1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý SO SÁNH NĂNG SUẤT và CHẤT LƯỢNG 16 GIỐNG lúa MTL (MIỀN tây lúa) tại KHU hòa AN vụ hè THU năm 2012

81 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, công tác chọn ra những giống lúa cho năng suất cao, phẩm chất tốt và thích nghi với vùng đất phèn là thật sự cần thiết trong điều kiện sản xuất ở ĐBSCL.Vì vậy, đề tài “So sánh

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

= = == = =

VÕ THANH VI

VỤ HÈ THU NĂM 2012

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Cần Thơ 12/2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL

= = == = =

VÕ THANH VI

VỤ HÈ THU NĂM 2012

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Mã ngành: 52 62 01 01

Cán bộ hướng dẫn

Ths TRẦN HỮU PHÚC Cần Thơ 12/2012

Trang 3



Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Võ Thanh Vi

Trang 4

Ngày, tháng, năm sinh: 03/11/1990

Nơi sinh: Ấp Hòa Mỹ, Xã Hòa Hưng, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang

Quê quán: Ấp Hòa Mỹ, Xã Hòa Hưng, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang

Điện thoại: 01269.374.737

Cha: Võ Văn Khải Sinh năm: 1965

Mẹ: Võ Thị Sáu Sinh năm: 1969

Chổ ở hiện nay: Ấp Hòa Mỹ, Xã Hòa Hưng, Huyện Giồng Riềng, Tỉnh Kiên Giang

II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

Từ năm 1996 đến năm 2001: học tại trường Tiểu học Hòa Hưng

Từ năm 2001 đến năm 2005: học tại trường Trung Học cơ sở Hòa Hưng

Từ năm 2005 đến năm 2008: học tại trường Trung học phổ thông Hòa Hưng

Từ năm 2009 đến năm 2012: học tại trường Đại học Cần Thơ

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012

Ký tên

Võ Thanh Vi

Trang 5



Xác nhận của cán bộ hướng dẫn và Bộ môn Tài nguyên và cây trồng, Viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng Sông Cửu Long, trường Đại Học Cần Thơ về đề tài: “SO SÁNH NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG 16 GIỐNG LÚA MTL (MIỀN TÂY LÚA) TẠI KHU HÒA AN – VỤ HÈ THU NĂM 2O12”, do sinh viên VÕ THANH VI lớp Phát triển nông thôn A2 khóa 35 thực hiện trong thời gian từ 5/2012 – 12/2012

Nhận xét và xác nhận của cán bộ hướng dẫn

Cần Thơ, ngày …….tháng…… năm 2012

Cán bộ hướng dẫn

Ths.Trần Hữu Phúc

Trang 6



Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đại học thông qua đề tài: “SO SÁNH NĂNG SUẤT

VÀ CHẤT LƯỢNG 16 GIỐNG LÚA MTL (MIỀN TÂY LÚA) TẠI KHU HÒA AN –

VỤ HÈ THU NĂM 2O12”, do sinh viên VÕ THANH VI thực hiện (MSSV: 4095101), lớp Phát triển nông thôn A2 khóa 35, viện Nghiên cứu phát triển Đồng bằng Sông Cửu Long, trường Đại Học Cần Thơ

Luận văn tốt nghiệp được đánh giá:

Ý kiến của hội đồng:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012

Chủ tịch hội đồng

Trang 7



Kính gởi

Cha mẹ thân yêu của con Cha mẹ đã sinh ra con, nuôi nấng, dạy bảo và cho con được như ngày nay Cha mẹ là động lực, là lý tưởng cho con phấn đấu trong suốt quãng đường đời sau này Những lời động viên, khuyến khích và sự ủng hộ về vật chất cũng như tinh thần mà cha, mẹ đã dành cho con không chỉ tiếp sức cho con hôm nay mà còn cả mai sau nữa Một lời cảm ơn không nói hết được lòng con, nhưng xin cho con được nói : Con cảm

ơn cha, mẹ rất nhiều

Chân thành biết ơn

Thầy Trần Hữu Phúc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chị Nguyễn Hồng Huế đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình phân tích số liệu

Thân gởi

Tất cả các bạn sinh viên lớp Phát Triển Nông Thôn A2-K35

Trang 8

Hiện nay, công tác chọn ra những giống lúa cho năng suất cao, phẩm chất tốt và thích nghi với vùng đất phèn là thật sự cần thiết trong điều kiện sản xuất ở ĐBSCL.Vì vậy, đề

tài “So sánh năng suất và chất lượng 16 giống lúa MTL(Miền Tây Lúa) tại khu Hòa

An – vụ Hè Thu năm 2012” được thực hiện nhằm đáp ứng những nhu cầu trên

Đề tài được thực hiện tại khu đất phèn – Khoa Phát triển nông thôn – Đại học Cần Thơ Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại Có 16 nghiêm thức, mỗi nghiệm thức là một giống trong đó giống OMCS2000 và IR50404 là hai giống đối chứng

Mạ được đem cấy khi 15 ngày tuổi và bón phân theo công thức 80N-60PO5-30K2O Các chỉ tiêu theo dõi: đặc tính nông học, thành phần năng suất và năng suất thực tế, các chỉ tiêu về phẩm chất gạo, tính kháng và nhiễm với sâu bệnh

Các giống lúa được chọn có thời gian sinh trưởng ngắn, gạo thuộc loại gạo thơm ,dẻo hoặc mềm cơm, có năng suất khá cao, tỷ lệ bạc bụng thấp, đồng thời có khả năng kháng với rầy nâu và ít nhiễm bệnh cháy lá Qua thí nghiệm đã tìm được một số giống phù hợp với yêu cầu trên như là MTL752, MTL756, MTL775, và MTL7784

Các giống lúa trên có đặc tính nông học phù hơp với kiểu hình cây lúa cho năng suất cao,chịu phèn, có khả năng kháng rầy nâu và ít bị nhiễm cháy lá, phẩm chất gạo phù hợp với yêu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước

Trang 9

XÁC NHẬN VÀ NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN……… i

XÁC NHẬN VÀ XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG……… ii

LỜI CẢM TẠ……… iii

LỜI CAM ĐOAN………iv

TIỂU SỬ CÁ NHÂN………v

TÓM LƯỢC………vi

DANH SÁCH BẢNG………xii

DANH SÁCH HÌNH……….xiv

CHỮ VIẾT TẮT………xv

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ……… 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát……… 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể ……… 2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……… 3

2.1 ĐẤT PHÈN……… 3

2.1.1 Định nghĩa……….3

2.1.2 Đặc điểm ……… ….3

2.1.2.1 Tính chất vật lý……….………….…….3

2.1.2.2 Tính chất hóa học ……….….3

2.1.2.3 Tính chất sinh học……….……… 3

2.1.2.4 Kết luận ……… ……… 4

2.1.2.5 Nguồn gốc……… ………4

2.1.2.6 Phân bố… 5

2.1.3 Những trở ngại khi canh tác lúa trên đất phèn 6

2.1.3.1 Ảnh hưởng của Ph 6

Trang 10

2.1.3.2 Ảnh hưởng của Fe2+ 7

2.2 VAI TRÒ CỦA GIỐNG LÚA TRONG SẢN XUẤT VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CHỌN GIỐNG 7

2.2.1 Vai trò của giống lúa trong sản xuất 7

2.2.2 Các quan điểm chọn giống lúa 9

2.2.3 Quy trình chọn tạo giống lúa 10

2.2.3.1 Chọn vật liệu khởi đầu 10

2.2.3.2 Quan sát sơ khởi 10

2.3.3.3 Trắc nghiệm hậu kỳ… 10

2.2.3.4 So sánh năng suất 10

2.2.3.5 Khu vực hóa 10

2.2.3.6 Sản xuất thử 10

2.3 CÁC ĐẶC TÍNH QUAN TRỌNG TRONG CHỌN GIỐNG LÚA 10

2.3.1 Thời gian sinh trưởng 10

2.3.2 Chiều cao cây lúa 11

2.3.3 Chiều dài bông 11

2.3.4 Tỷ lệ chồi hữu hiệu 12

2.3.5 Năng suất và thành phần năng suất 12

2.3.5.1 Số bông/m2 13

2.3.5.2 Số hạt chắc/bông 13

2.3.5.3 Tỷ lệ hạt chắc .14

2.3.5.4 Trọng lượng 1000 hạt 14

2.4 CÁC CHỈ TIÊU PHẨM CHẤT HẠT GẠO .14

2.4.1 Tỉ lệ gạo lức 14

2.4.2 Tỷ lệ gạo trắng 14

2.4.3 Tỷ lệ gạo nguyên 15

Trang 11

2.4.5 Độ bạc bụng 15

2.4.6 Hàm lượng amylose 15

2.4.7 Mùi thơm .16

2.4.8 Độ trở hồ 16

2.5 TÍNH KHÁNG VÀ NHIỄM SÂU BỆNH 17

2.5.1 Bệnh rầy nâu … 17

2.5.2 Bệnh cháy lá (Đạo ôn) 17

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 19

3.1 PHƯƠNG TIỆN 19

3.1.1 Thời gian thí nghiệm 19

3.1.2 Giống lúa 19

3.1.3 Địa điểm thí nghiệm 19

3.1.4 Hóa chất 20

3.1.5 Dụng cụ phân tích số liệu 20

3.2 PHƯƠNG PHÁP……… 21

3.2.1 Bố trí thí nghiệm……… 21

3.2.2 Phương pháp canh tác ……… 22

3.3 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI……… 22

3.3.1 Các chỉ tiêu nông học……… 22

3.3.1.1 Chiều cao cây……… … … 22

3.3.1.2 Số chồi……… 22

3.3.2 Các chỉ tiêu năng suất và thành phần năng suất……… 23

3.3.2.1 Năng suất thực tế ……… 23

3.3.2.2 Các thành phần năng suất……… ……… 23

3.3.3 Các chỉ tiêu về phẩm chất hạt gạo 24

3.3.3.1 Tỷ lệ xay chà 24

Trang 12

3.3.3.3 Độ bạc bụng(%) ……….……… 25

3.3.3.4 Xác định hàm lượng amylose……… ……… … 26

3.3.3.5 Độ trở hồ ……… ……… …27

3.3.3.6 Mùi thơm ……… 27

3.3.4 Đánh giá sâu bệnh ……… ….28

3.3.4.1 Rầy nâu ……… 28

3.3 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ……… 29

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ……… … 30

4.1 ĐẶC TÍNH NÔNG HỌC ……… ……… 30

4.1.1 Thời gian sinh trưởng ……… ……… 30

4.1.2 Chiều cao cây ……… ……… 31

4.1.3 Chồi/m2 ……….………33

4.1.4 Chiều dài bông ……… ………35

4.2 NĂNG SUẤT THỰC TẾ VÀ CÁC THÀNH PHẦN NĂNG SUẤT … ………… 35

4.2.1 Bông/m2 ………35

4.2.3 Hạt chắc/bông ……… 36

4.2.4 Năng suất thực tế ……… ………37

4.2.5 Những giống lúa triển vọng cho năng suất cao được chọn lọc tại Khu Hòa

An vụ Hè Thu năm 2012 … ……… …… 38

4.3 ĐÁNH GIÁ PHẨM CHẤT HẠT GẠO……… … 39

4.3.1 Tỉ lệ gạo lức……….… 39

4.3.2 Tỉ lệ gạo trắng .39

4.3.3 Tỉ lệ gạo nguyên 39

4.3.4 Hình dạng và kích thước hạt gạo ……… 41

4.3.4.1 Chiều dài hạt gạo ……… ….41

4.3.4.2 Tỉ lệ dài/rộng ……… 42

Trang 13

4.3.6 Độ trở hồ ……….44

4.4.7 Hàm lượng Amylose ……… 46

4.3.8 Mùi thơm ……… 47

4.3.9 Những giống lúa triển vọng có phẩm chất tốt được tuyển chọn tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 ……….……… 48

4.4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHIỄM SÂU BỆNH ……… 48

4.4.1 Bệnh rầy nâu 48

4.4.2 Bệnh cháy lá 49

4.5 NHẬN XÉT CHUNG VÀ TUYỂN CHỌN DÒNG TRIỂN VỌNG 50

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

5.1 KẾT LUẬN 51

5.2 KIẾN NGHỊ 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ CHƯƠNG 54

Trang 14

BẢNG TÊN BẢNG TRANG

Bảng 2.1 Sự đóng góp của các thành phần năng suất lúa vào năng suất lúa

theo Yoshida và Parao (1976) 12

Bảng 2.2 Tương quan giữa nhiệt độ hóa hồ và độ tan rã của gạo trong môi trường kiềm 16

Bảng 3.1 Danh sách 16 giống lúa thí nhiệm tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 19

Bảng 3.2 Phân cấp và đánh giá khả năng nở bụi của lúa theo IRRI (1996) 22

Bảng 3.3 Phân loại tỷ lệ gạo lức (IRRI, 1980) 24

Bảng 3.4 Phân loại tỷ lệ gạo trắng (IRRI, 1980) 24

Bảng 3.5 Phân loại tỷ lệ gạo nguyên (IRRI, 1980) 24

Bảng 3.6 Phân loại chiều dài hạt gạo trắng(mm) theo IRRI (1980) 25

Bảng 3.7 Phân loại hình dạng hạt gạo trắng theo (IRRI, 1996) 25

Bảng 3.8 Phân cấp bạc bụng theo (IRRI, 1996) 25

Bảng 3.9 Phân loại nhóm gạo theo hàm lượng amylose trong hạt (IRRI, 1998) 27

Bảng 3.10 Phân cấp độ trở hồ trong gạo theo (IRRI, 1996) 27

Bảng 3.11 Phân loại mùi thơm theo (IRRI, 1996) 28

Bảng 3.12 Phân cấp đánh giá tính nghiễm rầy nâu của lúa theo (IRRI, 1986) 28

Bảng 4.1 Chiều cao cây và thời gian sinh trưởng của 16 giống lúa thí nghiệm tại khu Hòa An - Đại học Cần Thơ - vụ Hè Thu năm 2012 30

Bảng 4.2 Diễn biến số chồi/m2 và chiều dài bông của 16 giống lúa thí nghiệm tại khu Hòa An – Đại Học Cần Thơ - vụ Hè Thu năm 2012 34

Bảng 4.3 Các thành phần năng suất và năng suất của 16 giống lúa Hòa An vụ Hè Thu 2012 37

Bảng 4.4 Tỉ lệ gạo lức (%), tỉ lệ gạo trắng (%) và tỉ lệ gạo nguyên (%) của 16 giống lúa thí nghiệm tại Khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 40

Bảng 4.5 Chiều dài hạt(mm), chiều rộng hạt(mm), tỉ lệ dài/rộng của 16 giống lúa thí nghiệm tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 41

Trang 15

Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 44 Bảng 4.7 Độ trở hồ của 16 giống lúa thí nghiệm tại khu Hòa An vụ

Hè Thu năm 2012 .45

Bảng 4.8 Hàm lượng amylose (%) và phân loại mùi thơm của 16 giống lúa

thí nghiệm tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 46 Bảng 4.9 Đánh giá mức độ rầy nâu và bệnh cháy lá của 16 giống lúa

thí nhiệm tại Khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 48 Bảng 4.10 Những giống lúa triển vọng cho năng suất cao được chọn lọc tại

Khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 50 Bảng 4.11 Những giống lúa triển vọng có phẩm chất tốt được tuyển chọn tại

khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 50 Bảng 4.12 Đặc tính những giống lúa triển vọng canh tác trên vùng đất phèn

tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 51

Trang 16

HÌNH TÊN HÌNH TRANG

Hình 3.1 Máy tách chắc lép 20

Hình 3.2 Máy đếm ngàn hạt 20

Hình 3.3 Máy đo hàm lượng amylose 20

Hình 3.4 Máy tách vỏ trấu 20

Hình 3.5 Máy đo ẩm độ 20

Hình 3.6 Máy lao bóng hạt gạo 20

Hình 3.8 Sơ đồ bố trí 16 giống lúa thí nghiệm tại khu Hòa An Đại Học Cần Thơ – vụ Hè Thu năm 2012 21

Trang 17

NSKC: ngày sau khi cấy

IRRI: International Rice Research Institute

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

TGST: Thời gian sinh trưởng

ĐC: Đối chứng

MTL: Miền Tây Lúa

NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 18

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lúa là cây trồng thân thiết, lâu đời nhất của nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế

giới, đặc biệt là các dân tộc ở Châu Á Lúa gạo là loại lương thực chính của người dân

Châu Á, giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân

Châu Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên có thể nói, trên khắp thế giới, ở đâu cũng dùng đến lúa

gạo hoặc các sản phẩm từ lúa gạo Khoảng 40% dân số trên thế giới lấy lúa gạo làm

nguồn lương thực chính (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp Khu vực đồng bằng sông

Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam là hai khu vực nông nghiệp

chủ yếu

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lúa trọng điểm cả nước Năm 2011, sản

lượng lúa đạt 23 triệu tấn, chiếm khoảng 55% tổng sản lượng lúa của cả nước, xuất khẩu

đạt 5,8 triệu tấn gạo, chiếm 91% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước Do đó, sản xuất

lúa ở đồng bằng sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an

ninh lương thực quốc gia và góp phần tích cực trong xuất khẩu Tuy nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 1,68 triệu ha đất phèn (chiếm 44%

diện tích chung), tập trung ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên Ở vùng

Đồng Tháp Mười, phần lớn đất phèn hình thành từ trầm tích sét nặng có độ thấm cao,

khi bị ôxy hóa dễ dàng xuất hiện khoáng Jarosite Ở Tứ giác Long Xuyên đất phèn

tương đối đồng đều về nguồn gốc hình thành và độc tố, ít có những biến động

lớn trong cùng một khu vực Đất phèn vùng bán đảo Cà Mau hình thành trên trầm

tích sông biển hỗn hợp chứa Pyrite bị phủ một lớp trầm tích sông mỏng bên trên, do

đó lượng chất độc không cao, đất thường bị nhiễm mặn vào mùa khô bởi nước biển tràn

vào sông rạch (Viện lúa ĐBSCL, 2005)

Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, việc tìm ra những giống lúa

mới có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu

sâu bệnh và thích nghi được với điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL nói chung và của vùng

đất Hòa An nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng Vì vậy, đề tài “SO SÁNH NĂNG

SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG 16 GIỐNG LÚA MTL (MIỀN TÂY LÚA) TẠI KHU HÒA

AN - VỤ HÈ THU NĂM 2012’’ được thực hiện để đáp ứng những nhu cầu trên

Trang 19

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 So sánh năng suất, phẩm chất của 16 giống lúa tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012 từ

đó chọn ra những giống lúa triển vọng

 Tìm ra những giống lúa thích nghi với vùng đất phèn Hòa An

Trang 20

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.2 ĐẤT PHÈN

2.2.1 Định nghĩa

Đất phèn là loại đất có tầng sulfuric (tầng phèn) hay tầng chứa vật liệu sinh phèn (tầng

sulfidic) hoặc chứa cả 2 tầng trên trong phẫu diện đất

2.2.2 Đặc điểm

2.2.2.1 Tính chất vật lý

Gần 100% đất phèn hình thành trên đất có sa cấu nặng (tức sét > 40%)

Cấu trúc kém hoặc không có cấu trúc

Mặc dù có hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng do trong điều kiện chua và yếm khí nên hầu hết chất hữu cơ phân giải rất kém, phân giải không hoàn toàn Vì vậy hàm lượng chất hữu cơ trong đất cao nhưng hàm lượng mùn thấp, thể hiện bằng tỷ số (C/N >25) Cũng chính vì trong đất ngập nước và đất chua, phần lớn hoạt động phân giải của vi sinh vật tham gia rất kém, có khi không có, nên đất phèn rất chậm hình thành cấu trúc của nó

2.1.2.2 Tính chất hóa học

Bất lợi đầu tiên của đất phèn là chứa hàm lượng H2SO4 quá cao, do đó pH thấp (khoảng 3,5 ở tầng phèn), và chính acid này phá vỡ cấu trúc của khoáng sét để giải phóng nhôm Nguyên tố có hàm lượng cao nhất trong đất phèn là H+, (SO4)2- và Al3+, nếu nó hòa tan với hàm lượng cao thì không có cây trồng nào sống nổi

Một bất lợi nữa của đất phèn là hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số tuy cao nhưng khả năng hữu dụng rất thấp (đặc biệt là lân)

Do có sa cấu sét và hàm lượng chất hữu cơ cao nên CEC cao, tính đệm pH rất cao (rất khó để cải thiện pH đất)

Trang 21

2.1.2.4 Kết luận

Trở ngại chính của đất phèn trong sản xuất nông nghiệp bao gồm:

- Đất cực chua

- Nồng độ độc chất cao (Al3+, Fe2+, (SO4)2-)

- Hàm lượng lân hữu dụng thấp.`

2.1.2.5 Nguồn gốc

Sự hình thành phèn là do 2 yếu tố:

Yếu tố thứ nhất: Tích luỹ (SO4)2- hay các dạng S Con đường thứ nhất: (SO4)2- hay các dạng S được tích lũy trong cây sú vẹt Rừng sú vẹt tích lũy được nhiều S nhờ đặc tính sinh lí và nhờ mặt lá láng bóng, phiến lá dày, bộ rễ khỏe và hệ thống rễ lớn Rừng sú vẹt phát triển mạnh rồi sau đó bị phù sa vùi lấp Quá trình phân giải yếm khí có sự tham gia của vi khuẩn Clostridium, Thiobacillus, Thiooxydans để tạo ra một số sản phẩm là CO2, axit hữu cơ, S hữu cơ, S và H2S Con đường thứ hai là S hay (SO4)2- có trong mẫu chất, nước biển xâm nhập theo thủy triều vào vùng bùn mặn có sú vẹt hay không có sú vẹt

Yếu tố thứ hai phải kể đến trong sự tạo thành phèn là sắt Nước ta là một nước nhiệt đới, quá trình Ferralit xảy ra mạnh (quá trình tích lũy tương đối sắt nhôm) Nghĩa là trong đất

và nước những vùng rừng sú vẹt hay cả những vùng biển cạn không có sú vẹt, Fe đã có mặt nhiều do quá trình phân hủy keo sét, rửa trôi và tích tụ Ngoài ra có trường hợp trong một số thực vật có khả năng tích lũy sắt rất cao Ví dụ cây Suaeda glauca có khả năng tích lũy trong cây 7900 ppm

Tuy nhiên con đường chuyển hóa của sắt, kết hợp với S không chỉ đơn thuần là hóa học

mà còn có sự tham gia của vi sinh vật sắt để tạo thành pyrite FeS hay FeS2 Trong hai dạng này FeS2 ổn định hơn nên FeS dễ chuyển sang FeS2 Thực ra trong dung dịch nó có thể ở dạng FeS2.nH2O (hydro tryolit) Đó là dạng không tinh thể của Pyrit, dạng này làm cho đất có màu xám đen, dù chỉ là một lượng rất ít

Khi trong đất đã có Pyrit, thì hai trường hợp xảy ra:

- Nếu được ngập nước thường xuyên thì đất ở trạng thái khử không có ôxy, không có hệ

vi sinh vật ôxy hóa và không có CaCO3 và đất đó được gọi là đất phèn tiềm tàng (có khả năng sinh phèn lớn)

- Nếu đất bị ôxy xâm nhập (như đào kênh lên líp, hạ mức nước ngầm …) thì quá trình ôxy hóa diễn ra mạnh Trước hết Pyrit sẽ tham gia phản ứng ôxy hóa khử, qua bước trung gian, để tạo thành axit sunfuric

Trang 22

Phản ứng này xảy ra mạnh luôn tạo ra sản phẩm là axit sunfuric làm cho đất rất chua

Khi đã có một lượng H2SO4 thì H2SO4 sẽ tác dụng lại với alumin silicat trong đất để giải

phóng ra các ion Al3+ Tác động này mạnh mẽ khi pH < 4,1 (pH trầm lắng của Al3+ là >

4,1) và sự xuất hiện của Al3+ đã làm cho đất thêm chua và pH có khi xuống đến 2, thậm

chí chỉ 1,6 – 1,7, để rồi tiếp tục làm giải phóng càng nhiều Al3+

2-này có thể phân ly một phần để tạo thành dạng ion Fe2+, SO4

, K…

2-Như vậy sự diễn tiến của quá trình sinh phèn trước hết là có S và Fe, sau đó xuất hiện

FeS hay FeS2 (tầng Pyrite), tiếp đó xuất hiện muối của sunfat sắt, sunfat nhôm, sunfat

kép sắt nhôm trong tầng Jarosite Còn trong dung dịch chúng có dạng các ion Fe2+, Fe3+,

Al3+, (SO4)2- và một ít muối của chúng không hòa tan, lơ lửng dạng huyền phù

2.1.2.7 Phân bố

Theo Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (2005), ĐBSCL có 1,68 triệu ha đất phèn

(chiếm 44% diện tích chung), tập trung ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên Đất phù sa có 1,16 triệu ha (chiếm 30%) tập trung dọc theo hai bờ sông Tiền, sông Hậu

Đất mặn ven biển có 0,7 triệu ha (chiếm 18%), canh tác lúa nước trời hoặc trồng rừng ngập mặn, và các loại đất khác còn lại chiếm 8% Ở vùng Đồng Tháp Mười, phần lớn đất phèn hình thành từ trầm tích sét nặng có độ thấm cao, khi bị ôxy hóa dễ

dàng xuất hiện khoáng Jarosite Ở Tứ giác Long Xuyên đất phèn tương đối đồng đều

về nguồn gốc hình thành và độc tố, ít có những biến động lớn trong cùng một khu vực

Đất phèn vùng bán đảo Cà Mau hình thành trên trầm tích sông biển hỗn hợp chứa Pyrite

bị phủ một lớp trầm tích sông mỏng bên trên, do đó lượng chất độc không cao, đất thường bị nhiễm mặn vào mùa khô bởi nước biển tràn vào sông rạch

Trang 23

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đất phèn trồng lúa ở ĐBSCL thường phân thành

3 tầng chính:

- Tầng A: còn gọi là tầng canh tác, có màu nâu đen, nhiều chất hữu cơ và các ống

rễ chưa phân hủy hết, đất tơi xốp

- Tầng B: gọi là tầng phèn, đất sét nặng, màu xám, rất dẽ chặt, có nhiều đốm rỉ lẫn nhiều ống phèn vàng tươi (jarosite) dọc theo ống rễ hoặc đường nứt trong đất Tầng này tích tụ được nhiều chất được rửa trôi từ tầng A xuống nên còn gọi là tầng tích tụ

- Tầng C: gọi là tầng mẫu chất hay tầng phèn tiềm tàng Đất sét rất mềm nhão, yếm khí,

màu xám xanh, có lẫn xác bả thực vật chưa phân hủy màu đen

2.1.3 Những trở ngại khi canh tác lúa trên đất phèn

2.1.3.1 Ảnh hưởng của pH

Theo Lê Huy Bá (2000), Trên đất phèn pH thấp làm cản trở quá trình hydrat hóa, sulfate hóa, amon hóa Ảnh hưởng đến các yếu tố dinh dưỡng như lân, gây hại cho lân

khó tiêu hơn H+ là một cation gây độc thông qua môi trường pH thấp và làm cho độ hòa

tan chuyển hóa dinh dưỡng kém Nồng độ H+ trong đất phèn thấp, gây hại cho lúa một cách trực tiếp và gián tiếp Khi pH từ 3,5 - 4 trong dung dịch đất thì lúa bị ngộ độc

trực tiếp bởi H+, nhưng ở khoảng pH này ngộ độc do Al3+ thì quan trọng hơn

Theo Neue (1987), pH thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của cây lúa trong khoảng 5,5 -

6,5 đối với đất khô và 6,8 - 7,2 đối với đất ướt Như vậy độ chua mãnh liệt trên đất phèn

khi đất để khô, đất phèn nặng và đất phèn trung bình không thích hợp cho sự sinh trưởng

và phát triển của cây lúa Cây lúa ngộ độc do pH sẽ sinh trưởng còi cọc, thường không

có hạt (Lê Văn Căn, 1978)

2.1.3.2 Ảnh hưởng của Al 3+

Theo Trần Kim Tính (1999), thì dưới điều kiện đất khô acid chủ yếu là nồng độ Al3+ cao

ở mức gây ngộ độc cho cây trồng đối với đất phèn nặng Nhôm có trong đất phèn ở nồng

độ 150 – 3000 ppm Đó là các cation độc nhất trong số các độc chất Al3+ làm kết tủa các

keo sét và các chất lơ lửng trong nước nên nước phèn rất trong Càng nhiều Al3+ càng

độc nhưng nếu tồn tại đồng thời cả Al3+ và Fe2+ thì độc chất của đất phèn nặng tăng lên

nhiều so với đất phèn chỉ có Al3+ hoặc Fe2+

Breemen (1973) chỉ rằng sự hoạt động của nhôm có tương quan nghịch với pH Nồng độ

nhôm trong dung dịch đất phèn vào khoảng 1mg/lít ở pH 4,8, nồng độ này tăng khi pH

giảm và ngược lại

Trang 24

2.1.3.2 Ảnh hưởng của Fe 2+

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), sắt là thành phần cấu tạo của Chlorophyll (diệp lục tố)

và một số phân hóa tố trong cây, nhưng cây lúa cần với lượng nhỏ Nồng độ Fe2+ trong lá dưới 70 ppm cây lúa có triệu chứng thiếu sắt Sự thiếu sắt diễn ra ở đất trung tính, đất kiềm và thường xảy ra ở đất cao, đất ngập nước Tuy nhiên, ở nồng độ

Fe2+ cao trên 300 ppm cây lúa là sự xuất hiện những đốm rỉ màu nâu đỏ từ chóp lá

và lan dần dọc theo gân lá xuống các phần bên dưới làm cả lá bị đỏ, bụi lúa còi cọc,

rễ không phát triển, màu vàng nâu Sự ngộ độc sắt thường xảy ra ở đất có pH thấp, nồng độ Fe2+ cao ở đất phèn làm bộ rễ bị hư hại, giảm sự hấp thụ dưỡng chất, nhất là lân

và kali nên ảnh hưởng đến cây trầm trọng hơn Các giống lúa khác nhau thì tính chống chịu phèn cũng khác nhau Cần đào mương thoát phèn, bón vôi để cải tạo đất, ngăn sự bốc phèn trong mùa khô, đồng thời bón thêm phân lân và kali cho lúa

Thế nhưng trong rễ lúa vẫn có thể phản ứng lại sự nhiễm độc sắt, sự oxy hóa sắt trong vùng rễ, giữ nồng độ sắt thấp trong môi trường sinh trưởng; sự loại bỏ sắt ở bề mặt rễ, ngăn cản sắt vào rễ; giữ sắt lại trong mô rễ, giảm sự vận chuyển của chất sắt

từ rễ đến thân lúa (Tanado và ctv, 1978)

2.3 VAI TRÒ CỦA GIỐNG LÚA TRONG SẢN XUẤT VÀ CÁC QUAN ĐIỂM

CHỌN GIỐNG

2.2.1 Vai trò của giống lúa trong sản xuất

Lúa là cây lương thực quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta với sản lượng gạo xuất khẩu đứng hàng tứ hai thế giới Đống bằng sông Cửu Long được xem là vựa lúa lớn nhất

cả nước (Võ Tòng Xuân, 1986)

Ngày nay giống vẫn được xem là một trong những yếu tố hàng đầu trong việc không ngừng nâng cao năng suất cây trồng Các nhà khoa học ước tính khoảng 30-50% mức tăng năng suất hạt của cây lương thực trên thế giới là nhờ việc đưa vào sản xuất những giống mới ( Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2006 )

Giống lúa vừa là mục tiêu vừa là một biện pháp kĩ thuật nâng cao nâng suất và phẩm chất hạt gạo trong sản xuất lương thực cho tiêu dung nội địa và cho xuất khẩu hiện nay nói chung và ở ĐBSCL nói riêng ( Nguyễn Trí Ngọc, 2006).Giống tốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanh hơn hàm lượng chất xám trong nông sản (Nguyễn Văn Luật, 2007)

Trong nhiều năm qua việc lai tạo chọn giống lúa theo 3 hướng chính:

- Chọn tạo giống có chất lượng gạo ngon phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu

Trang 25

- Chọn tạo giống có năng suất cao, ổn định cho vùng thâm canh

- Chọn tạo giống năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu sâu bệnh và chống chịu các điều kiện khó khăn

Những năm 60, ở đồng bằng sông Cửu Long hầu như chỉ có những cánh đồng lúa 1 vụ với những giống lúa địa phương cao cây, dài ngày, tuy chất lượng khá nhưng năng suất thấp Trong thời gian 20 năm trở lại đây, nhiều cơ quan nghiên cứu, trong đó có Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Nghiên cứu và Phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ)… đã cho ra đời nhiều giống lúa cao sản ngắn ngày, có phẩm chất tốt, đảm bảo đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, cho phép tạo ra những cánh đồng lúa 2 - 3 vụ với năng suất có thể đạt 6 - 7 tấn lúa/ha/vụ, đã thay thế hầu hết những cánh đồng lúa 1 vụ dùng giống lúa địa phương, năng suất thấp, phẩm chất kém (Nguyễn Trí Ngọc, 2006)

Ngày nay khi diện tích gieo trồng lúa ngày càng thu hẹp do phát triển công nghiệp, giao thông, nhà ở và sự thay đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng đã đặc ra cho nền nông nghiệp một nhiệm vụ lớn lao là phải làm sao tăng năng suất gấp bội Đây là một vấn đề khó khăn nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được và giống giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này (Trần Thượng Tuấn, 1992)

Theo Hoàng Tuyết Minh và ctv (2002) thì giống còn là một trong những tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, giống tốt đóng góp tỷ lệ lớn nhất trong việc cải thiện năng suất cây trồng

2.3.2 Các quan điểm chọn giống lúa

Theo Matsushima (1970) trong Nguyễn Ngọc Đệ (2008), đề nghị kiểu hình cây lúa lý tưởng gồm 6 đặc điểm sau đây:

- Cây phải có đủ số hạt cần thiết trên đơn vị diện tích để đạt được năng suất mong muốn

- Thân thấp, bông ngắn và có nhiều bông để tránh đổ ngã và gia tăng phần trăm hạt chắc

- Ba lá trên cùng phải ngắn dầy và thẳng đứng để gia tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng và

do đó gia tăng phần trăm hạt chắc

- Duy trì khả năng hấp thụ đạm, ngay cả thời kì sau khi trổ để gia tăng phần hạt chắc

- Có càng nhiều lá xanh trên thân càng tốt (số lá xanh có thể xem như là chỉ số biểu hiện sức khỏe của cây)

- Trổ lúc thời tiết thuận lợi để có thể nhận được nhiều nắng sau khi trổ, nhằm gia tăng sản phẩm quang hợp ở thời kì chín

Trang 26

Tuy nhiên, trong thực tế trồng lúa, năng suất cao đạt được là do tăng mức đầu tư đặc biệt

là phân bón, trong đó đạm giữ vai trò quan trọng nhất, cho nên cơ sở của việc chọn tạo giống lúa cho năng suất cao là khả năng đáp ứng với phân đạm

Ngoài những đặc tính như thân ngắn, mọc thẳng để dễ quang hợp, có chiều cao trung bình trên dưới 1 m để chống đổ ngã, có bẹ lá ôm sát thân, lá cờ thẳng và có đặc tính dấu bông để tránh chim chuột thì cây lúa năng suất cao cần phải nở bụi nhiều và mạnh để cây có nhiều bông, bông phải nhiều và hạt lớn, hạt gạo dài, trắng trong và thơm, chống được các loại sâu bệnh và côn trùng phổ biến ( Võ Tòng Xuân,1981)

Yoshida (1981) và De Datta (1981) cho rằng các đặc điểm hình thái cần được chú ý là:

2.3.3 Quy trình chọn tạo giống lúa

2.2.3.1 Chọn vật liệu khởi đầu

Chọn lọc từ nhiều nguồn để phù hợp với mục tiêu lai tạo như giống lúa nhập từ nước ngoài, giống lúa từ các ngân hang gene trong nước, giống lúa thích nghi và ổn định với vùng sinh thái địa phương

Sau khi lai tạo là tiến trình lai theo phương pháp phả hệ Chọn lọc cá thể qua nhiều thế

hệ khác nhau theo mục tiêu lai tạo đặt ra bang đầu

2.3.3.2 Quan sát sơ khởi

Chọn ra 100 - 200 dòng lúa có đặc tính tốt về kiểu hình năng suất đem ra trắc nghiệm

Mỗi dòng thường cấy 5 - 6 hàng, mỗi hàng dài 5m, cứ 10 - 20 dòng cấy một giống đối

chứng Sau đó chọn những dòng tốt nhất đưa ra trắc nghiệm hậu kỳ

2.2.3.3 Trắc nghiệm hậu kỳ

Chọn ra 30 - 40 dòng triển vọng nhất ở quan sát sơ khởi đưa vào trắc nghiệm hậu kỳ với diện tích lô thí nghiệm lớn hơn (5 - 10 m2), thực hiện 3 lần lặp lại để tăng độ chính xác Sau đó, chọn ra 10 - 20 dòng tốt nhất đưa vào thí nghiệm so sánh năng suất

Trang 27

2.2.3.4 So sánh năng suất

Bố trí thí nghiệm với diện tích rộng hơn và lặp lại ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Qua

nhiều vụ sẽ chọn ra một số giống nổi bật nhất đưa ra sản xuất thử và đặt tên giống

2.2.3.5 Khu vực hóa

Chọn ra 4 - 6 giống tốt nhất gởi cho trung tâm khảo kiểm nghiệm giống quốc gia khảo

sát Khi diện tích đủ lớn (theo quy định), đề nghị bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn công nhận giống sản xuất thử và sau đó công nhận giống Quốc gia

2.3.3.6 Sản xuất thử

Chọn từ thí nghiệm so sánh những giống có năng suất cao, kháng sâu bệnh, phẩm

chất tốt Tiến hành thí nghiệm trên nhiều địa phương rồi chọn giống tốt nhất đưa vào

khu vực hóa

2.4 CÁC ĐẶC TÍNH QUAN TRỌNG TRONG CHỌN GIỐNG LÚA

2.3.1 Thời gian sinh trưởng

Theo Nguyễn Thành Hối (2010), thời gian sinh trưởng của cây lúa được chia thành 4

nhóm:

 Ao: Cực ngắn ngày (<90 ngày)

 A1: Ngắn ngày (90-105 ngày)

 A2: Tương đối ngắn ngày (106-120)

 B : Trung mùa(120-140 ngày)

Thời gian sinh trưởng của cây lúa do nhiều gen điều khiển cho nên sự phân ly có thể xảy ra đối với cả hai đặc tính chín sớm và chín muộn Những giống lúa mùa

và trung mùa kết hợp dễ dàng với các tính trạng tốt khác Những giống lúa cực sớm kết hợp với đặc tính năng suất cao và các đặc tính tốt khác thì khó hơn nhiều (Bùi

Chí Bửu và ctv., 1996)

Giai đoạn sinh sản và giai đoạn chín giống nhau đối với hầu hết các giống lúa Thời gian

trong giai đoạn tăng trưởng tùy từng giống mà có sự khác nhau Thời gian cây lúa làm

đòng đến lúa trổ bông khoảng 35 ngày, từ trổ bông đến thu hoạch khoảng 30 ngày (Võ

Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp, 1998)

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thời gian sinh trưởng của cây lúa có thể chia làm 3

giai đoạn chính:

Trang 28

- Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưởng)

- Giai đoạn sinh sản (sinh dục)

- Giai đoạn chính

2.3.2 Chiều cao cây lúa

Theo Võ Tòng Xuân (1986), yêu cầu tốt nhất cho giống lúa năng suất cao ở đồng ruộng Việt Nam là thân lúa phải có chiều cao trung bình 80 – 110 cm

Cây lúa càng cao càng dễ ngã, do đó cần tránh trồng những giống lúa cao cây vào mùa mưa (Võ Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp, 1998)

Chiều cao cây lúa được tính từ gốc đến mút lá hoặc bông cao nhất Cây lúa có lóng ngắn, thành lóng dày, bẹ ôm sát thì cây lúa đó sẽ cứng chắc, khó đổ ngã và ngược lại Khi cây lúa đổ ngã thì sự hút dinh dưỡng và quang hợp không bình thường, sự vận chuyển chất bị trở ngại, hô hấp mạnh làm tiêu hao chất dự trữ đưa đến hạt lép, năng suất giảm Sự đổ ngã càng sớm năng suất càng giảm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

2.3.3 Chiều dài bông

Bông lúa có nhiều dạng bông túm hoặc xòe, đóng hạt thưa hay dày, cổ hở hay cổ kín tùy thuộc vào đặc tinh giống và điều kiện môi trường (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Chiều dài bông được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông Giống có bông dài, hạt xếp khít, tỷ lệ hạt lép thấp, khối lượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao Chiều dài bông chủ yếu do đặc tính di truyền quyết định nhưng cũng có thể thay đổi do các điều kiện môi trường khác nhau, nhất là điều kiện dinh dưỡng trong giai đoạn hình thành bông (Vũ Văn Liệt và ctv., 2004)

2.3.4 Tỷ lệ chồi hữu hiệu

Theo Yoshida (1981) thì năng suất hạt tăng theo mật độ cây Về lý thuyết, ở điều kiện đặc biệt cây lúa có thể mọc ra 40 chồi Nhưng thực tế những mầm chồi không nhất thiết phát triển thành chồi Khoảng cách trồng, ánh sáng, nguồn dinh dưỡng và điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến sự nảy chồi Ở lúa cấy, khoảng 10 đến 30 chồi

có thể được sinh ra trong điều kiện trồng hợp lý, nhưng chỉ 2 đến 5 chồi được hình thành trong lúa sạ thẳng

Khả năng nhảy chồi trung bình được xem là tốt đối với những giống lúa cho năng suất cao (Võ Tòng Xuân, 1986) So sánh chỉ tiêu nhánh hữu hiệu với số nhánh tối đa trên cây thì thấy rằng những giống nào đẻ nhánh nhiều thường tỷ lệ chồi hữu hiệu thấp (Vũ Văn Liệt và ctv., 2004)

Trang 29

2.3.5 Năng suất và thành phần năng suất

Bảng 2.1 Sự đóng góp của các thành phần năng suất lúa vào năng suất lúa theo Yoshida và Parao (1976)

Mức độ đóng góp vào năng suất lúa (%) Nguồn biến động

Tương đối Tuyệt đối

sẽ ảnh hưởng xấu các thành phần còn lại, làm giảm năng suất lúa Lúc bấy giờ, sẽ có

sự mâu thuẫn lớn giữa số hạt trên bông với tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt, giữa số bông trên đơn vị diện tích với số hạt trên bông

Mức cân bằng tối hảo giữa các thành phần năng suất để đạt năng suất cao thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết và kỹ thuật canh tác hơn nữa ảnh hưởng của mỗi thành phần năng suất đến năng suất lúa không chỉ khác nhau về thời gian

nó được xác định mà còn do sự góp phần của nó trong năng suất

Năng suất lúa =

2.3.5.1 Số bông/m 2

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) số bông trên đơn vị diện tích được quyết định vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng), nhưng chủ yếu là giai đoạn từ khi cấy đến khoảng 10 ngày trước khi có chồi tối đa và tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa Mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi của lúa thay đổi tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bón, nhất là phân đạm và chế độ

Số bông/đơn vị diện tích x số hạt hhạt

Bông x tỉ lệ hạt chắc x trọng lượng hạt

Trang 30

nước Đối với cây lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít, đất xấu, nhiều nắng nên cấy dầy để tăng số bông trên đơn vị diện tích Ngược lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng phân bón nhiều (nhất là N) và giữ nước thích hợp thì lúa nở bụi khỏe có thể sạ cấy thưa hơn Các giống lúa cải thiện thấp cây có số bông/m2 trung bình phải đạt 500 - 600 bông/m2 đối với lúa sạ, hoặc 350 - 450 bông/m2 đối với lúa cấy mới có thể có năng suất Các giống lúa hiện nay có thể đẻ nhánh lên đến 20 đến 25 nhánh trên bụi, trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng và khoảng cách cấy thích hợp nhưng chỉ từ 14 đến 15 nhánh cho bông hữu hiệu Cây lúa chỉ cần có bông vừa phải, gia tăng số hạt chắc trên một bông thì tốt hơn là gia tăng số bông/m2 (Bùi Chí Bửu và ctv, 1998)

2.3.5.2 Số hạt chắc/bông

Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến 5 ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa hoa và giảm nhiễm tích cực và tùy thuộc vào số hoa được phân hóa cùng số hoa bị thoái hóa Như vậy, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân hóa và số hoa bị thói hóa Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết Nói chung, đối với những giống lúa bông to,

kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít, nên số hạt cuối cùng trên bông cao Ở các giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80 - 100 hạt đối với lúa sạ hoặc 100 - 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Tỷ lệ hạt chắc thấp có thể do nhiệt độ lúc trổ bông quá thấp (dưới 200 C) hay quá cao (trên 350C), cây đổ ngã do thiếu nước lúc trổ bông hoặc do bón quá nhiều phân vào thời

kì mới tượng tòng (Võ Tòng Xuân và Hà Triều Hiệp, 1998)

dễ dẫn đến tỷ lệ hạt chắc thấp Các giống lúa có khả năng quang hợp, tích lũy và chuyển

vị các chất mạnh, cộng với cấu tạo mô cơ giới vững chắc không đổ ngã sớm, lại trổ và tạo hạt trong điều kiện thời tiết tốt, dinh dưỡng đầy đủ thì tỷ lệ hạt chắc sẽ cao và ngược lại Nếu muốn có năng suất cao, thì tỷ lệ hạt chắc của giống lúa đó phải đạt trên 80% (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 31

quyết định, điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào thời kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cỡ hạt; cho đến khi vào chắc rộ (15 - 20 ngày sau khi trổ)

trên độ mẩy của hạt

Trọng lượng 1000 hạt là đặc tính ổn định của giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ với kích thước vỏ trấu (Yoshida, 1981)

2.4 CÁC CHỈ TIÊU PHẨM CHẤT HẠT GẠO

2.4.1 Tỉ lệ gạo lức

Là tỷ lệ hạt gạo vừa tách vỏ trấu, hạt gạo chưa được chà trắng, tỷ lệ gạo lức chiếm

khoảng 80% trọng lượng hạt thóc (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Theo Lê Xuân Thái (2003),

tỷ lệ gạo lức lớn thể hiện khả năng vận chuyển chất khô của cây lúa vào hạt ở giai đoạn

Tỷ lệ gạo trắng vụ Đông Xuân cao hơn vụ Hè Thu do cường độ bức xạ cao hơn, đã giúp

cây lúa tăng quá trình quang hợp, tăng sự tích lũy chất khô ở hạt, làm hạt no hơn dẫn đến

tỷ lệ gạo trắng cao hơn (Lê Thu Thủy và ctv., 2005)

2.4.3 Tỷ lệ gạo nguyên

Thời điểm thu hoạch cho tỷ lệ gạo nguyên cao nhất là 25 – 30 ngày sau khi lúa trổ, nếu như thu hoạch trước hoặc sau thời điểm này thì tỷ lệ gạo nguyên sẽ giảm đi

(Bùi Chí Bửu, 1997)

Tỷ lệ gạo nguyên có liên quan chặt chẽ đến độ bạc bụng của hạt gạo, hạt gạo thường gãy

ở những điểm có vết bạc bụng, ngoài yếu tố môi trường thì yếu tố bạc bụng còn do đặc

tính của giống (Lê Xuân Thái, 2003)

Trang 32

2.4.4 Kích thước và hình dạng hạt

Kích thước và dạng hạt (tỷ lệ dài/rộng) khác nhau tùy thuộc vào đặc tính giống Hạt thon dài thường dễ gãy nứt hơn hạt tròn và do đó, tỷ lệ xay xát thấp hơn Dựa vào tỉ lệ dài/rộng của hạt gạo nguyên người ta phân loại gạo thành bốn dạng khác nhau: Thon dài, trung bình, mập và tròn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

2.4.5 Độ bạc bụng

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) bạc bụng là phần đục của hạt gạo, khi nấu thì bạc bụng sẽ biến mất và không ảnh hưởng đến mùi vị của cơm Tuy nhiên nó làm giảm cấp của gạo

và giảm tỷ lệ xay xát Bạc bụng là do sự trục trặc trong quá trình tạo hạt và phơi sấy

Bạc bụng ảnh hưởng đến tỉ lệ xay chà, đồng thời ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dung và xuất khẩu, do đó chỉ tiêu này đòi hỏi các nhà chọn giống đặc biệt chú ý Vài giống có nội nhũ đục hoàn toàn, nhiều giống thì trong hoặc chỉ có một ít vết ở bụng (Nguyễn Đình Huy, 2008)

Bạc bụng là do sự thành lập hạt tinh bột không hoàn thiện trong quá trình tạo hạt và phơi sấy Bạc bụng do sự sắp xếp không chặt chẽ của những hạt tinh bột trong nội nhũ, tạo ra nhiều khoảng trống làm cho hạt gạo bị đục Có 3 dạng bạc bụng phổ biến: bụng trắng, gan trắng và lưng trắng Độ đục của nội nhũ và tính bạc bụng có thể do yếu tố giống hoặc môi trường và đặc tính này góp phần tăng tỷ lệ nứt của hạt trong quá trình xay chà (Bùi Chí Bửu, 2004)

2.4.6 Hàm lượng amylose

Hàm lượng amylose tăng theo thời gian bảo quản và nó còn tùy thuộc vào giống lúa Hàm lượng amylose không bị ảnh hưởng bởi ngày thu hoạch khác nhau của một giống lúa (Nguyễn Phước Tuyên, 1997)

Hàm lượng amylose ảnh hưởng chủ yếu trên đặc tính của của cơm và tương quan nghịch với độ dẻo, độ mềm, màu và độ bong của cơm Các giống Japonica có hàm lượng amylose thấp, dẻo khi nấu chín Việc xác định chính xác hàm lượng amylose thường rất khó khăn và tốn kém (Phạm Thị Phấn, 2007)

Tinh bột – chất trùng hợp của glucose – là cấu tử chính của gạo, chiếm khoảng 90%

trọng lượng khô Tinh bột bao gồm thành phần mạch nhánh (amylopectin) và mạch thẳng (amylose) Trong gạo, hàm lượng amylose phổ biến từ 15 - 35% Gạo có

hàm lượng amylose cao cơm sẽ nở nhiều và dễ tróc, nhưng khô cơm và cứng khi n guôi Ngược lại, gạo có hàm lượng amylose thấp khi nấu ít nở, cơm mềm và dẻo (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 33

2.4.7 Độ trở hồ

Nhiệt độ hóa hồ hay độ trở hồ là nhiệt độ, mà ở đó 90% hạt tinh bột bị hóa hồ hoặc phồng lên trong nước nóng không thể trở lại dạng cũ được; nó được xếp vào loại thấp (55 - 69,50C), trung bình (70 - 740C) và cao (74,5 - 790C) (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Độ trở hồ được đánh giá theo 7 cấp:

6 Hạt tan và kết với rìa

7 Hạt tan hoàn toàn và hòa lẫn vào nhau

Bảng 2.2 Tương quan giữa nhiệt độ hóa hồ và độ tan rã của gạo trong môi trường kiềm

Loại Nhiệt độ ( 0 C) Giá trị tan rã trong môi trường kiềm (cấp)

Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) thì sự nhiễm sâu bệnh ở cây lúa có nhiều nguyên nhân:

do điều kiện thâm canh tăng vụ, sử dụng lượng phân bón không cân đối và không đúng yêu cầu sinh trưởng của cây lúa, sự thiếu hiểu biết về sâu bệnh và biện pháp phòng trừ…Những giống lúa mới thấp cây được phổ biến rộng rãi tạo nên những điều kiện thích hợp cho một số sâu bệnh phát sinh (Jennings, 1979)

Tính kháng sâu bệnh quyết định do đặc tính sinh lý, sinh hóa của giống và còn liên quan đến hình dạng thân lá, các tổ chức của cây lúa (Vũ Tuyên Hoàng, 1968) Có 2 hình

Trang 34

thức kháng chủ yếu: kháng dọc hay tính kháng chuyên biệt, bằng cách hạn chế các giai đoạn nhiễm bệnh và kháng ngang hay tính kháng không chuyên biệt, bằng cách hạn chế sự xâm nhập, tăng trưởng và phân tán của ký sinh trước khi nhiễm bệnh Loại kháng chuyên biệt thường không bền, loại kháng không chuyên biệt có thể tồn tại lâu hơn (Jennings, 1979)

2.5.1 Rầy nâu

Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước đồng bằng nhiệt đới

Á Châu Ở Việt Nam, rầy nâu được ghi nhận xuất hiện hầu hết ở các tỉnh trồng lúa trong

cả nước, từ đồng bằng đến trung du miền núi, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Văn Lầm, 2006)

Rầy nâu là môi giới truyền bệnh virut vàng lùn và lùn xoắn lá, cơ chế truyền bệnh theo kiểu bền vững, rầy nâu trưởng thành và rầy non đều có khả năng truyền bệnh Thời gian

ủ bệnh trung bình trong cơ thể rầy nâu từ 8 đến 12 ngày, sau khi truyền bệnh cho cây lúa, rầy nâu cần khoảng thời gian là 6 giờ để nhân virut trong cơ thể mới tiếp tục truyền được bệnh cho cây khác Nguồn virut tồn tại trên đồng ruộng là lúa chét ở những ruộng

bị bệnh và trong cơ thể của rầy nâu (Ngô Vĩnh Viễn và ctv, 2007)

Rầy nâu thường có 3 lứa với mật độ tăng dần từ lứa thứ nhất đến lứa thứ ba Tùy theo thời vụ gieo cấy ở mỗi vùng có khác nhau, thời gian phá hoại sớm muộn chênh lệch nhau khoảng 2 – 3 tuần ở đồng bằng sông Cửu Long Hằng năm rầy nâu thường có 3 điểm gây hại: cao nhất vào tháng 7 – 8 trên lúa Hè Thu (có nơi sớm hơn từ giữa tháng 6 hoặc muộn hơn đến đầu tháng 9); thứ hai là trong tháng 10, 11 và 12 trên lúa mùa; thứ

ba là vào tháng 1, 2 và 3 trên lúa Đông Xuân, có nơi tháng 12 (Nguyễn Văn Luật, 2002)

2.5.2 Bệnh cháy lá (Đạo ôn)

Theo Ou (1983), bất kỳ phần nào của bông đều có thể bị bệnh với triệu chứng các vết màu nâu, các vùng ở gần gốc bông thường hay bị bệnh và hiện tượng này thường được gọi là thối cổ hoặc triệu chứng đạo ôn cổ bông, bông thường bị gục hoàn toàn Các nhánh bông và gốc cũng bị bệnh Sự phát sinh của bệnh phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố ngoại cảnh và mức độ nhiễm bệnh của giống (trích dẫn bởi Huỳnh Thị Tuyết Mai, 2010)

Bệnh có thể gây hại từ rất sớm từ nương mạ nhưng thường bị nặng nhất là giai đoạn làm đòng đến sau trổ một thời gian Nấm có thể tấn công ở mọi bộ phận của cây lúa nhưng nhiều nhất là ở phiếm lá Trên lá, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu, sau phát triển thành vết bệnh điển hình có hình mắt én, hai đầu hẹp, giữa phình ra có màu xám tro Chung quanh vết bệnh có viền nâu rõ rệt, ngoài viền nâu thường có một quầng vàng

Trang 35

Nhiều vết bệnh liên kết lại làm lá lúa bị cháy khô Bệnh cũng xuất hiện tên các đốt thân làm gãy ngang thân lúa hoặc trên cổ bông (bệnh khô cổ bông) làm tắt nghẽn mạch dẫn nhựa nuôi hạt, bông lúa gãy, hạt bị lép và lững.(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Trang 36

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM

3.1 PHƯƠNG TIỆN

3.1.1 Thời gian thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành vào vụ Hè Thu năm 2012 Ngày gieo mạ là 01/05/2012 Ngày cấy mạ là 16/05/2012 Thu hoạch 2 lần vào 25/07/2012 và 30/07/2012

3.1.2 Giống lúa

Bảng 3.1 Danh sách 16 giống lúa thí nhiệm tại khu Hòa An vụ Hè Thu năm 2012

3.1.3 Địa điểm thí nghiệm

Khu đất phèn - Khoa Phát triển nông thôn – Đại học Cần Thơ, thuộc xã Hòa An - Huyện Phụng Hiệp - Tỉnh Hậu Giang

Trang 37

3.1.4 Hóa chất

Dung dịch phân tích hàm lượng amylose: ethanol 95%, HCL 1N, dung dịch Iod (0,2% I2

và 2% KI), acid axetic 1M, NaOH 1M

Dung dịch phân tích độ trở hồ: KOH 1,7%

Trang 38

3.2 PHƯƠNG PHÁP

3.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại có 16 nghiệm thức tương ứng với 16 giống lúa, làm mạ theo phương pháp mạ bùn, mật độ cấy là 15x20cm, 1 tép/bụi, áp dụng công thức bón phân 80N - 60P- 30K Sơ

Trang 39

3.2.2 Phương pháp canh tác

- Làm mạ: Áp dụng phương pháp làm mạ bùn, cấy một tép/bụi, khoảng cách 15 cm x 20

cm

- Chuẩn bị đất: Dọn sạch cỏ, san bằng mặt ruộng, sửa bờ bao, xới đất ướt

- Bón phân: theo công thức 80N - 60P - 30K

3.3 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI

3.3.1 Các chỉ tiêu nông học

3.3.1.1 Chiều cao cây:

Mỗi lô chọn ngẫu nhiên 3 điểm, mỗi điểm chọn ngẫu nhiên 1 bụi để đo chiều cao Chiều cao cây lúa được tính từ mặt đất đến chóp lá cao nhất khi lúa chưa ra bông và đến chóp bông khi lúa trổ (10 NSKC lấy chỉ tiêu một lần và tiếp tục cho đến khi lúa trổ)

Chiều cao cây trung bình =

3.3.1.2 Số chồi:

Khi đo chiều cao ngẫu nhiên 3 điểm, ta chọn 4 bụi liên tiếp theo hình vuông / điểm, đếm

12 bụi/3 điểm Số chồi được tính khi có đủ 3 lá trở lên

Số chồi trung bình =

Phân cấp và đánh giá khả năng nảy chồi được ghi nhận qua bảng sau:

Bảng 3.2 Phân cấp và đánh giá khả năng nở bụi của lúa theo IRRI (1996)

Trang 40

3.3.2 Các chỉ tiêu năng suất và thành phần năng suất

Lấy chỉ tiêu 12 bụi đã đo chiều cao và đếm số chồi từ trước

- Gặt 3 điểm, mỗi điểm 4 bụi, lấy ngẫu nhiên 5 bông để đo chiều dài bông, đơn vị tính

là cm

- Đếm tổng số bông trên 12 bụi (P), đơn vị tính là bông

- Tuốt hạt, sấy khô và tách chắc lép

- Cân trọng lượng hạt chắc (W), đơn vị tính là gam

- Đếm ngẫu nhiên 1000 hạt và cân trọng lượng (w), đơn vị tính là gam

- Đo ẩm độ và tính trọng lượng chuẩn theo công thức:

W14%=

86

)100(

12 

P

=

36,0

P

- Trọng lượng 1000 hạt là trọng lượng w14%

- Hạt chắc/bông =

P w

W

%14

%141000

- Tỷ lệ hạt chắc = 100

10001000

% 14

% 14

% 14

w

W w

Trọng lượng hạt 5m2 x 2 x (100 - ẩm độ lúc cân)

86

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm