1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý bước đầu tìm HIỂU VIỆC GIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG TRONG dạy học 6 bài vật lý 11

88 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông giới thiệu về các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học tích cực sử dụng cho việc soạn giảng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VIỆC GIÁO DỤC

KỸ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC 6 BÀI

VẬT LÝ 11

Giảng viên hướng dẫn:

ThS ĐẶNG THỊ BẮC LÝ Sinh viên thực hiện:

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn “Bước đầu tìm hiểu việc giáo dục kỹ năng sống trong

dạy học 6 bài – Vật lý 11”, ngoài sự nỗ lực tìm hiểu của bản thân, em đã nhận được sự

giúp đỡ từ rất nhiều phía

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Sư phạm và các thầy cô trong bộ môn Vật lý Những người đã cung cấp cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong sốt 4 năm học vừa qua Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Đặng Thị Bắc Lý, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến người thân và bạn bè những người luôn sát cánh bên em trong mọi hoàn cảnh

Vì thời gian có hạn, nên trong quá trình thực hiện luận văn không thể nào tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Lời cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy, cô thật nhiều sức khỏe, thành công

và luôn tìm được nhiều niềm vui trong cuộc sống.!

Cần Thơ, ngày 02 tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Đinh Ngọc Trường

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

TÓM TẮT LUẬN VĂN vii

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục tiêu của đề tài 3

4 Giới hạn của đề tài 4

5 Các phương pháp thực hiện đề tài 4

6 Các bước thực hiện đề tài 4

7 Danh mục các từ viết tắt trong đề tài 4

B NỘI DUNG 5

Phần 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG MÔN VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1 Kỹ năng sống 5

1.1 Quan điểm về kỹ năng sống 5

1.2 Phân loại kỹ năng sống 6

2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông 7

2.1 Tầm quan trọng 7

2.1.1 Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội 7

2.1.2 Giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ 7

2.1.3 Giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 8

2.1.4 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới 9

2.2 Định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông 9

2.2.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông 9 2.2.2 Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông 10

2.2.2.1 Tương tác 10

2.2.2.2 Trải nghiệm 10

Trang 4

2.2.2.3 Tiến trình 10

2.2.2.4 Thay đổi hành vi 11

2.2.2.5 Thời gian – môi trường giáo dục 11

2.2.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông 11

2.2.3.1 Kỹ năng tự nhận thức 11

2.2.3.2 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc 12

2.2.3.3 Kỹ năng ứng phó với căng thẳng 12

2.2.3.4 Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ 13

2.2.3.5 Kỹ năng thể hiện sự tự tin 13

2.2.3.6 Kỹ năng giao tiếp 14

2.2.3.7 Kỹ năng lắng nghe tích cực 14

2.2.3.8 Kỹ năng thể hiện sự cảm thông 14

2.2.3.9 Kỹ năng thương lượng 15

2.2.3.10 Kỹ năng hợp tác 15

2.2.3.11 Kỹ năng tư duy phê phán 15

2.2.3.12 Kỹ năng tư duy sáng tạo 16

2.2.3.13 Kỹ năng ra quyết định 16

2.2.3.14 Kỹ năng giải quyết vấn đề 16

2.2.3.15 Kỹ năng kiên định 16

2.2.3.16 Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm 17

2.2.3.17 Kỹ năng đạt mục tiêu 17

2.2.3.18 Kỹ năng quản lý thời gian 17

2.2.3.19 Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin 18

2.2.3.20 Kỹ năng xác định giá trị 18

2.2.3.21 Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn 18

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông 19

2.3.1 Cách tiếp cận 19

2.3.2 Phương pháp dạy học là gì? 20

2.3.3 Một số phương pháp dạy học tích cực 21

2.3.3.1 Phương pháp dạy học nhóm 21

Trang 5

2.3.3.2 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 22

2.3.4 Một số kỹ thuật dạy học tích cực 23

2.4 Các bước thực hiện một bài giáo dục kỹ năng sống 30

2.4.1 Xác định KNS cần được giáo dục 30

2.4.2 Tiến trình dạy học (Các bước thực hiện một bài giáo dục kỹ năng sống) 31

3 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý 11 trung học phổ thông 33

3.1 Mục tiêu của chương trình Vật lý 11 trung học phổ thông 33

3.2 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý 11 trung học phổ thông 34

Phần 2 VẬN DỤNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT SOẠN 6 BÀI THỰC HIỆN GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG MÔN VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 36

1 Bài 2 THUYẾT ELECTRON – ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐIỆN TÍCH 36

1.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 36

1.1.1 Mục tiêu bài học 36

1.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 36

1.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 37

1.1.4 Phương tiện dạy học 37

1.2 Tiến trình dạy học 37

1.2.1 Khám phá 37

1.2.2 Kết nối 38

1.2.3 Thực hành / luyện tập 40

1.2.4 Vận dụng 40

2 Bài 6 TỤ ĐIỆN 42

2.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 42

2.1.1 Mục tiêu bài học 42

2.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 42

2.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 43

2.1.4 Phương tiện dạy học 43

2.2 Tiến trình dạy học 43

2.2.1 Khám phá 43

2.2.2 Kết nối 44

2.2.3 Thực hành / luyện tập 45

Trang 6

3 Bài 10 GHÉP CÁC NGUỒN ĐIỆN THÀNH BỘ 46

3.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 46

3.1.1 Mục tiêu bài học 46

3.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 46

3.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 47

3.1.4 Phương tiện dạy học 47

3.2 Tiến trình dạy học 47

3.2.1 Khám phá 47

3.2.2 Kết nối 48

3.2.3 Thực hành / luyện tập 50

3.2.4 Vận dụng 50

4 Bài 26 KHÚC XẠ ÁNH SÁNG 51

4.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 51

4.1.1 Mục tiêu bài học 51

4.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 51

4.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 52

4.1.4 Phương tiện dạy học 52

4.2 Tiến trình dạy học 52

4.2.1 Khám phá 52

4.2.2 Kết nối 53

4.2.3 Thực hành / luyện tập 56

4.2.4 Vận dụng 56

5 Bài 27 PHẢN XẠ TOÀN PHẦN 57

5.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 57

5.1.1 Mục tiêu bài học 57

5.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 57

5.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 58

5.1.4 Phương tiện dạy học 58

5.2 Tiến trình dạy học 58

5.2.1 Khám phá 58

5.2.2 Kết nối 59

5.2.3 Thực hành / luyện tập 61

Trang 7

5.2.4 Vận dụng 62

6 Bài 31 MẮT 63

Tiết 1 6.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 63

6.1.1 Mục tiêu bài học 63

6.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 63

6.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 64

6.1.4 Phương tiện dạy học 64

6.2 Tiến trình dạy học 64

6.2.1 Khám phá 64

6.2.2 Kết nối 65

6.2.3 Thực hành / luyện tập 68

Tiết 2 6.1 Xác định KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài 69

6.1.1 Mục tiêu bài học 69

6.1.2 Các kỹ năng sống cần được giáo dục trong bài 69

6.1.3 Các phương pháp / kỹ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng 70

6.1.4 Phương tiện dạy học 70

6.2 Tiến trình dạy học 70

6.2.1 Khám phá 70

6.2.2 Kết nối 70

6.2.3 Thực hành / luyện tập 73

6.2.4 Vận dụng 73

C KẾT LUẬN 74

1 Những kết quả đạt được của đề tài 74

2 Những hạn chế của đề tài 74

3 Những dự định cho tương lai 74

PHỤ LỤC 75

PHỤ LỤC 1 75

PHỤ LỤC 2 76

PHỤ LỤC 3 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Quyển luận văn được viết theo quy định chung về cấu trúc của một báo cáo luận văn Tốt nghiệp của khoa Sư phạm – Đại học Cần Thơ nên cũng được chia làm ba phần chính:

Phần A Mở đầu trình bày các nội dung:

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử của vấn đề

3 Mục tiêu của đề tài

4 Giới hạn của đề tài

5 Các phương pháp thực hiện đề tài

6 Các bước thực hiện

7 Danh mục các từ viết tắt trong đề tài

Phần B Nội dung được chia thành 2 phần:

Phần 1: Cơ sở lý thuyết của giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý 11 trung học phổ thông gồm các nội dung cơ bản:

Mục 1 Kỹ năng sống giới thiệu 2 nội dung:quan điểm về kỹ năng sống và phân

loại kỹ năng sống

Mục 2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông gồm

các nội dung:

2.1 Tầm quan trọng đề cập những lý do tại sao phải giáo dục kỹ năng sống cho

học sinh trong nhà trường phổ thông

2.2 Định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông trình bày mục tiêu ,nguyên tắc và nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh

trong nhà trường phổ thông (các mục 3.2.1, 3.2.2 và 3.2.3) Trong đó, nội dung dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông liệt kê nội dung các

kỹ năng sống cần giáo dục cho học sinh phổ thông

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông giới thiệu về các phương pháp dạy học và kỹ thuật dạy học tích

cực sử dụng cho việc soạn giảng 1 tiết dạy thực hiện giáo duc kỹ năng sống

2.4 Các bước thực hiện một bài giáo dục kỹ năng sống trình bày quy trình

thiết kế 1 bài thực hiện giáo dục kỹ năng sống trong Vật lý 11

Trang 10

Mục 3 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý 11 trung học phổ

Phần Kết luận trình bày các nội dung: Những kết quả đạt được của đề tài, những

hạn chế của đề tài và dự định cho tương lai của bản thân tôi

Ngoài ra, cuối quyển luận văn còn có Phụ lục là phần giải đáp các bài tập trong phiếu

học tập và đáp án một số bài tập vận dụng sử dụng trong việc soạn giảng

Trang 11

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) Theo đó, vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm Hiện nay đã có hơn 155 nước trên thế giới đưa giáo dục kỹ năng sống vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau Trong giáo dục hiện đại, giáo dục kỹ năng sống là một tiêu chí về chất lượng giáo dục

Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông đã

và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI mà thực chất

là cách tiếp cận kỹ năng sống, đó là: Học để biết, Học để làm, Học dể tự khẳng định

mình và Học để cùng chung sống Mục tiêu giáo dục phổ thông đã và đang chuyển

hướng, từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những năng lực cần thiết cho họ [7,3] Tuy nhiên, nhận thức về hướng dẫn tổ chức hoạt động kỹ năng sống cho học sinh các cấp, bậc học còn hạn chế

Sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực kinh tế - xã hội và giao lưu quốc tế đã

và đang tạo ra những tác động đa chiều, phức tạp ảnh hưởng quá trình hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, đặc biệt là ở các đô thị và thành phố lớn Đã xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là học sinh và thầy cô giáo của họ Bên cạnh đó là sự bùng phát hiện tượng học sinh phổ thông hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục sớm,…thậm chí là tự sát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém Các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ mạng sống …Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên

Trang 12

gia giáo dục, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kỹ năng sống Do chưa được tiếp cận với chương trình giáo dục kỹ năng sống nên học sinh phổ thông nói chung, học sinh trung học trung học phổ thông nói riêng còn thiếu hụt những kỹ năng sống cần thiết Chính vì thiếu kỹ năng sống mà nhiều học sinh đã giải quyết các vấn đề gặp phải một cách tiêu cực dẫn đến các tệ nạn, rủi ro Giáo dục kỹ năng sống có thể cung cấp cho các em kỹ năng để giải quyết được các vấn đề nảy sinh từ các tình huống thách thức

Trước những vấn đề đó, với vai trò là một giáo viên tương lai, tôi cũng đã có nhiều băn khoăn, suy nghĩ Tôi muốn làm điều gì đó thiết thực cho các em đặc biệt là học sinh bậc THPT thông qua chính chuyên nghành của tôi Vì thế tôi quyết định chọn

đề tài: “Bước đầu tìm hiểu việc giáo dục kỹ năng sống trong dạy học 6 bài – Vật lý

11” Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nào kiến thức, kinh nghiệm vào việc giáo dục

kỹ năng sống cho các em học sinh phổ thông, giúp các em được tiếp cận với việc giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý 11, để trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng tạo hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho xã hội Tôi hy vọng rằng sau luận văn này tôi sẽ hoàn thiện và đúc kết thêm nhiều kinh nghiệm mới, trao dồi nhiều kinh nghiệm quý báu cho bản thân, nhất là cho việc ứng dụng đề tài nghiên cứu này một cách hiệu quả khi dạy Vật lý ở trường phổ thông đặc biệt là Vật lý 11

2 Lịch sử vấn đề

Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau Chương trình hành động Dakar về giáo dục cho mọi người (Senegal – 2000) đã đặt ra cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục

Thuật ngữ kỹ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt

Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và

phòng chống HIV / AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do quỹ nhi

đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với giáo dục các vấn đề xã hội như: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng

Trang 13

chống tai nạn và thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn, bảo vệ môi trường,…Đặc biệt hiện nay trên Đài truyền hình Quốc gia Việt Nam VTV cũng dành riêng một chuyên mục để giới thiệu những kỹ năng sống đến với các bạn trẻ

Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học (PPDH) gắn với bốn trụ cột giáo dục của thế kỷ XXI: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống mà thực chất là một cách tiếp cận KNS Đặc biệt, rèn luyện KNS cho học sinh (HS) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của phong trào thi

đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông

Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho HS của nhiều tác giả trong cả nước với nhiều tên gọi và mức độ khác nhau mà phạm vi đề tài tôi xin không đề cập

Ở trường Đại học Cần Thơ, chương trình đào tạo của sinh viên khoa sư phạm kể

từ khóa 36 có thêm học phần “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” Học phần này

nằm trong nhóm các học phần tự chọn nhằm giúp các sinh viên ngành sư phạm làm quen với môn học mới này để ứng dụng hiệu quả vào việc giảng dạy khi ra trường Khi tôi bắt đầu nghiên cứu đề tài này thì trước đó có chị Huỳnh Hoàng Oanh sinh viên

lớp sư phạm Vật Lý – Tin học K34 đã nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm hiểu việc giáo

dục kỹ năng sống trong dạy học 6 bài – Vật Lý 10” đó cũng là cơ sở để tôi tiếp tục

nghiên cứu đề tài “Bước đầu tìm hiểu việc giáo dục kỹ năng sống trong dạy học 6 bài

– Vật Lý 11”

3 Mục tiêu của đề tài

Những mục tiêu mà đề tài cần hướng tới là:

- Hệ thống lại những lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông

Trang 14

- Đưa ra mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý 11 cho học sinh ở trường trung học phổ thông và quy trình thiết kế một tiết dạy thực hiện giáo dục kỹ năng sống

- Vận dụng lý thuyết để soạn giảng 6 bài thực hiện về giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý lớp 11 ở trường trung học phổ thông

4 Giới hạn của đề tài

Do giới hạn về thời gian, trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết vào soạn giảng 6 bài thực hiện về giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý lớp 11

5 Các phương pháp thực hiện đề tài

- Nghiên cứu lý thuyết: tìm đọc các tài liệu liên quan đến đề tài Sau đó, nghiên cứu, trích lọc, hệ thống lại và đưa ra các ý kiến, quan điểm, các nội dung viết về việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua dạy học Vật lý

- Vận dụng lý thuyết: Soạn giảng 6 bài thực hiện về giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý lớp 11

6 Các bước thực hiện đề tài

- Xác định mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan

- Xây dựng đề cương

- Xây dựng cơ sở lý thuyết

- Vận dụng cơ sở lý thuyết để soạn giảng 6 bài thực hiện về giáo dục kỹ năng sống trong môn Vật lý lớp 11

- Hoàn thành luận văn

7 Danh mục các từ viết tắt trong luận văn

- QĐDH: Quan điểm dạy học

Trang 15

B NỘI DUNG Phần 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG MÔN VẬT LÝ 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1 Kĩ năng sống

1.1 Quan điểm về kĩ năng sống

Kỹ năng sống (KNS) còn được gọi với các tên như: Kỹ năng tâm lí xã hội (Social Emotional Skills), kĩ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy (Personal, Learning and Thingking Skills) Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới, cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp Quốc

(UNESCO), KNS gắn với bốn trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết (Learning to

know) gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…., căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận

thức, tự tin… Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kĩ

năng xã hội như: Giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo

nhóm, thể hiện sự cảm thông; học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện

công việc và các nhiệm vụ như: Kĩ năng đạt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm 8],[6,3]

([7,7-Từ những quan điểm trên có thể thấy KNS bao gồm hàng loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kỹ sống là

kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống ([7,8],[6,4]) KNS không phải tự nhiên có được mà phải hình thành dần dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống Quá trình hình thành KNS diễn ra cả trong và ngoài hệ

Trang 16

thống giáo dục KNS vừa mang tính chất cá nhân ( vì đó là khả năng của cá nhân ), vừa mang tính chất xã hội ( vì phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội; chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa gia đình, cộng đồng, dân tộc)

1.2 Phân loại kỹ năng sống

Tùy theo quan niệm về kỹ năng sống, có các cách phân loại khác nhau

Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kỹ năng cốt lõi sau ([7,9], [6,5]): Kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng suy nghĩ / tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp hiệu quả, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp ứng xử cá nhân, kỹ năng tự nhận thức / tự trọng và tự tin của bản thân, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng thể hiện sự cảm thông và kỹ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc

Trong giáo dục Vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là ([7,9], [6,5]): Hợp tác nhóm; tự quản; tham gia hiệu quả; suy nghĩ / tư duy bình luận, phê phán; suy nghĩa sáng tạo; nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

Bên cạnh đó, đối với việc giáo dục chính quy ở nước ta trong những năm vừa qua KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm ba nhóm chính ([7,10], [6,5]): Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm các KNS cụ thể như: Tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin ; nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác, gồm các KNS cụ thể như: Giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác, ; nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, gồm các KNS cụ thể như: Tìm kiếm và sử lý thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,

Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại KNS Tuy nhiên, mọi cách phân loại đều chỉ là tương đối Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ đến nhau Ví dụ: Khi cần ra quyết định một cách phù hợp thì các kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tìm kiếm và sử ý thông tin, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng xác định giá trị, Thường được áp dụng

Trong đề tài này, tôi sử dụng cách phân loại KNS trong giáo dục chính quy ở nước ta để gọi tên các KNS cần được giáo dục trong phạm vi một bài học thực hiện giáo dục KNS

Trang 17

2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông

2.1 Tầm quan trọng

Theo các tài liệu giáo dục kỹ năng sống ([7,10-13],[6,6-8]), cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh (HS) trong nhà trường phổ thông vì bốn lý do chính: KNS thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội; giáo dục KNS là yêu cầu cấp thiết đối với thế

hệ trẻ; giáo dục KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và giáo dục

kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

2.1.1 Kỹ năng sống thức đẩy sự phát triển của của cá nhân và xã hội

Có thể nói KNS là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành

vi và thói quen tích cực, lành mạnh Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình Ngược lại, người thiếu KNS thường bị vấp váp, dễ thất bại trong cuộc sống

Không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân, KNS còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người Việc thiếu KNS của cá nhân là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: Ma túy, mại dâm, cờ bạc, nghiện rượu, Việc giáo dục KNS sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp năng cao chất lượng cuộc sống xã hội và giảm các vấn đề xã hội

2.1.2 Giáo dục kỹ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ

Thế hệ trẻ chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới Nếu không có KNS, các

em không thể hiện hết trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước Bên cạnh đó, lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được giáo dục KNS, nếu thiếu KNS các em dễ bị lôi kéo vào các hành

Trang 18

vi tiêu cực, bạo lực và lối sống ích kỷ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách

Vì vậy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em

có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan

hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người xung quanh

2.1.3 Giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng Nhiệm vụ đổi mới giáo

dục đã được thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội, trong Luật giáo

dục năm 2005 Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ

thông đã khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa (SGK) phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt nam, tiếp cận với trình độ giáo dục của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Báo cáo chính trị của đại hội Đảng lần thứ IX (4-2001) đã đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới

nội dung, phương pháp dạy học Luật giáo dục năm 2005, điều 2 đã xác định: Mục

tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, hẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi mới theo hướng "Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học

tập và ý trí vươn lên." ( Luật giáo dục năm 2005, điều 5)

Trang 19

Giáo dục KNS cho cho HS, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông Phương pháp giáo dục KNS, với các phương pháp và kỹ thuật tích cục như: Hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển hình, đóng vai, trò chơi, dự

án, tranh luận, động não, hỏi chuyên gia, Cũng phù hợp với định hướng về đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông

2.1.4 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông

là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và trung học Việc giáo dục KNS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức: Hoặc KNS là một môn học riêng biệt hoặc KNS được tích hợp vào một vài môn học chính hoặc KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình Tuy nhiên, chỉ có một số nước đưa KNS thành một môn học riêng biệt như: Ma-la-wi, Cam-pu-chia Còn đa số các nước, để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: Giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường Một số

nước đã sử dụng tiếp cận "Whole School Approach" trong đó có xây dựng "Trường

học thân thiện" nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNS cho HS trong nhà trường

Từ những lý do đã trình bày ở trên có thể khẳng định, việc giáo dục KNS cho

HS trong các trường phổ thông là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt

2.2 Định hướng giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường phổ thông

2.2.1 Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông

Mục tiêu của giáo dục Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có thể nói, mục tiêu của giáo dục Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỷ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống (Delor, 1996)

Trang 20

Theo tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ở nhà trường THPT ([7,13],[6, 9]) việc giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu sau:

- Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp Trên cơ sở đó, hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại

bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan, các tình huống và hoạt động hàng ngày

- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát trển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

2.2.2 Nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông

Có 5 nguyên tắc giáo dục KNS (thường gọi là nguyên tắc 5T) mà tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ở nhà trường phổ thông ([7,14-15], [6,9-10]) đã nêu đó là: Tương tác, trải nghiệm, tiến trình, thay đổi hành vi và cuối cùng là thời gian - môi trường giáo dục

2.2.2.1 Tương tác

KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải thông qua các hoạt động tương tác với người khác Nhiều KNS được hình thành trong quá trình HS tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh ( kỹ năng thương lượng, kỹ năng giải quyết vấn đề, .) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, HS có dịp thể hiện ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả

2.2.2.2 Trải nghiệm

KNS chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm qua các tình huống thực

tế HS chỉ có kỹ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói về việc đó Kinh nghiệm có được khi HS hành động trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng

sử dụng và điều chỉnh các kỹ năng phù hợp với điều kiện thực tế

2.2.2.3 Tiến trình

Giáo dục KNS phải có cả quá trình: Nhận thức - hình thành thái thái độ - thay đổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể coi là khởi đầu của một chu

Trang 21

trình mới Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kỳ mắt xích nào nào trong chu trình trên: Thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ

2.2.2.4 Thay đổi hành vi

Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi theo hướng tích cực Giáo dục KNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là một quá trình khó khăn, không đồng thời Có thời điểm người học quay trở lại những thái độ, hành vi hoặc giá trị trước Do đó, các nhà giáo dục cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để HS duy trì hành vi mới và có thói quen mới; tạo động lực cho HS điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái độ và hành vi mới GV cần hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tự tóm tắt những ghi nhận cho bản thân sau mỗi giờ học / phần học

2.2.2.5 Thời gian – môi trường giáo dục

Giáo dục KNS cần được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng vào các tình huống thực tế trong cuộc sống

Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, thầy cô, bạn bè hay các thành viên trong cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS được thực hiện trong các giờ học, trong các hoạt động lao động, sinh hoạt đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác

2.2.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường phổ thông

Dựa trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục KNS ở Việt Nam những năm qua, tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ([7,15-27], [6,10-22] đã đề xuất nội dung giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông bao gồm các kỹ năng KNS cơ bản, cần thiết sau:

2.2.3.1 Kỹ năng tự nhận thức

Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân

Kỹ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản bản mình, như cơ thể , tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu… của bản thân

Trang 22

mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang thấy căng thẳng

Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra có thể hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân

có thể dẫn đến những hạn chế , sai lầm thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác

Để nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt

là qua giao tiếp với người khác

2.2.3.2 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc

Kiểm soát cảm xúc (còn có nhiều tên gọi khác nhau như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lý cảm xúc…) là khả năng con người nhận thức

rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp

Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng, giúp giao tiếp và thương lượng có hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn

Kỹ năng xử lý cảm xúc cần kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng ứng xử với người khác và kỹ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng cố các

kỹ năng này

2.2.3.3 Kỹ năng ứng phó với căng thẳng

Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình huống gây căng thẳng cho bản thân Khi bị căng thẳng mỗi người thường có tâm trạng, cảm xúc và cách ứng phó khác nhau Cách ứng phó tích cực hay tiêu cực khi căng thẳng phụ thuộc vào cách suy nghĩ tích cực hay tiêu cực của cá nhân trong tình huống đó

Kỹ năng ứng phó căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như một phần tất yếu của cuộc sống, khả năng nhận biết sự căng thẳng, nhận biết được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng

Trang 23

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng rất quan trọng, giúp cho con người biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng, duy trì trạng thái cân bằng, không tổn hại đến thể chất, sức khỏe và tinh thần của bản thân, xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh

Kỹ năng ứng phó với căng thẳng có được nhờ sự kết hợp các KNS khác như:

Tự nhận thức, xử lý cảm xúc, giao tiếp, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự giúp đỡ và giải quyết vấn đề

Chúng ta cũng có thể hạn chế những tình huống căng thẳng bằng cách sống và làm việc điều độ, có kế hoạch, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao, sống vui vẻ, chan hòa, tránh gây mâu thuẫn không cần thiết với những người xung quanh, không đặt ra cho mình những mục tiêu quá cao siêu so với điều kiện của bản thân

2.2.3.4 Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác Để có kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, người cần hỗ trợ cần có các yếu tố sau: Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ, biết xác định được những địa chỉ hỗ trợ đáng tin cậy đồng thời phải tự tin và biết tìm kiếm đến các địa chỉ đó, biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp

Tuy nhiên, khi tìm các địa chỉ hỗ trợ, người cần hỗ trợ cần được cư xử đúng mực và tự tin; cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn; giữ bình tĩnh khi gặp sự đối xử thiếu thiện chí nếu vẫn cần sự hỗ trợ của người thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn nhưng không sợ hãi và đặc biệt nếu bị cự tuyệt thì không nên nản chí, kiên trì tìm kiếm sự hỗ trợ từ địa chỉ khác, người khác

Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng Đồng thời, để phát huy hiệu quả của kỹ năng này, cần các KNS: Lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, ra quyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn…

2.2.3.5 Kỹ năng thể hiện sự tự tin

Chúng ta đều biết nếu có kỹ năng thể hiện sự tự tin thì cá nhân sẽ giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống Vì thế, kỹ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm

Trang 24

2.2.3.6 Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thờ biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ tư vấn khi cần thiết

Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác Kỹ năng này giúp chúng ta có mới quan hệ tích cực với người khác bao gồm tất cả các mối quan hệ gia đình, bạn bè và

xã hội

Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như: Bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc…

2.2.3.7 Kỹ năng lắng nghe tích cực

Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác, biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong quá trình giao tiếp

Họ thường được những người xung quanh nhìn nhận là biết tôn trọng và quan tâm đến

ý kiến của người khác, nhờ đó làm cho việc giao tiếp, thương lượng của họ hiệu quả hơn

Kỹ năng lắng nghe tích cực có quan hệ mật thiết với kỹ năng giao tiếp, thương lượng, hợp tác, kiềm chế cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn

2.2.3.8 Kỹ năng thể hiện sự cảm thông

Kỹ năng thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và thông cảm với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ

Kỹ năng thể hiện sự cảm thông giúp cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc, khuyến khích thái độ quan tâm

và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần giúp đỡ

Trang 25

Kỹ năng này dựa trên kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc

2.2.3.9 Kỹ năng thương lượng

Kỹ năng thương lượng bao gồm nhiều yếu tố của kỹ năng giao tiếp như lắng nghe, bày tỏ suy nghĩ và một phần quan trọng của giải quyết vấn đề và gải quyết mâu thuẫn Một người có kỹ năng thương lượng tốt sẽ giúp giải quyết vấn đề hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn một cách xây dựng và có lợi nhất cho các bên Đồng thời, kỹ năng thương lượng còn liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự thông cảm, tư duy sáng tạo, kỹ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân

2.2.3.10 Kỹ năng hợp tác

Kỹ năng hợp tác là khả năng cá nhận biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm Kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong xã hội hiện đại, giúp mọi người

hỗ trợ, bổ xung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng hiệu quả cao hơn trong công việc, giúp cá nhân sống hài hòa trong quan hệ với người khác

Biểu hiện của người có kỹ năng hợp tác là: Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động của nhóm; biết giao tiếp hiệu quả, biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm; biết bày tỏ, lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm; nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công, đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động; có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phảm do nhóm tạo ra

Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: Tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, giải quyết mâu thuẫn, kiên định…

2.2.3.11 Kỹ năng tư duy phê phán

Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng… xảy ra Kỹ năng tư duy phê phán rất cần thiết để

Trang 26

con người có thể đưa ra quyết định, những hành động phù hợp nhất là trong xã hội hiện đại, luôn phải xử lý nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…

Kỹ năng tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thống giá trị cá nhân Một người có

kỹ năng tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với kỹ năng tự nhận thức và

kỹ năng xác định giá trị

2.2.3.12 Kỹ năng tư duy sáng tạo

Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến

và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả năng suy nghĩ rộng hơn người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua;

tư duy minh mẫn và khác biệt, giúp con người ứng phó với hoàn cảnh bất ngờ một cách linh hoạt và phù hợp

Kỹ năng tư duy sáng tạo kết hợp tốt với kỹ năng tư duy phê phán giúp tăng cường tư duy cá nhân, giúp giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất

2.2.3.13 Kỹ năng ra quyết định

Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết lựa chọn phương án tối ưu

để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời, góp phần đem lại thành công trong cuộc sống

Để ra quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với các KNS khác như: Tự nhận thức, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, thu thập và xử lý thông tin… Kỹ năng ra quyết định là một phần quan trọng của kỹ năng giải quyết vấn đề

2.2.3.14 Kỹ năng giải quyết vấn đề

Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống

Kỹ năng này có liên quan đến kỹ năng ra quyết định và cần nhiều các KNS khác như: Giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…

2.2.3.15 Kỹ năng kiên định

Kỹ năng kiên định là khả năng con người nhận thức được những gì mình muốn

và lý do dẫn đến mong muốn đó Kiên định còn là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình mong muốn trong những hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được quyền, nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu của người khác

Trang 27

Kiên định khác với hiếu thắng và phục tùng Kỹ năng kiên định giúp chúng ta bảo vệ được chính kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh

Kỹ năng này còn giúp cá nhân giải quyết vấn đề và thương lượng có kết quả

Để có kỹ năng kiên định, con người cần xác định được các giá trị của bản thân, đồng thời phải kết hợp tốt với các kỹ năng tự nhận thức, thể hiện sự tự tin và giao tiếp

2.2.3.16 Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm

Đảm nhận trách nhiệm là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ

Khi các thành viên trong nhóm có kỹ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo được một không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thỏa mãn và thăng tiến cho mỗi thành viên

Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm có liên quan đến các KNS: Tự nhận thức, sự cảm thông, hợp tác và giải quyết vấn đề

Kỹ năng đạt mục tiêu dựa trên kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tư duy sáng tạo,

kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ…

2.2.3.18 Kỹ năng quản lý thời gian

Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết xắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định

Kỹ năng này rất cần thiết cho công việc gải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và hoàn thành mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng

do áp lực công việc

Trang 28

Quản lý thời gian là một kỹ năng trong nhóm kỹ năng làm chủ bản thân Quản

lý thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm

2.2.3.19 Kỹ năng tìm kiếm và sử lý thông tin

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin

là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời

Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin cần kết hợp với kỹ năng tư duy phê phán

và kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ

2.2.3.20 Kỹ năng xác định giá trị

Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là một thành kiến đối với một điều gì đó…

Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế…

Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng Kỹ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kỹ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người Kỹ năng này giúp con người biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác

Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục và nền văn hóa

2.2.3.21 Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

Mâu thuẫn là nững xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó

Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng thường bắt nguồn từ sự khác nhau

về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng… Mâu thuẫn thường ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các bên

Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn Mỗi người sẽ có một cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn

Trang 29

Kỹ năng gải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn đó với thái đọ tích cực, khong dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và gải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình

Yêu cầu trước hết của kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất

Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kỹ năng giả quyết vấn

đề Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng với nhiều kỹ năng liên quan khác như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định…

Ta vừa tìm hiểu sơ lược về các KNS cơ bản, cần thiết cho việc giáo dục HS trong nhà trường phổ thông Nội dung giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Việc hình thành những kỹ năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết song hành với việc hình thành các kỹ năng học tập (Study skills) như: Đọc, viết, tính toán, máy tính… Nội dung giáo dục KNS cần được vận dụng linh hoạt theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các KNS cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương giáo viên (GV) có thể lựa chọn thêm một số KNS khác để giáo dục cho HS của trường, lớp mình cho phù hợp

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục KNS cho học sinh trong nhà

trường phổ thông

2.3.1 Cách tiếp cận

Theo tài liệu giáo dục KNS trong các môn học ở trường Trung học phổ thông việc giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông được thực hiện thông qua dạy các môn học theo một cách tiếp cận mới, đó là sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho HS thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập ([7,27-28],[6,22]) Với cách tiếp cận này, sẽ không làm nặng

nề, quá tải thêm nội dung các môn học và hoạt động giáo dục; mà ngược lại, còn làm

Trang 30

cho các giờ học và hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực hơn và bổ ích hơn đối với HS

+ Bình diện trung gian là phương pháp dạy học cụ thể VD: Phương pháp đóng vai, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lý tình huống, trò chơi…

Ở bình diện này khái niệm PPDH được hiểu theo nghĩa hẹp, là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể

PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS Trong mô hình này thường không có sự phân biệt PPDH và hình thức dạy học (HTDH) Các hình thức tổ chức hay hình thức xã hội (như dạy học theo nhóm) cũng gọi là các PPDH

+ Bình diện vi mô là kỹ thuật dạy học VD: Kỹ thuật chia nhóm, kỹ thuật giao nhiệm vụ, kỹ thuật đặt câu hỏi…

Kỹ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH VD: Trong phương pháp thảo luận nhóm có các KTDH như: Kỹ thuật chia nhóm, Kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật phòng tranh, kỹ thuật các mảnh ghép…

Trang 31

Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động Vì thế, mỗi QĐDH có những PPDH cụ thể phù hợp với nó, mỗi PPDH cụ thể có những KTDH đặc thù Tuy nhiên có những phương pháp dạy học cụ thể phù hợp với nhiều QĐDH, cũng có những KTDH được

sử dụng trong nhiều PPDH khác nhau (VD: Kỹ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại và phương pháp thảo luận), có những PPDH dùng chung cho nhiều môn học, nhưng có những PPDH đặc thù cho từng môn học hoặc nhóm môn học

Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH chỉ mang tính tương đối, nhiều khi không rõ

ràng, ví dụ: Động não (Baninstorming) có trường hợp được coi là phương pháp, có

trường hợp lại được coi là một kỹ thuật dạy học Có thể có nhiều tên gọi khác nhau

cho một PPDH hoặc KTDH VD: Baninstorming có người gọi là động não, có người

gọi là công não hoặc tấn công não

2.3.3 Một số phương pháp dạy học tích cực

Có nhiều PPDH tích cực như: Phương pháp dạy học nhóm, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp trò chơi và phương pháp dự án Trong phạm vi đề tài, tôi chỉ đề cập chi tiết đến đến các phương pháp được sử dụng là phương pháp dạy học nhóm và phương pháp giải quyết vấn đề

2.3.3.1 Phương pháp dạy học nhóm

Dạy học nhóm còn được gọi bằng các tên khác như: Dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp được chi thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp [6,24]

Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề

đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới, nếu có tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát huy năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS GV có thể sử dụng các câu hỏi kiểm tra sau để chuẩn bị cho việc dạy học nhóm:

Trang 32

Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không? Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau? HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa? Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào? Cần chia nhóm theo tiêu trí nào? Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản [6,24]:

a Làm việc toàn lớp: Nhập đề và giao nhiệm vụ

- Giới thiệu chủ đề

- Xác định nhiệm vụ của các nhóm Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm có thể nhận nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong chủ đề chung

- Thành lập nhóm Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học

b Làm việc nhóm

- Chuẩn bị chỗ làm việc

- Lập kế hoạch làm việc

- Thỏa thuận quy tắc làm việc

- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

- Chuẩn bị báo cáo kết quả

c Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

- Các nhóm trình bày kết quả

- Đánh giá kết quả

2.3.3.2 Phương pháp Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước học sinh các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề [6,26] Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này thì các vấn đề / tình huống đưa ra để HS xử lý, giải quyết thảo mãn các yêu cầu: Phù hợp với chủ đề bài học và trình độ nhận thức của HS, vấn đề / tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS, có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc có kết hợp

cả kênh chữ và kênh hình hay tiểu phẩm đóng vai của HS, vấn đề / tình huống cần có

độ dài vừ phải, chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề

Trang 33

Dạy học phát hiện và GQVĐ cần có quy trình thực hiện như sau [6,26]:

- Xác định, nhận dạng vấn đề / tình huống

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề / tình huống

- Liệt kê các cáh giải quyết có thể có

- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách gải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị)

- So sánh kết quả các cách giải quyết

- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất

- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn,

- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề / tình huống khác

GV khi tổ chức cho HS giải quyết, xử lý vấn đề / tình huống cần chú ý: Các nhóm

HS có thể giải quyết cùng một vấn đề / tình huống hoặc các vấn đề / tình huống khác nhau, tùy theo mục đích của hoạt động; HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào gải quyết vấn đề; cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có; cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau

Ngoài ra, trong đề tài, tôi còn sử dụng phương pháp trực quan – phương pháp phổ biến trong dạy học Vật Lý, nhưng vì phương pháp này chưa nằm trong nhóm các phương pháp dạy học tích cực và được trình bày cụ thể trong tài liệu “Lý luận dạy học Vật Lý” [10,60-76] nên tôi không trình bày lại

+ Chia nhóm theo hình ghép:

- GV cắt một bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có

là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có

- HS bốc ngẫu nhiên, mỗi em một mảnh cắt

Trang 34

- HS phải tìm các bạn có mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh

- Những học sinh có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm + Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm…

- GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm…); Hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng…); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ…); hay điểm danh theo các mùa trong năm ( xuân, hạ, thu, đông…)

- Yêu cầu các HS có cùng số điểm danh hoặc cùng một màu, cùng một loài hoa, cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm

+ Chia theo sở thích:

GV có thể chia các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm họa sĩ, nhóm nhà thơ, nhóm hùng biện… + Chi nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: Nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính…

2.3.4.2 Kỹ thuật giao nhiệm vụ

Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng, trả lời được các câu hỏi sau: Nhiệm vụ giao cho cá nhân / nhóm nào? Nhiệm vụ gì? Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu? Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao lâu? Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì? Sản phẩm cuối cùng cần có là gì? Cách thức trình bày / đánh giá sản phảm như thé nào?

Khi thực hiện kỹ thuật giao nhiệm vụ cần chọn nhiệm vụ phù hợp với: Mục tiêu hoạt động, trình độ học sinh, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất trang thiết bị

2.3.4.3 Kỹ thuật đặt câu hỏi

Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kỹ năng mới để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải tự sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm

GV và các HS khác về những nội dung bài học chưa sáng tỏ

Trang 35

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS – HS Kỹ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn

Mục đích sử dụng câu hỏi trong học tập là để: Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HS tham gia vào quá trình dạy học; kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập; thu thập mở rộng thông tin kiến thức

Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học

- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

- Đúng lúc, đúng chỗ

- Phù hợp với trình độ HS

- Kích thích suy nghĩ của HS

- Phù hợp với thời gian thực tế

- Xắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi mắt xích

- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

2.3.4.4 Kỹ thuật khăn trải bàn

- Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 em Mỗi nhóm sẽ có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tùy theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người)

- Mỗi thành viên sẽ viết suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đề nào đó mà GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”

2.3.4.5 Kỹ thuật “Phòng tranh”

Kỹ thuật này có thể hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi / vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

- Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc cả nhóm (hoạt động nhóm) phác họa những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm

- HS cả lớp đi xem “triển lãm” và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ xung

Trang 36

- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu

2.3.4.6 Kỹ thuật “Công đoạn”

- HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ khác nhau Ví dụ: Nhóm 1 – thảo luận câu A, nhóm 2 – thảo luận câu B, nhóm 3 – thảo luận câu C, nhóm 4 - thảo luận câu D…

- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm sẽ luân chuyển giấy A0 ghi kết quả thảo luận cho nhau Cụ thể là: Nhóm 1 chuyển cho nhóm 2, nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, nhóm 4 chuyển cho nhóm 1

- Các nhóm đọc và đóng góp ý kiến bổ xung cho nhóm bạn Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ nhóm khác để góp ý

- Cứ như vậy cho các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của mình cùng với ý kiến góp ý của các nhóm khác Từng nhóm sẽ xem xét xử lý các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận nhóm Sau khi thảo luận xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên trên tường lớp học

2.3.4.7 Kỹ thuật “mảnh ghép”

- HS được phân thành các nhóm, sau đó GV phân công cho các nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề bài học Chẳng hạn: Nhóm 1 – thảo luận vấn đề A, nhóm 2 – thảo luận vấn đề B, nhóm 3 – thảo luận vấn đề C, nhóm 4 – thảo luận vấn đề D,…

- HS thảo luận nhóm về vấn đề được phân công Sau đó, mỗi thành viên của nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D,… và mỗi “chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ

2.3.4.8 Kỹ thuật động não

Động não là một kỹ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế ý tưởng (nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng)

Kỹ thuật này thường được sử dụng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề hoặc sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề hoặc dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

Trang 37

Động não có thể tiến hành theo các bước sau:

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ HS phát biểu ý kiến hoặc đóng góp ý tưởng càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

- Phân loại các ý kiến

Kỹ thuật này có thể tiến hành như sau:

- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học được hôm nay là gì? Theo các em vấn đề gì

là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?

- HS suy nghĩ viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau

- Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian một phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm

2.3.4.10 Kỹ thuật “Chúng em biết 3”

Kỹ thuật này được thực hiện qua các bước sau:

- GV nêu chủ đề cần thảo luận

- Chia học sinh thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút về những gì mà các em biết về chủ đề này

- HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 quan điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp

- Mỗi nhóm sẽ cử ra một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên

2.3.4.11 Kỹ thuật “Hỏi và trả lời”

Trang 38

Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu kiến thức đã học thông qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi

Kỹ thuật này có thể tiến hành như sau:

2.3.4.12 Kỹ thuật “Hỏi chuyên gia”

Kỹ thuật này có thể tiến hành như sau:

- HS xung phong hoặc theo yêu cầu của GV tạo thành các nhóm “Chuyên gia”

về một chủ đề nhất định

- Các “Chuyên gia” nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên quan đến chủ đề mình được phân công

- Nhóm “Chuyên gia” lên ngồi trên lớp học

- Một em trưởng nhóm “Chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi tư vấn, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời “chuyên gia” giải đáp, trả lời

2.3.4.13 Kỹ thuật “Bản đồ tư duy”

Lược đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng hay kết quả làm việc của cá nhân / nhóm về một chủ đề Kỹ thuật này được thực hiện như sau:

- Viết chủ đề / ý tưởng chính ở trung tâm

- Từ chủ đề ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp các nội dung thuộc nhánh phụ đó

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

2.3.4.14 Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”

Trang 39

Đối với kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”, GV cần hướng dẫn HS cẩn thận và

cụ thể để các em biết được nhiệm vụ của mình Đây là hoạt động tốt giúp các em đọc lại những tài liệu đã học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của GV Kỹ thuật này được thực hiện như sau:

- GV đưa ra một câu chuyện / một vấn đề / một bức tranh / một thông điệp…Mới chỉ được giả quyết một phần và yêu cầu HS / nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại

- HS / nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao

2.3.4.16 Kỹ thuật “Đọc hợp tác” (còn gọi là Đọc tích cực)

Kỹ thuật này giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học / phần học có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với

HS

Cách tiến hành như sau:

- GV nêu câu hỏi / yêu cầu định hướng HS đọc bài / phần đọc

Trang 40

- Học sinh chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc nhóm 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài / phần đọc

- HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có)

2.3.4.17 Phân tích phim

Phim video có thể là một phương tiện để truyền đạt nội dung bài học Phim nên tương đối ngắn gọn (5-20 phút) GV cần xem qua các bước để đảm bảo phim là phù hợp để chiếu cho các em xem Khi sử dụng kỹ thuật này, GV cần chú ý: Trước khi cho

HS xem phim, hãy nêu một số câu hỏi thảo luận hoặc liệt kê các ý mà các em cần tập trung để giúp các em chú ý tốt hơn và sau khi xem phim video, yêu cầu HS làm việc một mình hoặc theo cặp và trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý cơ bản về nội dung phim đã xem

2.3.4.18 Tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm

Hoạt động này giúp HS hiểu và mở rộng hiểu biết của các em về những tài liệu đọc bằng cách thảo luận, nghe, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi Cách thực hiện như sau:

- HS làm việc theo nhóm nhỏ, đọc to tài liệu được phát, thảo luận về ý nghĩa của

nó, chuẩn bị trả lời các câu hỏi về bài đọc

- Đại diện nhóm trình bày các ý chính cho cả lớp

- Sau đó, các thành viên trong nhóm lần lượt trả lời các câu hỏi của các bạn khác trong lớp về bài đọc

Trong đề tài này, tôi thường sử dụng các KTDH như: Chia nhóm, đặt câu hỏi, động não

2.4 Các bước thực hiện một bài giáo dục kỹ năng sống

2.4.1 Xác định KNS cần được giáo dục

Dựa vào mục tiêu bài học, xác định KNS cần được giáo dục trong quá trình dạy học Để đạt được mục tiêu bài học, bên cạnh việc học trên lớp, HS còn phải tự học ở nhà và thông qua các biện pháp thích hợp, GV sẽ kiểm tra, đánh giá được mức độ nắm, sử dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đối với nội dung bài đã học Các KNS cơ bản cần được giáo dục trong bài thực hiện giáo dục KNS là các KNS mà HS sẽ được giáo dục và rèn luyện trong tiết học trên lớp Các KNS sẽ được xác định dựa vào các hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học tập của HS trên lớp để đạt được mục tiêu bài học

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w