phần mềm Physics 2.1 - Part 1 3.1 Khả năng hỗ trợ của PMDH VL đối với vấn đề đổi mới PPDH 57
3.2 Giao diện 58
3.3 Chức năng, nội dung 59
3.4 Ưu điểm 61
Chương 4 Sử dụng phần mềm Physics 2.1 - Part 1 thiết kế một số bài học trong chươngVI Chất khí, VL 10 NC 4.1 Đại cương về chương 62
4.1.1 Mục tiêu của chương 62
4.1.2 Cấu trúc nội dung của chương 62
4.2 Thiết kế một số bài học trong chương 63
4.2.1 Thuyết động học phân tử chất khí Cấu tạo chất 64
4.2.2 Định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt 72
4.2.3 Định luật Sác-lơ 77
4.2.4 Phương trình trạng thái của khí lý tưởng Định luật Gay Luy-xác 86
Chuơng 5 Thực nghiệm sư phạm
Trang 55.1 Mục đích 94
5.2 Đối tượng thực nghiệm 94
5.3 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 94
5.4 Tiến hành thực nghiệm 94
5.5 Bổ sung thực nghiệm 97
5.6 Kết quả thực nghiệm 97
Phần kết luận và kiến nghị 99
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục 1 102
Phụ lục 2 108
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GVHD
.,Ngày Tháng Năm
ThS-GVC Trần Quốc Tuấn
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đã biết vào thế kỷ XXI cả nước đang nỗ lực phấn đấu để đến năm 20
của thế kỷ sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Trước những yêu cầu đó, GD phải đổi mới toàn diện cả về nội dung, PP nhằm
đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội Như hội
nghị lần thứ hai BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã nêu ra: “Nhiệm vụ
và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng
đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ
hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi…”, để đạt được mục tiêu đề
ra, hội nghị cũng đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy
học…”.[9, tr 49]
Ngày nay, các phương tiện dạy học hiện đại như máy vi tính, máy chiếu, phần
mềm dạy học…đã được trang bị tương đối đầy đủ cho các trường phổ thông và các
phương tiện dạy học này có vai trò hỗ trợ rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả và
chất lượng các hoạt động DH
Cá nhân phải bồi dưỡng và phát triển năng lực giảng dạy vật lý
Với những lý do trên, nên tôi chọn đề tài: “Sử dụng phần mềm Physics 2.1- Part
1 hỗ trợ việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập khi giảng dạy
chương 6 Chất khí, VL 10 NC”
2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
● Nghiên cứu đổi mới PPDH VL phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo trong học tập của học sinh
● Nghiên cứu cách sử dụng phần mềm Physics 2.1- Part 1 nhằm hỗ trợ việc định
hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
● Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học vật lý của giáo viên và học sinh
trong việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập
● Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giảng dạy chương 6 Chất khí, VL 10 NC
Trang 84 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
● Có thể nghiên cứu việc sử dụng phần mềm Physics 2.1- Part 1 hỗ trợ việc định
hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập
● Có thể vận dụng soạn giáo án
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
● Nghiên cứu cách dùng phần mềm Physics 2.1- Part 1
● Nghiên cứu việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập từ đó đưa
ra quy trình thực hiện
● Thiết kế một số bài học theo hướng của đề tài
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIỆN CỨU
● Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu bồi dưỡng giáo viên 10, 11, 12,
các tài liệu về phương pháp dạy học vật lý của các tác giả như Nguyễn Đức Thâm,
Phạm Hữu Tòng, Trần Quốc Tuấn
● Thực nghiêm sư phạm nhằm kiểm tra và điều chỉnh việc định hướng học sinh
giải quyết các vấn đề học tập
7 CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Bước 1: Trao đổi với thầy hướng dẫn và nhận đề tài
Bước 2: Viết đề cương chi tiết
Bước 3: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết
Bước 4: Nghiên cứu chương Chất khí và thiết kế một số bài học trong chương
Bước 5: Viết luận văn hoàn chỉnh
Bước 6: Bảo vệ luận văn.
8 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu : “Phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng
môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học ; bồi dưỡng
cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác ; rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách
nhiệm học tập cho học sinh”
Nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ : “Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc thụ lối truyền thụ một chiều và rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương
pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời
gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh
mẽ phong trào tự học, tự đào tạo”
Tóm lại: Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là
thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy
học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo
và có hứng thú trong học tập
1.2 ĐỔI MỚI PPDH VL MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT
1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học
a/ Khắc phục lối truyền thụ một chiều
Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo
dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là : “ GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm
mẫu, kiểm tra, đánh giá ; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và
nhắc lại”
Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới phương pháp dạy học Tư tưởng
chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học
tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực
nghiệm Bất kì ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải
Trang 10quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết
vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS
Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động
nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần
phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt
quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm
phải đổi mới để tạo diều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học
b/ Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS
Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc HT nào
đều phải thông qua tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền
vững Ngay trên ghế nhà trường HS đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực
hoạt động nhận thức
c/ Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan
trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham
gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải
quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng
cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép
buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ
chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt
động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực
d/ Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện DH hiện đại vào quá trình DH
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối
thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí
thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của
J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy
học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan
1.2.2 Những định hướng đổi mới PPDH theo chương trình THPT mới
a/ Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ
chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề HT
Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn
chú ý giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã
Trang 11viết đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí GV nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống
hệt trên bảng
Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ,
chờ GV giảng giải, tóm tắt đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm
việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu
Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn
là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trong hơn là khi quen với
cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích
cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu
học sinh tự học ở lớp và ở nhà GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể
hiểu được kiên quyết không làm thay HS điều gì mà họ có thể tự làm được trên
lớp hay ở nhà
Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn đề
học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là
có thể hoàn thành được
b/ Áp dụng rộng rãi kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề
Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà
khoa học, GV vừa tạo cho HS nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo ; vừa rèn luyện
cho họ khả năng sáng tạo
Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức
được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã
có của mình không đủ để giải quyết
Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa
ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã
biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình
không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát
từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh
mẽ hơn cả
Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo
quy trình chung như sau:
Trang 12+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát + Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế
+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không
Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải
xây dựng dự đoán mới
+ Phát biểu kết luận
c/ Rèn cho HS PP nhận thức VL
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương
pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mề mẫm, ngẫu nhiên
- Về phương pháp thực nghiệm: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông
tin hoặc củng cố bảng số liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin
rút ra kết quả nên dành cho HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu
HS đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể
làm thí nghiệm biểu diễn
- Về phương pháp mô hình : Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu
diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh
- Về phương pháp tương tự : Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức
khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức
mới về đối tượng khảo sát
Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn cơ bản sau :
- Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối
tượng đã biết định đem đối chiếu
- Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau Kiểm tra
xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng đã biết
- Chuyển dấu hiệu khác biệt của đối tượng đã biết cho đối tượng nghiên cứu
bằng suy luận tương tự
- Kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận thu được (hoặc các hệ quả của chúng)
bằng thực nghiệm ở chính đối tượng nghiên cứu [ 9, tr 50]
1.3 ĐỔI MỚI VIỆC THIẾT KẾ BÀI HỌC (SOẠN GA)
1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA
Trang 13- Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt
động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV
- Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
+ Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những KT, KN nào? Mức độ đến đâu?
+ Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường
nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó
của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
+ GV phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những
kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
+ Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
1.3.2 Các bước soạn giáo án
- Xác định mục têu bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái
độ trong chương trình
- Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ những
nội dung của bài học, xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình
thành và phát triển ở HS, xác định trình tự logic của bài học
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS:
+ Xác định những kiến thức và kĩ năng mà HS đã có và cần có
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án
giải quyết
- Lựa chọn phương pháp dạy học; phương tiện ; thiết bị dạy học; hình thức tổ
chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS tích cực, chủ động,
sáng tạo, phát triển năng lực tự học
- Xây dựng kế hoạch bài học: xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ,
cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và
hoạt động học của HS
1.3.3 Nội dung của việc soạn giáo án
- Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến
thức, kĩ năng, thái độ
- Xác định những nội dung kiến thức của bài học
- Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các dạy học cần sử dụng
Trang 14- Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học
- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng
- Soạn nội dung bài tập về nhà
Một số hình thức trình bày giáo án
- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới
- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động
của HS
- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc
tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
- Viết 4 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội
dung chính và thời gian thực hiện
1.3.4 Giới thiệu một số kế hoạch bài dạy
a/ Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học
* Hoạt động : Kiểm tra kiến thức cũ
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
-Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá
* Hoạt động : Tiếp nhận nhiệm vụ HT
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
- Quan sát, theo dõi giáo viên đặt vấn đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ HT
- Tạo tình huống HT
- Trao nhiệm vụ HT
* Hoạt động : Thu thập thông tin
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu
-Yêu cầu HS hoạt động
-Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu
-Giảng sơ lược nếu cần thiết
-Làm thí nghiệm biểu diễn
-Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu
-Chủ động về thời gian
* Hoạt động : Xử lí thông tin
Trang 15Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá
nhân
-Tìm hiểu các thông tin liên quan
-Lập bảng, vẽ đồ thị …nhận xét về
tính quy luật của hiện tượng
-Trả lời các câu hỏi của GV
-Tranh luận với bạn bè trong nhóm
hoặc trong lớp
- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những
thông tin thu được
-Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
-Đàm thoại gợi mở, chất vấn HS
-Hướng dẫn HS cách lập bảng, vẽ đồ thị và rút ra nhận xét, kết luận
-Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp
-Tổ chức hợp thức hóa kết luận
-Hợp thức về thời gian
* Hoạt động : Truyền đạt thông tin
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Trả lời câu hỏi
-Giải thích các vấn đề
-Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận
-Báo cáo kết quả
-Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
-Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
-Hướng dẫn mẫu báo cáo
* Hoạt động : Củng cố bài giảng
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
-Ghi câu hỏi bài tập về nhà
-Ghi những chuẩn bị cho bài sau
-Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
-Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
b/ Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài : ………
Tiết : ………theo phân phối chương trình
A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ )
1 Kiến thức
2 Kĩ năng
Trang 16D Rút kinh nghiệm
Ghi những nhận xét của giáo viên sau khi dạy xong [9, tr 12 - 15]
c/ Những câu hỏi thảo luận về kế hoạch bài học
- Theo bạn một kế hoạch BD có cấu trúc như thế nào thì thích hợp, nêu lí do?
- Mục tiêu bài dạy và sự chuẩn bị cần thể hiện như thế nào trong bài soạn nhất là
những phần có ứng dụng công nghệ thông tin ?
- Thông thường trong một tiết dạy có những hoạt động HT nào? Thể hiện hoạt
động học tập của HS và trợ giúp của GV như thế nào trong bài soạn
- Nêu các kĩ thuật củng cố bài giảng mà bạn đã vận dụng trong quá trình DH
- Làm thế nào để xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản trong bài phù hợp đối tượng
HS ở các vùng miền thích hợp trong một tiết dạy
- Hãy soạn một bài theo phân phối chương trình và đối tượng đã lựa chọn
1.4 ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
1.4.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá
- Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức
người học, điều chỉnh quá trình dạy và học ; là động lực để đổi mới phương pháp
dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu
giáo dục
- Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình : đánh giá từng nội dung,
Trang 17từng bài học, từng hoạt động giáo dục, tùng môn học và đánh giá toàn diện theo
mục tiêu giáo dục Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn
giáo dục mà trong cả quá trình Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan,
công bằng, minh bạch ; phối hợp hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn
đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra, đánh giá ;
khắc phục tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho HS thói quen học đối phó, học tủ,
học lệch, học không “tư duy”
1.4.2 Các hình thức kiểm tra
Hình thức kiểm tra thông dụng là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm cơ bản
là trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm)
* Tự luận: là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi gồm các câu hỏi
dạng mở yêu cầu thí sinh phải trình bày nội dung trả lời các câu hỏi trong một bài viết
để giải quyết vấn đề nêu ra
*Trắc nghiệm - Các hình thức trắc nghiệm
Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường
gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết
yêu cầu thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu hỏi Trắc nghiệm gồm các
dạng sau:
- Trắc nghiệm đúng sai
- Trắc nghiệm điền khuyết
- Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)
- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn) và phần
thông tin
- Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục PT
- Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút
- Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương, phần,
môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có : kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở
lên, kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm
1.4.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá
* Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá
- Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học ; kết quả kiểm tra, thi đủ
Trang 18độ tin cậy để xét lên lớp, tốt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh
- Tạo động lực đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng
dạy học
- Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học
* Yêu cầu kiểm tra, đánh giá
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học ở từng lớp ; yêu cầu
cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn,
mỗi cấp học
- Phối hợp kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của GV và
tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng
đồng
- Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên HS, giúp HS sửa chữa
thiếu sót
- Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích HT của HS mà còn
bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học
- Đánh giá kết quả HT của HS, thành tích HT của HS không chỉ đánh giá kết quả
cuối cùng mà chú ý cả quả trình HT Tạo điều kiện cho HS cùng tham gia xác định
tiêu chí đánh giá kết quả HT
- Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hành chương trình, kế hoạch giảng dạy, HT
của các nhà trường ; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên,
định kì
- Từng bước nâng cao chất lượng đề kiểm tra, thi đảm bảo vừa đánh giá được
đúng chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hóa cao
- Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương
của các đề thi
- Đa dạng hóa công cụ đánh giá ; sử dụng tối đa công nghệ thông tin trong quy
trình tổ chức, kiểm tra, đánh giá
* Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá
- Đảm bảo tính toàn diện
- Đảm bảo độ tin cậy
- Đảm thi tính khả thi
Trang 19- Đảm bảo yêu cầu phân hóa
- Đảm bảo hiệu quả cao
1.4.4 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là : lĩnh vực về nhận
thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ
a/ Nhận biết: là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là
một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt
dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng
một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể mức độ nhận biết bắng các động từ :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng (không cần giải thích ) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương
đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các
yếu tố
Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu
bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể
tên, cái gì, bao nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS
về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm .Việc trả lời các câu
hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
b/ Thông hiểu: là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm,
hiện tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được ; là mức độ cao hơn nhận
biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan
đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học
hoặc đã biết
Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu
bằng các động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào hoặc các từ hỏi “tại
sao?”, “nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết
nối các dữ kiện, số liệu .Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả
năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ
bản trong nội dung đang học
c/ Vận dụng: là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể
Trang 20mới : vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra ; là khả năng
đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay
ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu
hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải
thích (trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng
các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện
mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các
quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng
phương án này vào thực tiễn
d/ Phân tích: là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin
nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ
thuộc lẫn nhau giữa chúng
Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng
các động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại
câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận,
tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân
tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải
hoặc đưa ra kết luận
e/ Tổng hợp: là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các
nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ
thể hóa mức độ tổng hợp bằng các động từ :
- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh
- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể
- Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết
ban đầu
Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn
đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa
ra những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình
Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán,
giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng
hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý
Trang 21tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung
f/ Đánh giá: là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định,
xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến
thức Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc
đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các
tiêu chí nhất định
Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý
kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao
sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV
đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà
HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong,
GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời
chưa đúng
Trang 22CHƯƠNG 2 ĐỊNH HƯỚNG HS GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ HT
2.1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HS
2.1.1 Khái niệm hoạt động học
Học là quá trình con người tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ
sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa
học ở trong nhà trường
Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù trong nhà trường mới có khả năng tổ
chức để cá nhân tiến hành hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri
thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học
sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn
theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
2.1.2 Đối tượng của hoạt động học
Nếu gọi chủ thể của hoạt động học là người học, thì đối tượng của hoạt động học
hướng tới đó là tri thức Nhưng tri thức mà HS phải học được lựa chọn từ những
khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học
tương ứng, và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: kiến thức, kĩ năng, thái
độ Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa
học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động
nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ
trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân
lý khoa học mà loài người chưa biết đến Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là
cái mới với cá nhân nhưng không mới đối với nhân loại
2.1.3 Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học tập hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây
hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường
đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ
việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy
động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, ), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc
tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người
học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải
có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Hoạt động
học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa là việc học không
Trang 23chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến
những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá,
hệ thống hoá Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân
hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học,
phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi HS Do đó nó giữ vai trò chủ
đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này
2.1.4 Cấu trúc của hoạt động học
A.N.Leonchep đã nêu cấu trúc của hoạt động bao gồm 6 thành tố Trong đó có 3
thành tố thuộc về chủ thể là: hoạt động - hành động - thao tác Ba thành tố thuộc về
khách thể đó là: động cơ - mục đích - phương tiện và được khái quát theo sơ đồ
Sơ đồ cấu trúc hoạt động học
Các thành tố luôn có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau trong sự
tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể Điều đó được biểu hiện cụ thể như sau:
Mỗi hoạt động được hợp thành bởi nhiều hành động và mỗi hành động được thực
hiện bằng nhiều thao tác khác nhau Hoạt động nào cũng được thúc đẩy bởi một
động cơ nhất định là mục đích chung của hoạt động Để đạt được mục đích con
người phải sử dụng các phương tiện, tùy theo điều kiện phương tiện mà con người
thực hiện các thao tác để tạo ra sản phẩm của hoạt động Vận dụng vào trong dạy
học ta thấy rằng, muốn hình thành hoạt động cần phải hình thành cho người học
Trang 24các thành tố của hoạt động học: động cơ, mục đích học tập để qua đó hình thành
thao tác, hành động và hoạt động học
a Hình thành và duy trì động cơ học tập
Động cơ học tập là những gì thôi thúc HS thực hiện các hoạt động học tập một
cách vô thức hoặc hữu ý Để hình thành hoạt động học, trước hết phải nói đến sự
hình thành động cơ học tập Hoạt động học với chủ thể là người học, còn đối tượng
của nó là những tri thức khoa học, với mục tiêu cuối cùng là hình thành nhân cách
cho người học Chủ thể khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức thì chính tri
thức đó trở thành cái tinh thần, thôi thúc người học Vì vậy có thể hiểu động cơ học
tập là sức mạnh tinh thần điều khiển, điều chỉnh hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri
thức khoa học, để thoả mãn nhu cầu nào đó của người học Động cơ của hoạt động
học tập ở HS được hiện thân ở những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo dục ở nhà
trường mang lại cho các em
Trong thực tiễn giáo dục, một cách tương đối, động cơ học tập được chia thành
hai loại: Động cơ chủ quan và động cơ khách quan
- Động cơ chủ quan là lòng ham mê, khát khao mở rộng tri thức, say mê với
những môn học là đối tượng đích thực của hoạt động học tập Nó kích thích sự tự
giác, tích cực của người học, thúc đẩy sự hình thành và duy trì hoạt động học và sau
khi hoạt động học kết thúc người học thoả mãn nhu cầu về đối tượng học do tiếp
nhận được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mong muốn Hoạt động học tập được
thúc đẩy bởi động cơ này nó không chứa những mâu thuẫn bên trong và nó đòi hỏi
phải có những nỗ lực ý chí để đạt được nguyện vọng chứ không phải hướng vào đấu
tranh với chính bản thân mình.
- Động cơ khách quan là động cơ thoả mãn nhu cầu không nằm trong đối tượng
học như sự thưởng phạt hoặc đe doạ, những áp lực gia đình, nhà trường, công
việc, ở mức độ nào đó động cơ này mang tính cưỡng bức và có lúc xuất hiện như
một vật cản cần khắc phục để vượt qua đạt được mục đích của mình
Xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định
Mục đích của hoạt động học hướng đến là những tri thức, thì chính các tri thức trở
thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ chủ quan là động cơ chính của hoạt động
học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ khách quan luôn tồn tại và song hành
với động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một bộ phận của động cơ chủ quan Khi
Trang 25động cơ chủ quan được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ khách quan cũng
được thoả mãn Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và
trong từng hoàn cảnh cụ thể mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan
trọng hơn
Trong dạy học để hình thành động cơ học tập cho HS, GV thường phải đưa HS
vào các tình huống học tập cưỡng bức có mục đích (HS phải học), từ đó củng cố và
mở rộng ý nghĩa kết quả học tập đạt được để hình thành ý thức cho HS về nhu cầu
hoàn thiện tri thức Khi có nhu cầu này tình huống học tập trở thành tình huống học
tập tự giác có mục đích được kích thích bởi động cơ chủ quan của chủ thể (HS thích
học) và nếu có được điều kiện thuận lợi hoạt động HT của HS sẽ được hình thành
Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều yếu tố ngoài tầm kiểm soát của GV ảnh
hưởng tiêu cực đến động cơ học tập của HS như gia đình, bạn bè, GV cũ, kiến thức
tương tự đã học do đó GV phải có những biện pháp thiết thực để liên tục hình
thành và duy trì động cơ học tập cho HS, đặc biệt là các động cơ mang tính cuỡng
bức Chúng ta có thể sử dụng các nhân tố sau:
Mức độ tập trung của HS: là nhân tố mà GV có thể kiểm soát được trong giờ học
bằng các biện pháp sau, tuy nhiên cũng cần lưu ý tập trung ở mức độ vừa phải là
cần thiết để tăng cường động lực học tập nhưng tập trung quá cao độ sẽ bị căng
thẳng còn ít chú ý thì không tiếp thu được:
- Gần gũi với HS, đến gần hoặc ngồi cạnh HS ít tập trung để tăng sự chú ý của
HS và tìm hiểu chúng đang làm gì
- Giới hạn hoặc tăng thời gian chuẩn bị của HS
- Im lặng trong thời gian lâu
- Đặt câu hỏi cho cả nhóm, cả lớp để tất cả HS sinh đều suy nghĩ, tránh gọi HS
trước khi đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS suy nghĩ trước khi trả lời vì trong
thời gian chờ số HS có gắng suy nghĩ về câu trả lời sẽ gia tăng và GV cũng có nhiều
đáp án khác nhau
- Không nên ra điều kiện mà nên yêu cầu (thay vì hỏi ai có thể ? Em nào xung
phong ? Chúng ta có thể yêu cầu các em hãy suy nghĩ và giải thích cho thầy (cô)
biết tại sao ?)
Sắc thái tình cảm của HS: là một nhân tố cho GV biết được HS đã sẵn sàng học
tập hay chưa, nó thường biểu hiện qua các trạng thái thích thú, trung hoà, chán nản
Trang 26HS sẽ nỗ lực nhiều nhất khí chúng cảm thấy thích thú trong việc học Trong dạy học
GV phải cố gắng để nhận biết các trạng thái trên của HS và khéo léo tạo ra các trạng
thái cần thiết để tăng cường động cơ học tập bằng các biện pháp:
- Tạo bầu không khí thoải mái để HS cảm thấy an tâm khi học tập
- Tạo cho HS cảm giác mình là người quan trong trong lớp học
- Sử dụng tính hài hước trong giờ học
- Tạo cảm giác ép buộc một cách phù hợp đối với những HS hứng thú nhưng
không chịu học
- Đưa ra những nhận xét có tính chất khuyến khích HS
Sự thành công trong học tập của HS cũng là một nhân tố góp phần làm tăng và
duy trì động cơ học tập Ngoài khả năng và nỗ lực của HS còn có một số yếu tố làm
nên sự thành công trong việc học mà GV kiểm soát được đó là mức độ khó hay dễ
của vấn đề được đưa ra và khả năng hướng dẫn của GV Do đó, GV phải biết mức
độ nào là thích hợp đối với HS và đưa ra những vấn đề có độ khó hợp lý sao có HS
có thể đạt được
Sự thích thú của HS đối với bài giảng là nhân tố phát sinh trong quá trình học
tập và GV có thể tạo ra sự thích thú bằng các cách:
- Làm cho HS thích thú với chính mình như: dùng tên HS trong các ví dụ mang
tính tích cực, liên hệ bài giảng với thực tế cuộc sống của HS, dùng các ví dụ đề cập
đến các hoạt động mà HS đã thực hiện trong lớp học, khen ngợi HS
- Tăng cường tính thiết thực của hoạt động dạy và học
- Tạo ra sự đa dạng trong cách dạy như: thay đổi giọng điệu hoặc vị trí để thu
hút HS, sử dụng phim, băng video, internet, sử dụng các phần mềm dạy học
Sự nhận biết kết quả học tập: kết quả học tập ở đây không chỉ là điểm số mà còn
là thông tin về bài làm của HS ,vì khi thực hiện xong các NV HS luôn có mong
muốn biết được chúng đã làm đúng hay không, làm đúng những chỗ nào, chổ nào
cần chỉnh sửa và làm gì để sửa sai Khi HS cảm thấy mình có khả năng làm được
thì chúng sẽ cố gắng hoàn thiện hơn, động cơ học tập được duy trì Do đó GV có
thể:
- Cho HS biết được kết quả của mình một cách chi tiết bằng lời nói hay viết
trong bài làm của HS
Trang 27- Khuyến khích khả năng tư duy bằng cách yêu cầu HS nhận xét, giải thích về
kết quả tìm được hay tìm cách làm khác
b Mục đích học tập
Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu là cái mà hành động đang diễn
ra hướng tới Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành dưới
các hành động học Vậy mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các giá trị,
các chuẩn mực mà các hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được nó
Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới các
dạng là các biểu tượng sau đó được tổ chức để hiện thực hoá biểu tượng trên thực
tế Mục đích của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều nó có
tính đặc thù riêng đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là để thay đổi
chính chủ thể ở đây là người học Và mục đích này chỉ có thể được bắt đầu hình
thành khi chủ thể bắt đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của mình Trên
con đường chiếm lĩnh đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá giữa mục đích
và phương tiện học tập Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ nó lại trở thành
công cụ để chiếm lĩnh các mục đích tiếp theo
c Hình thành hành động và thao tác học
Học tập là một quá trình do đó khi nói đến hoạt động học phải nói đến sự hình
thành các hành động học Đây là chìa khoá dẫn đến thành công trong dạy học vì
hình thành được hành động học sẽ có thể hình thành hoạt động học Bên cạnh đó, từ
hành động học có thể rèn luyện để thành thao tác cho hành động khác Trong các
hành động có hành động vật chất - là tác dụng trực tiếp lên đối tuợng để nhận biết
các đặc tính của đối tượng và hành động trí tuệ - là so sánh phân tích, suy
luận diễn ra trong bộ não để rút ra kết luận chung về đối tượng Trong khi hành
động con người thực hiện những thao tác ứng với hành động vật chất là thao tác
chân tay và ứng với hành động trí tuệ là thao tác trí tuệ Để hình thành hành động
học cho HS trước hết phải xác định mục đích học tập và giúp HS ý thức được mục
đích đó Bước tiếp theo là huy động các thao tác và phương tiện kĩ thuật để thực
hiện mục đích đã được ý thức theo hai con đường :
- Con đường thứ nhất: Hình thành hành động thông qua hoạt động chơi Khi
chơi trẻ hình thành các hành động chơi có bản chất rất gần với hành động học Ban
đầu các thao tác chơi được trẻ chú ý sau đó nội dung và quy tắc chơi được trẻ em ý
Trang 28thức và chuyển thành mục đích của việc chơi Từ đó hành động chơi được hình
thành và làm xuất hiện các yếu tiền đề tâm lý của hành động học Đây là cơ sở của
nguyên tắc “học mà chơi, chơi mà học”
- Con đường thứ hai: Chuyển hoá hoạt động học thành hành động học, trên cơ sở
chuyển hoá động cơ thành mục đích Cơ sở tâm lý của việc làm này là sự phát triển
không ngừng của nhu cầu học tập của người học, trong đó các nhu cầu ban đầu đã
chuyển chức năng và trở thành phương tiện để thực hiện nhu cầu học tập cao hơn,
tức là phục vụ cho động cơ mới, từ đó xuất hiện hành động học tập mới Việc hình
thành thao tác học cũng được thực hiện theo cơ chế chuyển hoá hành động học
thành thao tác học Quá trình này được thực hiện trên hai phương diện: luyện tập và
rút gọn hành động học tập tới mức thành thạo sau đó đưa thao tác đó vào trong hành
động khác Hay nói cách khác trong dạy học bất kỳ khái niệm nào cũng phải được
hình thành như một hành động học tập và trở thành phương tiện để hình thành khái
niệm tiếp theo Đây là cơ sở của nguyên tắc “Học đi đôi với hành”
d Phương tiện và điều kiện học tập
Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, và chủ thể phải có
những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt
động học tập, ngoài những phương tiện vật chất như: giấy, bút, sách, giáo trình,
máy tính còn có phương tiện học tập được hình thành chính trong quá trình chủ
thể tham gia hoạt động học tập Đó là các hành động học tập: so sánh, phân loại,
phân tích, khái quát hoá Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân loại là những
hành động học tập là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những khái niệm kinh
nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành nên những khái
niệm khoa học Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư
duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết
Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó Điều kiện đầu tiên
đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn của
thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình Và điều kiện thứ hai đó là có sự vận động
của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực Đó là những tri thức mà
người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú
của người học Có đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có
thầy với trò, hay không có đối mặt với thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học
Trang 29vẫn diễn ra Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu
tố nội lực thông qua hoạt động dạy và học Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai
trò quan trọng trong hoạt động học của người học
2.2 ĐỊNH HƯỚNG HỌC SINH GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ HỌC TẬP
2.2.1 Định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập
a/ Lý do phải định hướng cho học sinh giải quyết các vấn đề học tập
Trong thực tế, không có ai không nhờ người khác mà biết được phần lớn những
gì mình biết Trước tiên, người ta học mẹ, cha, anh, chị ., rồi đến những người
sống quanh Và nếu có ai không được một người thầy trực tiếp dạy bảo cho một cái
gì đấy, thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng cách sống và cách
hành động của họ Hoạt động học không chỉ diễn ra trong phạm vi và trong thời
gian đến trường vì nhu cầu học luôn gắn kết với nhu cầu làm, nhu cầu sống của con
người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, mọi ngành nghề, mọi vị trí xã hội, mọi thời đại
Do đó khi còn ngồi trên ghế nhà trường thì việc hướng dẫn cho HS tự lực học tập để
các em học thật, làm thật, tích cực tự học, tự làm dưới sự hướng dẫn của thầy, mới
tự trang bị cho mình kỹ năng học, kỹ năng làm, kỹ năng sáng tạo và kỹ năng sống -
những kỹ năng tối cần thiết cho con người tiếp tục tự học suốt đời
Theo L.X.Vygotski “Trẻ em không thể tự mình trực tiếp lĩnh hội kinh nghiệm
xã hội - lịch sử Để làm được việc này, trẻ em phải gián tiếp thông qua người lớn,
thông qua hoạt động hợp tác giữa trẻ em với người lớn” Trong dạy học cũng vậy,
HS không có đủ thời gian và khả năng để hoàn toàn tự lực học tập Do đó cần phải
có sự giúp đỡ, định hướng của GV để có thể thực hiện NV học tập Điều đó chắc
chắn sẽ đem lại hiệu quả cao hơn việc các em tự mò mẫm đi đến kiến thức
Tâm lý học và lý luận dạy học hiện đại cũng khẳng định: “Cách tốt nhất để nắm
vững được những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm là người học tái tạo ra chúng thông
qua hoạt động tự lực của bản thân”; “Con đường có hiệu quả nhất để làm HS nắm
vững kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo, là phải đưa HS vào vị trí chủ thể
nhận thức” GV là người tạo những điều kiện tốt nhất cho HS hoạt động, còn HS
phải tự lực hoạt động để tạo ra những kiến thức và năng lực mà loài người tích luỹ
để biến chúng thành của mình
Những lập luận trên cho thấy sự định hướng của GV giúp HS tự lực học tập là
một trong những cách tốt để HS chiếm lĩnh tri thức
Trang 30b/ Các hành động trong học tập môn vật lý
Để chiếm lĩnh kiến thức đó HS cần tiến hành những hành động nào? Trong thực
tế có rất nhiều tình huống khác nhau và ứng với mỗi tình huống mỗi người học có
thể có những hành động khác nhau Trong học tập môn vật lý người học có thể thực
hiện các hành động sau
- Quan sát, nhận biết những dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng
- Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật, hiện tượng
- Đo một đại lượng vật lý
- Bố trí thí nghiệm để tạo ra hiện tượng trong những điều kiện nhất định
- Phân tích một hiện tượng phức tạp thành một hiện tượng đơn giản
- Xác định những giai đoạn diễn biến của hiện tượng
- Tìm những tính chất chung của nhiều sự vật hiện tượng
- Tìm các mối quan hệ khách quan, phổ biến, nhân quả giữa các sự vật hiện
tượng
- Tìm mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng vật lý, biểu diễn bằng công thức
toán học
- Xây dựng một giả thuyết
- Từ giả thuyết suy ra một hệ quả
- Lập phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết, hệ quả
- Tìm những biểu hiện cụ thể trong thực tế của các khái niệm, định luật vật lý
- Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện thực tế xác định
- Giải thích một hiện tượng thực tế
- Mô hình hoá những sự kiện thực tế quan sát được dưới dạng những khái niệm,
mô hình lý tưởng để sử dụng chúng làm công cụ tư duy
- Diễn đạt bằng lời các kết quả thu được qua hành động
- Đánh giá kết quả hành động
- Tìm phương pháp chung để giải quyết một loại vấn đề
c/ Các kiểu định hướng hành động học tập
Định hướng tái tạo là kiểu định hướng trong đó người dạy hướng HS vào việc
huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hành động mà HS đã nắm được hoặc
đã được người dạy chỉ ra một cách tường minh để HS có thể thực hiện được NV mà
họ đảm nhận Trong định hướng tái tạo cũng được chia làm hai mức độ:
Trang 31- Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể, riêng rẽ Trong đó người học theo dõi,
thực hiện, bắt chước lặp lại những thao tác mẫu do người dạy chỉ ra
- Định hướng tái tạo Angôrit Người dạy chỉ ra một cách khái quát tổng thể trình
tự hành động để người học tự chủ giải quyết được NV
Định hướng tìm tòi là kiểu định hướng mà người dạy chỉ đưa ra những gợi ý
sao cho HS có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức
hoạt động để giải quyết NV mà họ đảm nhận
Định hướng khái quát chương trình hoá là kiểu định hướng hành động theo từng
bước, được chương trình hóa liên tiếp theo một trình tự chặt chẽ, phù hợp với trình
độ của HS Nó giúp HS biết hành động từng bước cụ thể, rõ ràng
d/ Định hướng hành động học tập cho nhóm
Trong dạy học nhóm lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, số lượng HS mỗi
nhóm khoảng từ 4 đến 8 người, tuỳ từng vấn đề học tập và mục đích sư phạm mà
GV phân nhóm cho thích hợp Nhóm được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng
tiết học và các nhóm có thể được giao cùng NV hoặc các NV khác nhau Mỗi nhóm
đều có nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân chia công việc trong nhóm và điều
khiểu hoạt động của nhóm thực hiện NV được giao Mỗi nhóm được trình bày và
bảo vệ kết quả hoạt động của nhóm mình trước lớp
Dạy học nhóm có thể tổ chức theo ba giai đoạn: Giao NV; làm việc nhóm;
trình bày và đánh giá kết quả
Giao NV: Giai đoạn này được thực hiện trong toàn lớp, bao gồm những hoạt
động chính sau:
- Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: thông thường GV thực hiện việc giới
thiệu chủ đề, NV chung cũng như những chỉ dẫn cần thiết, thông qua thuyết trình,
đàm thoại hay làm mẫu Đôi khi việc này cũng được giao cho HS trình bày với điều
kiện là đã có sự thống nhất và chuẩn bị từ trước cùng GV
- Xác định NV của các nhóm: xác định và giải thích NV cụ thể của các nhóm,
xác định rõ những mục tiêu cụ thể cần đạt đuợc Thông thường, NV của các nhóm
là giống nhau, nhưng cũng có thể khác nhau
- Thành lập các nhóm làm việc: có rất nhiều phương án thành lập nhóm khác
nhau Tuỳ theo mục tiêu dạy học để quyết định cách thành lập nhóm
Trang 32Làm việc nhóm: Trong giai đoạn này các nhóm tự lực thực hiện NV đuợc giao,
trong đó có những hoạt động chính là:
Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm: cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm,
sao cho các thành viên có thể đối diện nhau để thảo luận Cần làm nhanh để không
tốn thời gian và giữ trật tự
Lập kế hoạch làm việc:
- Chuẩn bị tài liệu học tập
- Đọc sơ qua tài liệu
- Làm rõ xem tất cả mọi người có hiểu các yêu cầu của NV hay không
- Phân công công việc trong nhóm
- Lập kế hoạch thời gian
Thoả thuận về quy tắc làm việc:
- Mỗi thành viên đều có phần NV của mình
- Từng người ghi lại kết quả làm việc
- Mỗi người trong nhóm phải lắng nghe những người khác
- Không ai được ngắt lời người khác
Tiến hành giải quyết NV:
- Đọc kỹ tài liệu
- Cá nhân thực hiện công việc đã phân công
- Thảo luận trong nhóm về việc giải quyết NV
- Sắp xếp kết quả công việc.
Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp:
- Xác định nội dung, cách trình bày kết quả;
- Phân công các NV trình bày trong nhóm;
- Làm các hình ảnh minh họa;
- Quy định tiến trình bài trình bày của nhóm
Trình bày và đánh giá kết quả:
- Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp: thông thường trình bày
miệng hoặc trình miệng với báo cáo viết kèm theo Có thể trình bày có minh hoạ
thông qua biểu diễn hoặc trình bày mẫu kết quả làm việc nhóm
- Kết quả trình bày của các nhóm được đánh giá và rút ra những kết luận cho
việc học tập tiếp theo
Trang 33Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy tính tích cực, tự lực và tính
trách nhiệm của HS, phát triển năng lực cộng tác làm việc, Tăng cường kết quả học
tập Tuy nhiên, dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều Thời gian 45 phút của một
tiết học cũng là một trở ngại trên con đường đạt được thành công cho công việc
nhóm Nếu được tổ chức và thực hiện kém, nó thường sẽ dẫn đến kết quả ngược lại
với những gì dự định sẽ đạt Kiểu tổ chức dạy học này đòi hỏi GV phải nắm vững
phương pháp, có năng lực lập kế hoạch và tổ chức, sự chuẩn bị chu đáo (nghiên cứu
nội dung có phù hợp với dạy học nhóm không, chia nhóm thế nào, giao NV chung
hay riêng, kê bàn ghế như thế nào ) còn HS phải có sự hiểu biết về phương pháp,
được luyện tập các quy tắc làm việc nhóm, kỹ thuật làm việc nhóm và thông thạo
cách học này
Như vậy, trong học tập nhóm, NV học tập được giao cho một hoặc nhiều nhóm
HS Trong mỗi nhóm các HS cùng hành động để thực hiện NV và cùng chịu trách
nhiệm về sản phẩm của nhóm mình Định hướng của GV trong dạy học nhóm
mang tính khái quát, chủ yếu thực hiện trong giai đoạn giao NV Trong giai đoạn
làm việc nhóm, GV chủ yếu quan sát, tìm hiểu ý kiến các nhóm, giúp đỡ từng nhóm
khi cần thiết Khi HS trình bày kết quả, GV đóng vai trò là trọng tài, định hướng để
giúp HS khẳng định, sữa chữa và thống nhất trong cả lớp Đặc biệt, trong tổ chức
dạy học nhóm, ngoài định hướng của GV và tự định hướng của mỗi cá nhân, còn có
sự định hướng của các thành viên trong nhóm, các nhóm trong lớp chủ yếu dưới
dạng tái tạo hoặc tìm tòi
e/ Câu hỏi và lệnh trong định hướng hành động học tập
Câu hỏi định hướng: Các câu hỏi định hướng phải đáp ứng được những yêu cầu
cơ bản: Câu hỏi phải được diễn đạt chính xác về ngữ pháp và nội dung khoa học;
Câu hỏi phải diễn đạt chính xác điều định hỏi; Nội dung câu hỏi phải đáp ứng đúng
đòi hỏi của sự định hướng hành động của HS trong tình huống đang xét, về kiểu
định hướng hành động dự định và sát hợp với việc thực hiện NV nhận thức đặt ra;
Câu hỏi phải vừa sức HS
Dựa vào các thao tác tư duy của HS trong quá trình học có thể sử dụng các loại
câu hỏi sau
- Câu hỏi so sánh: Những hiện tượng này có điểm nào giống (khác) nhau? giống
(khác) như thế nào?
Trang 34- Câu hỏi phân loại: Ta có thể sắp xếp những sự vật (hiện tượng) trên vào những
nhóm nào?, Đặc trưng của các nhóm đó là gì?
- Câu hỏi quy nạp: Dựa vào những quan sát, số liệu, sự kiện sau , các em có
thể tiên đoán hoặc rút ra kết luận gì?
- Câu hỏi diễn dịch: Dựa vào quy luật này, các em có thể tiên đoán hoặc rút ra
kết luận gì về ?, Dựa vào quy luật này, các em hãy cho biết hiện tượng sẽ diễn ra
như thế nào nếu ?
- Câu hỏi phân tích lỗi: ý kiến, lập luận có chính xác không? Hãy chỉ ra điểm
chưa chính xác và cách sửa? dựa vào đâu để có thể nói được ý kiến, lập luận trên
đúng hay sai?
- Câu hỏi khái quát hoá: Các vấn đề trên có điểm gì chung? Kết luận này có thể
áp dụng cho những trường hợp nào?
- Câu hỏi phân tích quan điểm: Em có ý kiến gì về vấn đề này?, theo em hiện
tượng trên có ích hay hại, giải thích?
Việc sử dụng loại câu hỏi nào tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra, hành động, thao tác
mà GV mong muốn HS thực hiện
Lệnh: Lệnh là những điều GV yêu cầu HS thực hiện Trong lệnh thường có
hành động mà HS phải làm và các chỉ dẫn, yêu cầu khi tiến hành hành động
Ví du: - Đọc và tóm tắt bài tập 3, trang 230, SGK
- Viết biểu thức của phương trình Cla-pê-rôn - Men-đê-lê-ép và từ đó suy ra
biểu thức tính khối lượng khí
Lệnh mang tính cưỡng bức thực hiện hành động nhưng được dùng rất nhiều
trong dạy học Đặc biệt, với những HS yếu, những lúc bế tắc cần khơi gợi những
phương thức hành động cũ, lệnh là giải pháp định hướng hữu hiệu giúp HS thực
hiện hành động
Lệnh ít có tác dụng phát triển tư duy của HS vì hành động mà HS thực hiện vẫn
là làm theo Do đó, Trong dạy học thường phối hợp cả lệnh và câu hỏi để đảm bảo
các yêu cầu của định hướng
f/ Các phương tiện dạy học
Bên cạnh sử dụng câu hỏi và lệnh để thực hiện việc định hướng hành động, GV
có thể sử dụng các phương tiện học tập để hỗ trợ việc định hướng Phương tiện dạy
học là các phương tiện vật chất do GV và HS sử dụng dưới sự hướng dẫn của GV
Trang 35nhằm đạt được mục đích dạy học Có rất nhiều các phương tiện học tập như: vật
thật, mô hình, thiết bị thí nghiệm, tranh, ảnh, biểu đồ, phấn - bảng, phiếu học tập,
sách vở, phim, các phần mềm hỗ trợ Các phương tiện học tập có thể dùng để tạo
động cơ học tập, định hướng hành động học, hình thành những kiến thức kĩ năng
mới, phát triển tư duy, ôn tập, mở rộng, hệ thống lại, kiểm tra những kiến thức, kĩ
năng mà HS thu được
Ngoài các phương tiện dạy học truyền thống, gần đây một số phương tiện khác
cũng được sử dụng rất nhiều đó là: phiếu học tập, phần mềm hỗ trợ dạy
Phiếu học tập là phương tiện được GV thiết kế sẵn trên giấy và giao cho cá nhân
HS và nhóm HS cùng thực hiện Nội dung của phiếu có thể là một hệ thống các câu
hỏi, một hệ thống các nhiệm vụ liên tiếp khi HS thực hiện xong sẽ lĩnh hội được tri
thức hoặc có thể là một nhiệm vụ, một bài tập, một vấn đề nào đó cần chuẩn bị để
trao đổi thảo luận trong nhóm hoặc dẫn dắt HS tới một kiến thức, tâp dượt một kỹ
năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dề ý kiến trước về một vấn đề nào
đó việc thiết kế phiếu học tập cũng thể hiện khả năng sáng tạo của GV và qua đó
cũng có thể đánh giá được mức độ chuẩn bị của GV, tính logic, tính hệ thống của
bài dạy; sự phù hợp với đối tượng HS; tổng hợp các ý kiến; đánh giá được HS có
hiểu bài không
Các phần mềm hỗ trợ dạy học dùng để quản lý, xử lí số liệu, vẽ hình, tính toán,
ôn tập, kiểm tra kiến thức, mô phỏng các quá trình, hiện tượng, thí nghiệm là
những chương trình được lập trình sẵn nên các hành động trong đó diễn ra nhanh,
trực quan, sinh động đặc biệt mô tả được các hiện tượng trong thế giới vi mô mà
mắt thường không nhìn thấy được, giúp HS tiếp nhận kiến thức nhanh hơn Tuy
nhiên để sử dụng được các phần mềm này đòi hỏi phải có máy tính, máy chiếu và
GV phải thông thạo trong việc sử dụng máy tính và phần mềm
g/ Phối hợp các kiểu định hướng trong học tập
Các kiểu định hướng trên không hoàn toàn độc lập với nhau mà chúng có thể
đan xen vào nhau với các mức độ khác nhau Việc phân định ra các loại định hướng
riêng biệt chỉ nhằm giúp GV thấy rõ hoạt động định hướng cơ bản trong một giai
đoạn nhất định nào đó của quá trình dạy học.Trong quá trình tổ chức dạy học một
kiến thức cụ thể không thể luôn luôn định hướng theo một kiểu nào đó, có những
giai đoạn vẫn phải định hướng theo các kiểu khác.Vấn đề là “liều lượng” và sự phối
Trang 36hợp chúng như thế nào cho phù hợp với nội dung kiến thức, với trình độ HS và cả
với các yếu tố khác như thời gian, cơ sở vật chất Việc định hướng có thể được thực
hiện từng bước, theo yêu cầu từ cao đến thấp; từ tổng quát đến bộ phận
h/ Định hướng HS học tập ở nhà
Tự lực học tập ở nhà là hoạt động không thể thiếu và bắt buộc trong quá trình
học tập của HS, hiện nay hoạt động này thường tồn tại ở hai dạng Một là ôn tập
kiến thức cũ và làm bài tập, hai là chuẩn bị bài mới Đối với môn vật lý hầu hết HS
mới thực hiện ở dạng đầu tiên, còn việc chuẩn bị bài mới rất ít HS thực hiện hoặc
chỉ thực hiện khi GV có những yêu cầu cụ thể Việc học và chuẩn bị bài ở nhà có
vai trò rất quan trọng, quyết định kết quả học tập của HS vì :
- Lượng kiến thức cần cung cấp cho HS trong một bài học nhiều, thời gian học
trên lớp chỉ giới hạn trong một hoặc hai tiết, khi tổ chức hoạt động học tập thường
mất nhiều thời gian, do đó HS không thể tiếp nhận toàn bộ kiến thức trên lớp mà
còn phải tự tìm hiểu ở nhà
- Quá trình rèn luyện các kỹ năng và ghi nhớ chỉ có thể được thực hiện được bởi
chính bản thân HS và cần có nhiều thời gian, lặp lại nhiều lần, nên không thể chỉ
rèn luyện trên lớp mà còn phải tự rèn luyện ở nhà
- Kiến thức mà HS tiếp nhận được trong quá trình rèn luyện và chuẩn bị ở nhà là
cơ sở để HS tích cực, chủ động tiếp nhận các kiến thức mới
Định hướng HS ôn tập và sử dụng kiến thức có hiệu quả: Các kiến thức được HS
tiếp thu ở trên lớp chỉ có thể tồn tại lại khi HS ghi nhớ và thường xuyên sử dụng nó
chuyển nó thành ngôn ngữ của bản thân Do đó GV có thể định hướng cho HS trình
bày lại kiến thức đã học theo nhiều cách như viết, vẽ, so sánh, phân loại, sơ đồ
hoá để HS nắm được kiến thức tổng quát và mối liên hệ của các kiến thức trong
bài, chương, phần GV có thể hướng dẫn HS ôn tập theo một số nguyên tắc sau :
- Trọng tâm hoá bài học: Chỉ cần nắm những điều trọng tâm nhất của bài học
- Cụ thể hoá bài học: Liên hệ bài học có nội dung trừu tượng với những hình ảnh
cụ thể hằng ngày
- Hệ thống hoá bài học: nhìn tổng quát bài học bằng một dàn bài
- Thích ứng hoá bài học: áp dụng tối đa bài học vào cuộc sống
- Vận dụng hết các giác quan: miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe
- Thủ thuật hoá bài học: dùng các thủ thuật trí nhớ
Trang 37Bên cạnh đó, việc giúp cho HS nhận thấy được vai trò to lớn của kiến thức trong
việc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong và ngoài nhà trường cũng rất quan trọng,
vì qua đó HS được củng cố niềm tin vào kiến thức và có hứng thú trong việc vận
dụng dụng kiến thức giải quyết các vấn đề đặt ra và chỉ khi đó kiến thức mới được
sử dụng có hiệu quả Muốn vậy GV phải thiết kế hệ thống bài tập gồm nhiều loại, từ
dễ đến khó, đồng thời định hướng cho HS nhận ra các vấn đề và cách giải quyết qua
các bài tập mẫu, để từ đó HS có thể tự lực thực hiện các bài tập của mình Cuối
cùng ở một mức độ cao hơn, GV có thể khuyến khích HS tự đưa ra những bài tập
sáng tạo của bản thân, nếu làm được như vậy thì có thể nói HS đã tiếp thu và sử
dụng kiến thức hiệu quả
Định hướng HS chuẩn bị bài mới: Việc chuẩn bị bài mới đúng cách sẽ giúp cho
HS nhận ra được kiến thức trọng tâm, những khó khăn vướng mắc mà bản thân
không giải quyết được để từ đó chủ động trong việc học tập trên lớp Bên cạnh đó,
việc chuẩn bị bài mới cũng giúp cho GV tổ chức các hoạt động học tập của HS tốt
hơn, tập trung khai thác được các vấn đề trong tâm của bài học Do đó việc định
hướng cho HS chuẩn bị bài mới là rất quan trọng, có thể quyết định đến chất lượng
học tập của HS Vậy GV có thể định hướng HS chuẩn bị bài mới như thế nào? Tuỳ
thuộc tính chất của từng bài học, GV có thể giao NV cho từng cá nhân hoặc nhóm
một số NV cụ thể, hướng dẫn HS đọc SGK và các tài liệu và thực hiện NV được
giao Các NV GV giao được thể hiện thông qua những câu hỏi liên quan đến bài
học mới, có thể là những câu hỏi tổng quát hoặc chi tiết về một vấn đề nào đó Mục
đích chính là để HS đọc sách ở nhà Hoặc GV có thể nêu trước mục đích và vấn đề
cần giải quyết và yêu cầu HS tìm hiểu người ta đã giải quyết vấn đề đó như thế nào?
kết quả ra sao? Hoặc GV có thể giao cho HS tìm hiểu các hình vẽ, đồ thị, bảng số
liệu, thí nghiệm để xem chúng cho ta biết điều gì? hay từ đó có thể rút ra kết luận
gì?
Tuy nhiên, với cách học thụ động của HS hiện nay và số lượng môn học nhiều,
thời gian học ở nhà ít thì việc thực hiện các NV học tập ở nhà phần nhiều còn mang
tính đối phó Do đó, khó khăn nhất vẫn là cách kiểm tra, động viên HS tự giác học
tập, tổ chức cho HS tự lực thực hiện điều đó đòi hỏi nhiều công sức của GV
Trang 38i/ Phát huy tính tích cực của học sinh
HS khó có thể đạt hiệu quả cao trong học tập nếu không có thái độ và nhận thức
tích cực về việc học Do đó trước hết GV cần phát huy nội lực của HS bằngcách
giúp cho HS có tâm lý thoải mái, hứng thú với bài học để HS tích cực, tự giác tham
gia vào các hoạt động học tập Sau đó tạo điều kiện cho HS thực hiện và hoànthành
NV học tập Cuối cùng là giúp HS kiểm tra đánh giá kết quả đạt được
Để HS có cảm giác thoải mái và hứng thú với giờ học GV phải thực sự quan
tâm, tôn trọng, có thái độ thân mật với HS (thể hiện qua ánh mắt, hành động, cử chỉ,
lời nói ) để tạo không khí thoải mái trong lớp học và sự tin tưởng của HS Hiện
nay, HS quen với lối với lối học thụ động, ít tự lực suy nghĩ, thường lúng túng, rụt
rè, sợ sai, sợ bàn bè cười nên việc tạo điều kiện thuận lợi về mặt tâm lý động viên,
giúp đỡ để HS mạnh dạn tham gia phát biểu, vượt qua những trở ngại ban đầu là hết
sức cần thiết Đồng thời GV cũng phải tạo ra những mâu thuẫn nhận thức để khơi
gợi động cơ, hứng thú học tập của HS và duy trì nó thông qua các biện pháp tạm
thời như khen thưởng và các biện pháp bền vững như giúp HS thấy được giá trị của
kiến thức, giá trị của NV học tập, khả năng thực hiện của HS, khả năng vận dụng
kiến thức vào thực tế cuộc sống
Để giúp HS thực hiện và hoàn thành NV học tập, GV cần tìm hiểu kỹ nội dung
bài học và phân chia bài học thành nhiều vấn đề nhỏ phù hợp với trình độ của HS,
đồng thời có thể sử dụng các kiểu định hướng sao cho họ có thể hiểu được yêu cầu
của NV và tự lực giải quyết vấn đề Đặc biệt chú trọng đến việc rèn luyện cho HS
thực hiện một số thao tác cơ bản và giúp HS làm quen với các phương pháp nhận
thức phổ biến Bên cạnh đó, việc thảo luận các câu hỏi, các vấn đề không chỉ giới
hạn ở việc cho HS trình bày ý kiến của mình hoặc trả lời câu hỏi đơn thuần, mà cần
phải tổ chức cho HS bảo vệ ý kiến của mình trước lớp với những bằng chứng, ví dụ
cụ thể, vì qua đó người trình bày thể hiện được hiểu biết, khả năng truyền đạt,
thuyết phục, của mình và người nghe cũng thể hiện được những hiểu biết của mình
thông qua chất vấn bạn
Việc đánh giá HS gồm nhận xét đánh giá của mỗi HS, nhận xét đánh giá của
nhóm và đánh giá của GV, đánh giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình học để
HS cố gắng và tự động điều chỉnh hoạt động học của mình để đạt kết quả cao hơn,
và qua đó GV cũng xem xét điều chỉnh lại cách định hướng của mình cho phù hợp
Trang 39với từng đối tượng Tiêu chuẩn đánh giá hoạt động học tập tự lực của HS dựa trên
mức độ hoàn thành NV được giao Căn cứ vào đó tự bản thân HS, các thành viên
trong nhóm và GV có thể đánh giá được quá trình học tập của HS Việc đánh giá
của mỗi HS và của nhóm có thể tiến hành ngay cuối tiết học Việc đánh giá của GV
có thể thực hiện ngay trong tiết học hoặc qua các bài kiểm tra thường xuyên và
định kỳ Đặc biệt có thể tạo cơ hội cho HS sửa sai bằng cách đánh giá lại.[6, tr 8]
2.2.2 Các bước soạn thảo tiến trình dạy học giúp học sinh tự lực học tập bằng
định hướng của giáo viên
a/ Chuẩn bị cho bài học
Đối với mỗi bài học, Căn cứ vào nội dung bài học, GV xác định mục tiêu (kiến
thức, kỹ năng, thái độ và các hành động tự lực); Xác định các NV học tập, Dự kiến
các hành động tương ứng và cách định hướng; lập kế hoạch dạy học, thời gian,
phương tiện, cách làm việc để giúp HS giải quyết NV và qua đó lĩnh hội các tri
thức trong bài
Với các kiến thức đã được học, có liên quan đến bài học, các NV có thể đặt ra
cho HS:
- Đọc lại, nhớ lại, Trình bày lại
- Vận dụng để giải thích, chứng minh các vấn đề tương tự
- Vận dụng để dự đoán những hiện tượng có thể xảy ra trong điều kiện mới
Với các kiến thức mới HS sẽ lĩnh hội trong tiết học, các NV đặt ra cho HS :
- Đọc và tìm hiểu kết cấu, nội dung của bài học mới
- Đọc và tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến bài học (Theo yêu cầu của GV)
- Tìm hiểu những nội dung cụ thể và trả lời các câu hỏi, yêu cầu của GV giao
cho
- Tìm các ví dụ, hiện tượng có liên quan trong thực tế
- Lập bảng so sánh, phân loại, sơ đồ liên hệ giữa các kiến thức trong bài,
chương
b/ Giao nhiệm vụ cho học sinh
Để giao NV, GV tìm hiểu số lượng, khả năng của HS, giao trách nhiệm quản lý,
điều hành lớp, nhóm và các NV học tập trực tiếp hoặc gián tiếp qua cán sự lớp,
trưởng nhóm Đồng thời xác định nội dung nhiệm vụ (ôn tập, tìm hiểu kiến thức
mới ); cách giao nhiệm vụ (trực tiếp hay gián tiếp, dùng phiếu học tập hay lời
Trang 40nói ); thời gian, địa điểm thực hiện; dự kiến sản phẩm đạt được, cách thu nhận kết
quả
Các NV dự kiến hoặc mới phát sinh trong quá trình học có được thực hiện thực
hiện ở nhà hoặc trên lớp có thể là:
- Trả lời các câu hỏi, bài tập cuối bài học, trong sách bài tập, các câu hỏi bài
tập GV cho thêm
- Chuẩn bị đọc, tìm hiểu các vấn đề cụ thể liên quan đến bài học mới do GV
giao
- Đặt các câu hỏi liên quan đến bài mới
- Giao NV tìm kiếm, làm tài liệu phục vụ học tập
- Yêu cầu các HS khác trong lớp giải đáp
- Hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để giải thích
- Giao cho HS về nhà tìm hiểu thêm và giải đáp vào tiết học khác
c/ Định hướng học sinh giải quyết nhiệm vụ
Để HS thực hiện tốt các NV, GV cần cung cấp thông tin về NV, hướng dẫn,
huấn luyện về phương thức hành động, phối hợp và hướng dẫn HS phối hợp cùng
nhau, hướng dẫn giải quyết các thắc mắc nảy sinh trong quá trình học tập Đồng
thời có biện pháp khích lệ HS trong quá trình học
Với mỗi nhiệm vụ cần định hướng cho HS tự lực học tập GV cần xác định rõ,
cách định hướng (tái tạo, mẫu, chương trình hoá ), đối tượng định hướng (cá nhân,
nhóm, lớp), nơi thực hiện (trên lớp, ở nhà), GV định hướng bằng lời nói, phiếu học
tập hay HS, nhóm tự định hướng Tuỳ từng trường hợp mà GV có thể linh hoạt
trong việc phối hợp các kiểu định hướng Có thể là:
- GV làm mẫu, hướng dẫn chi tiết từng bước và rút ra phương pháp chung, HS
thực hiện theo và áp dụng cho vấn đề tương ứng
- GV hướng dẫn HS từng giai đoạn, HS thực hiện và rút ra phương pháp chung
- GV phân tích NV và giúp cho HS thấy được những bước cần thực hiện để hoàn