Để có thể dạy tốt, chúng em phải biết vận dụng những kiến thức và phương pháp mà thầy cô đã truyền đạt, áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất theo hướng phát huy tính tích cực
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS- GVC Trần Quốc Tuấn Nguyễn Hoàng Phương Thảo
MSSV: 1080250 LỚP: SP VẬT LÝ- K34
Cần Thơ, 5/ 2012
SỬ DỤNG MICROSOFT POWERPOINT 2003 HỖ TRỢ VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM KHI GIẢNG DẠY CHƯƠNG HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ, VẬT
LÝ 12 NÂNG CAO.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Đặt vấn đề 5
2 Mục đích của đề tài 6
3 Giả thuyết khoa học 6
4.Nhiệm vụ của đề tài 6
5 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu 6
6 Đối tượng nghiên cứu 7
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 7
8 Chữ viết tắt trong đề tài 7
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ Ở THPT 8
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH vật lý THPT 8
1.1.1.Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta 8
1.1.2 Mục tiêu đổi mới phương phán dạy học 8
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH ở THPT 9
1.2.1.Khắc phục lối truyền thụ một chiều 9
1.2.2.Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh 10
1.2.3.Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 11
1.2.4.Áp dụng các PP tiên tiến, các PT dạy học hiện đại vào quá trình dạy học 11
1.3 Mục tiêu của chương trình vật lí THPT 12
1.3.1.Đạt được một HT KT VLPT cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại 12
1.3.2.Rèn luyện và phát triển các kĩ năng 12
1.2.3.Hình thành và rèn luyện các thái độ và tình cảm sau này 12
1.4 Những định hướng đổi mới PPDH VL ở lớp 12 theo chương trình THPT mới 13
1.4.1.Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV 13
1.4.2.Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề 14
1.4.3.Rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức Vật lí 14
1.4.4.Tận dung phương tiện dạy học, trang thiết bị mới 15
1.4.5.Tăng cường áp dụng phương pháp dạy học nhóm, hợp tác 15
1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học 18
1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soan giáo án 18
1.5.2 Những nội dung của việc soạn giáo án 20
1.5.3 Một số hình thức trình bày khoa học 20
1.5.4 Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học 20
1.5.5 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập 22
1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá 23
Trang 31.6.1 Ý nghĩa, mục tiêu của kiểm tra và đánh giá 23
1.6.2 Quan điểm và yêu cầu của kiểm tra, đánh giá 23
1.6.3 Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá 24
1.6.4 Các hình thức kiểm tra, đánh giá 25
1.6.5 Đánh giá kết quả HT của HS phải có tính mục đích, phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản của việc thi và kiểm tra 26
1.6.6 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả HT của HS 27 1.6.7 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận 27
1.6.8 Các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra 27
1.7 Lý thuyết về phần mềm Microsoft Powerpoint 2003 31
1.7.1 Giới thiệu về phần mềm Microsoft Powerpoint 2003 31
1.7.2 Thiết kế với Microsoft Powerpoint 2003 32
1.7.3 Thiết lập hiêu ứng 41
1.7.4 Lưu và đóng gói tập tin 46
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 50
2.1 Phương pháp thực nghiệm 50
2.1.1 Khái niệm 50
2.1.2 Các giai đoạn của PPTN trong nghiên cứu khoa học 51
2.1.3 Phương pháp thực nghiệm là quá trình sáng tạo Vật lí 51
2.1.4 Các giai đoạn của PPTN trong dạy học Vật lí 53
2.1.5 Hướng dẫn học sinh hoạt động ttrong mỗi giai đoạn của PPTN 54
2.1.6 Phối hợp PPTN với phương pháp nhận thức khoa học khác 56
2.2 Quy trình hoạt động dạy học 57
Chương 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG 9, VL12 NC 58
3.1 Đại cương về chương 9, Vật lí 12 nâng cao 59
3.1.1.Vị trí của chương 59
3.1.2.Mục tiêu của chương 59
3.1.3.Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương 61
3.1.4.Phân tích nội dung của chương 62
3.2 Giáo án giảng dạy một số bài trong chương 9, Vật lí 12 nâng cao 62
3.3 Thiết kế bài giảng bằng Microsoft Powerpoint 90
Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 95
4.1 Mục đích thực nghiệm 95
4.2 Nội dung thực nghiệm 95
4.3 Đối tượng thực nghiệm 95
4.4 Kế hoạch giảng dạy 95
4.5 Phương pháp thực nghiệm 95
4.6 Tiến trình các bài học 95
Trang 44.7 Kết quả thực nghiệm 95
4.7.1 Thiết kế đề kiểm tra 95
4.7.2 Kết luận 100
4.7.3 Nhận xét và đánh giá 101
NHẬN XÉT – KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 5CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chính sự thay đổi đó đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải cung cấp cho xã hội đội ngũ người lao động có những năng lực và phẩm chất mới Do đó, mục tiêu giáo dục PT nhằm đào tạo thế hệ trẻ năng động, đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ Trong đó, việc đổi mới phương pháp dạy học có tầm quan trọng đặc biệt, đúng như nghị quyết Trung ương II khóa VIII chỉ rõ: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo”
Mặt khác, tình hình thực tế dạy học vật lí ở THPT có khởi sắc nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu giảng dạy ở trường THPT Do khó khăn về cơ sở vật chất và nhiều vấn đề khác, nên mặc dù các trường phổ thông đã thay đổi theo hướng tích cực hóa nhưng kết quả còn rất khiêm tốn Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học THPT nói chung và đổi mới phương pháp dạy học vật lí THPT nói riêng là vô cùng quan trọng và cấp bách
Một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản của Vật lí là phương pháp thực nghiệm Phương pháp thực nghiệm là phương pháp nhận thức khoa học được thực hiện khi nhà nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm Dựa vào kết quả thí nghiệm nhằm xác lập hay kiểm tra một giả thuyết nào đó Phương pháp này giúp HS chiếm lĩnh được các kiến thức khoa học sâu sắc, vững chắc, vận dụng được, đồng thời đảm bảo sự phát triển trí tuệ của HS trong quá trình học tập Có như vậy HS mới được đặt ở vị trí trung tâm của giờ học đúng như tinh thần của việc đổi mới phương pháp dạy học
Trước chủ trương đổi mới của Đảng và nhu cầu đổi mới của đất nước, là người GV trẻ trong tương lai Để có thể dạy tốt, chúng em phải biết vận dụng những kiến thức và phương pháp mà thầy cô đã truyền đạt, áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong học tập, nhằm phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta
Bên cạnh đó, ngày nay vị trí và vai trò của máy tính ngày càng trở nên quan trọng, nhất là lĩnh vực giáo dục Tin học là một môn bắt buộc với HS, SV Với xu hướng đổi mới PPDH, việc sử dụng phần mềm tin học ứng dụng vào DH là một PP mới rất có hiệu quả, đặc biệt trong Vật lí Không phải thí nghiệm nào cũng có thể
Trang 6thực hiện cho HS quan sát, kết quả trên lí thuyết vẫn chưa đủ thuyết phục HS mà phải thêm các hình ảnh, các thí nghiệm ảo.
Vì những lẽ đó, nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề trên nên em quyết
định chọn đề tài: “ Sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint 2003 hỗ trợ việc áp
dụng phương pháp thực nghiệm khi giảng dạy chương IX Hạt nhân nguyên
tử, Vật lí 12 nâng cao”
2 Mục đích của đề tài
vật lí
• Nghiên cứu Microsoft Powerpoint 2003 hỗ trợ quá trình giảng dạy
• Áp dụng thiết kế một số bài trong chương IX Hạt nhân nguyên tử - vật lí 12 nâng cao
3 Giả thuyết khoa học
Vật lí
trình giảng dạy trên
• Có thể vận dụng cơ sở lí luận đã nghiên cứu để thiết kế 1 số bài học trong Chương IX Hạt nhân nguyên tử – Vật lý 12 NC
4 Nhiệm vụ của đề tài
5 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu
+ Các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu
+ Các sách và báo về khoa học Vật lí phục vụ cho đề tài
Trang 7+ Giáo dục học.
+ Lí luận dạy học vật lý
+ Phân tích chương trình
+ Chuyên đề phương pháp giáo dục
+ Sách giáo khoa và sách giáo viên 10,11,12 nâng cao
+ Sách giáo khoa Vật lí 12 nâng cao
…
chương 2 để giảng dạy kết hợp với các đồ dùng dạy học ở trường phổ thông
kiểm tra trắc nghiệm và phiếu thăm dò ý kiến Tổng kết kinh nghiệm từ đó hệ thống lại về các tình huống và phương pháp đã dùng
thành đề tài
6 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học của GV và HS theo hướng sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint 2003 hỗ trợ việc áp dụng PPTN nhằm phát huy tinh thần tự lực chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh
7 Các giai đoạn thực hiện
Giai đoạn 1: Trao đổi với thầy Trần Quốc Tuấn, nhận đề tài
Giai đoạn 2: Nghiên cứu đề tài, đọc các tài liệu có liên quan
Giai đoạn 3: Viết đề cương
Giai đoạn 4: Viết luận văn, chỉnh sửa luận văn
Giai đoạn 5: Hoàn thành luận văn, nộp cho GVHD
Giai đoạn 6: Báo cáo luận văn
8 Các chữ viết tắt trong đề tài
Trang 8Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ THPT
1.1.1 Mục tiêu đổi mới giáo dục nước ta
Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hội nhập với cộng đồng thế giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình đó đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nhằm đào tạo ra những con người có những phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức công nghệ mà nhân loại đã tích lũy được mà còn bồi dưỡng cho họ tính năng động, cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương Đảng Cộng Sản
Việt Nam, Khóa VIII đã chỉ rõ: “ Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc công nghiệp hóa, hiện đaị hóa; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ thuật thực hành giỏi, có phong cách công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn Bác Hồ” [12,tr 49]
1.1.2 Mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học
Mục tiêu của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập… Do đó đất nước đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo những con người có phẩm chất mới Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức mà công nghệ nhân loại đã tích lũy mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động, cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi
PPDHTC được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không họat động, thụ động PPDHTC hướng tới việc tích cực hóa họat động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDHTC nhưng GV chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDHTC, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy
Trang 9và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDHTC hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH Vật lí ở trường THPT
1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ nhận vai trò của các PPDH truyền thống, tuy nhiên ta sẽ sử dụng các PP đó theo tinh thần mới GV phải chọn PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong những tình huống cụ thể
Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục
của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “ GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố gắng mà ghi nhớ và nhắc lại” Nói một cách khác, GV là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học, GV
quyết định hết thảy, từ xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường
đi đến kiến thức, kĩ năng, đánh giá kết quả học [12,tr49]
Theo cách dạy đó GV trình bày, giảng giải các kiến thức cần truyền thụ cho HS một cách rõ ràng, chính xác đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn các thí nghiệm một cách thành công, đúng như đã nói trong lí thuyết hay đúng những mong muốn cần đạt được Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Những GV tâm huyết với nghề, hết lòng yêu thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong học tập Nhưng không ít GV còn bảo thủ, không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không thích ứng được với đòi hỏi mới
Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất
là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với PPTN Ở THPT cần phải tiếp tục phát triển tư duy đó để hình thành cho HS những kĩ năng hoạt động học tập vững chắc, tạo một sự chuyển biến về chất trong phương pháp học tập của HS Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn giản là người truyền đạt kiến thức
mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
Học sinh tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề, tình huống học tập… Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới mẻ có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người “gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài” trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS, GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề
Trang 10mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm
dự kiến của GV
Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với Vật lí học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS
Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua tự học của người học thì mới
có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa, trong cuộc đổi mới của con người ở thời đại hiện nay, những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều mới có thể làm việc được, mới theo kịp sự phát triển rất nhanh của khoa học kĩ thuật hiện đại Những ứng dụng kĩ thuật rất hiện đại của ngày hôm nay sẽ trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không
xa Những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở nên lạc hậu nên mỗi con người sống trong xã hội phải biết tự cập nhật thông tin Bởi vậy, ngay trên ghế nhà trường
HS đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động nhận thức Mặt khác, dù học trên lớp hay học ở nhà, mỗi học sinh phải tự động não để tự tiếp thu những điều
cần học Không ai có thể học thay ai Vì vậy, trong những hoạt động cá nhân của tiết
học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng cho HS Chẳng hạn:
- Tập cho HS PP đọc sách
- Phát phiếu học tập ở nhà cho HS
- Tập cho HS lam quen với các PPNTKHĐT của VL: PPTN,PPMH, PPTT.Tăng cường DH theo nhóm, DH hợp tác góp phần làm cho việc HT cá nhân có hiệu quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung
Theo lý thuyết về vùng phát triển gần của Vưgốt-xki, các tương tác thầy - trò và trò - trò trong lớp học có thể giúp cho HS vượt qua những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi các nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bác bỏ, qua đó những hiểu biết của học sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa Mặt khác, trong việc HT theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú HT của HS
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp
ta giải quyết một khó khăn lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành
Trang 11cho HS tự tìm hiểu ở nhà Có lẽ không cần truyền tải từ A đến Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó
sẽ kiểm tra sự tự học của các em
Tuy nhiên, vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kĩ năng tự học đã yếu nay càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không phải chỉ áp dụng cho những HS
ở các lớp trên
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là phải có tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực
Phương pháp dạy học tích cực này còn mới mẻ ở nước ta Có rất nhiều điều còn phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm trong thực tế Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại cho HS niềm vui sướng, hào hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của
đa số trẻ em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các em tự khẳng định được mình và nuôi dưỡng lòng khao khát sáng tạo Bởi thế việc dạy học tích cực này được đa số HS hưởng ứng nhiệt liệt
1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học
Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới trong nửa cuối thế kỉ
XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của HS Nhiều lí thuyết
về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.Piaget và “
lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” Nhờ sự phát triển KHKT, quá trình DH đã sử dụng phương tiện DH:
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor
- CNTT, đánh giá bằng trách nghiệm trên vi tính
- Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia) để dạy học
Trang 121.3 Mục tiêu của chương trình vật lí THPT
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức VLPT cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại
Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn Chính vì vậy cần trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống, bao gồm:
- Các khái niệm về sự vật, hiện tượng, và các quy tắc VL
- Các định luật, định lý, các nguyên lí VL cơ bản
- Những nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng nhất trong đời sống
và trong sản xuất
- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí
- Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp nhận thức đặc thù của VL, trước hết là PPTN, PPMH và PPTT
1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng.
- Quan sát các hiện tượng và các quy tắc VL; điều tra, sưu tầm,… thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập VL
- Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của VL, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm VL đơn giản
- Phân tích, tổng hợp, xử lí thông tin rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng, quy tắc VL, đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán …
- Vận dụng kiến thức: mô tả, giải thích các hiện tượng, quy tắc VL, giải các bài tập VL… giải quyết các vấn đề đơn giản của đời sống, sản xuất
- Sử dụng các thuật ngữ VL, biểu bảng… trình bày rõ ràng, chính xác những kết quả thu được …
1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ và tình cảm sau này.
- Bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đặc tính khác của người lao động trên cơ sở những kiến thức VL vững chắc
- Hứng thú học tập môn VL, yêu thích, tìm tòi khoa học, trân trọng những đóng góp của Vật lí học…
- Có thái độ khách quan, trung thực, tác phong cẩn thận, chính xác, có tinh thần học tập tốt
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết VL vào đời sống, cải thiện điều kiện sống, bảo vệ môi trường
Tóm lại: Các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền và
hỗ trợ nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện Ví dụ:
Trang 13kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HS không phải chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực tự lực hoạt động, tham gia vào các quá trình xây dựng và vận dụng kiến thức Ngược lại, HS chỉ có thể phát triển trí thông minh, sáng tạo khi có một vốn kiến thức vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ mới, vừa củng cố vừa mở rộng và phát hiện ra những chỗ chưa hoàn chỉnh của chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổ sung hoàn thiện thêm vốn kiến thức của mình.
HS đọc hay làm theo SGK cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ hội
để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV Nhiều GV thường nói là bài dài Thực ra nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để cho HS tự đọc mà cũng hiểu được, nhưng GV lại không cho HS tự đọc ở lớp hay ở nhà mà giảng giải trình bày tất cả
Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin
và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu HS tự học ở lớp và ở nhà GV chỉ giảng giải khi HS tự đọc không thể hiểu được, kiên quyết không làm thay HS điều gì
mà học có thể tự làm được trên lớp hay ở nhà
Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia một vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được
Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong bài để HS có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp phần giải quyết một vấn đề nào đó trong quá trình HT như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế… GV cần
Trang 14tính toán xem với trình độ HS cụ thể vì việc gì có thể trao cho họ tự làm, việc gì cần có
sự trợ giúp hướng dẫn của GV
1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề hiểu dưới dạng chung nhất là toàn bộ các hành động như tổ chức các tình huống có vấn đề, biểu đạt vấn đề giúp đỡ những điều kiện cần thiết để HS GQVĐ
Kiểu dạy học này giúp HS có thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề theo cách của các nhà khoa học, nhằm phát triển được năng lực sáng tạo của HS
Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được mâu thuẫn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức đã có của mình không đủ để giải quyết
Có rất nhiều cách để tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ thì mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ
để giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ học tập xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn
Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề Phương pháp tìm tòi nghiên cứu GQVĐ một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát
+ Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế
+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới
+ Phát biểu kết luận
1.4.3 Rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức vật lý
Một trong những nét đặc trưng của tư duy KH là phải biết PP hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm ngẫu nhiên
hoặc củng cố bảng số liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên dành cho HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn
biểu diễn bản chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài mô hình ảnh, còn hay phổ biến mô hình toán học
Trang 15- Về phương pháp tương tự: Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức
khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát
1.4.4 Tận dụng những phương tiện DH mới, trang thiết bị thí nghiệm mới, phát huy tính sáng tạo của GV trong việc làm, sử dụng đồ dùng dạy học.
Phương tiện, thiết bị DH góp phần quan trọng trong công cuộc đổi mới PPDH, hướng vào các hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức, là một cách chứng minh bằng quy nạp
Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị DH của nhà trường
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trong thực tế… Tăng cường sử dụng phương tiện, thiết bị DH, phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Tận dụng phương tiện, thiết bị DH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập ( tranh ảnh, mẫu vật…)
1.4.5 Tăng cường áp dụng phương pháp dạy học nhóm, hợp tác…
* Không phải cá nhân nào cũng chịu
trách nhiệm về kết quả chung của
nhóm
* Không dạy kĩ năng hợp tác
* Kết quả phụ thuộc chủ yếu vào tính tích cực của mỗi cá nhân
* Cơ hội làm việc của mỗi cá nhân như nhau
* Mỗi cá nhân chịu trách nhiệm về kết quả chung của cả nhóm mình
* Có dạy các kĩ năng hợp tác
Trang 16* Nhóm trưởng được thầy chỉ định.
* Thầy để các nhóm tự hoạt động
* Mỗi cá nhân có một nhiệm vụ
* Thầy tổ chức, quan sát, có đánh giá
C Ưu việt của học theo nhóm hợp tác
* Làm việc hợp tác là phong cách làm việc của thời đại
* Nguyên tắc học bằng hành động
* Sự giúp đỡ lẫn nhau xen kẽ với sự bổ sung những “lỗ hổng” cho nhau
* Mọi HS đều làm việc thực sự và tích cực, đều có cơ hội làm việc như nhau
* Không khí học tập sinh động (thảo luận, thay đổi nhóm…)
* Các kiểu nhóm có tác dụng và ưu việt chung nhưng mỗi kiểu cũng có tác dụng riêng theo ý đồ của GV
* Giảm lượng nói của thầy
D Các kiểu học nhóm và cách tổ chức
a/ Kiểu nhóm cố định
Nhóm cố định là nhóm được tổ chức cho HS ngồi gần nhau, giải quyết nhiệm
vụ nhanh chóng trong vòng một vài phút, không cần xê dịch chỗ ngồi
- Kiểu nhóm này thuận tiện cho dạy học khám phá, lớp đông HS hoặc không
có điều kiện xê dịch bàn ghế
- Cách tổ chức: 2, 3 thậm chí có thể 4 HS ngồi gần nhau, trên dưới…
b/ Kiểu nhóm di động
Loại nhóm này cần xê dịch chỗ ngồi, gom lại thành từng nhóm, có thể 3 hoặc
4 hoặc đông hơn, tùy GV và hoàn cảnh lớp học
Nhóm di động có thể giải quyết nhiệm vụ phức tạp hơn, lâu hơn và có cách chia nhóm đa dạng Không khí lớp học được thay đổi hẳn khi chia và ghép nhóm Có thể giữ nguyên nhóm từ đầu giờ đến cuối giờ
Cách chia nhóm: tự chọn, xếp theo vần chữ cái, theo số thứ tự, theo màu sắc phát cho
HS ngẫu nhiên…
c/ Kiểu nhóm ghép 2 lần
- Số thành viên trong nhóm bằng số vấn đề giải quyết cùng lúc
- Mỗi nhóm giải quyết một vấn đề không trùng nhau
- Sau khi giải quyết xong vấn đề, ghép nhóm lần thứ 2, mỗi HS là một “đại sứ” cho nhóm mới, truyền đạt lại những gì mà nhóm cũ đã giải quyết
Bài học sẽ được giải quyết trọn vẹn sau hai lần làm việc:
Trang 17- Rèn luyện lòng tự tin cho HS (khi làm việc ở nhóm sau).
- Có cơ hội hỏi nhiều người (mà không ngại ngùng)
Nội dung làm việc: Tự kiểm tra bảng trả lời câu hỏi (không làm được thì hỏi bạn)
để kiểm tra, xác minh kết quả của mình
E Một số kiểu nội dung bài học có thể tổ chức học hợp tác
a/ Thảo luận để đánh giá một qui trình làm việc
Kiến thức qui trình thường được cấu trúc thành các bước hoặc các giai đoạn Để
HS theo dõi tốt và tự nhận thức qui trình, có thể ra nhiệm vụ cho các nhóm trao đổi Ví
dụ, để biểu diễn một bài thí nghiệm GV sẽ tuần tự thực hiện 6 bước, GV chuẩn bị trước các bản photo để phát cho các nhóm trước khi làm thí nghiệm và dặn HS cách làm việc nhóm sau khi kết thúc thí nghiệm
b/ Trao đổi trước giờ học
Một cuộc trao đổi đầu giờ học sẽ tạo cho HS một bầu không khí tâm lí thuận lợi trong suốt giờ học Có nhiều cách mở đầu bài học để có bầu không khí như vậy, song cách này là 1 kiểu làm đặc biệt, với sự tham gia hào hứng của toàn thể HS
- Có thể HS trao đổi bằng sự tái hiện kiến thức cũ để làm cơ sở cho bài mới Cũng như vậy nhưng các nhóm HS đi tìm những ví dụ thực tế trong cuộc sống hằng ngày mà những ví dụ ấy sẽ là những ứng dụng cho bài học mới
- Có thể cho HS biết chủ đề bài học mới, các nhóm sẽ đón nhận nội dung cụ thể
sẽ học hôm nay, đề xuất những yêu cầu mà các em muốn biết có liên quan đến đề tài bài học…
Trang 18Về hình thức, các nhóm có thể liệt kê theo yêu cầu, vẽ sơ đồ suy nghĩ, vẽ hình
mà các em tưởng tượng Sau đó các ap-phic sẽ được treo lên tường, lưu lại suốt buổi học để thầy sử dụng hoặc các em sẽ trình bày vào 1 lúc nào đó
Trong cách làm này thì những HS yếu sẽ hăng hái tham gia bài học, đôi khi các em
có những bổ sung cho những HS khá về kiến thức thực tế của mình, những suy nghĩ đặc biệt của mình
c/ Tìm sự tương ứng
Với các nội dung này các nhóm sẽ trao đổi, so sánh các sự kiện, ngữ nghĩa để sắp xếp lại cho đúng logic hoặc nội dung môn học Kiểu làm này rất hợp với các bài học ứng dụng, mở đầu bài học mới hoặc bài ôn tập
d/ Phân loại, so sánh
Cũng làm như trên nhưng với nội dung phân loại Việc làm này mang ý nghĩa
tư duy cao hơn là tìm sự tương ứng bởi vì khi phân loại hoặc so sánh bao giờ cũng yêu cầu HS phân tích hoặc giải thích hoặc trình bày trước lớp với những lí lẽ của mình
e/ Dùng sơ đồ để tóm tắt nội dung bài học hoặc tìm ra kiến thức mới
Muốn HS làm điều này thì trước hết phải cho các em học và luyện tập biểu diễn một phần kiến thức bằng sơ đồ Các nội dung học cho cách thảo luận này là:
- Lập sơ đồ tóm tắt nội dung một chương, một phần hoặc một bài đã học
- Lập sơ đồ khái niệm
- Lập sơ đồ tư duy
- Cho sơ đồ cấu trúc một bài học với một số ô trống, HS đọc SGK rồi điền các nội dung vào các nội dung vào ô trống cho hợp lí
1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học
1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án.
Giáo án là bản kế hoạch làm việc trên lớp của người GV với HS, vì vậy giáo án phải có nội dung bài học đầy đủ, kế hoạch chi tiết về hoạt động của GV và HS
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV Khi soạn GA, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
- Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức độ đi đến đâu?
- Sự chiếm lĩnh những kiến thức kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào?
HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của HS diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
- GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
- Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
a Quy trình soạn giáo án.
Trang 19Giáo án gồm 2 phần chính:
- Phần chuẩn bị cho việc soạn giáo án
- Phần thực hiện ( giáo án cho bài trên lớp)
Phân tích cấu trúc nội dung bài học
Những công việc của phần chuẩn bị: tìm mục đích và trọng tâm của bài lên lớp, lập sơ đồ cấu trúc nội dung của bài học, khả năng giáo dục lồng ghép, phương pháp và phương tiện dạy học, yêu cầu đối với HS
Nội dung và hình thức giáo án bao gồm kiểm tra sự chuẩn bài của HS, giới thiệu vào bài mới, nội dung bài giảng và các hoạt động dạy học
b Các bước soạn giáo án.
- Xác định mục tiêu bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình
- Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học, xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS, xác định trình tự logic của bài học
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS:
+ Xác định những kiến thức và kĩ năng mà HS đã có và cần có
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết
- Lựa chọn phương pháp tự học; phương tiện; thiết bị DH; hình thức tổ chức
DH và cách đánh giá thích hợp nhằm giúp HS tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực tự học
- Xây dựng kế hoạch bài học; xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
1.5.2 Những nội dung của việc soạn giáo án.
- Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ
- Xác định những nội dung kiến thức của bài học
- Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các phương tiện dạy học cần sử dụng
- Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học
- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng
- Soạn nội dung bài tập về nhà
1.5.3 Một số hình thức trình bày KH bài học.
- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới
- Viết 2 cột: Hoạt động của GV; hoạt động của HS
Trang 20- Viết 3 cột: Hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng hay tiêu
đề nội dung chính và thời gian thực hiện
- Viết 4 cột: Hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
1.5.4 Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học.
Theo quan điểm mới về việc dạy học, vai trò chính yếu của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS Hoạt động học của HS rất đa dạng, dựa theo cấu trúc khái quát của tiến trình giải quyết các vấn đề có tính KH ta có thể chia thành các hoạt động sau:
Hoạt động(… phút): Kiểm tra kiến thức cũ
- Tái hiện kiến thức trả lời câu
hỏi của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý trả lời, nhận xét đánh giá
Hoạt động (… phút): Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn
đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Tạo tình huống học tập
- Trao nhiệm vụ học tập
Hoạt động (… phút): Thu thập thông tin
- Nghe GV giảng Nghe bạn phát
biểu
- Đọc và tìm hiểu một số vấn đề
trong SGK
- Tìm hiểu bảng số liệu
- Quan sát hiện tượng tự nhiên
hoặc trong thí nghiệm
- Làm thí nghiệm, lấy số liệu…
- Tổ chức hướng dẫn
- Yêu cầu HS hoạt động
- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu
- Giảng sơ lược nếu cần thiết
- Làm thí nghiệm biểu diễn
- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu
- Chủ động về thời gian
Hoạt động (… phút): Xử lí thông tin
- Thảo luận theo nhóm hay làm việc
cá nhân
- Tìm hiểu các thông tin liên quan
- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về
- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
- Đàm thoại gợi mở, chất vấn HS
Trang 21tính qui luật của hiện tượng.
- Trả lời các câu hỏi của GV
- Tranh luận với bạn bè trong nhóm
hoặc trong lớp…
- Rút ra nhận xét hay kết luận từ
những thông tin thu được
- Hướng dẫn HS cách lập bảng, vẽ đồ thị và rút ra nhận xét, kết luận
- Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp
- Tổ chức hợp tác hóa kết luận
- Hợp thức về thời gian
Hoạt động (… phút): Truyền đạt thông tin
- Trả lời câu hỏi
- Giải thích các vấn đề
- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết
luận
- Báo cáo kết quả
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
- Hướng dẫn mẫu báo cáo
Hoạt động (… phút): Củng cố bài học
- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà
- Ghi những chuẩn bị cho bài
sau
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
1.5.5 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập.
Tên bài: ………
Tiết: ………theo phân phối chương trình
A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)
Trang 222 HS
3 Gợi ý ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại
C Tổ chức các hoạt động học tập
Hoạt động 1 (… phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)
Hoạt động 2 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1
Hoạt động 3 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2
Hoạt động i (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng i
Hoạt động n-1 (… phút): Vận dụng, củng cố
Hoạt động n (… phút): Hướng dẫn về nhà
D Rút kinh nghiệm
Ghi những nhận xét của GV sau khi dạy xong
1.5.6 Những câu hỏi thảo luận về các kế hoạch bài dạy.
- Theo bạn, một kế hoạch bài dạy có cấu trúc như thế nào thì thích hợp? Nêu lí do?
- Mục tiêu bài dạy và sự chuẩn bị cần thể hiện như thế nào trong bài soạn, nhất là những phần có ứng dụng công nghệ thông tin?
động HT của HS và trợ giúp của GV như thế nào trong bài soạn
- Nêu các kĩ thuật củng cố bài giảng mà bạn đã vận dụng trong quá trình dạy học
- Làm thế nào để xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản trong bài phù hợp đối tượng HS ở các vùng miền thích hợp trong một tiết dạy
- Hãy soạn một bài theo phân phối chương trình và đối tượng đã lựa chọn
1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá
1.6.1 Ý nghĩa, mục tiêu của kiểm tra, đánh giá
a Ý nghĩa
Đánh giá là quá trình thu thập, lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin và hiện tượng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng, hiệu quả của giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo Kết quả kiểm tra khó đo lường và phản ánh đúng năng lực, trình độ học tập của HS Tuy nhiên, đánh giá kết quả học tập của HS cũng có một số ý nghĩa :
- Xác định trình độ năng lực học tập của HS vào những thời điểm nhất định theo những yêu cầu nhất định
- Cung cấp thông tin tương đối chính xác về: nội dung học tập và mức độ HS đã hoặc chưa đạt yêu cầu của mục tiêu đề ra, nguyên nhân ở đâu từ đó đề xuất các biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học
- Đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với mặt bằng chất lượng chung của HS cùng lớp trong học tập môn vật lý, cung cấp thông tin ngược
Trang 23cho HS về quá trình học tập tự điều chỉnh, kích thích hoạt động học, khuyến khích tự đánh giá.
- Đánh giá đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với những mục tiêu đã định trong chương trình bộ môn
b Mục tiêu
Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học; kết quả kiểm tra, thi đủ
độ tin cậy để xét lên lớp, tốt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh
Tạo động lực đổi mới PPDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học
1.6.2 Quan điểm và yêu cầu của kiểm tra, đánh giá
a Quan điểm
Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình: đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng học động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục
b Yêu cầu
Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu
cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn, mỗi cấp học
Phối hợp kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của GV và
tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình,…
Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục, đọng viên, giúp HS sửa chữa thiếu sót.Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của HS mà còn bao gồm cả quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học
Đánh giá kết quả học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà còn chú ý cả quá trình học tập
Chỉ đạo việc kiểm tra thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường, tăng cường khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì
Từng bước nâng cao chất lượng đề kiểm tra, thi đảm bảo vừa đánh giá được chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hóa cao Đổi mới ra đề kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra học kì theo hướng kiểm tra cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, phù hợp với nội dung chương trình, thời gian quy định
Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương của các đề thi Kết hợp thật hợp lí giữa các hình thức thi kiểm tra, vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học vẹt; phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức
Trang 24Đa dạng hóa công cụ đánh giá; sử dụng tối đa công nghệ thông tin trong quy trình tổ chức kiểm tra, đánh giá.
1.6.3 Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá
Đảm bảo tính toàn diện: đánh giá được các mặt kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ, hành vi của HS
Đảm bảo độ tin cậy: chính xác, trung thực, minh bạch, khách quan, công bằng trong đánh giá, phản ánh được chất lượng thực của HS, của các cơ sở giáo dục
Đảm bảo tính khả thi: nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với điều kiện HS, cơ sở giáo dục, đặc biệt là phù hợp với mục tiêu theo từng môn học
Đảm bảo yêu cầu phân hóa: phân loại được chính xác trình độ, năng lực HS, cơ
sở giáo dục Dải phân hóa càng rộng càng tốt
Đảm bảo hiệu quả cao: đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá HS, cơ
sở giáo dục, thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra; tác động tích cực vào quá trình dạy học
1.6.4 Các hình thức kiểm tra, đánh giá
Hình thức kiểm tra thông dụng là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm cơ bản là trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm)
Trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập của HS so với mục tiêu môn học Trắc nghiệm là khách quan vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người chấm Đổi mới phương pháp ra đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS người ta thường dùng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
* Tự luận: là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi gồm các câu
hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình
* Trắc nghiệm – Các hình thức trắc nghiệm:
Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường gồm nhiều câu hỏi hoặc bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu HS phải viết câu trả lời thì câu trả lời là ngắn nhất và chỉ duy nhất có một cách viết đúng
Trắc nghiệm gồm các dạng sau:
- Trắc nghiệm đúng sai
- Trắc nghiệm điền khuyết
- Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi ( ghép đôi)
- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn) và phần thông tin
Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
- Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút
Trang 25- Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương, phần, môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có: kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên, kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm.
* Những ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:
- Cải thiện tính hợp phức, tính trung thực, tính nhạy cảm của bài kiểm tra; là phương tiện thu nhận và chứa số lớn các câu trả lời trong thời gian ngắn
- Có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một khoảng thời gian ngắn
- Sự phân phối điểm trên một phổ rất rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng trình độ của HS
- Cho phép đánh giá một cách hệ thống, chính xác ở mức cao Bài kiểm tra có rất nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức và
kĩ năng, tránh được tình trạng học tủ, dạy tủ
- Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra
* Những nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:
- Khó khăn trong việc đánh giá một số kĩ năng: kĩ năng trình bày và viết ra những điều suy nghĩ, kĩ năng đưa ra các giải pháp trả lời mới và thậm chí là khả năng
tự viết lại những điều trong trí nhớ có liên quan đến bài kiểm tra
- Đưa ra các giải pháp sai cho HS Không có khả năng dẫn dắt việc đưa ra các câu trả lời
- Biên soạn câu hỏi khó, tốn nhiều thời gian
- Có thể có trường hợp HS có thể tìm ra cách trả lời hay hơn nên họ không thỏa mãn với phương án đã lựa chọn Hạn chế trong việc đánh giá khả năng sáng tạo của HS
- Khó khăn trong việc truyền đạt miệng nội dung một câu hỏi trắc nghiệm khách quan
1.6.5 Đánh giá kết quả HT của HS phải có tính mục đích, phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản của việc thi và kiểm tra
- Đánh giá kết quả học tập của HS phải đồng thời thực hiện 2 mục đích vừa cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa là cơ chế điều khiển hữu hiệu chính của quá trình này
- Những yêu cầu cơ bản về đánh giá kết quả học tập của HS:
+ Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục
+ Đảm bảo tính hệ thống và toàn diện
+ Đảm bảo tính khách quan
+ Đảm bảo tính công khai
+ Đảm bảo tính khả thi
Trang 26+ Đảm bảo tính tin cậy.
+ Đảm bảo hiệu quả cao
- Việc kiểm tra và thi phải theo nguyên tắc cơ bản: Nội dung kiểm tra, thi phải bám sát mục tiêu dạy học đã được ghi rõ trong chương trình, SGK bộ môn; việc kiểm tra, thi phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học, đảm bảo ba yêu cầu “ Hiểu - Nhớ - Vận dụng” về ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và thái độ, hình thức kiểm tra, thi phải phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc điểm môn học; nội dung và hình thức kiểm tra, thi phải đảm bảo việc phân loại trình độ HS, việc tổ chức thi, kiểm tra phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện cần thiết cho kì thi được tiến hành nghiêm túc và thuận lợi; việc đánh giá kết quả kiểm tra, thi phải thông qua đáp án, thang điểm chi tiết, rõ ràng, phải được tiến hành đảm bảo khách quan, nghiêm túc, khẩn trương
- Vận dụng lí thuyết phát triển năng lực để đánh giá kết quả học tập của HS, trong đó coi trọng khả năng vận dụng của HS thông qua việc nắm vững kiến thức, thành thục về phương pháp, nhạy bén về giao tiếp và tự kiểm điểm bản thân
1.6.6 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả HT của HS
Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình học tập gồm:
- Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của HS ngay trên lớp, dạng vấn đáp
- Kiểm tra thí nghiệm thực hành: kiểm tra kĩ năng thực hành của HS trong quá trình làm các bài thực hành thí nghiệm, dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả
- Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS, dạng kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra học kì Đây là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả học tập của HS
- Kiểm tra đề tài: dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc nhóm
HS phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các HS giỏi
1.6.7 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận
Một câu hỏi TNKQ bao gồm ba yếu tố hình thành là: nội dung câu hỏi; các phương án hoặc giải pháp cho trước và các qui tắc đưa ra Các dạng câu hỏi gồm: trắc nghiệm đúng/sai; ghép đôi; điền khuyết; nhiều lựa chọn
Một câu hỏi TNKQ hoàn hảo cần được xây dựng trên lỗi HS hay mắc phải Có như vậy, các yếu tố gây sự sao nhãng mới có tác dụng trắc nghiệm khả năng tiếp thu của HS
* Quy trình biên soạn một đề kiểm tra viết môn Vật Lí:
Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra
Bước 2: Xác đinh nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)
+ Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng
+ Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)
Trang 27Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra.
Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận
Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm
1.6.8 Các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là : lĩnh vực về nhận thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ B.S.Blom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Blom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất với sáu mức độ :
a Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là một
người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu,
từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể mức độ nhận biết bắng các động từ :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng (không cần giải thích) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố
Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, cái gì, bao nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện,
số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh
ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
b Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm,
hiện tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết
Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào hoặc các từ hỏi “tại sao?”, “nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học
c Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ
thể mới: vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Trang 28Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tìm (trong thực tế), chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải thích (trong thực tế) Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được các quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng phương án này vào thực tiễn.
d Phân tích là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin
nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm
ra mối qua hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận
e.Tổng hợp là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các
nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Có thể cụ thể hóa mức độ tổng hợp bằng các động từ :
- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh
- Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể
- Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban đầu
Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn
đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung
f Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác
định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định
Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến
và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để HS
Trang 29không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng
Dưới đây là bảng các cấp độ nhận thức, hình thành kĩ năng và thái độ.
1.1 Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom
của các sự kiện
Tìm được một trong các đại lượng liên quan CT
hợp riêng biệt
TK được PA khi có đủ các thông số cần thiết.4.Phân tích
VDNL vào các trường hợp phức hợp
TK được PA khi phải tìm các thông số cần thiết
hợp để trình bày một giải pháp mới
Tìm được lỗi trong các PA
6.Đánh giá
VDNLvào các trường hợp để đưa ra các giải pháp mới và SS nó với các giải pháp đã biết khác
xác như hướng dẫn
Làm được chính xác như mẫu
4.Làm biến hóa
Thực hiện được các kĩ năng trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau
Làm được chính xác như mẫu trong các hoàn cảnh khác nhau
5.Làm thuần thục
Đạt trình độ cao về tốc độ và sự chính xác, ít cần sự can thiệp của ý thức
Làm được chính xác như mẫu, kĩ năng như bản năng
c Các cấp độ hình thành thái độ theo Bloom
Trang 30giá thân.
4 Được tổ chức
hệ thống
Xây dựng thành hệ thống có giá trị
Cân bằng giữa các giá trị, giải quyết được các xung đột
về giá trị
5 Hình thành đặc
trưng
Hình thành đặc trưng bản sắc riêng
Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen
1.7.1 Giới thiệu về phần mềm Microsoft Powerpoint
Microsoft powerpoint là một chương trình ứng dụng của bộ phần mềm văn phòng Microsoft Office Microsoft Powerpoint có đầy đủ các tính năng để người sử dụng có thể biên tập các trình diễn bằng văn bản, các biểu đồ số liệu, các trình diễn bằng hình ảnh, âm thanh… Microsoft Powerpoint có các chức năng cho phép người sử dụng chọn các kiểu mẫu trình diễn đã được thiết kế sẵn hoặc tự thiết kế cho mình một kiểu trình diễn riêng tùy theo yêu cầu công việc hoặc ý tưởng của mình
Bạn có thể dùng Microsoft Powerpoint để thuyết trình, có thể in ấn các trình diễn của bạn sử dụng Ngoài ra, còn có thể sử dụng Microsoft Powerpoint để thiết kế WEB, đặt lịch làm việc…
Powerpoint cò thể sử dụng để trình bày một vấn đề theo các cách sau:
- Trình bày trực tiếp bằng máy tính: máy tính sẽ được kết nối với một máy Projector hoặc máy Datashow
- Trình bày gián tiếp: bằng cách in các trang Slide rồi sử dụng máy Overhead.
a Khởi động và thoát Powerpoint
• Cách 1: File/ Exit hoặc File/ Close.
• Cách 2: Double Click biểu tượng ở góc trên bên phải
• Cách 3: Doudle Click biểu tượng ở góc trên bên trái
b Màn hình của Powerpoint
Cửa sổ Powerpoint Startup: Sau khi gọi ứng dụng Powerpoint Startup, như hình bên cho phép bạn chọn cách tạo mới hay mở một trình diễn đã có trong máy
Trang 31AutoContent Wizard: tạo một
trình diễn sử dụng trợ giúp Wizard
Design Template: tạo một trình
diễn theo mẫu đã thiết kế
Blank presentation: tự thiết kế
một trình diễn mới
Open an existing presentation:
mở một trình diễn đã có trong máy
Cửa sổ Powerpoint New Slide:
Khi chọn tạo mới một trình diễn hoặc
chèn thêm vào trình diễn một Slide
mới, cửa sổ Powerpoint New Slide xuất hiện như hình bên cho phép bạn chọn hình thức trình bày của Slide sẽ được chọn
Màn hình Powerpoint gồm những thành phần cơ bản sau:
- Thanh tiêu đề: Hiển thị tên tập tin hiện hành
- Thanh Menu: Hiển thị các trình đơn làm việc
- Thanh công cụ: Hiển thị biểu tượng các thanh công cụ thiết kế
- Thanh định dạng Text: Hiển thị biểu tượng các thanh công cụ định dạng Text
và Slide
- Khung trái tóm tắt các nội dung thiết kế, xem và điều khiển trình chiếu (Slide)
- Khung phải: màn hình thiết kế
- Khung ghi chú: Để nhập ghi chú, các ghi chú này sẽ không hiển thị trên màn
hình thiết kế
- Thanh công cụ vẽ: Hiển thị các công cụ vẽ và trang trí
- Thanh trạng thái: Hiển thị các thông tin hiện hành cho tập tin
c Làm việc với các tập tin
- Cách 1: Chọn File/ New
Trang 32- Cách 2: Nhấn tổ hợp phím (Ctrl + N).
Chọn mẫu trình bày trong cửa sổ New Presentation Mỗi một trang Powerpoint được xem là một Slide, nội dung trình bày sẽ được thiết lập trong Slide này và sau đó thiết lập các thông số hiệu ứng cho chúng
♦ Mở một tập tin có sẵn
- Cách 1: Chọn File/ Open
- Cách 2: Nhấn tổ hợp phím ( Ctrl + O)
- Cách 3: Click biểu tượng Open trên thanh công cụ
Trong cửa sổ Open, chọn ổ đĩa và thư mục chứa tập tin cần mở trong khung Look in Sau đó Click chọn tập tin cần mở và Click Open, hoặc Double Click vào tập tin muốn mở Tập tin Powerpoint có dạng *.ppt hoặc *.pps,…
♦ Lưu tập tin
- Cách 1: Chọn File/ Save
- Cách 2: Nhấn tổ hợp phím ( Ctrl + S)
- Cách 3: Click biểu tượng Save trên thanh công cụ
Trong cửa sổ Save as chọn ổ đĩa và thư mục muốn lưu trong khung Save in Nhập tên muốn lưu trong khung File Name, Click nút Save để bắt đầu lưu
d Các chế độ hiện hành của Powerpoint
Powerpoint có 4 chế độ trình bày và 1 chế độ trình diễn Để chọn chế độ hiển
cũng có thể vào menu View, sau đó chọn cách hiển thị tương ứng
Chế độ bình thường (Normal View): Khi hiển thị ở chế độ này, màn hình được chia làm 3 phần: cửa sổ bên trái hiển thị tổng quan nội
dung của bản trình bày, cửa sổ bên phải hiển thị nội
dung của Slide hiện hành, và cửa sổ ghi chữ ở phía bên
dưới
Chế độ xem Slide (Slide View): hiển thị từng
Slide trên màn hình, chế độ thường được dùng để thêm
hình ảnh, định dạng kí tự, và định dạng màu nền
Chế độ tổng quan (Outline View): Hiển thị tổng
quan các Slide, chế độ này thường được dùng để thêm
nội dung dạng văn bản (text) cho các Slide Bấm chuột
vào các nút công cụ đi theo từng Slide để hiển thị hoặc
ẩn nội dung của Slide đó
Trang 33Chế độ xem thứ tự Slide (Slide Sorter): Hiển thị nhiều Slide cùng lúc trên màn hình Chế độ này thường được dùng để thay đổi và sắp xếp thứ tự các Slide.
Chế độ trình diễn (Slide Show): Hiển thị từng Slide từng trang ở chế độ toàn màn hình Chế độ này thường dùng khi thực hiện buổi thuyết trình Để thoát khỏi chế
độ này và về chế độ trước đó, nhấn phím ESC
e Làm quen với Powerpoint
♦ Di chuyển giữa các slide
Một tập tin Powerpoint thông thường được thiết kế thành nhiều slide (trang), bạn có thể dễ dàng nhận biết được số lượng Slide trong tập tin hiện hành bằng cách nhìn bên thanh trạng thái ở cuối màn hình, hoặc bên thanh màn hình đều có hiển thị số thứ tự các Slide Muốn di chuyển đén Slide nào, Click vào số thứ tự Slide đó hoặc Click vào thanh trượt ở bên phải màn hình
♦ Thay đổi cách hiển thị
View/ Slide show: Chuyển sang chế độ trìn chiếu (chạy chương trình) Khi đang ở chế độ trình chiếu, nhấn ESC nếu muốn thoát
View/ Normal: Chuyển về chế độ thiết kế
View/ Toolbar: Cũng giống như MS Word, dùng trình
đơn này để chọn hoặc thôi chọn hiển thị thanh công cụ
View/ Zoom: Thay đổi tỉ lệ khung nhìn Khi hiển thị ổ
chế độ quản lí các Slide và chế độ thiết kế, bạn có thể thay đổi
chế độ hiển thị để dễ dàng xem và thiết kế
♦ Các thao tác trên slide
• Thêm Slide mới: Cho phép thêm Slide vào bản trình diễn.
Cách thực hiện: Insert/ New Slide hoặc Click biểu tượng trên thanh công cụ hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl+M hoặc vào Common Task/New Slide
Chọn cách trình bày Slide mới từ cửa sổ rồi Click Ok
Chú ý: Bạn có thể sử dụng Slide mới giống như Slide hiện hành bằng cách vào
Insert Duplicate Slide
• Xóa bỏ Slide: Cho phép xóa Slide không sử dụng trong bản trình diễn.
Cách thực hiện: Chọn Slide cần xóa trong khung Outline hoặc trong chế độ Slide Sorter, rồi nhấn phím Delete Hoặc vào menu Edit/ Delete Slide
• Sao chép Slide: Cho phép sao chép Slide trong bản trình diễn
Cách thực hiện:
- Chọn Slide cần sao chép trong khung Outline hoặc trong chế độ Slide Sorter
nhấn tổ hợp phím Ctrl+C hoặc R_Click/ Copy
Trang 34- Click chọn vị trí dán Slide
- Vào menu Edit/ Past hoặc Click vào biểu tượng trên thanh Standard hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl+V hoặc R_Click/ Past
• Sắp xếp lại các Slide: Cho phép sắp xếp lại các Slide trong bản trình diễn cho
đúng với trình tự nội dung
Cách thực hiện:
- Chọn Slide cần thay đổi vị trí trong khung Outline hoặc trong chế độ Slide Sorter
tổ hợp phím Ctrl+X hoặc R_Click/ Cut
- Click chọn vị trí dán Slide
- Vào menu Edit/ Past hoặc Click vào biểu tượng trên thanh Standard hoặc nhấn tổ hợp phím Ctrl+V hoặc R_Click/ Past
Chú ý: Có thể thực hiện nhanh bằn cách Drag chuột: chọn Slide cần thay đổi vị
trí trong khung Outline hoặc trong chế độ Slide Sorter, dùng chuột Drag tới vị trí mới
• Ẩn các Slide: Chức năng này cho phép ẩn Slide trong chế độ trình diễn (Slide
Show) nhưng không xóa hẳn Slide đó khỏi bản trình diễn hiện hành
Cách thực hiện:
- Chọn Slide muốn ẩn
- Chọn Slide Show/ Hide Slide
Chú ý: Muốn chọn lại Slide này, chọn Slide Show/ Hide Slide một lần nữa.
1.7.2 Thiết kế với Microsoft Powerpoint
a Chọn màu nền cho văn bản
một Blank Slide và vào trình đơn Format/ Slide Design
Trang 35Có nhiều Template khác nhau, Click
vào các Template trong cửa sổ Apply Design
Template để xem các biểu mẫu nền trước khi
Click Apply để chấp nhận
Chú ý: Trong một tập tin chỉ sử dụng
được một Template, tức là các Slide trong
một tập tin dùng chung một Template, nhưng
có thể thay đổi màu của các Slide khác nhau
Click chọn màu trong khung Color Schemes Có thể Click mở bảng Custom để
tự chọn màu theo ý thích Trong bảng Custom, Click chọn mục muốn đổi màu trong khung Schemes Color, sau đó Click nút Change Color để mở bảng màu tự chọn,… (Hay vào menu Format/ Background) Sauk hi chọn màu xong, Click nút Apply để đổi màu cho Slide hiện hành, hoặc Click nút Apply to All để đổi màu cho tất cả các tập tin
khung màu; trong khung này có 2 mục lựa chọn: More Color và Fill Effect
More Color: Mở bảng màu tiêu chuẩn và chọn màu tùy ý
Trang 36Fill Effect: Các dạng màu hiệu ứng Trong cửa sổ Fill Effect có 4 dạng
Gradient: các dạng pha màu Texture : Mẫu màu nền Texture
Pattern: Dạng mẫu Pattern Picture: Lấy ảnh có sẵn làm màn nền
Vào menu Format/ Slide Layout, ta được các định dạng sau: Text Layouts, Content Layouts, Text and Content Layouts, Other Layouts
Trang 37Nhập văn bản vào khung cỡ chữ có sẵn
Các mẫu thiết kế đều có sẵn các khung cỡ chữ với nhiều tiêu đề “Click to add…” Nếu muốn nhập chữ vào khung này có thể thực hiện như sau:
Click trỏ chuột vào ô muốn nhập chữ
Nếu cần chọn lại kiểu chữ, chọn trong khung Font/ Size hoặc từ menu Format/ Font Nếu muốn nhập tiếng việt ta chọn Font tiếng việt và chỉnh kiểu gõ thích hợp
Trang 38dạng, kiểu dáng của các Slide trong bản trình bày Khi thay đổi thuộc tính của Slide Master thì những thay đổi đó sẽ có hiệu lực với tất cả các Slide trong bản trình diễn Khi sử dụng Slide Master, ta có thể tạo ra một bản trình diễn với kiểu dáng có tính nhất quán cao.
bản (tiêu đề, danh sách đánh dấu đầu mục) trong Slide: Font, cỡ chữ, kiểu chữ,… Thay đổi kích thước và vị trí của các đối tượng khác (thêm ngày giờ, tiêu đề đầu và cuối trang, đánh số trang,…)
Thay đổi màu nền, màu cho các đối tượng trong Slide
Thay đổi các thuộc tính của Slide Master: Vào menu View/ Master/ Slide Master, xuất hiện cửa sổ như sau:
Click vào hộp Title Area for AutoLayouts để thay đổi các thuộc tính trong tiêu đề
Trang 39Click vào hộp Object Area for AutoLayouts để thay đổi các thuộc tính cho danh sách đánh dấu đầu mục.
Click vào hộp Date Area, Footer Area, Number Area để thay đổi các thuộc tính cho ngày, giờ, tiêu đề đầu và cuối trang, số trang
Click Close trên thanh công cụ Master để trở về chế độ bình thường
Định dạng Header và Footer: chức năng này dùng để them ngày giờ, tiêu đề đầu và cuối trang, số trang cho Slide khi ở chế độ định dạng Slide Master
Cách thực hiện: View/ Header and Footer Sau đó tiến hành thay đổi các thuộc tính cho các Slide và chế độ Notes Page
• Định dạng màu nền cho Slide Master:
Vào menu Format/ Background
Chọn màu nền hoặc sử dụng các hiệu ứng cho nền Slide
Click Apply để ấn định thay đổi cho Slide hiện hành
Click Apply tp All để ấn định thay đổi cho tất cả Slide
Trang 40• Định dạng màu cho Slide Master: Chức năng này cho phép định màu nền cho các
đối tượng Slide Master Để thực hiện ta vào menu Format/ Slide Color Scheme/ thực hiện định dạng
• Định dạng cho Title Master: Title Master cho phép định dạng các thuộc tính cho
Slide tiêu đề Nếu đã chỉnh sữa Slide Master trước, bạn không cần thay đổi nhiều cho Slide tiêu
đề Bạn có thể chọn Font chữ lớn hơn, hoặc thêm vào một hình ảnh, bỏ ngày giờ, tiêu đề, Cách thực hiện: Vào menu View/ Master/ Title Master
Muốn hiệu chỉnh các đoạn chữ trong Textbox, cần Click và Drag chọn các chữ cần hiệu chỉnh, hay Click tại biên của khung để chọn cả Textbox và thực hiện định dạng như sau:
Vào Format/ Font Trong cửa sổ Font có các mục sau:
Color: Màu chữ
Có thể hiệu chỉnh từ thanh định dạng:
Chọn Format/ Bullets and Numbering Xuất hiện màn hình như bên
Center : Canh giữa
Align right : Canh đều phải
Justify: Canh đều hai bên