1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý bồi DƯỠNG NĂNG lực tự học CHO HS KHI GIẢNG dạy CHƯƠNG 7 LƯỢNG tử ÁNH SÁNG, vật lí 12 NÂNG CAO

112 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; b

Trang 1

Giảng Viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS-GVC Trần Quốc Tuấn Lê Mỹ Nhân

MSSV: 1090176

Lớp Sư Phạm Vật Lý K35

Cần thơ, 05/2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Lời cảm ơn đầu tiên xin gửi đến thầy Trần Quốc Tuấn

đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện

nghiên cứu đề tài luận văn này

Bên cạnh đó, em cũng chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ em trong bốn năm qua, những kiến thức mà

em học được ở quý thầy cô là những tài sản vô cùng quý giá

góp phần hỗ trợ em thực hiện nghiên cứu và hoàn thành

luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả đã viết ra nhiều cuốn sách hay về phương pháp dạy học để em tham

khảo - một sự hỗ trợ rất lớn trong quá trình thực hiện đề tài

Do lần đầu thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học nên tất nhiên sẽ không tránh khỏi những sai sót dù đã rất cố

gắng Vì vậy, thực sự rất mong sự thông cảm và đóng góp ý

kiến từ quý thầy cô và các bạn

Lời cuối, em xin gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến tất cả mọi người

Cần Thơ, tháng 5 năm 2013 SVTH: Lê Mỹ Nhân

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày tháng … năm 2013

Ký tên

Trần Quốc Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Đặt vấn đề 6

2 Mục đích của đề tài 7

3 Giả thuyết khoa học 7

4 Nhiệm vụ của đề tài 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Phương tiện nghiên cứu 8

7 Đối tượng nghiên cứu 8

8 Các giai đoạn thực hiện đề tài 8

9 Các chữ viết tắt trong đề tài 8

Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ THPT 10

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT 10

1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta 10

1.1.2 Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới 10

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH 10

1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều 10

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS 11

1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học 12

1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào QTDH 12

1.3 Những định hướng đổi mới PPDH vật lý THPT 13

1.3.1 Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực HS 13 1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kỹ năng 18

1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm 19

1.4 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý ở lớp 12 theo chương trình THPT mới 19

1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của GV, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 19

Trang 5

1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 20

1.4.3 Rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức vật lý 21

1.4.4 Tận dụng những phương tiện, thiết bị DH mới, sáng tạo đồ dùng DH 22

1.4.5 Tăng cường áp dụng PPDH nhóm hay hợp tác 22

1.5 Đổi mới việc soạn giáo án 24

1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án 24

1.5.2 Một số HĐHT phổ biến trong một tiết học 24

1.5.3 Cấu trúc của giáo án soạn theo các HĐHT 28

1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá 28

1.6.1.Các hình thức kiểm tra 28

1.6.2 Đánh giá KQHT của HS phải có tính mục đích 31

1.6.3 Yêu cầu về mức độ nhận thức khi ra đề 31

1.6.4 Một số kĩ năng đặt câu hỏi theo mức độ nhận thức Bloom 31

1.6.5 Vai trò của ĐGKQHT của HS thong qua thi và kiểm tra 34

1.6.6 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra khi ĐGKQHT của HS 34

Chương 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ THPT 36

2.1 Phương pháp tự học 36

2.1.1 Phương pháp tự học trong quá trình dạy học Vật lý 36

2.1.2 Phương hướng rèn luyện phương pháp tự học 37

2.1.3 Vai trò của giáo viên trong việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học 38

2.2 Các phương pháp nhận thức khoa học áp dụng trong dạy học Vật lý 39

2.2.1.Phương pháp thực nghiệm 39

2.2.2 Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lý 42

2.2.3 Phương pháp làm việc với sách giáo khoa 46

2.2.4 Phương pháp dạy học hợp tác ( dạy học theo nhóm) 48

2.2.5 Hướng dẫn HS giải bài tập VL 50

Chương 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG VII LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG, VẬT LÝ 12 NC 56

3.1 Đại cương chương 7 Lượng tử ánh sáng, vật lí 12 NC 56

Trang 6

3.1.1 Mục tiêu của chương 56

3.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung 57

3.2 Thiết kế một số bài trong chương 7 Lượng tử ánh sáng 58

3.2.1 Bài 43 Hiện tượng quang điện ngoài Các định luật quang điện 59

3.2.2 Bài 44: Thuyết lượng tử ánh sáng Lưỡng tính sóng - hạt ánh sáng 68

3.2.3 Bài 46: Hiện tượng quang điện trong Quang điện trở và pin quang điện 74

3.2.4 Bài 48: Hấp thụ và phản xạ lọc lựa ánh sáng Màu sắc các vật 80

Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87

4.1 Mục đích thực nghiệm 87

4.2 Nội dung thực nghiệm 87

4.3 Đối tượng thực nghiệm 87

4.4 Kế hoạch giảng dạy 87

4.5 Tiến trình dạy các bài học 87

4.6 Phương pháp thực nghiệm 87

4.7 Kết quả thực nghiệm 87

4.7.1 Thiết kế đề kiểm tra 87

4.7.2 Kết quả kiểm tra 95

4.8 Phụ bản thực nghiệm sư phạm 96

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

học nói riêng và trong việc học tập nói chung

Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kinh tế thị trường cùng với

sự bùng nổ của thông tin thì lượng kiến thức mà con người cần phải bổ sung là vô cùng to lớn Vì vậy mà lượng kiến thức các em học sinh Trung học phổ thông cần phải trang bị cho mình khi bước vào đời ngày càng nhiều, nó là một tất yếu của sự phát triển Là giáo viên ta phải biết vận dụng những phương pháp dạy học tích cực

để có thể trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết cho học sinh của mình trong khi thời gian cho một tiết dạy trên lớp là khá ngắn ngủi Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”

Yêu cầu cấp bách đổi mới PPDHVL ở trường phổ thông, dạy và học chú trọng rèn luyện PP tự học là đặc trưng của các PPDH tích cực Để HS có thể tiếp thu và vận dụng kiến thức vật lý một cách hiệu quả vào cuộc sống thì đòi hỏi bản thân người GV phải đổi mới ngay phương pháp dạy học cho phù hợp với lượng kiến thức và thời đại phát triển ngày nay

Tình hình thực tế DHVL ở trường phổ thông vẫn còn truyền thụ kiến thức một chiều, HS tiếp thu thụ động nên cần đổi mới về cách dạy và cách học Trong các phương pháp học thì phương pháp tự học là cốt lõi vì “không ai có thể học thay ai được” Là một GV tương lai tôi nhận thấy phương pháp tự học là phương pháp tích cực một mặt giúp HS chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, mặt khác tiết kiệm

Trang 8

được thời gian truyền thụ kiến thức trên lớp mà qua đó HS sẽ nâng cao tinh thần chủ động, tích cực và tự giác tìm tòi tiếp thu chiếm lĩnh kiến thức của mình

Là một GV tương lai cần phải bồi dưỡng và phát triển năng lực DHVL để đáp ứng nhu cầu đổi mới đã được đặt ra

Vì lý do trên em chọn đề tài: Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS khi giảng dạy

chương 7 Lượng tử ánh sáng, Vật Lý 12 nâng cao Nhằm thực hiện phương

châm hướng dẫn học sinh tích cực, tự lực, tự giác giải quyết vấn đề trong học tập

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong dạy học Vật Lý THPT

3 Giả thuyết khoa học

Có thể vận dụng LLDH hiện đại ,tiến hành bồi dưỡng cho HS PP tự học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Thứ nhất: Nghiên cứu vấn đề đổi mới PPDHVL ở THPT

Thứ hai :Nghiên cứu cơ sở lý luận của của một số PP tự học trong dạy học Vật

Lý ở THPT

Thứ ba :Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương 7 Lượng tử ánh sáng, Vật Lý 12

nâng cao và vận dụng soạn giáo án các bài:

 Bài 43 Hiện tượng quang điện ngoài Các định luật quang điện

 Bài 44 Thuyết lương tử ánh sáng lưỡng tính sóng- hạt của ánh sáng

 Bài 46 Hiện tượng quang điện trong quang điện trở và pin quang điện

 Bài 48 Hấp thụ và phản xạ lọc lựa ánh sáng Màu sắc các Vật

Thứ tư :Thực nghiệm sư phạm, đưa giáo án vào thực tế giảng dạy, thống kê lại

kết quả từ các phiếu đánh giá Từ đó, rút ra tác dụng của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận: Các SGK VLTHPT, TLBDGV, TL về PPDHVL…

Quan sát sư phạm

Học tập và trao đổi kinh nghiệm với thầy cô, bạn bè

Tổng kết kinh nghiệm

Trang 9

Thực nghiệm SP

6 Phương tiện nghiên cứu

Nghiên cứu các tài liệu:

- Lí luận dạy học vật lý

- Phân tích chương trình

- Chuyên đề phương pháp giáo dục

- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên 12

- Các dụng cụ thí nghiệm có sẵn và chế tạo, các tranh vẽ, hình ảnh

- Trao đổi học tập kinh nghiệm từ các thầy cô,bạn bè

- Quan sát sư phạm và thực nghiệm sư phạm

- Sử dụng máy tính là công cụ nghiên cứu, giảng dạy thực nghiệm và trình bày đề tài

7 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động dạy học của GV và HS trong đó tổ chức các hoạt động học tập bồi dưỡng năng lực tự học cho HS khi giảng dạy chương 7 Lượng tử ánh sáng, Vật Lý

12 nâng cao

8 Các giai đoạn thực hiện đề tài

Giai đoạn 1: Tìm hiểu đề tài, trao đổi với Giáo viên hướng dẫn, chọn đề tài nghiên cứu

Giai đoạn 2: Lập đề cương: Chi tiết, khoa học, hoàn thiện

Giai đoạn 3: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

Giai đoạn 4: Nghiên cứu nội dung, phương pháp dạy chương 7.Lượng tử ánh sáng, Vật Lý 12 nâng cao Thiết kế giáo án một số bài học cụ thể

Giai đoạn 5: Thực nghiệm sư phạm

Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng Powerpoint

Giai đoạn 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp

9 Các chữ viết tắt trong đề tài:

Phương pháp dạy học : PPDH Giai đoạn : GĐ

Giáo viên : GV Phương pháp: PP

Phương pháp thực nghiệm : PPTN Dạy học : DH

Trang 10

Giáo án : GA PP nhận thức : PPNT Vật lí : VL Trung học phổ thông : THPT

Sách giáo khoa : SGK Hoạt động : HĐ

Vật lí 12 nâng cao : VL12NC Học sinh : HS

Điều kiện : ĐK Nội dung : ND

Trang 11

Chương 1 ĐỔI MỚI PPDH MÔN VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT



1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT

1.1.1 Mục tiêu mới của giáo dục nước ta

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số

16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu : “Phải phát huy tính

tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” ([12], Tr 5 )

Nghị quyết hội nghị BCH TW ĐCS VN, khóa VIII đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ cơ bản

của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thể chế thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội …” [12, tr 49]

1.1.2 Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới

Nghị quyết TW2, khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đổi mới

mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc thụ lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện

và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo”.([12], Tr 50)

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PPDH

1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều

Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục

của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá ; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi nhớ

và nhắc lại

Theo cách dạy đó GV trình bày, giảng giải các kiến thức cần truyền thụ cho Hs

Trang 12

một cách rõ ràng, chính xác đầy đủ, dễ hiểu, biểu diễn các thí nghiệm một cách thành công, đúng như đã nói trong lí thuyết hay đúng những mong muốn cần đạt được GV chỉ quan tâm đến việc dạy của mình sao cho hoàn mĩ, còn HS có hiểu được, làm được, phát triển được hay không là trách nhiệm của HS Cách dạy đó rõ ràng là dồn HS vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội để suy nghĩ, phát triển

ý thức, thực hiện những suy nghĩ mới mẻ của mình, còn GV thì trở thành nhân vật

đầy quyền uy khiến HS phải sợ hãi và cha mẹ HS phải kính nể Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại

thói quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Những GV tâm huyết với nghề hết lòng yêu thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong học tập Nhưng không ít GV còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không thích ứng được với đòi hỏi mới

Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất

là tổ chức cho HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đa dạng theo hướng tìm tòi nghiên cứu phù hợp với phương pháp thực nghiệm Bất kì ở đâu và nơi nào

sự sáng tạo chỉ có thể nảy sinh trong khi giải quyết vấn đề Bởi vậy, tổ chức, lôi cuốn HS tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề học tập là biện pháp cơ bản

để bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho HS

Để thực hiện phương pháp dạy học mới hướng vào việc tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải

có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với VL học thì đặc biệt quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới

để tạo diều kiện cho việc thực hiện mục tiêu của dạy học

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS

Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học Bất cứ một việc HT nào

đều phải thông qua tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Ngay trên ghế nhà trường học sinh đã phải được rèn luyện khả năng tự học,

tự lực hoạt động nhận thức

Trang 13

Hơn nữa trong cuộc đổi mới của con người ở thời đại hiện nay, những điều học được trong nhà trường chỉ rát ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều mới có thể làm việc được, mới theo kịp sự phát triển rất nhanh của khoa học kĩ thuật hiện đại Bởi vậy, ngay trên ghế nhà trường học sinh đã phải được rèn luyện khả năng tự học, tự lực hoạt động

nhận thức Vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen HT thụ động, dựa váo sự giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu Do đó kĩ năng tự học đã yếu lại còn yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không phải chỉ áp dụng cho những

HS ở các lớp trên

1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học

Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất

là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của

GV không còn là giảng dạy, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực

PPDH tích cực này còn mới mẻ ở nước ta Có rất nhiều điều cần phải nghiên cứu, bàn bạc, thử nghiệm trong thực tế Nhưng rõ ràng là cách học này đem lại cho HS niềm vui sướng, hào hứng, nó phù hợp với đặc tính ưa hoạt động của đa số trẻ em Việc học đối với các em trở thành niềm hạnh phúc, giúp các em tự khẳng định được mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Bởi thế việc dạy học tích cực này được đa số HS hưởng ứng nhiệt liệt

1.2.4 Áp dụng các PP tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào QTDH Nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ

XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết

về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là lí thuyết thích nghi của J.piaget và

Trang 14

“lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki ), nhiều phương pháp dạy học mới

đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan

1.3 Những định hướng đổi mới PPDH Vật lý ở THPT:

1.3.1 Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS

Trong việc dạy học truyền thống, GV thường sử dụng kết hợp nhiều phương pháp thuộc các nhóm khác nhau Ví dụ: giảng giải – minh họa, xem thí nghiệm biểu diễn – vấn đáp, đọc tài liệu – báo cáo… Việc thay đổi PPDH không những có tác dụng khắc sâu được kiến thức, kỹ năng mà HS cần chiếm lĩnh mà còn có tác dụng cho tiết học đỡ nhàm chán, tạo thêm hứng thú học tập cho HS

Như vậy, trước hết, có thể đổi mới PPDh bằng cách tổ chức việc dạy học trong

đó sử dụng linh hoạt các PPDH truyền thống nhằm tích cực hóa hoạt động của HS Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương pháp nặng

về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kỹ năng

Theo quan điểm củ về việc dạy học thì GV là người truyền thụ kiến thức, còn HS

là người tiếp thu kiến thức

Theo quan điểm mới về việc dạy học, vài tró chính yếu của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS, sao cho HS có thể tự lực chiếm lính những kiến thức kỹ năng mới Trong giờ học, mọi HS đều làm việc hết sức tích cực, GV trong có vẽ nhàn nhã, nhưng kì thực cũng làm việc hết sức căng thẳng để thu thập thông tin phản hồi và điều khiển kịp thời hoạt động của HS

Hoạt động học của HS rất đa dạng, tuy nhiên, ta có thể chia thành 3 nhóm, dựa theo cấu trúc khái quát của tiến trình giải quyết các vấn đề có tính khoa học (tiến trình khoa học) Đó là các nhóm hoạt động sau:

 Nhóm các hoạt động thu thập thông tin

- HS sẽ thu thập được những thông tin cần thiết trong những hoạt động sau:

- Quan sát các hiện tượng thiên nhiên, các tranh ảnh, mô hình, thí nghiệm mà GV biểu diễn, xem băng hình, đĩa CD…

- Thực hành, bản thân HS làm thí nghiệm, đo đạt lấy số liệu…

- Đọc SGK và các tài liệu khác, tra cứu bảng biểu…

Trang 15

- Nghe thông báo của GV, báo cáo của bạn bè, các phương tiện truyền thông…

- Nhóm các hoạt động xử lí thông tin

-Hoạt động xử lí thông tin đòi hỏi tư duy sáng tạo cao HS được hướng dẫn để lập và thực hiện kế hoạch xử lí thông tin thu thập được nhằm rút ra những kết luận cần thiết Hoạt động xử lí thông tin có thể là:

- Suy luận lôgic (phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, khái quát hóa…) để đưa ra một kết luận từ những dữ liệu đã có

- Lập biểu bảng, vẽ đồ thị… từ đó rút ra quy luật của hiện tượng

- Đề ra một dự đoàn và thiết kế PÁTN nhằm kiểm tra dự đoán đó

 Nhóm các hoạt động truyền đạt thông tin

- Khi HS trình bày được những hiểu biết của mình cho người khác thì những kiến thức đó mới thực là của các em Hoạt động truyền đạt thông tin không những góp phần củng cố kiến thức, phát triển năng lực ngôn ngữ của HS mà còn giúp các em rèn luyện các phẩm chất cần thiết để hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng

 Hoạt động truyền đạt thông tin của HS có thể thực hiện dưới các hình thức sau:

- Thông báo bằng lời những kết quả xử lí thông tin, những kết quả thí nghiệm, những dữ liệu điều tra của cá nhân hay của nhóm

- Tham gia thảo luận, tranh luận về một nội dụng học tập

- Viết một báo cáo nhỏ

- Trình bày một biểu đồ, một đồ thị, một hình vẽ

Cần chú rằng hoạt động vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã chiếm lĩnh được

để giải quyết một vấn đề, một bài tập… là tổng hợp các hoạt động thu thập, xử lí

và truyền thông tin Thực vậy, chẳng hạn như khi giải bài tập: HS phải đọc kỹ để nắm được đề bài (thu thập thông tin); tìm và thực hiện cách giải (xử lí thông tin);

và viết lời giải (truyền đạt thông tin)

Thành công của việc tổ chức hoạt động học tập nói trên phụ thuộc không những vào khả năng của GV mà còn phụ thuộc vào thói quen và thái độ học của HS Chúng ta cần tiến hành từng bước, đổi mới đần từng hoạt động trên lớp để không những GV quen dần với PPDH dựa trên nguyên tắc tổ chức cho HS hoạt động mà

Trang 16

còn để HS chuyển dần từ thói quen học tập thụ động sang thói quen học tập tích cực, sáng tạo Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải thực hiện theo tinh thần kiên trì, không nóng vội

Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm và theo lớp là các hình thức học tập vẫn được áp dụng trong những PPDH truyến thống Trong các hình thức trên, hình thức học tập cá nhân lâu nay vấn được xem là hình thức học tập cơ bản nhất và có hiệu quả nhất

Theo tinh thần của các PPDH tích cực, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản Tuy nhiên, GV phải tìm cách kích thích được hứng thú học tập, làm cho HS học tập một cách tự giác, chủ động, từ đó phát huy được tính sáng tạo của mỗi cá thể trong học tập

Cách phân chia các hình thức hoạt động thành hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác cũng chỉ có tính tương đối Các hình thức hoạt động này thường được tiến hành xen kẻ lẫn nhau Ví dụ, hoạt động thực hành Vật lý là hoạt động thường được tiến hành theo nhóm, những việc thực hiện các thí nghiệm lại là nhiệm vụ bắt buộc của cá nhân Trong tiết thực hành, mỗi nhóm thực hiện chung một bộ thí nghiệm

và phải thực hiện kế hoạch thí nghiệm theo đúng sự hướng dẫn chung của GV đối với toàn lớp Tuy nhiên, việc lấy số liệu, xử lí số liệu và viết báo cáo thực hành phải do từng HS tự làm

 Hình thức học tập theo nhóm được tiến hành theo trình tự sau:

GV:

+ Tổ chức thành các nhóm Nếu lớp học được trang bị các bàn dài thì mỗi nhóm gồm HS của 1 hoặc 2 bàn cạnh nhau; nếu lớp được trang bị thành bàn đôi thì mỗi nhóm gồm HS của 3 bàn ngồi cạnh nhau

+ Trao nhiệm vụ học tập cho các nhóm và hướng dẫn các nhóm thực hiện Ví dụ, nếu là một nội dung nghiên cứu một hiện tượng bằng thực nghiệm thì có những yêu cầu sau: nêu mục đích thí nghiệm, yêu cầu kiểm kê dụng cụ thí nghiệm, nghiên cứu PÁTN và cách lắp gáp thí nghiệm, cách lấy số liệu, thảo luận về cách

xử lí số liệu, thảo luận về kết quả và kết luận thu được…

Trang 17

HS:

+ Thực hiện các hoạt động cá nhân và nhóm theo yêu cầu của GV

+ Thảo luận trong nhóm về kết luận thu được và cử người báo cáo kết quả trước lớp

Tuy nhiên không thể tổ chức dạy học theo nhóm một cách tràn lan vì không có điều kiện thời gian Trong mỗi tiết học chỉ nên tổ chức một lần cho HS hoạt động theo nhóm để tìm hiểu một nội dung phù hợp nhất Những nội dung phù hợp với việc tổ chức hoạt động theo nhóm có thể là: bài học nghiên cứu một vấn đề thực nghiệm, bài học nghiên cứu một khái niệm mới, một định luật Vật lý có những điểm cần tranh luận cho sáng tỏ, tránh sự hiểu lầm; bài học vận dụng những hiểu biết vào một tình huống mới…

a Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học

Một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nỗ thông tin Những ứng dụng kỹ thuật rất hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong tương lai không xa Ta có thể kể rất nhiều ví dụ: sự phát triển của máy tính điện tử, của máy thu thanh, máy thu hình, máy ghi âm, điện thoại, máy ảnh… Vì những hiểu biết của chúng ta rất mau chống trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong

xã hội hiện đại phải biết cách cập nhật thông tin Một trong những cách khả dĩ là phải biết tự học

Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay ở nhà, mỗi HS phải thực sự động não để tiếp thu những kiến thức đã học Không ai có thể học thay ai được Vì vây, trong những hoạt động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS Chẳng hạn, GV có thể huấn luyện cho HS cách nắm bắt nội dung chính của một phần tài liệu, tập cho các em cách suy nghĩ và hành động để giải quyết một vấn đề nho nhỏ, rèn luyện cho các em thói quen tra cứu tài liệu, biểu bảng…

Việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là việc giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp của thời gian dành cho mỗi môn học

GV phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội dung dành cho HS

Trang 18

tự tìm hiểu ở nhà Nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra kết qủa sự tự học của các em Có như thế chúng ta mới có thời gian để thực hiện việc đổi mới PPDH

b Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức

Những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống và lao động của con người trong xã hội hiện đại đang càng ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng Những kiến thức kỹ năng dựa vào chương trình phổ thông tuy đã được chon lọc cẩn thận nhưng không tránh khỏi tình trạng một số sẽ trở thành lạc hậu và một số bị thiếu hụt so với yêu cầu của cuộc sống Trong nhà trường, chúng ta chỉ dạy cho HS những nguyên tắc đại cương Khi vào đời HS sẽ gặp phải những tình huống thực tế

vô cùng phong phú, đa dạng Làm sao cho các em có thể giải quyết được những tình huống đó, vùng vẩy được để đem lại cuộc sống ấm no? Không thể xóa đói, giảm nghèo nếu chính những người đói nghèo không biết bươn trải một cách khoa học để vươn lên Những thực tế đó đã đặt cho chúng ta nhiệm vụ phải bồi dưỡng cho HS những kỹ năng sống cần thiết, bên cạnh việc truyền thụ hệ thống kiến thức Trong số những kỹ năng cần rèn luyện cho HS, người ta đặc biệt chú ý tới các kỹ năng thực hiện các tiến trình khoa học Đó là các kỹ năng thu thập thông tin, xử lí thông tin và truyền đạt thông tin

Các kỹ năng thu thập thông tin trong học tập bao gồm: kỹ năng đọc sách, kỹ năng đọc bảng biểu, đồ thị, biểu đồ…, tóm tắt đề bài, sử dụng thư viện…, kỹ năng quan sát, lấy số liệu thực nghiệm từ thí nghiệm, lấy số liệu thống kê từ thực tế, khai thác mạng Internet…

Các kỹ năng xử lí thông tin trong học tập bao gồm: kỹ năng xây dụng bảng, biểu

đồ, vẽ đồ thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, suy luận tương tự, khái quát hóa, các kỹ năng so sánh, đánh giá…

Các kỹ năng truyền đạt thông tin trong học tập, bao gồm: trình bày báo cáo, thảo luận, viết báo cáo, trình bày bảng, trình bày triển lãm…

Các kỹ năng này được dựa vào các hoạt động học tập thích hợp theo một chiến lược đã được hoạch định trước

c Tăng cường làm thí nghiệm Vật lý trong dạy học

Trang 19

Vật lý học, đặc biệt là Vật lý phổ thông, là một khoa học tự nhiên Các khái niệm Vật lý, các định luật Vật lý đều phải gắn với thực tế Trong chương tình Vật lý phổ thông, nhiều khái niệm Vật lý và hầu hết các định luật Vật lý được hình thành bằng con đường thực nghiệm Thông qua thí nghiệm, ta có thể rèn luyện được kỹ năng thực hành đồng thời rèn luyện óc suy đoán, tư duy lí luận Vật lý

Xét về mặt PPDH, ta có thể chia thí nghiệm Vật lý phổ thông thành 3 loại: các thí nghiệm do HS làm ngay trên lớp, trong tiết học, dưới hình thức cá nhân hay theo nhóm (thí nghiệm đòng loạt, trận tuyến,…); các thí nghiệm do GV hay một nhóm HS làm để biểu diễn ngay trên lớp, trong tiết học (thí nghiệm biểu diễn, chứng minh…) và các thí nghiệm mà HS thực hiện trong phòng thí nghiệm để lấy

số liệu, viết báo cáo dưới dạng một bài làm (thí nghiệm thực hành)

So với các chương trình cũ thì nội dung của các thí nghiệm hầu như không có gì mới; tuy nhiên, sự đổi mới phải thể hiện ở cung cách mà chúng ta cho HS làm thí nghiệm Phải cho HS đến với thí nghiệm một cách chủ động và phải tạo cho các

em cơ hội phát huy được những suy nghĩ sáng tạo trong thực hành

Muốn thế, không thể cho HS làm thí nghiệm theo kiểu chỉ đâu, làm đấy một cách máy móc, mô tả các hiện tượng Vật lý xảy ra đã quá rõ ràng…

Cần cho HS nắm được mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thực hành, tham gia làm thí nghiệm, xử lí kết quả và thảo luận cho ra kết quả cần thiết

Ngoài ra, đối những thí nghiệm Vật lý khó làm hoặc đòi hỏi nhiều thời gian thì ta

có thể cung cấp cho HS các số liệu thực nghiệm mà người ta đã thu được trước đó

để cho các em xử lí kết quả Hình thức này gọi là thí nghiệm giấy và bút chì Chẳng hạn ở chương trình Vật lý 10, thí nghiệm về sự nóng chảy và đông đặc của băng phiến thường là thí nghiệm loại này

1.3.2 Rèn luyện và phát triễn các kỹ năng

Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm, điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các

nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập VL

Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến và các thiết bị tương đối hiện đại của VL, kĩ

năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm VL

Trang 20

Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình vật lí, cũng như đề ra phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra

Vận dụng kiến thức để mô tả, giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí, giải các bài tập vật lí

Phát hiện và giải quyết vấn đề vật lí ở mức độ phổ thông trong khoa học, đời sống

và sản xuất

Sử dụng các thuật ngữ vật lí, các biểu bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin

1.3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm

Có hứng thú học vật lý, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng

góp vật lý học cho sự tiến bộ xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học

Có thái độ khách quan trung thực, có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có tinh thần hợp tác trong việc học tập vật lý, cũng như áp dụng các hiểu biết đã đạt

Một thói quen tồn tại đã lâu đời trong nền giáo dục ở nước ta là GV luôn chú ý giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng, đầy đủ cho HS ngay cả khi những điều GV nói đã viết đầy đủ trong sách giáo khoa, thậm chí GV nhắc lại y nguyên rồi viết lại giống hệt trên bảng

Lúc đầu HS chưa quen với phương pháp học mới nên vẫn theo cách cũ, chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép Nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn, hiểu nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng công thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố mà ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới,

HS sẽ tự tin và hào hứng Càng thành công, càng phấn chấn, tích cực hơn và đạt được thành công lớn hơn GV cần biết chờ đợi, kiên quyết yêu cầu học sinh tự học,

Trang 21

“GV chỉ giảng giải khi học sinh tự đọc không thể hiểu được kiên quyết không làm

thay HS điều gì mà họ có thể tự làm được trên lớp hay ở nhà

Muốn cho HS hoạt động tự lực thành công thì GV cần phải biết phân chia vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được

Trong quá trình giải quyết VĐHT, GV cần cân nhắc việc gì HS làm được, việc gì cần trợ giúp, giảng giải phát hiện VĐ Trong mọi bài học, GV tìm ra một số chỗ để

HS tự lực hoạt động” ([12], Tr 52)

1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Kiểu dạy học nêu và GQVĐ (dạy học nêu vấn đề) là kiểu dạy học trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi GQVĐ theo cách của các nhà khoa học, GV vừa tạo cho

HS nhu cầu, hứng thú HĐ sáng tạo; vừa rèn luyện cho họ khả năng sáng tạo

Tư duy chỉ bắt đầu khi trong óc nảy sinh vấn đề, nghĩa là người học nhận thức được sự mâu thuẩn giữa nhiệm vụ cần giải quyết và trình độ, khả năng, kiến thức

đã có của mình không đủ để giải quyết

Có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ HĐ xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kĩ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả

- Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp giải quyết vấn đề

Phương pháp tìm tòi nghiên cứu GQVĐ một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:

+ Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi

+ Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát + Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế

+ Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới

+ Phát biểu kết luận

Trang 22

Muốn thực hiện được các khâu của phương pháp này, HS phải thực hiện việc thu thập thông tin, xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này lại có hai lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau: hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Sự kết hợp đó được thực hiện thông qua các suy luận lôgic như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa v.v…

Đối với Vật lí học thì quan sát thấy gì mới chỉ là một nữa, chỉ mới là nhận biết những dấu hiệu bên ngoài và điều này không quá khó khăn Điều khó khăn và quan trọng hơn là thực hiện các phép suy luận để rút ra kết quả khái quát, phổ biến chung cho mọi hiện tượng Điều thứ hai này GV rất khó nắm bắt Cần phải tập cho

HS phát biểu ý kiến của họ thành lời mới biết được họ có hiểu hay không Bởi vậy, cần kiên trì tạo điều kiện cho HS phát biểu, tranh luận

1.4.3 Rèn luyện cho HS phương pháp nhận thức vật lí

Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên

- Về PPTN: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông tin hoặc củng cố bảng số

liệu kết quả thí nghiệm Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên dành cho

HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn

- Về PP mô hình: Nhờ phương pháp mô hình mà người ta có thể biểu diễn bản

chất của hiện tượng ngay cả khi không quan sát được đối tượng phản ánh Ngoài

mô hình ảnh, còn hay phổ biến mô hình toán học

- Về PP tương tự: Phương pháp tương tự là phương pháp nhận thức khoa học,

trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận tương tự để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát

 Phương pháp tương tự gồm các giai đoạn cơ bản sau :

+ Tập hợp các dấu hiệu của đối tượng cần nghiên cứu và những dấu hiệu của đối tượng đã biết định đem đối chiếu

Trang 23

+ Tiến hành phân tích tìm những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng Kiểm tra xem các dấu hiệu giống nhau có phải là dấu hiệu bản chất của đối tượng

- Sửa chữa, phục chế các PTDH, TTBTN hiện có

- Chế tạo, sử dụng đồ dung DH, các TN đơn giản

- Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng CNTT trong DHVL” ([17], Tr 13)

Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng,

có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn”

Nhờ sự phát triển của KHKT, quá trình DH đã sử dụng phương tiện DH:

- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead

- Phần mềm hổ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projector

- CNTT, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính

- Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện , networking để DH

Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, coi đó là phương tiện để nhận thức; việc sử dụng phương tiện DH tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của HS trên tất cả các bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp và bình diện trực quan gián tiếp

Trang 24

Hình thức hội thảo là người dạy tổ chức và điều khiển các thành viên trong lớp học trao đổi ý kiến và tư tưởng của mình về nội dung học tập, qua đó đạt được mục đích dạy học

Hai hoặc nhiều người trao đổi ý kiến với nhau, ta nói họ đang thảo luận Thảo luận có thể áp dụng với mọi hoạt động của lớp học đòi hỏi có sự tham gia hợp tác

để tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề được đặt ra trong bài học GV là người nêu vấn đề, khích lệ người học thảo luận nhằm đạt mục đích của bài học, do đó hình thức này cần sự tham gia tích cực của tất cả mọi người

b Dạy học với hình thức hợp tác, thảo luận theo nhóm nhỏ

Dạy học với hình thức hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình

về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV

c E-learning

Học tập (Learning) là gì? Là việc xử lí những thông tin mà người học thu được,

nó được tạo nên sự thay đổi hoặc làm tăng kiến thức và khả năng, năng lực của người học

E-learning là việc thực hiện các chương trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng thông qua các phương tiện điện tử E-learning liên quan tới việc sử dụng máy tính hoặc các thiết bị điện tử trong một phương diện nào đó nhằm cung cấp tài liệu cho việc giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng

d Dạy học theo hình thức tổ chức thực hiện Dự án

Dự án là một dự định, một kế hoạch, trong đó xác định rõ mục tiêu, thời gian, tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và các hoạt động phải thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra.Dạy học theo dự án là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể

Trang 25

1.5 Đổi mới việc soạn giáo án

1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soạn GA

Giáo án là bản kế hoạch làm việc trên lớp của người GV với HS, vì vậy giáo án

phải có nội dung bài học đầy đủ, kế hoạch chi tiết về hoạt động của GV và HS

- Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt

động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV

- Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

+ Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào ? Mức độ đến đâu ?

+ Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào ?

HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có ? Những hoạt động đó của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm

+ GV phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục

+ Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì ?

a Quy trình soạn thảo một giáo án:

Bước 1: Lượng hóa mục tiêu kiến thức và kỹ năng của bài học

Bước 2: Chia bài học thành những đơn vị kiến thức

Bước 3: Hoạch định các hoạt động của học sinh ứng với từng đơn vị kiến thức

Bước 4: Tìm những hình thức học tập phù hợp với từng đơn vị kiến thức

Bước 5: Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ học sinh ứng với từng hoạt động Dự kiến những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lý

Bước 6: Xác định thời gian cho mỗi hoạt động

Bước 7: Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết hỗ trợ cho tiết học

b Nội dung của việc soạn giáo án

- Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học, nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến

thức, kĩ năng, thái độ

- Xác định những nội dung kiến thức của bài học

- Xác định công việc chuẩn bị của GV và HS, các phương tiện dạy học cần

sử dụng

Trang 26

- Thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức trong bài học

- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

- Soạn nội dung bài tập về nhà

 Một số hình thức trình bày giáo án

- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới

- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và HĐ của HS

- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu

đề nội dung chính và thời gian thực hiện

- Viết 4 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện

 Các nhóm bài học theo trình tự soạn giáo án

- Nhóm 1: hoạt động nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới

- Nhóm 2: hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình huống, đặt và nêu vấn đề

- Nhóm 3: hoạt động nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, quy nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề

- Nhóm 5: tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống

1.5.2 Một số HĐHT phổ biến trong một tiết học

Căn cứ theo những định hướng đổi mới diễn biến của hoạt động dạy học cụ thể như sau:

- GV tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ học tập cho HS ): HS hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh thêm các vấn đề cần tìm tòi giải quyết Dưới sự chỉ đạo của GV, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học các nội dung cụ thể đã xác định

- HS tự chủ, tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của GV, hoạt động học của HS diễn ra theo một tiến trình hợp lí, phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận

Trang 27

- GV chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS; bổ sung, tổng kết, khái quát hóa, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu dạy học các nội dung cụ thể đã xác định

 Sau đây là một số hoạt động phổ biến trong một tiết dạy:

Hoạt động 1: Kiểm tra kiến thức cũ

- Tái hiện kiến thức, trả lời câu hỏi

của GV

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

- Gợi ý cách trả lời, nhận xét đánh giá

Hoạt động 2: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

Hoạt động 3: Thu thập thông tin

- Nghe GV giảng Nghe bạn phát

- Yêu cầu HS hoạt động

- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu

- Giảng sơ lược nếu cần thiết

- Làm thí nghiệm biểu diễn

- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu

- Chủ động về thời gian

- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Tạo tình huống học tập

- Trao nhiệm vụ học tập

Trang 28

Hoạt động 4: Xử lí thông tin

- Thảo luận nhóm hoặc làm việc cá

nhân

- Tìm hiểu các thông tin liên quan

- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về

tính quy luật của hiện tượng

- Trả lời câu hỏi của GV

- Thảo luận với bạn bè

- Rút ra nhận xét hay kết luận từ

những thông tin thu được

- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS

Hoạt động 5: Truyền đạt thông tin

- Trả lời câu hỏi

- Giải thích các vấn đề

- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết

luận

- Báo cáo kết quả

- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề

- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc hình vẽ

- Hướng dẫn mẫu báo cáo

Hoạt động 6: Củng cố bài giảng

- Trả lời câu hỏi trắc nhiệm

Trang 29

Hoạt động 7: Hướng dẫn học tập ở nhà

- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà

- Ghi những chuẩn bị về sau

- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà

- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau

1.5.3 Cấu trúc của Giáo án soạn theo các HĐHT

Tên bài : ………

Tiết : ………theo phân phối chương trình

I Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ )

Hoạt động 1 (…phút) : Kiểm tra bài cũ (nếu cần)

Hoạt động 2 (…phút) : Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1

Hoạt động 3 (…phút) : Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2

Hoạt động i (…phút) : Đơn vị, kiến thứ kĩ năng i

Hoạt động n-1 (…phút) : Vận dụng, củng cố

Hoạt động n (…phút) : Hướng dẫn về nhà

IV Rút kinh nghiệm

Ghi những nhận xét của giáo viên sau khi dạy xong

1.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá

Đánh giá là một hoạt động khâu, công cụ quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục, có chức năng, khả năng điều khiển quá trình dạy học, là động lực để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện con người nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục

Trang 30

Nội dung đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực của học sinh theo mục tiêu giáo dục

Sử dụng phối hợp các hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau, kết hợp giữa trắc nghiệm từ luận và trắc nghiệm khác quan

Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của bài học và tình hình thực tế Cần sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá Tăng cường ứng dụng CNTT vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian đảm bảo chính xác

Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học và logic về nội dung

Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình : đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục Đánh giá không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình Đảm bảo phải đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, minh bạch ; phối hợp hợp lí và hiệu quả các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm để đạt được các yêu cầu, tiêu chí kiểm tra, đánh giá ; khắc phục tình trạng kiểm tra, đánh giá tạo cho HS thói quen học đối phó, học tủ, học lệch, học không

“tư duy”

1.6.1 Các hình thức kiểm tra

Hình thức kiểm tra thông dụng là trắc nghiệm, có 2 hình thức trắc nghiệm cơ bản

là trắc nghiệm tự luận (tự luận) và trắc nghiệm khách quan (trắc nghiệm)

Trắc nghiệm để đánh giá kết quả HT của HS so với mục tiêu môn học Trắc nghiệm là khách quan vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người chấm Đổi mới phương pháp ra đề kiểm tra đánh giá kết quả

HT của HS người ta thường dùng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

 Tự luận:

Là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi gồm các câu hỏi hoặc bài tập mà HS phải viết đầy đủ các câu trả lời hoặc bài giải theo cách riêng của mình

 Trắc nghiệm – Các hình thức trắc nghiệm

Trang 31

Trắc nghiệm là hình thức kiểm tra, thi mà trong đó đề kiểm tra, thi thường gồm nhiều câu hỏihoặc bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn hoặc nếu HS phải viết câu trả lời thì câu trả lời là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng Trắc nghiệm gồm các dạng sau:

- Trắc nghiệm đúng sai

- Trắc nghiệm điền khuyết

- Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)

- Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: bao gồm 2 phần là phần mở đầu (phần dẫn) và phần thông tin (12,trang 14)

Kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông

- Kiểm tra thường xuyên có kiểm tra vấn đáp và kiểm tra viết 15 phút

- Kiểm tra định kì được sử dụng sau khi kết thúc một hoặc một số chương, phần,

môđun, chủ đề, chủ điểm và gồm có : kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên, kiểm tra học kì, kiểm tra cuối năm (12, trang 15)

 Những ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:

- Cải thiện tính hợp thức, tính trung thực, tính nhạy cảm của bài kiểm tra; là

phương tiện thu nhận và chứa số lớn các câu trả lời trong thời gian ngắn

- Có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trên diện rộng trong một khoảng thời gian

ngắn

- Sự phân phối điểm trên một phổ rất rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng trình

độ của HS

- Cho phép đánh giá một cách hệ thống, chính xác ở mức cao Bài kiểm tra có rất

nhiều câu hỏi nên có thể kiểm tra được một cách hệ thống và toàn diện kiến thức

và kĩ năng, tránh được tình trạng học tủ, dạy tủ

- Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra

 Những nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:

- Khó khăn trong việc đánh giá một số kĩ năng: kĩ năng trình bày và viết ra những điều suy nghĩ, kĩ năng đưa ra các giải pháp trả lời mới và thậm chí là khả năng tự

viết lại những điều trong trí nhớ có liên quan đến bài kiểm tra

Trang 32

- Đưa ra các giải pháp sai cho HS Không có khả năng dẫn dắt việc đưa ra các câu trả lời

- Biên soạn câu hỏi khó, tốn nhiều thời gian

- Có thể có trường hợp HS có thể tìm ra cách trả lời hay hơn nên họ không thỏa mãn với phương án đã lựa chọn Hạn chế trong việc ĐG khả năng sáng tạo của HS

- Khó khăn trong việc truyền đạt miệng nội dung một câu hỏi trắc nghiệm KQ

 Quy trình biên soạn một đề kiểm tra viết môn Vật Lí:

Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra

Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học)

- Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng

- Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận biết, thông hiểu, vận dụng)

Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra

Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận

Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm

1.6.2 Đánh giá kết quả HT của HS phải có tính mục đích, phải dựa vào các nguyên tắc cơ bản của việc thi và kiểm tra

- Đánh giá kết quả HT của HS phải đồng thời thực hiện 2 mục đích vừa cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa là cơ chế điều khiển hữu hiệu chính

của quá trình này

- Những yêu cầu cơ bản về đánh giá kết quả HT của HS :

+ Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục

+ Đảm bảo tính hệ thống và toàn diện

+ Đảm bảo tính khách quan

+ Đảm bảo tính công khai

+ Đảm bảo tính khả thi

+ Đảm bảo độ tin cậy

+ Đảm bảo hiệu quả cao

- Việc thi và kiểm tra phải theo các nguyên tắc cơ bản: Nội dung thi, kiểm tra phải bám sát mục tiêu dạy học đã được ghi rõ trong chương trình, sách giáo khoa

Trang 33

bộ môn; việc thi, kiểm tra phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học, đảm bảo

ba yêu cầu “Hiểu- Nhớ- Vận dụng” về ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và thái độ, hình thức thi, kiểm tra phải phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc điểm môn học; nội dung và hình thức thi, kiểm tra phải đảm bảo việc phân loại trình độ học sinh, việc

tổ chức thi, kiểm tra phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện cần thiết cho kì thi được tiến hành nghiêm túc và thuận lợi; việc đánh giá kết quả thi, kiểm tra phải thông qua đáp án, thang điểm chi tiết, rõ ràng, phải được tiến hành đảm bảo tính khách quan, nghiêm túc, khẩn trương

- Vận dụng lí thuyết phát triển năng lực để đánh giá kết quả HT của HS, trong đó coi trọng khả năng vận dụng của HS thông qua việc nắm vững kiến thức, thành thục về phương pháp, nhạy bén về giao tiếp và tự kiểm điểm của bản thân

1.6.3 Yêu cầu về mức độ nhận thức khi ra đề:

Việc ra đề dựa trên cơ sở phát triển năng lực tư duy cho HS theo 6 mức độ nhận thức của Bloom.Tùy theo tính chất yêu cầu của mỗi kì thi để định ra tỉ lệ kiến thức phù hợp với từng mức độ nhận thức nhưng phải đầy đủ các mức độ khác nhau

Đề kiểm tra phải có độ khó phù hợp với thời gian làm bài Đề kiểm tra phải đo lường được mức độ nhận thức của học sinh

Nôi dung đề kiểm tra phải rộng bao quát chương trình học

1.6.4 Một số kỹ năng đặt câu hỏi theo mức độ nhận thức của Bloom

 Câu hỏi “Biết” hoặc “nhận biết”:

Mục tiêu của câu hỏi này là kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa,…Việc trả lời câu hỏi này giúp cho HS ôn lại kiên thức đã học, đã được đọc hoặc đã trải qua

Các cụm từ để hỏi thường là: “Cái gì”, “Bao nhiêu”, “Hãy phát biểu…”, “Hãy mô tả…”…

Ví dụ: Hãy phát biểu nội dung định luật III Niu-Tơn?

 Câu hỏi “hiểu” hoặc “thông hiểu”:

Mục tiêu của câu hỏi này là kiểm tra cách HS liên hệ kết nối các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa,…

Trang 34

Việc trả lời câu hỏi này giúp cho thấy HS có thể diễn tả, nêu ra các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong các kiến thức đã học

Các cụm từ để hỏi thường là: “Tại sao…”, “Hãy phân tích…”, “Hãy so sánh…”,

“Hãy liên hệ…”…

Chú ý chỉ phân tích ở những điểm đơn giản, những yếu tố cơ bản

Ví dụ: Hãy nêu một ví dụ trong thực tế về sự tương tác giữa hai vật?

Ví dụ: Bằng cách nào có thể nhặt được một chìa khóa bị rơi xuống giếng sâu?

Ví dụ: Bằng cách nào có thể nhặt được quả bóng rơi xuống hố sâu?

 Câu hỏi “phân tích”:

Mục tiêu của câu hỏi này là kiểm khả năng phân tích nội dung vấn đề từ đó đi đền kêt luận, tìm ra mối quan hệ hay chứng minh một luận đểm

Việc trả lời câu hỏi này cho thấy HS có khả năng tìm được các mối quan hệ mới,

tự diễn giải hoặc đưa ra kêt luận

Việc giải câu hỏi phân tích đòi hỏi HS phải thích được nguyên nhân từ thực tế để

đi đến kết luận

Câu hỏi này thường có nhiều cách giải

Ví dụ: Từ những kiến thức đã biết em hãy giải thích tại sau cầu thường được xây vòng lên?

 Câu hỏi “tổng hợp”:

Mục tiêu của câu hỏi này là kiểm khả năng HS đưa ra những dự đoán để giải quyết vấn đề vấn đề từ đó đưa ra câu trả lời học đề xuất có tính sang tạo

Trang 35

Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, các em phải tìm ra những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung

Việc giải câu hỏi tổng hợp khiến cho HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa

ra câu trả lời sáng tạo Cần cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra ý kiến sáng tạo của riêng mình Câu hỏi này cần một thời gian chuẩn bị khá dài vì vậy cần chuẩn bị cho HS có đủ thời gian tìm ra câu trả lời

Ví dụ: Hãy đề ra biện pháp làm giảm sụt áp trên đường dây tải điện?

1.6.5 Vai trò của đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc thi

và kiểm tra

- Đối với GV: giúp cho GV đánh giá được kết quả dạy của bản thân và kết quả học cuả HS, qua đó có thể rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp dạy học nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng dạy học trong trường phổ thông

- Đối với HS: giúp cho chính bản thân HS tự đánh giá được kết quả của chính mình, rèn luyện cho HS khả năng tự lực đặt và giải quyết các vấn đề, phản ứng nhanh nhạy, linh hoạt trước những tình huống “có vấn đề”, khả năng lí giải các vấn

đề tư duy logic…đồng thời rèn luyện cho HS tính kĩ luật, thúc đẩy việc HT của

HS

- Đối với các nhà quản lí giáo dục, kết quả thi và kiểm tra là những căn cứ pháp

lí cơ bản để đánh giá GV và HS, là những thông tin rất quan trọng làm cơ sở cho việc điều hành, chỉ đạo quá trình đào tạo trong nhà trường

1.6.6 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh

Mỗi hình thức thi, kiểm tra đều có mặt tích cực và hạn chế Để đánh giá kết quả

HT của HS đòi hỏi giáo viên phải biết phối hợp các hình thức thi, kiểm tra Cụ thể như sau :

- Đa dạng hóa các loại hình, các đề thi, kiểm tra cần phối hợp một cách hợp lí hình thức trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận, hình thức kiểm tra lí thuyết với kiểm tra thực hành, hình thức kiểm tra vấn đáp với kiểm tra viết, hình thức kiểm tra của GV với tự kiểm tra của HS ….nhằm tạo điều kiện đánh giá một cách toàn diện và hệ thống kết quả HT của HS

Trang 36

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm bài kiểm tra và xử lí kết quả thi, kiểm tra sao cho vừa nhanh, vừa chính xác, bảo đảm được tính khách quan và sự công bằng, hạn chế được tiêu cực trong việc đánh giá kết quả HT của HS

- Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình HT bao gồm:

+ Kiểm tra miệng

+ Kiểm tra thí nghiệm thực hành

+ Kiểm tra viết

+ Kiểm tra đề tài

Kiểm tra viết là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả HT của HS

Nó có thể là đánh giá định hình hoặc đánh giá tổng kết, đánh giá theo tiêu chuẩn hoặc đánh giá theo tiêu chí, ở đây người ta sử dụng dạng trắc nghiệm khách quan

và tự luận

Trang 37

Chương 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG



2.1 Phương pháp tự học

2.1.1 Phương pháp tự học trong quá trình dạy học Vật lí

a Tự học

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc

để chiếm lĩnh kiến thức Tự học không có nghĩa là không cần đến sự trợ giúp của

GV khi HS gặp khó khăn, không có sự tranh luận của HS với nhau Sự giúp đỡ của

GV có thể chia nhiệm vụ nhận thức thành những nhiệm vụ bộ phận vừa sức với

HS, đưa ra những nhận xét theo kiểu phản biện, nêu những câu hỏi định hướng trong quá trình làm việc của HS hoặc hướng dẫn HS xây dựng cơ sở định hướng khái quát các hoạt động khi làm việc với nguồn thông tin cụ thể (làm việc với bản

đồ, đồ thị, thí nghiệm vật lí) cơ sở định hướng khái quát của quá trình xây dựng các loại kiến thức vật lí khác nhau (khái niệm về các sự vật khác nhau, hiện tượng vật lí, khái niệm về đại lượng vật lí, định luật, qui tắc và nguyên lý cơ bản, thuyết, ứng dụng vật lí) cơ sở định hướng của việc giải bài tập sau đó

b Vai trò của việc đẩy mạnh phương pháp tự học ở HS

Lâu nay người ta thường quan niệm tự học là khi học ở nhà Nhưng sự thực việc

tự học có phương pháp phải bắt đầu từ trên lớp học Không thể tách rời việc học ở lớp với việc học ở nhà Trên lớp học, HS phải biết chú ý lắng nghe lời thầy giảng, tập trung tư tưởng theo dõi một cách không thụ động, biết đề xuất những thắc mắc, những chỗ chưa hiểu được rõ để thầy giải đáp, cùng với người thầy xây dựng bài giảng Thầy chú ý phát huy năng lực trí tuệ của trò, trò biết tự phát huy để hưởng ứng Trò là chủ thể không phải nhân vật thụ động, tiếp thu máy móc Nếu nói bí quyết để học giỏi cũng bắt đầu từ đây Đã từ lâu, các thầy giáo giảng dạy có kinh nghiệm cũng đã đề ra phương pháp dạy và học đạt yêu cầu này

Thời gian tự học ở nhà cũng rất quan trọng, đây là lúc HS có nhiều thời giờ suy ngẫm, đào sâu vấn đề, tiếp tục đề xuất những thắc mắc để thầy giải đáp, suy nghĩ

Trang 38

liên hệ hoặc vận dụng vào thực tế Việc học ở nhà còn phải làm tốt việc chuẩn bị trước theo yêu cầu của từng bài giảng Những HS xuất sắc thường phải học theo hướng này

Thay đổi phương pháp học của HS đòi hỏi sự nỗ lực, tâm huyết của GV và nhà trường và phải xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho các em, thì học mới say

mê, thay đổi phương pháp dạy và kiểm tra của GV nhất là đổi mới vấn đề thi cử, ra

đề của các cấp có thẩm quyền vì người ta thưòng nói: dạy học, thi cử như thế nào thì HS học như thế Vì vậy những vấn đề trên phải làm đồng thời nhưng không thể chờ đợi, trông chờ làm xong vấn đề này, mới làm vấn đề kia

c Mục tiêu của phương pháp tự học

Mục tiêu dạy học không chỉ ở những kết quả học tập cụ thể, ở những kiến thức kỹ năng cần hình thành, mà điều quan trọng hơn cả là ở bản thân việc học, ở khả năng

tự tổ chức và thực hiện quá trình học tập có hiệu quả của HS

Mục tiêu dạy HS phương pháp tự học chỉ đạt hiệu quả khi bản thân HS chủ động, tích cực, tự lực hoạt động và chỉ đạt được sau 1 quá trình rèn luyện của HS

2.1.2 Phương hướng rèn luyện phương pháp tự học

a HS cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực

Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn

phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết Song điều quan trọng là HS phải có hệ thống kỹ năng tự học Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với

HS, bởi lẽ muốn có kỹ năng tự học trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên

cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức Vì tri thức

là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và vận dụng vào trong thực tế thì việc rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc

phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Cạnh đó, HS cần vận dụng một cách sáng tạo các phương pháp học tập tích cực với nhau như: học nhóm, làm việc tập thể, thảo luận, làm thí nghiệm, nghiên cứu phát hiện vấn đề…

Như vậy, để hoạt động học tập của HS đạt chất lượng và hiệu quả, HS phải có tri thức và kỹ năng tự học Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để

Trang 39

HS biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho HS tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của HS

b Vận dụng hệ các phương pháp tự học vào chu trình tự học của HS

 Đó là một chu trình ba giai đoạn:

Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích,

phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học)

Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời

nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy

Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác

trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh

Chu trình tự nghiên cứu  tự thể hiện tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất

cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề

của nghiên cứu khoa học

c Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của HS

Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân HS để hoàn thành nhiệm vụ học tập đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học - đào tạo trong nhà trường Tự học

là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của HS Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của GV

Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, HS cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập

mà là một mục tiêu quan trọng của học tập Phương pháp tự học sẽ trở thành cốt

lõi của phương pháp học tập

2.1.3 Vai trò của GV trong việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học

Trang 40

Trong quá trình học tập, có rất nhiều việc phải làm: phát hiện vấn đề, thực hiện giải pháp đã đề xuất, xử lí kết quả thực hiện giải pháp, khái quát hóa rút ra kết luận mới và vận dụng kiến thức Trong một loạt công việc đó GV cần tính toán xem với thời gian cho phép lên lớp, trình độ HS trong lớp thì việc được giao cho HS tự làm (tự làm ngay trên lớp hay ở nhà), việc gì cần sự trợ giúp của GV, còn việc gì GV phải cung cấp thêm thông tin để HS có thể hoàn thành Trong mọi bài học, GV có

thể tìm ra một vài công việc để HS tự làm

Trong dạy học vật lý 10, ngoài việc tổ chức cho HS tự lực làm việc với các thí nghiệm, GV có thể cho HS tự nghiên cứu nhiều nội dung kiến thức ngay trên lớp như thiết lập phương trình biểu diễn sự biến đổi vận tốc trước và sau va chạm, thiết lập phương trình trạng thái khí lí tưởng… GV cần lựa chọn một số nội dung kiến thức mới trong các bài học để HS tự học ở nhà

Với mỗi chủ đề học tập, GV có thể giao cho mỗi nhóm HS những đề tài nghiên cứu nhỏ, đòi hỏi HS phải sưu tầm thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (sách báo, phương tiện nghe nhìn, quan sát tự nhiên…) xử lí thông tin theo nhiều cách (lập bảng đo các giá trị, biểu đồ, so sánh phân tích các dữ liệu ) rút ra kết luận và truyền đạt thông tin qua thảo luận, báo cáo viết…

Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, kết hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác với các hình thức khác nhau (cặp, nhóm, lớp) các hình thức học tập này rèn luyên cho HS kỹ năng làm việc tập thể trong công việc được giao

GV cần tiếp tục rèn luyện các kỹ năng làm việc tập thể mà HS có trong các giờ học trên lớp và cả trong tự học ở nhà

2.2 Các phương pháp nhận thức khoa học áp dụng trong dạy học vật lý 2.2.1 Phương pháp thực nghiệm

a Vai trò của phương pháp thực nghiệm

Sơ đồ ngắn gọn của quá trình nhận thức nói chung đã được Lênin nêu lên: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ từ duy trừu tượng đến thực tiễn –

Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức thực tế KQ”

Phù hợp với quá trình nhận thức nói chung mà Lênin đã chỉ ra, quá trình sáng tạo

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w