1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý bồi DƯỠNG NĂNG lực ỨNG DỤNG kỹ THUẬT của vật lý KHI GIẢNG dạy CHƯƠNG 7 ỨNG DỤNG của ĐỘNG cơ đốt TRONG – SGK CÔNG NGHỆ 11

99 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghệ là môn học ứng dụng kiến thức của Toán, Hóa học, Sinh học và đặc biệt liên quan đến các ứng dụng kỹ thuật của Vật lý và các thiết bị sử dụng trong đời sống và kỹ thuật đa số là

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn:

ThS – GVC Trần Quốc Tuấn Sinh viên thực hiên:

Dương Tôn Khoái MSSV: 1080321 Lớp: TL0892A1 Ngành: SP Vật lý – Công nghệ K34

S S V :

1 0 7 0

Cần Thơ, 05/ 2012

Trang 2

Lời cảm ơn

Sau một thời gian dài làm việc, em đã hoàn thành đề tài nghiên

cứu Để có được kết quả trên, em đã nhận được sự giúp đỡ của rất

nhiều thầy cô và bạn bè Em xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô

Trường Đại Học Cần Thơ, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ Môn Sư

Phạm Vật Lý đã cung cấp, truyền đạt những vốn kiến thức quý báu

cho em, đã tạo điều kiện cho em học tập và giúp em có nền tảng vững

chắc để hoàn thành luận văn này

Riêng Thầy Trần Quốc Tuấn, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân

thành và sâu sắc nhất Thầy đã không ngại vất vả, mệt nhọc để hướng

dẫn và góp ý rất nhiều cho luận văn của em

Em cũng chân thành cám ơn những ý kiến đóng góp của các

anh chị đi trước và bạn bè, đặc biệt là các bạn ngành sư phạm Vật lý –

Công nghệ khóa 34 đã giúp em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

đề tài

Cuối lời, xin kính chúc thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe,

công tác tốt, thành công và hạnh phúc

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn

chế và thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến quý báu của

quý thầy cô và bạn bè để đề tài được phong phú và hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trân trọng

SVTH: Dương Tôn Khoái

Trang 3

Nhận Xét Của Giảng Viên Hướng Dẫn

… ngày tháng … năm 2012

Trần Quốc Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Giả thuyết khoa học 2

4 Nhiệm vụ của đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Đối tượng nghiên cứu 2

7 Các giai đoạn nghiên cứu của đề tài 2

8 Những chữ viết tắt trong đề tài 3

NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PPDH VẬT LÝ CÔNG NGHỆ Ở THPT 4

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH 4

1.1.1 Mục tiêu dạy học mới đòi hỏi phải có PPDH mới 4

a/ Mục tiêu mới của GD nước ta: 4

b/ Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới: 4

1.1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 4

a/ Khắc phục lối truyền thụ một chiều: 4

b/ Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS: 5

c/ Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học: 5

d/ Áp dụng các phương pháp tiên tiến 6

1.2 Đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ ở lớp 11 6

1.2.1 Mục đích đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ 6

1.2.2 Định hướng đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ 6

1.2.3 Nội dung đổi mới PPDH mônVật lý - Công nghệ THPT 7

1.3 Đổi mới việc thiết kế bài học 8

1.3.1 Các yêu cầu đối với việc thiết kế bài học 8

1.3.2 Những nội dung của việc thiết kế bài học 8

1.3.3 Xây dựng Kế hoạch bài học theo PPDH tích cực 9

a/ Các bước xây dựng Kế hoạch bài học: 9

b/ Cấu trúc của một Kế hoạch bài học: 10

1.3.4 Thiết kế bài dạy Công nghệ 13

a/ Bài dạy lý thuyết: 13

b/ Bài dạy thực hành: 14

1.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá: 15

1.4.1 Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá 15

1.4.2 Yêu cầu kiểm tra đánh giá 15

1.4.3 Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá 17

CHƯƠNG 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC ỨNG DỤNG KỸ THUẬT 18

2.1 Môn Công nghệ ở trường PT 18

2.1.1 Môn Công nghệ ở trường THPT 18

a / Nội dung môn học: 18

b/ Đặc điểm của môn học 18

2.1.2 Nhiệm vụ dạy học Công nghệ ở trường PT 20

a/ Trang bị những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo: 20

b/ Phát triển tư duy, bồi dưỡng năng lực kỹ thuật: 21

c/ Thực hiện các chức năng giáo dục: 22

2.2 Dạy học Công nghệ ứng dụng kỹ thuật Vật lý 23

2.2.1 Vai trò của việc nghiên cứu những ứng dụng kỹ thuật 23

2.2.2 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực 24

2.2.3 Các con đường dạy học những ứng dụng kỹ thuật của vật lý 25

Trang 5

a/ Con đường thứ nhất: Quan sát cấu tạo 25

b/ Con đường thứ hai: Dựa trên những định luật 27

2.3 PPDH ứng dụng kỹ thuật của Vật lý 29

2.3.1 Phương pháp trình bày dụng cụ trực quan: 29

a/ Bản chất: 29

b/ Cơ sở khoa học của phương pháp trình bày dụng cụ trực quan: 29

c/ Các loại phương tiện dạy học trực quan: 30

d/ Vận dụng phương pháp trình bày trực quan trong dạy học kỹ thuật: 31

2.3.2 PPDH thực hành kỹ thuật 34

a/ Cơ sở khoa học của dạy học thực hành kỹ thuật: 34

b/ PPDH thực hành kỹ thuật: 36

2.3.3 Dạy bài tập kỹ thuật: 38

a/ Tác dụng của bài tập: 38

b/ Các loại bài tập: 38

c/ Hướng dẫn HS giải bài tập kỹ thuật: 39

2.3.4 Tham quan và ngoại khóa kỹ thuật: 40

a/ Tham quan: 40

b/ Hoạt động ngoại khóa về kỹ thuật: 42

2.4 Sử dụng kết hợp các PPDH 43

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC 45

3.1 Đại cương về chương 45

3.1.1 Mục đích 45

3.1.2 Kiến thức, kỹ năng 45

3.1.3 Sơ đồ cấu trúc nội dung 46

3.2 Thiết kế một số bài trong chương 48

CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80

4.1 Mục đích 80

4.2 Nội dung thực nghiệm 80

4.3 Đối tượng thực nghiệm 80

4.4 Kế hoạch giảng dạy 80

4.5 Tiến trình thực hiện các bài học 80

4.6 Kết quả thực nghiệm 80

4.6.1 Đề kiểm tra 1 tiết 80

4.6.2 Kết quả 86

4.7 Phụ bảng thực nghiệm sư phạm bổ sung 87

4.7.1 Đề kiểm tra 87

NHẬN XÉT – KẾT LUẬN 91

1 Nhận xét 91

2 Kết luận 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO -

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vật lý và Công nghệ là hai môn học có quan hệ mật thiết với nhau và có liên

hệ trực tiếp với thực tế đời sống hằng ngày nhưng từ trước đến nay Công nghệ là môn học không được HS chú trọng nhiều, còn các ứng dụng của Vật lý trong đời sống và kỹ thuật cũng chưa được các em quan tâm đúng mức Công nghệ là môn học ứng dụng kiến thức của Toán, Hóa học, Sinh học và đặc biệt liên quan đến các ứng dụng kỹ thuật của Vật lý và các thiết bị sử dụng trong đời sống và kỹ thuật đa

số là ứng dụng các nguyên lý của Vật lý Do đó, để HS hứng thú hơn với môn Công nghệ và thấy rõ những ứng dụng kỹ thuật của Vật lý thì việc tập cho HS quen với những ứng dụng kỹ thuật của Vật lý khi giảng dạy Công nghệ là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn

Hiện nay, nước ta đã gia nhập vào thị trường quốc tế, phải chịu sự cạnh tranh khóc liệt từ các nước Vì thế, để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước, nâng cao chất lượng GD tạo ra nguồn nhân lực có trình độ, nước ta đã và đang tiến hành một cuộc cách mạng để đổi mới GD

PT, việc cần làm của mỗi GV là tập trung đổi mới PPDH, lấy “học” làm trung tâm thay vì trước đây lấy “dạy” làm trung tâm, người GV không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn HS hành động là một yêu cầu không thể thiếu trong giai đoạn của nước ta hiện nay và tương lai sau này

Vật lý và Công nghệ là môn khoa học thực nghiệm, môn Công nghệ giúp HS

làm quen với một số quy trình công nghệ chủ yếu, một số ngành, nghề phổ biến của đất nước, để góp phần định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn, phù hợp với nhu cầu nhân lực của xã hội, cũng như với năng lực, sở trường và hoàn cảnh của cá nhân Vì vậy, việc lựa chọn PPDH và cách tổ chức các hoạt động dạy học giúp HS phát huy kỹ năng thực hành, tăng thêm hứng thú và niềm vui khi học Vật

lý và Công nghệ là rất quan trọng và cần thiết Tình hình của đất nước, xu hướng của thời đại buộc ta phải đào tạo được những con người không những giỏi về lý thuyết mà còn phải thành thạo về thực hành

Vì các lý do trên nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: Bồi dưỡng năng lực ứng dụng kỹ thuật của Vật lý khi giảng dạy chương 7 Ứng dụng động cơ đốt trong SGK Công nghệ 11

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu các con đường bồi dưỡng năng lực ứng dụng kỹ thuật của Vật lý

vào giảng dạy “Chương 7 Ứng dụng động cơ đốt trong” SGK Công nghệ 11,

nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS

3 Giả thuyết khoa học

Có thể nghiên cứu lí luận về vấn đề dạy học bồi dưỡng năng lực ứng dụng

kỹ thuật của Vật lý - Công nghệ

Có thể vận dụng cơ sở lí luận đã nghiên cứu để thiết kế một số bài dạy trong

“Chương 7 Ứng dụng động cơ đốt trong” SGK Công nghệ 11

4 Nhiệm vụ của đề tài

Nghiên cứu lí luận về những vấn đề ứng dụng kỹ thuật của Vật lý vào việc

giảng dạy Công nghệ 11

Nghiên cứu nội dung và xây dựng tiến trình dạy học “Chương 7 Ứng dụng

động cơ đốt trong” SGK Công nghệ 11 theo hướng ứng dụng những kỹ thuật công

nghệ hiện đại

Vận dụng soạn giáo án 1 số bài trong “Chương 7 Ứng dụng động cơ đốt trong”

SGK Công nghệ 11

Nghiên cứu Chương 7 Ứng dụng động cơ đốt trong SGK Công nghệ 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý thuyết về rèn luyện HS những ứng dụng kỹ thuật của Vật lý vào

việc giảng dạy môn Công nghệ

Học tập các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc ở các trường tiên tiến

Thực nghiệm sư phạm

6 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động dạy - học của thầy và trò theo hướng ứng dụng kỹ thuật của Vật

lý vào môn học Công nghệ cho HS

7 Các giai đoạn nghiên cứu của đề tài

Giai đoạn 1: Trao đổi với thầy hướng dẫn về đề tài nghiên cứu, nhận đề tài

Giai đoạn 2: Viết đề cương, lập kế hoạch tiến hành đề tài

Giai đoạn 3: Tìm tài liệu có liên quan, nghiên cứu cơ sở lý thuyết

Giai đoạn 4: Soạn GA một số bài trong chương 7 SGK Công nghệ 11 theo

hướng của đề tài

Trang 8

Giai đoạn 5: Chỉnh sửa, hoàn chỉnh đề tài, báo cáo thử

Giai đoạn 6: Bảo vệ luận văn

8 Những chữ viết tắt trong đề tài

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PPDH VẬT LÝ CÔNG NGHỆ Ở THPT

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH

1.1.1 Mục tiêu dạy học mới đòi hỏi phải có PPDH mới

a/ Mục tiêu mới của GD nước ta:

Nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, hội

nhập với cộng đồng thới giới trong nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt Tình hình mới

đó của đất nước đòi hỏi nền GD phải xây dựng những con người có ý thức cộng

đồng, phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ

hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi

Chương trình GD PT ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT

ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “ Phải phát huy tính tích cực, tự

giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối

tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả

năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến

tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS” [14, tr.49]

b/ Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới:

PPDH truyền thống trong một thời gian dài đã được những thành tựu quan

trọng Tuy nhiên, phương pháp này nặng nề về truyền thụ một chiều, thầy giảng

giải minh họa học trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo Phương pháp này

khó có thể đào tạo ra con người có tính tích cực cá nhân, tư duy sáng tạo, khả năng

thực hành giỏi

PPDH truyền thống không còn phù hợp Cùng với xu thế phát triển chung của

thế giới nền GD của nước ta chuyển từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng

cho HS năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo

Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một

chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng

các phương pháp tiên tiến, hiện đại, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự

nghiên cứu của HS [15, tr.50]

1.1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH

a/ Khắc phục lối truyền thụ một chiều:

Trang 10

Truyền thụ một chiều là kiểu dạy học đã tồn tại lâu đời trong nền GD nước ta

Nét đặc trưng của kiểu dạy này là: GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu,

kiểm tra, đánh giá; HS thì thụ động, ngồi nhìn, cố nhớ và nhắc lại, mà không có cơ

hội để suy nghĩ, phát triển ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình còn

GV thì trở thành nhân vật đầy quyền uy khiến HS phải sợ hãi và cha mẹ HS phải

kính nể

Như vậy, việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách

mạng nhằm chống lại thói quen đã từ lâu, chống lại đặc quyền của GV

Chúng ta cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chủ đạo bao trùm nhất là tổ chức

cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi

nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Ở THPT cần phải tiếp tục phát

triển tư duy đó để hình thành cho HS những kỹ năng học tập vững chắc, tạo một sự

chuyển biến về chất trong phương pháp học tập của HS Bất kì ở đâu và nơi nào sự

sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức lôi cuốn

HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản để bồi

dưỡng năng lực sáng tạo cho HS

Để thực hiện PPDH mới hướng tới việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực,

tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương

tiện làm việc phù hợp với HS Đối với Công nghệ thì đặc biệt quan trọng là tài liệu

giáo khoa, tranh vẽ minh họa, dụng cụ minh họa và mô hình mô phỏng để thực

hiện cho mục tiêu của dạy học [15, tr.50]

b/ Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS:

Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, rèn luyện khả năng và thói

quen tự học Bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua tự học của người học

thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Vì vậy, HS phải được rèn luyện khả

năng tự học, tự hoạt động nhận thức Vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng

mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự truyền thụ của GV, hạn chế trong

việc tự lực tìm tòi, nghiên cứu Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này

[15, tr.51]

c/ Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học:

Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng là

phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá

Trang 11

trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết vấn đề học

tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS bằng cách tự làm, làm một cách

chủ động say mê hứng thú chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn

giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS

hoạt động

d/ Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào

quá trình dạy học:

Trong những năm gần đây, các phương tiện dạy học nghe – nhìn ngày càng

thâm nhập và được sử dụng trong dạy học ngày càng đa dạng và phong phú như:

phim học tập, các phần mềm mô phỏng, minh họa máy tính, các bản vẽ sẵn… cho

những kết quả rất khả quan

1.2 Đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ ở lớp 11

1.2.1 Mục đích đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ

Mục đích của việc đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ ở trường PT là thay đổi

lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “ PPDH tích cực” nhằm giúp

HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả

năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống

khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong

học tập Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện,

luyện tập, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực phẩm chất

Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lý Chú trọng hình

thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp và kỹ thuật lao

động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện

tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự

nghiệp phát triển xã hội [3, tr.8]

1.2.2 Định hướng đổi mới PPDH Vật lý - Công nghệ

Cốt lỗi của PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, chống lại

thói quen học tập thụ động Đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của GV và

HS, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới thình thức tương tác xã hội trong

dạy học với định hướng:

• Bám sát mục tiêu GD PT

• Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể

Trang 12

• Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS

• Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường

• Phù hợp với việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy – học

• Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH

tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của PPDH truyền thống

• Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt

lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin

1.2.3 Nội dung đổi mới PPDH mônVật lý - Công nghệ THPT

Đổi cả mặt bên ngoài (cách dạy của GV) và mặt bên trong của PPDH (ý thức về

hình thức vận động của nội dung)

Từ những đổi mới về mục tiêu, chương trình, kế hoạch dạy học nêu trên, mặt

bên trong của PPDH môn Công nghệ có thể được đổi mới theo các nội dung sau:

• Công nghệ là môn học có tính thực tiễn cao, do đó trong mỗi giờ học, GV

không nên chỉ trình bày lý thuyết một chiều mà cần nêu các vấn đề, đặt ra những

câu hỏi để HS vận dụng những hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân đã tiếp thu

được từ những cấp học dưới, từ thực tiễn cuộc sống để giải quyết vấn đề được đặt

ra Khi giảng dạy những nguyên lý sản xuất GV không dừng ở mức độ hiểu mà

phải giúp HS vận dụng các kiến thức về nguyên lý để giải thích hiện tượng, các

biện pháp kỹ thuật trong thực tế Có như vậy mới khắc sâu được kiến thức và làm

cho HS hứng thú với môn Công nghệ

• Tăng cường trực quan, thực hành trong mỗi giờ học Đối với các bài học lý

thuyết GV cần hướng dẫn HS quan sát, phân tích những hình minh họa, những số

liệu, tư liệu được trình bày trong SGK và các bảng biểu, hạn chế kiểu dạy chay

Thực hiện nghiêm túc các bài thực hành Khi tổ chức cho HS thực hành GV cần

liên hệ kiến thức lý thuyết với thực hành, hướng dẫn các thao tác chuẩn xác theo

đúng quy trình, thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình hướng dẫn, tổ chức giờ

thực hành theo hướng tạo điều kiện cho HS thực hiện nội dung một cách tự giác,

tích cực, sáng tạo

• Trong các giờ học môn Công nghệ, GV đóng vai trò là người hướng dẫn,

tổ chức cho HS thu nhận kiến thức, hình thành kỹ năng thông qua việc tổ chức giờ

học dưới nhiều hình thức tích cực như thảo luận theo nhóm, tổ; học trên lớp, học

ngoài thực tế; kết hợp học kiến thức với rèn luyện kỹ năng, lý thuyết với thí

Trang 13

nghiệm; làm việc với SGK Chú trọng hướng dẫn những vấn đề ứng dụng cao để

HS có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học giải quyết các vấn đề trong

sản xuất hoặc trong cuộc sống hằng ngày

Tóm lại, trọng tâm của đổi mới PPDH là tăng cường tính “tích cực” và “tương

tác” trong dạy học [6, tr.52]

1.3 Đổi mới việc thiết kế bài học

1.3.1 Các yêu cầu đối với việc thiết kế bài học

Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt

động của HS là yêu cầu nổi bậc đối với công việc thiết kế bài học của GV

Khi thiết kế bài học, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

• Trong bài học, HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kỹ năng nào? Mức độ

đến đâu?

• Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường

nào? HS cần huy động những kiến thức, kỹ năng nào đã có? Cần những phương

tiện dạy học nào?

• Những hoạt động chủ yếu nào của HS trên con đường dẫn tới chiếm lĩnh

những kiến thức, kỹ năng đó? Những hoạt động đó của HS diễn ra dưới hình thức

làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?

• GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những

kiến thức, kỹ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả GD?

• Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?

1.3.2 Những nội dung của việc thiết kế bài học

Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học

• Cần đổi mới việc xác định mục tiêu bài học, từ việc viết mục tiêu giảng

dạy (điều GV phải đạt được) sang viết mục tiêu học tập (điều HS phải đạt được sau

khi học bài đó) Mục tiêu bài học luôn được diễn đạt theo người học

• Mục tiêu bài học phải chỉ rõ mức độ HS đạt được sau bài học về kiến thức,

kỹ năng, thái độ đủ để làm cơ sở đánh giá chất lượng và hiệu quả của bài học

• Mục tiêu bài học phải chỉ ra những hành vi mà HS phải thể hiện ra khi học

một kiến thức cụ thể Vì vậy, mục tiêu bài học được bắt đầu bằng các động từ hành

động (nêu được, xác định được, quan sát, đo được…) Khi viết mục tiêu bài học,

Trang 14

GV cần tham khảo chuẩn kiến thức và kỹ năng ở các chủ đề trong chương trình

THPT môn Công nghệ

Xác định những nội dung, kiến thức của bài học: cần xác định những nội dung

này thuộc kiến thức nào, bao gồm những kết luận nào?

Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các phương tiện dạy học cần sử

dụng

Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học: để thiết kế tiến trình

xây dựng từng kiến thức trong bài học, GV cần xác định kiến thức cần xây dựng

được diễn đạt như thế nào? Là câu trả lời cho câu hỏi nào? Giải pháp nào giúp trả

lời được câu hỏi này?

Soạn thảo tiến trình dạy học cụ thể:

• Việc soạn thảo tiến trình dạy học phải thể hiện rõ hoạt động học và hoạt

động dạy là hoạt động nào? Diễn ra như thế nào và trình tự các hoạt động đó ra

sao?

Soạn thảo tiến trình dạy học Với mỗi hoạt động của HS, cần viết rõ mục đích

hoạt động, cách thức hoạt động, hình thức thực hiện hoạt động (cá nhân, nhóm),

kết quả cần đạt được

• Với từng hoạt động của HS, cần viết hoạt động tương ứng của GV: lệnh

hoạt động, câu hỏi, gợi ý để hướng dẫn hoạt động của HS, thông báo bổ sung của

GV Cần coi trọng việc chuẩn bị các câu hỏi, nhất là câu hỏi then chốt, trên cơ sở

đó, khi lên lớp, GV sẽ phát triển thêm tùy diễn biến của bài học

Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

Soạn nội dung bài tập về nhà

1.3.3 Xây dựng Kế hoạch bài học theo PPDH tích cực

a/ Các bước xây dựng Kế hoạch bài học:

Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu

về thái độ trong chương trình

Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để:

• Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học

• Xác định kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển

• Xác định trình tự lôgic của bài học

Xác định khả năng đáp ứng và nhiệm vụ nhận thức của HS:

Trang 15

• Xác định những kiến thức, kỹ năng mà HS đã có và cần có

• Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương

án giải quyết

Lựa chọn PPDH; phương tiện, thiết bị dạy học; hình thức tổ chức dạy học và

cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo,

phát triển năng lực tự học

Xây dựng kế hoạch bài học: Xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm vụ,

cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV

và hoạt động học tập của HS [3, tr.12]

b/ Cấu trúc của một Kế hoạch bài học:

Cấu trúc của một Kế hoạch bài học thường có 4 mục sau:

I Mục tiêu bài học

Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ

Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hóa được

1 Kiến thức: gồm 6 mức độ nhận thức: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng

hợp, đánh giá

2 Kỹ năng: gồm 2 mức độ: làm được và thông thạo

3 Thái độ: rèn luyện HS sự ham học, cố gắng, nhiệt tình, tự lực, tạo thành thói

quen, tính cách, nhân cách nhằm phát triển nhân cách con người toàn diện theo

mục tiêu

II Chuẩn bị của GV và HS

1 Giáo viên:

• Phiếu học tập: câu hỏi trắc nghiệm, tự luận để kiểm tra bài cũ, xây dựng

bài mới và củng cố kiến thức

• Chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật,…), các phương

tiện và tài liệu dạy học cần thiết

Trang 16

Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức theo tinh thần tích cực hóa thái độ học

tập của HS

IV Tổ chức các hoạt động dạy và học

Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy – học cụ thể Với mỗi hoạt

động cần chỉ rõ:

• Tên hoạt động

• Mục tiêu của hoạt động

• Cách tiến hành của hoạt động

• Thời lượng để tiến hành hoạt động

• Kết luận của GV về: những kiến thức, kỹ năng thái độ HS cần có sau hoạt

động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng thái độ đã

học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu

không có cách giải quyết phù hợp… [3, tr.13]

Một số hoạt đông phổ biến trong một tiết học:

Hoạt động: Kiểm tra kiến thức cũ

- Tái hiện kiến thức,trả lời câu hỏi của GV

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

- Gợi cách trả lời, nhận xét, đánh giá

Hoạt động: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Tạo tình huống học tập

- Trao nhiệm vụ học tập

Hoạt động: Thu thập thông tin

- Nghe GV giảng, nghe bạn phát biểu

- Giảng sơ lược nếu cần thiết

- Làm thí nghiệm biểu diễn

Trang 17

- Quan sát hiện tượng trong tự nhiên

hoặc trong thí nghiệm

- Làm thí nghiệm, lấy số liệu…

- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm TN, lấy số liệu

- Chủ động về thời gian

Hoạt động: Xử lý thông tin

- Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá

nhân

- Tìm hiểu các thông tin liên quan

- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về tính

quy luật của hiện tượng

- Trả lời các câu hỏi của GV

- Tranh luận với các bạn

- Tổ chức trao đổi trong nhóm, lớp

- Tổ chức hợp thức hóa kết luận

- Hợp thức về thời gian

Hoạt động: Truyền đạt thông tin

- Trả lời câu hỏi

- Giải thích các vấn đề

- Trình bày ý, nhận xét, kết luận

- Báo cáo kết quả

- Gợi ý câu hỏi, cách trình bày vấn đề

- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ

- Hướng dẫn mẫu báo cáo

Hoạt động: Củng cố bài giảng

- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

- Vận dụng vào thực tiễn

- Ghi chép những kết luận cơ bản

- Giải bài tập

- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc

cá nhân hoặc theo nhóm

- Hướng dẫn trả lời

- Ra bài tập vận dụng

- Đánh giá, nhận xét giờ dạy

Hoạt động: Hướng dẫn học bài ở nhà

Trang 18

- Ghi câu hỏi bài tập về nhà

- Ghi những chuẩn bị cho bài sau

- Nêu câu hỏi bài tập về nhà

- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau

1.3.4 Thiết kế bài dạy Công nghệ

a/ Bài dạy lý thuyết:

Bài dạy lý thuyết có thể được thiết kế theo trình tự sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu bài dạy, trong đó chú ý mục tiêu kiến thức tham

khảo bảng và đối chiếu với mặt bằng trình độ HS để quyết định thứ bậc cụ thể của

mục tiêu

Bước 2: Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS cho bài dạy có thể là các

phương tiện, đồ dụng dạy học, các phiếu học tập…

Bước 3: Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức bài dạy

Bước 4: Thiết kế các hoạt động dạy học cụ thể Đây là bước đặc trưng nhất,

trong đó cần chuyển từ cách thiết kế theo nội dung trong SGK sang việc thiết kế

theo các hoạt động dạy học Mỗi bài dạy có thể gồm các hoạt động chính sau:

• Hoạt động tổ chức lớp và đặc vấn đề cho bài mới

• Hoạt động giải quyết vấn đề (hoạt động trọng tâm này có thể bao gồm

nhiều hoạt động thành phần, mỗi hoạt động thành phần cũng có thể được chia

thành các hoạt động nhỏ hay các hành động cụ thể)

• Hoạt động tổng kết và vận dụng những tri thức thu được

Bước 5: Hoạt động đánh giá kết quả bài dạy Có thể đánh giá thông qua từng

hoạt động hoặc một nhiệm vụ tổng hợp nào đó (câu hỏi, bài tập hoặc liên hệ vận

dụng…) Kết hợp đánh giá của GV với đánh giá của HS để có những động viên kịp

Trang 19

thời qua từng hoạt động sẽ có tác dụng làm tăng trách nhiệm và hứng thú học tập

của HS

[3, tr.90]

b/ Bài dạy thực hành:

Mục tiêu chủ yếu của dạy học thực hành là củng cố lý thuyết và rèn luyện kỹ

năng cho HS Có thể tham khảo sơ đồ cấu trúc bài dạy như sau:

Giai đoạn 1: Hướng dẫn ban đầu nhằm tạo hình ảnh biểu tượng vận động và

chuyển chúng thành động hình vận động về công việc cần thực hiện, gồm các hoạt

động sau:

• GV nêu rõ mục tiêu cụ thể của bài học (cần hoàn thành công việc gì? hình

thành được kỹ năng gì? thời gian và mức độ cần hoàn thành? điều kiện thực hiện?

cách đánh giá? )

• Kiểm tra hồi phục lại những kiến thức – kỹ năng có liên quan đến bài thực

hành, cung cấp hiểu biết và những hướng dẫn mới cần thiết

• Nêu khái quát trình tự công việc, phương tiện, cách thức tiến hành, các

thao tác, động tác chính, có thể dùng các biểu mẫu, sơ đồ, sản phẩm mẫu để

minh họa tùy điều kiện cụ thể của bài dạy mà áp dụng một trong ba mức độ sau:

+ GV nêu toàn bộ quy trình và làm mẫu, HS luyện tập theo quy trình

+ GV nêu một phần quy trình và làm mẫu, HS xây dựng tiếp quy trình và

luyện tập

+ GV hướng dẫn HS xây dựng quy trình và kế hoạch thực hiện

• GV biểu diễn hành động mẫu và kiểm tra kết quả của giai đoạn này

Giai đoạn 2: Giai đoạn thực hành nhằm hình thành kỹ năng ban đầu:

Trang 20

Giai đoạn này được thực hiện tùy theo mục tiêu, nội dung bài thực hành (đặc

điểm của từng loại kỹ năng – kỹ xảo cần luyện tập, số lượng HS tham gia, cơ sở

vật chất của lớp học ) Các hoạt động chính gồm:

• Phân chia vị trí, vật liệu, dụng cụ (theo cá nhân hoặc theo nhóm HS)

• HS tổ chức tổ chức chỗ làm việc, tái hiện, bắt chước hành động mẫu của

GV, quan sát các phương tiện trực quan hoặc bản hướng dẫn và luyện tập theo

trình tự công việc được giao

• GV theo dõi, uốn nắn, hướng dẫn thường xuyên và kiểm tra từng bước,

từng phần công việc của HS (có thể dùng các phiếu theo dõi, bản kê để ghi lại

những kết quả quan sát của GV đối với từng HS hoặc nhóm HS theo các nhiệm vụ

được giao để có tư liệu cụ thể cho bước nhận xét đánh giá sau này) Đặc biệt chú ý

hướng dẫn HS tự kiểm tra và điều chỉnh hành động

Giai đoạn 3: Giai đoạn kết thúc và đánh giá; gồm các hoạt động sau:

• GV yêu cầu HS ngừng luyện tập và tự đánh giá kết quả (qua phiếu thực

hành, bản báo cáo – thu hoạch, so sánh và thảo luận nhóm )

• GV đánh giá kết quả thực hành (thông qua kết quả tự đánh giá của HS, báo

cáo hoặc sản phẩm thực hành ) kết hợp với quá trình theo dõi ở giai đoạn trên

• HS thu dọn vật liệu, dụng cụ, vệ sinh lớp học [3, tr.91]

1.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá:

1.4.1 Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá

Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học; kết quả kiểm tra, thi đủ

độ tin cậy để xét lên lớp, tôt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh

Tạo động lực đổi mới PPDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học

[3,tr.17]

1.4.2 Yêu cầu kiểm tra đánh giá

Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kỹ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu

cơ bản cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn,

mỗi cấp học

Phối hợp kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì, giữa đánh giá của GV và

tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng

Trang 21

đồng Đảm bảo tính chính xác, khách quan, không hình thức, “đối phó” nhưng

cũng không gây áp lực nặng nề

Đánh giá kịp thời, có tác dụng GD và động viên HS, giúp HS sữa chữa những

thiếu sót Cần có nhiều hình thức và độ phân hóa trong đánh giá phải cao; chú ý

hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của HS, quan tâm tới mức độ hoạt

động tích cực, chủ động của HS trong từng lớp học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thức

mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm

Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của HS mà

còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học Chú

trọng kiểm tra, đánh giá hành động, tình cảm của HS: nghĩ và làm; năng lực vận

động vào thực tiễn của HS, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp Cần bồi dưỡng những

phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi từ HS để đánh giá quá trình dạy học

Đánh giá kết quả học tập của HS, thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá

kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập Tạo điều kiện cho HS cùng tham

gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập Trong đó cần chú ý: không tập trung

vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong giải

quyết các nhiệm vụ phức hợp Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt

động GD ở từng cấp học, cần có quy định đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét

của GV, hoặc đánh giá chỉ bằng nhận xét của GV

Chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của

nhà trường; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá, đánh giá thường xuyên,

định kì

Từng bước nâng cao chất lượng chất lượng đề kiểm tra, thi đảm bảo đánh giá

được đúng chuẩn kiến thức, kỹ năng, vừa có khả năng phân hóa cao Đổi mới ra đề

kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết, kiểm tra học kỳ theo hướng kiểm tra kiến thức cơ

bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, phù hợp với nội dung chương

trình và thời gian quy định

Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương

giữa các đề thi Kết hợp thật hợp lý giữa các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp, tự

luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học vẹt, ghi nhớ máy móc; phát huy

ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức

Trang 22

Đa dạng hóa công cụ đánh giá; sử dụng tối đa công nghệ thông tin trong quy

trình tổ chức kiểm tra, đánh giá

Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom: [7, tr.9]

1.4.3 Các tiêu chí của kiểm tra, đánh giá

Đảm bảo tính toàn diện: đánh giá được các mặt kiến thức, kỹ năng, năng lực,

thái độ, hành vi của HS

Đảm bảo độ tin cậy: tính chính xác, trung thực, minh bạch, khách quan, công

bằng trong đánh giá, phản ánh được chất lượng thực của HS, của các sở GD

Đảm bảo tính khả thi: nội dung, hình thức, phương tiện tổ chức kiểm tra, đánh

giá phải phù hợp với điều kiện HS, cơ sở GD, đặc biệt là phù hợp với mục tiêu

theo từng môn học

Đảm bảo yêu cầu phân hóa: phân loại được chính xác trình độ, năng lực HS, cơ

sở GD Dải phân hóa càng rộng càng tốt

Đảm bảo hiệu quả cao: đánh giá được tất cả các lĩnh vực cần đánh giá HS, cơ

sở GD, thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đề ra; tác động tích cực vào quá trình

dạy học [3 tr.18]

Trang 23

CHƯƠNG 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CỦA

VẬT LÝ KHI GIẢNG DẠY VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

2.1 Môn Công nghệ ở trường PT

2.1.1 Môn Công nghệ ở trường THPT

a / Nội dung môn học:

Môn KTCN cụ thể hóa lý thuyết, thực hành kỹ thuật công nghệ trong sản xuất

công nghiệp Nội dung môn KTCN là một hệ toàn vẹn với các phần chính sau đây:

• Hệ thống hiểu biết lý thuyết kỹ thuât - công nghệ

• Hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo thực hành kỹ thuật - công nghệ tương ứng

• Những phẩm chất của người lao động kỹ thuật

Khi xây dựng nội dung trí dục môn KTCN cần theo các hướng sau đây:

• Coi sự nghiệp GD và đào tạo kỹ thuật, công nghệ là quốc sách để phát huy

nhân tố con người

• Xuất phát từ mục tiêu GD PT, phù hợp với từng cấp học, từng vùng

• Môn học phản ánh đầy đủ và đích thực những vấn đề hiện đại của kỹ thuật

– công nghệ.[11, tr.40]

b/ Đặc điểm của môn học

Tính cụ thể và tính trừu tượng:

Tính cụ thể: thể hiện ở chỗ nội dung môn học đề cập đến những vật phẩm kỹ

thuật Những kiến thức cụ thể này có thể tri giác được trên đối tượng nghiên cứu

Do vậy khi trang bị cho HS những hiểu biết này cần:

• Tăng cường cho HS quan sát vật thật, mô hình, thao tác, quy trình kỹ thuật,

công nghệ cụ thể

• Coi đối tượng của trực quan như điều kiện, phương tiện, điểm tựa cho quá

trình lĩnh hội kỹ thuật

Tính trừu tượng: thể hiện dưới dạng những khái niệm, nguyên lý kỹ thuật mà

HS không thể quan sát một cách trực tiếp

Đặc điểm về tính cụ thể và tính trừu tượng: người GV cần:

• Tìm ra điểm xuất phát của quá trình nhận thức, từ cái cụ thể trực quan hay

cái trừu tượng lý thuyết để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

• Xác định vai trò của trực quan, coi nó như một điều kiện và phương tiện

của sự chuyển biến từ cái cụ thể sang trừu tượng và ngược lại

Trang 24

Tính tổng hợp: Tính chất này được thể hiện trước hết ở chỗ kiến thức được

trình bày ở dạng đại cương, cơ bản chung nhất là làm cơ sở cho nhiều ngành kỹ

thuật có liên quan Nhờ đặc điểm này mà môn học mang tiềm năng GD kỹ thuật

tổng hợp

Môn KTCN là môn học ứng dụng, cơ sở của nó là Toán, Vật lý, Hóa học và

một số môn học nghiên cứu về quá trình sản xuất

Từ đặc điểm này, GV dạy môn KTCN cần:

• Dựa vào tri thức của những môn khác để HS hiểu các hiện tượng, định luật,

nguyên lý kỹ thuật

• Trong quá trình giảng dạy cần nêu bật tính kỹ thuật của môn học

Tính đa chức năng, đa phương án: Mỗi vật phẩm kỹ thuật có thể thực hiện

nhiều chức năng khác nhau Đó là tính đa chức năng Mỗi nhiệm vụ kỹ thuật, công

nghệ, sản xuất có thể thực hiện bằng các phương án khác nhau tùy thuộc vào điều

kiện cụ thể Đó là tính đa phương án

Khi nghiên cứu, trình bày các vấn đề kỹ thuật, GV cần phải:

• Vạch rõ phạm vi sử dụng, khả năng khai thác chức năng vật phẩm kỹ thuật

• Trình bày các giải pháp kỹ thuật, lựa chọn quy trình công nghệ tối ưu trong

điều kiện cụ thể

Tính tiêu chuẩn hóa: Tiêu chuẩn hóa để thương mại hóa sản phẩm là mục đích

của sản xuất công nghiệp Tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa giúp sử dụng rộng rãi

lao động, tạo điều kiện cho việc lắp ráp, chế tạo hàng loạt, sửa chữa, đo kiểm Nó

đặc biệt quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ Tiêu chuẩn hóa là cơ sở

đánh giá chất lượng sản phẩm, cấp bản quyền sở hữu công nghiệp và bảo vệ quyền

lợi người tiêu dùng

Nội dung tiêu chuẩn hóa gồm: tiêu chuẩn hóa vật liệu, tiêu chuẩn hóa năng

lượng, sản phẩm, quy định sử dụng sản phẩm

Tính tiêu chuẩn hóa đòi hỏi:

• GD HS coi trọng và tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật

• Hướng dẫn HS sử dụng công cụ đo để kiểm tra chất lượng, số lượng sản

phẩm

• Dạy HS tra cứu và vận dụng tiêu chuẩn kỹ thuật

Trang 25

Tính ứng dụng - thực tiễn: Kỹ thuật ra đời do yêu cầu của thực tiễn và nó trở

lại phục vụ thực tiễn Nó xuất phát từ thực tiễn nhằm giải quyết những nhiệm vụ

cụ thể trong thực tiễn sản xuất và đời sống Chẳng hạn các phương tiện kỹ thuật

(máy móc, thiết bị) bao giờ cũng gắn với một quá trình sản xuất nhất định

GV cần chú ý các vấn đề sau đây:

• Từ những kiến thức thực tế, vốn sống của HS mà khái quát hóa thành

những nguyên lý chung

• Từ những nguyên lý, định luật, khái niệm mà chỉ ra những ứng dụng của

nó trong quá trình sản xuất và đời sống, làm cho quá trình dạy học gắn liền với

thực tiễn [11, tr.49]

2.1.2 Nhiệm vụ dạy học Công nghệ ở trường PT

Theo quan điểm của lý luận dạy học đại cương, quá trình dạy học gồm ba

nhiệm vụ chính có mối liên hệ biện chứng với nhau: giáo dưỡng, phát triển, GD

Dựa vào mục tiêu của trường PT, xuất phát từ đặc điểm của môn học có thể chia ra

thành những điểm chủ yếu sau:

a/ Trang bị những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo:

Cần trang bị cho HS hệ thống những kiến thức cơ bản, hiện đại của khoa học kỹ

thuật, rèn luyện cho HS hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Tri thức căn bản: Là những tri thức tối thiểu cần thiết cho tất cả mọi người, dù

sau này họ làm nghề gì, người nào cũng cần phải có để trực tiếp đi vào sản xuất

hoăc công tác khác

Những tri thức căn bản trang bị cho HS là những tri thức hiện đại, phản ánh

những thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới nhất, phù hợp với yêu cầu của

đất nước, với trình độ nhận thức của HS, đảm bảo tính hệ thống, tính lôgic của

từng môn học

Những tri thức cơ bản hiện đại bao gồm các khái niệm, các định luật, nguyên

lý, thiết bị kỹ thuật

Hình thành và rèn luyện hệ thống kỹ năng, kỹ xảo cho HS:

Trên cơ sở những tri thức kỹ thuật, công nghệ đã nắm được, HS dần dần được

hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng sau:

• Kỹ năng vẽ và đọc bản vẽ kỹ thuật

• Kỹ năng sử dụng những công cụ cầm tay (búa, kìm…)

Trang 26

• Kỹ năng điều khiển, điều chỉnh máy: máy biến thế, động cơ điện…

• Kỹ năng tháo lắp máy

Ngoài ra những kỹ năng, kỹ xảo học tập còn có tầm quan trọng đối với các quá

trình nắm vững tri thức khoa học Đó là những yêu cầu mà dạy học cần phải đạt

tới, nhằm hạn chế việc HS nắm được tri thức mà không biết vận dụng tri thức vào

những tình huống thực tế Vì thế trong dạy học người ta xây dựng mức độ nắm tri

thức với nghĩa là: hiểu, nhớ và vận dụng ở các mức độ khác nhau [11, tr.54]

b/ Phát triển tư duy, bồi dưỡng năng lực kỹ thuật:

Dạy học có tính chất phát triển, đây là một trong những xu thế của lý luận dạy

học hiện đại Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của HS

dưới sự chỉ đạo của GV, là quá trình hai mặt, nhằm đạt mục đích dạy học Tri thức

và tư duy gắn bó với nhau, tác động qua lại và là điều kiện của nhau “Tri thức

trong khi là kết quả của tư duy lại đồng thời là một trong những điều kiện của tư

duy” (M.Cxyliats)

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát

triển như vũ bão Tình hình đó đặt ra cho nhà trường trang bị cho HS hệ thống tri

thức dù nhiều nhưng cũng không thể đủ, mà phải coi trọng năng lực phát triển

nhận thức, phát triển tư duy, để HS tự học, tự hoàn thiện tri thức của mình phù hợp

với thời đại mới

Tư duy kỹ thuật: Trên cơ sở nghiên cứu tâm lý học, tư duy kỹ thuật, Cuđriabxep

cho rằng: tư duy kỹ thuật giống như tư duy lý thuyết thực hành, tư duy khái niệm -

hình ảnh

Cấu trúc gồm ba thành phần: khái niệm, hình ảnh, thao tác Ba thành phần này

tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình tư duy kỹ thuật

Đặc điểm: mang đủ những điểm chung của tư duy và những điểm riêng như:

• Tính linh hoạt, độc đáo

• Thống nhất chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành

• Tác động qua lại giữa khái niệm và hình ảnh

• Tư duy kỹ thuật mang tính chất nghề nghiệp

Những biện pháp cơ bản nhằm phát triển tư duy kỹ thuật cho HS trong quá trình

dạy học kỹ thuật đó là:

• Rèn luyện ngôn ngữ kỹ thuật để HS nắm vững

Trang 27

• Sử dụng hiệu quả phương tiện trực quan, nhằm tạo ra hình ảnh, biểu tượng

ban đầu là tư liệu cho tư duy

• Tổ chưc tốt thực hành vận dụng để HS vận dụng, hoàn thiện tri thức lý

thuyết

• Cấu trúc bài dạy phù hợp với lôgic học về nội dung, về quá trình nhận

thức Đảm bảo quan hệ biện chứng giữa nội dung, mục đích, phương pháp, PPDH

trong từng bài, tưng khâu, từng bước lên lớp

Thường xuyên rèn luyện HS thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, khái quát

hóa…

• Phát huy tính tích cực, tự giác của HS bằng các PPDH mới: nêu vấn đề,

dạy theo quan điểm công nghệ dạy học…

Năng lực kỹ thuật: Được hiểu là tổ hợp các yếu tố tâm sinh lý cá nhân đáp ứng

những đòi hỏi của một hoạt động kỹ thuật nào đó Gồm các khâu:

• Lĩnh hội KTCN

• Thiết kế KTCN

• Vận dụng KTCN

Như đã nêu ở trên, năng lực kỹ thuật mang đặc điểm cá nhân, gắn với một dạng

hoạt động cụ thể Năng lực kỹ thuật là một dạng năng lực chuyên biệt Nó được

hình thành dần dần qua hệ thống các kiến thức giới hạn [11, tr.56]

c/ Thực hiện các chức năng giáo dục:

GD thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cách mạng: Thế giới

quan khoa học bao gồm những quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng Vật

chất và vận động là một quan điểm cơ bản của triết học Mác - Lênin và đã được

chứng minh bằng quá trình chuyển hóa giữa các dạng năng lượng trong các máy

móc, thiết bị kỹ thuật

Qua các bài mở đầu giới thiệu về sự ra đời và phát triển của máy móc, thiết bị,

đi đến kết luận: quá trình khám phá và chinh phục tự nhiên bao giờ cũng gắn liền

với quá trình phát triển của KHKT, khẳng định sức mạnh to lớn của con người

trong sự tồn tại xã hội là yếu tố quyết định ý thức xã hội Trên cơ sở nhận thức,

con người sẽ có thái độ và quan điểm đúng đắn với hiện thực

GD kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp cho HS: Cách mạng khoa học, kỹ thuật

phát triển như vũ bão, nhiều ngành nghề mới ra đời, do đó phải GD kỹ thuật tổng

Trang 28

hợp, GD cho HS những hiểu biết cơ bản có tính nguyên lý của những quá trình sản

xuất chủ yếu và khả năng sử dụng công cụ chủ yếu của sản xuất và đời sống Nội

dung GD hướng nghiệp bao gồm: tư vấn, định hướng, tuyển chọn nghề nghiệp

GD ý thức công nghiệp: Đây là nhiệm vụ cấp thiết của thời kỳ công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước Các chức năng GD của môn học được thực hiện trên cơ sở

và trong chính quá trình trang bị tri thức, phát triển năng lực nhận thức

Ba nhiệm vụ trên quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Nhiệm vụ giáo

dưỡng là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ GD và phát triển, vì không có tri thức thì

không phát triển được trí tuệ và hình thành nhân cách Nhiệm vụ GD để hình thành

nhân cách con người là kết quả của hai nhiệm vụ trên, đồng thời là mục đích cuối

cùng của quá trình dạy học, là yếu tố kích thích và là động cơ thúc đẩy con người

đạt tới đỉnh cao của sự hiểu biết

Dạy học là để thực hiện khẩu hiệu cao quý “ Dạy người thông qua dạy chữ”

[11, tr.59]

2.2 Dạy học Công nghệ ứng dụng kỹ thuật Vật lý

2.2.1 Vai trò của việc nghiên cứu những ứng dụng kỹ thuật của Vật lý trong dạy

học Công nghệ

Thuật ngữ “các ứng dụng kỹ thuật của vật lý” đã nói lên rằng: loại kiến thức này là

kết quả của việc ứng dụng những kiến thức khái quát của vật lý, nhất là những

định luật vật lý vào kỹ thuật để chế tạo những thiết bị, máy móc có tính năng, tác

dụng nhất định, đáp ứng được những yêu cầu của kỹ thuật và đời sống

Tuy những kiến thức vật lý là cơ sở để chế tạo các thiết bị, máy móc kỹ thuật,

nhưng không phải một phát minh mới về vật lý có thể áp dụng được ngay vào kỹ

thuật một cách có hiệu quả, đủ để tạo ra một hiện tượng cần thiết trong kỹ thuật Áp

dụng các định luật vật lý, ta có thể tạo ra một hiện tượng nhất định, nhưng việc

làm thế nào để hiện tượng này có thể giải quyết được một nhiệm vụ cụ thể nào đó

trong kỹ thuật thì còn phải nghiên cứu mới có thể đưa ra được một thiết bị thích hợp

Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lý không phải là nghiên cứu xây dựng

một kiến thức vật lý mới mà là nghiên cứu tìm ra một cơ chế, thiết bị hay máy

móc có thể tạo ra hiện tượng mà kiến thức vật lý đã dự đoán và vận dụng được nó

để giải quyết một nhiệm vụ nào đó trong kỹ thuật Việc làm này nhiều khi rất khó

khăn, ngay trong lịch sử khoa học cũng phải mất hàng chục năm

Trang 29

Như vậy, việc ứng dụng một kiến thức vật lý vào kỹ thuật để chế tạo một thiết

bị, máy móc không phải đơn thuần chỉ là vận dụng một định luật vật lý, mà thực sự

là một hoạt động sáng tạo Sự sáng tạo này nhiều khi đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp

nhiều kiến thức, nhiều kinh nghiệm Bởi vậy, đã xuất hiện những ngành kỹ thuật

riêng chuyên nghiên cứu chế tạo thiết bị máy móc này, để đạt được hiệu quả cao

Nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lý là thiết lập mối quan hệ giữa lý

thuyết và thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật vật lý) và cái cụ thể

(các hiện tượng xảy ra trong máy móc, thiết bị) Nhờ đó mà làm cho việc nhận

thức các kiến thức vật lý trừu tượng trở thành sâu sắc hơn, mềm dẻo hơn

Việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lý góp phần phát triển tư duy

vật lý kỹ thuật của HS, làm cho HS thấy được vai trò quan trọng của kiến thức vật

lý đối với đời sống và sản xuất; qua đó mà kích thích hứng thú, nhu cầu của HS khi

học tập Vật lý và Công nghệ [10, tr.82]

2.2.2 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực ứng dụng của Vật lý khi

giảng dạy Công nghệ

Một trong những mục tiêu của GD PT là chuẩn bị cho HS những kiến thức và

kỹ

năng cần thiết để họ có thể nhanh chóng tham gia vào các hoạt động sản xuất đa

dạng trong xã hội hiện đại Trong thời đại ngày nay, bất kỳ một ngành hoạt động

xã hội nào cũng phải sử dụng những máy móc, thiết bị kỹ thuật được chế tạo dựa

trên các định luật vật lý

Việc GD kỹ thuật tổng hợp không đòi hỏi phải dạy cho HS tất cả các máy móc

thiết bị nhưng đòi hỏi phải dạy những cơ sở công nghiệp hiện đại nói chung Nắm

được những nguyên tắc chung đó, HS sẽ dễ dàng sau này đi vào sử dụng từng loại

máy móc chuyên dùng cụ thể trong mỗi ngành sản xuất

Tuy nhiên không thể hiểu dạy học kỹ thuật tổng hợp chỉ đơn thuần là rèn luyện

cho HS kỹ năng thực hành Chúng ta chỉ trang bị cho HS những thao tác đơn giản

trên những máy móc dụng cụ được sử dụng phổ biến Ngay cả các thao tác đó cũng

phải tuân theo các nguyên tắc vật lý để đảm bảo an toàn, chính xác, có hiệu quả

Việc GD kỹ thuật tổng hợp càng tỏ ra quan trọng trong điều kiện KHKT phát

triển như vũ bão hiện nay Những ứng dụng của vật lý vào kỹ thuật không những

tạo ra những phương pháp sản xuất mới, dẫn tới năng suất lao động cao mà nhiều

Trang 30

khi còn thay đổi cơ bản chức năng của người và của máy móc trong các quá trình

sản xuất

Bước vào thế kỷ 21, sẽ xuất hiện nhiều công nghệ sản xuất hiện đại, trong đó tự

động hóa giữ một vai trò quan trọng, người lao động cần phải có kiến thức cơ bản

về tự động hóa

Trong tình hình phát triển rất nhanh của KHKT hiện nay rất nhiều phát minh

vật lý được nhanh chóng ứng dụng vào kỹ thuật sản xuất Tuy nhiên việc chuyển

từ kiến thức vật lý sang ứng dụng kỹ thuật không phải là trực tiếp mà phải trãi qua

một quá trình sáng tạo thực sự Vật lý học nghiên cứu những tính chất, những quy

định chung của một lớp đối tượng, nhưng khi ứng dụng vào kỹ thuật là ứng dụng

vào một trường hợp cụ thể, trong những điều kiện riêng hoàn toàn xác định Trong

những điều kiện cụ thể đó, hiện tượng vật lý được biểu hiện đủ rõ, đủ mạnh để có

thể đưa vào sản xuất và phải sử dụng một cách thuận tiện, thao tác dễ dàng

2.2.3 Các con đường dạy học những ứng dụng kỹ thuật của vật lý

Việc nghiên cứu những ứng dụng kỹ thuật của vật lý trong dạy học Vật lý ở

trường PT có thể diễn ra theo hai con đường sau:

a/ Con đường thứ nhất: Quan sát cấu tạo của đối tượng kỹ thuật đã có sẵn, giải

thích nguyên tắc hoạt động của nó:

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật của vật lý theo con đường này thực chất là giải

bài toán “hộp trắng”: biết cấu tạo bên trong của hộp, biết tác động ở đầu vào và kết

quả của đầu ra, giải thích vì sao đầu vào thế này, nhờ thiết bị lại cho đầu ra như vậy

Sự giải thích phải dựa vào các định luật vật lý đã biết Để đưa ra được lời giải thích

đúng đắn thì trước hết phải làm rõ được “điều cần giải thích”, nghĩa là phải phát hiện

được chính xác những điều kiện tác động ở đầu vào, hiện tượng xuất hiện ở đầu ra,

rồi tìm những định luật, quy tắc vật lý chi phối quá trình biến đổi ở bên trong đối

tượng kỹ thuật đó từ đầu vào đến đầu ra Được định hướng từ “điều cần giải thích”

này, HS tìm cách giải thích bằng suy luận diễn dịch, xuất phát từ những định luật,

quy tắc vật lý áp dụng vào những điều kiện cụ thể của đối tượng kỹ thuật để đi đến

kết luận là hiện tượng thu được ở đầu ra Tiến trình nghiên cứu có thể gồm các giai

đoạn sau:

Giai đoạn 1: Quan sát thiết bị gốc, cho vận hành để xác định được chính xác tác

động ở đầu vào và kết quả thu được ở đầu ra

Trang 31

Kết quả thu được ở đầu ra chính là mục đích sử dụng của thiết bị Nhiều khi sự

quan sát này gặp khó khăn vì hiện tượng tinh tế, khó quan sát được chính xác bằng

các giác quan của mình Đối với trường hợp này, GV có thể mô tả bổ sung bằng lời

cho rõ Kết thúc giai đoạn này, đưa ra được điều cần giải thích, thường được diễn đạt

bằng một câu hỏi dưới dạng “tại sao?”

Giai đoạn 2: Quan sát thiết bị gốc để xác định cấu tạo bên trong của nó, làm rõ

những bộ phận có liên quan với nhau, tác dụng lẫn nhau trong khi thiết bị vận hành

Trong nhiều trường hợp, việc làm này khó khăn vì thiết bị máy móc gốc có một vỏ

bọc ngoài che kín những bộ phận bên trong và có rất nhiều chi tiết bên ngoài mà

thoạt mới nhìn, ta không rõ chúng có liên quan gì tới quá trình vận hành của

thiết bị Để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của HS trong giai đoạn này, cần

đưa ra một số thiết bị gốc đã được bổ dọc hay bổ ngang để có thể quan sát được ở

bên trong, rồi xây dựng một mô hình để thay thế cho đối tượng gốc Mô hình này

chỉ bao gồm những bộ phận chính của thiết bị gốc mà ta cho rằng có liên quan đến

diễn biến của quá trình xảy ra trong thiết bị Thông thường ở đây, ta dùng mô hình

hình vẽ hay mô hình vật chất - chức năng hoặc kết hợp cả hai Việc chọn những bộ

phận, chi tiết nào của thiết bị để đưa vào mô hình nhiều khi gặp khó khăn GV

có thể giúp HS bằng cách định hướng cho họ chú ý đến những bộ phận, chi tiết của

thiết bị máy móc có biến đổi, có tương tác với nhau hoặc có những dấu hiệu, những

đặc tính có liên quan đến hiện tượng ở đầu vào và đầu ra Việc cho mô hình vận

hành sẽ tạo điều kiện cho HS phát hiện ra những mối quan hệ giữa sự vận hành của

các bộ phận trong thiết bị với các định luật vật lý chi phối chúng Việc xây dựng

một mô hình như thế không phải luôn luôn thành công mà phải chỉnh lí, bổ sung

nhiều lần

Giai đoạn 3: Giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị máy móc

Ta phải lựa chọn một định luật, quy tắc vật lý đã biết làm cơ sở xuất phát, sau

đó dựa vào những điều kiện cụ thể, đặc điểm của thiết bị, thực hiện phép suy luận

diễn dịch, suy ra một kết luận Nếu kết luận đó phù hợp với hiện tượng quan sát được

ở đầu ra của thiết bị máy móc là ta đã hoàn thành việc giải thích Cũng có khi quá

trình vận hành của thiết bị có nhiều giai đoạn nối tiếp nhau, ta phải thực hiện nhiều

phép suy luận nối tiếp cho đến khi ra kết quả cuối cùng

Trang 32

Nếu kết quả thu được từ suy luận không phù hợp với kết quả cuối cùng quan sát

được thì ta phải lựa chọn lại định luật xuất phát hoặc kiểm tra lại xem quá trình suy

luận có tuân thủ chặt chẽ các quy tắc của suy luận diễn dịch không, hoặc có thể bỏ

qua một giai đoạn nào đó của quá trình vận hành thiết bị không Để cho thuận lợi,

dễ hình dung, ở giai đoạn này, ta có thể sử dụng mô hình đã đưa ra ở giai đoạn 2

Như vậy, việc lựa chọn định luật vật lý làm cơ sở xuất phát có vai trò quyết định

Cần

phải hướng dẫn HS biết dựa vào những dấu hiệu quan sát được ở đầu vào và đầu ra

để liên tưởng đến những định luật, quy tắc vật lý có liên quan đến hiện tượng đó,

nhận biết xem hiện tượng xảy ra thuộc loại hiện tượng gì, có liên quan đến định luật

nào.[10, tr.84]

b/ Con đường thứ hai: Dựa trên những định luật vật lý, những đặc tính vật lý

của sự vật, hiện tượng thiết kế một thiết bị nhằm giải quyết một yêu cầu kỹ thuật

nào đó:

Con đường này thực chất là tìm tòi, phát minh lại một thiết bị máy móc dùng

trong kỹ thuật, là một bài tập sáng tạo Ở đây, hiện tượng vật lý và những định luật

chi phối nó đã biết dưới dạng tổng quát Yêu cầu tìm tòi là đưa ra một thiết bị có

cấu tạo thích hợp để tạo ra hiện tượng vật lý đáp ứng được một số yêu cầu cụ thể của

sản xuất hay đời sống Việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của vật lý theo con

đường thứ hai này có thể tiến hành theo các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Xác định rõ những định luật, quy tắc vật lý ta sẽ phải sử dụng để

chế tạo thiết bị kỹ thuật mới

Việc nhìn lại con đường đã dẫn đến nhận thức được định luật, quy tắc này (từ

thực tiễn đến kiến thức khái quát) sẽ là một gợi ý rất bổ ích để có thể tìm ngược

lại con đường đi từ những định luật trừu tượng, khái quát đến hiện tượng cụ thể mà

ta cần tạo ra trong các thiết bị kỹ thuật

Giai đoạn 2: Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có một chức năng xác định

nhằm sử dụng được hiện tượng vật lý vào sản xuất hay đời sống

Giai đoạn 3: Đưa ra một phương án thiết kế thiết bị

Đối chiếu hiện tượng do các định luật, quy tắc vật lý dự đoán được với hiện tượng

yêu cầu thiết bị cần tạo ra để đưa ra các phương án thiết kế thiết bị Ở đây, cần vận

Trang 33

dụng những kiến thức và kinh nghiệm của mình để tìm phương án thiết kế phù hợp

Những vấn đề thường gặp trong thiết kế, chế tạo thiết bị kỹ thuật là:

• Tăng cường độ của một đại lượng nào đó đến mức độ đủ lớn để có thể sử

dụng được trong sản xuất (tăng cường độ của dòng điện cảm ứng trong khung

dây)

• Đảm bảo sự xuất hiện liên tục của một hiện tượng (duy trì dòng điện trong

pin)

• Điều khiển để hiện tượng xảy ra theo một hướng, ở một thời điểm có lợi cho

công việc mà ta mong muốn (thời điểm nổ của nhiên liệu, hướng chuyển động

của pittông trong động cơ đốt trong, tập trung ánh sáng phản xạ vào một điểm trong

gương cầu lõm)

• Chuyển được hiệu quả của hiện tượng xảy ra trong thiết bị ra ngoài để sử

dụng (máy phát điện, hiện tượng quang điện)

• Phối hợp hiện tượng xảy ra trong thiết bị với một hiện tượng khác ở bên

ngoài (tốc kế ly tâm hay tốc kế cộng hưởng)

• Đo lường chính xác một đại lượng (đo cường độ dòng điện, đo áp suất chất

khí)

Để đưa ra một phương án giải quyết những vấn đề như thế, có khi phải vận dụng

tổng hợp nhiều kiến thức vật lý và những kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nữa

Nếu nhiệm vụ giải quyết khá phức tạp thì nên tìm cách chia thành những nhiệm

vụ thành phần đơn giản hơn, cho phù hợp với trình độ HS

Giai đoạn 4: Dựa trên phương án thiết kế đã chọn, đưa ra một mô hình vật chất

chức năng, kèm theo hình vẽ có các bộ phận chính của thiết bị đã chọn, sắp xếp theo

một cách thích hợp và cho mô hình vận hành để sơ bộ kiểm tra tính hợp lí của thiết

kế này Ví dụ như: gây một tác động ở đầu vào thì ở đầu ra có thu được hiện tượng

mong muốn không

Giai đoạn 5: Dựa trên mẫu thiết kế, lắp ráp một thiết bị thật (bằng vật thật)

Cho thiết bị vận hành để quan sát hiệu quả thu được, kiểm tra tính đúng đắn, khả

thi của thiết kế

Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh thiết kế, bổ sung điều chỉnh trên thiết bị thật để tăng

thêm tính hiệu quả Trong dạy học, đến đây, GV nên đưa ra một thiết bị cùng loại

Trang 34

đang được sử dụng trong kỹ thuật và nói cho HS rõ một số chi tiết khác với mẫu đã

thiết kế nhưng đều có cùng một chức năng [10, tr.89]

2.3 PPDH ứng dụng kỹ thuật của Vật lý

2.3.1 Phương pháp trình bày dụng cụ trực quan:

a/ Bản chất:

Là PPDH trong đó GV sử dụng phương tiện trực quan nhằm giúp HS trực tiếp

tri giác, cảm giác tài liệu mới, trên cơ sở đó nắm được bản chất đối tượng kỹ thuật

b/ Cơ sở khoa học của phương pháp trình bày dụng cụ trực quan:

Cơ sở triết học: Con đường nhận thức đã được Lênin chỉ rõ:“ Từ trực quan sinh

động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường

biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan” Theo quan

điểm này, trực quan là xuất phát điểm của nhận thức.Trực quan sinh động được

đặc trưng bởi quá trình tâm lý: cảm giác, tri giác, biểu tượng Sự nhận thức này chỉ

mới phản ánh thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng; để nhận thức bên trong

thì cần xử lý trong óc những hình tượng cảm tính, loại bỏ những khía cạnh ngẫu

nhiên, biến đổi, giữ lại những dấu hiệu cơ bản Bản chất của sự vật, hiện tượng

được nắm vững nhờ tư duy

Cơ sở tâm lý - sinh lý: Quá trình nhận thức được phân chia thành 3 giai đoạn:

• Nhận thức cảm tính nảy sinh do kết quả tác động trực tiếp của sự vật hiện

tượng lên các giác quan của con người

• Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh trừu tượng, khái quát hóa dưới

dạng những khái niệm, định luật, học thuyết…

• Giai đoạn tái sinh cái cụ thể trong tư duy là giai đoạn kiểm tra và vận dụng

tri thức mới vào tình huống mới Trong dạy học, để quá trình này được tổ chức

thuận lợi, người ta sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan

Qua những nghiên cứu về tâm sinh lý, người ta đã chỉ ra rằng mỗi giác quan

của con người có khả năng tri giác một khối lượng thông tin khác nhau trong cùng

Trang 35

Tuy nhiên không thể coi việc truyền đạt thông tin bằng con đường thị giác là

vạn năng vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, phải phối hợp với các giác quan

trong quá trình nhận thức Usinxki nhà GD học nổi tiến của Liên Xô trước đây đã

khẳng định: “Trong ý thức HS chỉ để lại dấu ấn sâu nhất khi GV tác động cùng

một lúc đến nhiều giác quan của HS”

Cơ sở của môn học:

• Mối liên hệ giữa cấu tạo và nguyên lý hoạt động: Nội dung môn KTCN

nghiên cứu các vật phẩm kỹ thuật khác nhau Những tri thức đó bao gồm các kiến

thức về cấu tạo, nguyên lý hoạt động của máy móc, thiết bị Do đó lĩnh hội tri thức

kỹ thuật phải bắt đầu từ bản thân vật phẩm kỹ thuật Mối liên hệ giữa cái cụ thể –

trực quan với cái trừu tượng – lý thuyết cũng là mối liên hệ giữa cấu tạo với

nguyên lý hoạt động của vật phẩm kỹ thuật

• Về diễn biến của quá trình kỹ thuật và công nghệ: Các quá trình biến đổi

năng lượng bao giờ cũng diễn ra trong các máy Sự lĩnh hội về các quá trình này

chỉ có thể thực hiện khi chúng được đặt vào các máy, các cơ cấu cụ thể Quá trình

chế biến vật phẩm kỹ thuật, thực chất là quá trình cơ, lý, hóa… Quá trình xảy ra

với nguyên liệu và năng lượng

•Về nhiệm vụ của môn học: Trong quá trình hình thành khái niệm kỹ thuật,

những đặc tính cơ bản của vật phẩm kỹ thuật, trực quan là điểm xuất phát của nhận

thức, nhất là khi HS làm quen với những vấn để mới của kỹ thuật

Trực quan sinh động đóng vai trò quan trọng để tạo ra 3 yếu tố: khái niệm, hình

ảnh, thao tác giúp tư duy kỹ thuật của HS được phát triển Trực quan sinh động

cũng tạo nên 3 khâu: lĩnh hội - thiết kế- vận dụng kỹ thuật Cho nên khi hình thành

kỹ năng, kỹ thuật GV thường hay biểu diễn các công việc lao động kỹ thuật để HS

quan sát, ở đây công cụ lao động, máy móc và hoạt động cụ thể của GV đóng vai

trò như một phương tiện trực quan

c/ Các loại phương tiện dạy học trực quan:

Phân loại phương tiện dạy học trực quan: Có nhiều cách phân loại các phương

tiện dạy học trực quan, nhưng thường được chia làm hai nhóm sau đây:

• Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học: được phân chia theo cấu tạo, tính

chất:

Trang 36

+ Dựa vào sự tác động của phương tiện trực quan vào các giác quan

người ta chia ra: phương tiện trực quan nhìn, nghe và sờ mó

+ Dựa vào nguồn gốc, tài liệu trực quan chia thành hai nhóm: vật thể tự

nhiên (nguyên liệu, phôi liệu, máy và các vật thể tự nhiên khác); vật thể nhân tạo

(mô hình, ảnh chụp, sơ đồ, bản vẽ kỹ thuật, băng hình…)

• Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học: là các phương tiện kỹ

thuật nghe nhìn giúp cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao hơn, các tài liệu hướng

dẫn ôn tập, giải bài tập …

Yêu cầu đối với các phương tiện trực quan:

• Tính sư phạm: Phương tiện dạy học phải đảm bảo cho HS tiếp thu tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với yêu cầu của chương trình học, giúp GV truyền đạt

cho HS những tri thức phức tạp, làm cho họ phát triển khả năng nhận thức Nội

dung và cấu tạo của phương tiện trực quan phải đảm bảo các đặc trưng của dạy lý

thuyết và thực hành Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và

PPDH, phải hợp thành một bộ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về nội dung và

hình thức, trong đó mỗi chiếc trong bộ phải có vai trò riêng, phải thúc đẩy việc sử

dụng PPDH hiện đại và tiên tiến Phương tiện dạy học phải đảm bảo cho cả lớp

quan sát được, phù hợp với tâm sinh lý HS: màu sắc cũng có tác dụng thông tin,

phù hợp với màu sắc vật thật

• Tính thẩm mỹ: Phương tiện dạy học phải đảm bảo tính thẩm mỹ, sao cho

GV thích thú khi sử dụng, kích thích nâng cao sự cảm thụ chân thiện mỹ

• Tính khoa học kỹ thuật: Chất liệu dùng để chế tạo phương tiện trực quan

phải đảm bảo tuổi thọ, vững chắc Phải phản ánh chính xác tri thức, áp dụng những

tiến bộ KHKT mới, phải có kết cấu thuận lợi cho việc chuyên chở và bảo quản

• Tính kinh tế: Nội dung và đặc tính kết cấu của phương tiện dạy học phải có

số lượng ít, chi phí ít mà đảm bảo vẫn hiệu quả, chi phí bảo quản thấp, tuổi thọ

cao

d/ Vận dụng phương pháp trình bày trực quan trong dạy học kỹ thuật:

Tùy mục đích của lý luận dạy học, phương pháp trình bày trực quan có thể

nhằm:

• Hình thành khái niệm kỹ thuật:

Trang 37

Khái niệm kỹ thuật là hình thức của tư duy kỹ thuật, trong đó phản ánh dấu hiệu

cơ bản của một (hay nhóm) đối tượng kỹ thuật

Hình thành khái niệm kỹ thuật là kết quả của quá trình tư duy, phát hiện sự

giống nhau giữa các đối tượng kỹ thuật, phân chia chúng thành các phần, tách ra

thành những dấu hiệu cơ bản, đưa đối tượng có dấu hiệu cơ bản như nhau thành

một nhóm và biểu thị chúng thành tên gọi Như thế ta đã tạo ra một trong những

hình thức của tư duy: khái niệm kỹ thuật

Những dấu hiệu quy định bản chất bên trong, đặc trưng chất lượng của đối

tượng kỹ thuật gọi là dấu hiệu cơ bản

Trình bày trực quan để hình thành khái niệm kỹ thuật có thể theo sơ đồ sau:

Ở đây: quan sát, phân tích, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa giữ vai trò

quan trọng

Phương pháp chung để giảng dạy khái niệm kỹ thuật đó là: các khái niệm kỹ

thuật có mức độ phản ánh phức tạp khác nhau, tùy từng hiện tượng hay quá trình

kỹ thuật mà nó phản ánh Trình độ tri thức, trí tuệ, trí nhớ, vốn sống cuả HS rất

khác nhau Do đó không thể có một quy luật chung, một sơ đồ chung duy nhất để

dạy khái niệm cho HS Tuy nhiên căn cứ vào cấu trúc chung của khái niệm có thể

tìm thấy những yếu tố cần thiết lập nên các bước để giảng dạy giảng dạy cho HS

Phân tích rõ bản chất kỹ thuật của khái niệm: trước hết cần đặt vấn đề để HS thấy

rõ hoàn cảnh xuất hiện của khái niệm, tức là tìm ra dấu hiệu mới trong kỹ thuật

Nêu rõ đặc điểm định lượng của khái niệm: phân tích sự liên quan định lượng

giữa khái niệm mới và khái niệm cũ, do tính chất của nhiều khái niệm là được hình

Trang 38

thành trên cơ sở mối liên hệ với các khái niệm cũ Hơn nữa để khái niệm hoàn

chỉnh thì trong trường hợp có thể, việc sử dụng công cụ toán học cần đặc biệt lưu

ý

Phân tích rõ định nghĩa khái niệm: việc định nghĩa khái niệm giữ vai trò quan

trọng trong sự lĩnh hội khái niệm Tâm lý học đã nêu rõ rằng trong định nghĩa có

chứa đựng những điều quan trọng nhất, cần nắm vững để lĩnh hội khái niệm,

nhưng định nghĩa chỉ đóng vai trò quan trọng khi nó dựa đầy đủ trên các ước liệu

thực tế Mặt khác cho HS thấy rằng định nghĩa một khi đã gắn với biểu thức toán

học sẽ có nội dung chặt chẽ và tiện sử dụng

Vận dụng khái niệm vào thực hành: việc vận dụng khái niệm vào thực hành để

HS nắm vững khái niệm, mở rộng hiểu biết và cũng qua đó góp phần phát triển

năng lực nhận thức cho HS

• Trình bày cấu tạo của vật phẩm kỹ thuật:

Vật phẩm kỹ thuật rất đa dạng, chiếm phần đáng kể trong nội dung chương

trình KTCN PT

Các yếu tố cấu tạo đã được SGK trình bày bằng bản vẽ, sơ đồ, đồ thị… Mặc dù

vậy, sử dụng vật thể trực quan và phép phân tích các máy móc để dạy cấu tạo có

giá trị lớn về mặt lý luận dạy học

Trình bày cấu tạo vật phẩm kỹ thuật là vạch ra các phần tử cấu thành và làm

sáng tỏ chức năng, mối liên hệ giữa chúng Mối liên hệ này thể hiện trên hai mặt:

sự ghép nối và sự hoạt động liên hợp

Trình tự sử dụng phương tiện trực quan có thể như sau:

+ Giới thiệu đối tượng nghiên cứu: tên gọi, công dụng, phạm vi sử dụng

+ Nêu khái quát kết cấu

+ Tách rời từng phần, xét cấu tạo riêng

+ Sự lắp ghép và sự liên hợp vận động giữa các bộ phận

+ Củng cố toàn bộ vật phẩm kỹ thuật: có thể tiến hành trong cả trạng thái

tĩnh và động

• Trình bày nguyên lý hoạt động của thiết bị kỹ thuật:

Nguyên lý hoạt động của thiết bị máy móc kỹ thuật thường là có nội dung trừu

tượng Khi trình bày hoạt động là làm bộc lộ sự liên hợp của các phần tử phản ánh

quá trình biến đổi năng lượng, chuyển động trong máy móc

Trang 39

Việc sử dụng các vật thật ở đây kém hiệu quả hơn các hình vẽ PPDH thường

áp dụng là giải thích trên hình vẽ sơ đồ, sau đó mô tả minh họa bằng sơ đồ động

Trình bày nguyên lý hoạt động của máy móc theo trình tự:

+ Nêu khái quát cấu tạo của vật phẩm kỹ thuật trên sơ đồ cấu tạo

+ Nêu nhiệm vụ, chức năng riêng của vật phẩm kỹ thuật

+ Nói rõ cách thức sử dụng vật phẩm kỹ thuật: điều kiện làm việc, bảo

dưỡng, điều chỉnh…

+ Vạch ra hoạt động của mỗi phần tử vật phẩm kỹ thuật

+ Nêu mối liên hệ giữa các phần tử trong diễn biến hoạt động, sự biến đổi

năng lượng, chuyển động

+ Quan sát sự hoạt động tổng thể của vật phẩm kỹ thuật

+ Củng cố hoạt động của vật phẩm kỹ thuật trên sơ đồ, đồ thị, bản vẽ kỹ

thuật

• Trực quan trong việc giới thiệu thao tác kỹ thuật:

Trong dạy học thực hành, phương pháp làm mẫu chính là phương pháp trình

bày trực quan Điểm khác biệt với các hình thức trực quan là: HS không chỉ quan

sát mà còn phải thực hiện, biểu diễn các thao tác kỹ thuật [10, tr.134]

2.3.2 PPDH thực hành kỹ thuật

Trong dạy học kỹ thuật, thực hành là một trong những họat động vật chất của

HS nhằm vận dụng những hiểu biết kỹ thuật

Dạy học thực hành kỹ thuật là một quá trình sư phạm do GV tổ chức nhằm:

• Hoàn thiện và vận dụng kiến thức kỹ thuật

• Hình thành và rèn luyện kỹ năng - kỹ xảo - kỹ thuật

• Thực hiện các chức năng GD

a/ Cơ sở khoa học của dạy học thực hành kỹ thuật:

Dạy học thực hành kỹ thuật dựa trên hai cơ sở quan trọng :

• Phân tích quá trình lao động kỹ thuật: Lao động kỹ thuật là quá trình con

người dùng công cụ tác động vào đối tượng lao động để tạo nên sản phẩm hữu ích,

do đó có thể coi như một quá trình công nghệ Công nghệ học đại cương phân chia

quá trình công nghệ thành các yếu tố, giai đoạn, thành phần: nguyên công công

nghệ, bước công nghệ, động tác…theo sơ đồ sau :

Trang 40

Sơ đồ cấu trúc quá trình công nghệ

Trong đó: Nguyên công là một quá trình công nghệ do một hay một nhóm

người thực hiện liên tục trên một vị trí làm việc để gia công một hay một nhóm chi

tiết cùng được gia công một lần Bước công nghệ là một phần của nguyên công để

làm thay đổi hình dạng, trạng thái kỹ thuật của đối tượng công nghệ với một chế

độ làm việc không đổi của dụng cụ Động tác là tập hợp các cử động riêng biệt của

người lao động trong quá trình thực hiện bước công nghệ

Việc phân tích quá trình lao động kỹ thuật trên đây là cơ sở để xây dựng và lựa

chọn nội dung các bài thực hành kỹ thuật Vì thế trong thực tế ta thường gặp các

loại bài thực hành theo động tác, theo bước công nghệ, theo nguyên công… Tùy

thuộc vào mục đích và thời gian cho phép

• Phân tích quá trình hình thành kỹ năng: Kỹ năng được hình thành theo

những quy định nhất định, thường bắt đầu từ sự nhận thức và kết thúc là biểu hiện

ở hành động cụ thể Tóm tắt quá trình này như sơ đồ:

Sơ đồ cho thấy, quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn:

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w