Vì vậy, Nhà nước ta ñã xác ñịnh cụ thể mục ñích và yêu cầu của việc xây dựng Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là ñề cao vai trò, tầm quan trọng của gia ñình trong ñời sống của mỗi cá n
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GVHD: Ts Nguyễn Ngọc ðiện Trang 1 SVTH: Trần Thị Hồng Gẩm
TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hơn nữa, ñề tài luận văn này, một mặt giúp tôi củng cố kiến thức Mặt khác, một ñiều làm tôi vui hơn cả, ñó là nó ñã chứng tỏ công lao khó nhọc mà cha, mẹ tôi
ñã bỏ ra nuôi tôi trong suốt bốn năm theo học tại trường là không uổng phí Thành quả mà tôi ñạt ñược hôm nay xin xem như một lời báo ñáp ñối với cha, mẹ thân yêu của tôi
Bên cạnh ñó, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Ts Nguyễn Ngọc ðiện ñã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình mà tôi thực hiện ñề tài luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Luật ñã cung cấp cho tôi những kiến thức cần thiết cùng những kinh nghiệm quý báo trong suốt những năm học qua Những kiến thức ñược thầy cô truyền ñạt trong mấy năm qua ñã giúp tôi rất nhiều trong việc hoàn thành ñề tài luận văn lần này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ của Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang và Uỷ ban nhân dân phường Hưng Lợi cùng tất cả bạn bè ñã tận tình giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài này
Cần Thơ, ngày 29 tháng 06 năm 2007 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hồng Gẩm
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 6
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
bộ, trên cơ sở tình yêu chân chính giữa hai bên nam nữ Chỉ có trên cơ sở tình yêu chân chính mới góp phần xây dựng gia ñình hạnh phúc, tạo nền tảng vững chắc ñể giáo dục, nuôi dưỡng con cái thành những công dân có ích cho xã hội Vì vậy, Nhà nước ta ñã xác ñịnh cụ thể mục ñích và yêu cầu của việc xây dựng Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là ñề cao vai trò, tầm quan trọng của gia ñình trong ñời sống của mỗi cá nhân cũng như ñối với sự phát triển chung của xã hội, khẳng ñịnh tầm quan trọng của việc giữ gìn, phát huy truyền thống tốt ñẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những hủ tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia ñình, nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế ñộ hôn nhân và gia ñình Việt Nam, cũng như tạo ñiều kiện cho mọi trẻ em ñều ñược sống trong gia ñình hạnh phúc bên cạnh cha, mẹ của mình Và theo thuyết tự nhiên, mỗi người sinh
ra ñều có cha và mẹ Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít những ñứa trẻ không biết cha, mẹ mình là ai và cũng có những bậc cha, mẹ vì lý do nào ñó mà không thể nhìn nhận hoặc thất lạc con mình Vì vậy, quyền có cha, mẹ và ñược xác ñịnh cha, mẹ là một quyền thiêng liêng của con người, phù hợp với quy luật tự nhiên, ñạo lý xã hội
và ñược pháp luật thừa nhận
Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ cũng như sự tác ñộng của cơ chế thị trường, các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân gia ñình nói riêng ñang diễn ra ngày càng phức tạp và có rất nhiều vấn ñề mới phát sinh Việc xác ñịnh cha, mẹ cho con và xác ñịnh con cho cha, mẹ cũng trở nên khó khăn hơn, nhạy cảm hơn nên ñược ðảng và Nhà nước ta dành cho sự quan tâm ñặc biệt ðiều này ñược thể chế hoá bằng các quy ñịnh trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan ðiều 65 Hiến pháp 1992 quy ñịnh:
“Trẻ em ñược gia ñình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” ðiều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy ñịnh: “Trẻ em có quyền ñược khai sinh và có quốc tịch Trẻ em chưa xác ñịnh ñược cha, mẹ, nếu có yêu cầu
thì ñược cơ quan có thẩm quyền giúp ñỡ ñể xác ñịnh cha, mẹ theo quy ñịnh của
nhận cha, mẹ, con
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Như vậy, ðảng, Nhà nước, xã hội và gia ñình có trách nhiệm tạo mọi ñiều kiện ñể trẻ em ñược phát triển và chăm sóc ñầy ñủ trong tình yêu thương của cha,
mẹ Việc bảo ñảm quyền có cha, mẹ hay việc xác ñịnh cha, mẹ cho trẻ cũng là một trong những trách nhiệm này Nhà nước quy ñịnh các căn cứ, ñiều kiện làm cơ sở pháp lý cho việc xác ñịnh mối quan hệ này Các quy ñịnh về việc xác ñịnh cha, mẹ cho con ñã ñược ñề cập trong ñạo luật về hôn nhân và gia ñình ñầu tiên của nước ta
ñó là Luật hôn nhân và gia ñình năm 1959 Các quy ñịnh về việc xác ñịnh cha, mẹ, con trong ñạo luật này mặc dù còn nhiều hạn chế và thiếu sót, không bao hàm ñược tất cả các mối quan hệ nhưng cũng ñã tạo ñược những cơ sở pháp lý cho việc xác ñịnh cha, mẹ, con, ñồng thời tạo những bước khởi ñầu quan trọng trong việc hình thành nên các chế ñịnh ñộc lập về xác ñịnh cha, mẹ, con trong các ñạo luật về hôn nhân và gia ñình sau này Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia ñình năm 1959 ñã ñưa nhóm quan hệ xác ñịnh cha,
mẹ, con thành một chương ñộc lập ðiều này thể hiện sự tiến bộ của pháp luật trong việc ñiều chỉnh các quan hệ cho phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên, cùng với
sự phát triển chung của các quan hệ xã hội, các quan hệ trong việc xác ñịnh cha, mẹ, con cũng nảy sinh nhiều vấn ñề mới ñòi hỏi phải có sự quy ñịnh kịp thời của pháp luật ñể ñiều chỉnh Do ñó, trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 chế ñịnh xác ñịnh cha, mẹ, con ñã có sự quy ñịnh mới cho phù hợp, có sự thay ñổi trong phạm vi ñiều chỉnh, trong cơ cấu của chế ñịnh, trong nội dung và cả trong kỹ thuật xây dựng Chế ñịnh xác ñịnh cha, mẹ, con ñược quy ñịnh tại Luật hôn nhân và gia ñình năm
2000 là sự cụ thể hoá các quy ñịnh của Hiến pháp và Bộ luật dân sự về hôn nhân và gia ñình, trên cơ sở có sự kế thừa các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 ðồng thời hủy bỏ những quy ñịnh không còn phù hợp và sửa ñổi,
bổ sung theo những quy ñịnh mới, nhằm ñiều chỉnh những vấn ñề mới ñặt ra, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay
Vấn ñề xác ñịnh cha, mẹ, con có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo ñảm quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con, ñồng thời nó còn góp phần giải quyết các tranh chấp khác như: tranh chấp về nuôi dưỡng, cấp dưỡng, thừa kế Tuy nhiên, việc xác ñịnh các mối quan hệ này trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp Vì vậy,
nghiên cứu các quy ñịnh trong chế ñịnh: “Xác ñịnh cha, mẹ, con” là rất cần thiết,
nhằm làm rõ những ñiểm phù hợp và còn hạn chế ñể từng bước hoàn thiện cũng như nâng cao cơ sở lý luận và hiệu quả của việc áp dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự nói chung và trong các vụ án yêu cầu xác ñịnh cha, mẹ, con nói
riêng trong thời kỳ hiện nay Vì vậy, nên tôi ñã chọn ñề tài “Xác lập quan hệ cha,
mẹ và con: khoảng cách giữa luật và thực tiễn” ñể làm ñề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của ñề tài là tìm hiểu những quy ñịnh của pháp luật Việt Nam hiện hành trong việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ - con Qua ñó, ñể phát hiện những mặt tích cực, những mặt còn hạn chế của các quy ñịnh này và tìm
ra các giải pháp phù hợp với tình hình xã hội ở Việt Nam hiện nay Việc nghiên cứu
ñề tài này còn nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các chủ thể trong gia ñình mà ñặc biệt
ñó là mối quan hệ cha, mẹ - con Bên cạnh ñó, việc thực hiện ñề tài còn hướng ñến mục tiêu là giúp cho mọi người hiểu rõ hơn các quy ñịnh của pháp luật Hôn nhân gia ñình ñể từ ñó xác lập ñược mối quan hệ hôn nhân hợp pháp, ñảm bảo cho mọi trẻ em ñược sinh ra ñều xác ñịnh ñược cha, mẹ cũng như ñều hưởng ñược sự yêu thương, chăm sóc của cha, mẹ mình Ngoài ra, cũng tạo ñiều kiện thuận lợi cho mọi người nhất là những người mang thân phận con sinh ra ngoài giá thú sẽ ñược nhìn nhận lại cha, mẹ ruột của mình
4 Phương pháp nghiên cứu
ðể thực hiện ñề tài, tôi ñã so sánh, ñối chiếu, phân tích, tổng hợp tài liệu kết hợp với phương pháp logic và phương pháp chứng minh Thế nhưng, công việc nghiên cứu ban ñầu gặp nhiều khó khăn do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc sàng lọc, sắp xếp tư liệu cho thật phù hợp ðồng thời, mặc dù ñây không phải là một
ñề tài mới nhưng theo cảm nhận của tôi, ñây là một ñề tài tương ñối khó, vì là một
ñề tài liên quan nhiều ñến các mối quan hệ ñạo ñức xã hội, do ñó gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu cũng như xin những số liệu có liên quan Vì vậy, trong quá trình viết tôi không sao tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót, rất mong nhận ñược sự ñóng góp tận tình của quý thầy cô và các bạn ñể ñề tài ñược thêm chính xác, ñầy ñủ và phong phú hơn về nội dung cũng như chặt chẽ hơn về kết cấu Bên cạnh ñó, cũng ñể cho các bạn các khoá sau nếu có làm ñề tài này sẽ ít gặp sự bỡ ngỡ trong quá trình nghiên cứu và thực hiện ñề tài của mình
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bố cục của Luận văn gồm:
Lời nói ñầu
Dẫn nhập
Chương 1: Xác lập quan hệ giữa cha, mẹ với con trong giá thú
Chương 2: Xác lập quan hệ giữa cha, mẹ với con ngoài giá thú
Kết luận
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DẪN NHẬP
1 Khái quát chung về gia ñình
Gia ñình là hạt nhân của xã hội, gia ñình có chức năng chủ yếu là giáo dục, xây dựng, bồi dưỡng nhân cách và hình thành tâm hồn con người Trong việc giáo dục con người thì việc tiếp thu và phát huy giá trị lâu ñời của gia ñình từ tổ tiên ông
cha ñến con cái là một việc tự nhiên “Giấy rách phải giữ lấy lề”, ñó là lời khuyên
ñối với các thế hệ ñời sau Những giá trị lâu ñời của một gia ñình, một dòng họ
chính là cái ñã tạo nên truyền thống văn hóa của dân tộc, của ñất nước “Gia ñình có
Nam ñã chứng minh rằng nhiều gia ñình thực sự là nơi cất cánh của bao tài năng
Và trong giai ñoạn hiện nay thì cũng có rất nhiều gia ñình ñã ñóng góp công sức của mình cho cuộc ñấu tranh giành ñộc lập nước nhà, ñem lại cuộc sống ấm no cho dân tộc và bình yên cho ñất nước, biết bao gia ñình ñã nuôi dạy con học thành tài làm rạng danh cho quê hương ñất nước qua nhiều cuộc thi ñược tổ chức ở quốc gia hay trên thế giới, nhiều gia ñình ñược khen tặng là gia ñình hiếu học hay gia ñình văn hóa Vì vậy, hàng năm cứ vào ngày 28 tháng 6 Nhà nước ta lại long trọng tổ chức ngày gia ñình Việt Nam ñể các gia ñình có dịp gặp gỡ, trao ñổi ý kiến và tuyên dương những gia ñình tiêu biểu của ñất nước
Qua lịch sử và hiện nay thì chúng ta thấy rằng gia ñình thật sự là nhân tố góp phần xây dựng vững bền ñất nước Nhưng khái niệm gia ñình thì thật sự là một khái niệm khó, bởi vì mỗi giai ñoạn, mỗi thời kỳ lại ñưa ra những tiêu chí cấu thành gia ñình khác nhau Ngay trong nội bộ một xã hội, một nền văn hóa, quan niệm về gia ñình có thể thay ñổi từ nhóm này sang nhóm khác, từ nơi này sang nơi khác và từ thời kỳ này sang thời kỳ khác Ví dụ, người Kinh ở ñồng bằng Sông Hồng cho ñến
tận cuối những năm 1980 vẫn không thừa nhận tình trạng phụ nữ “ không chồng mà
sông” vốn ñược áp dụng cho ñến tận mấy chục năm ñầu của thế kỷ XX Trong thời
kỳ 1960 - 1989 những phụ nữ như thế thường bị phê phán gay gắt, nếu họ là cán bộ công nhân viên Nhà nước thị họ phải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc, họ buộc phải viết bản kiểm ñiểm, thừa nhận mình ñã quan hệ bất chính, có con ngoài giá thú rồi ñọc bản kiểm ñiểm trước mặt ñồng nghiệp trong một cuộc họp ñể nghe ñồng nghiệp phê phán Cuối cùng, họ bị thủ trưởng và cơ quan cảnh cáo, yêu cầu chấm dứt quan
hệ tình dục trước hôn nhân Nhưng, số lượng phụ nữ không chồng do hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ quá lớn, kết hợp với ñiều kiện kinh tế khó khăn và nhất
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
là vai trị khơng thể thay thế được của gia đình trong đời sống con người đã dẫn đến
tình trạng gọi là “xin con” Nhiều phụ nữ trong số này đã trở thành mẹ đơn thân, họ
khơng lấy chồng nhưng cĩ con và nuơi con một mình và các nhà xã hội học đã xem đây là một gia đình Theo các nhà xã hội học thì “Gia đình là một nhĩm người cĩ
cùng quan hệ hơn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ về:
học cho rằng gia đình người Kinh phổ biến nhất hiện nay bao gồm thành viên của hai giới nam và nữ, cĩ con đẻ hoặc con nuơi
Vấn đề gia đình đã được xã hội ta quan tâm từ lâu, từ thời Hùng Vương dựng nước cách đây hơn 4000 năm đến nay, nhưng để đặt thành vấn đề nghiên cứu thì
cịn nhiều khĩ khăn, chậm trễ Lúc sinh thời Bác Hồ đã từng dạy: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính
ðứng dưới gĩc độ xã hội học, gia đình nằm trong phạm trù cộng đồng xã hội với tư cách là một nhĩm nhỏ xã hội đặc thù đồng thời như một thiết chế xã hội Nĩ đĩng vai trị đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hĩa con người vì gia đình trở thành nơi hội tụ văn hĩa, chọn lọc văn hĩa và sáng tạo văn hĩa Gia đình nằm trong cấu trúc xã hội và gắn bĩ chặt chẽ với tồn xã hội Gia đình là tế bào của xã hội và cũng cĩ thể nĩi gia đình là một tế bào thu nhỏ với tất cả các mối quan hệ xã hội ràng buộc, kết dính vào nhau Gia đình và những quan hệ gia đình là một trong những lĩnh vực hoạt động sống của con người trong xã hội bởi vì, gia đình là cái nơi nuơi dưỡng cho cả một đời người, là mơi trường giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách sống cĩ tình nghĩa, đồn kết và giúp đỡ lẫn nhau, cĩ ý thức trách nhiệm cơng dân, tơn trọng luật pháp và giữ gìn đạo lý
Gia đình là một khái niệm phức tạp gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hĩa, kinh tế cho nên được nhiều nhà khoa học, giáo dục học rất quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, đứng dưới gĩc độ pháp lý thì gia đình được định nghĩa một cách chính xác và khách quan Khoản 10 ðiều 8 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000
giải thích: “Gia đình là tập hợp những người gắn bĩ với nhau do hơn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc do quan hệ nuơi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa
dựa trên cơ sở hơn nhân, huyết thống, nuơi dưỡng, cĩ quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuơi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội để trở thành những cơng dân tốt cho xã hội và những nhân tài cho đất nước
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhau do có những thay ựổi của những người vợ, người chồng ựầu tiên ựã trở thành những vợ chồng mới nhiều khi ựã có con rồi hay vợ chồng vô sinh phải nuôi con nuôi Cũng có trường hợp, một gia ựình nhưng có ựứa con không cùng huyết thống (con của ai chỉ người mẹ biết mà thôi), ngược lại, có con cùng huyết thống nhưng không phải cùng một gia ựình (con rơi) Con một cha khác mẹ thì gọi là người trong gia ựình nhưng con một mẹ khác cha thì ựược gọi là anh em ruột Gia ựình gồm một nhóm những người gắn bó với nhau bằng quan hệ vợ chồng và huyết thống đó là hai quan hệ cơ bản quyết ựịnh sự hình thành và tồn tại của gia ựình Huyết thống có thể là thực tế (giữa cha mẹ với con ruột) hoặc thay thế (giữa cha mẹ và con nuôi hoặc con của người khác không phải là con của chồng mình hoặc vợ mình) Huyết thống có thể theo chiều ngược gồm có cha mẹ, ông bà, cố và theo chiều xuôi có cha
mẹ, con, cháu, nhưng trong ựó còn có thể theo chiều ngang (anh em, chú bác, dì cô, anh em họ) Những thành viên của gia ựình thường sống chung trong một nhà và tạo thành một hệ kinh tế bao gồm hai thế hệ (gia ựình nhỏ) hoặc ba thế hệ và có khi gồm vài ba gia ựình có quan hệ bà con theo chiều ngang (gia ựình lớn)
Nói ựến gia ựình thì chúng ta sẽ liên tưởng ựến vai trò của gia ựình ựối với
xã hội Thật vậy, gia ựình là tế bào, là hạt nhân của xã hội Tuy nhiên, ựể tế bào này thật sự là ựộng lực ựể thúc ựẩy xã hội phát triển thì gia ựình phải thực hiện tốt chức năng xã hội của mình Mỗi thời kỳ, mỗi giai ựoạn và mỗi chế ựộ xã hội khác nhau thì gia ựình sẽ thực hiện chức năng xã hội khác nhau Ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến thì gia ựình chủ yếu thực hiện chức năng duy trì nòi giống, còn ở thời kỳ
tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa thì bên cạnh chức năng duy trì nòi giống thì gia ựình còn thực hiện cả chức năng giáo dục, kinh tế Tuy nhiên, dù ở chế ựộ xã hội nào thì gia ựình cũng thực hiện các chức năng chủ yếu như: chức năng sinh ựẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế
Gia ựình là tế bào của xã hội dựa trên cơ sở hôn nhân và huyết thống Vì vậy, trước tiên gia ựình phải là một hình thức xã hội mà trong ựó diễn ra quá trình tái sản xuất ra con người, quá trình tiếp tục duy trì nòi giống Từ thời kỳ xa xưa, trong bước phát triển lịch sử của xã hội loài người, ựã có mối quan hệ xã hội ựó là ở chỗ
ỘCon người ta thay ựổi hàng ngày cuộc sống của mình, bắt ựầu sản xuất ra những
con người khác tức là tự tái sản xuất, ựó là quan hệ giữa ựàn ông và ựàn bà, giữa
ra con người ựều có chung ở tất cả mọi chế ựộ xã hội Mặt khác, con người vừa là
thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, con người là sản phẩm của xã hội ỘTrong
tắnh hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hộiỢ Con người là thành viên trong gia ựình ựồng thời là thành viên trong xã hội,
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñại diện cho tầng lớp, giai cấp, xã hội nhất ñịnh Do vậy, việc tái sản xuất ra con người có ý nghĩa khác nhau trong mỗi chế ñộ xã hội Tuy nhiên, nếu chức năng tái sản xuất ra con người vượt quá khả năng cho phép của xã hội, làm mất cân bằng cho xã hội thì chức năng này ñôi khi lại trở thành gánh nặng của xã hội Vì vậy, xã hội bên cạnh việc vận ñộng gia ñình thực hiện tốt chức năng sinh ñẻ của mình, thì phải tuyên truyền, vận ñộng, giáo dục ñể gia ñình thực hiện hài hoà, hợp lý chức năng này
Bên cạnh ñó, gia ñình ngoài việc thực hiện chức năng sinh sản ñể duy trì nòi giống thì gia ñình phải thực hiện tốt cả chức năng giáo dục của ñể làm sao cho nòi giống của mình ngày càng ñược phát triển cao hơn về nhiều mặt và chức năng giáo dục chính là một chức năng chủ yếu của gia ñình Mỗi người sinh ra và lớn lên trong một gia ñình cụ thể nên việc giáo dục của gia ñình bắt nguồn từ lúc con người sinh ra và lớn lên trong một gia ñình, từ lúc con người sinh ra cho ñến cuối ñời Trong gia ñình, vai trò của cha, mẹ rất quan trọng ñối việc giáo dục con cái Mặt khác, vai trò của anh, chị, em, ông bà, chú bác… của mỗi thành viên trong gia ñình ñều có ảnh hưởng ñến việc hình thành nhân cách con người “Gia ñình là môi
Thực tế ñã chứng minh rằng, những ñức tính xã hội tốt ñẹp của con người ñược phát triển trong một gia ñình tốt thì chính trong tập thể gia ñình ñó sẽ lớn lên những con người có phẩm chất ñạo ñức vững vàng, kiên ñịnh, khỏe mạnh, bền bỉ, dám vượt khó khăn, dám xã thân vì nghĩa lớn Gia ñình ở Việt Nam có ñủ mọi ñiều kiện
ñể phát triển, mà trong ñó cha, mẹ là người có trách nhiệm giáo dục con cái, giáo dục thế hệ trẻ trưởng thành Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường,
sự ảnh hưởng không lành mạnh của các loại văn hoá ngoại nhâp nên nhiều bậc cha,
mẹ không có thời gian ñể quan tâm, chăm sóc con hoặc chăm sóc con không ñúng cách và hậu quả của sự giáo dục không ñúng này ñã ñể lại những gánh nặng cho xã hội Vì vậy, ðảng và Nhà nước phải tạo mọi ñiều kiện tốt nhất ñể gia ñình hoàn thành tốt chức năng giáo dục của mình, vì gia ñình là môi trường văn hoá tự nhiên của trẻ em và những giá trị tốt ñẹp mang lại trong cuộc sống con người thường bắt ñầu từ gia ñình
Cuối cùng, ngoài hai chức năng nêu trên thì chức năng kinh tế cũng là chức năng chủ yếu và khá quan trọng của gia ñình Chức năng kinh tế của gia ñình ở mỗi giai ñoạn khác nhau sẽ có nội dung khác nhau Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến, mỗi gia ñình phong kiến và chủ nô là một ñơn vị kinh tế Trong xã hội tư sản, sản xuất ñã mang tính xã hội hơn nhưng chức năng kinh tế của gia ñình vẫn còn rất quan trọng Khi mà trong xã hội chế ñộ công hữu về tư liệu sản xuất ñã ñược xác lập, gia ñình không còn là ñơn vị kinh tế nữa, chức năng kinh tế của gia
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñình chủ yếu là tổ chức ñời sống của mọi thành viên trong gia ñình, thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của các thành viên gia ñình Tuy nhiên, trong xã hội hiện ñại cũng như trong xã hội xã hội chủ nghĩa cơ sở sản xuất mang tính gia ñình vẫn tồn tại ở nông thôn dưới hình thức hộ nông dân cá thể, ở thành phố tồn tại dưới dạng cơ sở sản xuất nhỏ hoặc cơ sở dịch vụ nhỏ và do ảnh hưởng của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa nên kinh tế gia ñình chiếm một tỷ trọng ñáng kể và có vai trò ngày càng quan trọng ñối với ñời sống gia ñình Vì vậy, chức năng kinh tế là một trong những chức năng chủ yếu, quan trọng của gia ñình và ñóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của ñất nước
nhau, chức năng này là ñộng lực, là cầu nối ñể thúc ñẩy thực hiện chức năng kia Vì vậy, gia ñình muốn ổn ñịnh, bền vững và phát triển thì phải kết hợp hài hòa cả ba chức năng, ñồng thời phải biết vận dụng, kế thừa và phát huy những giá trị tốt ñẹp khác trong thời buổi hội nhập vào nền kinh tế thế giới ñể góp phần xây dựng gia ñình vững mạnh và thật sự xứng ñáng là tế bào, là hạt nhân của xã hội Chỉ trên cơ
sở thực hiện tốt ba chức năng này của gia ñình thì các thành viên trong gia ñình mới thực hiện tốt ñược quyền và nghĩa vụ của mình mà ñặc biệt ñó chính là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con cái ñối với nhau
2 Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ
Gia ñình là sự liên kết của nhiều người, nhiều thế hệ dựa trên cơ sở mối quan
hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng Trong ñó mọi người cùng quan tâm, giúp ñỡ lẫn nhau về tinh thần lẫn vật chất, có các quyền và nghĩa vụ ñối với nhau theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình Quan hệ cha, mẹ và con là một trong hai mối quan hệ cơ bản ñể hình thành nên một gia ñình Khác với các quan hệ pháp
lý thông thường khác, quan hệ gia ñình chịu sự ñiều chỉnh của các quy ñịnh của pháp luật và cả các yếu tố truyền thống, ñạo ñức lễ nghĩa Cha, mẹ với tư cách là người sinh ra con cái có thiên chức và trách nhiệm nuôi dạy con trưởng thành ñồng thời cũng có những quyền nhất ñịnh Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con cái không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ, dù là con sinh ra từ quan hệ hôn nhân hợp pháp, quan hệ hôn nhân trái pháp luật, từ quan hệ chung sống như vợ chồng, thậm chí là các mối quan hệ qua ñường giữa cha và mẹ thì con ñều ñược ñối
xử ngang nhau ðiều 34 Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam năm 2000 quy ñịnh:
“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập
và giáo dục ñể con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và ñạo ñức, trở thành người con hiếu thảo của gia ñình, công dân có ích cho xã hội Cha mẹ không ñược
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phân biệt ñối xử giữa các con, ngược ñãi, hành hạ, xúc phạm con; không ñược lạm dụng sức lao ñộng của con chưa thành niên; không ñược xúi giục, ép buộc con làm
những việc trái pháp luật, trái ñạo ñức xã hội”
Như vậy, thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ ñối với con Là quyền bởi không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào có thể ngăn cản hoặc tước ñi quyền ñược yêu thương, chăm sóc ñối với con cái
từ phía người cha, người mẹ, ngoại trừ những trường hợp ñặc biệt, vì lợi ích của con
mà quyền này bị hạn chế theo một quyết ñịnh hoặc bản án của Tòa án Là nghĩa vụ bởi lẽ, không người cha, người mẹ nào có quyền ruồng rẫy, ngược ñãi hoặc từ chối trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc con cái do mình sinh ra Vì lợi ích, vì sự phát triển bình thường và lành mạnh của con trẻ, ñạo ñức xã hội cũng như pháp luật ñặt
ra những quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm tối thiểu của cha mẹ ñối với con của mình
Sinh con ra, cha mẹ có trách nhiệm bảo ñảm những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, bảo ñảm cho sự phát triển của con trong phạm vi khả năng cho phép của mình như ăn, mặc, ở, chữa bệnh, vui chơi Trong những trường hợp thông thường, nghĩa vụ nuôi dưỡng của cha mẹ ñược pháp luật quy ñịnh là từ khi
con sinh ra cho ñến khi con trưởng thành “Con chưa thành niên ñược hưởng sự
trông nom của cha, mẹ ñối với con cái không chỉ ñược hiểu là sự trông giữ vật chất
mà trước hết là tập hợp các biện pháp mà cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ thực hiện nhằm ñặt con dưới sự giám sát của mình và sự kiểm soát ñó là cần thiết cho việc nuôi dạy con có hiệu quả Trong chừng mực nào ñó, việc ñảm bảo sự hiện diện vật chất của con tại nơi mà cha, me có thể thực hiện các hoạt ñộng quản lý bình thường ñối với các công việc của gia ñình, tức là nơi cư trú của cha, mẹ, là ñiều kiện cần cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ ñối với con Theo khoản 1 ðiều
53 Bộ luật dân sự 2005 thì “Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của
cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống ” Luật cũng nói thêm rằng “Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác
với nơi cư trú của cha, mẹ nếu ñược cha, mẹ ñồng ý hoặc pháp luật có quy ñịnh khác” Vậy, có nghĩa là trừ trường hợp pháp luật có quy ñịnh khác, người chưa thành niên không ñược phép rời khỏi nơi cư trú nếu không ñược phép của cha, mẹ Quyền cho phép của cha, mẹ chắc chắn có hiệu lực ñối kháng cả với người thứ ba Tuy nhiên, nếu cha, mẹ vi phạm nghĩa vụ trông nom và sự vi phạm ñó có tính chất nghiêm trọng thì cha, mẹ có thể bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền của cha, mẹ ñối với con theo ðiều 41 của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bên cạnh việc yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng và chăm sóc con cái thì cha, mẹ còn có nghĩa vụ và quyền tạo ñiều kiện cho con ñược học tập, ñược sống trong môi trường gia ñình ñầm ấm, hòa thuận, làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối hợp với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con ñể con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và ñạo ñức, trở thành người con hiếu thảo của gia ñình, công dân có ích cho xã hội Cha, mẹ bằng khả năng lớn nhất có thể, phải tạo ñiều kiện cho con cái học hành, chịu các chi phí phát sinh từ ñó ðây là trách nhiệm cần thiết của cha, mẹ ñể có thể hình thành nhân cách, phát triển trí tuệ, tạo nền tảng
về thể trí cho tương lai của con cái Trong Công ước về quyền trẻ em cũng như trong pháp luật Việt Nam, học tập không những ñược quy ñịnh là quyền của trẻ em
mà còn là bổn phận của cha, mẹ, của xã hội, bởi vì trẻ em là tương lai của ñất nước Chính vì vậy, dưới góc ñộ gia ñình hay xã hội thì cha, mẹ ñều có quyền và nghĩa vụ giáo dục, chăm lo và tạo ñiều kiện cho con ñược học tập Việc giáo dục con không thể phó mặc cho một người là cha hoặc mẹ, mà cả hai người ñều có quyền ngang
nhau trong giáo dục con cái “Giáo dục phải nhằm phát triển nhân cách, tài năng,
các khả năng tinh thần và thể chất của trẻ em ñến mức cao nhất Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ em một cuộc sống tích cực ở tuổi người lớn trong một xã hội tự do
và khuyến khích trẻ em lòng kính trọng cha mẹ, bản sắc, văn hoá, ngôn ngữ và các
Trẻ em sinh ra có quyền ñược yêu thương, có quyền ñược chăm sóc và có quyền ñược chung sống với cha mẹ, không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha, mẹ, trừ trường hợp pháp luật có quy ñịnh khác vì lợi ích của trẻ em Trẻ trong giai ñoạn vị thành niên rất dễ bị tổn thương về mặt tình cảm, chưa có ñủ nhận thức
ñể suy xét thấu ñáo về các vấn ñề trong cuộc sống Do ñó, trẻ rất cần có sự hướng dẫn, giáo dục của cha, mẹ Nếu thiếu sự yêu thương, chăm sóc của một trong hai người, nếu không ñược sống trong một môi trường gia ñình tốt thì con trẻ sẽ dễ có tâm lý không ổn ñịnh, ảnh hưởng xấu ñến quá trình hình thành và phát triển nhân
cách sau này Vì vậy “Cha, mẹ phải tạo ñiều kiện cho con ñược sống trong môi
hưởng của nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo, luồng tư tưởng và lối sống ngoại nhập ñã tác ñộng xấu ñến gia ñình nhất là do cách suy nghĩ thực dụng, lối sinh hoạt tùy tiện, thiếu gương mẫu của cha, mẹ trong cách cư xử hàng ngày ñã làm giảm vài trò của họ trong việc giáo dục con cái, gây cho ñứa trẻ tâm lý chán nản, thất vọng về cuộc sống hoặc con cái chịu ảnh hưởng từ lối sống không tốt của cha, mẹ dẫn ñến những hậu quả xấu cho cuộc sống của các em sau này ðây cũng chính là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội ñang diễn ra ngày càng phức tạp và phổ biến ở các nơi trên cả nước mà hầu hết những người trong cuộc ñều có xuất phát là
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
những trẻ em sống trong một mái gia đình khơng hạnh phúc và khơng nhận được sự quan tâm đúng mức của cha, mẹ ðây là vấn đề nhức nhối cần được tháo gỡ của tồn xã hội
Trước đây, vấn đề “Khơng thừa nhân sự phân biệt đối xử giữa các con” là
một trong những nội dung của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ và con cái được quy định tại ðiều 19 Luật hơn nhân và gia đình năm 1986 Tuy nhiên, thực tế thực hiện quan hệ giữa cha, mẹ và con vẫn cịn chịu ảnh hưởng của tàn dư tư tưởng
hơn nhân và gia đình phong kiến, cha, mẹ cịn cĩ quan niệm “hơn, kém” giữa các con, thậm chí là tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” Hiện trạng này đã gây ra tình
trạng bất bình đẳng giữa các con, tâm lý mặc cảm, coi thường giữa các anh, chị, em, làm cho tình đồn kết giữa các thành viên trong một số gia đình bị tổn hại nghiêm trọng Mặc dù các bậc cha mẹ thường nĩi: con trai hay con gái, con cả hay con út đều là máu mủ, ruột thịt của mình Tuy nhiên, cĩ thể do vơ tình hay do những quan niệm lệch lạc, sai lầm, do hạn chế về tầm nhìn và trình độ nhận thức nên nhiều bậc phụ huynh đã cĩ những hành vi phân biệt đối xử với những đứa con của mình Một
số gia đình (chủ yếu ở nơng thơn) cịn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng trọng nam khinh nữ - một tàn dư của xã hội phong kiến cịn rớt lại nên nhất quyết phải
sinh bằng được “thằng con quý tử” hay “thằng chống gậy” Khi mong mỏi mãi mới sinh được cậu quý tử thì họ “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” và bao yêu
thương, chiều chuộng họ đều dành hết cho đứa con cưng ấy Do vậy, mà khơng ít
em gái ngay từ lúc lọt lịng đã bị cha mẹ và người thân hững hờ chỉ vì “lại thêm ả
đắp tương lai, sự nghiệp cho những đứa con trai, cịn con gái thì chỉ cho đi học với mục đích xĩa mù chữ thậm chí cịn khơng được đến trường
Cũng cĩ trường hợp cha, mẹ vơ tình thiên vị trong cách cư xử với những đứa con chỉ vì họ hợp tính cách, sở thích của đứa con này hơn đứa con kia, hoặc
tỏ ra ưu ái hơn với những đứa con cĩ nhiều ưu điểm đáp ứng được sự kỳ vọng của
họ Cĩ thể, trong thâm tâm họ khơng chủ ý phân biệt đối xử và cho rằng mình đã thương yêu, vỗ về con cái như nhau, song những biểu hiện bề ngồi của họ đã làm cho tâm hồn non nớt của con cái tủi thân vì nghĩ rằng mình ít được quan tâm hơn so với những đứa con khác Tuổi mới lớn của các em rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương (nhất là các em gái), cho nên khi cĩ cảm giác mình bị đối xử thiệt thịi hơn so với anh, chị em trong nhà thì tùy từng đứa trẻ mà các em cĩ cách phản ứng khác nhau Một số em ngày càng lún sâu hơn vào sự tự ti, chán chường, tuyệt vọng, sống thu mình lại và khoảng cách với cha, mẹ ngày càng một xa dần Hầu hết những đứa trẻ sống trong gia đình như thế sẽ sống thụ động, nhu nhược và sớm đánh mất cá tính Cũng cĩ em tỏ ra ngang tàng, bướng bỉnh, sống bất cần đời và dễ bị sa ngã Ngồi
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ra, sự thiên vị của cha, mẹ ñôi khi còn làm cho tình cảm của những ñứa con trở nên căng thẳng bởi ñứa này coi ñứa kia là nguyên nhân khiến mình bị cha, mẹ ghét bỏ Hơn thế nữa, còn gieo rắc vào tâm hồn của các em nỗi bi quan và thiếu sự gắn bó với gia ñình ngay từ còn thơ ấu Nhiều cha, mẹ do phân biệt ñối xử giữa các con nên ñã vô tình vùi dập tài năng của con cái mình hoặc ñẩy con mình vào những bi kịch ñau lòng trong xã hội
Trong gia ñình có nhiều con luôn có xu hướng cha, mẹ thương con không ñồng ñều, người cha yêu ñứa con này hơn, người mẹ thương ñứa con kia hơn Tình cảm của cha, mẹ ñược phân phát không ñồng ñều, ñứa con nào bị thiếu hụt cũng là
sự thiệt thòi cả Như việc cha mẹ thường thương con trai hơn con gái, thương con út hơn con lớn, thương con giống mình hoặc chiều theo ý mình hơn, ñứa nhận ñược ít tình thương hơn sẽ cảm thấy tủi thân, ảnh hưởng ñến tình cảm của anh, chị em trong nhà ðiển hình như trường hợp của Thủy Nhà Thủy có ba chị em, Thủy là ñứa con ñược bố mẹ yêu thương nhất và cưng chiều nhất Nào là Thủy xinh ñẹp, ñáng yêu, vâng lời, thông minh, học giỏi Bố mẹ Thủy luôn coi Thủy là niềm tự hào và là tấm gương sáng cho hai người chị của Thủy noi theo ði ñâu Thủy cũng ñược ñi, quần
áo ñẹp hay ñồ chơi gì Thủy cũng ñược ưu tiên phần ñầu Hôm Thủy chơi cùng với hai chị vì thua nên khóc, bố mẹ chưa kịp hỏi ñầu ñuôi ñã trách mắng hai chị và ñánh hai chị làm cho hai chị của Thủy bị ñòn oan nên cảm thấy oán ghét ñứa em ruột của mình Tình cảm bị rạn nứt, chị em không còn yêu thương và quý mến nhau nữa bởi
vì hai chị của Thủy cho rằng vì Thủy mà họ bị ñối xử bất công, cha, mẹ không còn yêu thương họ nữa Từ ñó, Thủy bị cô lập, chia rẽ, trở thành cái gai trong mắt của hai chị mình
ñức xã hội chủ nghĩa, củng cố mối quan hệ gia ñình, Luật hôn nhân và gia ñình ñã ñưa ra vấn ñề “không thừa nhận sự phân biệt ñối xử giữa các con” thành một nguyên tắc ñộc lập trong hệ thống những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân
và gia ñình Việt Nam Khoản 2 ðiều 34 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là sự hoán triệt sâu sắc nguyên tắc này Các con không phân biệt thứ tự, giới tính, cùng huyết thống hoặc không cùng huyết thống ñều ñược cha, mẹ thương yêu, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng như nhau Khi ñược hưởng lợi về tài sản các con cũng ñược hưởng như nhau, con cả, con thứ, con trai, con gái, con ruột, con nuôi, con trong giá thú hay con ngoài giá thú ñều thuộc hàng thừa kế thứ nhất hưởng di sản thừa kế của người cha hoặc người mẹ chết Mọi hành vi của cha, mẹ như không thực hiện nghĩa
vụ ñối với con, xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của con ñều bị xã hội lên án,
bị xử lý theo quy ñịnh của pháp luật Nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của các con mà không có bất kỳ sự phân biệt nào Chẳng hạn như con ngoài giá
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thú vẫn ựược quyền ựăng ký khai sinh, ựược xác ựịnh cha, mẹ; con nuôi hay con ựẻ ựều ựược cấp dưỡng khi cha, mẹ ly hôn
Ngoài ra, cha, mẹ không ựược ngược ựãi, hành hạ, xúc phạm con, không ựược lạm dụng sức lao ựộng của con chưa thành niên hoặc ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái ựạo ựức xã hội Cha, mẹ không ựược có những hành vi ựối
xử tàn tệ về ăn, mặc, ở và các sinh họat hàng ngày khác, không ựược nhục mạ, mắng chửi con cái, ựể cho con cái ăn mặc rách rưới, cho ở nơi khổ cực trong khi có ựiều kiện tốt hơn Nếu những hành vi này diễn ra một cách thường xuyên và có hệ thống sẽ làm cho con luôn bị dày vò về tình cảm, ựau khổ về tinh thần, không thể phát triển bình thường về thể chất và phần nào làm tổn hại tới sức khỏe, hoặc tuy không diễn ra thường xuyên nhưng ựược thực hiện một cách ựặc biệt tàn nhẫn, gây cho con cái nỗi khiếp sợ và gây sự bất bình lớn ựối với quần chúng xung quanh thì
sẽ bị xử lý theo pháp luật hình sự tại điều 151 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội
Ộngược ựãi hoặc hành hạ ông bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con cháu, người có công nuôi
Theo số liệu thống kê hàng năm ở Mỹ có khoảng 4000 trẻ em chết vì bị cha,
mẹ hành hạ Những ựứa trẻ bị bệnh tật, hay khóc ựêm thường dễ làm cho người chăm sóc mất tinh thần, do vậy là ựối tượng dễ bị ngược ựãi hơn so với những ựứa trẻ khỏe mạnh Người ta nghĩ rằng, những trường hợp ngược ựãi trẻ em chỉ xảy ra trong những gia ựình nghèo khổ, túng thiếu hay ắt học Nhưng trên thực tế, thảm kịch này có thể xảy ra ở bất kỳ giai tầng nào của xã hội đôi khi bề ngoài khá giả của cha, mẹ khiến người ta lầm tưởng, dẫn ựến một số trường hợp ựã không phát hiện kịp thời sự ngược ựãi ựể cứu ựứa bé Chỉ có 10% các trường hợp cha, mẹ thuộc loại phạm pháp hoặc mắc các chứng bệnh liên quan ựến tâm thần mới thường xuyên hành hạ con mình Một số lớn trường hợp cha, mẹ hành hạ con cái do trước ựây chắnh họ cũng từng là nạn nhân của một nền giáo dục khắc khe, nặng trừng trị theo
lối Ộthương cho roi cho vọtỢ
Một trong những quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nữa ựó là quyền quản lý ựối với tài sản của con Theo điều 45 và 46 Luật hôn nhân và gia ựình năm 2000 thì
ỘTài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do
cha, mẹ quản lý, cha, mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của conỢ Cha, mẹ quản lý tài sản riêng của con như tài sản của chắnh mình, bảo quản, giữ gìn cẩn trọng và chu ựáo tài sản của con đối với tài sản có khả năng sinh lợi thì cha, mẹ tận dụng, phát triển khả năng ựó ựể làm tăng giá trị của tài sản, chẳng hạn như tài sản là tiền thì gởi tiết kiệm ựể lấy lãi hoặc vườn cây thì cần chăm sóc ựể thu ựược hoa quả Bên cạnh ựó, ựối với những tài sản cần có sự bảo dưỡng, sửa chữa
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
như máy móc, nhà ở thì cha, mẹ tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa theo ñịnh kỳ hoặc khi tài sản bị hư hỏng
Bên cạnh ñó, cha, mẹ còn là người thừa kế hàng thứ nhất khi người con chết
Theo ñiểm a khoản 1 ðiều 676 Bộ luật dân sự năm 2005: “Hàng thừa kế thứ nhất
bao gồm: vợ, chồng, cha ñẻ, mẹ ñẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con ñẻ, con nuôi của người chết” Trong trường hợp con chết không ñể lại di chúc thì cha, mẹ ñược gọi ñể nhận
di sản bên cạnh vợ (chồng) và con của con, ñồng thời là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo khoản 1 ðiều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 Trong trường hợp con lập di chúc ñể lại phần lớn di sản cho người khác thì cha, mẹ mỗi người luôn ñảm bảo hưởng một phần di sản bằng hai phần ba suất mà cha, mẹ ñược hưởng theo pháp luật, nếu di sản ñược chia theo pháp luật
Cuối cùng, theo thống kê hàng năm nước ta có hàng chục ngàn vụ ly hôn và
số lượng này ngày càng tăng theo mỗi năm ðây là một vấn ñề cần ñược sự quan tâm của xã hội và Nhà nước, bởi vì, sau khi có quyết ñịnh ly hôn thì sẽ có hàng loạt vấn ñề nảy sinh liên quan ñến quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ ñối với con cái, mà ñặc biệt là vấn ñề cấp dưỡng của cha, mẹ sau khi ly hôn cho con cái của họ Theo quy ñịnh của pháp luật hiện hành thì cấp dưỡng là nghĩa vụ của cha, mẹ sau khi ly hôn ñối với con cái khi họ không trực tiếp nuôi dưỡng con ðiều 56 và khoản 1 ðiều 92 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 quy ñịnh: khi ly hôn, người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con ñã thành niên mà bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao ñộng và không có tài sản ñể tự nuôi mình thì có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
nghĩa vụ thiêng liêng ñược ñiều chỉnh bởi những quy ñịnh trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 cũng như quy ñịnh trong Bộ luật dân sự 2005 Cha, mẹ có quyền
mà cũng là nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, giáo dục con thành những công dân có ích cho xã hội Do quan hệ cha, mẹ - con là mối quan hệ hai chiều, có mối quan hệ qua lại tác ñộng lẫn nhau Cho nên, quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ ñối với con cũng chính là nghĩa vụ và quyền của con ñối với cha, mẹ Vì vậy, khi cha, mẹ thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình thì sẽ góp phần vào việc ñảm bảo cho mối quan hệ cha, mẹ - con ñược phát triển bền vững và cũng ñảm bảo cho người con thực hiện ñược quyền và nghĩa vụ của mình ñối với mẹ, cha
3 Quyền và nghĩa vụ của con
ðiều 35 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 quy ñịnh “Con có bổn phận
yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha, mẹ, lắng nghe lời khuyên bảo ñúng
ñắn của cha, mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt ñẹp của gia ñình” Thật vậy, gia
ñình với tính cách ñặc thù của mình luôn thiết lập một tôn ti, trật tự của nó Cha, mẹ
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái, ngược lại con cái với tư cách là người ựược hưởng sự yêu thương, nuôi dưỡng và sự hy sinh của cha, mẹ phải có bổn phận kắnh trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha, mẹ Lòng biết ơn, hiếu thảo của con ựới với cha, mẹ phải ựược thể hiện qua hành ựộng của con: quan tâm, gần gũi cha, mẹ Nếu không sống chung một mái gia ựình với cha, mẹ thì phải thường xuyên thăm viếng, hỏi thăm cha, mẹ Bởi vì, các bậc cha, mẹ nhất là khi cha, mẹ ựã già rất cần ựược sống bên cạnh con cháu, cần sự quan tâm của con cháu Bổn phận làm con thì phải biết lắng nghe lời khuyên bảo ựúng ựắn của cha, mẹ Ngoài ra, là con với tư cách là thế hệ nối tiếp và kế thừa thì phải có nghĩa vụ tôn trọng, phát huy
truyền thống tốt ựẹp của gia ựình Ộgiữ gìn danh dự, truyền thống tốt ựẹp của gia ựìnhỢ Quy ựịnh này thể hiện tư tưởng của đảng và Nhà nước ta trong việc ựề cao
những bản sắc văn hóa quý báo, truyền thống ựạo ựức tốt ựẹp trong gia ựình Việt
Nam ỘMột lòng thờ mẹ kắnh cha, cho tròn chữ hiếu mới là ựạo conỢ, tránh lối sống
thực dụng, cá nhân, ắch kỷ, phủ nhận lịch sử như cách nhìn nhận của một bộ phận
thanh niên nam, nữ trong cuộc sống hiện ựại ngày nay
Bên cạnh ựó, luật còn quy ựịnh ỘCon có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi
dựng ựược trong cuộc sống hôm nay ựều do sự hy sinh cao cả của cha, mẹ mà thành để cho con có ựiều kiện học hành cùng bạn bè trang lứa, nhiều bậc cha, mẹ
ựã phải vất vả hy sinh, chịu ựựng gian khổ, thậm chắ còn phải chịu ựói, chịu khát nhưng vẫn quyết lòng nuôi dạy con ăn học nên người Vì vậy, khi cha, mẹ già yếu hoặc không có ựiều kiện lao ựộng, không thể tự lo cho cuộc sống của mình nữa thì con cái phải có bổn phận và nghĩa vụ chặm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ, xem như là một phần bù ựắp lại cho cha, mẹ đây là một nét ựặc thù, một ựạo lý tốt ựẹp của truyền thống gia ựình Á đông, vì nó khác hẳn với chế ựộ gia ựình ở hầu hết các nước phương Tây, việc chăm sóc người già chủ yếu là do Nhà nước hoặc các tổ chức từ thiện thực hiện Do quan niệm của họ cho rằng, người làm cha, làm mẹ ựương nhiên có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con cái Nhưng khi về già con cái không buộc phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cho cha, mẹ mà Nhà nước và xã hội là người có trách nhiệm này
Tuy nhiên, trên thực tế do ảnh hưởng của lối sống phương Tây thực dụng nên con cái ựã xem việc nuôi dưỡng cha, mẹ tuổi già là cực hình, là gánh nặng Họ ựùn ựẩy trách nhiệm cho nhau, thậm chắ còn viết giấy tuyên bố từ bỏ trách nhiệm nuôi dưỡng cha, mẹ, làm cho cha, mẹ của họ bị ựau ựớn về thể xác và tinh thần gây nhiều bất bình trong dư luận xã hội điển hình là trường hợp của ông C ở quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chắ Minh Ông gần 90 tuổi nhưng vẫn phải sống vất vưởng dưới chiếc lều căng tạm ở chân cột ựiện ựể sống qua ngày Vợ ông C mất sớm ựể lại
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cho ông năm người con, hai trai, ba gái Ông C ở vậy và làm nghề ñạp xích lô ñể nuôi các con khôn lớn, trưởng thành Mấy năm trước, ông bị tai biến mạch máu não cần rất nhiều tiền ñể chữa trị nên phải bán căn nhà ñang ở Số tiền ñó ông chia cho các con một phần, phần còn lại ông ñể chữa bệnh và mua một căn nhà nhỏ ñể ở Một thời gian sau, các con ông khuyên ông nên bán căn nhà ñó về ở với mình ñể tiện bề chăm sóc Tiền bán nhà ông không giữ lại ñồng nào mà ñem chia hết cho năm người con Nhưng ông không biết rằng, ñó là một âm mưu của các con ông ñể chiếm ñoạt tài sản của cha mình Theo phân công, ông C ñến ở với người con trai lớn Nhưng chỉ ñược vài tháng sau, người ta lại thấy ông ôm gói quần áo về nhà
người con thứ hai với lý do: “Nó muốn cho ăn thì cho, muốn bỏ ñói thì bỏ Nó than
nhưng cả mấy người con mà ông ñã nuôi nấng trưởng thành ñều ñối xử với ông rất
tệ Không cách nào khác ông ñành viết ñơn nhờ chính quyền can thiệp Khi phường gọi người con trai cả lên thì ông ta vừa than vãn vừa lý giải nguyên nhân không
chịu nuôi bố “Ông cụ bán nhà, mấy anh em ñều ñược hưởng như nhau nhưng sao
trách nhiệm lại ñổ lên ñầu con cả Tôi không chịu nuôi vì tất cả anh em ñều phải có trách nhiệm như nhau, không thể viện cớ này hay cớ khác ñể ñùn ñẩy trách nhiệm
ñùn ñẩy trách nhiệm nuôi bố ñược nữa, họ ñã chuyển sang hợp tác bằng cách viết giấy cam kết không còn trách nhiệm nuôi bố ñể chính quyền hợp lý hóa các thủ tục ñưa ông C vào trung tâm dưỡng lão của Nhà nước
Hiện nay, do sự tha hóa về mặt ñạo ñức ñã khiến một số người không ý thức ñược ñạo lý xã hội và bổn phận của mình, có rất nhiều hành vi cư xử của người con không ñúng ñã gây những tổn thương to lớn về sức khỏe và danh dự của cha, mẹ
Vì vậy, ñể ñề cao ñạo lý làm con, bảo vệ quyền và lợi ích chính ñáng của cha, mẹ, nhắc nhở và giáo dục những người con không làm tròn chữ hiếu, pháp luật ñã quy ñịnh cụ thể: “Nghiêm cấm con có hành vi ngược ñãi, hành hạ, xúc phạm cha, mẹ”
và pháp luật cũng ñề ra những chế tài nghiêm khắc ñối với những người có hành vi ngược ñãi, hành hạ ñối với cha, mẹ mình Quy ñịnh này ñược cụ thể hóa tại ðiều
151 Bộ luật hình sự năm 1999 “Tội ngược ñãi hoặc hành hạ ông bà, cha, mẹ, vợ
hội cũng như nhắn nhủ với mọi người là bổn phận làm con phải thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ và xem ñây là quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình ñể góp phần xây dựng một cuộc sống gia ñình hạnh phúc
Bên cạnh ñó, trẻ em sinh ra có ñầy ñủ năng lực pháp luật và ñến một ñộ tuổi nhất ñịnh sẽ có năng lực hành vi ñể tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự và có quyền có tài sản riêng Theo ðiều 44 Luật hôn nhân và gia ñình năm
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2000 “Con có quyền có tài sản riêng” ðây là quy ñịnh xuất phát từ quá trình phát
triển kinh tế xã hội của nước ta trong giai ñoạn hiện nay và nhằm cụ thể hóa các quy ñịnh về căn cứ xác lập quyền sở hữu, các quy ñịnh về năng lực hành vi dân sự của
cá nhân khi tham gia các giao dịch dân sự ở những ñộ tuổi nhất ñịnh Luật hôn nhân
và gia ñình năm 2000 ñã quy ñịnh một cách toàn diện và cụ thể các vấn ñề về quyền
có tài sản riêng của con trong gia ñình là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính ñáng của con Theo khoản 1 ðiều 44 của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 thì tài sản riêng của con bao gồm: tài sản ñược thừa kế riêng, tặng cho riêng, thu nhập do lao ñộng của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác Việc quản lý tài sản, thực hiện các giao dịch liên quan ñến tài sản của người con chưa thành niên theo quy ñịnh của Bộ luật dân sự Tuy nhiên, theo khoản
1 ðiều 45 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 thì “Con từ ñủ mười lăm tuổi trở lên
hợp với hệ thống các quy ñịnh trong Luật dân sự và Luật lao ñộng, vì khi người từ
ñủ mười lăm tuổi trở lên ñã có thể tự mình tham gia các giao dịch dân sự thông thường hoặc có thể tham gia vào quan hệ lao ñộng trong các công việc ñơn giản Như vậy, về mặt thực tế và pháp lý thì cá nhân ở ñộ tuổi trên mười lăm ñược ñánh giá là có những suy nghĩ và nhận thức nhất ñịnh có thể tự mình làm ñược nhiều việc ñộc lập và cũng có thể tự mình quản lý tài sản của mình trong những trường hợp nếu thấy có ñủ khả năng
Ngoài việc quy ñịnh về quyền có tài sản riêng của con, nhằm gắn kết trách nhiệm của con cái ñối với gia ñình, Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam năm 2000
cũng quy ñịnh “Con từ mười lăm tuổi trở lên còn sống chung với cha, mẹ có nghĩa
vụ chăm lo ñời sống chung của gia ñình; nếu có thu nhập thì ñóng góp vào các nhu
ñần, gánh vác trách nhiệm với cha mẹ một số việc trong gia ñình Nếu con có tài sản riêng, hoa lợi, lợi tức thu ñược từ tài sản riêng hoặc có thu nhập từ lao ñộng phù hợp với lứa tuổi phải có trách nhiệm ñóng góp một phần vào sinh hoạt chung của gia ñình, nhất là khi cha mẹ gặp khó khăn, thu nhập không ñủ ñể trang trải các chi phí thiết yếu trong gia ñình
Như vậy, không chỉ cha, mẹ mới có trách nhiệm phải chăm lo cuộc sống của gia ñình mà cả con cái trong những trường hợp có thể cũng phải có trách nhiệm cùng với cha, mẹ chăm lo ñời sống chung của gia ñình, ñóng góp vào các nhu cầu
thiết yếu của gia ñình nếu có thu nhập thêm “Các thành viên cùng sống chung trong
gia ñình ñều có nghĩa vụ quan tâm, giúp ñỡ nhau, cùng nhau chăm lo ñời sống chung của gia ñình, ñóng góp công sức, tiền và tài sản khác ñể duy trì ñời sống
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Pháp luật còn quy ñịnh về quyền của con ñối với tài sản của cha, mẹ Nhưng nếu cha, mẹ còn sống, mặc dù già yếu nhưng vẫn tự mình quản lý tài sản, tự mình thu và hưởng hoa lợi từ tài sản của mình thì con không có quyền gì ñối với tài sản của cha, mẹ Trong trường hợp cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự thì con cả ñã thành niên có ñủ ñiều kiện phải là người giám hộ; nếu con cả không có ñủ ñiều kiện
ñể làm người giám hộ thì người con tiếp theo ñã thành niên có ñủ ñiều kiện phải làm người giám hộ cho cha, mẹ (khoản 2 ðiều 62 Bộ luật dân sự năm 2005) Nếu cha, mẹ ñược ñặt dưới chế ñộ giám hộ và con ñược giao nhiệm vụ giám hộ thì con quản lý tài sản của cha, mẹ theo các quy ñịnh chung về quản lý tài sản của người ñược giám hộ Bản thân tư cách là con không làm phát sinh quyền của người mang
tư cách ñó ñối với tài sản của người ñược giám hộ
Theo ñiểm a khoản 1 ðiều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 thì khi cha, mẹ chết thì con sẽ là người thừa kế hàng thứ nhất ñối với di sản của cha, mẹ Trong trường hợp cha hoặc mẹ chết không ñể lại di chúc thì con ñược gọi ñể nhận di sản bên cạnh cha hoặc mẹ còn sống và cha mẹ của người chết Ngoài ra, con còn ñược hưởng di sản của cha, mẹ theo quy ñịnh tại ðiều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 Tuy nhiên, không phải con nào cũng là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của cha, mẹ, trong trường hợp cha, mẹ ñịnh ñoạt phần lớn tài sản bằng di chúc cho người khác thì chỉ có con chưa thành niên hoặc ñã thành niên mà không có khả năng lao ñộng mới ñược bảo ñảm một phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, trong trường hợp di sản ñược chia theo pháp luật
gia ñình năm 2000 còn quy ñịnh về nghĩa vụ cấp dưỡng của con ñối với cha, mẹ
Theo ðiều 57 của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 thì “Con ñã thành niên
không chung sống với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ không có khả
tàn tật thì con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ (khoản 2 ðiều
36 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000) Nghĩa vụ cấp dưỡng của con ñối với cha,
mẹ là xuất phát trên cơ sở này Khi cha, mẹ không có khả năng lao ñộng và không
có tài sản ñể nuôi mình mà con không sống chung với cha, mẹ, do ñó không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha, mẹ thì có nghĩa vụ cấp dưỡng ñể ñảm bảo cuộc sống cho cha, mẹ
Một cách chung nhất, Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ñã quy ñịnh gần như ñầy ñủ và chính xác quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con Những quy ñịnh này ñược xây dựng trên cơ sở kế thừa và cụ thể hoá các quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986, ñồng thời có sửa ñổi, bổ sung thêm một số quy ñịnh mới nhằm ñáp ứng các yêu cầu của tình hình thực tế hiện nay Trong ñó có quy ñịnh về quyền
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
và nghĩa vụ của cha, mẹ ñối với con dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất là cha và mẹ ñều bình ñẳng với nhau trong việc thực hiện các nghĩa vụ và quyền ñó Ngoài ra, Luật này ñã quy ñịnh cụ thể và toàn diện hơn về các quy ñịnh cơ bản của con ñối với cha, mẹ (1) Qua ñây, cũng cho chúng ta thấy ñược gia ñình ngày càng nhận ñược sự quan tâm nhiều hơn của Nhà nước và xã hội Nếu một gia ñình có ñầy ñủ cha, mẹ thì người con sẽ hưởng ñược sự chăm sóc, giáo dục tốt hơn Cha, mẹ sẽ cùng nhau chăm lo, dạy dỗ và gầy dựng tương lai cho con, ngược lại, người con sẽ ñem lại niềm vui và hạnh phúc cho cha, mẹ Nếu gia ñình khiếm khuyết (chỉ có người cha hoặc người mẹ sống chung với con) thì người con sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Vì vậy, Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 bên cạnh việc quy ñịnh quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con thì tại Chương VII của Luật này cũng ñã quy ñịnh tương ñối rõ ràng về việc xác ñịnh cha, mẹ, con trong trường hợp người con chỉ biết cha (mẹ) mà không biết mẹ (cha) hoặc trong trường hợp các ñương sự không biết nhau do thất lạc muốn xác ñịnh lại cha, mẹ, con của mình, mà phổ biến là trường hợp nhận cha, mẹ nhận con ngoài giá thú Quy ñịnh này cũng nhằm bảo ñảm cho mọi người nếu không biết ñược cha, mẹ của mình có thể dựa vào ñó ñể yêu cầu Tòa án xác ñịnh lại mẹ, cha
xem xét ñể tìm ra giải pháp nhằm giúp cho mọi người ñều có thể xác ñịnh ñúng thân phận của mình và ñảm bảo cho mọi trẻ em sẽ ñược phát triển trong một môi trường lành mạnh, có ñủ ñiều kiện phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tâm hồn, cũng như thực hiện ñược ñầy ñủ quyền lợi của mình mà trong ñó quyền lợi cao nhất ñó là quyền có cha, mẹ và quyền hưởng ñược yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng của cha, mẹ
(1) Khoản 2 ðiều 38 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 quy ñịnh “Con riêng có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng bố dượng, mẹ kế cùng sống chung với mình theo quy ñịnh tại ðiều 35 và 36 của Luật này”
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1: XÁC LẬP QUAN HỆ GIỮA CHA, MẸ VỚI CON
TRONG GIÁ THÚ
1 Khái quát chung về quan hệ cha, mẹ với con trong giá thú
Con trong giá thú là con mà cha, mẹ cĩ quan hệ hơn nhân hợp pháp, tức là việc kết hơn đã được cơ quan Nhà nước cĩ thẩm quyền cơng nhận Luật hơn nhân
và gia đình năm 1959 của Nhà nước ta chưa dự liệu về nội dung nguyên tắc suy đốn pháp lý xác định cha, mẹ - con trong giá thú Thơng thường, khi nam, nữ kết hơn với nhau, trở thành vợ chồng, trong thời kỳ hơn nhân mà người vợ sinh con thì con đĩ mặc nhiên là con chung của hai vợ chồng Hệ thống pháp luật về dân sự, hơn nhân và gia đình ở nước ta dưới chế độ cũ đã dựa hẳn vào quy định của Bộ luật dân
sự Cộng hịa Pháp để quy định nguyên tắc suy đốn pháp lý xác định cha, mẹ, con
với nội dung “ðứa trẻ thành thai trong thời kỳ giá thú cĩ cha là chồng người mẹ ðược coi là thụ thai trong thời kỳ giá thú trẻ nào sinh quá 180 ngày kể từ khi kết
dưới chế độ cũ đã quy định về “thời kỳ thụ thai pháp định” là cơ sở cho việc suy
đốn quan hệ cha - con, mẹ - con ðiều 28 Luật hơn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 của Nhà nước ta đã quy định nội dung nguyên tắc suy đốn pháp lý xác định cha, mẹ cho con khác với pháp luật của chế độ cũ Quá trình điều tra, khảo sát thực tế các quan hệ hơn nhân và gia đình ở nước ta cho thấy, ngày nay nam, nữ tự do yêu thương, tìm hiểu trước khi kết hơn Cĩ nhiều trường hợp hai bên nam, nữ đã cĩ quan hệ sinh lý với nhau hoặc người phụ nữ đã thụ thai trước khi kết hơn, sau khi kết hơn với nhau được một thời gian ngắn, người
vợ đã sinh con Vì vậy, ðiều 28 Luật hơn nhân và gia đình năm 1986 và khoản 1 ðiều 63 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định theo nguyên tắc: “Con
sinh ra trong thời kỳ hơn nhân hoặc do người vợ cĩ thai trong thời kỳ đĩ là con chung của vợ chồng Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hơn và được cha mẹ thừa
Theo quy định trên đây, thời kỳ hơn nhân là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, được tính từ khi kết hơn cho đến khi hơn nhân chấm dứt trước pháp luật (do vợ hoặc chồng chết hoặc vợ chồng ly hơn tính từ khi phán quyết ly hơn của Tịa án cĩ hiệu lực pháp luật) Nếu người vợ sinh con trong thời kỳ hơn nhân này,
về nguyên tắc con đĩ được xác định là con chung của cả hai vợ chồng Tức là người
chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đĩ “Con sinh ra trong thời
kỳ hơn nhân hoặc do người vợ cĩ thai trong thời kỳ đĩ là con chung trong giá thú
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thì pháp luật ta cịn quy định “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hơn và được cha,
Luật Việt Nam hiện hành khơng phân biệt con sinh ra từ hơn nhân và con sinh ra từ quan hệ như vợ chồng ngồi hơn nhân, tất cả các con đều được cha, mẹ đối xử bình đẳng và đều được pháp luật thừa nhận, cĩ quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong quan hệ với cha, mẹ Thế nhưng, luật hiện hành chỉ xây dựng các quy tắc chung cho việc xác định các quan hệ đĩ ðặc biệt, các quy định liên quan đến việc suy đốn về sự tồn tại của mối quan hệ cha, mẹ - con ruột chỉ được áp dụng trong trường hợp con được sinh ra từ quan hệ hơn nhân và nĩi chung, được sinh ra
từ quan hệ xác thịt giữa hai người cĩ quan hệ hơn nhân với nhau, dù quan hệ hơn nhân được xác lập trước hoặc sau khi con thành thai Nĩi rõ hơn, nguyên tắc bình đẳng giữa các con chỉ được áp dụng một khi quan hệ cha, mẹ - con đã được xác định Về phương diện xây dựng cách thức xác định quan hệ cha, mẹ - con, trong luật thực định Việt Nam cĩ sự phân biệt tùy theo những người sinh con cĩ hay khơng cĩ quan hệ hơn nhân hợp pháp Con sinh ra cĩ cha, mẹ cĩ quan hệ hơn nhân hợp pháp sẽ được pháp luật và gia đình bảo vệ, ưu tiên về nhiều mặt như về thủ tục làm khai sinh, hưởng được đầy đủ sự yêu thương, chăm sĩc của mọi thành viên trong gia đình cũng như tồn xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh đĩ, do Nhà nước ta đang mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngồi về nhiều lĩnh vực Vì vậy, hệ thống pháp luật của nước ta cũng được điều chỉnh cho phù hợp với thời kỳ hội nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực hơn nhân và
gia đình “Ở nước cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan hệ hơn nhân và gia đình cĩ yếu tố nước ngồi được tơn trọng và bảo vệ” hay “Trong quan hệ hơn nhân
và gia đình với cơng dân Việt Nam, người nước ngồi tại Việt Nam được hưởng các
Nam kết hơn với người nước ngồi ngày càng tăng Trong đĩ, cĩ những cuộc hơn nhân được tạo dựng bằng tình yêu thực sự nên đã đem lại cuộc sống hạnh phúc thì khơng cĩ vấn đề gì để bàn cãi Bên cạnh đĩ, cĩ một số người đã lợi dụng chính sách
mở cửa của pháp luật Việt Nam nên đã vào Việt Nam kết hơn chỉ nhằm mục đích lừa gạt tình cảm, cĩ người cịn đăng ký kết hơn và chung sống với nhiều người trong cùng một thời gian ngắn, rồi sau đĩ những người này trở về nước để lại phía sau lưng họ những hậu quả nặng nề mà nhất là đối với con cái Và khi giải quyết vụ việc cĩ liên quan đến người nước ngồi cũng gặp nhiều khĩ khăn vì đa số các đương sự trong vụ việc thường vắng mặt nên việc chứng minh mối quan hệ cha -
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
con cũng gặp nhiều bất cập và mặc dù vụ việc ñã ñược giải quyết thì khi thi hành cũng gặp khó khăn Vì vậy, vấn ñề này cần phải ñược sự quan tâm ñúng mức của ðảng và Nhà nước ta
2 Các yếu tố xác lập quan hệ cha, mẹ và con trong giá thú
2.1 Giấy khai sinh
Giấy khai sinh là một chứng thư hộ tịch nhằm ghi nhận các yếu tố ñặc trưng của sự kiện một người nào ñó, xác ñịnh ñược sinh ra Trong ña số trường hợp, trên giấy khai sinh tên, họ của cha và mẹ ñược ghi nhận nên người ta thường dùng giấy khai sinh như là một bằng chứng thuyết phục trong việc chứng minh quan hệ giữa cha, mẹ với con trong giá thú ðiều này ñược thiết lập tương tự như Bộ luật dân sự
Pháp: “Quan hệ giữa cha, mẹ và con chính thức ñược chứng minh bằng chứng thư
Thực tiễn dân gian vẫn thừa nhận việc sử dụng giấy khai sinh ñể chứng minh quan hệ cha, mẹ - con trong nhiều trường hợp Trong suy nghĩ lành mạnh phù hợp với tâm lý dân cư, giấy khai sinh là bằng chứng về việc có một người ñược sinh ra vào ngày, tháng, năm ñược ghi nhận trên giấy ñó, người này có cha và mẹ lần lượt ñược ghi tên ở các mục tương ứng trong giấy khai sinh Ngay cả trong trường hợp những người ñược khai là cha, mẹ của ñứa trẻ không có ñăng ký kết hôn hợp lệ thì
tư cách cha và mẹ cũng có thể ñược chứng minh bằng cách dựa vào các chi tiết ñược ghi nhận trên giấy khai sinh ðiều gần như chắc chắn rằng giấy khai sinh là
bằng chứng về việc người mẹ có con sinh ra Ở ñây, sử dụng cụm từ “gần như chắc
chắn” bởi ta không loại trừ khả năng con bị ñánh tráo với một trẻ em khác: khi ñó,
ta nói rằng ñúng là người mẹ có sinh con nhưng không phải là con ñược khai sinh; cũng không loại trừ có một vụ mua bán trẻ em mới sinh: người ñược khai là mẹ không hề mang thai nhưng cuối cùng lại sinh ñược một ñứa con mà trên thực tế ñứa trẻ này là do người khác sinh ra Tuy nhiên, giấy khai sinh tự bản thân nó ñối với thực tiễn và kinh nghiệm dân gian thì ñây là một bằng chứng có giá trị cho việc chứng minh cũng như thiết lập mối quan hệ cha, mẹ - con ñối với người thứ ba cũng như ñối với xã hội
Về mặt pháp lý thì không một văn bản nào trong Luật viết Việt Nam hiện hành quy ñịnh là giấy khai sinh là bằng chứng về quan hệ cha, mẹ - con ruột Phải thấy rằng sự thật sinh học theo giấy khai sinh lệ thuộc vào khá nhiều yếu tố chủ quan như: lời khai của người khai sinh, của người làm chứng, lời xác nhận của cơ
sở y tế… Trong khung cảnh của luật thực ñịnh Việt Nam, không có dữ kiện nào liên quan ñến việc sinh con và ñến việc xác lập sự thật sinh học về quan hệ cha, mẹ - con phải ñược viên chức hộ tịch ñích thân và trực tiếp kiểm chứng Trong ña số
(1) ðiều 319 Bộ luật dân sự Pháp
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trường hợp, sự phù hợp giữa các lời khai, lời xác nhận và sự thật sinh học được bảo đảm bằng ý thức xã hội và ý thức gia đình của con người Việt Nam
Tuy nhiên, dù thế nào thì giấy khai sinh cũng gĩp một phần quan trọng trong việc xác lập quan hệ cha, mẹ - con mà đặc biệt là quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú Bởi vì, ta cĩ thể dựa vào giấy khai sinh để biết được ngày sinh của con Nếu ngày đĩ nằm trong thời kỳ hơn nhân thì con được coi như sinh ra trong thời kỳ đĩ Trong trường hợp theo giấy khai sinh, con được sinh ra sau khi hơn nhân chấm dứt, thì trong điều kiện luật khơng cĩ quy định chính thức về việc suy đốn ngày thành thai, ta cĩ thể dựa vào kinh nghiệm chuyên mơn của người làm cơng tác hộ sản để xác định một cách tương đối thời điểm thành thai Thơng thường, người đi khai sinh
là người chồng nhưng trong một số trường hợp cĩ thể do một người thứ ba đi khai
sinh “Nếu cha, mẹ khơng thể đi khai sinh thì ơng, bà hoặc những người thân thích
khai sinh họ, tên của người mẹ Cĩ thể tin rằng, đối với quan hệ mẹ - con thì giấy khai sinh cĩ ghi họ, tên mẹ được coi như là chứng cứ đầy đủ
Bên cạnh đĩ, giấy khai sinh cũng được xem là bằng chứng trong việc thiết lập mối quan hệ cha - con Người chồng cĩ tên trên giấy chứng nhận đăng ký kết hơn thường sẽ được khai là cha đứa trẻ Trong khung cảnh của thực tiễn, việc họ, tên cha ghi nhận trên giấy khai sinh trùng với họ, tên chồng của người được khai là
mẹ cĩ tác dụng củng cố bằng chứng về quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú Cơng luận, về phần mình, thường coi giấy khai sinh và giấy chứng nhận kết hơn là bằng chứng thuyết phục về quan hệ cha - con ruột một khi người được khai là cha đồng thời là chồng của người được khai là mẹ, nếu như do nguyên nhân nào đĩ mà cơng luận khơng chứng kiến được sự đối xử giữa các đương sự theo cung cách của cha và con
Một vấn đề cần được quan tâm đĩ là tại khoản 1 ðiều 63 Luật hơn nhân và
gia đình năm 2000 thì “Con sinh ra trong thời kỳ hơn nhân hoặc do người vợ cĩ
thai hoặc sinh ra trong thời kỳ hơn nhân sẽ được suy đốn là con chung của vợ chồng, luật khơng nĩi gì đến việc phải cĩ giấy khai sinh ghi tên, họ cha thì đứa trẻ sinh ra mới được coi là con chung của vợ chồng Bởi vậy, trong khung cảnh của luật viết, việc giấy khai sinh cĩ ghi nhận người chồng như là cha của đứa trẻ do người
vợ sinh ra hay khơng khơng ảnh hưởng gì đến hiệu lực của việc suy đốn con trong giá thú Ta nĩi rằng, giấy khai sinh khơng phải là chứng cứ duy nhất và độc lập về quan hệ cha, mẹ - con, đặc biệt là quan hệ cha - con Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên rất khơng bình thường, nếu một người vợ được khai sinh theo giấy khai sinh là mẹ
(1) ðiều 14 Nghị định số 158/2005/Nð-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
của một ñứa trẻ sinh ra trong ñiều kiện người chồng (có hôn nhân hợp pháp) lại không ñược khai là cha của ñứa trẻ ñó Ta có thể tin rằng, trong hầu hết các trường hợp mà người mẹ không bỏ rơi con mình và luôn muốn cho con mình có ñầy ñủ cha, mẹ trên giấy tờ hợp lệ ñể bảo vệ quyền lợi của con, việc cung cấp thông tin về lai lịch của cha, mẹ khi khai sinh cho con ñều ñặt dưới sự kiểm soát của người mẹ
Do ñó, nếu người mẹ (ñồng thời là người vợ) sinh con mà giấy khai sinh không ghi nhận lai lịch của cha thì ñiều ñó có nghĩa là theo người vợ, người chồng không phải
là cha của ñứa trẻ
Dù trong trường hợp nào ñi nữa thì giấy khai sinh tự nó không phải là bằng chứng ñộc lập về sự tồn tại của quan hệ cha, mẹ - con Bởi vậy, ñáng lý ra một người bị khai là cha (mẹ) của một ñứa trẻ (có thể do sáng kiến của mẹ (cha) của ñứa trẻ hoặc của một người thứ ba nào ñó) theo giấy khai sinh, dù không biết ñứa trẻ ñó
là ai, không chỉ vì có lời khai ñó mà ở trong tình trạng “ñược nhận là cha (mẹ) của
không cần phải kiện ra Tòa án ñể xin xác nhận người ñược khai sinh không phải là con của mình Tuy nhiên, trong chừng mực nào ñó, ta nói rằng trong trường hợp một người tìm cách xác ñịnh quan hệ cha, mẹ - con với một người khác thì giấy khai sinh có ghi lai lịch của cha, mẹ là manh mối truy tầm chứng cứ về quan hệ ñó Trong thực tiễn giao dịch ngoài thủ tục tư pháp, một người tự xưng là con của một người khác và có giấy khai sinh ghi rõ tên, họ của người khác ñó ở các phần liên quan ñến lai lịch của cha, mẹ ñược phép tiếp tục bổ sung chứng cứ ñể khẳng ñịnh mối quan hệ cha, mẹ - con ñã ñược ghi nhận trên giấy khai sinh Cách bổ sung chứng cứ khác nhau tuỳ từng trường hợp và tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể
Ta nói rằng giấy khai sinh không là chứng cứ duy nhất ñể khẳng ñịnh sự tồn tại của quan hệ cha, mẹ - con bởi vì, trong một số trường hợp, người xuất trình giấy
khai sinh với tư cách là người có tên ở mục “họ, tên trẻ mới sinh” không hẳn chính
là người có tên ñó Hoàn toàn có khả năng một người sử dụng giấy khai sinh của một người khác (có thể nhặt ñược, mượn hoặc lấy của người khác) Bởi vậy, người thứ ba hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể yêu cầu người ñã xuất trình giấy khai sinh củng cố bằng chứng về quan hệ cha, mẹ - con dù ñã có giấy khai sinh ghi rõ tên, họ của cha, mẹ, một khi thấy có những biểu hiện ñánh vào sự ngờ vực về tính xác thực của quan hệ ñó Trong trường hợp có sự tranh cãi giữa người tự xưng
là người có tên trên giấy khai sinh và người mà việc sinh ñược ghi nhận bằng giấy
tờ ñó, thì chính người tự xưng là có tên trên giấy khai sinh hoặc người ñại diện phải chứng minh sự giống nhau ñó Thông thường, nếu sự tranh cãi có liên quan ñến trẻ nhỏ thì sự giống nhau ñược chứng minh bằng các yếu tố xã hội học (thái ñộ cư xử,
sự công nhận của dư luận xã hội hay cách xưng hô); nếu sự tranh cãi có liên quan
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñến trẻ sơ sinh thì sự giống nhau ñược chứng minh bằng mọi phương tiện ñược thừa nhận trong luật chung (người làm chứng, tuổi xương, nhóm máu… bởi vì, ở ñây yếu
tố xã hội học chưa ñược biểu hiện hoặc nếu có biểu hiện cũng chưa rõ nét); nếu sự tranh cãi liên quan ñến người ñã trưởng thành thì sự giống nhau ñược chứng minh bằng chứng minh nhân dân và các yếu tố xã hội học (nếu có)
Mặt khác, khi ñã xác ñịnh ñược sự giống nhau giữa người ñã có tên trong giấy khai sinh và người tự xưng là ñược khai sinh theo giấy ñó thì việc chứng minh quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú, trong những trường hợp ñặc thù còn phải ñược củng cố bằng các bằng chứng khác mà ñặc biệt là yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Việc xác ñịnh các yếu tố sinh học, yếu tố xã hội học có khi còn bao trùm cả việc chứng minh sự giống nhau giữa người ñược nhận là cha, mẹ với người có tên trên giấy khai sinh ở cột cha, mẹ cũng như ñối với người cung cấp các yếu tố vật chất tạo thành yếu tố sinh học của quan hệ cha, mẹ - con Bởi vậy, bản thân giấy khai sinh không hẳn ñủ yếu tố ñể khẳng ñịnh quan hệ cha, mẹ - con nếu nó không ñược
ñi kèm với các yếu tố khác mà ñiển hình là yếu tố xã hội học
Ngoài ra, khi khẳng ñịnh rằng giấy khai sinh không là bằng chứng duy nhất
ñể xác lập mối quan hệ cha, mẹ - con, bởi vì, cho ñến nay, vẫn còn có rất nhiều người Việt Nam không có giấy khai sinh hoặc nếu có giấy khai sinh thì cũng rất nhiều trường hợp là giấy khi sinh trễ hạn Theo thống kê từ năm 1985 ñến hết tháng 12/2001 ở tỉnh Kon Tum ñã ñăng ký khai sinh quá hạn cho 48.070 trường hợp Các trường hợp ñăng ký khai sinh quá hạn thường tập trung vào các ñối tượng là con em các gia ñình dân tộc thiểu số thuộc các ñịa phương vùng sâu, vùng xa, do nhận thức chưa ñầy ñủ về quyền lợi và nghĩa vụ công dân trong việc khai sinh, nhiều trường hợp sinh con tại nhà hoặc ngại ñến chính quyền sở tại ñể làm thủ tục ñăng ký Vậy, nếu có phát sinh tranh chấp trong việc xác lập quan hệ cha, mẹ - con trong giai ñoạn không có giấy khai sinh hoặc chưa ñăng ký khai sinh thì nếu chỉ chứng minh quan
hệ cha, mẹ - con thông qua giấy khai sinh thì chắc hẳn việc xác lập quan hệ này sẽ rất khó khăn hoặc không thể giải quyết ñược Hiện nay, theo quy ñịnh mở của ðiều
43 Nghị ñịnh số 158 về ñăng ký và quản lý hộ tịch thì việc ñăng ký khai sinh có thể ñược thực hiện ngay cả trong trường hợp người ñược khai sinh ñã thành niên nên ñã gây khó khăn rất nhiều trong công tác quản lý hộ tịch mà ñặc biệt là trong trường hợp có phát sinh tranh chấp về quan hệ cha, mẹ - con Bên cạnh ñó, tình trạng trẻ
em không ñăng ký khai sinh hoặc chỉ ñăng ký khai sinh khi ñến tuổi ñi học còn do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác như: sự quan tâm của chính quyền ñịa phương, ảnh hưởng của phong tục, tập quán, sự phù hợp của pháp luật về hộ tịch ñối với các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, năng lực và việc bố trí cán bộ tư pháp, hộ tịch
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trong các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp ñến hiệu quả của công tác hộ tịch nói trên, theo kết quả của cuộc ñiều tra xã hội học do Bộ tư pháp tiến hành gần ñây cho thấy 44% cán bộ tư pháp, hộ tịch chuyên trách tại các xã miền núi thuộc tỉnh Lai Châu thống nhất quan ñiểm cho rằng: ảnh hưởng của phong tục, tập quán là yếu tố quan trọng nhất tác ñộng ñến hiệu quả của công tác quản lý hộ tịch ñối với ñồng bào dân tộc thiểu số (1) Trong ñời sống, sinh hoạt của ñồng bào dân tộc thiểu số thì các phong tục, tập quán truyền thống có sức mạnh chi phối và ñiều chỉnh hành vi của con người sâu sắc, ñặc biệt là các phong tục, tập quán hôn nhân gia ñình vốn có tính bền vững và ñã ăn sâu vào nhận thức của người dân từ bao ñời nay Công tác quản
lý và ñăng ký hộ tịch là một trong những lĩnh vực mà hiệu quả hoạt ñộng bị ảnh hưởng nặng nề bởi các phong tục tập quán lạc hậu về cư trú, hôn nhân, sinh ñẻ… của ñồng bào dân tộc thiểu số ðối với hoạt ñộng ñăng ký khai sinh, tập quán về nơi
cư trú, ăn ở và các phong tục về ñặt tên cho trẻ sơ sinh là những phong tục tập quán
có ảnh hưởng sâu sắc nhất (2)
Bên cạnh ñó, việc ñăng ký khai sinh cho trẻ em sống trong những gia ñình di dân không có hộ khẩu thường trú cũng gặp nhiều khó khăn Nhiều trường hợp tạm trú không ñược phép ñăng ký khai sinh cho con như theo phản ánh của người dân
“Tôi có hộ khẩu KT3 (trường hợp ñến thành phố từ một năm trở lên và có ý ñịnh cư
trú dài hạn, có nhà ở hợp pháp hoặc nhà thuê do chủ nhà hợp pháp bảo lãnh sẽ
ñược ñăng ký KT3 và hàng năm cần phải ñăng ký tạm trú lại), có con, lập gia ñình ñược ñăng ký kết hôn tại ñây nhưng khi ñi làm giấy khai sinh cho cháu thì lại không ñược Họ yêu cầu là phải xoá sổ hộ khẩu của mẹ ở quê, mà quê chúng tôi thì ở rất
Trong trường hợp không có giấy khai sinh thì ngày sinh hoặc ngày thành thai của con có thể ñược chứng minh bằng tất cả các phương tiện ñược thừa nhận trong luật chung về chứng cứ Quan hệ cha, mẹ - con trong trường hợp này ñược ghi nhận nhờ vào thái ñộ cư xử giữa các ñương sự nói chung mà chủ yếu nhờ vào yếu
tố xã hội học của quan hệ ñó “Nếu không có chứng thư khai sinh, nhưng thực tế vẫn
có quan hệ như con chính thức cũng ñủ ñể chứng minh quan hệ giữa cha, mẹ và con
63 của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000, ñối với con sinh ra trong thời kỳ hôn
(1) Trang 81 phần thứ 2 “Tiểu luận và chuyên khảo” của “Hộ tịch - Vui buồn muôn nẻo dân sinh”
(2) Tập quán cư trú trên núi cao của ñồng bào Mông; tập quán thủy cư ở một số ñịa bàn có ñịa hình sông nước
ở Thừa Thiên - Huế; lễ ba Trăng của ñồng bào Dao; lễ rữa tội của ñồng bào Công Giáo; lễ thổi tai cho trẻ nhỏ của dân tộc Bahnar hay lễ cúng mụ của một số người Kinh
(3) Ý kiến của người dân ở xã Bình Hưng Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh ñăng trên Tạp chí xã hội học số 3 năm 2006
(4) ðiều 320 Bộ luật dân sự Pháp
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhân hoặc do người vợ cĩ thai sinh ra trong thời kỳ đĩ bằng cách dựa vào giấy khai sinh chỉ cĩ thể thoả đáng đối với tất cả mọi người khi nào giấy khai sinh ghi nhận
họ, tên của cả cha và mẹ tương ứng với họ, tên chồng và vợ theo giấy chứng nhận kết hơn Nếu giấy khai sinh chỉ cĩ tên mẹ mà khơng cĩ tên cha thì dù con sinh ra trong thời kỳ hơn nhân hoặc thành thai trong thời kỳ đĩ sự suy đốn nên bị loại trừ
Về phương diện cấu trúc vật chất của chứng cứ về quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú trong trường hợp này, ta nĩi rằng quan hệ đĩ được suy đốn là do giấy khai sinh ghi rõ lai lịch của cha, mẹ; cha, mẹ cĩ quan hệ hơn nhân hợp pháp và giấy khai sinh ghi nhận con sinh ra hoặc thành thai trong thời kỳ hơn nhân ðây chỉ là kết luận mang tính nguyên tắc, bởi vì cĩ những trường hợp con sinh ra hoặc thành thai trong thời kỳ hơn nhân, giấy khai sinh cĩ ghi họ tên cha, mẹ và cha, mẹ cĩ quan hệ hơn nhân hợp pháp nhưng sự suy đốn đĩ cĩ thể trở nên thiếu cơ sở một khi giữa cha,
mẹ khơng cĩ quan hệ chung sống trên thực tế (mặc dù họ là vợ chồng hợp pháp) Vì vậy, giấy khai sinh muốn trở thành chứng cứ thuyết phục trong việc xác lập quan hệ cha, mẹ - con thì đi kèm với nĩ phải cĩ các yếu tố khác bổ sung, mà một trong những yếu tố quan trọng đủ mạnh để khẳng định quan hệ cha, mẹ - con bên cạnh bằng chứng là giấy khai sinh đĩ chính là yếu tố xã hội
2.2 Yếu tố xã hội
Yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con tỏ ra đặc biệt cần thiết để chứng minh quan hệ đĩ, một khi con sinh ra trước khi cha, mẹ kết hơn và con khơng cĩ giấy khai sinh hoặc giấy khai sinh khơng ghi nhận họ, tên cha, mẹ Con chung của
vợ chồng thường mang họ cha hoặc họ mẹ theo đúng tập tục của vùng nơi con sinh
ra, cư xử với cha, mẹ như là cha - con, mẹ - con và tất cả những điều đĩ được người thứ ba ghi nhận Cần nhấn mạnh rằng yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con trong trường hợp con được gọi là con chung của vợ chồng phải là yếu tố xã hội học chung cho cả hai loại quan hệ cha - con và mẹ - con Chẳng hạn như cả cha và mẹ đều cùng tỏ thái độ và cùng nhau chăm sĩc, nuơi dạy con Khơng thể dùng yếu tố xã hội học để chứng minh thân phận con chung của vợ chồng, nếu yếu tố đĩ chỉ ghi nhận cho một loại quan hệ là quan hệ cha - con hoặc quan hệ mẹ - con
Yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con là yếu tố mà nhìn vào đĩ người thứ ba dù là quen biết hoặc khơng quen biết cĩ thể cảm nhận rằng đĩ là những người cĩ quan hệ mẹ - con hoặc cha - con với nhau Giả sử như A dắt B đến trường gặp cơ giáo để gởi B vào học và giới thiệu với cơ giáo rằng B là con mình Cơ giáo
sẽ ghi nhận sự tồn tại của mối quan hệ cha - con giữa A và B khơng chỉ thơng qua lời giới thiệu mà cịn thơng qua thái độ cư xử của A và B đối với nhau, chẳng hạn như hàng ngày A chở B đến trường, dắt B đến lớp, làm quen với những đứa trẻ cùng học chung với B Ta nĩi rằng, sự tồn tại của quan hệ cha - con được xác định
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhờ vào những biểu hiện bên ngồi của mối quan hệ ấy, được người thứ ba ghi nhận Một người mang thân phận con là người sống và cư xử theo chuẩn mực tương ứng với thân phận ấy, do xã hội đặt ra Cịn người mang thân phận là cha, mẹ cũng
cư xử lại phù hợp với thái độ của người con đối với mình như: con học giỏi thì cha,
mẹ khen, con hư hỏng, quậy phá thì cha, mẹ la rầy, khuyên bảo Ta nĩi rằng, quan
hệ cha, mẹ - con được ghi nhận nhờ vào sự bộc lộ yếu tố xã hội học của quan hệ ấy Trong thực tế thì yếu tố xã hội học của quan hệ cha - con sẽ ít được biểu hiện rõ nét hơn yếu tố xã hội học của quan hệ mẹ - con, bởi vì tình cảm của người phụ nữ thường sẽ bộc lộ ra bên ngồi Song, nĩi một cách tổng quát thì quan hệ cha, mẹ - con được xác định về phương diện xã hội như là kết quả của sự hội tụ bao gồm ba yếu tố cơ bản đĩ là: danh xưng, thái độ cư xử và dư luận xã hội
2.2.1 Danh xưng
Danh xưng là họ, tên của một người dùng để giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày hay được sử dụng trong những giao dịch mang tính pháp lý và đĩ cũng là họ, tên để cha, mẹ gọi con cái của mình Con của một người thường mang họ của người
đĩ Thơng thường, con sinh ra từ quan hệ hơn nhân hợp pháp mang họ cha; con sinh
ra từ quan hệ chung sống như vợ, chồng cũng thường mang họ cha Tuy nhiên, cũng
cĩ một số trường hợp những người cĩ quan hệ hơn nhân hợp pháp hoặc chung sống như vợ chồng chấp nhận tập tục của cộng đồng dân tộc ít người mà họ cĩ xuất xứ
và theo đĩ, con sinh ra phải mang họ mẹ (1) Con của một người phụ nữ độc thân thường mang họ của chính người phụ nữ đĩ Bằng chứng về việc con mang họ cha,
mẹ cĩ thể là giấy khai sinh hoặc bất kỳ giấy tờ gì khác được thiết lập một cách chính thức, hợp pháp như: chứng minh nhân dân, hộ chiếu, sổ hộ khẩu, thậm chí là
lý lịch cĩ xác nhận, bằng cấp, chứng chỉ
Bằng chứng về việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ - con cũng cĩ thể được chứng minh thơng qua tên của một người Thơng thường, tên của người con khi ghép lại chung với tên của cha hoặc mẹ sẽ cĩ một ý nghĩa xã hội nhất định Chẳng hạn nếu cha tên Thái thì tên của người con thường là tên Bình, tên của người mẹ là tên Mỹ thì tên của người con cĩ thể là tên Nhân, hay tên của người mẹ là Dung thì tên của người con thường là Hạnh Bên cạnh đĩ, người ta cịn cĩ thể dùng chữ lĩt đệm của cha hoặc mẹ để đặt tên cho con Bởi vậy, khi nhìn vào tên, họ của cha mẹ
và con người thứ ba cũng cĩ thể một phần suy đốn được họ là những người cĩ quan hệ cha, mẹ - con với nhau
Tuy nhiên, hiện nay do ảnh hưởng của lối sống phương Tây nên cĩ rất nhiều bậc cha, mẹ đặt tên cho con giống tên gọi của người nước ngồi, chẳng hạn như
(1) ðây là trường hợp thường áp dụng đối với những cộng đồng dân tộc sống theo chế độ mẫu hệ và phải phù hợp với phong tục, tập quán của vùng, ví dụ như người Brâu, Jarai ở Kon Tum sẽ mang họ mẹ
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
giống tên của một diễn viên, một cầu thủ bóng ñá hay một ngôi sao ca nhạc mà họ ñang hâm mộ Và trong một số trường hợp, cha, mẹ thoả thuận với nhau về việc ñể cho con mang họ mẹ trái với phong tục, tập quán của vùng như người ñáng lý ra phải mang họ cha theo ñúng tập quán của vùng thì lại mang họ mẹ (1) Cả hai trường hợp này sẽ rất khó xác ñịnh yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con nếu ta chỉ dựa vào họ, tên của người con Vì vậy, ñể khẳng ñịnh mối quan hệ cha, mẹ - con khi dựa vào yếu tố xã hội học thì chúng ta không chỉ dựa vào yếu tố danh xưng (họ, tên của một người) mà giữa cha, mẹ, con cần phải thiết lập thêm yếu tố nữa ñó chính là thái ñộ cư xử của những người ñược gọi là cha, mẹ và con với nhau ñể củng cố lòng tin của người thứ ba cũng như của xã hội ñối với mối quan hệ ñó
2.2.2 Thái ñộ cư xử
Khi khẳng ñịnh các ñương sự có mối quan hệ cha, mẹ - con với nhau và chỉ dựa vào họ, tên của các ñương sự với nhau thì chưa ñủ mà chúng ta phải dựa vào thái ñộ cư xử của họ với nhau và các ñương sự này phải cư xử với nhau như cha - con, mẹ - con Cha, mẹ cư xử với tư cách ñó với con ñược thể hiện một cách chung nhất, qua việc cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, gầy dựng và ñịnh hướng tương lai cho con như việc cha, mẹ phải lo lắng cho con khi con ốm ñau, cho con vào học những trường có chất lượng tốt, dạy cho con cách cư xử ở ñời ñối với mọi người chung quanh hay hướng dẫn cho con chọn nghề nghiệp… Việc con cư xử với
tư cách ñó trong quan hệ với cha, mẹ cũng ñược thể hiện một cách chung nhất và phổ biến nhất ñó là việc con tỏ ra kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng, tuân theo lời khuyên bảo của cha, mẹ ðiển hình là khi cha, mẹ già yếu thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng; trước mặt người thứ ba thì con tỏ ra kính trọng, lễ phép, vâng lời cha, mẹ hoặc khi con làm sai bị cha, mẹ la rầy thì con sẽ tỏ ra ăn năn, hối hận và hứa với cha, mẹ là sẽ phấn ñấu ñể tốt hơn, ñể không mắc những sai lầm
ñó nữa… Ngoài ra, thái ñộ cư xử giữa cha, mẹ và con ñược người thứ ba nhìn nhận còn có thể thông qua cách xưng hô giữa những người này Khác với khá nhiều thứ tiếng, tiếng Việt có các từ dùng ñể xưng hô cho phép người thứ ba nhận biết quan
hệ cha - con, mẹ - con giữa các ñương sự (2), như con có thể gọi cha là ba, bố, cha, thầy; gọi mẹ bằng má, vú, u, mế… Và cha, mẹ thường gọi con bằng tên hay bằng con Thái ñộ cư xử giữa cha, mẹ và con còn ñược thể hiện qua việc cha, mẹ thường hay dắt con ñi chung với mình nếu con còn nhỏ hay khoe với mọi người về ñứa con của mình với niềm tự hào và sung sướng
(1) Trường hợp gia ñình của người mẹ không có con trai và ông bà ngoại yêu cầu cha, mẹ thỏa thuận cho con trai mang họ mẹ ñể có người kế tục dòng họ ngoại Sự thoả thuận này có thể trái với các nguyên tắc ñược thừa nhận trong tập tục của vùng nhưng thường phù hợp với ngoại lệ của nguyên tắc nên cũng ñược thừa nhận trong tập tục của vùng ñó
(2) Miền Bắc thường gọi là bố, mẹ, miền Nam thường gọi là ba, mẹ, một số nơi ở Cà Mau gọi là cha, mẹ
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñộ cư xử giữa các ñương sự với nhau là bằng chứng quan trọng và có giá trị thuyết phục Người thứ ba nhìn vào thái ñộ cư xử của các ñương sự với nhau, họ sẽ dễ dàng nhận ra mối quan hệ cha, mẹ - con giữa các ñương sự Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lối sống phong kiến nên thái ñộ cư xử này ñôi khi lại không bộc lộ rõ nét trong mối quan hệ của cha, mẹ ñối với con gái ở trong gia ñình còn mang nặng tư
tưởng “trọng nam, khinh nữ” ðứa con trai sẽ ñược cha, mẹ yêu thương, lo lắng,
chăm sóc, trong khi ñứa con gái lại bị cha, mẹ hắt hủi, ghẻ lạnh, ít ñược quan tâm Trong trường hợp ñó thì thái ñộ cư xử giữa cha, mẹ, con ít ñược người thứ ba nhận biết rõ ràng và chính xác Vì vậy, bên cạnh danh xưng, thái ñộ cư xử giữa các ñương sự với nhau thì cần có thêm một yếu tố quan trọng góp phần vào việc thiết lập mối quan hệ cha, mẹ - con và ñó chính là sự nhìn nhận của những người xung quanh về mối quan hệ này mà ta thường gọi ñó chính là dư luận xã hội
2.2.3 Dư luận xã hội
Dư luận xã hội chính là sự ñánh giá và công nhận của xã hội ñối với một vấn
ñề nào ñó mà con người quan tâm và muốn biết ñến Thông thường, dư luận chính
là sự ghi nhận của những người xung quanh và sự ghi nhận này thường sẽ có giá trị chứng minh cao trong các vấn ñề nếu có phát sinh tranh chấp Vì vậy, quan hệ cha,
mẹ, con cũng sẽ có giá trị nếu quan hệ này ñược thừa nhận bởi gia ñình và xã hội hay bởi bất kỳ người thứ ba nào cũng như quyền lực công cộng, như việc ông bà gọi cha, mẹ ñến ñể góp ý về cách quản lý và giáo dục con; nhà trường hay thầy cô giáo mời cha, mẹ ñến ñể họp bàn về việc học của con; Tòa án gọi cha, mẹ ñến ñể tham gia vào vụ án hủy hoại tài sản của người khác mà con chưa thành niên là thủ phạm Trong tất cả các trường hợp ñó, người thứ ba cũng như quyền lực công cộng thừa nhận quan hệ cha, mẹ - con dựa trên cơ sở ghi nhận sự hội tụ những yếu tố xã hội học ñặc trưng của quan hệ ấy Người thứ ba cũng như quyền lực công cộng trong các trường hợp này không bao giờ yêu cầu cha, mẹ xuất trình bằng chứng khác (giấy khai sinh, hộ khẩu) ñể chứng minh về quan hệ cha, mẹ - con
Thực ra thì mối quan hệ cha, mẹ - con có thể ñược khẳng ñịnh khi giữa các ñương sự có thái ñộ cư xử làm cho người thứ ba cảm nhận rằng giữa các ñương sự
có mối quan hệ huyết thống với nhau Vì vậy, ñôi khi dư luận xã hội không tỏ ra quan trọng cần thiết trong việc chứng minh mối quan hệ này Bởi vì, hiện nay do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, lối sống ñô thị ñã làm cho người ta tất bật lo toan cho cuộc sống hàng ngày nên nhiều khi những vấn ñề xung quanh người ta ít
ñể ý ñến và ñôi khi không cần có sự thừa nhận của những người xung quanh thì mối quan hệ cha, mẹ - con vẫn ñược xác lập trên thực tế như một quy luật tự nhiên ñó là cha, mẹ sinh ra con và con chính là con của người ñã sinh ra mình Tuy nhiên, ñể
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mối quan hệ cha, mẹ - con có giá trị chứng minh cao trong thực tế cũng như trong các giao dịch mang tắnh pháp lý thì mối quan hệ ựó cần ựược sự thừa nhận của dư luận xã hội cũng như danh xưng và thái ựộ cư xử giữa các ựương sự
Thực ra thì yếu tố xã hội học của mối quan hệ cha, mẹ - con có thành phần cấu tạo rất phức tạp chứ không chỉ gồm ba yếu tố nhỏ như trên Trao ựổi thư từ, hay gọi ựiện thăm hỏi, giữ gìn những kỷ vật, hình ảnh cũng có thể ựược coi là những biểu hiện của yếu tố xã hội học Hơn nữa, sự hội tụ của tất cả các yếu tố nhỏ ấy không phải là ựiều kiện bắt buộc cho sự thành lập hoàn chỉnh yếu tố xã hội học Nói chung, có thể thừa nhận rằng gọi là yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con một khi có ựủ các dấu hiệu cho người thứ ba thấy sự hiện diện của mối quan hệ ựó như
là một thành phần của tổng hoà các mối quan hệ của gia ựình mà các ựương sự là thành viên
Vì vậy, yếu tố xã hội học muốn chứng minh giá trị thuyết phục trong việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ - con thì yếu tố này phải ựược ghi nhận một cách rõ nét và liên tục trong một thời gian Sự liên tục này có thể bắt ựầu từ lúc con ựược sinh ra hay từ lúc cha, mẹ, con gặp lại nhau sau thời gian thất lạc đó là một cách sống nhất quán và ựược ghi nhận như một phần tiểu sử của một con người xem xét
ở góc ựộ gia ựình Tuy nhiên, sự liên tục của yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ
- con không nhất thiết phải là sự liên tục theo nghĩa ựen như hàng ngày, hàng giờ, thậm chắ là hàng giây những người ựược gọi là cha - con, mẹ - con phải biểu lộ mối quan hệ của họ trước người thứ ba Thông thường, những người cư xử với nhau như cha - con, mẹ - con thường sống chung với nhau trong một mái nhà, nhất là chừng nào người ựược gọi là con chưa ựến tuổi thành niên, nhưng ựó không là ựiều kiện bắt buộc cho sự hình thành và duy trì quan hệ cha, mẹ - con về mặt xã hội Trong nhiều trường hợp, sự quan tâm của người cha và thái ựộ tắch cực của người con trong sự tiếp nhận sự quan tâm ựó, ựược bộc lộ ở một thời ựiểm nhất ựịnh cũng ựủ
ựể nuôi dưỡng mối quan hệ giữa hai người và khiến cho mối quan hệ xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con ựược ghi nhận (1)
Trong thực tế xã hội có trường hợp một người cư xử với một người khác như con và cha trong một thời gian, sau ựó lại cư xử với một người khác nữa cũng như con và cha Ta nói rằng, khi ựó có sự thay thế một quan hệ cha - con bằng một quan
hệ cha - con khác bằng một phương diện xã hội học Giả sử như hai người ựược cư
xử như cha không thừa nhận nhau thì sẽ có một vụ tranh chấp liên quan ựến người con Nhưng, nếu không ai bày tỏ thái ựộ gì với nhau, nghĩa là không có tranh chấp thì dưới mắt người thứ ba quan hệ cha - con nào ựáng tin cậy hơn? Tất nhiên, người
(1) Khi cha mẹ sống riêng hoặc ly hôn và con sống chung với người mẹ, người cha thường ựến thăm hỏi, viết thư hoặc gửi quà cho con
Trang 38Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thứ ba không thể hỏi một cách suồng sã rằng cuối cùng ai mới thật sự là cha và cũng không có quyền xúi giục, kích ñộng các bên tranh chấp với nhau về quan hệ cha - con, mà người thứ ba phải biết ñánh giá mối quan hệ cha - con thật sự khi dựa vào những gì mình thấy, biết và tin tưởng Thường trường hợp này ít xảy ra ñối với quan hệ mẹ - con mà chỉ xảy ra ñối với mối quan hệ cha - con (1) Suy cho cùng, thì mỗi người chỉ có một người cha ruột và một người mẹ ruột Vì vậy, nếu một người
cư xử cùng một lúc với hai người ñều như cha thì có lẽ thực ra không ai là cha của người này cả Nếu một người cư xử với một người khác như cha, sau ñó chấm dứt quan hệ với người này và lại cư xử với một người khác nữa như cha thì có lẽ quan
hệ sau ñáng tin cậy hơn quan hệ trước, nhưng không có quan hệ nào chắc chắn cho ñến khi ñược củng cố bằng các bằng chứng khác Nói cách khác, một khi yếu tố xã hội học của quan hệ cha, mẹ - con ñược ghi nhận trong quan hệ giữa một người với nhiều người có cùng giới tính với nhau thì yếu tố xã hội học sẽ trở nên mập mờ và khó có thể ñược sử dụng ñể chứng minh quan hệ cha, mẹ - con
họ theo ñúng tập tục, ñược sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, ñược cha, mẹ ñối xử theo ñúng các tiêu chí xử sự ñặc trưng của mối quan hệ cha, mẹ - con ruột và mối quan
hệ ấy ñược gia ñình và xã hội ghi nhận và tôn trọng thì ta có thể tin rằng bằng chứng về quan hệ cha, mẹ - con ruột là hoàn hảo và tư cách cha, mẹ, con của các ñương sự không thể bị tranh cãi, trừ trường hợp có ai ñó chứng minh ñược rằng ñã
có việc ñánh tráo trẻ lúc mới sinh ra hoặc có bằng chứng về quan hệ cha, mẹ - con cũng ñược thiết lập và ñáng tin cậy khi dựa trên các ghi chép trên giấy khai sinh cho thấy người ñược sinh ra là con chung của vợ chồng dù ñược sinh ra trước thời ñiểm kết hôn và giữa các ñương sự có biểu hiện của yếu tố xã hội học của quan hệ cha,
mẹ - con
Ngoài ra thì ngoài giấy khai sinh và yếu tố xã hội học dùng làm công cụ chứng minh mối quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú thì ngày nay, ñể xác ñịnh mối quan hệ huyết thống người ta hoàn toàn có thể tiến hành bằng các phương pháp sinh
lý hoá ñể xác ñịnh máu, giám ñịnh gen Và với tiến bộ của y học hiện ñại thì việc xác ñịnh mối quan hệ cha - con dựa vào phương pháp khoa học này gần như chính xác tuyệt ñối Nếu yếu tố xã hội học và yếu tố sinh học (giám ñịnh gen hoặc xét nghiệm máu) phù hợp với nhau thì sự thật sinh học có ñộ bền vững cao hơn Nếu yếu tố sinh học và yếu tố xã hội học mâu thuẫn với nhau thì việc xác ñịnh mối quan
hệ cha, mẹ - con tuỳ thuộc vào mức ñộ ñáng tin cậy của yếu tố sinh học Trong trường hợp yếu tố sinh học tỏ ra bấp bênh, mập mờ thì yếu tố xã hội học trở thành
Trang 39Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chỗ dựa của sự thật sinh học; ngược lại, khi yếu tố sinh học ñủ mạnh thì yếu tố xã hội học mâu thuẫn với yếu tố sinh học sẽ bị loại bỏ Tính chất mạnh hay yếu của yếu tố sinh học lại lệ thuộc vào sự ñánh giá theo lương tâm, kinh nghiệm của Thẩm phán
Tuy nhiên, trong trường hợp yếu tố sinh học ñược dựng lại bằng con ñường xét nghiệm thì kết quả xét nghiệm có thể nói ñược gì? Cách nay vài chục năm các xét nghiệm y học thường chỉ cho kết quả phủ ñịnh mà không cho ñược kết quả khẳng ñịnh: hai người có nhóm máu khác nhau thì chắc chắn không thể nào có quan
hệ cha, mẹ - con; nhưng hai người có nhóm máu giống nhau thì chưa hẳn là có mối quan hệ ñó Những tiến bộ của y học ñược ghi nhận trong mười năm trở lại ñây ñã cho phép những người thực hành luật ở các nước công nghiệp phát triển có thể dựa vào các kết quả khẳng ñịnh rất thuyết phục của các xét nghiệm máu ñể xác ñịnh quan hệ cha, mẹ - con về mặt pháp lý ðặc biệt, việc xác ñịnh các yếu tố di truyền ñược thực hiện trong thời gian gần ñây ở các nước phát triển có thể ñặt cơ sở cho việc xác ñịnh quan hệ cha, mẹ - con với ñộ chính xác gần như tuyệt ñối Tuy nhiên, cho ñến nay, chúng ta chưa thấy một quốc gia nào thiết lập quy tắc pháp lý của việc xác ñịnh cha, mẹ, con hoàn toàn dựa vào kết quả xét nghiệm Bởi vì: không phải ai cũng có ñủ khả năng tài chính ñể trang trải chi phí của các xét nghiệm ñắt tiền; sự thật về quan hệ cha, mẹ - con với tính chất của sự thật liên quan ñến thực thể xã hội nên không chỉ ñược mổ xẻ ở góc ñộ sinh học mà phải cả ở góc ñộ xã hội học Vả lại, chỉ có các nhà khoa học nói rằng các kết quả xét nghiệm khoa học có ñộ chính xác gần như tuyệt ñối; dư luận xã hội về phần mình vẫn bị phân hoá thành nhiều luồng ý kiến trái ngược và ý kiến nghi ngại về tính xác thực của các xét nghiệm khoa học hiện vẫn ñang phổ biến hơn và công tác xét nghiệm, giám ñịnh gen cũng gặp phải những vấn ñề khó khăn nhất ñịnh Tại ðiều 63 và ðiều 64 Luật hôn nhân
và gia ñình năm 2000 và ñiểm 5b Nghị quyết số 02/2000/NQ-HðTP của Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 cũng chỉ quy ñịnh trong trường hợp cần thiết thì tiến hành giám ñịnh gen nhưng không khẳng ñịnh chính thức việc dựa hoàn toàn vào kết quả xét nghiệm ñể xác ñịnh mối quan hệ cha, mẹ - con
Nhìn chung, việc xác ñịnh quan hệ cha, mẹ - con nhất là quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú cần phải dựa trên sự ñánh giá toàn diện các yếu tố về sinh học, yếu
tố xã hội học, yếu tố khoa học về mặt pháp lý nhằm bảo ñảm tính chính xác và hợp tình, hợp lý Một cách tổng quát rằng, bằng chứng về quan hệ cha, mẹ - con như là quan hệ pháp lý sẽ cứ ở mãi trong tình trạng chờ ñợi một giải pháp hoàn hảo, chừng nào con còn ñược sinh ra bằng con ñường tự nhiên nghĩa là do kết quả của sự phối hợp xác thịt giữa một người ñàn ông và một người ñàn bà
Trang 40Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tuy nhiên, theo nghiên cứu các quy định của pháp luật, mặc dù chưa cĩ văn bản nào quy định chính thức giá trị pháp lý của giấy khai sinh đối với việc chứng minh quan hệ cha, mẹ - con kể cả trong Nghị định số 158/2005/Nð-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Nhưng, trong quan hệ giao dịch xã hội và trong thực tiễn xét xử, giấy khai sinh được đánh giá là chứng cứ quan trọng về quan hệ cha, mẹ - con ruột Ngay cả trong trường hợp những người được khai là cha, mẹ của đứa trẻ khơng cĩ đăng ký kết hơn hoặc hơn nhân của người cha, người mẹ là hơn nhân trái pháp luật thì tư cách cha, mẹ cũng cĩ thể được chứng minh bằng cách dựa vào các chi tiết ghi nhận trên giấy khai sinh ðiều này khơng chỉ liên quan đến quyền nhân thân mà cịn là cơ sở để xác lập các quyền tài sản mà đặc biệt là quyền hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự Vì vậy, pháp luật nên chính thức thừa nhận giá trị chứng minh của giấy khai sinh trong việc suy đốn mối quan hệ cha, mẹ - con trong giá thú, đĩ là giấy này sẽ cĩ tác dụng suy đốn mối quan hệ cha, mẹ - con cho đến khi cĩ bằng chứng khác thuyết phục hơn như giám định gen hoặc xét nghiệm máu hay do chính sự thừa nhận của các đương
sự trong mối quan hệ này
3 Các trường hợp suy đốn con trong giá thú
3.1 Con sinh ra trong thời kỳ hơn nhân
Thời kỳ hơn nhân được hiểu là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, được tính từ khi kết hơn cho đến khi hơn nhân chấm dứt do ly hơn (tính từ khi cĩ quyết định ly hơn của Tịa án cĩ thẩm quyền), hoặc một trong hai vợ chồng bị chết,
bị tuyên bố mất tích hay tuyên bố chết (chết về mặt pháp lý) “Thời kỳ hơn nhân là
khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hơn đến hết
đẻ, thì con được thụ thai và sinh ra trong thời kỳ này mặc nhiên được suy đốn là
con chung của vợ chồng và gọi là con trong giá thú
Theo khoản 1 ðiều 63 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 thì “Con sinh ra
trong thời kỳ hơn nhân hoặc do người vợ cĩ thai trong thời kỳ đĩ là con chung của
hơn nhân hợp pháp được gọi là con trong giá thú Nếu vì một lý do nào đĩ mà cha hoặc mẹ khơng cơng nhận mối quan hệ này thì phải cĩ chứng cứ và phải được Tịa
án xác định Thơng thường, một đứa trẻ khi sinh ra thì quan hệ mẹ - con mặc nhiên được xác định qua sự kiện sinh đẻ, cịn quan hệ cha - con được xác lập thơng qua sự kiện thụ thai của đứa trẻ Như vậy, một căn cứ quan trọng để xác định mối quan hệ cha - con chính là thời điểm người mẹ thụ thai đứa trẻ Trên thực tế, việc xác định chính xác ngày thụ thai của đứa trẻ là rất khĩ khăn Tuy nhiên, cĩ thể thơng qua thời
(1) Khoản 7 ðiều 8 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000