1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM vật lý bồi DƯỠNG NĂNG lực SÁNG tạo CHO học SINH KHI GIẢNG dạy CHƯƠNG VI SÓNG ÁNH SÁNG, vật lí 12 NÂNG CAO

94 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình, người giáo viên cần không ngừng học hỏi và áp dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau, lựa chọn các phương pháp cho phù hợp với từng nội dun

Trang 1

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÍ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Sư phạm Vật Lí

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC

SINH KHI GIẢNG DẠY CHƯƠNG VI SÓNG ÁNH

SÁNG, VẬT LÍ 12 NÂNG CAO

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS-GVC Trần Quốc Tuấn Đặng Thị Mỹ Hiếu

MSSV: 1080223

Lớp: Sư phạm Vật lí 02- K34

Trang 2

Là một giáo viên tương lai thì việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh thật sự là một quá trình nghiên cứu đầy hấp dẫn và có ý nghĩa sâu sắc Với niềm đam mê nghề nghiệp và ý chí phấn đấu học tập và rèn luyện em

đã cố gắng hoàn thành luận văn này

Và thực sự em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô

đã tạo mọi điều kiện để sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và truyền đạt vốn kiến thức vô cùng quý giá Đặc biệt em cũng xin tri ân đến thầy ThS - GVC Trần Quốc Tuấn Thầy đã tận tình hướng dẫn từ cách thức nghiên cứu đến việc sử dụng tài liệu nghiên cứu và dành nhiều thời gian để chỉnh sửa bài luận văn để kết quả đạt được hoàn thiện nhất

Do lần đầu thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học nên tất nhiên sẽ không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, thực sự rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến

từ quý thầy cô và các bạn

Lời cuối, xin chân thành cảm ơn một lần nữa đến quý thành cô, bạn bè đã đồng hành cùng em dưới mái trường Đại học Cần Thơ Em xin gửi lời chúc sức khỏe

và thành công đến tất cả mọi người.

Trang 3

Nhận xét của Giảng viên hướng dẫn

… ngày tháng … năm 2012

ThS – GVC Trần Quốc Tuấn

Trang 4

MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Nhiệm vụ của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đối tượng nghiên cứu 4

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 4

8 Các chữ viết tắt trong đề tài 4

CHƯƠNG 1: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông 5

1.1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta 5

1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 7

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông 7

1.2.1 Khắc phục cách dạy học truyền thống 7

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh 8

1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học 10

1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học 10

1.3 Mục tiêu của chương trình vật lí trung học phổ thông 11

1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản phù hợp với những quan điểm hiện tại 11

1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kỹ năng 11

1.3.3 Hình thành thái độ và tình cảm sau Error! Bookmark not defined 1.4 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lí lớp 12 theo chương trình trung học phổ thông mới… 12

1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho học sinh tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập 12

1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề 12

1.4.3 Rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức vật lí 13

1.4.4 Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị thí nghiệm mới Phát huy sáng tạo của giáo viên trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học 13

1.4.5 Tăng cường áp dụng phương pháp dạy học nhóm, hợp tác 15

1.5 Đổi mới việc soạn giáo án 16

1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án 16

1.5.2 Những nội dung của việc soạn giáo án 16

1.5.3 Một số hoạt động phổ biến trong một tiết học 17

1.6 Đổi mới phương pháp đánh giá môn Vật lí ở trường trung học phổ thông 20

Trang 5

1.7 Sử dụng công nghệ thông tin 24

1.7.1 Giới thiệu phần mềm 24

1.7.2 Khả năng hỗ trợ của phần mềm vi tính nhằm đổi mới phương pháp dạy học vật lí 25

CHƯƠNG 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 27

2.1 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh 27

2.1.1 Khái niệm năng lực 27

2.1.2 Sự hình thành và phát triển năng lực 27

2.1.3 Khái niệm năng lực sáng tạo 30

2.1.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh 31

2.2 Bồi dưỡng các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông 37

2.2.1 Phương pháp thực nghiệm 37

2.2.2 Phương pháp giải quyết vấn đề 43

2.2.3 Phương pháp mô hình 48

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG VI SÓNG ÁNH SÁNG, VẬT LÍ 12 NC 54

3.1 Đại cương về chương VI Sóng ánh sáng, Vật lí 12 NC 54

3.1.1 Phân tích mục tiêu của chương 54

3.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương 55

3.2 Thiết kế một số bài học trong chương 56

3.2.1 Bài 35 Tán sắc ánh sáng 56

3.2.2 Bài 36 Nhiễu xạ ánh sáng Giao thoa ánh sáng 62

3.2.3 Bài 37 Khoảng vân Bước sóng và màu sắc ánh sáng 67

3.2.4 Bài 39 Máy quang phổ Các loại quang phổ 72

CHƯƠNG 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79

4.1 Mục đích 79

4.2 Nội dung thực nghiệm 79

4.3 Đối tượng thực nghiệm 79

4.4 Kế hoạch giảng dạy 79

4.5 Kết quả thực nghiệm 79

4.5.1 Đề KT 1 tiết chương VI, Vật lí 12 NC 79

4.5.2 Kết quả thực nghiệm 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thời đại khoa học - kỹ thuật - công nghệ và kinh tế thị trường đang phát triển mạnh

mẽ không những ở ngoài nước mà trong nước cũng đang có sự chuyển biến một cách

nhanh chóng nên xã hội rất cần những người có tính năng động tích cực và tư duy trong

công việc Muốn được như thế thì đòi hỏi con người phải có tri thức, kỹ năng và sự

sáng tạo, ấy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Vì thế cần có sự phát triển nền

giáo dục đất nước theo xu hướng bồi dưỡng và phát huy năng lực sáng tạo của học sinh

Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo cho học sinh là một trong những những

nhiệm vụ cơ bản khi dạy học vật lí ở trung học phổ thông Hiện nay, nền giáo dục Việt

Nam đã lấy việc rèn luyện tư duy và năng lực sáng tạo cho học sinh làm mục tiêu quan

trọng hàng đầu

Hiện tại ở các trường trung học phổ thông, Đảng và Nhà nước đã chủ trương thực

hiện các chương trình đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo

dục đã có nhiều khởi sắc nhưng chưa mạnh mẽ, vẫn còn tồn tại phương pháp truyền

thống truyền thụ một chiều

Nghị quyết TW 2 khoá VIII đã chỉ rõ và cụ thể: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp

giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo

của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại

vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học

sinh ”

Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình, người giáo viên cần không ngừng học

hỏi và áp dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau, lựa chọn các phương pháp cho

phù hợp với từng nội dung và đối tượng cụ thể nhằm giúp cho học sinh có thể chiếm

lĩnh được kiến thức một cách tự giác và phát huy năng lực sáng tạo để hoà nhập với xã

hội của nền tri thức mới

Vì những lí do trên em chọn đề tài: Bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh khi

giảng dạy chương VI Sóng ánh sáng, Vật lí 12 NC

2 Mục đích nghiên cứu

 Nghiên cứu một số biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học

sinh trong dạy học vật lí

 Nghiên cứu lí luận về các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí Từ đó đưa ra

quy trình về các phương pháp và tổ chức cho học sinh tham gia tìm tòi, nghiên cứu

trong dạy học vật lí ở trung học phổ thông

 Vận dụng các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí vào soạn giảng chương VI

Sóng ánh sáng nhằm bồi dưỡng năng lực sáng tạo trong học tập vật lí của học sinh

3 Giả thuyết khoa học

 Có thể nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học

vật lí ở trung học phổ thông

 Có thể đưa ra các biện pháp góp phần phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

 Có thể áp dụng một số phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí vào giảng dạy

chương VI Sóng ánh sáng, Vật lí 12 NC

4 Nhiệm vụ của đề tài

 Nghiên cứu lí luận về đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở trường trung học phổ

thông

 Nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí

Trang 7

 Vận dụng các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí soạn giáo án một số bài

trong chương VI Sóng ánh sáng, VL 12 NC

- Bài 35 Tán sắc ánh sáng

- Bài 36 Nhiễu xạ ánh sáng Giao thoa ánh sáng

- Bài 37 Khoảng vân Bước sóng và màu sắc ánh sáng

- Bài 39 Máy quang phổ Các loại máy quang phổ

 Chế tạo đồ dùng dạy học, làm các bản vẽ sẵn,…

 Thực nghiệm sư phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu cơ sở lí luận tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học bộ môn theo

hướng bồi dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của nhà nước cùng với các chỉ thị

của Bộ giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường THPT

- Nghiên cứu vai trò của các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí trong việc bồi

dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh

 Phương pháp quan sát:

Quan sát thái độ học tập của học sinh thể hiện như thế nào khi chưa thực hiện mục

tiêu của đề tài, khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài nhằm xác định tính khả

quan của đề tài

 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT có đối chứng để kiểm tra tính khả

thi của luận văn, cụ thể là làm nổi bật vai trò của phương pháp nhận thức đặc thù trong

việc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong giờ học môn Vật lí

6 Đối tượng nghiên cứu

Việc tổ chức dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh về bồi dưỡng

năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy và học chương VI Sóng ánh sáng

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài

 Giai đoạn 1: Trao đổi với thầy cô về đề tài nghiên cứu

 Giai đoạn 2: Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài, viết đề cương chính thức

 Giai đoạn 3: Hoàn thành cơ sở lí luận cho đề tài

 Giai đoạn 4: Soạn giảng Chương VI Sóng ánh sáng, Vật lí 12 NC

 Giai đoạn 5: Tiến hành thực nghiệm luận văn ở trường phổ thông

 Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị nội dung báo cáo bằng powerpoint

 Giai đoạn 7: Báo cáo luận văn

8 Những chữ viết tắt trong đề tài

NC: nâng cao

Trang 8

CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông

1.1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta

a) Mục tiêu dạy học trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt

Nam khóa VIII đã chỉ rõ: từ nay đến năm 2000, “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo

dục toàn diện đạo đức trí dục, thể dục ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo

dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”

( [5], trang 49)

Để thực hiện được mục tiêu đó, có rất nhiều việc phải làm ở tầm vĩ mô của Nhà

nước, của toàn xã hội cũng như ở tầm vĩ mô của mỗi trường học, lớp học, học sinh

Những vấn đề ở tầm vĩ mô như mục tiêu giáo dục, thiết kế chương trình, cung cấp

các phương tiện dạy học chính sách đối với người dạy, người học…; ở tầm vi mô là

phương pháp dạy học, hoạt động của GV và HS trong quá trình dạy học…Những

vấn đề ở tầm vĩ mô và vi mô tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau Tuy nhiên, chất

lượng giáo dục thể hiện ở sản phẩm cuối cùng là phẩm chất, nhân cách của HS Điều

quan trọng trước hết và cũng là cuối cùng của người GV, nhân vật chủ chốt trong

công tác giáo dục và dạy học là làm thế nào cho HS của mình trong thời gian qui

định của chương trình đào tạo đạt được những yêu cầu mà xã hội mới đặt ra cho nhà

trường

Hơn nữa đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang

chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường với sự quản lí của

Nhà nước Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ 21 phải là một xã hội “dựa vào tri thức”,

vào tư duy sáng tạo, vào tài năng sáng chế của con người Trước tình hình đó đòi hỏi

nền giáo dục của nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện, để có thể tạo cho

đất nước những con người lao động có hiệu quả trong hoàn cảnh mới

Mục tiêu giáo dục ngày nay ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung

không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho HS những kiến thức, kỹ năng loài người đã

tích lũy được trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến vệc bồi dưỡng năng lực sáng

tạo ra những tri thức mới, phương pháp mới, cách giải quyết vấn đề mới phù hợp với

hoàn cảnh của mỗi đất nước, mỗi dân tộc Trong xã hội biến đổi nhanh chóng như

hiện nay người lao động cũng phải biết luôn đổi mới kiến thức và năng lực của mình

cho phù hợp với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật Lúc đó người lao động phải có

khả năng tự định hướng và tự học để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội Giáo dục

không phải chỉ chú ý đến yêu cầu xã hội đối với người lao động, mà còn phải chú ý

đến quyền lợi, nguyện vọng, năng lực, sở trường của cá nhân Sự phát triển đa dạng

của cá nhân sẽ dẫn đến sự phát triển mau lẹ, toàn diện và hài hòa của xã hội

b) Mục tiêu của chương trình vật lí

Trang 9

Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết

hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự

thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy cần:

 Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống,

bao gồm :

- Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng, và các quy tắc vật lí

- Các định luật, định lý, các nguyên lý vật lí cơ bản

- Những nội dung chính của một số thuyết vật lí quan trọng nhất trong đời

sống và trong sản xuất

- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí

- Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp

nhận thức đặc thù của vật lí, trước hết là PP thực nghiệm, PP giải quyết vấn đề và PP

mô hình

 Phát triển tư duy khoa học ở HS, rèn luyện và phát triển các kĩ năng :

- Quan sát các hiện tượng và các quy tắc vật lí; điều tra, sưu tầm, thu thập

các thông tin cần thiết cho việc học tập vật lí

- Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các

thí nghiệm vật lí đơn giản

- Phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các

mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng, quy tắc vật lí, đề xuất phương án thí

nghiệm để kiểm tra dự đoán …

- Vận dụng kiến thức: mô tả, giải thích các hiện tượng, quy tắc vật lí, giải các

bài tập vật lí… giải quyết các vấn đề đơn giản của đời sống, sản xuất

- Sử dụng các thuật ngữ vật lí, biểu bảng, trình bày rõ ràng, chính xác những

kết quả thu được

 Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm sau:

- Bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu

nước, thái độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đặc tính khác của người

lao động trên cơ sở những kiến thức vật lí vững chắc

- Hứng thú học tập môn Vật lí, yêu thích, tìm tòi khoa học, trân trọng những

đóng góp của vật lí học…

- Có thái độ khách quan, trung thực, tác phong cẩn thận, chính xác, có tinh

thần học tập tốt

- Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống, cải thiện điều kiện

sống, bảo vệ môi trường

 Các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ

trợ nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện Ví dụ:

kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình độ tư

Trang 10

duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HS không phải chỉ tiếp thu kiến thức

một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực tự lực hoạt động, tham gia vào quá

trình xây dựng và vận dụng kiến thức Ngược lại, HS chỉ có thể phát triển trí thông

minh, sáng tạo, khi có một vốn kiến thức vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng

để giải quyết những nhiệm vụ mới, vừa củng cố vừa mở rộng và phát hiện ra những

chỗ chưa hoàn chỉnh của chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổ sung

hoàn chỉnh thêm vốn kiến thức của mình

1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học

Theo quan điểm giáo dục hiện đại, dạy học là một quá trình tương tác

(GV – HS, HS – HS, HS - GV, HS với những người hiểu biết hơn…), trong đó,

“học” là một hoạt động trung tâm Và, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”,

đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập

do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa

rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp

đặt Để đạt được điều ấy, trong quá trình dạy học, người thầy cần phải thức tỉnh trong

tâm hồn các em học sinh tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động

tích cực Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) để học sinh chủ động,

tích cực, sáng tạo trong học tập là một vấn đề cần thiết và không thể thiếu được Bởi

chỉ có đổi mới PPDH, chúng ta mới góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ

nghiêm trọng trong giáo dục hiện nay; chỉ có đổi mới PPDH chúng ta mới góp phần

quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

PPDH là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng

giáo dục và đào tạo Để đổi mới PPDH, đòi hỏi người thầy không chỉ có bản lĩnh

nghề nghiệp vững vàng mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen truyền thống

Để đổi mới PPDH, đòi hỏi người thầy phải làm quen với công nghệ thông tin

(CNTT) và những phương tiện dạy học hiện đại, sử dụng được đa dạng các hình thức

kiểm tra đánh giá, tiếp cận với những đòi hỏi mới về yêu cầu kiến thức, kĩ năng cũng

như tâm lý của học trò

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới PP dạy học vật lí ở trường THPT

1.2.1 Khắc phục cách dạy học truyền thống

Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các PPDH truyền

thống, tuy nhiên ta sẽ sử dụng các PP đó theo tinh thần mới Giáo viên phải lựa chọn

PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ

động, sáng tạo của HS trong những tình huống cụ thể

Từ những nhược điểm cơ bản của kiểu dạy học cũ là GV độc thoại, giảng giải,

kiểm tra, đánh giá, còn HS thì học một cách thụ động, cố ghi nhớ, nhắc lại kiến thức,

Trang 11

làm theo mẫu Chiến lược DH này xuất phát từ quan niệm về nhiệm vụ của giáo dục

chỉ là một sự truyền đạt đơn giản những kiến thức, kinh nghiệm xã hội như những

sản phẩm hoàn chỉnh đã được thử thách “ Từ đó dẫn người GV ngấm ngầm hay

công khai coi đứa trẻ hoặc như một người lớn thu nhỏ cần dạy dỗ, giáo dục, làm cho

nó giống với mẫu người lớn nhanh chừng nào hay chừng ấy, hoặc như kẻ hứng chịu

tội lỗi của tổ tiên….chứa trong mình một chất lệu chống đối, cho nên cần phải uốn

nắn hơn là tạo dựng” (J.Piaget).( [5], trang 43, 44)

Theo kiểu dạy học này, trung tâm chú ý là nội dung các kiến thức cần dạy Song,

nếu chỉ quan tâm tới bản thân nội dung kiến thức được trình bày thì dù tốt đến đâu

vẫn chưa phải là sự xác định một cách cụ thể HS cần đạt được những khả năng gì

trong hoặc sau khi học, và bằng cách nào đảm bảo cho HS đạt được các khả năng đó

Chính vì vậy nó hạn chế chất lượng và hiệu quả dạy học Như vậy việc khắc phục lối

truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen

đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Những GV tâm huyết với nghề hết lòng

yêu thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự

nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong học tập

Nhưng không ít GV còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên,

không thích ứng được với đòi hỏi mới

Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng

vai trò đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức,

hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội

dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của

chương trình

HS tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề, tình huống HT …Trên lớp,

HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án,

GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới

có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người “gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn,

dẫn dắt, trọng tài” trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS,

GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể

tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến

của GV

Bên cạnh đó việc đổi mới SGK, thiết bị thí nghiệm, áp dụng các phương pháp

chung của nhận thức KH, những PP nhận thức đặc thù của VL, tăng cường sử dụng

các phương tiện dạy học hiện đại… cũng đóng vai trò quan trọng không kém góp

phần kích thích HS chủ động, hứng thú tham gia vào hoạt động học tập

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh

Thực tế cho thấy bất cứ một việc học tập nào đều phải thông qua hoạt động tự

học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa, một đặc

Trang 12

trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kỹ

thuật là rất hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong một tương lai

không xa Ta có thể kể rất nhiều thí dụ: sự phát triển của máy tính điện tử, máy thu

thanh, thu hình, máy ghi âm, điện thoại, máy ảnh…Do những hiểu biết của chúng ta

rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội phải biết tự

cập nhật thông tin bởi vì những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là

những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào

trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều, phải biết tự

cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được sự phát triển rất nhanh

của khoa học kỹ thuật hiện đại Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi

HS phải tự lực động não để tiếp thu những điều cần học Vì vậy, trong những hoạt

động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng PP tự học cho HS

Chẳng hạn:

- Tập cho HS phương pháp đọc sách

- Phát phiếu học tập ở nhà cho HS

- Tập cho HS làm quen với các PP nhận thức đặc thù của vật lí: PP thực

nghiệm, PP giải quyết vấn đề, PP mô hình

Tăng cường dạy học theo nhóm, dạy học hợp tác… góp phần làm cho việc học

tập cá nhân có hiệu quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong

lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong

công việc chung Theo lý thuyết về vùng phát triển gần của Vưgốt-xki, các tương tác

thầy- trò và trò- trò trong lớp học có thể giúp cho HS vượt qua được những trở ngại

để đạt đến những hiểu biết mới Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá

nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó nhũng hiểu biết của họ sẽ

được hình thành hoặc được chính xác hóa Mặt khác, trong việc học tập theo nhóm,

tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình,

tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh

hứng thú học tập của HS

Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp

ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao

về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành

cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung dạy học trên lớp và nội

dung dành cho HS tự tìm hiểu ở nhà Có lẽ không cần chuyển tải từ A đến Z của nội

dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở

nhà rồi sau đó sẽ kiểm tra sự tự học của các em

Trang 13

Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã

quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực

tìm tòi nghiên cứu Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh

chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho

những học sinh ở các lớp trên

1.2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học

Học sinh học bằng cách làm, tự làm, làm một cách chủ động say mê, hứng thú

chứ không phải bị ép buộc Chính vì vậy vai trò của GV không còn là giảng dạy,

minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động,

thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức

và phát triển được năng lực Muốn vậy GV cần:

- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống HT…

- Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức

- Áp dụng rộng rãi PP phát hiện giải quyết vấn đề và các phương pháp nhận

thức đặc thù (PPNTĐT) của vật lí như phương pháp thực nghiệm (PPTN), phương

pháp giải quyết vấn đề (PPGQVĐ), phương pháp mô hình (PPMH) vào trong quá

trình dạy học

1.2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào

quá trình dạy học

Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định

hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên

một cách có hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng

giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” ( [9],

trang 17)

Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình DH đã sử dụng phương tiện :

- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead

- Phần mềm hổ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor

- Công nghệ thông tin, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính

- Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking

để dạy học

Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, coi đó là phương tiện để

nhận thức; việc sử dụng phương tiện DH tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của

HS trên tất cả các bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp

và bình diện trực quan gián tiếp

Trang 14

1.3 Mục tiêu của chương trình vật lí trung học phổ thông

1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức vật lí THPT cơ bản phù hợp với những

quan điểm hiện tại

 Đối với HS:

Đạt được một hệ thống kiến thức vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với

những quan điểm hiện đại

 Đối với GV:

Biết nội dung cơ bản của việc đổi mới PPDH vật lí ở trường THPT, các yêu

cầu và nội dung của việc thiết kế bài học

1.3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng

Các bình diện của hoạt động nhận thức

Các ví dụ về việc các phương tiện dạy học tạo điều kiện cho hoạt động nhận thức của HS

Bình diện hành động đối tượng- thực tiễn - Các thí nghiệm của HS với các thiết

bị thí nghiệm

Bình diện trực quan trực tiếp - Các vật thật, các bức ảnh chụp

- Các thí nghiệm của GV với các thiết

bị thí nghiệm

- Phim học tập (quay các cảnh thật)

Bình diện trực quan gián tiếp - Các thí nghiệm mô hình

- Các phim hoạt họa

- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý

Trang 15

1.3.3 Hình thành thái độ và tình cảm sau

Hình thành và rèn luyện thái độ, tình cảm, có hứng thú học vật lí, tìm tòi khoa

học thông qua vận dụng các PP nhận thức đặc thù vật lí trong quá trình học tập

1.4 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở lớp 12 theo

chương trình trung học phổ thông mới

1.4.1 Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của giáo viên, tăng cường

việc tổ chức cho học sinh tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập

Phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những

thành tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy

giảng giải, minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo Có nhiều điều

HS đọc hay làm theo SGK cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng

đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ

hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác

với SGK, hay khác với ý kiến của GV Nhiều GV thường nói là bài dài, thực ra

nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để cho HS tự đọc mà cũng hiểu được,

nhưng GV lại không cho HS tự đọc ở lớp hay ở nhà mà giảng giải trình bày tất cả

( [5] , trang 38)

Chính vì vậy GV cần giảm đến mức tối thiểu việc giảng giải minh họa, tăng

cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập Tuy

ban đầu HS chưa quen với phương pháp học mới còn chờ GV giảng giải, tóm tắt,

đọc cho chép, nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn

và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra

để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố ghi nhớ Điều quan trọng

hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin và hào hứng Muốn vậy, GV cần phải

biết phân chia một vấn đề học tập phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức,

nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được

Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong

bài để HS có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp

phần giải quyết một vấn đề nào đó trong quá trình HT như phát hiện vấn đề, thu thập

thông tin, xử lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế Giáo

viên cần tính toán xem với trình độ HS cụ thể thì việc gì có thể trao cho họ tự làm,

việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của GV

1.4.2 Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề

Kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề - bài toán là kiểu DH trong đó dạy cho

HS thói quen tìm tòi giải quyết vấn đề - bài toán theo cách của các nhà khoa học

Trang 16

Trong kiểu DH này GV vừa tạo ra cho HS nhu cầu, hứng thú học tập, vừa rèn luyện

cho họ khả năng tư duy sáng tạo

Trong quá trình dạy học có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ

biến nhất là đưa ra một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình đã biết

cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy nhũng kiến thức đã có của mình không

đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi

Phương pháp tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường

theo quy trình chung như sau:

- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi

- Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lý thuyết

- Từ dự đoán suy ra hệ quả logic có thể kiểm tra trong thực tế

- Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không

Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không phù hợp thì dự đoán là sai, phải

xây dựng dự đoán mới

- Phát biểu kết luận

Muốn thực hiện được các bước của phương pháp này, HS phải thực hiện việc

thu thập thông tin, xử lý thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá

trình này hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được luôn luôn kết hợp với những kết

luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Và sự kết hợp này được thực hiện thông qua các

suy luận logic như: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…

1.4.3 Rèn luyện cho học sinh phương pháp nhận thức vật lí

Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp

hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm ngẫu nhiên Đến lớp

12, HS đã có nhiều kinh nghiệm hoạt động nhận thức và có nhiều cơ hội để làm quen

với các phương pháp nhận thức khác nhau trong vật lí như: PP thực nghiệm, PP mô

hình, PP giải quyết vấn đề - bài toán

Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chia một vấn đề học tập phức tạp thành

những bộ phận đơn giản để HS dễ tiếp thu và có thể vận dụng được các phương pháp

nhận thức đặc thù của vật lí học

Bên cạnh đó trong quá trình giải quyết vấn đề, giáo viên cần cân nhắc việc gì

HS làm được, việc gì cần trợ giúp, giảng giải cho HS phát hiện vấn đề và cần tìm ra

một chỗ nào đó trong bài học để cho HS tự lực hoạt động.( [7], trang 9)

1.4.4 Tận dụng những phương tiện dạy học mới, trang thiết bị thí nghiệm mới

Phát huy sáng tạo của giáo viên trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học

a) Vai trò, vị trí của phương tiện, thiết bị dạy học

Trang 17

Góp phần quan trọng đổi mới phương pháp dạy học, hướng vào hoạt động tích

cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, học sinh

thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm

Sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học không chỉ là phương tiện của

việc dạy mà còn là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn

tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp

Sử dụng đồ dùng dạy học, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực

hành, thí nghiệm Những thiết bị dạy học có thể được GV, HS tự làm góp phần làm

phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường

Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện dạy

học, thiết bị dạy học tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự

khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm

Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, sách giáo viên, các tác giả đã

chú ý lựa chọn danh mục thiết bị dạy học và chuẩn bị phương tiện dạy học, thiết bị

dạy học theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học

b) Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học

Cần sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học khi sự vật hiện tượng không thể mô

tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình

biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)

Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, phải coi đó là

phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin

cực kì quan trọng giúp học sinh có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi

trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm

Tận dụng phương tiện dạy học, thiết bị dạy học đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho

phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)

c) Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học

Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng

CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện

đại hóa phương tiện dạy học, thiết bị dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy

học

Sử dụng CNTT như công cụ dạy học cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các

phương pháp dạy học nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi

phương pháp dạy học đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh

hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp

Trang 18

Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng

CNTT như phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của

người thầy mà trí lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình

dạy học có sử dụng CNTT ( [1], trang 92)

Sử dụng CNTT như một phương tiện dạy học, thiết bị dạy học, không phải chỉ

để thực hiện dạy học với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi

mới phương pháp dạy học ngay cả trong điều kiện không có máy

1.4.5 Tăng cường áp dụng phương pháp dạy học nhóm, hợp tác

Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu

cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được

duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm

vụ hay những nhiệm vụ khác nhau

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi

người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực,

không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong

nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm

khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả

lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một

đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho

- Phân công trong nhóm

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

Tổng kết trước lớp

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

- Thảo luận chung

- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo

trong bài

Trang 19

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn

khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói

ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về

chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học

hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành

viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên,

phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn

định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý và học sinh đã khá quen

với phương pháp này thì mới có kết quả Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề

phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi

mới phương pháp và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học

càng đổi mới

1.5 Đổi mới việc soạn giáo án

1.5.1 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án

Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của giáo viên sang thiết kế các

hoạt động của học sinh là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người

giáo viên

Khi soạn giáo án, giáo viên phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

- Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức

độ đến đâu?

- Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường

nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động đó của

học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?

- Giáo viên phải chỉ đạo như thế nào để dảm bảo cho HS chiếm lĩnh được

những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo

dục?

- Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì? ( [9] ,trang 7)

1.5.2 Những nội dung của việc soạn giáo án

- Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học

- Xác định những nội dung kiến thức của bài học: Nó thuộc loại kiến thức nào

(khái niệm, định luật, qui tắc…), bao gồm những kết luận nào?

- Xác định công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh, các phương tiện dạy

học cần sử dụng

Trang 20

- Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học Để làm tốt việc này

GV cần xác định kiến thức cần xây dựng được diễn đạt như thế nào? Giải pháp nào

giúp trả lời được câu hỏi này?

- Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể

- Xác định nội dung tóm tắt trình bày bảng

- Soạn nội dung bài tập về nhà

 Một số hình thức trình bày giáo án

- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới

- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt đọng của GV và hoạt động của

HS

- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu

đề nội dung chính và thời gian thực hiện

- Viết 4 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề

nội dung chính và thời gian thực hiện

 Các nhóm bài học theo trình tự soạn giáo án

- Nhóm 1: Hoạt động nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp

sang bài mới

- Nhóm 2: Hoạt động nhằm hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình

huống, đặt và nêu vấn đề

- Nhóm 3: Hoạt động nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử

nghiệm, quy nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề

- Nhóm 4: Tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng

vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống

1.5.3 Một số hoạt động phổ biến trong một tiết học

Theo quan điểm mới về việc dạy học, vai trò chính yếu của giáo viên là tổ chức

và hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh Hoạt động học của học sinh rất đa

dạng, dựa theo cấu trúc khái quát của tiến trình giải quyết các vấn đề có tính khoa

học ta có thể chia thành các hoạt động sau:

- Hoạt động kiểm tra kiến thức cũ

- Hoạt động tiếp nhận nhiệm vụ dạy học

- Hoạt động thu thập thông tin

- Hoạt động xử lí thông tin

- Hoạt động truyền đạt thông tin

- Hoạt động củng cố bài học

Trang 21

Sau đây là hình thức trình bày bài học theo mẫu 2:

Hoạt động: Kiểm tra kiến thức cũ

- Tái hiện kiến thức trả lời câu hỏi

- Nhận xét câu trả lời của bạn

- Đặt vấn đề, nêu câu hỏi

- Gợi ý trả lời, nhận xét đánh giá

Hoạt động: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Quan sát, theo dõi GV đặt vấn đề

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập

- Tạo tình huống học tập

- Trao nhiệm vụ học tập

Hoạt động: Thu thập thông tin

- Nghe GV giảng Nghe bạn phát biểu

- Yêu cầu HS hoạt động

- Giới thiệu nội dung tóm tắt, tài liệu cần tìm hiểu

- Giảng sơ lược nếu cần thiết

- Làm thí nghiệm biểu diễn

- Giới thiệu, hướng dẫn cách làm thí nghiệm, lấy số liệu

- Chủ động về thời gian

Hoạt động: Xử lí thông tin

- Thảo luận theo nhóm hay làm việc cá

nhân

- Tìm hiểu các thông tin liên quan

- Lập bảng, vẽ đồ thị… nhận xét về

tính qui luật của hiện tượng

- Trả lời các câu hỏi của GV

- Tranh luận với bạn bè trong nhóm

hoặc trong lớp…

- Rút ra nhận xét hay kết luận từ những

thông tin thu được

- Đánh giá nhận xét, kết luận của HS

Trang 22

Hoạt động: Truyền đạt thông tin

- Trả lời câu hỏi

- Giải thích các vấn đề

- Trình bày ý kiến, nhận xét, kết luận

- Báo cáo kết quả

- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách trình bày vấn đề

- Gợi ý nhận xét, kết luận bằng lời hoặc bằng hình vẽ

Hoạt động: Củng cố bài học

- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

- Vận dụng vào thực tiễn

- Ghi chép những kết luận cơ bản

- Giải bài tập

- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc

cá nhân hoặc theo nhóm

- Hướng dẫn trả lời

- Đánh giá, nhận xét giờ dạy

Hoạt động: Hướng dẫn học tập ở nhà

- Ghi câu hỏi, bài tập về nhà

- Ghi những chuẩn bị cho bài sau

- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà

- Dặn dò HS chuẩn bị bài sau

1.5.4 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập

Tên bài: ………

Tiết: ………theo phân phối chương trình

A Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ)

Hoạt động 1 (… phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)

Hoạt động 2 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1

Hoạt động 3 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2

Hoạt động i (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng i

Hoạt động n-1 (… phút): Vận dụng, củng cố

Hoạt động n (… phút): Hướng dẫn về nhà

D Rút kinh nghiệm

Trang 23

1.6 Đổi mới phương pháp đánh giá môn vật lí ở trường trung học phổ thông

1.6.1 Đánh giá kết quả học tập của học sinh phải có tính mục đích, phải dựa

vào các nguyên tắc cơ bản của việc thi và kiểm tra

Đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đồng thời thực hiện 2 mục đích vừa

cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa là cơ chế điều khiển hữu hiệu

chính của quá trình này

Những yêu cầu cơ bản về đánh giá kết quả học tập của học sinh :

- Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục

- Đảm bảo tính hệ thống và toàn diện

- Đảm bảo tính khách quan

- Đảm bảo tính công khai

- Đảm bảo tính khả thi

Việc thi và kiểm tra phải theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Nội dung thi, kiểm tra phải bám sát mục tiêu dạy học đã được ghi rõ trong

chương trình, sách giáo khoa bộ môn Không nên dựa vào trình độ học sinh để quy

định nội dung thi, kiểm tra

- Việc thi, kiểm tra phải đảm bảo đánh giá đúng kết quả môn học, đảm bảo ba

yêu cầu “Nhớ - Hiểu - Vận dụng” về ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng và thái độ

- Hình thức thi, kiểm tra phải phù hợp với mục tiêu dạy học, đặc điểm môn

học

- Nội dung và hình thức thi, kiểm tra phải đảm bảo việc phân loại trình độ của

học sinh

- Việc tổ chức thi, kiểm tra phải đảm bảo đầy đủ những điều kiện cần thiết

cho kì thi được tiến hành nghiêm túc và thuận lợi

- Việc đánh giá kết quả thi, kiểm tra phải thông qua đáp án, thang điểm chi

tiết, rõ ràng, phải được tiến hành đảm bảo tính khách quan, nghiêm túc, khẩn trương

Nội dung thi kiểm tra phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Đánh giá được một cách tòan diện các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái

độ mà HS cần đạt được

- Đặt trọng tâm vào những nội dung có liên quan nhiều đến việc ứng dụng

kiến thức và kĩ năng vào thực tế, đánh giá cao khả năng sáng tạo, năng lực hành

động của HS trong việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào những tình huống của cuộc

sống thực

- Chú ý đến đặc thù của khoa học vật lí là khoa học thực nghiệm, do đó cần

có những nội dung nhằm đánh giá kiến thức kĩ năng và thái độ của HS về thực hành

vật lí

Trang 24

Vận dụng lí thuyết phát triển năng lực để đánh giá kết quả học tập của HS,

trong đó coi trọng khả năng vận dụng của HS thông qua việc nắm vững kiến thức,

thành thục về phương pháp, nhạy bén về giao tiếp và tự kiểm điểm của bản thân

Nội dung kiểm tra gồm ba lĩnh vực sau đây:

- Kiến thức là “những thông tin được chứa trong não”

- Kĩ năng là “hoạt động quan sát được và những phản ứng thực hiện theo mục

đích”

- Thái độ là cảm nhận của con người và ứng xử của họ đối với công việc,

những thái độ thể hiện có thể có tính chất cá nhân hoặc hành vi cá nhân

Dưới đây là bảng các cấp độ nhận thức, hình thành kĩ năng và thái độ

 Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom

Thiết kế được phương án khi có đủ các thông số cần thiết

Thiết kế được phương án mới

Trang 25

 Các mức độ hình thành kĩ năng theo Harrow

5 Làm thuần

thục

Đạt trình độ cao về tốc độ và sự chính xác, ít cần sự can thiệp của ý thức

Làm được chính xác như mẫu, kĩ năng như bản năng

 Các cấp độ hình thành thái độ theo Bloom

5 Hình thành

đặc trưng Hình thành đặc trưng bản sắc riêng

Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen

Trang 26

1.6.2 Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả học tập

của học sinh

Mỗi hình thức thi, kiểm tra đều có mặt tích cực và hạn chế Để đánh giá kết quả

học tập của học sinh đòi hỏi giáo viên phải biết phối hợp các hình thức thi, kiểm tra

Cụ thể như sau :

- Đa dạng hóa các loại hình, các đề thi, kiểm tra cần phối hợp một cách hợp lí

hình thức trắc nghiệm khách quan với trắc nghiệm tự luận, hình thức kiểm tra lí

thuyết với kiểm tra thực hành, hình thức kiểm tra vấn đáp với kiểm tra viết, hình thức

kiểm tra của GV với tự kiểm tra của HS ….nhằm tạo điều kiện đánh giá một cách

toàn diện và hệ thống kết quả học tập của HS

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm bài kiểm tra và xử lí kết quả thi, kiểm

tra sao cho vừa nhanh, vừa chính xác, bảo đảm được tính khách quan và sự công

bằng, hạn chế được tiêu cực trong việc đánh giá kết quả HT của HS

Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình học tập gồm:

- Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của HS ngay trên lớp, dạng vấn

đáp

- Kiểm tra thí nghiệm thực hành: kiểm tra kĩ năng thực hành của HS trong

quá trình làm các bài thực hành thí nghiệm, dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả

- Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS, dạng kiểm tra 15 phút, 45

phút, kiểm tra học kì Đây là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả

học tập của HS

- Kiểm tra đề tài: dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc

nhóm HS phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các

HS giỏi

Kiểm tra viết là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả học tập

của HS Nó có thể là đánh giá định hình hoặc đánh giá tổng kết, đánh giá theo tiêu

chuẩn hoặc đánh giá theo tiêu chí, ở đây người ta sử dụng dạng trắc nghiệm khách

quan và tự luận

1.6.3 Nắm chắc các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận

Một câu hỏi TNKQ bao gồm ba yếu tố hình thành là: nội dung câu hỏi, các

phương án hoặc giải pháp cho trước và các qui tắc đưa ra Các dạng câu hỏi gồm:

trắc nghiệm đúng/sai; ghép đôi; điền khuyết; nhiều lựa chọn

Một câu hỏi TNKQ hoàn hảo cần được xây dựng trên lỗi HS hay mắc phải Có

như vậy, các yếu tố gây sự sao nhãng mới có tác dụng trắc nghiệm khả năng tiếp thu

của HS

* Qui trình soạn một đề kiểm tra viết môn Vật lí:

Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra

Trang 27

Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra (mục tiêu dạy học):

- Các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng

- Các kiến thức, kĩ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao

(nhận biết, thông hiểu, vận dụng)

Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra

Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận

Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm

* Những điều cần lưu ý khi biên soạn đề kiểm tra:

- Phải đảm bảo thể hiện được những mục tiêu cơ bản ghi trong chương trình

- Có thể thay đổi tỉ lệ các câu trắc nghiệm tự luận và khách quan, nhưng trong

mọi trường hợp thì đều phải cố gắng sử dụng hình thức TNKQ

- Để tránh việc HS hỏi nhau khi làm bài nên thay đổi thứ tự của các câu để tạo

ra những đề kiểm tra có nội dung như nhau nhưng có cấu tạo khác nhau

- Để có thể sử dụng đề kiểm tra nhiều lần, không nên để HS làm bài vào tờ

giấy in đề kiểm tra mà làm bài ra một tờ giấy riêng có ghi rõ họ tên

- Chú ý rèn luyện kĩ năng biên soạn câu hỏi Sáu kĩ năng để hình thành năng

lực đặt câu hỏi nhận thức theo hệ thống phân loại các mức độ câu hỏi của Bloom

1.7 Sử dụng công nghệ thông tin

1.7.1 Giới thiệu phần mềm

a) Microsoft PowerPoint

MS PowerPoint là một phần mềm thuộc nhóm MS Office, có chức năng hỗ trợ

việc thiết kế, soạn thảo và định dạng nội dung tài liệu, rất thuận tiện cho việc trình

bày trong giảng dạy, thuyết trình

MS PowerPoint có các đặc trưng của nhóm MS Office, cũng như Word, Excel:

kết quả hiển thị theo cấu trúc màn hình trình chiều + Giao diện và công cụ rất thân

thiện, dễ dùng và linh hoạt + Các công cụ cơ bản về MS PowerPoint[như: Text,

Drawing, Picture, Chart định dạng đối tượng ] hoàn toàn như trong Word, Excel

Việc Chuyển đổi từ Văn bản của Word sang MS PowerPoint rất dễ dàng Do

vậy, việc nắm vững Word sẽ hỗ trợ công tác giảng dạy rất nhiều

b) Violet 1.7

Phần mềm Violet 1.7 ra mắt ngày 10/5/2010, là phiên bản hoàn chỉnh các

chức năng soạn thảo trình chiếu, đồng thời mở rộng chức năng Công cụ của Violet

cho các phần mềm khác, ví dụ ngay trong Powerpoint cũng sẽ có Tạo bài tập trắc

nghiệm, Vẽ đồ thị, Lập trình mô phỏng, v.v

Đặc biệt Violet 1.7 sẽ bắt đầu được triển khai theo hình thức mã nguồn mở,

trước mắt là sẽ mở một số module mới và chuẩn hóa các lệnh cơ bản, để giáo viên

Trang 28

không chỉ sử dụng mà còn có thể viết thêm chức năng cho Violet Violet 1.7 cũng

hỗ trợ thêm một số lệnh giao tiếp với các hệ thống LMS để người dùng có thể phát

triển dễ dàng các module E-learning theo chuẩn SCORM

c) Adobe Presenter

Adobe Presenter giúp chuyển đổi các bài trình chiếu powerpoint sang dạng

tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có thể câu hỏi tương tác

(quizze) và khảo sát (surveys), tạo hoạt động điều khiển dẫn dắt chương trình

(animation), và tạo mô phỏng (simulation) một cách chuyên nghiệp

Điều khẳng định là Adobe Presenter tạo ra bài giảng điện tử tương thích với

chuẩn quốc tế về eLearning là AICC, SCORM 1.2, and SCORM 2004

Nếu dùng thêm với Adobe Connect, là phần mềm họp và học ảo, có thể tạo ra

môi trường học tập mọi lúc, mọi nơi (any where, any time), trên mọi thiết bị (any

devices) miễn là thiết bị có nối mạng với trình duyệt web và phần mềm Flash player

là đủ

d) Crocodile Physics

Crocodile Physics là phần mềm thí nghiệm ảo về Cơ, Quang, Điện, Sóng đang

được ứng dụng rộng khắp ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh

Một số tính năng nổi trội của phần mềm Crocodile Physics như có nhiều mô

hình thí nghiệm mẫu, hướng dẫn sử dụng phần mềm và có các công cụ trợ giúp thiết

kế thí nghiệm, bài giảng khá đầy đủ và dễ sử dụng

1.7.2 Khả năng hỗ trợ của phần mềm vi tính nhằm đổi mới phương pháp dạy

học vật lí

Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy phải luôn hướng vào mục tiêu đào tạo và

phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, phải góp phần đổi mới phương

pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, phát triển tư duy độc lập của học

sinh

Giữa thiết bị thật và thí nghiệm ảo có sự phù hợp nhất định, đặc biệt về yêu cầu

sư phạm Những thiết bị, dụng cụ thí nghiệm căn bản có thể hỗ trợ bằng CNTT

Các mô hình kỹ thuật, các quá trình vật lý diễn ra quá nhanh mà con người khó

nhận biết kịp, nhận biết không chính xác, đầy đủ, các hiện tượng vật lý trong thế

giới vi mô, các hiện tượng vật lý có thể gây nguy hiểm,… sẽ rất thích hợp với công

nghệ mô phỏng

Một số học liệu có thể kết hợp với thiết bị công nghệ hoặc được thay thế bằng

tài liệu số hóa như: các mô hình, mẫu vật có kích thước, khối lượng lớn, những mô

hình dễ gãy vỡ khi di chuyển hoặc lắp ráp phức tạp mất nhiều thời gian, các quá

Trang 29

trình vật lý, các quan hệ và chuyển động phức tạp trong không gian… có thể chuyển

thành bản đồ số hóa, đồ họa mô phỏng trong các phần mềm

Một số tranh, ảnh minh họa, các bảng số liệu bằng giấy in hay vải có thể chuyển

thành file đồ họa hoặc ảnh số, tạo thành bộ sưu tập trong CD-ROM hoặc dữ liệu số

Để một tiết dạy bằng bài giảng trên máy tính thành công, để công nghệ thông

tin thực sự là công cụ đắc lực phục vụ cho việc dạy và học và để nâng cao chất

lượng dạy và học thì đòi hỏi giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ, trình độ sử dụng vi tính, phải thường xuyên cập nhật thông tin, tìm

kiếm tư liệu, cập nhật các phần mềm mới hỗ trợ việc soạn giảng bằng máy tính

Giáo viên phải làm chủ công nghệ, làm chủ bài giảng và quan trọng nhất giáo viên

phải có năng lực chuyên môn vững vàng bởi hiệu quả của tiết học vẫn phụ thuộc

vào vai trò của người thầy Hơn nữa CNTT chỉ là một trong những phương tiện hổ

trợ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, truyền đạt kiến thức đến học sinh chứ

không phải là phương tiện duy nhất Phương pháp dạy học ứng dụng CNTT cần có

sự hổ trợ của những phương tiện nghe nhìn hiện đại ( máy vi tính, máy chiếu 3D,

projetor,…

Trang 30

CHƯƠNG 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC

SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

2.1.1 Khái niệm năng lực

Trong khoa học tâm lý, người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng

của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một loại

hoạt động nào đó, mặc dù bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt hiệu quả cao

Người có năng lực về một mặc nào đó thì không phải nổ lực quá nhiều trong

quá trình công tác mà vẫn khắc phục được những khó khăn một cách nhanh chóng và

dễ dàng hơn những người khác hoặc có thể vượt qua những khó khăn mới mà nhiều

người khác không vượt qua được.( [7], trang 128)

Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Song

kĩ năng kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một loại hoạt động hẹp, chuyên biệt, đến

mức thành thạo, tự động hóa, máy móc Còn NL chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt

trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác

nhau, trong một lĩnh vực hoạt động rộng hơn Ví dụ: người có kỹ năng, kĩ xảo thực

hiện các phép đo lường, thì có thể thực hiện nhanh chóng, chính xác các phép đo,

khéo léo lắp ráp các thiết bị để đo lường Còn người có NL thực nghiệm thì ngoài

việc thực hiện các phép đo còn có việc thiết kế các thí nghiệm, xử lí các số liệu đo

lường rút ra kết quả, giải thích đánh giá các kết quả đo lường, rút ra kết luận khái

quát

2.1.2 Sự hình thành và phát triển năng lực

Nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển NL là một vấn đề phức tạp, tuân

theo quy luật chung của sự phát triển nhân cách Tâm lý học hiện đại cho rằng: con

người mới sinh ra chưa có NL, chưa có nhân cách Chính trong quá trình sống, học

tập, lao động, giao lưu con người đã hình thành và phát triển nhân cách của mình Sự

hình thành và phát triển nhân cách của con người Sự hình thành và phát triển NL

của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố sinh học, yếu tố

hoạt động của chủ thể và yếu tố giao lưu xã hội

 Yếu tố sinh học: vai trò của di truyền trong sự hình thành năng lực

Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học đã có ở cha mẹ, sự

truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định đã

ghi lại trong hệ thống gen Những đặc điểm về giải phẫu sinh lý, nhất là về hệ thần

kinh cao cấp của con người được gọi là “tư chất” Di truyền tạo ra những điều kiện

Trang 31

ban đầu để con người có thể hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực nhất định Tuy

nhiên, di truyền không thể quy định những giới hạn tiến bộ của xã hội loài người nói

chung và của từng người nói riêng

Những đặc điểm sinh học mặc dù có ảnh hưởng đến quá trình hình thành tài

năng, xúc cảm, sức khỏe, thể chất của con người, nhưng nó chỉ tạo nên tiền đề của sự

phát triển NL Mặt khác, những tư chất di truyền chỉ đặc trưng cho những lĩnh vực

hoạt động rất rộng mà không hướng vào những lĩnh vực hoạt động hay sáng tạo cụ

thể nào Việc định hướng cụ thể này do các điều kiện xã hội cụ thể, do trình độ phát

triển của những loại hình sản xuất, khoa học, nghệ thuật…và nhất là do hoạt động

sáng tạo của các cá nhân quyết định Những tư chất có sẵn trong cấu tạo của não,

trong các cơ quan cảm giác, các cơ quan vận động và ngôn ngữ…là điều kiện để

thực hiện có kết quả một lĩnh vực hoạt động cụ thể Tuy nhiên, sự thành công trong

lĩnh vực đó phần lớn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao động học tập, rèn

luyện cũng như vào việc tích lũy kinh nghiệm cá nhân

 Yếu tố hoạt động của chủ thể

Như đã nói ở trên, năng lực không có sẵn trong con người Con người bằng

hoạt động của mình mà chiếm lĩnh những kinh nghiệm hoạt động của thế hệ đi trước,

biến thành NL của chính mình Đặc biệt là về mặt khoa học, nghệ thuật, ngày nay

trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ hoạt động rất thành công trong một

lĩnh vực nào đó mà một phần rất quan trọng là do đã tiếp thu những kinh nghiệm

sáng tạo của biết bao thế hệ đi trước Lịch sử nhân loại cho thấy các thiên tài về một

lĩnh vực nào đó trước hết là những người hoạt động rất say mê, tích cực, miệt mài,

kiên trì dồn hết thời gian và tâm trí vào hoạt động đó Nhiều nhà khoa học lỗi lạc đều

cho rằng “thiên tài, chín mươi chín phần trăm là do lao động, chỉ có một phần trăm

là do bẩm sinh” ( [7], trang 130) tùy theo đặc điểm của loại hình hoạt động của con

người mà các yếu tố bẩm sinh có thể phát triển mạnh theo hướng này hoặc theo

hướng khác hay có thể bị thui chột đi Như vậy, hoạt động của chủ thể có ý nghĩa

quyết định đối với việc hình thành NL

 Yếu tố môi trường xã hội

Ta hiểu môi trường xã hội là hệ thống các quan hệ chính trị, kinh tế, tư

tưởng…được thiết lập trong xã hội Những bộ phận của môi trường thường có tác

động mạnh mẽ đến con người là gia đình, trường học, bạn bè, người xung quanh, cơ

sở sản xuất, văn hóa, thể thao…

Mỗi con người đều hoạt động trong môi trường xã hội nhất định Môi trường

góp phần tạo nên động cơ, mục đích, phương tiện hành động và đặc biệt cho hoạt

Trang 32

động giao lưu của mỗi cá nhân với xã hội mà nhờ đó cá nhân thu được kinh nghiệm

của xã hội loài người, biến nó thành của mình Cũng chính nhờ sự giao lưu với môi

trường xã hội, con người mới biết được hoạt động chủ mình có ý nghĩa như thế nào,

có lợi ích ra sao, có phù hợp với thực tế không…Từ đó, điều chỉnh hoạt động của

mình để mang lại hệ quả ngày càng cao, NL ngày càng được phát triển Ngay cả các

nhà bác học về ngành khoa học tự nhiên, phần lớn thời gian làm việc trong phòng thí

nghiệm, hầu như cô lập với xã hội bên ngoài thì những công trình sáng tạo của họ

cũng có nguồn gốc từ sự tiếp nối phải giải quyết những vấn đề mà trước họ chưa ai

làm được và kết quả công viêc của họ cũng phải được xã hội kiểm tra, thừa nhận thì

mới thực sự trở thành tài sản của nhân loại, đáng được lưu truyền

 Vai trò của giáo dục trong việc hình thành năng lực

Giáo dục là một loại hoạt động chuyên môn của xã hội, nhằm hình thành và

phát triển nhân cách của con người (trong đó có NL) theo những yêu cầu của xã hội

trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Sự hình thành và phát triển năng lực của HS lại phải thông qua chính hoạt

động của HS trong mối quan hệ với cộng đồng Bởi vậy, nhà trường hiện đại phải là

nhà trường hoạt động, lấy hoạt động của HS làm động lực chính để đạt được mục

đích đào tạo Chỉ có dạy học trong nhà trường mới có khả năng tạo ra những loại

hoạt động đa dạng, phong phú, cần thiết, tạo điều kiện phát triển những NL khác

nhau ở trẻ em phù hợp với năng khiếu bẳm sinh của họ và yêu cầu của xã hội Tất

nhiên không phải nhà trường đóng cửa lại mà dạy, trái lại chính nhà trường còn phải

tạo điều kiện để cho mỗi cá nhân HS giao lưu với các thành viên khác trong nhà

trường cũng như ngoài xã hội

Chính trong dạy học có thể lựa chọn kỹ lưỡng những hình thức hoạt động, có

sự định hướng chính xác, giúp cho HS sớm ý thức được các yêu cầu của xã hội đối

với hoạt động của mỗi người trong những lĩnh vực khác nhau Nhà trường cũng tích

lũy được những phương pháp tổ chức hoạt động học tập của HS có hiệu quả cao,

tránh được sự mò mẫm của mỗi cá nhân

Như vậy, giáo dục có thể mang lại những hiệu quả, những tiến bộ của mỗi

HS và các yếu tố khác không thể có được Đặc biệt, là dạy học có thể đi trước sự

phát triển, thúc đẩy sự phát triển

Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý rằng trong khi dạy học có khả năng định

hướng, thúc đẩy sự phát triển năng lực của trẻ em thì cũng có khả năng gò ép HS

theo một khuôn mẫu cứng nhắc, do đó hạn chế sự phát triển đa dạng ở họ Tổ chức

Trang 33

cho HS hoạt động, thông qua hoạt động tích cực, tự lực mà chiếm lĩnh kiến thức,

hình thành NL là phương pháp hữu hiệu để khắc phục xu hướng xấu đó

2.1.3 Khái niệm năng lực sáng tạo

“Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần

hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”

Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và

tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những

hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới

Trong khoa học kĩ thuật khi xem xét những phát kiến, phát minh người ta dựa

theo những tiêu chuẩn sau đây:

Được thừa nhận là một phát kiến, nếu nó là một sự xác lập những quy luật,

những thuộc tính, những hiện tượng chưa biết trước đây, tồn tại một cách khách quan

của thế giới vật chất Được thừa nhận là một phát minh, nếu đó là một cách giải

quyết mới mẻ một nhiệm vụ trong bất kì lĩnh vực nào của kinh tế quốc dân, văn hóa,

y tế, hay quốc phòng mang lại một hiệu quả tích cực

Trong nghiên cứu vật lí, quá trình sáng tạo diễn ra theo chu trình gồm bốn giai

đoạn như ta đã biết, trong đó khó khăn nhất, đòi hỏi sự sáng tạo cao nhất là giai đoạn

từ những sự kiện thực nghiệm khởi đầu đề xuất mô hình giả thuyết và giai đoạn đưa

ra phương án thực nghiệm để kiểm tra hệ quả suy ra từ mô hình giả thuyết Trong hai

giai đoạn này, không có con đường suy luận logic mà phải chủ yếu dựa vào trực

giác

Vấn đề bản chất tâm lý học của trực giác là vấn đề về cơ chế giải quyết các

nhiệm vụ nhận thức mà không thể thực hiện được bằng con đường suy luận logic Đó

là trường hợp mà chủ thể nhận thức không có đủ tri thức cần thiết cho việc cải biến

tình huống dần dần để cuối cùng đi đến giải quyết được nhiệm vụ Ở đây, bắt buộc

phải đưa ra một phỏng đoán mới, một giải pháp mới chưa hề có, một hoạt động sáng

tạo thực sự

Tư duy trực giác khác với tư duy biện giải logic là ở chỗ những bước đi của nó

không thể hiện rõ một trình tự tất yếu chặt chẽ, việc giải quyết vấn đề lại giống như

một phỏng đoán đòi hỏi có một căn cứ logic

Nếu tri thức biện giải được đạt tới bằng con đường suy luận logic liên tục, liên

tiếp, mà trong đó mỗi một tư tưởng tiếp theo đều xuất phát một cách logic từ cái

trước, phụ thuộc vào cái trước và là tiền đề cho các tiếp theo, thì tư duy trực giác thu

nhận được một cách nhảy vọt, một cách trực tiếp, các giai đoạn của nó trong thể hiện

một cách minh bạch và người suy nghĩ không thể kể ngay ra làm thế nào mà anh ta

Trang 34

đi đến cái quyết định đó, con đường đó vẫn còn chưa nhận thức được, phải sau này

mới xác lập được cơ sở logic của phỏng đoán trực giác đó

Năng lực sáng tạo gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể

Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì

càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa

chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, không thể rèn luyện năng

lực sáng tạo tách rời, độc lập với học tập kiến thức về một lĩnh vực nào đó

Đặc trưng tâm lý quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt chủ

quan và khách quan: chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trong đầu

đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiên cứu

cái quá trình sáng tạo đó xem như là một quá trình diễn ra có quy luật, tác động qua

lại giữa ba thành tố: tự nhiên, ý thức của con người và sự phản ánh tự nhiên vào ý

thức của con người

Đối với người đang hoạt động sáng tạo thì tính mới mẻ, tính bất ngờ, tính ngẫu

nhiên của phỏng đoán đều là chủ quan Người đó có thể biết rằng những điều mình

đề xuất ra nhân loại đã biết rồi Tuy nhiên, sự phát minh, phát kiến mới xuất hiện từ

nhu cầu xã hội đã chín mùi, không người này thì người khác sẽ đạt được, nhiều khi

nhiều người cùng đạt được trong một thời gian

2.1.4 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh

a) Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền quá trình xây dựng kiến thức mới

Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loài người

khẳng định Tuy vậy, chúng luôn luôn là mới mẻ đối với HS Việc nghiên cứu KT

mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi HS phải đưa ra những ý kiến

mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ

Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho HS trên

con đường hoạt động sáng tạo dễ nhận biết được: chỗ nào có thể dựa trên những hiểu

biết đã có, chỗ nào phải đưa ra KT mới, giải pháp mới Việc tập chung sức lực cho

chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo của HS có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy

trực giác nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giới thiệu

cho HS kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học

Theo quan điểm hoạt động, giáo trình vật lý được xây dựng đi từ dễ đến khó,

phù hợp với trình độ HS, tận dụng được những kinh nghiệm sống hằng ngày của họ,

tạo điều kiện cho họ có đề xuất ra những ý kiến mới mẻ, có ý nghĩa, làm cho họ nhận

được hoạt động sáng tạo là hoạt động thường xuyên, có thể thực hiện được với sự cố

gắng nhất định Sự tự tin trong hoạt động sáng tạo là một yếu tố tâm lý rất quan

Trang 35

trọng, làm cho chủ thể nhận thức thoát khỏi sự ràng buộc, hạn chế của những hiểu

biết cũ hay bởi ý kiến của người khác, nhất là của những nhà bác học Như vậy, kiểu

dạy học thông báo – minh họa về nguyên tắc không thể rèn luyện cho học sinh năng

lực sáng tạo

b) Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết

Như đã biết, dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa

học Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến

thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Các nhà khoa học nói rằng: việc xây dựng giả thuyết

dựa trên những khái quát hóa về những sự kiện thực nghiệm, những kinh nghiệm

cảm tính Tuy nhiên, sự khái quát đó không phải là một phép quy nạp đơn giản, hình

thức mà nó chứa đựng một yếu tố mới, không có sẵn trong các sự kiện dùng làm cơ

sở Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện mà luôn luôn phải có một cơ sở nào đó,

tuy chưa thật chắc chắn Có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn đầu của

hoạt động nhận thức vật lí của HS:

 Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có

Ví dụ: quan sát một bình chứa không khí nối với một ống tiết diện nhỏ bên

trong có một giọt chất lỏng để ngăn cách không khí với bình bên ngoài Đem hơ bình

hay để bình lại gần ngọn đèn điện, ta quan sát thấy: giọt chất lỏng di chuyển, chứng

tỏ thể tích khí nở ra Câu hỏi đặt ra là nguyên nhân vì sao chất khí trong bình nở ra

Câu trả lời là ví khí bị hơi lửa, vì để gần đèn điện thì không phải là dự đoán mà là sự

thật, ai cũng thấy Nhưng nếu câu trả lời là: “khí nở ra vì nóng lên” thì đó là một dự

đoán, dựa trên sự liên tưởng đến một các chung giữa ngọn lửa và một cái đèn là “sự

nóng”

 Dựa trên sự tương tự

- Dựa trên một dấu hiệu bên ngoài giống nhau mà dự đoán sự giống nhau về

bản chất

Ví dụ: quan sát hiện tượng xảy ra khi chùm sáng kết hợp giao nhau Ta thấy

có những vân sáng và vân tối xen kẽ và cách đều nhau Hiện tượng này giống như

hiện tượng xảy ra khi hai sóng nước kết hợp giao nhau Ta cũng thấy có những vân

giao động với biên độ cực đại và những vân dao động với biên độ cực tiểu xen kẽ

nhau Từ đó, ta có thể dự đoán ánh sáng cũng có bản chất sóng như sóng nước Ở

đây, biên độ của sóng ánh sáng biểu hiện ở cường độ sáng

- Dựa trên sự giống nhau về cấu tạo mà dự đoán giống nhau về tính chất

Ví dụ: chất khí, chất lỏng, chất rắn đều cấu tạo bởi các phân tử riêng biệt

chuyển động hỗn loạn không ngừng, giữa chúng có những lực hút – đẩy Thí nghiệm

Trang 36

cho biết chất khí nở ra khi nóng lên, có thể dự đoán chất lỏng và chất rắn cũng nở ra

khi nóng lên

- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa

chúng có quan hệ nhân quả

Ví dụ: sau một số lần quan sát, thấy khi cho một nam chân chuyển động

tương đối so với cuộn dây dẫn kín thì trong cuộn dây có dòng điện cảm ứng, ta có

thể dự đoán là chuyển động tương đối giữa nam châm và ống dây là nguyên nhân

gây ra dòng điện cảm ứng

- Dựa trên những xét thấy hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng

tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả của chúng

Ví dụ: quan sát các hạt phấn hoa hòa trong nước, ta thấy chúng chuyển

động hỗn loạn không ngừng Khi hơ nóng làm tăng nhiệt độ của nước lên ta thấy vận

tốc chuyển của các hạt phấn hoa (hạt Braonơ) tăng lên Ngược lại khi làm giảm nhiệt

độ của nước, ta lại thấy vận tốc của các hạt phấn hoa giảm đi Ta có thể dự đoán sự

tăng giảm nhệt độ là nguyên nhân tăng giảm vận tốc của các hạt Braonơ

- Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình

Ví dụ: ta quan sát thấy dòng điện sinh ra quanh nó một từ trường, vậy có

thể dự đoán ngược lại từ trường cũng có thể sinh ra dòng điện

- Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang

một lĩnh vực khác

Ví dụ: quan sát hai lực kế tương tác móc vào nhau gây ra biến dạng, ta

thấy hai lực tương tác giữa chúng bằng nhau và ngược chiều Mở rộng kiến thức đó

cho trường hợp hai vật chuyển động chiều và chạm vào nhau, lực tương tác giữa

chúng gây ra gia tốc Ta dự đoán: trong trường hợp này, hai lực tương tác cũng bằng

nhau và ngược chiều:

F1 = m1a1

F2 = m2a2  m1a1 = m2a2

 Dự đoán về mối quan hệ định lượng

Những hiện tượng vật lí xảy ra rất phức tạp, nhưng một điều đáng ngạc

nhiên là các định luật chi phối chúng rất đơn giản và có thể biểu diễn bằng các công

thức toán học đơn giản Mối quan hệ giữa hai đại lượng vật lí trong chương trình phổ

thông thường được biểu diễn bằng các hàm số sau:

- Bằng nhau

Ví dụ: định luật phản xạ ánh sáng:

Trang 37

- Tỷ lệ theo hàm số lượng giác

Ví dụ: định luật khúc xạ ánh sáng:

sini = nsinr

- Sự bảo toàn của một đại lượng

Ví dụ: định luật bảo toàn cơ năng:

mgh + mvconst

2

2

Trong vật lí còn sử dụng một số hàm số khác để biểu diễn mối quan hệ giữa các

đại lượng vật lí nhưng HS chưa được học ở trường phổ thông

Muốn dự đoán được mối quan hệ định lượng, cần phải thực hiện các phép đo

Thực hiện các phép đo với số các giá trị khác nhau càng nhiều thì càng dự đoán được

chính xác Tuy nhiên, ở trường phổ thông không có thời gian để làm việc đó nên ít

nhất cũng phải làm ba lần với ba giá trị khác nhau của một đại lượng

Trong nhiều trường hợp, nếu biểu diễn các cặp số đo trên một đồ thị thì việc dự

đoán sẽ dễ dàng hơn Tuy nhiên, sự dự đoán về mối quan hệ định lượng bao giờ cũng

phải chú ý đến sai số có thể phạm phải

c) Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán

Trong nghiên cứu vật lí, một dự đoán, một giả thiết thường là một sự khái quát

các sự kiện thực nghiệm nên nó có tính chất trừu tượng, tính chất chung, không thể

kiểm tra trực tiếp được Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thiết có phù hợp với thực tế

không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế như thế nào, có những

dấu hiệu nào có thể quan sát được Điều đó có nghĩa là từ một dự đoán, giả thuyết, ta

phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thí

Trang 38

nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí ngiệm

không

Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ sở cho

dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp với thực tế càng nhiều thì dự đoán

càng trở thành chắc chắn, sát với chân lý hơn

Quá trình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận logic hay suy luận toán học Sự

suy luận này phải đảm bảo là đúng quy tắc, quy luật, không phạm sai lầm Những

quy tắc, quy luật đó đều đã biết, cho nên về nguyên tắc, sự suy luận đó không đòi hỏi

một sự sáng tạo thật sự có thể kiểm soát được

Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đã

rút ra được Ví dụ sau khi dự đoán rằng: “tương tự như chất lỏng, chất rắn cũng nở

ra khi nóng lên”, ta suy ra một hệ quả về một vật rắn cụ thể như một thanh đồng

chẳng hạn: thanh đồng cũng sẽ nở ra khi bị hơ nóng Cần phải bố trí một thí ngiệm

như thế nào để biết được thanh đồng có thật sự nở ra khi bị làm nóng lên không? Có

những cách nào để làm nóng thanh đồng lên, có những cách nào để biết được thanh

đồng có nở ra không? Cần đưa ra một thiết bị thích hợp để phối hợp hai cách đó,

khiến ta có thể đồng thời làm nóng thanh đồng và nhận biết được nó nở ra Trước

đây, HS chưa bao giờ làm việc này Thực tế cũng có nhiều cách làm khác nhau, HS

cũng có thể đưa ra một vài phương án mà họ cho là hợp lý Giáo viên là người có

nhiều kinh nghiệm hơn, sẽ hướng dẫn HS phân tích tính khả thi của mỗi phương án

và chọn ra phương án có triển vọng nhất Việc tổ chức thực hiện phương án kiểm tra

đó ngay trong lớp học cần có thiết bị thích hợp Điều này GV phải chuẩn bị trước,

dựa vào kinh nghiệm dạy học của mình

Chẳng hạn như HS đưa ra ý kiến sau:

- Làm nóng thanh đồng lên bằng cách nhúng nó vào nước nóng hoặc hơ nó

trên ngọn lửa của que diêm, cây nến, bật lửa hay ngọn lửa đèn cồn

- Nhận biết sự nở của thanh đồng bằng cách để nó bên cạnh một thanh khác

có cùng chiều dài mà không bị hơ nóng, đặt hai vật chắn ở hai đầu thanh, nếu thanh

nở ra nó sẽ đẩy vật chắn dịch chuyển; đặt thanh đồng vừa khít vào hai vật chắn cố

định ở hai đầu nhưng vẫn lấy ra, đưa vào được, nếu thanh nở ra nó sẽ chặt khít vào

hai vật chắn, không lấy ra được, không đưa vào được

Giáo viên biết rằng chất rắn nở rất ít, có thể sơ bộ làm cho HS biết điều ấy để

họ lựa chọn phương án nào có thể giúp phát hiện được sự nở ra rất ít của thanh đồng

Về sau, còn cần kiểm tra các chất rắn giãn nở khác nhau Muốn thế cần phải

đưa ra một thiết bị có thể khuếch đại sự dịch chuyển thêm của đầu các thanh đồng,

Trang 39

sắt, nhôm để so sánh Điều này đòi hỏi ở HS vừa phải có kinh nghiệm trong cuộc

sống và có sáng kiến vận dụng tổng hợp các kinh nghiệm đó vào giải quyết nhiệm vụ

cụ thể này Để có thể đề ra được một phương án thí nghiệm kiểm tra, HS không

những phải huy động những kiến thức vật lí đã có mà còn cả những kinh nghiệm

trong đời sống hằng ngày hay từ những môn học khác nữa

Đôi khi để có thể suy ra được một hệ quả có thể kiểm tra được trong thực tiễn,

ta phải thực hiện một chuỗi nhiều phép suy luận liên tiếp Ví dụ: để kiểm tra giả

thuyết cho rằng lực tương tác giữa hai vật chuyển động là hai lực bằng nhau và

ngược chiều, ta phải đo lực bằng cách dựa trên biểu hiện gây ra gia tốc của lực, nghĩa

là dựa vào công thức F = ma Nhưng bởi vì ta không có một dụng cụ để đo trực tiếp

lực trong trường hợp này nên phải tiếp tục thực hiện các phép suy luận cho đến khi

thu được những đại lượng có thể quan sát được trong các thí nghiệm về động lực

học, đó là đường đi và thời gian chuyển động Cụ thể là, cần phải thực hiện các phép

suy luận sau:

Theo công thức F = ma, muốn đo lực, ta phải đo khối lượng của vật và gia tốc

mà vật thu được khi tương tác Khối lượng của vật đo được bằng cân Vì ta không có

dụng cụ đo trực tiếp gia tốc nên để xác định được gia tốc của vật chuyển động nhanh

tương tác với nhau thì chuyển động của vật trước và sau tương tác là chuyển động

thẳng đều Vì vậy, ta có thể xác định các vận tốc vt và vo từ các quảng đường mà vật

đi được trước tương tác, sau tương tác và các khoảng thời gian tương ứng theo công

thức tính vận tốc của chuyển động thẳng đều v =

t

s

Việc bố trí một phương án thí nghiệm để quan sát hiện tượng hay đo lường các

đại lượng cụ thể đã dự đoán có khi tương đối đơn giản (Ví dụ: quan sát hiện tượng

nở vì nhiệt của các vật rắn), nhưng cũng có khi rất phức tạp (Ví dụ: trường hợp đo

lực tương tác giữa hai vật trong tương tác chuyển động nói ở trên) Ở trường hợp

này, phải tạo ra chuyển động không có ma sát, phải đo đồng thời cả s và t Đến đây,

tùy theo trình độ của học sinh mà học sinh có thể đề xuất nhiều phương án thí

nghiệm khác nhau Ví dụ: để khử ma sát phải dùng vật lăn được (bi, xe lăn) hoặc

đệm không khí; còn để đo được đồng thời s và t phải áp dụng biện pháp ghi tự động

vị trí của vật theo thời gian

d) Giải các bài tập sáng tạo

Trang 40

Ở trên, ta đã xem xét việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho học sinh trong quá

trình xây dựng kiến thức mới Ngoài ra, trong dạy học vật lí, người ta còn xây dựng

những loại bài tập riêng vì mục đích này và được gọi là bài tập sáng tạo Trong loại

bài tập sáng tạo này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, học sinh bắt

buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách logic từ

những kiến thức đã học

Khi khảo sát chu trình sáng tạo khoa học, ta đã biết hai giai đoạn khó khăn hơn

cả đòi hỏi sự sáng tạo là giai đoạn từ sự cảm tính tới việc xây dựng mô hình giả

thuyết trừu tượng và giai đoạn chuyển từ một tiên đề lý thuyết và những quy luật

nhất định của hiện tượng sang việc kiểm tra bằng thực nghiệm Giai đoạn thứ nhất

đòi hỏi sự giải thích hiện tượng, trả lời câu hỏi: tại sao? Còn giai đoạn thứ hai lại đòi

hỏi thực hiện một hiện tượng thực, đáp ứng với những yêu cầu đã cho, nghĩa là trả

lời câu hỏi: làm thế nào? Tương ứng với hai trường hợp trên là hai loại bài tập sáng

tạo: bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế chế tạo

Ví dụ: với đề tài “lực tác dụng lên vật chuyển động tròn đều”, có thể đưa ra hai

bài tập sáng tạo sau:

- Bài tập nghiên cứu: một miếng gỗ nhỏ đặt ở rìa một đĩa tròn nằm ngang

Cho đĩa quay từ từ xung quanh một trục xuyên qua tâm đĩa với vận tốc góc tăng từ

từ Đến một lúc nào đó, miếng gỗ bị văng ra khỏi đĩa Giải thích tại sao?

- Bài tập thiết kế: hãy thiết kế một thiết bị trong đó sử dụng trọng lực làm lực

hướng tâm để giữ cho một vật chuyển động tròn đều trong một mặt phẳng nằm

ngang

2.2 Bồi dưỡng các phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí cho học sinh trong

dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông

2.2.1 Phương pháp thực nghiệm

a Khái niệm

Để có thể khái quát hóa các sự kiện thực tế và xây dựng các giả thuyết khoa học

về hiện tượng nghiên cứu, nhà khoa học phải tổ chức và tiến hành thí nghiệm để

khảo sát hiện tượng trong những điều kiện xác định và dựa trên kết quả của thí

nghiệm đó để thu được những tài liệu thực tế làm cơ sở xuất phát cho sự hoàn thành

giả thuyết Để kiểm tra sự đúng đắn của các kết luận lý thuyết thu được nhờ sự suy

luận logic từ mô hình giả thuyết (và cũng là để kiểm tra sự đúng đắn của chính bản

thân giả thuyết) lại phải tiến hành thí nghiệm để có thể đối chiếu lại kết quả của thí

nghiệm với những thí nghiệm như thế gọi là phương pháp thực nghiệm

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm