1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý sử DỤNG PHẦN mềm PHYSICS 2 1 PART 1 hỗ TRỢ VIỆC ĐỊNH HƯỚNG học SINH GIẢI QUYẾT các vấn đề học tập KHI GIẢNG dạy CHƯƠNG 6 CHẤT KHÍ, vật lý 10 NÂNG CAO

109 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ● Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học vật lý của giáo viên và học sinh trong việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập.. NHỮNG VẤN ĐỀ

Trang 1

HỖ TRỢ VIỆC ĐỊNH HƯỚNG HỌC SINH GIẢI

QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ HỌC TẬP KHI GIẢNG DẠY

CHƯƠNG 6 CHẤT KHÍ, VẬT LÝ 10 NÂNG CAO



Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS-GVC Trần Quốc Tuấn Trang Như Hải

Lớp: SP Vật Lý K33

Cần Thơ, tháng 5/2011

Trang 2

Cuối lời xin chúc thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe

và công tác tốt

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhƣng cũng không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận đƣợc những ý kiến quý báu của quý thầy cô và bạn bè để đề tài đƣợc phong phú và hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

SVTH: Trang Nhƣ Hải

Trang 3

MỤC LỤC

Phần mở đầu 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích của đề tài 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Giả thuyết khoa học 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 8

8 Các từ viết tắt 8

Phần nội dung 9

Chương 1 Đổi mới PPDH VL ở THPT 1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH Vật Lí 9

1.2 Đổi mới PPDH môn VL ở trường THPT 9

1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 9

1.2.2 Những định hướng đổi mới PPDH theo chương trình THPT mới 10

1.3 Đổi mới việc thiết kế bài học (soạn GA) 12

1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA 12

1.3.2 Các bước soạn GA 13

1.3.3 Nội dung của việc soạn GA 13

1.3.4 Giới thiệu một số kế hoạch bài dạy 14

1.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 16

1.4.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá 16

1.4.2 Các hình thức kiểm tra 17

1.4.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 17

1.4.4 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 19

Chuơng 2 Định hướng HS giải quyết các vấn đề học tập 2.1 Những cơ sở lý luận về hoạt động học của HS 22

2.1.1 Khái niệm hoạt động học 22

2.1.2 Đối tượng của hoạt động học 23

2.1.3 Bản chất của hoạt động học 22

Trang 4

2.1.4 Cấu trúc của hoạt động học 23

2.2 Định hướng HS giải quyết các vấn đề học tập 29

2.2.1 Định hướng HS tự lực học tập 39

2.2.2 Các bước soạn thảo tiến trình dạy học giúp HS giải quyết các vấn đề học tập bằng định hướng của GV 39

2.3 Phương pháp giải quyết vấn đề - bài toán 41

2.3.1 Khái niệm 41

2.3.2 Cấu trúc phương pháp dạy học nêu vấn đề 42

2.3.3 Tổ chức tình huống học tập 44

2.3.4 Các kiểu hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 46

2.3.5 Dạy học nêu vấn đề trong dạy học VL 48

2.3.6 Xây dựng tình huống có vấn đề 49

2.4 Phương pháp thực nghiệm 51

2.4.1 Vai trò của phương pháp thực nghiệm 51

2.4.2 Khái niệm phương pháp thực nghiệm 51

2.4.3 Phương pháp thưc nghiệm trong dạy học Vật Lý 52

Chương 3 Giới thiệu phần mềm Physics 2.1 - Part 1 3.1 Khả năng hỗ trợ của PMDH VL đối với vấn đề đổi mới PPDH 57

3.2 Giao diện 58

3.3 Chức năng, nội dung 59

3.4 Ưu điểm 61

Chương 4 Sử dụng phần mềm Physics 2.1 - Part 1 thiết kế một số bài học trong chươngVI Chất khí, VL 10 NC 4.1 Đại cương về chương 62

4.1.1 Mục tiêu của chương 62

4.1.2 Cấu trúc nội dung của chương 62

4.2 Thiết kế một số bài học trong chương 63

4.2.1 Thuyết động học phân tử chất khí Cấu tạo chất 64

4.2.2 Định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt 72

4.2.3 Định luật Sác-lơ 77

4.2.4 Phương trình trạng thái của khí lý tưởng Định luật Gay Luy-xác 86

Chuơng 5 Thực nghiệm sư phạm

Trang 5

5.1 Mục đích 94

5.2 Đối tượng thực nghiệm 94

5.3 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 94

5.4 Tiến hành thực nghiệm 94

5.5 Bổ sung thực nghiệm 97

5.6 Kết quả thực nghiệm 97

Phần kết luận và kiến nghị 99

Tài liệu tham khảo 100

Phụ lục 1 102

Phụ lục 2 108

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GVHD

.,Ngày Tháng Năm

ThS-GVC Trần Quốc Tuấn

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chúng ta đã biết vào thế kỷ XXI cả nước đang nỗ lực phấn đấu để đến năm 20

của thế kỷ sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trước những yêu cầu đó, GD phải đổi mới toàn diện cả về nội dung, PP nhằm

đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng được nhu cầu của xã hội Như hội

nghị lần thứ hai BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đã nêu ra: “Nhiệm vụ

và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người có ý thức cộng

đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ

hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi…”, để đạt được mục tiêu đề

ra, hội nghị cũng đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc

phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học

Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy

học…”.[9, tr 49]

Ngày nay, các phương tiện dạy học hiện đại như máy vi tính, máy chiếu, phần

mềm dạy học…đã được trang bị tương đối đầy đủ cho các trường phổ thông và các

phương tiện dạy học này có vai trò hỗ trợ rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả và

chất lượng các hoạt động DH

Cá nhân phải bồi dưỡng và phát triển năng lực giảng dạy vật lý

Với những lý do trên, nên tôi chọn đề tài: “Sử dụng phần mềm Physics 2.1- Part

1 hỗ trợ việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập khi giảng dạy

chương 6 Chất khí, VL 10 NC”

2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

● Nghiên cứu đổi mới PPDH VL phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng

tạo trong học tập của học sinh

● Nghiên cứu cách sử dụng phần mềm Physics 2.1- Part 1 nhằm hỗ trợ việc định

hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

● Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học vật lý của giáo viên và học sinh

trong việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập

● Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giảng dạy chương 6 Chất khí, VL 10 NC

Trang 8

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

● Có thể nghiên cứu việc sử dụng phần mềm Physics 2.1- Part 1 hỗ trợ việc định

hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập

● Có thể vận dụng soạn giáo án

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

● Nghiên cứu cách dùng phần mềm Physics 2.1- Part 1

● Nghiên cứu việc định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập từ đó đưa

ra quy trình thực hiện

● Thiết kế một số bài học theo hướng của đề tài

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIỆN CỨU

● Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu bồi dưỡng giáo viên 10, 11, 12,

các tài liệu về phương pháp dạy học vật lý của các tác giả như Nguyễn Đức Thâm,

Phạm Hữu Tòng, Trần Quốc Tuấn

● Thực nghiêm sư phạm nhằm kiểm tra và điều chỉnh việc định hướng học sinh

giải quyết các vấn đề học tập

7 CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Bước 1: Trao đổi với thầy hướng dẫn và nhận đề tài

Bước 2: Viết đề cương chi tiết

Bước 3: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết

Bước 4: Nghiên cứu chương Chất khí và thiết kế một số bài học trong chương

Bước 5: Viết luận văn hoàn chỉnh

Bước 6: Bảo vệ luận văn.

8 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH VL Ở THPT

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số

16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu : “Phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng

môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học ; bồi dưỡng

cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác ; rèn luyện kĩ năng vận dụng

kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách

nhiệm học tập cho học sinh”

Nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ : “Đổi mới

mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc thụ lối truyền thụ một chiều và rèn

luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương

pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời

gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh

mẽ phong trào tự học, tự đào tạo”

Tóm lại: Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là

thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy

học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo

và có hứng thú trong học tập

1.2 ĐỔI MỚI PPDH VL MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT

1.2.1 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học

a/ Khắc phục lối truyền thụ một chiều

Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo

dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là : “ GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm

mẫu, kiểm tra, đánh giá ; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ và

nhắc lại”

Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới phương pháp dạy học Tư tưởng

chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học

tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực

nghiệm Bất kì ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải

Trang 10

quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết

vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS

Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động

nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần

phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt

quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm

phải đổi mới để tạo diều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học

b/ Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS

Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc HT nào

đều phải thông qua tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền

vững Ngay trên ghế nhà trường HS đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực

hoạt động nhận thức

c/ Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học

Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan

trọng nhất là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham

gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải

quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng

cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép

buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ

chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt

động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực

d/ Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện DH hiện đại vào quá trình DH

Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối

thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí

thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của

J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy

học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan

1.2.2 Những định hướng đổi mới PPDH theo chương trình THPT mới

a/ Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ

chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề HT

Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn

chú ý giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã

Trang 11

viết đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí GV nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống

hệt trên bảng

Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ,

chờ GV giảng giải, tóm tắt đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm

việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu

Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn

là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trong hơn là khi quen với

cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích

cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu

học sinh tự học ở lớp và ở nhà GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể

hiểu được kiên quyết không làm thay HS điều gì mà họ có thể tự làm được trên

lớp hay ở nhà

Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn đề

học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là

có thể hoàn thành được

b/ Áp dụng rộng rãi kiểu DH nêu và giải quyết vấn đề

Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà

khoa học, GV vừa tạo cho HS nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo ; vừa rèn luyện

cho họ khả năng sáng tạo

Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức

được sự mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã

có của mình không đủ để giải quyết

Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa

ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã

biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình

không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát

từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh

mẽ hơn cả

Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề

Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo

quy trình chung như sau:

Trang 12

+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi

+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát + Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế

+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không

Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải

xây dựng dự đoán mới

+ Phát biểu kết luận

c/ Rèn cho HS PP nhận thức VL

Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương

pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mề mẫm, ngẫu nhiên

- Về phương pháp thực nghiệm: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông

tin hoặc củng cố bảng số liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin

rút ra kết quả nên dành cho HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu

HS đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể

làm thí nghiệm biểu diễn

- Về phương pháp mô hình : Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu

diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh

- Về phương pháp tương tự : Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức

khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức

mới về đối tượng khảo sát

Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn cơ bản sau :

- Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối

tượng đã biết định đem đối chiếu

- Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau Kiểm tra

xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng đã biết

- Chuyển dấu hiệu khác biệt của đối tượng đã biết cho đối tượng nghiên cứu

bằng suy luận tương tự

- Kiểm tra tính đúng đắn của các kết luận thu được (hoặc các hệ quả của chúng)

bằng thực nghiệm ở chính đối tượng nghiên cứu [ 9, tr 50]

1.3 ĐỔI MỚI VIỆC THIẾT KẾ BÀI HỌC (SOẠN GA)

1.3.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA

Trang 13

- Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt

động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV

- Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

+ Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những KT, KN nào? Mức độ đến đâu?

+ Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường

nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó

của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?

+ GV phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những

kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?

+ Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?

1.3.2 Các bước soạn giáo án

- Xác định mục têu bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái

độ trong chương trình

- Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ những

nội dung của bài học, xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình

thành và phát triển ở HS, xác định trình tự logic của bài học

- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS:

+ Xác định những kiến thức và kĩ năng mà HS đã có và cần có

+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án

giải quyết

- Lựa chọn phương pháp dạy học; phương tiện ; thiết bị dạy học; hình thức tổ

chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS tích cực, chủ động,

sáng tạo, phát triển năng lực tự học

- Xây dựng kế hoạch bài học: xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ,

cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và

hoạt động học của HS

1.3.3 Nội dung của việc soạn giáo án

- Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến

thức, kĩ năng, thái độ

- Xác định những nội dung kiến thức của bài học

- Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các dạy học cần sử dụng

Trang 14

- Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học

- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

- Soạn nội dung bài tập về nhà

Một số hình thức trình bày giáo án

- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới

- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động

của HS

- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc

tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện

- Viết 4 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội

dung chính và thời gian thực hiện

1.3.4 Giới thiệu một số kế hoạch bài dạy

a/ Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học

* Hoạt động : Kiểm tra kiến thức cũ

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

-Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

-Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá

* Hoạt động : Tiếp nhận nhiệm vụ HT

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

- Quan sát, theo dõi giáo viên đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ HT

- Tạo tình huống HT

- Trao nhiệm vụ HT

* Hoạt động : Thu thập thông tin

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

-Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu

-Yêu cầu HS hoạt động

-Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu

-Giảng sơ lược nếu cần thiết

-Làm thí nghiệm biểu diễn

-Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu

-Chủ động về thời gian

* Hoạt động : Xử lí thông tin

Trang 15

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

-Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá

nhân

-Tìm hiểu các thông tin liên quan

-Lập bảng, vẽ đồ thị …nhận xét về

tính quy luật của hiện tượng

-Trả lời các câu hỏi của GV

-Tranh luận với bạn bè trong nhóm

hoặc trong lớp

- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những

thông tin thu được

-Đánh giá nhận xét, kết luận của HS

-Đàm thoại gợi mở, chất vấn HS

-Hướng dẫn HS cách lập bảng, vẽ đồ thị và rút ra nhận xét, kết luận

-Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp

-Tổ chức hợp thức hóa kết luận

-Hợp thức về thời gian

* Hoạt động : Truyền đạt thông tin

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

-Trả lời câu hỏi

-Giải thích các vấn đề

-Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận

-Báo cáo kết quả

-Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề

-Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ

-Hướng dẫn mẫu báo cáo

* Hoạt động : Củng cố bài giảng

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

-Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

Hoạt động của HS Hoạt động của GV

-Ghi câu hỏi bài tập về nhà

-Ghi những chuẩn bị cho bài sau

-Nêu câu hỏi, bài tập về nhà

-Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau

b/ Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập

Tên bài : ………

Tiết : ………theo phân phối chương trình

A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ )

1 Kiến thức

2 Kĩ năng

Trang 16

D Rút kinh nghiệm

Ghi những nhận xét của giáo viên sau khi dạy xong [9, tr 12 - 15]

c/ Những câu hỏi thảo luận về kế hoạch bài học

- Theo bạn một kế hoạch BD có cấu trúc như thế nào thì thích hợp, nêu lí do?

- Mục tiêu bài dạy và sự chuẩn bị cần thể hiện như thế nào trong bài soạn nhất là

những phần có ứng dụng công nghệ thông tin ?

- Thông thường trong một tiết dạy có những hoạt động HT nào? Thể hiện hoạt

động học tập của HS và trợ giúp của GV như thế nào trong bài soạn

- Nêu các kĩ thuật củng cố bài giảng mà bạn đã vận dụng trong quá trình DH

- Làm thế nào để xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản trong bài phù hợp đối tượng

HS ở các vùng miền thích hợp trong một tiết dạy

- Hãy soạn một bài theo phân phối chương trình và đối tượng đã lựa chọn

1.4 ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ

1.4.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá

- Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức

người học, điều chỉnh quá trình dạy và học ; là động lực để đổi mới phương pháp

dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu

giáo dục

- Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình : đánh giá từng nội dung,

Trang 17

từng bài học, từng hoạt động giáo dục, tùng môn học và đánh giá toàn diện theo

mục tiêu giáo dục Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn

giáo dục mà trong cả quá trình Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan,

công bằng, minh bạch ; phối hợp hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn

đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra, đánh giá ;

khắc phục tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho HS thói quen học đối phó, học tủ,

học lệch, học không “tư duy”

1.4.2 Các hình thức kiểm tra

Hình thức kiểm tra thông dụng là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm cơ bản

là trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm)

* Tự luận: là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi gồm các câu hỏi

dạng mở yêu cầu thí sinh phải trình bày nội dung trả lời các câu hỏi trong một bài viết

để giải quyết vấn đề nêu ra

*Trắc nghiệm - Các hình thức trắc nghiệm

Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường

gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết

yêu cầu thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu hỏi Trắc nghiệm gồm các

dạng sau:

- Trắc nghiệm đúng sai

- Trắc nghiệm điền khuyết

- Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)

- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn) và phần

thông tin

- Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục PT

- Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút

- Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương, phần,

môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có : kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở

lên, kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm

1.4.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá

* Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá

- Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học ; kết quả kiểm tra, thi đủ

Trang 18

độ tin cậy để xét lên lớp, tốt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh

- Tạo động lực đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng

dạy học

- Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học

* Yêu cầu kiểm tra, đánh giá

- Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học ở từng lớp ; yêu cầu

cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn,

mỗi cấp học

- Phối hợp kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của GV và

tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng

đồng

- Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên HS, giúp HS sửa chữa

thiếu sót

- Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích HT của HS mà còn

bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học

- Đánh giá kết quả HT của HS, thành tích HT của HS không chỉ đánh giá kết quả

cuối cùng mà chú ý cả quả trình HT Tạo điều kiện cho HS cùng tham gia xác định

tiêu chí đánh giá kết quả HT

- Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hành chương trình, kế hoạch giảng dạy, HT

của các nhà trường ; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên,

định kì

- Từng bước nâng cao chất lượng đề kiểm tra, thi đảm bảo vừa đánh giá được

đúng chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hóa cao

- Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương

của các đề thi

- Đa dạng hóa công cụ đánh giá ; sử dụng tối đa công nghệ thông tin trong quy

trình tổ chức, kiểm tra, đánh giá

* Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá

- Đảm bảo tính toàn diện

- Đảm bảo độ tin cậy

- Đảm thi tính khả thi

Trang 19

- Đảm bảo yêu cầu phân hóa

- Đảm bảo hiệu quả cao

1.4.4 Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra

Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là : lĩnh vực về nhận

thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ

a/ Nhận biết: là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là

một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt

dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng

một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng

Có thể cụ thể mức độ nhận biết bắng các động từ :

- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất

- Nhận dạng (không cần giải thích ) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương

đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản

- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các

yếu tố

Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu

bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể

tên, cái gì, bao nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS

về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm .Việc trả lời các câu

hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua

b/ Thông hiểu: là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm,

hiện tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được ; là mức độ cao hơn nhận

biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan

đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học

hoặc đã biết

Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu

bằng các động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào hoặc các từ hỏi “tại

sao?”, “nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết

nối các dữ kiện, số liệu .Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả

năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ

bản trong nội dung đang học

c/ Vận dụng: là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể

Trang 20

mới : vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra ; là khả năng

đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay

ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu

hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải

thích (trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng

các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện

mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các

quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng

phương án này vào thực tiễn

d/ Phân tích: là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin

nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ

thuộc lẫn nhau giữa chúng

Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng

các động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại

câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận,

tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân

tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải

hoặc đưa ra kết luận

e/ Tổng hợp: là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các

nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ

thể hóa mức độ tổng hợp bằng các động từ :

- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh

- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể

- Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết

ban đầu

Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn

đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa

ra những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình

Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán,

giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng

hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý

Trang 21

tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung

f/ Đánh giá: là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định,

xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến

thức Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc

đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các

tiêu chí nhất định

Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý

kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra

Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao

sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV

đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà

HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong,

GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời

chưa đúng

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐỊNH HƯỚNG HS GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ HT

2.1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HS

2.1.1 Khái niệm hoạt động học

Học là quá trình con người tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ

sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa

học ở trong nhà trường

Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù trong nhà trường mới có khả năng tổ

chức để cá nhân tiến hành hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri

thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học

sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn

theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

2.1.2 Đối tượng của hoạt động học

Nếu gọi chủ thể của hoạt động học là người học, thì đối tượng của hoạt động học

hướng tới đó là tri thức Nhưng tri thức mà HS phải học được lựa chọn từ những

khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học

tương ứng, và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: kiến thức, kĩ năng, thái

độ Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa

học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động

nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ

trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân

lý khoa học mà loài người chưa biết đến Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là

cái mới với cá nhân nhưng không mới đối với nhân loại

2.1.3 Bản chất của hoạt động học

Hoạt động học tập hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây

hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường

đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ

việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy

động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, ), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc

tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người

học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải

có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Hoạt động

học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa là việc học không

Trang 23

chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến

những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá,

hệ thống hoá Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân

hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học,

phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học

Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi HS Do đó nó giữ vai trò chủ

đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này

2.1.4 Cấu trúc của hoạt động học

A.N.Leonchep đã nêu cấu trúc của hoạt động bao gồm 6 thành tố Trong đó có 3

thành tố thuộc về chủ thể là: hoạt động - hành động - thao tác Ba thành tố thuộc về

khách thể đó là: động cơ - mục đích - phương tiện và được khái quát theo sơ đồ

Sơ đồ cấu trúc hoạt động học

Các thành tố luôn có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau trong sự

tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể Điều đó được biểu hiện cụ thể như sau:

Mỗi hoạt động được hợp thành bởi nhiều hành động và mỗi hành động được thực

hiện bằng nhiều thao tác khác nhau Hoạt động nào cũng được thúc đẩy bởi một

động cơ nhất định là mục đích chung của hoạt động Để đạt được mục đích con

người phải sử dụng các phương tiện, tùy theo điều kiện phương tiện mà con người

thực hiện các thao tác để tạo ra sản phẩm của hoạt động Vận dụng vào trong dạy

học ta thấy rằng, muốn hình thành hoạt động cần phải hình thành cho người học

Trang 24

các thành tố của hoạt động học: động cơ, mục đích học tập để qua đó hình thành

thao tác, hành động và hoạt động học

a Hình thành và duy trì động cơ học tập

Động cơ học tập là những gì thôi thúc HS thực hiện các hoạt động học tập một

cách vô thức hoặc hữu ý Để hình thành hoạt động học, trước hết phải nói đến sự

hình thành động cơ học tập Hoạt động học với chủ thể là người học, còn đối tượng

của nó là những tri thức khoa học, với mục tiêu cuối cùng là hình thành nhân cách

cho người học Chủ thể khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức thì chính tri

thức đó trở thành cái tinh thần, thôi thúc người học Vì vậy có thể hiểu động cơ học

tập là sức mạnh tinh thần điều khiển, điều chỉnh hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri

thức khoa học, để thoả mãn nhu cầu nào đó của người học Động cơ của hoạt động

học tập ở HS được hiện thân ở những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo dục ở nhà

trường mang lại cho các em

Trong thực tiễn giáo dục, một cách tương đối, động cơ học tập được chia thành

hai loại: Động cơ chủ quan và động cơ khách quan

- Động cơ chủ quan là lòng ham mê, khát khao mở rộng tri thức, say mê với

những môn học là đối tượng đích thực của hoạt động học tập Nó kích thích sự tự

giác, tích cực của người học, thúc đẩy sự hình thành và duy trì hoạt động học và sau

khi hoạt động học kết thúc người học thoả mãn nhu cầu về đối tượng học do tiếp

nhận được những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mong muốn Hoạt động học tập được

thúc đẩy bởi động cơ này nó không chứa những mâu thuẫn bên trong và nó đòi hỏi

phải có những nỗ lực ý chí để đạt được nguyện vọng chứ không phải hướng vào đấu

tranh với chính bản thân mình.

- Động cơ khách quan là động cơ thoả mãn nhu cầu không nằm trong đối tượng

học như sự thưởng phạt hoặc đe doạ, những áp lực gia đình, nhà trường, công

việc, ở mức độ nào đó động cơ này mang tính cưỡng bức và có lúc xuất hiện như

một vật cản cần khắc phục để vượt qua đạt được mục đích của mình

Xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định

Mục đích của hoạt động học hướng đến là những tri thức, thì chính các tri thức trở

thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ chủ quan là động cơ chính của hoạt động

học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ khách quan luôn tồn tại và song hành

với động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một bộ phận của động cơ chủ quan Khi

Trang 25

động cơ chủ quan được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ khách quan cũng

được thoả mãn Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và

trong từng hoàn cảnh cụ thể mà động cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan

trọng hơn

Trong dạy học để hình thành động cơ học tập cho HS, GV thường phải đưa HS

vào các tình huống học tập cưỡng bức có mục đích (HS phải học), từ đó củng cố và

mở rộng ý nghĩa kết quả học tập đạt được để hình thành ý thức cho HS về nhu cầu

hoàn thiện tri thức Khi có nhu cầu này tình huống học tập trở thành tình huống học

tập tự giác có mục đích được kích thích bởi động cơ chủ quan của chủ thể (HS thích

học) và nếu có được điều kiện thuận lợi hoạt động HT của HS sẽ được hình thành

Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều yếu tố ngoài tầm kiểm soát của GV ảnh

hưởng tiêu cực đến động cơ học tập của HS như gia đình, bạn bè, GV cũ, kiến thức

tương tự đã học do đó GV phải có những biện pháp thiết thực để liên tục hình

thành và duy trì động cơ học tập cho HS, đặc biệt là các động cơ mang tính cuỡng

bức Chúng ta có thể sử dụng các nhân tố sau:

Mức độ tập trung của HS: là nhân tố mà GV có thể kiểm soát được trong giờ học

bằng các biện pháp sau, tuy nhiên cũng cần lưu ý tập trung ở mức độ vừa phải là

cần thiết để tăng cường động lực học tập nhưng tập trung quá cao độ sẽ bị căng

thẳng còn ít chú ý thì không tiếp thu được:

- Gần gũi với HS, đến gần hoặc ngồi cạnh HS ít tập trung để tăng sự chú ý của

HS và tìm hiểu chúng đang làm gì

- Giới hạn hoặc tăng thời gian chuẩn bị của HS

- Im lặng trong thời gian lâu

- Đặt câu hỏi cho cả nhóm, cả lớp để tất cả HS sinh đều suy nghĩ, tránh gọi HS

trước khi đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS suy nghĩ trước khi trả lời vì trong

thời gian chờ số HS có gắng suy nghĩ về câu trả lời sẽ gia tăng và GV cũng có nhiều

đáp án khác nhau

- Không nên ra điều kiện mà nên yêu cầu (thay vì hỏi ai có thể ? Em nào xung

phong ? Chúng ta có thể yêu cầu các em hãy suy nghĩ và giải thích cho thầy (cô)

biết tại sao ?)

Sắc thái tình cảm của HS: là một nhân tố cho GV biết được HS đã sẵn sàng học

tập hay chưa, nó thường biểu hiện qua các trạng thái thích thú, trung hoà, chán nản

Trang 26

HS sẽ nỗ lực nhiều nhất khí chúng cảm thấy thích thú trong việc học Trong dạy học

GV phải cố gắng để nhận biết các trạng thái trên của HS và khéo léo tạo ra các trạng

thái cần thiết để tăng cường động cơ học tập bằng các biện pháp:

- Tạo bầu không khí thoải mái để HS cảm thấy an tâm khi học tập

- Tạo cho HS cảm giác mình là người quan trong trong lớp học

- Sử dụng tính hài hước trong giờ học

- Tạo cảm giác ép buộc một cách phù hợp đối với những HS hứng thú nhưng

không chịu học

- Đưa ra những nhận xét có tính chất khuyến khích HS

Sự thành công trong học tập của HS cũng là một nhân tố góp phần làm tăng và

duy trì động cơ học tập Ngoài khả năng và nỗ lực của HS còn có một số yếu tố làm

nên sự thành công trong việc học mà GV kiểm soát được đó là mức độ khó hay dễ

của vấn đề được đưa ra và khả năng hướng dẫn của GV Do đó, GV phải biết mức

độ nào là thích hợp đối với HS và đưa ra những vấn đề có độ khó hợp lý sao có HS

có thể đạt được

Sự thích thú của HS đối với bài giảng là nhân tố phát sinh trong quá trình học

tập và GV có thể tạo ra sự thích thú bằng các cách:

- Làm cho HS thích thú với chính mình như: dùng tên HS trong các ví dụ mang

tính tích cực, liên hệ bài giảng với thực tế cuộc sống của HS, dùng các ví dụ đề cập

đến các hoạt động mà HS đã thực hiện trong lớp học, khen ngợi HS

- Tăng cường tính thiết thực của hoạt động dạy và học

- Tạo ra sự đa dạng trong cách dạy như: thay đổi giọng điệu hoặc vị trí để thu

hút HS, sử dụng phim, băng video, internet, sử dụng các phần mềm dạy học

Sự nhận biết kết quả học tập: kết quả học tập ở đây không chỉ là điểm số mà còn

là thông tin về bài làm của HS ,vì khi thực hiện xong các NV HS luôn có mong

muốn biết được chúng đã làm đúng hay không, làm đúng những chỗ nào, chổ nào

cần chỉnh sửa và làm gì để sửa sai Khi HS cảm thấy mình có khả năng làm được

thì chúng sẽ cố gắng hoàn thiện hơn, động cơ học tập được duy trì Do đó GV có

thể:

- Cho HS biết được kết quả của mình một cách chi tiết bằng lời nói hay viết

trong bài làm của HS

Trang 27

- Khuyến khích khả năng tư duy bằng cách yêu cầu HS nhận xét, giải thích về

kết quả tìm được hay tìm cách làm khác

b Mục đích học tập

Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu là cái mà hành động đang diễn

ra hướng tới Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành dưới

các hành động học Vậy mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các giá trị,

các chuẩn mực mà các hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được nó

Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới các

dạng là các biểu tượng sau đó được tổ chức để hiện thực hoá biểu tượng trên thực

tế Mục đích của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều nó có

tính đặc thù riêng đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là để thay đổi

chính chủ thể ở đây là người học Và mục đích này chỉ có thể được bắt đầu hình

thành khi chủ thể bắt đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của mình Trên

con đường chiếm lĩnh đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá giữa mục đích

và phương tiện học tập Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ nó lại trở thành

công cụ để chiếm lĩnh các mục đích tiếp theo

c Hình thành hành động và thao tác học

Học tập là một quá trình do đó khi nói đến hoạt động học phải nói đến sự hình

thành các hành động học Đây là chìa khoá dẫn đến thành công trong dạy học vì

hình thành được hành động học sẽ có thể hình thành hoạt động học Bên cạnh đó, từ

hành động học có thể rèn luyện để thành thao tác cho hành động khác Trong các

hành động có hành động vật chất - là tác dụng trực tiếp lên đối tuợng để nhận biết

các đặc tính của đối tượng và hành động trí tuệ - là so sánh phân tích, suy

luận diễn ra trong bộ não để rút ra kết luận chung về đối tượng Trong khi hành

động con người thực hiện những thao tác ứng với hành động vật chất là thao tác

chân tay và ứng với hành động trí tuệ là thao tác trí tuệ Để hình thành hành động

học cho HS trước hết phải xác định mục đích học tập và giúp HS ý thức được mục

đích đó Bước tiếp theo là huy động các thao tác và phương tiện kĩ thuật để thực

hiện mục đích đã được ý thức theo hai con đường :

- Con đường thứ nhất: Hình thành hành động thông qua hoạt động chơi Khi

chơi trẻ hình thành các hành động chơi có bản chất rất gần với hành động học Ban

đầu các thao tác chơi được trẻ chú ý sau đó nội dung và quy tắc chơi được trẻ em ý

Trang 28

thức và chuyển thành mục đích của việc chơi Từ đó hành động chơi được hình

thành và làm xuất hiện các yếu tiền đề tâm lý của hành động học Đây là cơ sở của

nguyên tắc “học mà chơi, chơi mà học”

- Con đường thứ hai: Chuyển hoá hoạt động học thành hành động học, trên cơ sở

chuyển hoá động cơ thành mục đích Cơ sở tâm lý của việc làm này là sự phát triển

không ngừng của nhu cầu học tập của người học, trong đó các nhu cầu ban đầu đã

chuyển chức năng và trở thành phương tiện để thực hiện nhu cầu học tập cao hơn,

tức là phục vụ cho động cơ mới, từ đó xuất hiện hành động học tập mới Việc hình

thành thao tác học cũng được thực hiện theo cơ chế chuyển hoá hành động học

thành thao tác học Quá trình này được thực hiện trên hai phương diện: luyện tập và

rút gọn hành động học tập tới mức thành thạo sau đó đưa thao tác đó vào trong hành

động khác Hay nói cách khác trong dạy học bất kỳ khái niệm nào cũng phải được

hình thành như một hành động học tập và trở thành phương tiện để hình thành khái

niệm tiếp theo Đây là cơ sở của nguyên tắc “Học đi đôi với hành”

d Phương tiện và điều kiện học tập

Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, và chủ thể phải có

những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt

động học tập, ngoài những phương tiện vật chất như: giấy, bút, sách, giáo trình,

máy tính còn có phương tiện học tập được hình thành chính trong quá trình chủ

thể tham gia hoạt động học tập Đó là các hành động học tập: so sánh, phân loại,

phân tích, khái quát hoá Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân loại là những

hành động học tập là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những khái niệm kinh

nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành nên những khái

niệm khoa học Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư

duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết

Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó Điều kiện đầu tiên

đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn của

thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình Và điều kiện thứ hai đó là có sự vận động

của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực Đó là những tri thức mà

người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú

của người học Có đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có

thầy với trò, hay không có đối mặt với thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học

Trang 29

vẫn diễn ra Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu

tố nội lực thông qua hoạt động dạy và học Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai

trò quan trọng trong hoạt động học của người học

2.2 ĐỊNH HƯỚNG HỌC SINH GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ HỌC TẬP

2.2.1 Định hướng học sinh giải quyết các vấn đề học tập

a/ Lý do phải định hướng cho học sinh giải quyết các vấn đề học tập

Trong thực tế, không có ai không nhờ người khác mà biết được phần lớn những

gì mình biết Trước tiên, người ta học mẹ, cha, anh, chị ., rồi đến những người

sống quanh Và nếu có ai không được một người thầy trực tiếp dạy bảo cho một cái

gì đấy, thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng cách sống và cách

hành động của họ Hoạt động học không chỉ diễn ra trong phạm vi và trong thời

gian đến trường vì nhu cầu học luôn gắn kết với nhu cầu làm, nhu cầu sống của con

người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ, mọi ngành nghề, mọi vị trí xã hội, mọi thời đại

Do đó khi còn ngồi trên ghế nhà trường thì việc hướng dẫn cho HS tự lực học tập để

các em học thật, làm thật, tích cực tự học, tự làm dưới sự hướng dẫn của thầy, mới

tự trang bị cho mình kỹ năng học, kỹ năng làm, kỹ năng sáng tạo và kỹ năng sống -

những kỹ năng tối cần thiết cho con người tiếp tục tự học suốt đời

Theo L.X.Vygotski “Trẻ em không thể tự mình trực tiếp lĩnh hội kinh nghiệm

xã hội - lịch sử Để làm được việc này, trẻ em phải gián tiếp thông qua người lớn,

thông qua hoạt động hợp tác giữa trẻ em với người lớn” Trong dạy học cũng vậy,

HS không có đủ thời gian và khả năng để hoàn toàn tự lực học tập Do đó cần phải

có sự giúp đỡ, định hướng của GV để có thể thực hiện NV học tập Điều đó chắc

chắn sẽ đem lại hiệu quả cao hơn việc các em tự mò mẫm đi đến kiến thức

Tâm lý học và lý luận dạy học hiện đại cũng khẳng định: “Cách tốt nhất để nắm

vững được những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm là người học tái tạo ra chúng thông

qua hoạt động tự lực của bản thân”; “Con đường có hiệu quả nhất để làm HS nắm

vững kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo, là phải đưa HS vào vị trí chủ thể

nhận thức” GV là người tạo những điều kiện tốt nhất cho HS hoạt động, còn HS

phải tự lực hoạt động để tạo ra những kiến thức và năng lực mà loài người tích luỹ

để biến chúng thành của mình

Những lập luận trên cho thấy sự định hướng của GV giúp HS tự lực học tập là

một trong những cách tốt để HS chiếm lĩnh tri thức

Trang 30

b/ Các hành động trong học tập môn vật lý

Để chiếm lĩnh kiến thức đó HS cần tiến hành những hành động nào? Trong thực

tế có rất nhiều tình huống khác nhau và ứng với mỗi tình huống mỗi người học có

thể có những hành động khác nhau Trong học tập môn vật lý người học có thể thực

hiện các hành động sau

- Quan sát, nhận biết những dấu hiệu đặc trưng của sự vật, hiện tượng

- Tìm các dấu hiệu giống nhau của các sự vật, hiện tượng

- Đo một đại lượng vật lý

- Bố trí thí nghiệm để tạo ra hiện tượng trong những điều kiện nhất định

- Phân tích một hiện tượng phức tạp thành một hiện tượng đơn giản

- Xác định những giai đoạn diễn biến của hiện tượng

- Tìm những tính chất chung của nhiều sự vật hiện tượng

- Tìm các mối quan hệ khách quan, phổ biến, nhân quả giữa các sự vật hiện

tượng

- Tìm mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng vật lý, biểu diễn bằng công thức

toán học

- Xây dựng một giả thuyết

- Từ giả thuyết suy ra một hệ quả

- Lập phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết, hệ quả

- Tìm những biểu hiện cụ thể trong thực tế của các khái niệm, định luật vật lý

- Dự đoán diễn biến của một hiện tượng trong những điều kiện thực tế xác định

- Giải thích một hiện tượng thực tế

- Mô hình hoá những sự kiện thực tế quan sát được dưới dạng những khái niệm,

mô hình lý tưởng để sử dụng chúng làm công cụ tư duy

- Diễn đạt bằng lời các kết quả thu được qua hành động

- Đánh giá kết quả hành động

- Tìm phương pháp chung để giải quyết một loại vấn đề

c/ Các kiểu định hướng hành động học tập

Định hướng tái tạo là kiểu định hướng trong đó người dạy hướng HS vào việc

huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hành động mà HS đã nắm được hoặc

đã được người dạy chỉ ra một cách tường minh để HS có thể thực hiện được NV mà

họ đảm nhận Trong định hướng tái tạo cũng được chia làm hai mức độ:

Trang 31

- Định hướng tái tạo từng thao tác cụ thể, riêng rẽ Trong đó người học theo dõi,

thực hiện, bắt chước lặp lại những thao tác mẫu do người dạy chỉ ra

- Định hướng tái tạo Angôrit Người dạy chỉ ra một cách khái quát tổng thể trình

tự hành động để người học tự chủ giải quyết được NV

Định hướng tìm tòi là kiểu định hướng mà người dạy chỉ đưa ra những gợi ý

sao cho HS có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức

hoạt động để giải quyết NV mà họ đảm nhận

Định hướng khái quát chương trình hoá là kiểu định hướng hành động theo từng

bước, được chương trình hóa liên tiếp theo một trình tự chặt chẽ, phù hợp với trình

độ của HS Nó giúp HS biết hành động từng bước cụ thể, rõ ràng

d/ Định hướng hành động học tập cho nhóm

Trong dạy học nhóm lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ, số lượng HS mỗi

nhóm khoảng từ 4 đến 8 người, tuỳ từng vấn đề học tập và mục đích sư phạm mà

GV phân nhóm cho thích hợp Nhóm được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng

tiết học và các nhóm có thể được giao cùng NV hoặc các NV khác nhau Mỗi nhóm

đều có nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân chia công việc trong nhóm và điều

khiểu hoạt động của nhóm thực hiện NV được giao Mỗi nhóm được trình bày và

bảo vệ kết quả hoạt động của nhóm mình trước lớp

Dạy học nhóm có thể tổ chức theo ba giai đoạn: Giao NV; làm việc nhóm;

trình bày và đánh giá kết quả

Giao NV: Giai đoạn này được thực hiện trong toàn lớp, bao gồm những hoạt

động chính sau:

- Giới thiệu chủ đề chung của giờ học: thông thường GV thực hiện việc giới

thiệu chủ đề, NV chung cũng như những chỉ dẫn cần thiết, thông qua thuyết trình,

đàm thoại hay làm mẫu Đôi khi việc này cũng được giao cho HS trình bày với điều

kiện là đã có sự thống nhất và chuẩn bị từ trước cùng GV

- Xác định NV của các nhóm: xác định và giải thích NV cụ thể của các nhóm,

xác định rõ những mục tiêu cụ thể cần đạt đuợc Thông thường, NV của các nhóm

là giống nhau, nhưng cũng có thể khác nhau

- Thành lập các nhóm làm việc: có rất nhiều phương án thành lập nhóm khác

nhau Tuỳ theo mục tiêu dạy học để quyết định cách thành lập nhóm

Trang 32

Làm việc nhóm: Trong giai đoạn này các nhóm tự lực thực hiện NV đuợc giao,

trong đó có những hoạt động chính là:

Chuẩn bị chỗ làm việc nhóm: cần sắp xếp bàn ghế phù hợp với công việc nhóm,

sao cho các thành viên có thể đối diện nhau để thảo luận Cần làm nhanh để không

tốn thời gian và giữ trật tự

Lập kế hoạch làm việc:

- Chuẩn bị tài liệu học tập

- Đọc sơ qua tài liệu

- Làm rõ xem tất cả mọi người có hiểu các yêu cầu của NV hay không

- Phân công công việc trong nhóm

- Lập kế hoạch thời gian

Thoả thuận về quy tắc làm việc:

- Mỗi thành viên đều có phần NV của mình

- Từng người ghi lại kết quả làm việc

- Mỗi người trong nhóm phải lắng nghe những người khác

- Không ai được ngắt lời người khác

Tiến hành giải quyết NV:

- Đọc kỹ tài liệu

- Cá nhân thực hiện công việc đã phân công

- Thảo luận trong nhóm về việc giải quyết NV

- Sắp xếp kết quả công việc.

Chuẩn bị báo cáo kết quả trước lớp:

- Xác định nội dung, cách trình bày kết quả;

- Phân công các NV trình bày trong nhóm;

- Làm các hình ảnh minh họa;

- Quy định tiến trình bài trình bày của nhóm

Trình bày và đánh giá kết quả:

- Đại diện các nhóm trình bày kết quả trước toàn lớp: thông thường trình bày

miệng hoặc trình miệng với báo cáo viết kèm theo Có thể trình bày có minh hoạ

thông qua biểu diễn hoặc trình bày mẫu kết quả làm việc nhóm

- Kết quả trình bày của các nhóm được đánh giá và rút ra những kết luận cho

việc học tập tiếp theo

Trang 33

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy tính tích cực, tự lực và tính

trách nhiệm của HS, phát triển năng lực cộng tác làm việc, Tăng cường kết quả học

tập Tuy nhiên, dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều Thời gian 45 phút của một

tiết học cũng là một trở ngại trên con đường đạt được thành công cho công việc

nhóm Nếu được tổ chức và thực hiện kém, nó thường sẽ dẫn đến kết quả ngược lại

với những gì dự định sẽ đạt Kiểu tổ chức dạy học này đòi hỏi GV phải nắm vững

phương pháp, có năng lực lập kế hoạch và tổ chức, sự chuẩn bị chu đáo (nghiên cứu

nội dung có phù hợp với dạy học nhóm không, chia nhóm thế nào, giao NV chung

hay riêng, kê bàn ghế như thế nào ) còn HS phải có sự hiểu biết về phương pháp,

được luyện tập các quy tắc làm việc nhóm, kỹ thuật làm việc nhóm và thông thạo

cách học này

Như vậy, trong học tập nhóm, NV học tập được giao cho một hoặc nhiều nhóm

HS Trong mỗi nhóm các HS cùng hành động để thực hiện NV và cùng chịu trách

nhiệm về sản phẩm của nhóm mình Định hướng của GV trong dạy học nhóm

mang tính khái quát, chủ yếu thực hiện trong giai đoạn giao NV Trong giai đoạn

làm việc nhóm, GV chủ yếu quan sát, tìm hiểu ý kiến các nhóm, giúp đỡ từng nhóm

khi cần thiết Khi HS trình bày kết quả, GV đóng vai trò là trọng tài, định hướng để

giúp HS khẳng định, sữa chữa và thống nhất trong cả lớp Đặc biệt, trong tổ chức

dạy học nhóm, ngoài định hướng của GV và tự định hướng của mỗi cá nhân, còn có

sự định hướng của các thành viên trong nhóm, các nhóm trong lớp chủ yếu dưới

dạng tái tạo hoặc tìm tòi

e/ Câu hỏi và lệnh trong định hướng hành động học tập

Câu hỏi định hướng: Các câu hỏi định hướng phải đáp ứng được những yêu cầu

cơ bản: Câu hỏi phải được diễn đạt chính xác về ngữ pháp và nội dung khoa học;

Câu hỏi phải diễn đạt chính xác điều định hỏi; Nội dung câu hỏi phải đáp ứng đúng

đòi hỏi của sự định hướng hành động của HS trong tình huống đang xét, về kiểu

định hướng hành động dự định và sát hợp với việc thực hiện NV nhận thức đặt ra;

Câu hỏi phải vừa sức HS

Dựa vào các thao tác tư duy của HS trong quá trình học có thể sử dụng các loại

câu hỏi sau

- Câu hỏi so sánh: Những hiện tượng này có điểm nào giống (khác) nhau? giống

(khác) như thế nào?

Trang 34

- Câu hỏi phân loại: Ta có thể sắp xếp những sự vật (hiện tượng) trên vào những

nhóm nào?, Đặc trưng của các nhóm đó là gì?

- Câu hỏi quy nạp: Dựa vào những quan sát, số liệu, sự kiện sau , các em có

thể tiên đoán hoặc rút ra kết luận gì?

- Câu hỏi diễn dịch: Dựa vào quy luật này, các em có thể tiên đoán hoặc rút ra

kết luận gì về ?, Dựa vào quy luật này, các em hãy cho biết hiện tượng sẽ diễn ra

như thế nào nếu ?

- Câu hỏi phân tích lỗi: ý kiến, lập luận có chính xác không? Hãy chỉ ra điểm

chưa chính xác và cách sửa? dựa vào đâu để có thể nói được ý kiến, lập luận trên

đúng hay sai?

- Câu hỏi khái quát hoá: Các vấn đề trên có điểm gì chung? Kết luận này có thể

áp dụng cho những trường hợp nào?

- Câu hỏi phân tích quan điểm: Em có ý kiến gì về vấn đề này?, theo em hiện

tượng trên có ích hay hại, giải thích?

Việc sử dụng loại câu hỏi nào tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra, hành động, thao tác

mà GV mong muốn HS thực hiện

Lệnh: Lệnh là những điều GV yêu cầu HS thực hiện Trong lệnh thường có

hành động mà HS phải làm và các chỉ dẫn, yêu cầu khi tiến hành hành động

Ví du: - Đọc và tóm tắt bài tập 3, trang 230, SGK

- Viết biểu thức của phương trình Cla-pê-rôn - Men-đê-lê-ép và từ đó suy ra

biểu thức tính khối lượng khí

Lệnh mang tính cưỡng bức thực hiện hành động nhưng được dùng rất nhiều

trong dạy học Đặc biệt, với những HS yếu, những lúc bế tắc cần khơi gợi những

phương thức hành động cũ, lệnh là giải pháp định hướng hữu hiệu giúp HS thực

hiện hành động

Lệnh ít có tác dụng phát triển tư duy của HS vì hành động mà HS thực hiện vẫn

là làm theo Do đó, Trong dạy học thường phối hợp cả lệnh và câu hỏi để đảm bảo

các yêu cầu của định hướng

f/ Các phương tiện dạy học

Bên cạnh sử dụng câu hỏi và lệnh để thực hiện việc định hướng hành động, GV

có thể sử dụng các phương tiện học tập để hỗ trợ việc định hướng Phương tiện dạy

học là các phương tiện vật chất do GV và HS sử dụng dưới sự hướng dẫn của GV

Trang 35

nhằm đạt được mục đích dạy học Có rất nhiều các phương tiện học tập như: vật

thật, mô hình, thiết bị thí nghiệm, tranh, ảnh, biểu đồ, phấn - bảng, phiếu học tập,

sách vở, phim, các phần mềm hỗ trợ Các phương tiện học tập có thể dùng để tạo

động cơ học tập, định hướng hành động học, hình thành những kiến thức kĩ năng

mới, phát triển tư duy, ôn tập, mở rộng, hệ thống lại, kiểm tra những kiến thức, kĩ

năng mà HS thu được

Ngoài các phương tiện dạy học truyền thống, gần đây một số phương tiện khác

cũng được sử dụng rất nhiều đó là: phiếu học tập, phần mềm hỗ trợ dạy

Phiếu học tập là phương tiện được GV thiết kế sẵn trên giấy và giao cho cá nhân

HS và nhóm HS cùng thực hiện Nội dung của phiếu có thể là một hệ thống các câu

hỏi, một hệ thống các nhiệm vụ liên tiếp khi HS thực hiện xong sẽ lĩnh hội được tri

thức hoặc có thể là một nhiệm vụ, một bài tập, một vấn đề nào đó cần chuẩn bị để

trao đổi thảo luận trong nhóm hoặc dẫn dắt HS tới một kiến thức, tâp dượt một kỹ

năng, rèn luyện một thao tác tư duy hoặc thăm dề ý kiến trước về một vấn đề nào

đó việc thiết kế phiếu học tập cũng thể hiện khả năng sáng tạo của GV và qua đó

cũng có thể đánh giá được mức độ chuẩn bị của GV, tính logic, tính hệ thống của

bài dạy; sự phù hợp với đối tượng HS; tổng hợp các ý kiến; đánh giá được HS có

hiểu bài không

Các phần mềm hỗ trợ dạy học dùng để quản lý, xử lí số liệu, vẽ hình, tính toán,

ôn tập, kiểm tra kiến thức, mô phỏng các quá trình, hiện tượng, thí nghiệm là

những chương trình được lập trình sẵn nên các hành động trong đó diễn ra nhanh,

trực quan, sinh động đặc biệt mô tả được các hiện tượng trong thế giới vi mô mà

mắt thường không nhìn thấy được, giúp HS tiếp nhận kiến thức nhanh hơn Tuy

nhiên để sử dụng được các phần mềm này đòi hỏi phải có máy tính, máy chiếu và

GV phải thông thạo trong việc sử dụng máy tính và phần mềm

g/ Phối hợp các kiểu định hướng trong học tập

Các kiểu định hướng trên không hoàn toàn độc lập với nhau mà chúng có thể

đan xen vào nhau với các mức độ khác nhau Việc phân định ra các loại định hướng

riêng biệt chỉ nhằm giúp GV thấy rõ hoạt động định hướng cơ bản trong một giai

đoạn nhất định nào đó của quá trình dạy học.Trong quá trình tổ chức dạy học một

kiến thức cụ thể không thể luôn luôn định hướng theo một kiểu nào đó, có những

giai đoạn vẫn phải định hướng theo các kiểu khác.Vấn đề là “liều lượng” và sự phối

Trang 36

hợp chúng như thế nào cho phù hợp với nội dung kiến thức, với trình độ HS và cả

với các yếu tố khác như thời gian, cơ sở vật chất Việc định hướng có thể được thực

hiện từng bước, theo yêu cầu từ cao đến thấp; từ tổng quát đến bộ phận

h/ Định hướng HS học tập ở nhà

Tự lực học tập ở nhà là hoạt động không thể thiếu và bắt buộc trong quá trình

học tập của HS, hiện nay hoạt động này thường tồn tại ở hai dạng Một là ôn tập

kiến thức cũ và làm bài tập, hai là chuẩn bị bài mới Đối với môn vật lý hầu hết HS

mới thực hiện ở dạng đầu tiên, còn việc chuẩn bị bài mới rất ít HS thực hiện hoặc

chỉ thực hiện khi GV có những yêu cầu cụ thể Việc học và chuẩn bị bài ở nhà có

vai trò rất quan trọng, quyết định kết quả học tập của HS vì :

- Lượng kiến thức cần cung cấp cho HS trong một bài học nhiều, thời gian học

trên lớp chỉ giới hạn trong một hoặc hai tiết, khi tổ chức hoạt động học tập thường

mất nhiều thời gian, do đó HS không thể tiếp nhận toàn bộ kiến thức trên lớp mà

còn phải tự tìm hiểu ở nhà

- Quá trình rèn luyện các kỹ năng và ghi nhớ chỉ có thể được thực hiện được bởi

chính bản thân HS và cần có nhiều thời gian, lặp lại nhiều lần, nên không thể chỉ

rèn luyện trên lớp mà còn phải tự rèn luyện ở nhà

- Kiến thức mà HS tiếp nhận được trong quá trình rèn luyện và chuẩn bị ở nhà là

cơ sở để HS tích cực, chủ động tiếp nhận các kiến thức mới

Định hướng HS ôn tập và sử dụng kiến thức có hiệu quả: Các kiến thức được HS

tiếp thu ở trên lớp chỉ có thể tồn tại lại khi HS ghi nhớ và thường xuyên sử dụng nó

chuyển nó thành ngôn ngữ của bản thân Do đó GV có thể định hướng cho HS trình

bày lại kiến thức đã học theo nhiều cách như viết, vẽ, so sánh, phân loại, sơ đồ

hoá để HS nắm được kiến thức tổng quát và mối liên hệ của các kiến thức trong

bài, chương, phần GV có thể hướng dẫn HS ôn tập theo một số nguyên tắc sau :

- Trọng tâm hoá bài học: Chỉ cần nắm những điều trọng tâm nhất của bài học

- Cụ thể hoá bài học: Liên hệ bài học có nội dung trừu tượng với những hình ảnh

cụ thể hằng ngày

- Hệ thống hoá bài học: nhìn tổng quát bài học bằng một dàn bài

- Thích ứng hoá bài học: áp dụng tối đa bài học vào cuộc sống

- Vận dụng hết các giác quan: miệng đọc, mắt nhìn, tai nghe

- Thủ thuật hoá bài học: dùng các thủ thuật trí nhớ

Trang 37

Bên cạnh đó, việc giúp cho HS nhận thấy được vai trò to lớn của kiến thức trong

việc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong và ngoài nhà trường cũng rất quan trọng,

vì qua đó HS được củng cố niềm tin vào kiến thức và có hứng thú trong việc vận

dụng dụng kiến thức giải quyết các vấn đề đặt ra và chỉ khi đó kiến thức mới được

sử dụng có hiệu quả Muốn vậy GV phải thiết kế hệ thống bài tập gồm nhiều loại, từ

dễ đến khó, đồng thời định hướng cho HS nhận ra các vấn đề và cách giải quyết qua

các bài tập mẫu, để từ đó HS có thể tự lực thực hiện các bài tập của mình Cuối

cùng ở một mức độ cao hơn, GV có thể khuyến khích HS tự đưa ra những bài tập

sáng tạo của bản thân, nếu làm được như vậy thì có thể nói HS đã tiếp thu và sử

dụng kiến thức hiệu quả

Định hướng HS chuẩn bị bài mới: Việc chuẩn bị bài mới đúng cách sẽ giúp cho

HS nhận ra được kiến thức trọng tâm, những khó khăn vướng mắc mà bản thân

không giải quyết được để từ đó chủ động trong việc học tập trên lớp Bên cạnh đó,

việc chuẩn bị bài mới cũng giúp cho GV tổ chức các hoạt động học tập của HS tốt

hơn, tập trung khai thác được các vấn đề trong tâm của bài học Do đó việc định

hướng cho HS chuẩn bị bài mới là rất quan trọng, có thể quyết định đến chất lượng

học tập của HS Vậy GV có thể định hướng HS chuẩn bị bài mới như thế nào? Tuỳ

thuộc tính chất của từng bài học, GV có thể giao NV cho từng cá nhân hoặc nhóm

một số NV cụ thể, hướng dẫn HS đọc SGK và các tài liệu và thực hiện NV được

giao Các NV GV giao được thể hiện thông qua những câu hỏi liên quan đến bài

học mới, có thể là những câu hỏi tổng quát hoặc chi tiết về một vấn đề nào đó Mục

đích chính là để HS đọc sách ở nhà Hoặc GV có thể nêu trước mục đích và vấn đề

cần giải quyết và yêu cầu HS tìm hiểu người ta đã giải quyết vấn đề đó như thế nào?

kết quả ra sao? Hoặc GV có thể giao cho HS tìm hiểu các hình vẽ, đồ thị, bảng số

liệu, thí nghiệm để xem chúng cho ta biết điều gì? hay từ đó có thể rút ra kết luận

gì?

Tuy nhiên, với cách học thụ động của HS hiện nay và số lượng môn học nhiều,

thời gian học ở nhà ít thì việc thực hiện các NV học tập ở nhà phần nhiều còn mang

tính đối phó Do đó, khó khăn nhất vẫn là cách kiểm tra, động viên HS tự giác học

tập, tổ chức cho HS tự lực thực hiện điều đó đòi hỏi nhiều công sức của GV

Trang 38

i/ Phát huy tính tích cực của học sinh

HS khó có thể đạt hiệu quả cao trong học tập nếu không có thái độ và nhận thức

tích cực về việc học Do đó trước hết GV cần phát huy nội lực của HS bằngcách

giúp cho HS có tâm lý thoải mái, hứng thú với bài học để HS tích cực, tự giác tham

gia vào các hoạt động học tập Sau đó tạo điều kiện cho HS thực hiện và hoànthành

NV học tập Cuối cùng là giúp HS kiểm tra đánh giá kết quả đạt được

Để HS có cảm giác thoải mái và hứng thú với giờ học GV phải thực sự quan

tâm, tôn trọng, có thái độ thân mật với HS (thể hiện qua ánh mắt, hành động, cử chỉ,

lời nói ) để tạo không khí thoải mái trong lớp học và sự tin tưởng của HS Hiện

nay, HS quen với lối với lối học thụ động, ít tự lực suy nghĩ, thường lúng túng, rụt

rè, sợ sai, sợ bàn bè cười nên việc tạo điều kiện thuận lợi về mặt tâm lý động viên,

giúp đỡ để HS mạnh dạn tham gia phát biểu, vượt qua những trở ngại ban đầu là hết

sức cần thiết Đồng thời GV cũng phải tạo ra những mâu thuẫn nhận thức để khơi

gợi động cơ, hứng thú học tập của HS và duy trì nó thông qua các biện pháp tạm

thời như khen thưởng và các biện pháp bền vững như giúp HS thấy được giá trị của

kiến thức, giá trị của NV học tập, khả năng thực hiện của HS, khả năng vận dụng

kiến thức vào thực tế cuộc sống

Để giúp HS thực hiện và hoàn thành NV học tập, GV cần tìm hiểu kỹ nội dung

bài học và phân chia bài học thành nhiều vấn đề nhỏ phù hợp với trình độ của HS,

đồng thời có thể sử dụng các kiểu định hướng sao cho họ có thể hiểu được yêu cầu

của NV và tự lực giải quyết vấn đề Đặc biệt chú trọng đến việc rèn luyện cho HS

thực hiện một số thao tác cơ bản và giúp HS làm quen với các phương pháp nhận

thức phổ biến Bên cạnh đó, việc thảo luận các câu hỏi, các vấn đề không chỉ giới

hạn ở việc cho HS trình bày ý kiến của mình hoặc trả lời câu hỏi đơn thuần, mà cần

phải tổ chức cho HS bảo vệ ý kiến của mình trước lớp với những bằng chứng, ví dụ

cụ thể, vì qua đó người trình bày thể hiện được hiểu biết, khả năng truyền đạt,

thuyết phục, của mình và người nghe cũng thể hiện được những hiểu biết của mình

thông qua chất vấn bạn

Việc đánh giá HS gồm nhận xét đánh giá của mỗi HS, nhận xét đánh giá của

nhóm và đánh giá của GV, đánh giá từng giai đoạn và đánh giá cả quá trình học để

HS cố gắng và tự động điều chỉnh hoạt động học của mình để đạt kết quả cao hơn,

và qua đó GV cũng xem xét điều chỉnh lại cách định hướng của mình cho phù hợp

Trang 39

với từng đối tượng Tiêu chuẩn đánh giá hoạt động học tập tự lực của HS dựa trên

mức độ hoàn thành NV được giao Căn cứ vào đó tự bản thân HS, các thành viên

trong nhóm và GV có thể đánh giá được quá trình học tập của HS Việc đánh giá

của mỗi HS và của nhóm có thể tiến hành ngay cuối tiết học Việc đánh giá của GV

có thể thực hiện ngay trong tiết học hoặc qua các bài kiểm tra thường xuyên và

định kỳ Đặc biệt có thể tạo cơ hội cho HS sửa sai bằng cách đánh giá lại.[6, tr 8]

2.2.2 Các bước soạn thảo tiến trình dạy học giúp học sinh tự lực học tập bằng

định hướng của giáo viên

a/ Chuẩn bị cho bài học

Đối với mỗi bài học, Căn cứ vào nội dung bài học, GV xác định mục tiêu (kiến

thức, kỹ năng, thái độ và các hành động tự lực); Xác định các NV học tập, Dự kiến

các hành động tương ứng và cách định hướng; lập kế hoạch dạy học, thời gian,

phương tiện, cách làm việc để giúp HS giải quyết NV và qua đó lĩnh hội các tri

thức trong bài

Với các kiến thức đã được học, có liên quan đến bài học, các NV có thể đặt ra

cho HS:

- Đọc lại, nhớ lại, Trình bày lại

- Vận dụng để giải thích, chứng minh các vấn đề tương tự

- Vận dụng để dự đoán những hiện tượng có thể xảy ra trong điều kiện mới

Với các kiến thức mới HS sẽ lĩnh hội trong tiết học, các NV đặt ra cho HS :

- Đọc và tìm hiểu kết cấu, nội dung của bài học mới

- Đọc và tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến bài học (Theo yêu cầu của GV)

- Tìm hiểu những nội dung cụ thể và trả lời các câu hỏi, yêu cầu của GV giao

cho

- Tìm các ví dụ, hiện tượng có liên quan trong thực tế

- Lập bảng so sánh, phân loại, sơ đồ liên hệ giữa các kiến thức trong bài,

chương

b/ Giao nhiệm vụ cho học sinh

Để giao NV, GV tìm hiểu số lượng, khả năng của HS, giao trách nhiệm quản lý,

điều hành lớp, nhóm và các NV học tập trực tiếp hoặc gián tiếp qua cán sự lớp,

trưởng nhóm Đồng thời xác định nội dung nhiệm vụ (ôn tập, tìm hiểu kiến thức

mới ); cách giao nhiệm vụ (trực tiếp hay gián tiếp, dùng phiếu học tập hay lời

Trang 40

nói ); thời gian, địa điểm thực hiện; dự kiến sản phẩm đạt được, cách thu nhận kết

quả

Các NV dự kiến hoặc mới phát sinh trong quá trình học có được thực hiện thực

hiện ở nhà hoặc trên lớp có thể là:

- Trả lời các câu hỏi, bài tập cuối bài học, trong sách bài tập, các câu hỏi bài

tập GV cho thêm

- Chuẩn bị đọc, tìm hiểu các vấn đề cụ thể liên quan đến bài học mới do GV

giao

- Đặt các câu hỏi liên quan đến bài mới

- Giao NV tìm kiếm, làm tài liệu phục vụ học tập

- Yêu cầu các HS khác trong lớp giải đáp

- Hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để giải thích

- Giao cho HS về nhà tìm hiểu thêm và giải đáp vào tiết học khác

c/ Định hướng học sinh giải quyết nhiệm vụ

Để HS thực hiện tốt các NV, GV cần cung cấp thông tin về NV, hướng dẫn,

huấn luyện về phương thức hành động, phối hợp và hướng dẫn HS phối hợp cùng

nhau, hướng dẫn giải quyết các thắc mắc nảy sinh trong quá trình học tập Đồng

thời có biện pháp khích lệ HS trong quá trình học

Với mỗi nhiệm vụ cần định hướng cho HS tự lực học tập GV cần xác định rõ,

cách định hướng (tái tạo, mẫu, chương trình hoá ), đối tượng định hướng (cá nhân,

nhóm, lớp), nơi thực hiện (trên lớp, ở nhà), GV định hướng bằng lời nói, phiếu học

tập hay HS, nhóm tự định hướng Tuỳ từng trường hợp mà GV có thể linh hoạt

trong việc phối hợp các kiểu định hướng Có thể là:

- GV làm mẫu, hướng dẫn chi tiết từng bước và rút ra phương pháp chung, HS

thực hiện theo và áp dụng cho vấn đề tương ứng

- GV hướng dẫn HS từng giai đoạn, HS thực hiện và rút ra phương pháp chung

- GV phân tích NV và giúp cho HS thấy được những bước cần thực hiện để hoàn

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w