1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP xử PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH vực GIÁ cả

68 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 547,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995 cũng như Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực ngày 01- 07- 2002 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2008 không đưa ra khái ni

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Thầy NGUYỄN HỮU LẠC ĐOÀN THỊ HUỲNH LIÊN

MSSV: 5062333 LỚP: LUẬT TƯ PHÁP2K32

?

Cần Thơ, tháng 04/2010

Trang 3

Trang 4

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Phạm vi nghiên cứu 2

2 Phương pháp nghiên cứu 2

3 Bố cục của đề tài 2

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ GIÁ 3

1.1 Lý luận chung về xử phạt vi phạm hành chính 3

1.1.1 Vi phạm hành chính 3

1.1.1.1 Lược sử hình thành khái niệm vi phạm hành chính 3

a Yếu tố khách quan của vi phạm hành chính 6

b Yếu tố chủ quan của vi phạm hành chính 7

c Yếu tố khách thể của vi phạm hành chính 8

d Yếu tố chủ thể của vi phạm hành chính 8

1.1.1.4 Phân biệt vi phạm hành chính với một số vi phạm pháp luật khác 10

a Phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm hình sự 10

b Phân biệt vi phạm hành chính và vi phạm kỷ luật 11

c Phân biệt vi phạm hành chính và vi phạm dân sự 11

1.2 Xử phạt vi phạm hành chính – vai trò của xử phạt vi phạm hành chính 12

1.2.1 Xử phạt vi phạm hành chính 12

1.2.2 Vai trò của xử phạt vi phạm hành chính 14

1.3 Lý luận chung về giá cả 17

1.3.1 Sơ lược về sự hình thành giá cả 17

1.3.2 Khái niệm giá cả 18

1.3.3 Đặc trưng của giá cả 18

1.3.4 Vai trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường 19

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIÁ 22

2.1 Các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực giá 22

2.2 Nguyên tắc xử phạt 23

2.3 Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá 26

2.3.1 Thẩm quyền xử phạt 26

2.3.2 Thủ tục, trình tự xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá 28

2.4 Những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, hình thức và mức phạt 31

2.4.1 Hành vi vi phạm những quy định về bình ổn giá 32

2.4.2 Hành vi chấp hành sai giá hiệp thương 33

2.4.3 Đối với hành vi vi phạm về lập phương án giá 35

2.4.4 Hành vi vi phạm về thẩm định giá 37

2.4.5 Hành vi chấp hành sai giá do cơ quan có thẩm quyền quyết định 38

2.4.6 Vi phạm quy định về niêm yết giá 39

2.4.7 Hành vi vi phạm quy định về các hành vi bị cấm quy định tại Điều 28 Pháp lệnh giá 40

2.4.7.1 Hành vi liên kết độc quyền về giá 40

2.4.7.2 Hành vi đầu cơ tăng giá, ép giá 42

2.4.7.3 Hành vi bịa đặt, loan tin không có căn cứ về việc tăng giá hoặc hạ giá 42

Trang 6

2.4.9 Hành vi vi phạm quy định về quản lý thuốc phòng, chữa bệnh cho người 45 2.5 Thời hiệu xử phạt đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá 46 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 48 3.1 Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá cả 48 3.2 Những vướng mắc và bất cập trong xử phạt vi phạm hành chính về giá và một số giải pháp 50 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá 52 3.2.2 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá nhằm năng cao ý thức pháp luật trong nhân dân 55 3.2.3 Đào tạo, nâng cao năng lực, phẩm chất của cán bộ nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá 56 3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá 57 KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, nhà nước ta thực hiện chính sách kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, bên cạnh những mặt tích cực cũng xuất hiện những hạn chế, tồn tại nhất định về mặt xã hội như phân hóa giàu nghèo, nạn thất nghiệp, tình trạng vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng, nhất là trong lĩnh vực vi phạm về giá cả hàng hóa Thực trạng này đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải tăng cường hơn nữa hoạt động quản lý nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hành chính nói chung và trong lĩnh vực giá nói riêng Đảm bảo trật

tự quản lý giá là một trong những điều kiện thiết yếu để ổn định xã hội, thúc đẩy kinh

tế phát triển, làm tiền đề cho sự nghiệp đổi mới đạt được kết quả vững chắc

Thực tiễn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá đã có những đóng góp tích cực như kịp thời trừng trị những vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, góp phần ngăn chặn những hành vi vi phạm trong lĩnh vực này xảy ra, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá cả Tuy nhiên, bên mặt tích cực thì việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá vẫn còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc cần được khắc phục Những hạn chế, vướng mắc này phần lớn là do ý thức tuân thủ pháp luật của người dân chưa cao dẫn đến tình hình vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá nói riêng xảy ra ngày càng tăng và phức tạp Đồng thời, những hạn chế, vướng mắc còn xuất phát từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt như tình trạng đùng đẩy, không xử lý nhanh chóng khi có vi phạm hành chính xảy

ra giữa các cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt Bên cạnh đó thẩm quyền xử phạt của một số chức danh có thẩm quyền trực tiếp xử phạt còn hạn hẹp như Thanh tra viên chuyên ngành Tài chính đang thi hành công vụ thì được phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000đ …

Từ những hạn chế trên, dẫn đến hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá chưa đáp ứng được yêu cầu của đấu tranh phòng, chống và ngăn ngừa vi phạm hành chính xảy ra, làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân và sự phát triển của đất nước Do đó việc nghiên cứu một cách có hệ thống về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá dưới góc độ lý luận cũng như thực tiễn có ý nghĩa quan trọng cho việc xử phạt vi phạm hành chính đạt được hiệu quả cao hơn

Trang 8

2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, tác giả đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh kết hợp lý luận và thực tiễn một cách có chọn lọc những quy định của pháp luật về công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá cả

3 Bố cục của đề tài

Đề tài được trình bày theo bố cục sau:

Chương 1: Trong nội dung chương này, tác giả đề cập đến những vấn đề chung nhất về giá và vi phạm hành chính

Chương 2: Đề cập đến những vấn đề cụ thể được pháp luật quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá

Chương 3: Trong chương này, tác giả đề cập đến thực tiễn xử phạt và những hạn chế trong công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá Từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp, kiến nghị đối với những quyết định chưa phù hợp hoặc chưa quyết định

Xử phạt vi phạm hành chính là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá nói riêng, nhằm góp phần quan trọng trong công tác phòng, chống những hành vi vi phạm này Qua đó, kịp thời xử lý vi phạm hành chính, ngăn chặn hành vi vi phạm mới xảy ra nhằm đảm bảo trật tữ xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trang 9

1.1.1.1 Lược sử hình thành khái niệm vi phạm hành chính

Thuật ngữ vi phạm hành chính mới xuất hiện gần đây Từ trước đến nay nhà nước đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh vi phạm pháp luật hành chính nhằm xử lý

và bảo vệ tài sản của nhà nước và công dân Trong Nghị định 143/NĐ-CP ngày 27- 05-

1977 của Chính phủ ban hành điều lệ xử lý vi cảnh thì không gọi là vi phạm hành chính mà gọi là vi cảnh Từ sau ngày 30- 11- 1989 khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành thì người ta là vi phạm hành chính Trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995 cũng như Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực ngày 01- 07- 2002 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2008 không đưa ra khái niệm vi phạm hành chính trực tiếp mà chỉ đưa ra khái niệm một cách gián tiếp, Khoản 2 Điều 1 quy định: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.1

Nó là một phạm trù pháp lý quan trọng và việc đưa ra khái niệm vi phạm hành chính giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có căn cứ xác đáng dự liệu các hành vi vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Mặt khác, thông qua đó để xác định trách nhiệm hành chính cho các chủ thể vi phạm hành chính dưới các hình thức xử phạt hành chính

Trang 10

Chính vì lẽ đó, công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính luôn là vấn đề được xã hội quan tâm Từ trước đến nay, Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật quy định về vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này Trong đó phải kể đến Nghị định 143/CP ngày 27- 05- 1997 của Chính phủ ban hành điều lệ xử phạt vi cảnh, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30- 11-

1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06- 07- 1995, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02- 07- 2002 và văn bản đang có hiệu lực thi hành là Pháp lệnh xử lý

vi phạm hành chính năm 2002 đã được sửa đổi năm 2007 Cùng với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ đã ban hành hàng loạt các Nghị định quy định cụ thể về việc xử lý các vi phạm hành chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính Nhà nước

Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này, đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tạo cơ sở cần thiết để quy định, xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính, cần đưa ra một định nghĩa chính thức về vi phạm hành chính

Định nghĩa vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh xử lý

vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 Điều 1 của pháp lệnh này chỉ rõ: “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.2

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 không trực tiếp đưa ra định nghĩa

về vi phạm hành chính nhưng khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh đã định nghĩa vi phạm hành chính một cách gián tiếp, theo đó “xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước

mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị

xử phạt vi phạm hành chính”

Tại Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm hành chính cũng được định nghĩa một cách gián tiếp “xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành

vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.”

Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng quan niệm về vi phạm hành chính

2

Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995

Trang 11

trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những dấu hiệu, bản chất của loại vi phạm pháp luật này Trên cơ sở những nội dung đã nêu ra trong các văn bản pháp luật nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau:

Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc

vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người Đây là dấu hiệu cơ bản bắt buộc phải có trong mọi loại vi phạm hành chính Những gì mới chỉ nằm trong tư tưởng, trong suy nghĩ mà chưa thể hiện ra ngoài bằng những hành vi thì chưa thể là vi phạm hành chính

-Hành vi đó không phải là tội phạm;

-Hành vi đó được pháp luật quy định phải bị xử phạt vi phạm hành chính

1.1.1.3 Cấu thành của vi phạm hành chính

Cấu thành của vi phạm hành chính là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng thể hiện đầy đủ tính xâm hại cho trật tự quản lý nhà nước của một loại vi phạm hành chính

và cần thiết cho việc xác định ranh giới của các vi phạm hành chính với nhau

Trong một loại vi phạm hành chính có thể có nhiều cấu thành vi phạm hành chính khác nhau Dựa vào các yếu tố trong cấu trúc của vi phạm hành chính cơ bản và căn cứ vào tình hình vi phạm hành chính, yêu cầu đấu tranh phòng chống mỗi loại vi phạm để xây dựng cấu thành vi phạm hành chính tăng nặng hay cấu thành vi phạm hành chính giảm nhẹ

-Cấu thành vi phạm hành chính tặng nặng bao gồm những dấu hiệu đặc trưng của cấu thành vi phạm hành chính cơ bản và những dấu hiệu bổ sung Những dấu hiệu

bổ sung này phản ánh mức độ xâm hại cho xã hội cao hơn của loại vi phạm hành chính

so với cấu thành vi phạm hành chính cơ bản

- Cấu thành nhẹ bao gồm những dấu hiệu đặc trưng cơ bản và những dấu hiệu

bổ sung Những dấu hiệu bổ sung này phản ánh mức độ xâm hại cho xã hội thấp hơn của loại vi phạm hành chính đó so với cấu thành vi phạm hành chính cơ bản

Trang 12

Dựa trên các dấu hiệu của vi phạm hành chính, cấu thành của hành vi vi phạm hành chính phải có bốn yêu cầu cơ bản sau:

- Yếu tố khách quan của vi phạm hành chính;

- Yếu tố chủ quan của vi phạm hánh chính;

- Yếu tố khách thể của vi phạm hành chính;

- Yếu tố chủ thể của vi phạm hành chính;

a Yếu tố khách quan của vi phạm hành chính

Mặt khách quan của vi phạm hành là những biểu hiện ra bên ngoài của hành vi

vi phạm hành chính Yếu tố có hành vi vi phạm hành chính là bắt buộc, thể hiện :

Hành vi vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ chức tác động vào thế giới khách quan dưới những hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại đến sự tồn tại và phát triển bình thường của trật tự quản lý nhà nước Những biểu hiện này thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành chính

Hành vi vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, chủ thể vi phạm hành chính bằng hành động hay không hành động thực hiện những hành vi nhất định mà pháp luật quy định Tính chất trái pháp luật của hành vi xét về mặt hình thức nó thể hiện ở các dạng sau đây:

+ Làm một việc (hành động) mà pháp luật cấm không được làm;

+ Không làm một việc (không hành động) mà pháp luật đòi hỏi phải làm (nghĩa

vụ pháp lý) ;

+ Sử dụng quyền vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật;

+ Hậu quả của hành vi trái pháp luật: là trật tự quản lý nhà nước bị hành vi vi phạm hành chính tác động tới, gây xâm hại Tuy nhiên, đa số các hành vi vi phạm hành chính là hành vi có cấu thành hình thức nên hậu quả phải được xem là trật tự đã vi phạm, chứ không cần hậu quả nào đó trên thực tế

Quan hệ nhân quả: là mối quan hệ giữa hành vi hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện của nó

là hành vi khách quan của vi phạm hành chính Việc xác định mối quan hệ nhân quả cần phải có những căn cứ nhất định Cụ thể :

+ Hành vi trái pháp luật xảy ra trước hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội về thời gian;

+ Hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả

Trang 13

xâm hại quy tắc quản lý nhà nước;

+ Hậu quả xâm hại đã xảy ra phải chính là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả trái pháp luật

Ngoài ra, còn một số dấu hiệu khác như địa điểm, thời gian, phương tiện, công cụ…của vi phạm hành chính Đây không phải là những dấu hiệu có ý nghĩa quyết định trong mọi cấu thành vi phạm Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể chúng sẽ trở thành dấu hiệu bắt buộc, có ý nghĩa, làm tăng hoặc giảm mức độ của hành vi vi phạm hành chính

b Yếu tố chủ quan của vi phạm hành chính

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là quan hệ tâm lý bên trong, bao gồm các yếu tố: Lỗi, mục đích, động cơ của vi phạm hành chính Trong đó yếu tố lỗi được coi là một dấu hiệu cơ bản trong cấu thành của mọi vi phạm hành chính, có ý nghĩa quyết định đến các yếu tố khác trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính

Lỗi là trạng thái tâm lý của một người khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi của mình Khi một người nhận thức được các yêu cầu xử sự cần thiết mà lại chọn và thúc đẩy hành động của mình trái với yêu cầu này thì người đó có lỗi trong hành vi của mình Lỗi trong luật hành chính bao gồm: lỗi cố ý và lỗi vô ý

- Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là thái độ tâm lý của một người khi thực hiện hành vi trái pháp luật hành chính nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc nhưng lại có ý thức xem thường mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ

đó

- Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của một người khi thực hiện hành vi trái pháp luật hành chính do vô tình hoặc thiếu thận trọng mà không nhận thức được những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo đúng nghĩa vụ này

Trong đó lỗi là một dấu hiệu cơ bản, bắt buộc hiện diện trong mọi cấu thành của hành vi vi phạm hành chính Vì vậy, các trường hợp loại trừ các yếu tố lỗi sẽ không đủ các dấu hiệu cần thiết để xác định hành vi vi phạm pháp luật Ví dụ: tình thế cấp thiết,

sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng…

Tuy nhiên mức độ của lỗi thì tùy trường hợp để xem xét Thậm chí trong rất nhiều cấu thành của vi phạm hành chính, khi truy cứu cũng không cần xem xét mức độ lỗi là cố ý hay vô ý Ví dụ: vượt đèn đỏ

Trang 14

Mục đích của vi phạm hành chính là dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành của mỗi loại vi phạm hành chính Nó chỉ có ở một số cấu thành nhất định, tồn tại ở một số với lỗi cố ý Động cơ vi phạm hành chính là động lực bên trong thúc đẩy người vi phạm hành chính vi phạm hành chính Trừ những vi phạm hành chính với lỗi cố ý có mục đích xác định, phần lớn động cơ trong vi phạm hành chính là không rõ rệt Với ý nghĩa như vậy, động cơ vi phạm hành chính không có ý nghĩa quyết định tính chất xâm hại của một loại vi phạm hành chính, động cơ vi phạm hành chính không được coi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tất cả mọi loại vi phạm hành chính

c Yếu tố khách thể của vi phạm hành chính

Khách thể của vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước có nội dung

xã hội và các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước được pháp luật quy định và bảo vệ Còn hình thức pháp lý của chúng là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra, tức là các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các hoạt động của các bên tham gia quan hệ quản lý nhà nước bao gồm:

Khách thể chung của vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung Khách thể chung được thể hiện trong các quy phạm pháp luật tổng quát, có tính luật

Ví dụ : Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002

Khách thể loại là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước Đây chính là trật tự quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc từng lĩnh vực cụ thể

Ví dụ: Nghị định 169/2004/NĐ-CP ngày 22-9-2004 của chính phủ quy định về

Trang 15

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong trường hợp thực hiện với lỗi cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi cố ý hoặc vô

ý trong vi phạm hành chính Tuy nhiên, trong thực tiễn, người ta thường quan niệm người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện

Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mỗi trường hợp

Tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm: các cơ quan nhà nước, các

tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các

tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật

Khi xác định một cá nhân nào đó có phải là chủ thể của vi phạm hành chính hay không chính là xác định cá nhân đó khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có lỗi hay không Lỗi chỉ có thể ở cá nhân, ở con người cụ thể Vì vậy, tổ chức, pháp nhân không thể có lỗi dưới góc độ pháp lý được

Để đảm bảo cho việc đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính có hiệu quả trong trường hợp một tổ chức (cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội…) có biểu hiện xem thường pháp luật, vô trách nhiệm với các nghĩa vụ pháp lý mà có những hành vi vi phạm hành chính…thì cũng vẫn phải chịu trách nhiệm hành chính như đối với cá nhân

Tổ chức trong trường hợp này có thể được xem như là chủ thể đặc biệt của vi phạm hành chính Trong cấu thành vi phạm hành chính của tổ chức, do không xác định được lỗi của nó nên ở đây, yếu tố chủ quan không có ý nghĩa gì cả Chỉ cần tổ chức đó có biểu hiện xâm hại đến các khách thể trong lĩnh vực quản lý nhà nước, trái pháp luật hành chính là xem như đủ cơ sở để coi là chủ thể của vi phạm hành chính

Tất cả các chủ thể nêu trên phải đủ năng lực chủ thể, tức là phải có năng lực chủ thể và năng lực hành vi

Đối với tổ chức nói chung, năng lực pháp luật và năng lực hành vi phát sinh cùng lúc từ khi tổ chức đó có quyết định thành lập hoặc công nhận hoạt động hợp pháp

Vì vậy cả hai loại năng lực này cùng chấm dứt khi tổ chức chấm dứt hoạt động hoặc theo pháp luật, bị buộc phải chấm dứt hoạt động

Năng lực trách nhiệm hành chính là cơ sở chủ yếu bên trong để xác định lỗi Cơ

sở đánh giá bên trong suy cho cùng là năng lực nhận thức của con người Chỉ khi nào

Trang 16

xác định năng lực nhận thức tức là khả năng hiểu và điều khiển được hành vi thì mới khẳng định được lỗi của người vi phạm Có xác định được lỗi của một người khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì mới xác định được chủ thể của vi phạm hành chính, không có lỗi trong hành vi thì không có chủ thể của vi phạm hành chính Đối với

cá nhân, năng lực pháp luật phát sinh khi cá nhân đó ra đời và mất khi cá nhân đó mất

đi Còn năng lực pháp luật được phát sinh sau khi có năng lực pháp luật mà mình có thể nhận thức và điều khiển hành vi bản thân, thể hiện người đó thỏa mãn các điều kiện luật định: đạt đến một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng hành vi Trong khi đó, độ tuổi có năng lực hành vi theo Pháp lệnh xử

lý vi phạm hành chính 1995 và 2002 (Điều 7) được xác định như sau:

+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra;

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, là những người bắt đầu có năng lực trách nhiệm hành chính, chỉ bị xử phạt hành chính đối với những vi phạm hành chính được thực hiện với lỗi cố ý Đây là tuổi có năng lực trách nhiệm hành chính chưa đầy

đủ và những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được gọi là những người có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ Có những người tuy đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính nhưng lại mắc bệnh tâm thần, rối loạn hoạt động thần kinh chức năng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc bị một bệnh nào đó làm mất khả năng điều khiển hành vi được xem là không có lỗi Những người trong tình trạng như vậy không thể là chủ thể của vi phạm hành chính

Riêng đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi về ngoại giao, lãnh sự nếu họ vi phạm pháp luật hành chính thì việc xử lý vi phạm hành chính của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao

1.1.1.4 Phân biệt vi phạm hành chính với một số vi phạm pháp luật khác

a Phân biệt vi phạm hành chính với vi phạm hình sự

Khi xác định các dấu hiệu của vi phạm hành chính, cần đặc biệt lưu ý đến việc nhận biết các dấu hiệu để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm hình sự Vi phạm hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Trong rất nhiều trường hợp, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự rất khó phân biệt Như vậy, nếu không xác định đúng đắn vấn đề này thì

có thể sẽ xảy ra tình trạng để lọt tội phạm hoặc xử lý oan người vi phạm chưa đến mức

Trang 17

phạm tội

Việc phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm có thể dựa vào nhiều căn cứ khác nhau Trước hết, hai loại vi phạm này được phân biệt với nhau ở yếu tố chủ thể Nếu như chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức thì chủ thể của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự nước ta chỉ có thể là cá nhân

Vi phạm hành chính khác với vi phạm hình sự ở mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi vi phạm Vi phạm hành chính tuy xâm hại đến các quan hệ xã hội nhưng ở mức độ thấp, còn tội phạm hình sự có tính nguy hiểm cho xã hội cao Sự khác nhau về mức độ giữa hai hành vi vi phạm này thường được xem xét thong qua việc định tính hóa (về tính chất quan trọng của khách thể bị xâm hại) hoặc định lượng hóa (mức độ thiệt hại của khách thể do hành vi vi phạm gây ra) Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này thể hiện một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ngoài ra, còn có thể thấy sự khác biệt của hai loại vi phạm này ở cơ sở pháp lý quy định chúng Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự và chỉ có Quốc hội mới có quyền đặt ra các quy định về tội phạm và hình phạt Vi phạm hành chính được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Luật, Pháp lệnh, Nghị định

Tội phạm được xử lý theo trình tự và thủ tục tư pháp còn vi phạm hành chính chủ yếu thuộc thẩm quyền lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và theo thủ tục hành chính

b Phân biệt vi phạm hành chính và vi phạm kỷ luật

Vi phạm kỷ luật là hành vi của công nhân viên chức xâm phạm kỷ luật nội bộ của cơ quan nhà nước Còn vi phạm hành chính là hành vi xâm phạm các quy tắc về quản lý nhà nước

Vi phạm hành chính và vi phạm kỷ luật còn khác nhau ở chủ thể vi phạm, trình

tự, thủ tục xử lý vi phạm

c Phân biệt vi phạm hành chính và vi phạm dân sự

Vi phạm hành chính xâm phạm các quyền liên quan đến quản lý hành chính nhà nước Còn vi phạm dân sự xâm phạm đến quyền chủ thể của người bị thiệt hại

Chế tài dân sự luôn nhằm mục đích khắc phục thiệt hại đã xảy ra Còn chế tài

Trang 18

hành chính ngoài mục đích này còn nhằm duy trì một trật tự hành chính ổn định, mang tính trừng phạt, răn đe

1.2 Xử phạt vi phạm hành chính – vai trò của xử phạt vi phạm hành chính

1.2.1 Xử phạt vi phạm hành chính

Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

Tham gia vào quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, các chủ thể được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ pháp lý nhất định Khi những chủ thể này không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật quy định thì họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi Đây là điều cần thiết, bởi vì sức mạnh của pháp luật thể hiện ở việc đặt ra các quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp trong đó có biện pháp cưỡng chế nhà nước

Cưỡng chế hành chính là một dạng cưỡng chế nhà nước, nó được áp dụng vì lợi ích của nhà nước và nhân danh nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có chức vụ áp dụng Đó là tổng hợp các biện pháp mà nhà nước áp dụng để tác động đến tâm lý, tư tưởng và hành vi của công dân, người có chức vụ buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý nhằm mục đích ngăn chặn các hành vi trái pháp luật, đảm bảo trật tự quản lý nhà nước và xử lý trách nhiệm người gây ra vi phạm pháp luật Cưỡng chế hành chính bao gồm nhiều loại biện pháp khác nhau, được áp dụng theo từng mục đích nhất định: các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp pháp phòng ngừa hành chính; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính; các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp xử phạt

vi phạm hành chính khác

Xử phạt vi phạm hành chính là một bộ phận cưỡng chế hành chính với mục đích

là xử lý các hành vi vi phạm hành chính nhằm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức

Xử phạt vi phạm hành chính thực chất là một loại hành động áp dụng pháp luật hành chính, là quá trình các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền căn cứ vào pháp

Trang 19

luật, tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ… để ban hành các quyết định xử phạt, gây cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính một hậu quả pháp lý đặc biệt, họ buộc phải chịu hậu quả bất lợi trước nhà nước

về tinh thần hoặc tài sản

Khác với các loại biện pháp cưỡng chế hành chính khác, xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm riêng biệt sau:

- Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Nói cách khác, vi phạm hành chính là cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

và các Nghị định của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước cụ thể, là cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính

- Về bản chất xử phạt vi phạm hành chính là một loại hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước, cho nên hoạt động xử phạt hành chính chỉ được thực hiện bởi các cơ quan, cán bộ nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, tức

là chỉ những cơ quan, cán bộ nhà nước nào được nhà nước trao thẩm quyền xử phạt hành chính mới có quyền quyết định xử phạt

- Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính với mục đích là xử lý các hành vi vi phạm hành chính nhằm đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính Vì thế, nó chỉ được áp dụng để xử phạt đối với hành vi nào bị pháp luật xử phạt vi phạm hành chính coi là vi phạm Tức là nó chỉ được áp dụng trên cơ sở vi phạm hành chính xảy ra, do đó khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ quan, cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi phạm hành chính xảy ra hay không, tính chất và mức độ của vi phạm hành chính như thế nào, hành vi vi phạm hành chính đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt hành chính hay chưa

- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính phải được thực hiện bằng quyết định

xử phạt hành chính Bởi vì, quyết định xử phạt hành chính là hình thức thể hiện công khai ý chí của nhà nước về thái độ phản ứng trước hành vi vi phạm hành chính và mức cưỡng chế của nhà nước đối với chủ thể vi phạm

- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính phải được thực hiện trong khuôn khổ

và tuân thủ theo pháp luật về trình tự, thủ tục hành chính được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban

Trang 20

hành

- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở các quyết định

xử phạt hành chính, trong đó ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính Việc áp dụng biện pháp xử phạt đó thể hiện

sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính, qua đó giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung

Tóm lại, xử phạt vi phạm hành chính là một loại hoạt động cưỡng chế hành

chính cụ thể mang tính quyền lực nhà nước, phát sinh khi có vi phạm hành chính, biểu hiện ở việc áp dụng các chế tài hành chính mang tính chất trừng phạt, gây cho đối tượng bị áp dụng thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần và do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật Khi tiến hành hoạt động

xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc xử phạt được quy định trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2002, sửa đổi bổ sung năm 2007, năm 2008:

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật;

- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định;

- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay Việc xử lý phải được tiến hành nhanh chóng, công minh; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng pháp luật;

- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì bị xử phạt từng hành vi Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt;

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phỉa căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử

lý thích hợp;

- Không xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

1.2.2 Vai trò của xử phạt vi phạm hành chính

Để tác động đến các quan hệ xã hội, hành vi của đối tượng bị quản lý, trong quá

Trang 21

trình quản lý của mình, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng nhiều biện pháp khác nhau Trong đó có kết hợp cả thuyết phục và cưỡng chế Thuyết phục

có vai trò rất quan trọng để việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố pháp chế

xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, nếu chỉ áp dụng biện pháp thuyết phục không thì không phải lúc nào cũng đảm bảo hiệu quả quản

lý Vì thế, khi thuyết phục không có tác dụng thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết nhằm đảm bảo việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, giữ vững kỷ cương nhà nước, đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân

Nhưng tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại vi phạm mà nhà nước áp dụng các loại biện pháp cưỡng chế khác nhau: cưỡng chế dân sự, cưỡng chế hình sự, cưỡng chế

kỷ luật hay cưỡng chế hành chính

Vì thế bên cạnh việc giáo dục, thuyết phục thì xử phạt vi phạm hành chính là công cụ pháp lý cò vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước:

- Xử phạt vi phạm hành chính là công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng

và chống vi phạm hành chính, nhằm bảo vệ trật tự quản lý nhà nước, củng cố pháp chế

xã hội chủ nghĩa

Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Vì vậy, để quản lý xã hội bằng pháp luật, nhà nước trước hết phải đặt ra pháp luật và pháp luật chỉ thực sự có tác dụng khi

nó được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế Khi có vi phạm hành chính xảy ra, điều

đó có nghĩa là pháp luật đã không được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội, pháp chế xã hội chủ nghĩa bị vi phạm Do đó nhà nước buộc phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế

- Xử phạt vi phạm hành chính là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

cá nhân, tổ chức

Vi phạm hành chính xảy ra mặc dù tính nguy hiểm cho xã hội không cao nhưng nhìn chung chúng đều mang tính nguy hiểm cho xã hội Nó trực tiếp xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước

Việc xử phạt vi phạm hành chính ngoài tác dụng trừng trị người vi phạm, còn có

ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng ngừa, cải tạo, giáo dục chủ thể đó ý thức tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Mặt khác, nó còn giáo dục, răn đe những người khác không vi phạm pháp luật Dần từng bước hạn chế và tiến đến loại trừ

Trang 22

những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước Từ đó, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khỏi sự xâm hại của vi phạm hành chính

- Xử phạt vi phạm hành chính còn góp phần năng cao ý thức pháp luật cho người dân Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của công dân và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật Vì vậy, ý thức pháp luật càng được nâng cao thì tinh thần tôn trọng pháp luật càng được bảo đảm

Xử phạt vi phạm hành chính không đơn thuần chỉ có tác dụng trừng trị đối với những chủ thể vi phạm pháp luật Thông qua việc xử phạt, người có thẩm quyền còn giải thích cho người vi phạm hiểu được hành vi của họ đã xâm hại đến trật tự quản lý nhà nước được pháp luật bảo vệ và hậu quả là họ phải gánh chịu các hình thức xử phạt

Vì vậy, việc xử phạt hành chính còn có tác dụng định hướng đúng đắn đối với các giá trị xã hội được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, làm cho họ nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi vi phạm Từ đó góp phần nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của người dân

- Xử phạt vi phạm hành chính còn góp phần ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm hình sự xảy ra Vi phạm hành chính và tội phạm đều là những hành vi vi phạm pháp luật Nhưng sự khác nhau giữa chúng là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm Tuy nhiên, một hành vi vi phạm hành chính mặc dù tính nguy hiểm chi xã hội không cao nhưng nhiều hành vi vi phạm cộng lại sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Mặt khác, nếu như vi phạm hành chính không được ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh thì trong nhiều trường hợp sẽ có sự chuyển hóa từ vi phạm hành chính sang tội phạm

Xử phạt vi phạm hành chính với mục đích xử lý nhanh chóng, kịp thời các hành

vi vi phạm hành chính đã xảy ra, đồng thời ngăn ngừa các vi phạm mới xảy ra

Như vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước thì việc áp dụng các biện pháp xử

phạt vi phạm hành chính có vai trò hết sức quan trọng Nó không chỉ là biện pháp trừng trị đối với người thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà nó còn là công cụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ trật tự quản lý nhà nước Đồng thời là công cụ bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm xảy ra, nhằm giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội

Trang 23

1.3 Lý luận chung về giá cả

1.3.1 Sơ lược về sự hình thành giá cả

Trong lịch sử phát triển của loài người, lúc đầu con người sống thành từng bầy, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ Tuy nhiên ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm mống của sự trao đổi Lúc đầu nó mang tính ngẫu nhiên, và tiến hành dưới hình thức vật đổi vật Giá trị của sản phẩm cá biệt chỉ biểu thị một cách ngẫu nhiên trong một hàng hóa bất kỳ nào đó Hình thái giá trị này là hình thái giản đơn, giá trị của một vật được thể hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật khác

Khi phân công lao động xuất hiện, đã làm tăng năng xuất lao động xã hội, sản phẩm thặng dư nhiều, trao đổi trở nên thường xuyên hơn Thích ứng với giai đoạn phát triển này là hình thái giá trị mở rộng Ở đây, hình thái ngang giá được mở rộng ra nhiều hàng hóa khác nhau Tuy nhiên trao đổi vẫn mang tính chất trực tiếp

Sự phát triển tiếp tục của lược lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng tăng, hình thái giá trị mở rộng càng bộc lộ nhiều nhược điểm Trong quá trình trao đổi, tất yếu đòi hỏi phải có một hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tách ra từ các hàng hóa khác và có khả năng trao đổi được với tất cả các hàng hóa khác Như vậy, việc trao đổi không còn mang tính trực tiếp mà phải qua một bước trung gian

Tuy nhiên, vật ngang giá chung chưa ổn định ở một hàng hóa nào cụ thể Các vùng, khu vực khác nhau có những háng hóa khác nhau đóng vai trò vật ngang giá chung, hình thái giá trị chung xuất hiện

Cùng với hàng hóa phát triển và mở rộng thị trường, tình trạng nhiều hàng hóa làm vật ngang giá chung trở nên mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Điều đó đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất giữa các vùng, miền, khu vực Khi vật ngang giá chung cố định ở một hàng hóa là vàng, khi đó hình thái giá trị chung chuyển thành hình thái tiền tệ

Như vậy, tiền xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thái giá trị Khi tiền xuất hiện, thế giới hàng hóa được phân làm hai: một là hàng hóa thông thường, hai là hàng hóa tiền tệ

Theo Các Mác, tiền là một hàng hóa đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng làm vật ngang giá chung để thể hiện và đo lường giá trị của một hàng hóa Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng

Trang 24

hóa So sánh hàng hóa này với hàng hóa khác thông qua đồng tiền làm môi giới được biểu hiện ra ngoài là giá cả Giá cả xuất hiện, kinh tế hàng hóa ra đời thay cho kinh tế hiện vật Kinh tế hàng hóa phát triển cùng với sự hoàn thiện của hệ thống nhà nước đã tạo ra sự ra đời của tiền mới – tiền phù hiệu; mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn có những hình thái tiền tệ khác nhau Sự xuất hiện và hoàn thiện của phạm trù giá cả gắn liền với

sự phát triển của kinh tế hàng hóa và sự hoàn thiện của nhà nước

1.3.2 Khái niệm giá cả

Giá cả với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan:

Theo quan điểm của các nhà kinh tế thị trường hiện đại, giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, đồng thời cũng biểu hiện một cách tổng hợp các mối quan hệ lớn trong nền kinh tế quốc dân như: quan hệ tích lũy với tiêu dùng, quan hệ công nghiệp với nông nghiệp, quan hệ giữa các ngành, các vùng, giữa các tầng lớp dân cư khác nhau …

Trên góc độ của người mua và người bán:

- Trên góc độ của người mua: Giá cả là tổng số tiền phải chi ra để có được quyền sở hữu và quyền sử dụng một khối lượng hàng hóa hay một hang hóa nhất định.Giá cả tác động trực tiếp dến lợi ích của người tiêu dùng, đây là một căn cứ để người tiêu dùng ra quyết định mua hàng hóa Sự chấp nhận của người mua, hành vi mua của người mua sẽ ấn định mức giá cuối cùng của hàng hóa Sự chấp nhận của người mua tuy có những nét riêng của từng con người cụ thể, nhưng nó không thoát ly khỏi những yếu tố chung của nền kinh tế đó là thu nhập quốc dân, sức mua của đồng tiền …

- Trên góc độ của người bán: Giá cả là tổng số tiền thu được khi tiêu thụ một khối lượng hàng hóa hay một đơn vị hàng hóa nhất định Giá cả tác động trực tiếp đến lợi nhuận của người bán trong một đơn vị sản phẩm Giá cả tác động gián tiếp đến tổng lợi nhuận của người bán thông qua việc tác động đến khối lượng hàng tiêu thụ của người bán – quyết định khối lượng hàng hóa cung ứng ra thị trường Ở mỗi mức giá khác nhau, lượng hàng hóa tiêu thụ được khác nhau, tổng khối lượng hàng hóa tiêu thụ ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận thu được của người bán

1.3.3 Đặc trưng của giá cả

Từ các khái niệm trên cho thấy giá cả có các đặc trưng cơ bản sau:

- Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan đồng thời là một chỉ tiêu kinh tế

Trang 25

hiện hữu trong đời sống kinh tế xã hội, đồng thời nó cũng là một phạm trù kinh tế trung tâm của kinh tế thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với các phạm trù kinh tế khác như: phạm trù hàng hóa, tiền tệ, chi phí, lợi nhuận, thu nhập quốc dân,

- Giá cả biểu hiện sự thống nhất của giá trị sử dụng Trên thị trường giá cả hình thành thống nhất theo một đơn vị sử dụng Mặt biểu hiện quan trọng nhất của giá trị sử dụng là chất lượng hàng hóa, vì vậy giá cả tất yếu hình thành theo chất lượng của hàng hóa, giá cả xoay quanh giá trị Tại một thị trường và thời gian nhất định, hàng hóa có chất lượng ngang nhau thì giá cả sẽ như nhau Sự thống nhất giữa giá trị sử dụng và giá trị là cơ sở để hiện diện mức giá trên thị trường Điều đó có nghĩa là đối với người mua hàng thì giá trị sử dụng có vai trò đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và thỏa mãn lợi ích tiêu dùng chứ không phải là giá trị

- Giá cả phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua Người mua bao giờ cũng muốn mua rẻ, còn người bán bao giờ cũng muốn bán với giá cao Mâu thuẫn trên chỉ được giải quyết khi giá cân bằng thị trường xuất hiện, đó là giá

cả mà tại đó người bán đồng ý bán và người mua đồng ý mua một hàng hóa dịch vụ nào đó

- Giá cả biểu hiện sự thừa nhận của thị trường về những gì có trong sản phẩm mang bán thông qua quyết định mua và hành vi mua của người mua Khi người mua chấp nhận mua hàng hóa và trả giá cho hàng hóa đó, tức là thị trường đã thừa nhận trực tiếp, cũng có nghĩa về cơ bản quá trình sản xuất của hàng hoá đã hoàn thành Thị trường thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, chuyển giá trị sử dụng và giá trị sử dụng cá biệt thành giá trị sử dụng và và giá trị xã hội của hàng hóa

1.3.4 Vai trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường

Trong hệ thống thị trường, mọi thứ đều có giá cả, đó là giá trị hàng hóa hoặc dịch vụ được tính bằng tiền Giá cả thể hiện mức mà người tiêu dùng và các nhà sản xuất tự nguyện trao đổi các loại hàng hóa với nhau.Giá cả hoạt động như một tìn hiệu đối với nhà sản xuất và người tiêu dùng Nếu nhu cầu của người tiêu dùng tăng thì giá

cả là phương tiện phát tín hiệu cho người bán biết cần cung ứng nhiều hơn Tuy nhiên, nếu có một hàng hóa bị tồn kho quá nhiều, tín hiệu giá cả sẽ báo cho các nhà sản xuất biết cần phải hạn chế sản xuất, giá cả có xu hướng giảm xuống Với mức giá thấp hơn, nhiều người tiêu dùng sẽ muốn mua hàng hóa đó nhiều hơn, nhưng vì giá thấp người sản xuất lại muốn sản xuất ít hơn Kết quả là sự cân bằng giữa người mua và người bán được duy trì Giá cả sẽ kết hợp các quyết định của nhà sản xuất và người tiêu dùng trên

Trang 26

thị trường Giá cả tăng không khuyến khích người tiêu dùng nhưng khuyến khích nhà sản xuất Ngược lại, giá cả giảm xuống sẽ khuyến khích người tiêu dùng nhưng không khuyến khích nhà sản xuất

Toàn bộ hàng hóa tiêu dùng và các yếu tố sản xuất đều có sự mua bán trên thị trường thông qua các hình thức khác nhau Cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó người tiêu dùng và nhà sản xuất tác động lẫn nhau qua thị trường để đồng thời giải quyết ba vấn đề cái gì, như thế nào và cho ai?

Trong nền kinh tế, các lực lượng hoạt động có thể làm thay đổi cung cầu Khi cân đối tất cả các lực lượng hoạt động của nền kinh tế, thị trường sẽ tìm được sự cân bằng cung cầu Vậy cân bằng thị trường thể hiện sự cân bằng giữa tất cả các người mua

và người bán khác nhau Các hộ gia đình và các doanh nghiệp đều muốn mua hoặc bán một số lượng hàng hóa nhất định tùy thuộc vào giá cả Thị trường tìm ra giá cân bằng, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của cả người mua và người bán Tại mức giá mà người mua muốn mua cũng chính là mức giá mà người bán muốn bán là sự cân bằng giữa cung và cầu

Khi cân bằng giữa cung và cầu trong từng thị trường riêng lẽ được thực hiện, nền kinh tế thị trường đồng thời giải quyết ba vấn đền kinh tế cơ bản: cái gì, như thế nào, cho ai?

Khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì giá cả có các chức năng chủ yếu sau:

- Giá cả là phương tiện tính toán chi phí, tính toán hao phí lao động xã hội cần thiết biểu hiện ra là chi phí xã hội cần thiết Giá cả là căn cứ xác định các phương án đầu tư trong xản xuất kinh doanh Giá cả là tấm gương phản ánh tình trạng kinh tế xã hội, thông qua mức giá chung và biến động của nó, người ta thấy được các mối quan hệ cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân

- Giá cả phân phối lại thu nhập quốc dân Sự tách rời nhau giữa giá cả với giá trị dẫn đến phân phối lại thu nhập quốc dân Giá cả của hàng hóa lấy giá trị của hàng hóa làm cơ sở, là hình thức biểu hiện ra bề ngoài của giá trị Nhưng tên thực tế, do chịu ảnh hưởng của mối quan hệ cung cầu trên thị trường, nên giá cả thường có khoảng cách nhất định với giá trị Giá cả cao hơn hay thấp hơn giá trị làm cho thu nhập dịch chuyển giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng Khi giá cả cao hơn giá trị thì có sự phân phối lại

từ người tiêu dùng sang người sản xuất Khi giá cả thấp hơn giá trị thì có sự phân phối lại thu nhập từ người sản xuất sang người tiêu dùng Phân phối giá cả được thực hiện

Trang 27

một cách gián tiếp trong quá trình trao đổi, vì thế gọi là hình thức phân phối gián tiếp

Hệ thống giá cả hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng đến trình độ hợp lý hóa cơ cấu phân phối thu nhập quốc dân Hệ thống giá cả hợp lý có thể thúc đẩy phân phối thu nhập quốc dân giữa các ngành kinh tế, các tập đoàn xã hội, giữa các khu vực với nhau, phối hợp nhịp nhàng mối quan hệ lợi ích từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế một cách hiệu quả Hệ thống giá cả bất hợp lý sẽ phản ánh méo mó sự đóng góp của các ngành kinh tế, và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập quốc dân Một số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả nhưng vì giá cao nên thu được nhiều lợi nhuận và ngược lại Do đó tiến hành cải cách hệ thống giá cả để thúc đẩy sự hợp lý hóa

cơ cấu phân phối thu nhập quốc dân là vấn đề hết sức cần thiết

Trong nền kinh tế thị trường, giá cả điều tiết nền sản xuất xã hội, tác động dến người mua và người bán Giá cả là bàn tay vô hình điều tiết và kích thích sản xuất, tiêu dùng thông qua lợi ích kinh tế của người bán và người mua 3

- Đối với người bán – nhà sản xuất: khi giá cao, lợi nhuận đem lại nhiều hơn, kích thích bỏ vốn đầu tư tăng sản lượng cung ứng ra thị trường Ngược lại, khi giá giảm, lợi nhuận giảm, người sản xuất buộc phải hạn chế sản xuất và cắt giảm sản lượng

- Đối với người mua: giá cao hạn chế nhu cầu tiêu dùng, khi giá thấp thì tiêu dùng có khả năng tăng lên

Tóm lại, giá cả là tín hiệu cho người sản xuất và người tiêu dùng đưa ra quyết định kinh tế tối ưu nhất

Trang 28

Cảnh cáo trong xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với những hành

vi vi phạm hành chính nhỏ, do sơ suất, vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ mà chưa gây thiệt hại vật chất, do không hiểu biết hoặc tác động của nguyên nhân khác quan Hình thức phạt cảnh cáo thể hiện sự đánh giá của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hành chính do người thực hiện gây ra Cảnh cáo mang tính cưỡng chế Nhà nước, bởi vì

nó là một trong những hình thức xử phạt vi phạm hành chính nhưng mang nặng ý nghĩa giáo dục

Hình thức phạt cảnh cáo do cơ quan, người có thẩm quyền quyết định bằng văn bản, tức là bằng quyết định xử phạt hành chính dưới hính thức viết

Hình thức xử phạt cảnh cáo khác với hình phạt cảnh cáo ở mức độ nghiêm khắc của chế tài, cụ thể là: người bị tòa án tuyên hình phạt cảnh cáo, theo thủ tục tố tụng hình sự được coi là có án tích và bị ghi vào lý lịch tư pháp; hình thức xử phạt hành chính cảnh cáo là hình thức xử phạt mang tính giáo dục đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính; đối tượng áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo không được coi là có

án tích và không bị ghi vào lý lịch tư pháp

Cũng cần phân biệt hình thức xử phạt cảnh cáo với hình thức kỷ luật cảnh cáo

áp dụng đối với cán bộ, công chức Hai hình thức này khác nhau ở chỗ hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức

có hành vi vi phạm các quy định có liên quan đến nghĩa vụ của cán bộ, công chức, các quy định mà cán bộ, công chức không được làm các quy định về nội quy làm việc trong cơ quan, đơn vị nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Hình thức xử phạt cảnh cáo do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quyết định

áp dụng, theo thủ tục xử phạt hành chính đã được pháp luật quy định; hình thức kỷ luật cảnh cáo do thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức áp dụng đối với cán

Trang 29

bộ, công chức thuộc thẩm quyền theo thủ tục xử lý kỷ luật do pháp luật quy định

Phạt tiền:

Phạt tiền được áp dụng phổ biến đối với nhiều loại vi phạm hành chính Phạt tiền tác động đến vật chất của người vi phạm, gây cho họ hậu quả bất lợi về tài sản Mức phạt tiền thể hiện mức cưỡng chế Nhà nước đối với người vi phạm

Trong các hính thức xử phạt hành chính thì phạt tiền là một hình thức xử phạt đã

và đang đem lại hiệu quả to lớn đối với việc đấu tranh chống vi phạm hành chính

Mức phạt tiền tối thiểu trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá là 100.000 đồng, tối đa là 30.000.000 đồng Mức phạt tiền này được quy định dựa trên sự đánh giá của Nhà nước về tính chất, mức độ xâm hại của vi phạm hành chính đối với trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá, đồng thời còn được quy địnhn dựa trên cơ

sở tổng kết thực tiển áp dụng hình thức phạt tiền và tính hiệu quả của nó trong đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá, nhằm đảm bảo tính hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội Nếu quy định mức phạt tiền cao sẽ không phù hợp với điều kiện kinh tế chung của toàn xã hội, nếu quy định mức phạt tiền thấp sẽ không phát huy được tác dụng hữu hiệu của việc phạt tiền, khiến cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thái độ khinh nhờn pháp luật

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá còn có thể một hoặc các hình phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng thẻ thẩm định viên về giá, tịch thu số tiền thu lợi do vi phạm hành chính

Ngoài các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung nêu trên, cá nhân, tổ chức,

vi phạm hành chính còn có thể bị buộc áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau: tịch thu toàn bộ số tiền chênh lệch có được do vi phạm hành chính; buộc phải bồi thường toàn bộ số tiền bị tổn thất do vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá gây ra; thu hồi tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, do khai man, khai khống hồ sơ thanh toán mà có được; tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, tiền hỗ trợ để thực hiện chính sách giá đã sử dụng sai mục đích; phải chịu mọi chi phí để thực hiện việc hoàn trả tiền chênh lệch do thực hiện sai giá cho cá nhân, tổ chức bị áp dụng sai giá

2.2 Nguyên tắc xử phạt

“Việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực giá phải do người có thẩm quyền tiến

Trang 30

hành theo đúng quy địnhcủa pháp luật” 4 Đây là một nguyên tắc pháp chế trong xử lý

vi phạm hành chính, theo đó chỉ những chức danh được quy định tại Nghị định số 169/2004/NĐ-CP ngày 22-9-2004 mới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và việc xử phạt phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật Theo Nghị định, các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá gồm: Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp; Thanh tra viên chuyên ngành Tài chính đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra chuyên ngành sở Tài chính; Chánh thanh tra chuyên ngành Bộ Tài chính; Thanh tra chuyên ngành của các Bộ, ngành có thẩm quyền xử phạt hành chinh1trong lĩnh vực giá được Chính phủ quy định 5

“Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện và bị đình chỉ ngay Việc xử phạt

phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật”.6 Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải tích cực và chủ động trong thanh tra, kiểm tra và thực thy công vụ để phát hiện kịp thời vi phạm hành chính Và một khi đã phát hiện vi phạm hành chính thì phải tiến hành xử lý một cách nhanh chóng, công minh và triệt để, hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục vì lợi ích của cộng đồng, của toàn xã hội, bảo đảm việc lập lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm, góp phần thiết lập kỷ cương, phép nước Phát hiện kịp thời và xử lý triệt để, kiên quyết mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc thiết lập và duy trì trật tự quản lý nhà nước, có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa

và chống vi phạm hành chính, giáo dục người dân trong xã hội ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện các quy tắc của cuộc sống cộng đồng, khắc phục tâm lý trong dân chúng hiện nay là vi phạm pháp luật mà không bị xử lý

“Một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá chỉ bị xử phạt một lần” 7 Điều này có nghĩa một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền lập biên bản để

xử phạt hoặc ra quyết định xử phạt thì không lập biên bản hoặc ra quyết định xử phạt

Trang 31

lần thứ hai đối với hành vi vi phạm đó nữa Điều này khác với trường hợp xử phạt lần lần thứ hai đối với một hành vi vi phạm với trường hợp tái phạm Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác đối với người thực hiện hành vi đó Ví dụ: một

cá nhân vi phạm quy định về niêm yết giá đã được người có thẩm quyền ra quyết định phạt tiền thì không đồng thời áp dụng biện pháp cảnh cáo đối với người thực hiện hành

vi này; một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt, nếu sau này phát hiện hành vi đó có dấu hiệu tội phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì phải hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính trước đây rồi mới chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan tiến hành tố tụng Hình sự

có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự

Cá nhân có nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm Nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi

cá nhân, tổ chức vi phạm đều bị xử lý Người có thẩm quyền xử phạt xác định hình thức và mức phạt đối với từng hành vi, sau đó cộng lại thành mức phạt chung Khi tiến hành xử phạt, cần căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm, cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà quyết định một hình thức và mức phạt thích đáng đối với từng người vi phạm

Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có vi phạm hành chính

do pháp luật quy định “Không có luật định – không có tội; không có luật định – không

có hình phạt” Đây là một trong những tư tưởng quan trọng bậc nhất khi xây dựng Nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng là một đảm bảo quan trọng cho việc thực hiện quyền con người đối với mỗi người dân trong xã hội Cá nhân chỉ bị áp dụng các biện pháp

xử lý hành chính khác nếu thuộc một trong các đối tượng bị áp dụng các biện pháp sau: giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính

“Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá phải căn cứ vào tính chất,

mức độ vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức và mức phạt thích hợp” 8 Cụ thể:

- Vi phạm có tổ chức là trường hợp có hai người trở lên câu kết chặt chẽ với nhau, cố ý cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính;

8

Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 169/2004/NĐ-CP ngày 22-9-2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm

Trang 32

- Vi phạm nhiều lần là trường hợp thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá trong khi trước đó đã vi phạm hành chính cũng trong lĩnh vực giá nhưng chưa bị xử phạt và chưa hết thời hiệu xử phạt;

- Tái phạm là trường hợp đã bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực giá nhưng chưa hết thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành của quyết định xử phạt mà lại thực hiện vi phạm hành chính cũng trong lĩnh vực giá;

2.3 Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá

2.3.1 Thẩm quyền xử phạt

Khác với việc xét xử các hành vi phạm tội mà ở đó thẩm quyền thực hiện công việc này được giao cho cơ quan duy nhất là Tòa án thực hiện, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá được giao cho nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền khác nhau thực hiện Cụ thể tại Điều 19, Điều 20 Nghị định 169/2004/NĐ-CP ngày 22- 9 -

2004 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá quy định:

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Ủy ban nhân các cấp trong lĩnh vực giá:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:

+ Tịch thu toàn bộ số tiền chênh lệch giá có được do vi phạm hành chính

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:

+ Phạt cảnh cáo;

+ Phạt tiền đến mức cao nhất được quy định tại Nghị định 169/2004/NĐ-CP ngày 22 - 9 - 2004 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá;

+ Tịch thu số tiền thu lợi do vi phạm hành chính;

+ Tịch thu toàn bộ số tiền chênh lệch giá có được do vi phạm hành chính;

+ Buộc phải bồi thường toàn bộ số tiền bị tổn thất do vi phạm hành chính;

Trang 33

+ Thu tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa có được do khai man, khai khống hồ sơ thanhn toán; tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, các khoản tiền hỗ trợ để thực hiện chính sách giá đã sử dụng sai mục đích

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá của cơ quan Thanh tra chuyên ngành:

- Thanh tra viên chuyên ngành Tài chính đang thi hành công vụ có quyền:

+ Tịch thu số tiền thu lợi do vi phạm hành chính;

+ Tịch thu toàn bộ số tiền chênh lệch giá có được do vi phạm hành chính;

+ Buộc phải bồi thường toàn bộ số tiền bị tổn thất do vi phạm hành chính;

+ Thu hồi tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, các khoản tiền hỗ trợ để thực hiện chính sách giá có được do khai man, khai khống hồ sơ thanh toán; tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, các khoản tiền hỗ trợ để thực hiện chính sách giá đã

sử dụng sai mục đích

- Chánh Thanh tra Bộ Tài chính có quyền:

+ Phạt cảnh cáo;

+ Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;

+ Tịch thu số tiền thu lợi do vi phạm hành chính;

+ Tước quyền sử dụng thẻ thẩm định viên về giá;

+ Tịch thu toàn bộ số tiền chênh lệch giá có được do vi phạm hành chính;

+ Buộc phải bồi thường toàn bộ số tiền bị tổn thất do vi phạm hành chính;

+ Thu hồi tiền trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, các khoản tiền hỗ trợ để thực hiện chính sách giá có được do khai man, khai khống hồ sơ thanh toán; tiển trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hóa, các khoản tiền hỗ trợ để thực hiện chính sách giá đã

sử dụng sai mục đích

Thanh tra chuyên ngành của các Bộ, ngành có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá như Thanh tra chuyên ngành Tài chính theo quy định tại Nghị định 169/2004/NĐ-CP ngày 22 - 9 - 2004 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi

Trang 34

phạm hành chính trong lĩnh vực giá trong phạm vi thẩm quyền quản lý giá của Bộ, ngành được Chính phủ quy định

Việc xác định thẩm quyền xử phạt thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý

vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2007, năm 2008 (Điều 42)

Cần lưu ý rằng, mức phạt tiền mà pháp luật quy định cho những người có thẩm quyền xử phạt như trên là mức phạt cho một hành vi vi phạm hành chính Tuy nhiên, điều này chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật trước kia về xử phạt

vi phạm hành chính nên trong nhiều trường hợp đã xảy ra những tranh luận xung quanh trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện đồng thời nhiều hành vi vi phạm hành chính một lúc và mức phạt tiền tổng hợp đối với các tổ chức, cá nhân này vượt quá mức mà pháp luật quy định cho thẩm quyền của người xử phạt Về nguyên tắc, nếu tất cả các vi phạm đó đều thuộc thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền thì dù mức phạt tiền tổng hợp có lớn hơn mức quy định cho thẩm quyền của người xử phạt, vụ việc đó vẫn thuộc thẩm quyền xử phạt của người này Trường hợp nếu có một vi phạm hành chính

mà mức phạt tiền được pháp luật quy định vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì

vụ việc đó phải chuyển cho người khác có thẩm quyền xử phạt

Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau:

- Nếu hính thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

- Nếu hính thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

- Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm; trong trường vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền

xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện

2.3.2 Thủ tục, trình tự xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá

Thủ tục và trình tự xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá được quy định tại Điều 22 Nghị định 169/2004 Theo đó, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá gồm hai loại: thủ tục đơn giản và thủ tục xử phạt có lập biên bản Ý nghĩa của việc chia thủ tục xử phạt ra làm hai loại là ở chỗ: đối với vụ việc đơn giản, rõ

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w