Đồng thời yêu cầu việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế trong dạy học, tăng cường t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
-o0o -
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay Em xin chân thành gửi
đến quý thầy cô thuộc bộ môn Vật lí lời cảm ơn sâu sắc, các thầy cô
đã hướng dẫn và cho em biết được nhiều kiến thức, kinh nghiệm
nghề nghiệp và cuộc sống vô cùng quý trong suốt bốn năm học tập
và rèn luyện tại trường Đó là hành trang vững chắc không chỉ giúp
em hoàn thành đề tài tốt nghiệp mà còn là nền tảng cho sự nghiệp
của em ở tương lai
Bên cạnh đó, đặc biệt em xin gửi lời biết ơn chân thành nhất đến
thầy hướng dẫn của em: ThS-GVC Trần Quốc Tuấn đã quan tâm
giúp đỡ và tạo động lực cho em trong suốt thời gian làm đề tài
Cuối lời, xin kính chúc thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe và
Trang 4Nhận xét của giảng viên hướng dẫn
Ngày tháng năm….2013 ThS – GVC Trần Quốc Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined
2 Mục đích nghiên cứu đề tài Error! Bookmark not defined
3 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined
4 Nhiệm vụ của đề tài Error! Bookmark not defined
5 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
6 Đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined
7 Các giai đoạn thực hiện Error! Bookmark not defined
8 Tính mới mẻ và đóng góp của đề tài Error! Bookmark not defined
9 Các chữ viết tắt Error! Bookmark not defined
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG Error! Bookmark not defined.
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trung học phổ thông Error!
Bookmark not defined
1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta Error! Bookmark not defined 1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined 1.2 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý trung học phổ thông Error!
Bookmark not defined
1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều Error! Bookmark not defined 1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh Error! Bookmark not defined 1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Error! Bookmark not defined
1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học
Error! Bookmark not defined 1.3 Mục tiêu của việc đổi mới chương trình vật lý trung học phổ thông Error! Bookmark not
defined
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lý phổ thông cơ bản, phù hợp với những quan điểm
hiện đại Error! Bookmark not defined 1.3.2 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm sau khi học vật lý phổ thông Error!
Bookmark not defined
Trang 61.3.3 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng nhận thức vật lý Error! Bookmark not defined
1.4 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý lớp 10 theo chương trình trung học
phổ thông đổi mới Error! Bookmark not defined 1.4.1 Phát huy tinh thần chủ động, tích cực và sáng tạo của học học sinh Error! Bookmark not
defined
1.4.2 Tổ chức hoạt động dạy và học chủ động để học sinh tự lĩnh hội kiến thức và kỹ năng Error!
Bookmark not defined
1.4.3 Bồi dưỡng kỹ năng học cá nhân và học hợp tác của học sinh Error! Bookmark not
defined
1.4.4 Tăng cường làm thí nghiệm, và sử dụng các phương tiện hiện đại trong quá trình dạy học
Error! Bookmark not defined 1.4.5 Soạn giáo án theo tinh thần mới, lấy học sinh làm trung tâm Error! Bookmark not defined 1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học Error! Bookmark not defined 1.5.1 Các quan điểm mới về giáo án Error! Bookmark not defined 1.5.2 Quy trình (các bước) thiết kế bài học Error! Bookmark not defined 1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá Error! Bookmark not defined 1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá Error! Bookmark not defined 1.6.2 Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Error! Bookmark not defined 1.6.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá Error! Bookmark not defined 1.6.5 Các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra Error! Bookmark not defined
Chương 2 CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH NHỮNG KIẾN THỨC VẬT LÝ
CƠ BẢN Error! Bookmark not defined.
2.1 Con đường hình thành những định luật vật lý Error! Bookmark not defined 2.1.1 Đặc điểm của định luật vật lý Error! Bookmark not defined 2.1.2 Các loại định luật vật lý Error! Bookmark not defined 2.1.3 Các con đường hình thành những định luật Vật lý Error! Bookmark not defined 2.2 Con đường hình thành các thuyết vật lý Error! Bookmark not defined 2.2.1 Đặc điểm của thuyết vật lý Error! Bookmark not defined 2.2.2 Cấu trúc của một thuyết vật lý Error! Bookmark not defined 2.2.3 Con đường hình thành thuyết vật lý Error! Bookmark not defined
Trang 7Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT
VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Error! Bookmark not defined.
3.1 Phương pháp thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.1 Khái niệm phương pháp thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.2 Các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.3 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý Error! Bookmark not defined 3.2 Phương pháp giải quyết vấn đề Error! Bookmark not defined 3.2.1 Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học Error! Bookmark not defined 3.2.2 Tổ chức tính huống học tập Error! Bookmark not defined 3.2.3 Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề Error! Bookmark not defined 3.2.4 Các kiểu hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 4 THIẾT KẾ GIÁO ÁN CHƯƠNG 6 CHẤT KHÍ VẬT LÝ 10
NÂNG CAO Error! Bookmark not defined.
4.1 Đại cương về chương nghiên cứu Error! Bookmark not defined 4.1.1 Mục đích của chương Error! Bookmark not defined 4.1.2 Kiến thức, kỹ năn của chương Error! Bookmark not defined 4.1.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương Error! Bookmark not defined 4.2 Thiết kế giáo án một số bài trong chương Error! Bookmark not defined 4.2.1 Giáo án bài 44 Thuyết đông lực học phân tử chất khí Cấu tạo chất Error! Bookmark not
defined
4.2.2 Giáo án bài 45 Định luật Bôilơ - Mariốt Error! Bookmark not defined 4.2.3 Giáo án bài 47 Phương trình trạng thái khí lý tưởng Định luật Gay Luy xác Error!
Bookmark not defined
Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM Error! Bookmark not defined.
5.1 Mục đích Error! Bookmark not defined 5.2 Nội dung thực nghiệm Error! Bookmark not defined 5.3 Đối tượng thực nghiệm Error! Bookmark not defined 5.4 Kế hoạch giảng dạy Error! Bookmark not defined 5.5 Tiến trình thực hiện các bài học Error! Bookmark not defined 5.6 Kết quả thực nghiệm Error! Bookmark not defined 5.6.1 Đề kiểm tra 15 phút Error! Bookmark not defined
Trang 85.6.2 Đề kiểm tra 1 tiết Error! Bookmark not defined 5.6.3 Kết quả kiểm tra Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ NHẬN XÉT Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thực tế ngành Vật lý là nền tảng để pháp triển các ngành khoa học, kĩ thuật, công nghệ và cũng như không thể thiếu trong đời sống thường ngày của con người Việc hiểu biết và nhận thức về giá trị của ngành học vật lý cũng rất quan trọng Cho nên ở THPT đã và đang cung cấp cho HS một hệ thông kiến thức cơ bản, tương đối đầy đủ và hiện đại, hình thành ở HS những kỹ năng và thói quen làm việc khoa học góp phần tạo cho
họ các năng lực nhận thức, năng lực hành động và các phẩm chất nhân cách mà mục tiêu giáo dục đề ra về môn học này Xuất phát từ những nhiệm vụ cơ bản trong DHVL truyền thụ kiến thức theo chương trình đổi mới sẽ giúp cho HS nắm vững các định luật về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp trong đời sống khoa học và sản xuất
Tuy nhiên thực tế thì việc giảng dạy Vật lý ở THPT còn mang nặng lối truyền thụ một chiều, HS chỉ tiếp thu kiến thức lý thuyết từ GV truyện thụ mà không thể tự mình tiến hành các thao tác thực hành, quan sát các thí nghiệm để tự mình rút ra các kiến thức
GV chỉ truyền thụ và bắt HS phải thừa nhận những kiến thức đã được đưa ra đó Từ đó
HS chưa thể vận dụng được những kiến thức lí thuyết vào thực tiễn, tư duy và hành động Đồng thời do ở các trường THPT có sự khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất và nhiều vấn đề khác, mặc dù các trường đã cố gắng thay đổi theo hướng tích cực nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế
Để đạt được kết quả tốt hơn trong dạy và học Tại nghị quyết TW2 khóa WIII (12/1996) và nghị quyết 40/2000/QH10 (09/12/2000) của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta, đã khẳng định mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là “xây dụng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông nhằm nâng cao chất lựơng giáo dục toàn diện nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông của các nước phát triển trong khu vực và thế giới” Đồng thời yêu cầu việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế trong dạy học, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học, coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ
Trang 10hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của HS Ngoài ra, nghị quyết cũng đã đưa được thể chế hóa lại trong luật giáo dục (2005) với định hướng “ phương pháp giáo dục phổ thông phải pháp huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Mặt khác yêu cầu đổi mới PPDHVL ở THPT là một yêu cầu vô cùng cấp bách và khẩn thiết Việc đổi mới cần tiến hành để phù hợp với trình độ tri thức và nhịp độ pháp triển tri thức ngày càng cao của nhân loại, để pháp huy tính tự học hỏi, tự tìm tòi của HS, phải để HS tham gia hành động để tự tìm ra và lĩnh hội tri thức đó
Hiện tại, một số GV ở THPT vẫn chưa nắm vững phương pháp nhận thức khoa học trong DHVL Cho nên cần phải bồi dưỡng và phát triển năng lực DHVL cho giáo viên vật lý tương lai để đáp ứng yêu cầu trong thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Để việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông có hiểu quả thì cần phải đào tạo
và bồi dưỡng GV có năng lực dạy học theo những quan điểm đổi mới PPDH, biết lấy học sinh làm trung tâm, để học sinh biết chiếm lĩnh kiến thức một cách tốt nhất Người GV tương lai phải biết vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm của từng trường, từng lớp, từng trình độ vốn có của học sinh
Là một GV VL trong tương lai, tôi nhận định được vai trò và trách nhiệm cần phải bồi dưỡng và phát triển năng lực giảng dạy Vật lý nhằm phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta
Từ những lí trên tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu phương pháp xây dựng các định luật và thuyết vật lý trong chương 6 Chất khí, VL 10 NC”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu phương pháp xây dựng các định luật và thuyết vật lý trong chương 6
Chất khí, VL 10 NC tinh thần áp dụng các phương pháp nhận thức khoa học
Hình thành những nhận thức và những năng lực cần thiết để thiết kế giáo án dạy học
theo hướng đổi mới, tích cực phù phợp với giai đoạn hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng DHVL
Trang 113 Giả thuyết khoa học
Vận dụng lý luận dạy học hiện đại có thể nghiên cứu phương pháp xây dựng các định luật và thuyết vật lý trong chương 6 Chất khí, VL 10 NC và thiết kế giáo án theo tinh thần
áp dụng các phương pháp nhận thức khoa học
4 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu các cơ sở lý luận: Lí luận dạy học VL, đổi mới phương pháp dạy học
VL ở trường THPT, Cơ sở lí luận của đề tài
Xây dựng tiến trình hoạt động dạy học VL THPT theo hướng đề tài
Nghiên cứu chương 6 Chất khí SGK VL 10 NC: Mục tiêu, sơ đồ cấu trúc nội dung
và nhận xét
Thiết kế chương 6 Chất khí SGK VL 10 NC
- Bài 44 Thuyết động lực học phân tử chất khí Cấu tạo chất
- Bài 45 Định luật Bôilơi-Mariốt
- Bài 46 Định luật Sac-lơ Nhiệt độ tuyệt đối
- Bài 47 Phương trình trạng thái của khí lí tưởng Định luật Gay-luy-xác
- Bài 48 Phương trình Clapêrôn-Menđêlêép
Sử dụng đồ dùng dạy học và bản vẽ sẵn
Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại: Power Point, Overhead
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sách giáo khoa vật lý THPT, các tài liệu bồi dưỡng
giáo viên vật lí THPT, các tài liệu về chuyên ngành PPDH vật lí, tâm lý học, giáo
dục học,
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thầy cô, anh chị khóa trước, bạn bè
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành giảng dạy chương 6 Chất khí VL 10
NC, 15 phút, tiến hành kiểm tra 1 tiết, đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài,
6 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong đó thể hiện các biện pháp
thực hiện theo hướng “Nghiên cứu phương pháp xây dựng các định luật và thuyết vật lý trong chương 6 Chất khí, VL 10 NC”
Trang 127 Các giai đoạn thực hiện
Giai đoạn 1: Tìm hiểu đề tài, trao đổi với thầy hướng dẫn, nhận đề tài nghiên cứu
Giai đoạn 2: Lập đề cương nghiên cứu: chi tiết, logic, chặt chẽ và hoàn thiện
Giai đoạn 3: Nghiên cứu cơ sở lý luận
Giai đoạn 4: Nghiên cứu nội dung và phương pháp xây dựng các định luật chất khí
SGK VL10 NC Thiết kế một số bài cụ thể
Giai đoạn 5: Thực nghiệm Sư phạm
Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng Power Point
Giai đoạn 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp
8 Tính mới mẻ và đóng góp của đề tài
Góp phần vào cơ sở lí luận cho việc áp dụng định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Có thể là tài liệu tham khảo cho việc thực hiện các đề tài có liên quan
9 Các chữ viết tắt
Phương pháp: PP Sách giáo viên: SGV
Trung ương: TW Trung học phổ thông: THPT
Trang 13Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trung học phổ thông 1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta
Cùng với xu thế chung của cả thế giới, trong thập kỉ cuối của thế kỉ 20, cả nước ta đã khởi động trào lưu đổi mới PPDH từ các trường Đại học, đặc biệt là các trường Đại học sư phạm, cho tới các trường phổ thông Nhân loại đang ở kỉ nguyên mà động lực chủ yếu cho việc phát triển kinh tế là tri thức Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp GD thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Nền GD không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức công nghệ mà nhân loại đã tích lũy được mà còn phải bồi dưỡng cho họ tính năng động, cá nhân phải có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi
Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ
của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc,
có năng lực tiếp thu văn hóa tinh hoa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có phong cách công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây
dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn Bác Hồ.” [17, tr 49]
Thực tế ngày nay phần lớn GV vẫn dạy theo PPDH truyền thống Thực chất của phương pháp này nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt trước làm theo, thì không thể đào tạo những con người có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi Bên cạnh đó, GV không quan tâm đến việc tạo động cơ, gây hứng thú, để kích thích và phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của HS Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền giáo dục của nước ta chuyển dần từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một hệ thống PPDH mới có khả năng thực hiện mục
Trang 14tiêu mới Nghị quyết TW2, khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên Đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo.” [17, tr 50]
1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học
a Quan điểm dạy học
Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lý thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện DH và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình DH Quan điểm DH là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH Những quan điểm DH cơ bản: dạy học giải thích minh họa, dạy học gắn với kinh nghiệm, dạy học kế thừa, dạy học định hướng
HS, dạy học định hướng hành động, dạy học định hướng mục tiêu, dạy học giải quyết vấn
đề, DH theo tình huống, DH giao tiếp, DH nghiên cứu, DH khám phá, dạy học mở
b Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là con đường để đạt mục đích DH Phương pháp dạy học là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình DH Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và
HS trong những điều kiện DH xác định nhằm đạt mục đích dạy học; thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể
c Kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống và hành động nhỏ, cụ thể nhằm thực hiện và điều khiển quá trình DH Quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng việc lựa chọn các phương pháp dạy học cụ thể Phương pháp dạy học là khái niệm hẹp hơn, đưa ra các mô hình hoạt động
Kỹ thuật dạy học là khái niệm nhỏ nhất thực hiện các tình huống cụ thể của hoạt động
Trang 15d Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho HS, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin Tăng cường học tập cá thể phối hợp với hợp tác Định hướng vào người học được coi là quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH Quan điểm định hướng chung cần được cụ thể hóa thông qua những quan điểm dạy học khác, như dạy học giải quyết vấn đề, DH theo tình huống, DH định hướng hành động… cũng như các phương pháp, kĩ thuật DH cụ thể, nhằm tăng cường hơn nữa việc gắn lí thuyết với thực tiễn, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội
Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của GV và HS, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học, đổi mới kỹ thuật dạy, học với định hướng:
Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
Phù hợp với nội dụng dạy học cụ thể
Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS
Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện DH của nhà trường
Phù hợp với việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy – học
Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH có tiên
tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống
Tăng cường sử dụng các PTDH, TBDH và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của
CNTT
e Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền
thụ một chiều sang dạy học theo “PPDH tích cực” với các kĩ thuật DH tích cực nhằm giúp
HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự
Trang 16học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong
học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho “Học”
là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lí Chú trọng hình thành các năng lực dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa hoạt động, chủ động, trái với
không hoạt động, thụ động Kĩ thuật DH tích cực là “hạt nhân” của PPDH tích cực, hướng
tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không phải hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên, thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDH tích cực nhưng GV chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDH tích cực, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác giữa thầy và trò,
sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDH tích cực hàm chứa
cả phương pháp dạy và phương pháp học
f Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực
Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ
chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh
Dạy học thay vì lấy “Dạy” làm trung tâm thì sang lấy “Học” làm trung tâm Trong
PP tổ chức, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập
Trang 17theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình
Dạy theo cách này, GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Nội dung và PPDH phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ
động: Hoạt động với kỹ thuật DH tích cực làm cho lớp học ồn ào hơn, nhưng là sự
ồn ào, sôi động hiệu quả [1, tr 10]
Dạy học chú trọng rèn luyện PP tích cực và phát huy năng lực tự học của HS
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả DH mà còn là mục tiêu dạy học hiện nay
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay
từ cấp Tiểu học và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình DH, biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học
cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối nên khi áp dụng PPDH tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập Áp dụng PPDH tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS có thể thực hiện trên cơ sở áp dụng CNTT trong dạy học
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Trong lớp học môi trường giao tiếp
Trang 18thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học phải tận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống, cũng như những trải nghiệm phong phú của thầy giáo
Trong nhà trường, PP học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong DH là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ từ 4 đến 6
HS Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm
vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại Tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức
tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội được đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
Từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức nữa mà giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước
đó, khi soạn giáo án, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu DH thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có năng lực sư phạm mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá
Trang 19Trong dạy học, việc dánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thức trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Theo PPDH truyền thống GV đóng vai trò độc quyền đánh giá HS Ngược lại, trong PPDH tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá và tạo điều kiện để HS được tham gia ĐG lẫn nhau, từ đó để điều chỉnh cách học Tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho
sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Hoạt động đánh giá rất đa dạng: đánh giá chính thức và không chính thức; đánh giá bằng định tính và định lượng; đánh giá bằng kết quả và bằng biểu lộ thái độ - tình cảm; đánh giá thông qua sản phẩm được giới thiệu và định hướng phát triển các mối quan hệ xã hội
Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế
về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV, khả năng của HS, tối ưu các điều kiện hiện có Sử dụng các PTDH, TBDH hiện đại khi có điều kiện
1.2 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý trung học phổ thông 1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều
Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi và nhắc lại” Nói cách khác,
GV là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, GV quyết định tất cả, từ xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức kĩ năng, đánh giá kết quả học Nếu dạy theo cách này thì HS sẽ dồn vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội suy nghĩ, phát triển kiến thức, thực hiện được những suy nghĩ mới mẻ của mình
Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu với phương pháp thực nghiệm Bất kì ở đâu và nơi nào sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lối cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS
Để thực hiện được phương pháp dạy học theo hướng vào việc tổ chức hoạt động nhân thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có
Trang 20phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc điểm quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu dạy học
1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh
Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học
Phát phiếu học tập về nhà cho HS
Tập cho HS PP đọc sách, có ý thức tự đọc sách
Tập cho HS làm quen với các PPNTKH
Tăng cường dạy học theo nhóm hợp tác
Tăng cường dạy học theo nhóm, DH hợp tác…góp phần làm cho việc học tập cá nhân
có hiệu quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác, sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Đồng thời qua những lần thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được bác bỏ Mặt khác, việc học theo nhóm, tất cả mọi
HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh về học tập của HS
Bên cạnh đó, việc rèn luyện cho học sinh khả năng tự học còn là một biện pháp giúp
ta giải quyết một số khó khăn hơn: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho môn học
GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm hiểu
ở nhà Có lẽ không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho học sinh tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự học của học sinh
Tuy nhiên những vấn đề này trước đây chưa được chý ý đúng mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng của GV, ít chịu tự lực học tìm tòi nghiên cứu Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những học sinh ở lớp trên
1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học
Học sinh học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê, hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Chính vì vậy vai trò của GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa
Trang 21mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phá triển được năng lực
Muốn vậy GV cần:
Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống HT…
Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức
Áp dụng rộng rãi PP phát hiện giải quyết vấn đề và các PPNTĐT của VL như PPTN,
PPMH, PPTT vào trong quá trình DH
1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng,
có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có
hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng tin,
trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” Nhờ sự phát triển của
KHKT, quá trình DH đã sử dụng phương tiện DH:
Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
Phần mềm hổ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor
CNTT, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để DH
Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, coi đó là phương tiện để nhận thức; việc sử dụng phương tiện DH tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của HS trên tất cả các bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp và bình diện trực quan gián tiếp
Vì vậy mà nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết
về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan
Trang 221.3 Mục tiêu của việc đổi mới chương trình vật lý trung học phổ thông
1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lý phổ thông cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại
Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy cần phải trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống, bao gồm:
Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lí thường gặp trong đời
sống, khoa học và sản xuất
Các đại lượng, các định luật và nguyên lí vật lí cơ bản
Những nội dung chính của một số thuyết vật lí quan trọng
Những ứng dụng của vật lí trong đời sống, khoa học và trong sản xuất
Những phương pháp đặc thù của vật lí, trước hết là phương pháp thực nghiệm và
phương pháp mô hình - tương tự
1.3.2 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm sau khi học vật lý phổ thông
Có hứng thú học tập vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng
góp của Vật lí học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học
Có thái độ khách quan, trung thực và có tinh thần hợp tác ttrong học tập cũng như
trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được
Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện
sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên
1.3.3 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng nhận thức vật lý
Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hàng
ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập vật lí
Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến và các thiết bị tương đối hiện đại của vật lí, kĩ
năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lí
Trang 23 Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự
đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình vật lí, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra
Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng vật lí, giải các bài tập
Phát hiện và giải quyết các vấn đề vật lí ở mức phổ thông trong khoa học, đời sống,
sản xuất
Sử dụng thuật ngữ vật lí, các biểu bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những
hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin
Tóm lại, các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà phải luôn gắn liền với nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện Ví dụ: kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HS không phải tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực hoạt động, tham gia vào quá trình xây dựng và vận dụng kiến thức
1.4 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý lớp 10 theo chương trình trung học phổ thông đổi mới
1.4.1 Phát huy tinh thần chủ động, tích cực và sáng tạo của học học sinh
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các phương pháp dạy học truyền thống, tuy nhiên ta sẽ sử dụng các phương pháp đó theo tinh thần mới Giáo viên phải lựa chọn PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong những tình huống cụ thể
Thí dụ: Phương pháp cho HS làm việc với SGK
Như vậy, trước hết, có thể đổi mới PPDH bằng cách tổ chức việc dạy học trong đó sử dụng linh hoạt các PPDH truyền thống nhằm tích cực hóa tư duy của HS
1.4.2 Tổ chức hoạt động dạy và học chủ động để học sinh tự lĩnh hội kiến thức và kỹ năng
Theo quan niệm cũ về việc dạy học thì GV là người truyền thụ kiến thức, còn HS là người tiếp thu kiến thức PPDH phổ biến là phương pháp giảng giải - minh họa Nhưng trong nhiều, trường hợp khâu minh họa bị bỏ qua, không ít GV “giảng nguyên” văn như SGK cho HS, thậm chí còn đọc cho HS chép Có thể thay thế việc làm đó bằng cách cho
HS đọc và nghiền ngẫm SGK, rồi sau đó đặt những câu hỏi để kiểm tra sự lĩnh hội của các
Trang 24em Làm như vậy, không những ta có điều kiện rèn luyện cho HS các kĩ năng đọc sách và diễn đạt ý kiến, mà còn có thể thu nhận được thông tin phản hồi về học lực của HS
Theo quan niệm mới về việc dạy học, vai trò chính của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS, sao cho HS có thể tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng mới Do đó, trong tiết dạy học đổi mới, ta cần quan tâm xem HS hoạt động như thế nào? Các em đã thu hoạch được những giá trị gì? Diễn viên chính của lớp học phải là HS GV đóng vai trò là người đạo diễn Trong giờ học, mọi HS đều làm việc hết sức tích cực, GV trông có vẻ nhàn nhã, nhưng kì thực cũng làm việc hết sức căng thẳng để thu thập thông tin phản hồi và điều khiển kịp thời hoạt động của HS
Việc đổi mới phương pháp dạy của thầy phải đi đôi với việc đổi mới phương pháp học của trò Trong giờ học GV phải tìm cách cho HS lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả Trong nhà trường phải bắt đầu huấn luyện cho HS tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập để sau này các em trở thành người chủ tương lai của đất nước
Cần chú ý rằng hoạt động vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã chiếm lĩnh được để giải quyết một vấn đề, một bài tập…là tổng hợp của các hoạt động thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin Thực vậy, chẳng hạn như khi giải bài tập: HS phải đọc kĩ để nắm được đề bài; tìm và thực hiện cách giải và viết lời giải
Việc tổ chức các hoạt động học tập của HS trong tiết học phải được tiến hành một cách hết sức linh hoạt để tránh sự đơn điệu, nhàm chán Những khó khăn lớn nhất đối với việc đổi mới PPDH theo hướng này là vấn đề khối lượng kiến thức và thời gian dạy học
Để giải quyết những khó khăn này, đòi hỏi phải có sự cân nhắc kĩ lưỡng của GV giữa việc
tổ chức cho HS hoạt động học tập trên lớp, việc thuyết giảng của GV và việc tổ chức cho
HS tự học ở nhà Nhìn chung, trong một tiết học chỉ nên tổ chức không quá một quá trình giải quyết vấn đề học tập theo tiến trình khoa học
Thành công của việc tổ chức các hoạt động học tập nói trên cho HS phụ thuộc không những vào khả năng của GV mà còn phụ thuộc vào thói quen và thái độ học của
HS Chúng ta cấn tiến hành từng bước, đổi mới dần dần từng hoạt động trên lớp để không những GV quen dần với PPDH dựa trên nguyên tắc tổ chức cho HS hoạt động mà còn để
HS chuyển dần từ thói quen học tập thụ động sang thói quen học tập tích cực, sáng tạo Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải thực hiện theo tinh thần kiên trì, không nóng vội
Trang 251.4.3 Bồi dưỡng kỹ năng học cá nhân và học hợp tác của học sinh
Hình thức học tập cá nhân lâu nay vẫn được coi là hình thức học tập cơ bản và có hiệu quả nhất Các hình thức học tập theo nhóm và theo lớp là các hình thức học tập hỗ trợ Tuy nhiên, GV phải tìm cách kích thích được hứng thú học tập, làm cho HS học tập một cách tự giác, chủ động, từ đó phát huy được tính sáng tạo của mỗi cá thể trong học tập
Các hình thức học tập hợp tác không những góp phần làm cho việc học tập cá nhân
có hiệu quả cao hơn mà cần có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẽ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến mỗi cá nhận được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa Học tập theo nhóm giúp cho HS có thể trình bày được ý kiến của mình, có điều kiện để tự thể hiện mình
Các hình thức hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác thường được tiến hành xen kẽ lẫn nhau Thí dụ: hoạt động thực hành VL là hoạt động thường được tiến hành theo nhóm, nhưng việc thực hiện các thí nghiệm lại là nhiệm vụ bắt buộc của cá nhân Trong tiết thực hành, mỗi nhóm sử dụng chung một bộ thí nghiệm và phải thực hiện kế hoạch thí nghiệm theo đúng sự hướng dẫn chung của giáo viên đối với toàn lớp Tuy nhiên, việc lấy số liệu,
xử lí số liệu và viếc báo cáo thực hành phải do từng HS làm
1.4.4 Tăng cường làm thí nghiệm, và sử dụng các phương tiện hiện đại trong quá trình dạy học
VL học, đặc biệt là VL phổ thông, là một khoa học thực nghiệm Các khái niệm VL, các định luật VL đều phải gắn với thực tế Trong chương trình VL phổ thông, nhiều khái niệm và hầu hết các định luật VL được hình thành bằng con đường thực nghiệm Thông qua thí nghiệm, ta xây dựng được những biểu tượng cụ thể về sự vật và hiện tượng mà không một lời lẽ nào có thể mô tả đầy đủ được Trong thực hành, không những các kĩ năng thực hành như quan sát, sử dụng dụng cụ VL, lắp ráp thí nghiệm, vẽ đồ thị, xác định sai số…được rèn luyện, mà cả óc suy đoán, tư duy lí luận và nhất là tư duy VL cũng được phát triển mạnh
Xét về mặt PPDH, ta có thể chia các thí nghiệm VL phổ thông thành ba loại: các thí nghiệm do HS làm ngay trên lớp, trong tiết học, dưới hình thức cá nhân hay theo nhóm;
Trang 26các thí nghiệm do GV hay một nhóm HS làm để biểu diễn ngay trên lớp, trong tiết học và các thí nghiệm mà HS thực hiện trong phòng thí nghiệm để lấy số liệu, viết báo cáo dưới dạng một bài làm
Ở THPT, việc bố trí các thí nghiệm đồng loạt gặp nhiều khó khăn vì các thiết bị thí nghiệm nhìn chung đắt tiền và phức tạp Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ cố gắng trang bị sao cho, trong mỗi năm học, giáo viên có thể tổ chức được một, hai lần cho HS làm thí nghiệm đồng loạt về VL trên lớp
Đối với chương trình VL đổi mới, gần như tất cả các thí nghiệm đều đã được nghiên cứu thực hiện và đưa vào sản xuất để cung cấp cho các trường phổ thông.Vấn đề còn là chúng sẽ được cung cấp và sử dụng như thế nào? Việc bố trí kho, lớp học, phòng thí nghiệm…có thuận lợi cho việc sử dụng hay không? Có biên chế phụ tá thí nghiệm hay không? Tất cả các khó khăn đó cần phải được khắc phục dần trong quá trình đi lên của nhà trường phổ thông Về phía người GV, chúng ta sẽ cố gắng vượt qua những khó khăn thử thách, tận dụng những thiết bị sẵn có, tự làm thêm các đồ dùng dạy học mới…phấn đấu sao cho, trước mắt, khoảng 50% số tiết học VL có thí nghiệm
Số các bài thực hành VL của mỗi lớp đã tinh giản đến mức tối thiểu nội dung các bài thực hành đã được lựa chọn đến mức hết sức đơn giản và có tính khả thi cao Do đó, việc thực hiện các bài thực hành của mỗi lớp coi như bắt buộc
So với các chương trình cũ thì nội dung của các thí nghiệm VL hầu như không có
gì mới; tuy nhiên, sự đổi mới phải thể hiện ở cung cách mà chúng ta cho HS làm thí nghiệm Phải cho HS đến với thí nghiệm một cách chủ động và phải tạo cho các em cơ hội phát huy được những sáng tạo suy nghĩ trong thực hành
Muốn thế, không thể cho HS làm thí nghiệm theo kiểu chỉ đâu, làm đấy một cách máy móc, mô tả một cách đơn giản hiện tượng VL xảy ra đã quá rõ ràng…
Cần cho HS nắm được mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thí nghiệm, tham gia làm thí nghiệm, xử lí kết quả và thảo luận rút ra kết luận cần thiết
Ngoài ra, đối với những thí nghiệm VL khó làm hoặc đòi hỏi nhiều thời gian thì ta có thể cung cấp cho HS các số liệu thực nghiệm mà người ta đã thu được trước đó để cho các
em xử lí kết quả
Trang 271.4.5 Soạn giáo án theo tinh thần mới, lấy học sinh làm trung tâm
Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV
- Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
+ Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào?
Mức độ đến đâu?
+ Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường
nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
+ GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những
kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
+ Hành vi ở đâu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
Những nội dung của việc soạn giáo án
- Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể
- Xác định nội dung tóm tắt trình bài bảng
- Soạn nội dung bài tập về nhà
Một số hình thức trình bày giáo án
- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới
- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động của HS
Trang 28- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
- Viết 4 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện
Các nhóm bài học theo trình tự soạn giáo án
- Nhóm 1: Hoạt động nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới
- Nhóm 2: Hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt và nêu vấn đề
- Nhóm 3: Hoạt động nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, quy nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề
- Nhóm 4: Tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống
Các bước soạn giáo án
Khi thực hiện soạn thảo một giáo án cho một tiết dạy có thể chia làm 7 bước:
- Bước 1: Lượng hóa mục tiêu kiến thức và kỹ năng của bài học
- Bước 2: Chia bài học thành những đơn vị kiến thức
- Bước 3: Hoạch định các hoạt động của học sinh ứng với từng đơn vị kiến thức
- Bước 4: Tìm những hình thức học tập phù hợp với từng đơn vị kiến thức
- Bước 5: Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ học sinh ứng với từng hoạt động Dự kiến những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lý
- Bước 6: Xác định thời gian cho mỗi hoạt động
- Bước 7: Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết hỗ trợ cho tiết học
1.5 Đổi mới việc thiết kế bài học
1.5.1 Các quan điểm mới về giáo án
Thiết kế bài DH là công việc quan trọng của GV VL trước khi tổ chức hoạt động HT của HS ở trên lớp, bao gồm việc nghiên cứu chương trình, SGK và tài liệu tham khảo để xác định mục tiêu DH, lực chọn KT cơ bản, dự kiến các cách thức tạo nhu cầu KT ở HS, xác định các hình thức tổ chức DH và các PPDH thích hợp, xác định hình thức củng cố,
vận dụng tri thức đã học ở bài vào việc tiếp nhận KT mới hoặc vận dụng vào trong thực tế
Trang 29cuộc sống Thiết kế bài DH VL bao gồm cả việc dự kiến các tình huống sư phạm xảy ra trong bài dạy và cách ứng xử thích hợp của GV Các tình huống đó có thể liên quan đến thời gian, phương tiện DH, đối tượng HS, KT thực tế liên quan đến bài DH
Sản phẩm của việc thiết kế bài DH bao gồm giáo án và toàn bộ những suy nghĩ về quá trình DH sẽ diễn ra trong tiết học sắp đến Một loại được thể hiện ở ngay trên giấy Còn loại khác sẽ nằm ở trong suy nghĩ của GV
1.5.2 Quy trình (các bước) thiết kế bài học
a Một số hình thức trình bày kế hoạch bài học
Theo quan điểm mới về việc DH, vai trò chính yếu của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS Hoạt động học của HS rất đa dạng, dựa theo cấu trúc khái quát của tiến trình giải quyết các vấn đề có tính khoa học ta có thể chia thành các hoạt
động như sau:
Hoạt động : Kiểm tra kiến thức
- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi của GV
- Nhận xét câu trả lời của bạn
- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi
- Gợi ý trả lời, nhận xét ĐG
Hoạt động: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề
- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
- Tạo tình huống học tập
- Trao nhiệm vụ học tập
Hoạt động: Thu thập thông tin
- Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu
- Đọc và tìm hiểu một số vấn đề trong SGK
- Tìm hiểu bảng số liệu
- Tổ chức hướng dẫn
- Yêu cầu HS hoạt động
- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm
Trang 30- Quan sát hiện tượng tự nhiên hoặc trong
thí nghiệm
- Làm thí nghiệm, lấy số liệu…
hiểu
- Giảng sơ lược nếu cần thiết
- Làm thí nghiệm biểu diễn
- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu
- Chủ động về thời gian
Hoạt động: Xử lí thông tin
- Thảo luận theo nhóm hay làm việc cá
nhân
- Tìm hiểu các thông tin liên quan
- Lập bảng, vẽ đồ thị…nhận xét về tính qui
luật của hiện tượng
- Trả lời các câu hỏi của GV
- Tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc
trong lớp…
- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những
thông tin thu được
- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS
- Đàm thoại gợi mở, chất vấn HS
- Hướng dẫn HS cách lập bảng, vẽ đồ thị và rút ra nhận xét, kết luận
- Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp
- Tổ chức hợp tác hóa kết luận
- Hợp thức về thời gian
Hoạt động: Truyền đạt thông tin
- Trả lời câu hỏi
- Giải thích các vấn đề
- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận
- Báo cáo kết quả
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề
- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ
- Hướng dẫn mẫu báo cáo
Trang 31 Hoạt động: Củng cố bài học
- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm
- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà
-Ghi những chuẩn bị cho bài sau
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau
b Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài: ………
Tiết: ………theo phân phối chương trình
I Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)
Trang 32Hoạt động 2 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1
Hoạt động 3 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2
Hoạt động i (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng i
Hoạt động n-1 (… phút): Vận dụng, củng cố
Hoạt động n (… phút): Hướng dẫn về nhà
IV Rút kinh nghiệm
Ghi những lời nhận xét của GV sau khi dạy xong
c Những câu hỏi thảo luận về các kế hoạch bài dạy
Theo bạn một kế hoạch bài dạy có cấu trúc như thế nào thì thích hợp, nêu lí do?
Mục tiêu bài dạy và sự chuẩn bị cần thể hiện như thế nào trong bài soạn nhất là những
phần có ứng dụng công nghệ thông tin?
Thông thường trong một tiết dạy có những hoạt động HT nào? Thể hiện hoạt động học
tập của học sinh và trợ giúp của giáo viên như thế nào trong bài soạn
Nêu các kĩ thuật củng cố bài giảng mà bạn đã vận dụng trong quá trình dạy học
Làm thế nào để xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản trong bài phù hợp đối tượng HS ở
các vùng miền thích hợp trong một tiết dạy
Hãy soạn một bài theo phân phối chương trình và đối tượng đã lựa chọn
1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá
1.6.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá
Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình GD; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS về tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo
cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để HS học tập ngày một tiến bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là KT Đổi mới PPDH được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển tính tích cực, trí thông minh sáng tạo của
HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kĩ năng đã học vào những tình huống
Trang 33thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đề, nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực
Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển Xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực Thực hiện tốt đồng thời cả hai chức năng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là ĐG chất lượng dạy của thầy và ĐG chất lượng học của trò Đánh giá thực chất sẽ tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học
Chất lượng học được xem xét là sản phẩm đầu ra sau một quá trình tác động có chủ đích của hoạt động dạy học Tác động của quá trình DH bao gồm nhiều yếu tố dựa trên một
hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, chương trình – SGK, đội ngũ
GV, quản lí dạy học… Từ đó sản phẩm được hình thành và tiếp tục phát triển ở những giai đoạn tiếp theo của quá trình giáo dục Không như chất lượng của các loại sản phẩm khác, sản phẩm của quá trình DH làm nên chất lượng học tập sau khi đã được xác nhận có thể thay đổi theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Chất lượng học tập của HS đối với mỗi môn học thể hiện số lượng đơn vị kiến thức theo yêu cầu môn học mà HS nắm được ở các mức
độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) Ngoài ra, chất lượng học tập cũng biểu hiện ở các kĩ năng và thái độ của HS sau khi có được những vốn kiến thức môn học
Trong quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi HS được trải qua quá trình GD bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ Đánh giá chất lượng học tập các môn học của HS thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho quá trình giáo dục ở các môn học, trong đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà HS đã đạt được sau một giai đoạn học tập
Tham gia vào quá trình học tập, HS có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học định ra và yêu cầu HS phải đạt
được Mục tiêu môn học đặt ra các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ “Chuẩn kiến thức,
chuẩn kĩ năng, yêu cầu thái độ” thể hiện trong Chương trình giáo dục phổ thông và thể hiện
cụ thể qua SGK Trong quá trình dạy học, GV phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức
Trang 34độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đề ra Kiểm tra xem HS đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu
Hoạt động dạy và học luôn có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức độ cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của HS Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Sự điều chỉnh bổ xung những kiến thức, kĩ năng, thái độ còn chưa hoàn thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành tri thức bền vững cho mỗi HS Việc kiểm tra chất lượng học tập sẽ giúp cho các nhà quản lí giáo dục, các GV và bản thân HS có những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình học
Đổi mới phương pháp dạy học là điều kiện quan trọng nhất để đổi mới ĐG kết quả dạy học Đổi mới nội dung, PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho HS thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực HS
Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động GD, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục
Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn GD mà trong cả quá trình ĐG ở những thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn
GD tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục Thống nhất với quan điểm đổi mới ĐG như trên, việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát vào mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp, cấp Các câu hỏi, bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định
1.6.2 Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
a Kiểm tra miệng
Tính chất: KT miệng thuộc loại hình ĐG định hình, bằng hình thức vấn đáp
Mục tiêu: Ngoài việc thực hiện mục tiêu chung của việc ĐG kết quả học tập của HS,
kiểm tra miệng còn có những mục tiêu riêng sau đây:
+ Thu hút sự chú ý của HS đối với bài học
Trang 35+ Kích thích sự tham gia tích cực của HS vào bài giảng của GV
+ Giúp GV thu thập kịp thời thông tin phản hồi về bài giảng của mình để có những điều chỉnh thích hợp Đây chính là một trong những mục tiêu chính của KT miệng cũng là một trong những mục tiêu ít được GV quan tâm nhất
+ Để kiểm tra miệng có thể thực hiện được đầy đủ và có hiệu quả các chức năng ĐG của mình, khi thực hiện hình thức KT này cần lưu ý những điều sau đây:
+ Không nhất thiết phải tiến hành KT miệng vào đầu tiết học Nên kết hợp KT miệng với việc dạy bài mới để không những KT được việc nắm các bài học cũ mà còn KT được việc nắm bài học mới để có những điều chỉnh thích hợp và kịp thời cho nội dung và PPDH làm cho việc dạy bài mới có hiệu quả hơn
+ Không nên chỉ dừng lại ở mức độ “nhận biết”, chỉ yêu cầu HS nhắc lại các kiến thức đã học như nhiều GV thường làm, mà cần yêu cầu HS “vận dụng” những kiến thức này vào tình huống mới Việc ghi nhớ được kiến thức đã học chỉ nên cho không quá 5 điểm, 5 điểm còn lại dành cho việc đánh giá mức độ “thông hiểu” và
“vận dụng” kiến thức vào tình huống mới
+ Chỉ cho điểm KT miệng khi thấy các câu hỏi và các câu trả lời đã đủ để ĐG kết quả học tập của HS Nếu thấy chưa đủ thì chỉ cần đưa ra một lời nhận xét hoặc một lời khen Tránh cho điểm một cách khiên cưỡng
+ Vì KT miệng là một hoạt động quan trọng của tiết học nên hoạt động này cần được ghi và chuẩn bị trước trong giáo án
b Kiểm tra viết
Tính chất: Kiểm tra viết là hình thức quan trọng nhất trong việc ĐG kết quả học tập
của HS Nó có thể là ĐG định hình hoặc ĐG tổng kết, ĐG theo chuẩn hoặc ĐG theo tiêu chí
Mục tiêu: Các bài KT viết (15 phút, 1 tiết và trên 1 tiết), được tiến hành vào lúc kết
thúc việc học tập một hoặc một số vấn đề có liên quan với nhau, một hoặc một số chương, cuối mỗi học kì, trong các kì thi tốt nghiệp cũng như thi tuyển chọn HS… phải thực hiện toàn bộ các mục tiêu của ĐG kết quả học tập
Trang 36 Những điều cần lưu ý khi thực hiện: Toàn bộ những nội dung về mục tiêu và chức
năng của đánh giá, về các lĩnh vực ĐG cũng như về các tiêu chí của công cụ ĐG trình bày trong các phần trên đều là những điều cần lưu ý trong việc thực hiện các bài KT viết
c Kiểm tra các hoạt động thực hành
Ngoài các bài thí nghiệm thực hành quy định trong chương trình, GV có thể giao cho một số HS thực hiện một số hoạt động thực hành khác có liên quan đến nội dung của bài học
để các em làm ở nhà, ngoài giờ học ở trường với những dụng cụ dễ kiếm hoặc với những dụng cụ mà phòng thí nghiệm của nhà trường có thể cho mượn Các loại bài tập thực hành này cũng cần được cho điểm như các bài thực hành khác Đối với những thí nghiệm tự làm
có tính sáng tạo cao có thể được ĐG ngang với một bài KT cuối chương hoặc cuối học kì Đây là loại hình ĐG rất phổ biến ở nước ngoài, nhưng còn rất ít được chú ý ở nước ta
1.6.3 Sử dụng trắc nghiệm trong việc ra đề kiểm tra Vật lí ở trường trung học phổ thông
a Trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm tự luận là một loại hình câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải tự viết đầy đủ các loại câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình Đây chính là loại hình câu hỏi và bài tập lâu nay chúng ta vẫn quen dùng để ra đề các kiểm tra viết loại trắc nghiệm này có những
ưu điểm và nhược điểm sau đây
Trang 37+ Thiếu tính khách quan: Việc ĐG các phương án trả lời cũng như bài giải của HS thường thiếu tính khách quan và nó phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người chấm
+ Việc chấm bài khó khăn và mất nhiều thời gian
Những nhược điểm trên có thể dẫn đến những tiêu cực trong việc học như học tủ, học lệch, quay cóp,… và trong việc dạy như dạy tủ, đối xử thiên vị trong kiểm tra…
b Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan là một loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn, hoặc nếu HS phải tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ duy nhất một cách viết đúng Trắc nghiệm này được gọi là “khách quan” vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm So với trắc nghiệm tự luận thì trắc nghiệm khách quan có một số ưu điểm và nhược điểm sau
Nhược điểm:
+ Không cho phép đánh giá năng lực diễn đạt của HS cũng như không cho thấy quá trình suy nghĩ của HS để trả lời một câu hỏi hoặc giải một bài tập Do đó nếu chỉ sử dụng hình thức trắc nghiệm này trong đề KT, đánh giá thì việc kiểm tra, đánh giá có thể trở thành yếu tố có tác dụng hạn chế việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt của học sinh
+ Việc soạn đề kiểm tra rất khó khăn và mất nhiều thời gian
Chúng ta dễ dàng nhận thấy ưu điểm của hình thức kiểm tra trắc nghiệm này là nhược điểm của hình thức trắc nghiệm kia và ngược lại Do đó, để có thể tận dụng được các ưu
Trang 38điểm của cả hai loại trắc nghiệm, người ta thường dùng cả hai loại trắc nghiệm khách quan
và tự luận trong một bài kiểm tra [3, tr 163]
c Các dạng trắc nghiệm khách quan thường dùng
Ở trường phổ thông thường sử dụng 4 loại trắc nghiệm khách quan sau:
Câu hỏi nhiều lựa chọn Gồm 2 phần:
+ Phần dẫn (còn gọi là phần gốc) trình bày một vấn đề, một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh
+ Phần trả lời (còn gọi là phần lựa chọn) gồm một số phương án trả lời (thường là 4 phương án trong các bài kiểm tra ở trường THPT) để trả lời hoặc hoàn chỉnh phần dẫn Trong số các phương án trả lời chỉ có một phương án đáp ứng đúng yêu cầu của phần dẫn
Câu đúng, sai: phần dẫn của dạng trắc nghiệm này trình bày một nội dung nào đó mà
HS phải đánh giá là đúng hay sai Phần trả lời chỉ có hai phương án đúng (kí hiệu bằng chữ Đ) và sai (kí hiệu bằng chữ S)
Câu ghép đôi: Loại câu này được trình bày thành hai dãy, dãy bên trái là phần dẫn,
trình bày những nội dung muốn kiểm tra (khái niệm, định nghĩa, định luật, hiện tượng,…), dãy bên phải là phần trả lời trình bày các nội dung (câu, mệnh đề, công thức,…) phù hợp với nội dung của phần dẫn Để tránh sự đoán mò của HS, người ta thường để số câu lựa chọn ở bên phải lớn hơn số câu dẫn ở bên trái
Câu điền khuyết: Loại câu này được trình bày một câu hoàn chỉnh có nội dung mang ý
nghĩa chuyên môn, một định nghĩa, một định luật,… cắt bỏ một từ hoặc một cụm từ
để HS tự điền trở lại các từ hoặc cụm từ đã bị cắt bỏ
d Những điều cần lưu ý khi viết câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Câu nhiều lựa chọn là loại câu được sử dụng nhiều nhất trong đề kiểm tra bằng trắc nghiệm và cũng là loại câu khó biên soạn nhất Sau đây là một số điều cần lưu ý khi viết câu nhiều lựa chọn
Đối với phần dẫn:
+ Phần dẫn phải có nội dung rõ ràng và chỉ nên đưa vào một nội dung
+ Tránh dùng dạng phủ định Nếu dùng thì phải in đậm chữ “không”
Trang 39+ Nên viết dưới dạng “một phần của câu”, chỉ dùng dạng “câu hỏi” khi muốn nhấn mạnh
Đối với phần lựa chọn:
+ Chỉ nên có 4 phương án lựa chọn, trong đó có một phương án đúng Trong trường hợp chỉ có thể có 3 phương án lựa chọn (Ví dụ những phương án so sánh: hơn, kém, bằng; tăng lên, giảm xuống, không thay đổi…) thì phải ghi rõ ngay trước phần dẫn là câu này chỉ có 3 phương án trả lời
+ Các phương án nhiễu phải có vẽ hợp lí và có sức hấp dẫn HS
+ Các “phần câu lựa chọn” hoặc các “câu lựa chọn” nên được viết theo cùng một lối hành văn, cùng một cấu trúc ngữ pháp, nghĩa là tương đương về hình thức, chỉ khác nhau về nội dung
+ Hạn chế dùng phương án “Các câu trên đều đúng” hoặc “Các câu trên đều sai” + Không để HS có thể đoán ra câu trả lời dựa vào hình thức trình bày của phần lựa chọn
+ Sắp xếp các phương án lựa chọn theo thứ tự ngẫu nhiên, tránh thể hiện một ưu tiên nào đối với vị trí của phương án đúng
Đối với cả hai phần:
Đảm bảo để phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả
1.6.4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra ĐG kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả giáo dục HS Phải cụ thể mục tiêu đào tạo thành mục tiêu, yêu cầu của từng hoạt động giáo dục, từng môn học, từng bài học, từng bài KT
a Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá
Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học; kết quả KT, thi đủ độ tin cậy để
xét lên lớp, tốt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh
Tạo động lực đổi mới PPDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học
Trang 40b Yêu cầu kiểm tra, đánh giá
Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu cần đạt
về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn, mỗi cấp học
Phối hợp kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của GV và tựđánh
giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng Đảm bảo chất lượng kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì: chính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, “đối phó” nhưng cũng không gây áp lực nặng nề
Đánh giá kịp thời, có tác dụng GD và động viên HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót Cần
có nhiều hình thức và độ phân hóa trong ĐG phải cao; chú ý hơn trong ĐG cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của
HS trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm
Đánh giá hoạt động DH không chỉ ĐG thành tích học tập của HS mà còn bao gồm ĐG
quá trình DH nhằm cải tiến quá trình DH Chú trọng kiểm tra, đánh giá hành động, tình cảm của HS: nghĩ và làm; năng lực vận dụng vào thực tiễn của HS, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp Cần bồi dưỡng những phương pháp, kĩ thuật lấy thông tin phản hồi
từ HS để đánh giá quá trình dạy học
Đánh giá kết quả học tập của HS, thành tích học tập của HS không chỉ ĐG kết quả học
tập cuối cùng mà chú ý cả quá trình DH Tạo điều kiện cho HS cùng tham gia xác định tiêu chí ĐG kết quả học tập Trong đó cần chú ý: Không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức tạp Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi cấp học, cần có quy định ĐG bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV, hoặc ĐG chỉ bằng nhận xét của GV
Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các
nhà trường; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì
Từng bước nâng cao chất lượng đề KT, thi đảm bảo vừa đánh giá được đúng chuẩn
kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hóa cao Đổi mới đề ra KT 15 phút, KT 1 tiết, kiểm tra học kì theo hướng kiểm tra kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, phù hợp với nội dung chương trình, thời gian quy định