Trên cơ sở khái niệm về quản lý nhà nước nói chung được đề cập trên đây, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học đã đưa ra khái niệm về quản lý đất đai và quản lý nhà nước đối với đất đai
Trang 1o0o
Đề tài:
VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009-2013
Giảng viên hướng dẫn:
TS PHAN TRUNG HIỀN
Trưởng Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
LÊ THỊ THU HƯỜNG
MSSV: 5095614 Lớp: Luật Tư pháp 2 Khóa 35
Cần Thơ, tháng 11/2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Người viết xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của người viết, có
sự hỗ trợ từ Giảng viên hướng dẫn là TS Phan Trung Hiền Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính người viết thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong danh mục tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào người viết xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Cần Thơ, ngày 29 tháng 12 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thu Hường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy, các Cô Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền dạy cho người viết nguồn kiến thức sâu rộng góp phần hoàn thành luận văn này Và hơn hết, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Phan Trung Hiền, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên người viết trong suốt quá trình làm luận văn Chân thành cảm ơn các tác giả của những bài viết, sách, báo, tạp chí chuyên luận mà người viết đã sử dụng làm tài liệu trong quá trình nghiên cứu
Do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu đề tài có giới hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Nhưng với sự cố gắng và tinh thần nỗ lực phấn đấu, người viết hoàn thành luận văn với hi vọng góp phần tích cực cho thực tiễn áp dụng pháp luật Người viết mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các Thầy, các Cô và các bạn để người viết hoàn thành đề tài hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Cần Thơ, ngày……tháng…….năm 2012
Giảng viên hướng dẫn Giảng viên phản biện
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, đối tượng nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 VI PHẠM CỦA CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 4
1.1 Những vấn đề lý luận chung về vi phạm pháp luật đất đai 4
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật 4
1.1.2 Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai 4
1.2 Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 5
1.2.1 Khái quát chung về quản lý nhà nước về đất đai 5
1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai 5
1.2.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai 6
1.2.1.3 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai 6
1.2.1.4 Chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai 15
1.2.2 Vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về
đất đai… 15
1.2.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai .15
1.2.2.2 Cấu thành của vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai .16
1.3 Các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 18
1.3.1 Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc giới địa giới hành chính 18
1.3.2 Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 21
1.3.3 Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 22
1.3.4 Vi phạm quy định về thu hồi đất 25
1.3.5 Vi phạm quy định về trưng dụng đất 27
1.3.6 Vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý 28
1.3.7 Vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất 29
Trang 6CHƯƠNG 2 XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 31
2.1 Khái quát chung về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 31
2.1.1 Khái niệm xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 31
2.1.2 Đặc điểm của xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 32
2.1.3 Nguyên tắc xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 33
2.1.4 Đối tượng bị xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai 34
2.2 Các hình thức trách nhiệm pháp lý trong xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 35
2.2.1 Trách nhiệm kỷ luật 36
2.2.1.1 Đối tượng bị xử lý kỷ luật 36
2.2.1.2 Nguyên tắc xử lý kỷ luật 36
2.2.1.3 Hình thức kỷ luật 36
2.2.1.4 Thẩm quyền xử lý kỷ luật 41
2.2.1.5 Trình tự xử lý kỷ luật 43
2.2.2 Trách nhiệm vật chất 43
2.2.2.1 Đối tượng chịu trách nhiệm vật chất 43
2.2.2.2 Nguyên tắc xử lý trách nhiệm vật chất 43
2.2.2.3 Trình tự bồi thường, hoàn trả trong trách nhiệm vật chất 44
2.2.3 Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 45
2.2.3.1 Chủ thể gây thiệt hại 45
2.2.3.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường 45
2.2.3.3 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường 47
2.2.3.4 Nguyên tắc giải quyết bồi thường 47
2.2.4 Trách nhiệm hình sự 47
2.2.4.1 Đối tượng chịu trách nhiệm hình sự 48
2.2.4.2 Thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hình sự 48
2.2.4.3 Khung hình phạt được áp dụng 48
2.2.5 Xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 48
Trang 7CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI .53 3.1 Thực trạng chung 53 3.2 Các vi phạm điển hình 55
3.2.1 Vi phạm các quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 55 3.2.2 Vi phạm các quy định của pháp luật trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 60 3.2.3 Vi phạm các quy định của pháp luật về nội dung, trình tự cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất 65 3.2.4 Vấn đề quy hoạch "treo", dự án "treo" 69
3.3 Nguyên nhân của tình trạng vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai 74 3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai .77
3.4.1 Hoàn thiện những quy định của pháp luật đất đai để hạn chế vi phạm và xử
lý có hiệu quả cao 78 3.4.2 Nâng cao trình độ, phẩm chất của cán bộ quản lý đất đai 78 3.4.3 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, đặc biệt là thanh tra đối với các cơ quản lý đất đai 78 3.4.4 Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ông cha ta có câu “Tấc đất tấc vàng” Lời mở đầu của Luật Đất đai năm 1993
đã xác định vai trò của đất đai: “Đất đai là quà tặng vô cùng quý giá của thiên nhiên dành cho con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng” Đối với một quốc gia, đất đai là dấu hiệu
quan trọng để xác định sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, toàn vẹn chủ quyền quốc gia
“Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Đất đai là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người, là điều kiện vật chất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất cho các thế hệ kế tiếp nhau của loài người
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa, thực hiện theo cơ chế thị trường, nhất là từ khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, đất đai được coi là hàng hoá đặc biệt, thì số lượng các vụ vi phạm liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai ngày càng tăng, ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình ổn định kinh tế, xã hội cũng như đời sống của mỗi người dân Trước tình hình đó hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai cũng không ngừng được hoàn thiện
Trong những năm qua, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước công tác quản lý nhà nước về đất đai đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào sự ổn định chung của toàn xã hội, phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống của người dân
Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, quản lý nhà nước về đất đai thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề bất hợp lý, gây nhiều phản ứng gay gắt trong nhân dân và là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo Hiện tượng vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay còn khá phổ biến,
số vụ vi phạm trong quản lý đất đai có chiều hướng ngày càng tăng nhất là tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức của người quản lý là tương đối nghiêm trọng, tình trạng giao đất, cho thuê trái thẩm quyền, giao đất không đúng đối tượng ngày càng nhiều…
Vừa qua, hàng loạt các vụ án lớn liên quan đến quản lý đất đai như: vụ cưỡng chế thu hồi đất ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), vụ án vi phạm các quy định về sử dụng đất đai tại Thành phố Long Xuyên (An Giang), vụ tham nhũng đất đai ở huyện Hoóc Môn, huyện Gò Vấp (Thành phố Hồ Chí Minh), vụ án đất đai ở huyện Móng Cái
(Quảng Ninh)…và còn rất nhiều các vụ án liên quan đến quản lý đất đai khác Tuy
mức độ cụ thể của các vụ án liên quan đến vấn đề quản lý đất đai có thể khác nhau, nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng không nơi nào không có hiện tượng tham nhũng về đất đai, không có nơi nào không có những người có chức, có quyền thực hiện sai nhiệm vụ, chức năng của mình… Để xảy ra những tiêu cực trên, một phần là
do chính sách pháp luật về đất đai ở nước ta còn thiếu đồng bộ, thiếu cụ thể và có nhiều kẽ hở, đất đai có giá trị đặc biệt nhưng việc thi hành pháp luật về đất đai không
Trang 9nghiêm, quản lý còn lỏng lẻo… Điều đó đã gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích hợp pháp của người dân, làm giảm uy tín của cơ quan quản lý nhà nước.Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc các quy định của pháp luật về các hành vi vi phạm và công tác xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn để tìm ra những nguyên nhân và giải pháp cho tình trạng vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý đất đai, nhằm nâng cao hiệu quả của việc xử lý vi phạm đối với các chủ thể này, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tránh để xảy ra những sai lầm, thiếu sót và làm phong phú thêm lý luận về pháp luật đất đai
Xuất phát từ những lý do trên, người viết nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai” trong bối cảnh hiện nay là hợp lý và cần thiết Nghiên cứu đề tài này cũng là cơ
hội để người viết tìm hiểu sâu hơn về thực trạng quản lý đất đai ở nước ta, tình hình vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý đất đai và thực trạng áp dụng pháp luật trong việc xử lý các hành vi vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai Qua đề tài này, người viết cũng hy vọng sẽ đóng góp được một số giải pháp để hạn chế phần nào những vi phạm và tháo gỡ những vướng mắc trong việc xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản
lý trong quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay
2 Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn đề
lý luận, thực tiễn về vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế những hành vi vi phạm, nâng cao năng lực, hiệu quả của công tác xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai
Để đạt được mục đích trên, luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
- Nghiên cứu thực trạng vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến vi phạm và tình trạng xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai chưa triệt để và nghiêm minh
- Qua các vấn đề nghiên cứu trên, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm ngăn ngừa và xử lý vi phạm nghiêm minh, triệt để đối với các hành vi vi phạm của người quản lý đất đai, góp phần xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung vào hai vấn đề lớn: vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai và xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất, người viết vận dụng những phương pháp để phục vụ việc nghiên cứu của mình như phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp sưu tầm số liệu thực tế và phương pháp tổng hợp thông tin qua các bài viết, các công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành trên nền tảng phương pháp luận theo quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin
5 Bố cục của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, luận văn được chia làm ba chương với các nội
dung chính:
Chương 1: Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Ở chương này, người viết đã có sự mô tả tổng quát những vấn đề lý luận chung
về vi phạm pháp luật đất đai, về vi phạm pháp luật của các chủ thể quản lý trong quản
lý nhà nước về đất đai Sau khi có cái nhìn toàn diện về vấn đề này, nội dung chủ yếu còn lại của chương là nghiên cứu về các hành vi vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật Nhận thức được điều này giúp người viết có một cái nhìn tổng thể về hành vi vi phạm của người quản lý đất đai,
để từ đó xác định được các hình thức xử lý vi phạm đối với từng hành vi cụ thể
Chương 2: Xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Ở chương này, người viết đã có một cái nhìn khái quát chung về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai Tiếp đó, đề tài hướng đến việc phân tích các hình thức trách nhiệm pháp lý được áp dụng khi xảy ra hành vi
vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai và xử lý vi phạm đối với một số hành vi vi phạm cụ thể
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Ở chương này, người viết làm rõ thực trạng vi phạm của các chủ thể quản lý đất đai thông qua việc phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh và thực tiễn áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai Từ đó, người viết nêu một số nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế vi phạm và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1
VI PHẠM CỦA CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1.1 Những vấn đề lý luận chung về vi phạm pháp luật đất đai
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật
Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của khoa Luật trường Đại
học Quốc gia Hà Nội năm 2001 định nghĩa về “vi phạm” như sau: “vi phạm là một loại sự kiện pháp lý đặc biệt, đó là hành vi do các chủ thể pháp luật thực hiện trái với các yêu cầu của quy phạm pháp luật được pháp luật bảo vệ” Hành vi vi phạm pháp
luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi và do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Vậy, muốn xác định hành vi
vi phạm pháp luật phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản sau:
Thứ nhất, phải là hành vi trái luật Hành vi đó có thể là hành động hoặc không
hành động nhưng đi ngược lại với những điều mà pháp luật quy định, gây phương hại hoặc chứa đựng nguy cơ gây phương hại cho xã hội
Thứ hai, phải xâm hại đến các quan hệ mà pháp luật bảo vệ, tức là mang tính
nguy hiểm cho xã hội Các quan hệ này được quy định trong pháp luật
Thứ ba, có lỗi của chủ thể, có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý Đây là yếu tố thể hiện
mức độ ý thức của con người đối với hành vi của mình
Thứ tư, chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, nghĩa là phải được thực hiện
bởi con người với tư cách cá nhân hay với tập thể (tổ chức); những người này phải đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi
Như vậy, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
1.1.2 Khái niệm vi phạm pháp luật đất đai
Để giữ vững, duy trì sự hoạt động của bộ máy chính quyền, bảo đảm sự phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội…thì bất kỳ Nhà nước nào cũng đều sử dụng pháp luật như là một công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo cho các quan hệ xã hội vận hành trong một trật tự ổn định Các quan hệ pháp luật đất đai cũng không nằm ngoài quy luật đó Để duy trì trật tự quản lý đất đai, đảm bảo đất đai được sử dụng, khai thác có hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể thực hiện quan hệ pháp luật, bảo đảm trật tự pháp chế trong lĩnh vực đất đai được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh, Nhà nước đề ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh những hành vi xử sự của các chủ thể trong từng mối quan hệ đất đai cụ thể, buộc các chủ thể phải tuân theo những khuôn mẫu, những quy tắc cụ thể, nghĩa là phải tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật dưới hình thức xác lập quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, không phải lợi ích cá nhân và lợi ích của Nhà nước, xã hội lúc nào cũng luôn luôn đồng nhất Trong một số trường hợp,
vì lợi ích cá nhân mà một số chủ thể đã không tuân thủ thậm chí còn làm trái quy định của pháp luật đất đai, đó chính là hiện tượng vi phạm pháp luật đất đai
Các quan hệ pháp luật đất đai rất đa dạng về chủ thể, mục đích, về phương thức thực hiện Đó có thể là mối quan hệ giữa Nhà nước mà đại diện là các cơ quan quản lý đất đai với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất… Đó cũng có thể là mối quan hệ giữa những
Trang 12chủ thể sử dụng đất với nhau trong các giao dịch dân sự về đất đai Trong quá trình thực hiện các mối quan hệ về đất đai, các chủ thể đã không thực hiện, thực hiện không đúng các quy định của pháp luật đất đai hoặc thực hiện những điều pháp luật đất đai cấm, đó chính là các vi phạm pháp luật đất đai
Như vậy, vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm tới quyền lợi của Nhà nước, với vai trò là đại diện của chủ sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, cũng như các quy định về chế độ sử dụng các loại đất
1.2 Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
1.2.1 Khái quát chung về quản lý nhà nước về đất đai
1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Theo Từ điển Luật học: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi;
Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của
cả Bộ máy Nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính
do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước” 1
Trên cơ sở khái niệm về quản lý nhà nước nói chung được đề cập trên đây, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học đã đưa ra khái niệm về quản lý đất đai và quản lý nhà nước đối với đất đai cụ thể như sau:
-“Quản lý đất đai là hoạt động bao gồm việc thiết lập các cơ chế, các chính sách và các công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và việc vận hành cơ chế đó nhằm quản lý và sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao.”
-“Quản lý nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai”2
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện những văn bản đó;
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất;
- Lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao
động, Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 1999, tr.54
Trang 13- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Thống kê, kiểm kê đất đai;
- Quản lý tài chính về đất đai;
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
lý vi phạm về đất đai;
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai3
1.2.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hình thức quản lý nhà nước về đất đai xuất hiện và gắn liền với sự ra
đời của Nhà nước, trước hết nhằm bảo vệ những lợi ích của Nhà nước, của giai cấp thống trị trong lĩnh vực đất đai Nếu Nhà nước đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân thì mục đích của quản lý nhà nước đối với đất đai chính là bảo vệ lợi ích của người dân liên quan đến đất đai
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất đai do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy
các cơ quan nhà nước dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước Trong quá trình quản lý đất đai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai buộc các đối tượng chịu sự quản lý là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phải tuân theo
Thứ ba, phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai là lãnh thổ của từng
cấp đơn vị hành chính và toàn bộ vốn đất đai nằm trong đường biên giới quốc gia
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về đất đai mang tính vĩ mô thể hiện ở việc
xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách về quản lý và sử dụng đất chứ không hướng vào các hoạt động sử dụng đất mang tính tác nghiệp cụ thể
1.2.1.3 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 1992, quản lý nhà nước là chức năng của hệ thống cơ quan hành chính, cao nhất là Chính phủ, dưới đó là Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, huyện và xã4 Chức năng quản lý của hệ thống các cơ này bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, từng đơn vị hành chính cơ sở, lẽ dĩ nhiên, đất đai cũng là một trong những đối tượng chịu sự quản lý Hệ thống cơ quan này được Nhà nước thành lập và bằng pháp luật, Nhà nước quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong cả nước theo quy hoạch, kế hoạch chung Khi nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm
Trang 14vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và dựa trên khái niệm
về “hệ thống” dưới góc độ ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu về hệ thống cơ quan quản
lý nhà nước về đất đai như sau: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai là hệ thống cơ quan do Nhà nước thành lập thống nhất từ Trung ương tới địa phương có cơ cấu, tổ chức chặt chẽ và có mối quan hệ mật thiết với nhau thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương theo quy hoạch, kế hoạch chung
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai ở nước ta bao gồm: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền chung gồm Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện,
Ủy ban nhân dân cấp xã; Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền riêng gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn Bên cạnh đó còn có sự tham gia của hệ thống cơ quan quyền lực vào hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với vai trò đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát
Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước
Trong phần này, người viết đề cập đến hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước là bởi vì xuất phát từ tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, Luật Đất đai năm 2003 cùng với việc quy định hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cũng đã xác định vai trò của cơ quan đại diện cho nhân dân là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp không làm thay chức năng quản lý nhà nước về đất đai mà tham gia hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với tư cách giám sát Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong lĩnh vực quản lý đất đai được thực hiện thông qua việc Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước5; Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương6
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với đất đai
Với chức năng quản lý nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (trong đó
có lĩnh vực quản lý đất đai), Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai Theo đó:
- Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng,
an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước7;
- Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật Đất đai8
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai
Trang 15Ngày 05 tháng 8 năm 2002, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 quy định danh sách các Bộ và Cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập trên cơ sở hợp nhất và tổ chức lại các đơn vị sau: Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Cục Môi trường (thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện Địa chất và Khoáng sản (thuộc Bộ Công nghiệp), Bộ phận Quản lý tài nguyên nước thuộc Cục Quản lý tài nguyên nước và Công trình thuỷ lợi (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Như vậy, từ năm 2002 đến nay, sau khi Quốc hội quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường thì ngành quản lý đất đai của nước ta nằm trong Bộ Tài nguyên
và Môi trường
Các cơ quan thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường được tổ chức theo nguyên
tắc “song trùng trực thuộc” và hoạt động theo chế độ Thủ trưởng Người đứng đầu cơ
quan chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan hành chính Nhà nước cùng cấp và cơ quan quản lý đất đai cấp trên trực tiếp9
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được thành lập thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo bốn cấp đơn vị hành chính sau đây:
o Cấp Trung ương
Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở Trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường, đây là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng, thuỷ văn; đo đạc, bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ10
Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và môi trường trong lĩnh vực quản
lý đất đai:
Ngoài những nhiệm vụ chung quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày
18 tháng 05 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, Cơ quan ngang Bộ11, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2 Nghị định số 25/2008/NĐ-
CP ngày 04 tháng 03 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
9
Nguyên tắc “song trùng trực thuộc”, có nghĩa là cơ quan Tài nguyên và Môi trường vừa trực thuộc
theo chiều ngang – chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp; đồng thời thực hiện theo chiều dọc – chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp trên Chế độ Thủ trưởng được thể hiện thông qua việc Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm và báo cáo trước Chính Phủ Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Tài nguyên và Môi trường Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường Cán bộ địa chính xã chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban nhân dân cấp xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường
10
Điều 1 Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04-03-2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường
11
Trước đây là Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03-12-2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ
Trang 16hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực đất đai như sau:
- Chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các chiến lược, chương trình quốc gia,
kế hoạch dài hạn về quản lý, sử dụng đất đai sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
- Chủ trì lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các vùng và cả nước; thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện sau khi được phê duyệt;
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành, điều chỉnh khung giá các loại đất; hướng dẫn phương pháp xác định giá đất và kiểm tra việc xác định giá đất; hướng dẫn giải quyết các trường hợp vướng mắc về xác định giá đất; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện điều tra, tổng hợp và cung cấp các dữ liệu thông tin về giá đất;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; việc đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất; việc lập và quản lý hồ sơ địa chính; việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất; việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai, đánh giá đất; quản lý thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các điều kiện, thủ tục về hoạt động dịch
vụ công trong quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật; hướng dẫn hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;
- Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn
xử lý những vướng mắc về giá đất, giá tài sản gắn liền với đất và chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hướng dẫn việc xác định người sử dụng đất thuộc đối tượng được bồi thường, được hỗ trợ hoặc không được bồi thường, không được hỗ trợ làm cơ sở cho việc tính bồi thường, hỗ trợ; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất cho người tái định cư; quy định và hướng dẫn về quản lý đất đai trong khu tái định cư;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các cơ chế, chính sách tài chính về đất đai trong việc thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất, phát triển quỹ đất theo quy hoạch; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thu hồi đất, phát triển quỹ đất, đấu thầu quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Phát hành và quản lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất;
Trang 17- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật
o Cấp tỉnh
Để hoàn thiện bộ máy quản lý đất đai ở các địa phương cho phù hợp với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường ở Trung ương, ngày 02 tháng 04 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 45/2003/QĐ-TTg về việc thành lập
Sở Tài nguyên và Môi trường, đổi tên Sở Khoa học công nghệ và Môi trường thành Sở Khoa học và Công nghệ thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Tại Điều 1 Quyết định này nêu rõ: “Thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trên cơ sở hợp nhất tổ chức của
Sở Địa chính (hoặc Sở Địa chính - Nhà đất) và các tổ chức thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường” Theo đó, ngày 15 tháng 7 năm 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ
Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương (TTLT số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV)
Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn,
đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh theo quy đinh của pháp luật
Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực quản
- Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ ở địa phương; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện;
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, quy hoạch, kế hoạch sau khi được xét duyệt; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ trên địa phương mình;
- Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện;
- Tổ chức thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và kiểm tra việc thực hiện;
Trang 18-Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
-Tổ chức thực hiện việc điều tra khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai, lập, quản lý, chỉnh lý hồ sơ địa chính; thống kê, kiểm kê đất đai; ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật; đăng ký giao dịch đảm bảo quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với các tổ chức;
-Tham gia định giá các loại đất ở địa phương theo khung giá, nguyên tắc, phương pháp định giá các loại đất do Chính phủ quy định;
-Thẩm định và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoặc uỷ quyền cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ cho các tổ chức và cá nhân đăng ký hoạt động đo đạc
và bản đồ ở địa phương;
-Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt kết quả kiểm tra, thẩm định chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, đo đạc và bản đồ chuyên dụng của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
-Tổ chức xây dựng hệ thống điểm đo đạc cơ sở chuyên dụng, thành lập hệ thống bản đồ địa chính, bản đồ chuyên đề phục vụ các mục đích chuyên dụng;
-Theo dõi việc xuất bản phát hành bản đồ và kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước việc đình chỉ phát hành, thu hồi các ấn phẩm bản đổ có sai sót về thể hiện chủ quyền quốc gia, địa giới hành chính, địa danh thuộc địa phương; ấn phẩm bản đồ có sai sót nghiêm trọng về kỹ thuật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý tài nguyên đất, đo đạc
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ về quản lý tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ; tham gia hợp tác quốc tế; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ tư liệu về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Tham gia thẩm định các dự án, công trình có nội dung liên quan đến lĩnh vực tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ;
- Báo cáo định kỳ sáu tháng, một năm và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ
về các lĩnh vực công tác được giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ xã, phường, thị trấn làm công tác quản lý về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Trang 19- Quản lý tài chính, tài sản của Sở theo quy định của pháp luật và phân cấp của
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
o Cấp huyện
Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai cấp huyện là Phòng Tài nguyên và Môi trường, đây là cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có chức năng quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường
Nhiệm vụ và quyền hạn của Phòng Tài nguyên và Môi trường trong lĩnh vực quản lý đất đai:
- Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện các văn bản hướng dẫn việc thực hiện các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước về quản lý tài nguyên đất, đo đạc và bản
đồ Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quy hoạch, kế hoạch về tài nguyên đất; về đo đạc và bản đồ và tổ chức thực hiện sau khi được xét duyệt;
- Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất hàng năm, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tổ chức kiểm tra việc thực hiện sau khi được xét duyệt;
- Thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xét duyệt quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đai xã, phường, thị trấn; kiểm tra việc thực hiện sau khi được xét duyệt;
- Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và tổ chức thực hiện;
- Quản lý và theo dõi sự biến động về đất đai, cập nhật, chỉnh lý các tài liệu về đất đai và bản đồ phù hợp với hiện trạng sử dụng đất theo hướng dẫn của Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Tổ chức thực hiện và hướng dẫn kiểm tra việc thống kê, kiểm kê, đăng ký đất đai; lập và quản lý hồ sơ địa chính; xây dựng hệ thống thông tin đất đai;
- Hướng dẫn và kiểm tra việc sử dụng bảo vệ tài nguyên đất;
- Chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc kiểm tra và thanh tra việc thi hành pháp luật; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thông tin về tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ;
- Báo cáo định kỳ ba tháng, sáu tháng, một năm và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài nguyên và Môi trường;
Trang 20- Quản lý cán bộ, công chức, viên chức; hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn; tham gia với Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý tài nguyên đất, đo đạc và bản đồ và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn
o Cấp xã
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV quy định: Cán bộ địa chính
xã, phường, thị trấn (gọi chung là cán bộ địa chính xã) giúp Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trong phạm vi xã, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ địa chính xã trong lĩnh vực quản lý đất đai:
- Lập văn bản để Ủy ban nhân dân cấp xã trình Ủy ban nhân dân cấp huyện về quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất hàng năm; về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
- Trình Ủy ban nhân dân cấp xã kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt và theo dõi kiểm tra việc thực hiện;
- Thẩm định, xác nhận hồ sơ để Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện việc đăng ký, lập và quản lý hồ sơ địa chính; theo dõi, quản lý biến động đất đai; chỉnh lý hồ sơ địa chính; thống kê, kiểm kê đất đai;
- Tham gia hoà giải, giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai theo quy định của pháp luật; phát hiện các trường hợp vi phạm pháp luật về đấtđai, kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan có thẩm quyền xử lý;
- Tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện pháp luật về bảo vệ đất đai;
- Quản lý dấu mốc đo đạc và mốc địa giới; bảo quản tư liệu về đất đai, đo đạc
và bản đồ
Các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai
Tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai là khái niệm lần đầu tiên được đề cập trong Luật Đất đai năm 2003 Các tổ chức này ra đời nhằm phúc đáp yêu cầu của công cuộc cải cách các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất, góp phần đẩy
nhanh sự hình thành thị trường bất động sản có tổ chức và làm “lành mạnh hóa” các
giao dịch liên quan đến bất động sản Hơn nữa, sự ra đời của tổ chức sự nghiệp công
và tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai đánh dấu sự chuyển đổi nền hành chính
công mang nặng tính chất quan liêu “cai trị, quản lý” sang nền hành chính mang tính chất gần dân, tính chất “dịch vụ, phục vụ”
Khái niệm tổ chức sự nghiệp công được Luật Đất đai năm 2003 định nghĩa như
sau: “Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt
Trang 21động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả” 12 Với quan niệm này thì Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất là cơ quan “có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả”
o Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là đơn vị sự nghiệp công lập, có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý biến động về sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, xây dựng và quản lý hồ sơ địa chính theo quy định của pháp luật13
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của Giám đốc
Sở Tài nguyên và Môi trường và Giám đốc Sở Nội vụ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập theo đề nghị của Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường
và Trưởng phòng Nội vụ Điều này có nghĩa là, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉ được tổ chức trên địa bàn cấp tỉnh và cấp huyện Ở cấp xã sẽ không có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Theo quy định của pháp luật, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất bắt buộc phải được thành lập ở cấp tỉnh14 và có thể có chi nhánh tại các địa bàn cần thiết15 Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất có con dấu riêng, được mở tài khoản theo quy định của pháp luật
Việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ra đời với chức năng, nhiệm vụ
được xác định cụ thể trên đây chính là Nhà nước đã xác lập mô hình “một cửa” thực
hiện cải cách các thủ tục hành chính về đất đai, giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về đất đai giảm áp lực từ nhu cầu thực hiện các thủ tục về đất đai từ phía người dân và xã hội
o Tổ chức phát triển quỹ đất
Tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp có thu hoặc doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng trong trường hợp thu hồi đất sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu vực có quy hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đi nơi khác trước khi Nhà nước quyết định thu hồi đất; quản lý quỹ đất đã thu hồi và tổ chức
Trang 22đấu giá quyền sử dụng đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với diện tích đất được giao quản lý16
Tổ chức phát triển quỹ đất được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có chức năng tổ chức việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và ổn định thị trường bất động sản; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; phát triển các khu tái định cư; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên đất; đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; quản lý quỹ đất đã thu hồi, đã nhận chuyển nhượng, đã tạo lập, phát triển và thực hiện dịch vụ trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng17
Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần hoặc toàn bộ kinh phí hoạt động, có tư cách pháp nhân, có trụ sở và con dấu riêng được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng để hoạt động theo quy định của pháp luật
1.2.1.4 Chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai
Hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai được thực hiện bởi:
- Người đứng đầu tổ chức, thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai
- Người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị được Nhà nước giao để quản lý
1.2.2 Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
1.2.2.1 Khái niệm vi phạm của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Quan hệ pháp luật đất đai là mối quan hệ vô cùng phức tạp và nhạy cảm, biến động từng ngày cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Tham gia mối quan
hệ này gồm có cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất Theo Hiến pháp năm
1992: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Tổ chức cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiệt kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật” 18
Như vậy, cơ quan quản lý đất đai là đại diện của Nhà nước, thay mặt Nhà nước
để đảm bảo quyền sở hữu toàn dân về đất đai, đảm bảo quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật đất đai phát huy vai trò vô cùng quan trọng của đất đai, và tổ chức, cá nhân cũng có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng đất đai hợp lý tuân thủ pháp luật đất đai Tuy nhiên, trong quá trình tham gia mối quan hệ này, trong một số trường hợp
18
Điều 18 Hiến pháp năm 1992
Trang 23vì lợi ích trước mắt của bản thân mình mà có chủ thể quản lý đất đai đã có những hành
vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi bất chính, cố tình vi phạm pháp luật đất đai
Vi phạm của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn một cách cố ý hoặc vô ý của chủ thể quản lý đất đai vi phạm các quy định của pháp luật, phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trong trường hợp hành vi
có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Cấu thành của vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà
- Hành vi trái pháp luật đất đai:
Khi nói đến vi phạm pháp luật đất đai thì buộc phải có hành vi trái pháp luật đất đai của tổ chức hay của cá nhân Nếu không có hành vi trái pháp luật đất đai thì không
có vi phạm pháp luật đất đai xảy ra Vì vậy, hành vi trái pháp luật đất đai là một yếu tố bắt buộc phải có trong cấu thành của vi phạm pháp luật đất đai
Pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của con người Hành vi trái pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật về quản lý đất đai Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai không chỉ là hành vi xác định của con người hoặc là hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội mà hành vi đó phải trái với các quy định của pháp luật đất đai, xâm hại tới khách thể được Luật Đất đai bảo vệ và gây nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội
Hành vi đó có thể bằng hành động hoặc không hành động nhưng phải được biểu hiện ra bên ngoài hiện thực khách quan, nghĩa là có thể nhìn thấy, nghe thấy, nhận thức được hành động hay không hành động đó Một hành vi chỉ bị coi là trái pháp luật đất đai khi hành vi đó không phù hợp hoặc trái ngược với các quy định của pháp luật đất đai
Hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật đất đai trong quá trình thực hiện việc quản lý đất đai Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất và chủ thể quản lý đất đai vì
vi phạm pháp luật của người sử dụng đất là những hành vi trái pháp luật đất đai trong quá trình sử dụng đất còn vi phạm pháp luật đất đai của chủ thể quản lý là trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, chủ thể này đã không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật đất đai Hành vi không thực hiện những quy định của pháp luật đất đai như: không công bố hoặc chậm công bố quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không
Trang 24thông báo cho người có đất bị thu hồi; không công khai phương án bồi thường, tái định
cư… Hành vi thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai như: giao
đất, giao lại đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa; thu hồi đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt…
- Hậu quả do hành vi trái pháp luật đất đai gây ra:
Là những thiệt hại do hành vi trái pháp luật đất đai của người quản lý đất đai gây ra Hậu quả do hành vi trái pháp luật đất đai gây ra thể hiện ở chỗ nó xâm hại quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai hoặc xâm hại đến quyền sở hữu của người
sử dụng đất
Sự xâm phạm đó thường được thể hiện trong việc định đoạt một cách bất hợp pháp số phận pháp lý của đất đai như không tuân theo những thủ tục cấp đất do pháp luật quy định, giao đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, mua, bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái phép dưới nhiều hình thức như núp dưới danh nghĩa thanh lý tài sản, thanh lý nhà cửa hoặc thu tiền bán đất trên danh nghĩa đền bù nhưng sử dụng số tiền đó không đúng với mục đích hoặc tự tiện chuyển giao đất cho người thừa kế, hoặc sử dụng đất không đúng mục đích được giao, tự ý thay đổi mục đích sử dụng đất khi chưa có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật đất đai với hậu quả mà
nó gây ra cho xã hội:
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật đất đai của chủ thể quản
lý đất đai với hậu quả mà nó gây ra cho xã hội phải có quan hệ hữu cơ với nhau, sự
thiệt hại cho xã hội do chính hành vi của người quản lý gây ra
Ngoài ra, còn có các dấu hiệu bên ngoài khác như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm…vi phạm
Khác với căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một hành vi vi phạm trong các loại quan hệ xã hội khác thì đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai nói chung, với hành vi vi phạm của chủ thể quản lý đất đai nói riêng, trong đa số trường hợp, không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại của hành vi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó
Khách thể
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, phá vỡ Khách thể của vi phạm của vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý chủ thể quản lý đất đai thực hiện là những quan hệ đất đai được các quy phạm pháp luật đất đai bảo vệ
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật đất đai là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai thể hiện ở yếu tố lỗi Lỗi
là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm pháp luật đất đai Một hành vi trái pháp luật không đồng nghĩa với vi phạm pháp luật nếu chưa xác định yếu tố lỗi Trong quy phạm pháp luật, Nhà nước đã đưa ra trước những cách xử sự có tính khuôn mẫu mà chủ thể được phép hoặc buộc phải lựa chọn khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu Và chủ
Trang 25thể khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được Nhà nước dự liệu thì chỉ được phép hoặc buộc phải lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp từ những cách xử sự mà quy phạm pháp luật đã dự liệu cho những trường hợp đó Các chủ thể pháp luật có lý trí và tự do
ý chí nhưng trong hoàn cảnh đó họ lại lựa chọn cách xử sự trái với ý chí của Nhà nước
do đó chủ thể đã có lỗi và phải chịu trách nhiệm về xử sự của mình
Lỗi có thể là cố ý hoặc vô ý Sẽ không bị coi là có lỗi nếu bản thân người thực hiện hành vi vi phạm không nhận thức được hành vi của mình cũng như hậu quả do hành vi gây ra Xét yếu tố lỗi một cách chính xác sẽ xác định được hình thức xử lý phù hợp nhất đối với một hành vi vi phạm
Hành vi vi phạm pháp luật đất đai của chủ thể quản lý đất đai được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý như: cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa; thu hồi đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không đúng quy hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt…
Chủ thể
Chủ thể của vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực chủ thể, nghĩa là theo quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi trái pháp luật của mình
Vi phạm của các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hành vi
do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật đất đai bảo vệ Do vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai là những cá nhân, tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý Chủ thể của vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai chính là các chủ thể có thẩm quyền trong việc quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm trong việc thực hiện chức năng quản lý đất đai, bao gồm:
- Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai;
- Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính
xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai;
- Người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý
1.3 Các hành vi vi phạm của chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất
đai
Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ngày càng được kiện toàn với sự xuất hiện của các cơ quan, tổ chức mới Mỗi cơ quan, tổ chức, mỗi cán bộ quản lý mới được đảm nhiệm chức trách riêng và kéo theo đó hành vi vi phạm của người quản lý đất đai cũng rất đa dạng và phức tạp Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày29 tháng 10 năm
2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai (Nghị định số 181/2004/NĐ-CP) đã dành riêng Mục 2 Chương XIII quy định về các hành vi vi phạm đối với người quản lý đất đai Đó là những hành vi vi phạm sau:
Trang 261.3.1 Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc giới địa giới hành chính
Địa giới hành chính là ranh giới phân biệt đất đai và số dân của địa phương này với địa phương khác do cấp quản lý có thẩm quyền quy định Địa giới hành chính là
cơ sở pháp lý để phân vạch ranh giới trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương đối với dân cư, đất đai và mọi hoạt động khác thuộc phạm vi cấp quản lý Một đơn vị hành chính trực thuộc một cấp chính quyền nào đó chỉ có thể tồn tại và hoạt động được dựa trên cơ sở một địa giới hành chính nhất định rõ ràng, ổn định và hợp lý Do tầm quan trọng của nó, việc hoạch định, điều chỉnh địa giới hành chính xưa nay đều là việc
hệ trọng, do cấp quản lý nhà nước ở Trung ương quyết định
Quản lý hồ sơ địa giới hành chính là một nội dung mới trong quản lý nhà nước
về đất đai ở Luật Đất đai năm 2003 so với Luật Đất đai năm 1993 Trước khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, tuy nội dung này chưa được đề cập đến trong Luật Đất đai năm 1993 nhưng đã được quy định tại Chỉ thị số 364/CP ngày 6 tháng 11 năm
1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã Thực hiện quan điểm xây dựng Luật
Đất đai năm 2003 là “luật hoá” một số quy định tại các văn bản dưới luật đã được
cuộc sống chấp nhận, Luật Đất đai năm 2003 đã bổ sung nội dung này Nội dung này
gồm 02 vấn đề là: Xác định địa giới hành chính và lập, quản lý hồ sơ địa giới hành chính
Việc xác định địa giới hành chính được quy định tại Điều 16 Luật Đất đai năm
2003 như sau: Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ
sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ
sơ địa giới hành chính trong phạm vi địa phương
Như vậy, chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới hành chính và hồ sơ địa giới hành chính trong toàn quốc (không phân biệt ở cấp nào) là nhiệm vụ của Chính phủ Chính phủ trực tiếp tổ chức thực hiện việc xác định các mốc địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chính của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp tổ chức thực hiện việc xác định các mốc địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chính của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong địa bàn mình quản
lý Ủy ban nhân dân các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trực tiếp tổ chức thực hiện việc xác định các mốc địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn trong địa bàn mình quản lý
Tuy nhiên, số mốc, trình tự, thủ tục để xác định các mốc địa giới hành chính trong hồ sơ là do Bộ Nội vụ quy định Đồng thời, Bộ Nội vụ còn quy định về quản lý các mốc địa giới hành chính và hồ sơ địa giới hành chính Bởi lẽ một mốc địa giới hành chính bao giờ cũng giáp ít nhất 02 đơn vị hành chính nên phải có quy định cụ thể
để một mốc địa giới hành chính chỉ giao cho một đơn vị hành chính trực tiếp quản lý
Có như vậy mới tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc” tức là một mốc địa
giới hành chính do nhiều đơn vị hành chính cùng quản lý có thể sẽ trở thành không ai
Trang 27quản lý Theo quy định của Bộ Nội vụ về số mốc địa giới hành chính, Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về kỹ thuật để xác định toạ độ các mốc địa giới hành chính và quy định về định mức kinh tế khi thực hiện xác định các mốc đó và lập hồ sơ địa giới hành chính Việc lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính được quy định tại Điều 17 Luật đất đai năm 2003 như sau:
Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm:
- Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thành lập đơn vị hành chính hoặc điều chỉnh địa giới hành chính (nếu có);
- Bản đồ địa giới hành chính;
- Sơ đồ vị trí các mốc địa giới hành chính;
- Bảng tọa độ các mốc địa giới hành chính, các điểm đặc trưng trên đường địa giới hành chính;
- Bản mô tả tình hình chung về địa giới hành chính;
- Biên bản xác nhận mô tả đường địa giới hành chính;
- Phiếu thống kê về các tài liệu về địa giới hành chính của các đơn vị hành chính cấp dưới
Hồ sơ địa giới hành chính của một đơn vị hành chính ở cấp nào được quản lý ở
Ủy ban nhân dân cấp đó, Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường19 Tuy nhiên, bộ hồ sơ nằm ở cấp huyện và cấp tỉnh được Ủy ban nhân dân giao cho Phòng Nội vụ hoặc Sở Nội vụ quản lý Hồ sơ địa giới hành chính của cấp xã sẽ không có loại giấy tờ cuối (Phiếu thống kê các tài liệu về địa giới hành chính của các đơn vị hành chính cấp dưới) vì cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính Một đơn vị hành chính muốn xác nhận địa giới hành chính của mình phải do Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp thực hiện; đối với cấp tỉnh, muốn xác nhận phải do Bộ Nội vụ thực hiện Điều này giải thích tại sao khi xét duyệt phương án quy hoạch sử dụng đất của các cấp bao giờ cũng phải có đại diện của ngành nội vụ cấp trên
trực tiếp tham gia để tránh tình trạng “lập quy hoạch nhầm” ra ngoài địa giới hành
chính Sau khi đã xác định và cắm các mốc địa giới hành chính theo quy định của Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường thì từng mốc địa giới hành chính cụ thể được bàn giao cho Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn quản lý Trong quá trình quản
lý nếu các mốc địa giới hành chính này bị xê dịch, hư hỏng thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải báo cáo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) để có biện pháp xác định lại bằng cách căn cứ vào toạ độ đã được xác định và lưu trong hồ sơ địa giới hành chính
Việc xác định, lập và quản lý các mốc địa giới hành chính hết sức quan trọng,
nó góp phần giữ ổn định biên giới giữa các đơn vị hành chính Trong quản lý hành chính nhà nước, nếu Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện tốt nội dung này
sẽ tránh được tình trạng tranh chấp địa giới hành chính của các cấp dưới
Vi phạm về hồ sơ và mốc địa giới hành chính bao gồm các hành vi sau:
- Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ; biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính;
19
Xem thêm Điều 17 Luật Đất đai năm 2003
Trang 28- Cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa
1.3.2 Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất là việc Nhà nước tính toán, phân bổ đất đai về mặt số lượng, chất lượng, vị trí để sử dụng vào từng mục đích nhất định nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế nhất định
Kế hoạch sử dụng đất là việc Nhà nước xác định các biện pháp và thời gian để
sử dụng đất theo quy hoạch
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Nội dung này đã được đề cập đến từ lâu trong công tác quản lý nhà nước về đất đai Ngay từ Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, trong những nội dung quản lý nhà nước về
đất đai đã có nội dung thứ ba là “Quy hoạch sử dụng đất” 20, đến Luật Đất đai năm
1987 và Luật Đất đai năm 1993 vẫn quy định nội dung thứ hai trong những nội dung
quản lý nhà nước về đất đai là “Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất” 21 Do
vậy, ở giai đoạn thực hiện Luật Đất đai năm 1993, mặc dù đã có Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng vì chưa đề cập rõ đến vấn đề quản lý quy hoạch sau khi đã được phê duyệt mà chỉ quy định chi tiết về việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch nên thông thường sau khi lập xong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cơ quan có thẩm quyền ít quan tâm đến việc quản lý xem quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đó có được thực hiện hay không? Thực hiện đến đâu? Vì vậy, dễ xảy ra hiện tượng vi phạm quy
hoạch hoặc quy hoạch “treo” Đến Luật Đất đai năm 2003 và sau đó được sửa đổi,
bổ sung năm 2009, nội dung này được sửa lại là “Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” 22 Như vậy, không chỉ là đưa việc sử dụng đất vào quy hoạch, kế hoạch như
ở Luật Đất đai năm 1993 mà sau khi đất đai đã được lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng còn phải quản lý việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đó như thế nào cho đạt hiệu quả cao, tránh tình trạng phương án quy hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê
20
Mục 2 Phần I Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 7 năm 1980 của Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước quy định quản lý nhà nước đối với ruộng đất bao gồm các nội dung chính sau đây:
- Điều tra, khảo sát và phân bố các loại đất;
- Thống kê, đăng ký đất;
- Quy hoạch sử dụng đất;
- Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý sử dụng đất;
- Quy định các chế độ, thể lệ để quản lý việc sử dụng đất và tổ chức việc thực hiện các chế độ, thể lệ
ấy
21
Đ i ều 9 L uậ t Đ ất đ a i nă m 1 9 8 7 q u y đ ị nh v i ệc quản lý Nhà nước đối với đất đai bao gồm: 1- Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất đai và lập bản đồ địa chính;
2- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai;
3- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các chế độ, thể lệ ấy; 4- Giao đất và thu hồi đất;
5- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 6- Thanh tra việc chấp hành các chế dộ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai;
7- Giải quyết tranh chấp đất đai
22
Điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Trang 29duyệt xong bỏ đấy, không thực hiện hoặc thực hiện chậm, thậm chí có khi vi phạm cả quy hoạch (sử dụng không đúng quy hoạch)
Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm các hành vi sau:
- Không công bố hoặc chậm công bố quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không công bố hoặc chậm công bố việc điều chỉnh hoặc hủy bỏ kế hoạch sử dụng đất; làm mất, làm sai lệch bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết;
- Cắm mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất chi tiết sai vị trí trên thực địa;
- Để xảy ra việc xây dựng, đầu tư bất động sản trái quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt
1.3.3 Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Giao đất là một nội dung của quản lí nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao đất trên thực tế và quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất Theo luật thực định, Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng
có nhu cầu sử dụng đất23
Căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy định của pháp luật, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất Đây không phải người sử dụng đất bất kì mà phải đảm bảo những điều kiện phù hợp với mục đích được giao Những quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao đất rất chặt chẽ và cụ thể, bao gồm những quy định chung và những quy định cụ thể về thẩm quyền cho từng
cơ quan Những quy định chung là các quy định mà mỗi cơ quan Nhà nước khi giao đất phải triệt để tuân theo: các nguyên tắc, các căn cứ, trình tự, thủ tục về giao đất Những quy định về thẩm quyền cụ thể nhằm giới hạn phạm vi các quyền hạn về giao đất thực hiện các thẩm quyền này thống nhất và hợp lí, vừa không phân tán, thả nổi cho cấp dưới vừa không tập trung, quan liêu ở cấp trên làm cho mỗi cơ quan thấy được trách nhiệm của mình trong lĩnh vực giao đất
Với quy định Nhà nước vừa là chủ sở hữu vừa là người có quyền quản lí thống
nhất đất đai trên phạm vi cả nước, Nhà nước sẽ tiến hành “giao đất cho các tổ chức và
cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài ” Nhà nước giao đất thông qua 02 hình thức:
- Giao đất không thu tiền sử dụng đất24;
- Giao đất có thu tiền sử dụng đất25
Giao đất chính là căn cứ pháp lí phát sinh quyền sử dụng, xác lập quan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Căn cứ quyết định giao đất tuỳ từng trường hợp phát sinh nghĩa vụ tài chính giữa người sử dụng đất và Nhà nước Quyết định giao đất là quyết định hành chính của
cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ pháp luật về giao đất mang tính mệnh lệnh Một
Trang 30quyết định giao đất được coi là không trái pháp luật khi nó được thực hiện theo đúng những nội dung mà pháp luật qui định: căn cứ, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục
Cho thuê đất cũng là một hình thức thực hiện quyền định đoạt đất đai của Nhà
nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Từ khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, Nhà nước thừa nhận giá trị của quyền sử
dụng đất thì cho thuê đất là một nội dung được đề cập đến Nội dung “cho thuê đất”
đã góp phần đáp ứng nhu cầu đa dạng của người sử dụng đất
Cho thuê đất ở đây chúng ta phải phân biệt với cho thuê quyền sử dụng đất Quyền cho thuê đất của Nhà nước được phát sinh trên cơ sở quyền sở hữu Nhà nước
về đất đai, Nhà nước có quyền định đoạt số phận pháp lí đối với đất đai thông qua nhiều hình thức, trong đó có quyền cho thuê đất Bởi vậy, theo pháp luật đất đai Nhà nước có quyền cho thuê đất để sử dụng vào mọi mục đích sản xuất kinh doanh cho tất
cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Việc cho thuê đất được thực hiện bằng một quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Như vậy, quyền cho thuê đất của Nhà nước là một quyền năng rộng rãi, Nhà nước có quyền cho thuê đối với mọi đối tượng để sử dụng vào mọi mục đích mà không bị khống chế bởi không gian, thời gian và diện tích sử dụng Thuê đất, người thuê tiếp nhận tài sản thuê là một thửa
đất từ tay Nhà nước - chủ sở hữu đối với đất và trở thành người có “quyền sử dụng đất của mình” trong thời gian thuê Còn “thuê quyền sử dụng đất” người thuê tiếp nhận
tài sản thuê là quyền sử dụng đất từ tay người cho thuê là người có quyền sử dụng đất
được Nhà nước thừa nhận và trở thành người có “quyền sử dụng đất của người khác trong thời gian thuê”
Như vậy, cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất26
Theo pháp luật hiện hành thì cho thuê đất được thực hiện với 02 hình thức:
- Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm27;
- Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê28
Cho thuê đất được tiến hành thông qua quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, sau đó trên cơ sở quyết định này sẽ tiến hành kí kết hợp đồng cho thuê đất Bên thuê đất phải sử dụng đúng mục đích, phải trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê được các bên thoả thuận Quyền và nghĩa vụ phát sinh khi quyết định cho thuê đất có hiệu lực pháp luật và chấm dứt theo như thời hạn ghi trong quyết định
Chuyển mục đích sử dụng đất là nội dung mới được đề cập đến ở lần sửa đổi
thứ hai của Luật Đất đai năm 1993 (năm 2001) và chính thức được bổ sung vào các nội dung quản lý nhà nước về đất đai ở Luật Đất đai năm 2003 Việc quy định nội dung này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người đang sử dụng đất muốn chuyển sang mục đích sử dụng khác, đồng thời cũng giảm tiện về thủ tục hành chính cho cơ quan nhà nước trong trường hợp này Thay vì việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải ra quyết định thu hồi rồi sau đó lại ra quyết định giao đất cho chính người sử dụng đó thì
Trang 31cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ phải làm thủ tục công nhận cho người sử dụng được chuyển mục đích sử dụng Luật Đất đai năm 2003, đã chia việc chuyển mục đích
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất30
Đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì yêu cầu này có được chấp nhận hay không phụ thuộc vào tính khả thi của sự chuyển đổi chế độ pháp lí của đất đó, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
và qui định của pháp luật Với tư cách là người quản lí, Nhà nước sẽ quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hay không31 Chế độ pháp lí áp dụng đối với đất chuyển mục đích sử dụng sẽ thay đổi theo loại hình đã được chuyển, quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất sẽ được xác lập theo loại đất mới
Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích
sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác Các hoạt động này đều nhằm: đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển; đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và nước ngoài; xác lập mối quan hệ pháp
lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở để giải quyết mọi mối quan hệ về đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó
Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được quy định như sau:
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với
cơ sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài
- Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư;
- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp
sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.32
32
Xem thêm Điều 37 Luật Đất đai năm 2003
Trang 32Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định trên đây không được ủy quyền
Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm những hành vi sau:
- Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa;
- Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt
1.3.4 Vi phạm quy định về thu hồi đất
Thu hồi đất là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
- Thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm qui định sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ đất hợp pháp bị lấn chiếm
- Trong trường hợp thật cần thiết Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người
sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Như vậy, thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật Đất đai33
Nhà nước thu hồi đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại đất hợp pháp bị lấn chiếm do người sử dụng đất vi phạm qui định về sử dụng đất của Nhà nước Đây là cơ sở chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng Nhà nước có thể thu hồi đất khi: Nhà nước cần lấy đất để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai hoặc đất được giao không đúng thẩm quyền, đối tượng 34 Thu hồi đất phải thông qua một trình tự, thủ tục pháp lí chặt chẽ: một thửa đất đang có người sử dụng, được giao cho người khác thì phải có quyết định thu hồi đất đó, quyết định thu hồi đất phải xác định rõ thu hồi đất của chủ thể nào, lí do thu hồi đất, diện tích thu hồi đất rồi mới tiến hành giao đất cho người khác
Thẩm quyền thu hồi đất được quy định như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
Đồng thời, để đảm bảo chặt chẽ trong việc quyết định thu hồi đất, tránh trường hợp đùn đẩy trách nhiệm cho nhau giữa các cơ quan nhà nước khi thu hồi đất, Luật
Trang 33Đất đai năm 2003 còn quy định các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định trên đây không được uỷ quyền35
Trong mọi trường hợp thu hồi đất Nhà nước đều sử dụng phương pháp mệnh lệnh Trong quan hệ giữa người sử dụng đất và Nhà nước, không có sự bình đẳng về địa vị pháp lí Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, người quản lí buộc người sử dụng đất phải tuân theo các quyết định mang tính mệnh lệnh của mình Một trong những
nghĩa vụ chung của người sử dụng đất là “giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất” 36 Khi có quyết định thu hồi đất thì tuỳ từng trường hợp người sử dụng đất được xem xét bồi thường thiệt hại; hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống và ổn định sản xuất
Gắn liền với công tác thu hồi đất là việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi Bên cạnh việc bồi thường, còn nhiều hình thức hỗ trợ của Nhà nước đối
với người bị thu hồi đất Theo Đại Từ điển tiếng Việt thì “Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra”; “Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào” Từ đó, có thể suy ra:
Bồi thường cho người có đất bị thu hồi đất là việc Nhà nước đền bù những tổn hại do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai Hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ cho người
sử dụng đất để giảm bớt khó khăn cho người sử dụng đất khi bị thu hồi đất Có nhiều hình thức hỗ trợ và đây là khoản khác với bồi thường, nó có thể có đối với cả những trường hợp đất và tài sản trên đất không đủ điều kiện để bồi thường
Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai hiện nay thì việc bồi thường cho người bị thu hồi đất là một trong những việc phức tạp nhất vì nó gắn liền với quyền lợi của người sử dụng đất Nội dung này cũng là một trong những vấn đề dễ xảy ra khiếu kiện nhất Nếu làm tốt việc này sẽ giảm bớt khó khăn trong công tác thu hồi đất Luật
Đất đai năm 1993 khi mới ban hành sử dụng 03 cụm từ là “đền bù” (khoản 6 Điều 79), “đền bù thiệt hại” (Điều 28) và “bồi thường thiệt hại” (khoản 6 Điều 73) để chỉ
việc này Đến Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993 (năm
2001) chỉ dùng một cụm từ “bồi thường”để thay cho 03 cụm từ trên37 Như vậy, khái
niệm “bồi thường cho người có đất bị thu hồi”đã có và được sử dụng trong pháp luật
đất đai từ ngày 01 tháng 10 năm 2001
Luật Đất đai năm 2003 quy định nguyên tắc bồi thường, tái định cư cho người
có đất bị thu hồi như sau:
- Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các
dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1993: cụm từ “bồi thường thiệt
hại” tại Điều 73, cụm từ “đền bù thiệt hại” tại Điều 28, cụm từ “đền bù” tại Điều 79 của Luật Đất đai
được thay bằng cụm từ “bồi thường”
Trang 34Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn Trường hợp giá trị quyền
sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó
Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ đểổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới
Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi thường, hỗ trợ.38
Vi phạm quy định về thu hồi đất bao gồm những hành vi sau:
- Tiến hành thu hồi đất mà không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi theo quy định tại Điều 39 của Luật Đất đai; không công khai phương án bồi thường, tái định cư;
- Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu đất; xác định sai vị trí diện tích đất bị thu hồi trên thực địa;
- Thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt
1.3.5 Vi phạm quy định về trưng dụng đất
Khái niệm “trưng mua, trưng dụng” đã được quy định từ rất sớm trong các văn
bản pháp luật nước ta Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Chính phủ
lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quy định: “trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam, các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì
có quyền: trưng dụng bất động sản; trưng thu hoặc trưng dụng động sản”
Trưng dụng đất là việc nhà Nhà nước điều chuyển quyền sử dụng một diện tích đất trong một giai đoạn tạm thời từ người sử dụng đất hợp pháp sang Nhà nước một cách bắt buộc theo thủ tục hành chính không do lỗi của người sử dụng đất Lý do được
viện dẫn để tiến hành trưng dụng trong Hiến pháp 1992 là “vì mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia” Tuy nhiên, khi tìm hiểu chi tiết trong Luật Trưng mua,
trưng dụng năm 2008 thì lý do cụ thể chính là khi có: nguy cơ chiến tranh, an ninh quốc gia có nguy cơ bị đe dọa, thiên tai, dịch bệnh…39
Nhà nước có thể trưng dụng đất có thời hạn trong trường hợp Nhà nước ban bố tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, trường hợp khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn hoặc các trường hợp khẩn cấp khác đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của tổ chức, tài sản, tính mạng của nhân dân mà cần sử dụng đất thì Chính phủ; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
38
Xem thêm Điều 42 Luật Đất đai năm 2003 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
39
Ts Phan Trung Hiền, Pháp luật về thu hồi đất khi thực hiện quy hoạch và chế định trưng dụng đất
trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3/2011, tr 18 – 26
Trang 35Trung ương; Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền trưng dụng đất Quyết định trưng dụng đất phải ghi rõ mục đích trưng dụng đất và thời hạn trưng dụng đất Việc trưng dụng đất có thời hạn được pháp luật đất đai quy định như sau:
- Hết thời hạn trưng dụng đất mà chưa thực hiện xong mục đích trưng dụng đất thì cơ quan nhà nước đã trưng dụng đất ra quyết định kéo dài thời hạn trưng dụng đất; thời hạn kéo dài trưng dụng đất không vượt quá thời hạn đã trưng dụng đất Cơ quan nhà nước đã trưng dụng đất có trách nhiệm trả lại đất và bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra cho người có đất bị trưng dụng khi đã thực hiện xong mục đích trưng dụng đất hoặc đã hết thời hạn trưng dụng đất; việc bồi thường thiệt hại được thực hiện trong thời hạn không quá 06 tháng kể từ ngày hết thời hạn trưng dụng đất
-Trường hợp việc trưng dụng đất ảnh hưởng đến thu nhập bảo đảm đời sống của người bị trưng dụng đất thì việc bồi thường phải được thực hiện không quá 03 tháng một lần đối với thiệt hại do việc trưng dụng đất gây ra
Vi phạm quy định về trưng dụng đất bao gồm các hành vi sau:
- Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, thời hạn bồi thường cho người có đất bị trưng dụng;
- Trưng dụng đất không đúng các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP40
1.3.6 Vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý
Đất do Nhà nước giao để quản lý, gồm:
- Đất để xây dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, bến phà; hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm; đất sử dụng vào mục đích công cộng giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý
- Đất có mặt nước của các sông lớn và đất có mặt nước chuyên dùng được giao cho các tổ chức quản lý
- Đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người (do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc quản lý)
- Đất đã thu hồi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất quản lý hoặc Ủy ban nhân dân quản lý
- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý sử dụng; đất lâm nghiệp được giao cho cộng đồng dân cư để bảo vệ, phát triển rừng
40
Khoản 1 Điều 37 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP: “Trường hợp Nhà nước ban bố tình trạng khẩn
cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, trường hợp khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc các trường hợp khẩn cấp khác đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của
tổ chức, tài sản, tính mạng của nhân dân mà cần sử dụng đất thì Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền trung dụng đất
Quyết định trưng dụng đất phải ghi rõ mục đích trưng dụng đất và thời hạn trưng dụng đất”
Trang 36- Đất được giao cho tổ chức kinh tế quản lý để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức xây dựng - chuyển giao
- Đất thuê hoặc thuê lại của người sử dụng mà không phải là đất thuê, thuê lại trong khu công nghiệp; đất nhận khoán trong các nông trường, lâm trường
- Đất đang sử dụng mà không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai
Vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý bao gồm các hành vi sau:
- Để xảy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng đất tạm thời mà
Việc thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai được thực hiện
theo cơ chế “một cửa” với sự phân chia nhiệm vụ dựa trên yếu tố chủ thể sử dụng đất
Cơ chế “một cửa”được quy định từ ngày 04 tháng 9 năm 2003 Theo đó, việc giải
quyết hồ sơ, yêu cầu của công dân phải được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận/cơ quan tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính Nhà nước Bộ phận/cơ quan này
có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan hữu quan để giải quyết, trả kết quả cho người nộp hồ sơ/yêu cầu Công dân không phải tự mình liên hệ tại từng cơ quan liên quan để được giải quyết hồ sơ/yêu cầu mà chỉ nộp và nhận kết quản tại nơi đã nộp hồ sơ Việc
áp dụng cơ chế “một cửa” đòi hỏi thủ tục hành chính phải đơn giản, rõ ràng, được
công khai; phải có sự phối hợp giữa các bộ phận, cơ quan nhằm đảm bảo giải quyết công việc của công dân được nhanh chóng, thuận tiện41
Vi phạm trong việc thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất đai bao gồm các hành vi sau:
- Không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy đủ, không hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ
sơ, gây phiền hà đối với người nộp hồ sơ, nhận hồ sơ mà không ghi vào sổ theo dõi;
- Tự đặt ra những thủ tục hành chính ngoài quy định chung gây phiền hà đối với người xin làm các thủ tục hành chính;
- Giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, trì hoãn việc giao các loại giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người xin làm thủ tục hành chính;
- Từ chối hoặc không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định của pháp luật đã đủ điều kiện để thực hiện;
- Thực hiện thủ tục hành chính không đúng thẩm quyền;
41
Xem thêm: Quyết định 181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện
cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Hiện nay, quyết định này được thay
thế bởi Quyết định 93/2007/QĐ-TTg ngày 22-6-2007
Trang 37- Quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ không đúng quy định gây thiệt hại hoặc tạo điều kiện cho người xin làm thủ tục gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và công dân;
- Làm mất, làm hư hại, làm sai lệch nội dung hồ sơ
Đối với những hành vi vi phạm pháp luật đất đai nêu trên, tương ứng với mỗi hành vi vi phạm, mức độ lỗi mà phải chịu những hình thức trách nhiệm pháp lý khác nhau Các hình thức trách nhiệm pháp lý tương ứng với mỗi hành vi vi phạm sẽ được người viết nghiên cứu kỹ hơn ở Chương 2
Trang 38CHƯƠNG 2
XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC CHỦ THỂ QUẢN LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 2.1 Khái quát chung về xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản
Do đó, các chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai mà có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái với các quy định pháp luật đất đai, thiếu trách nhiệm trong quản lý đất đai thì sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
Đồng thời, những chủ thể quản lý đất đai là những người làm việc trong các cơ quan quản lý đất đai, là đại diện cho công lý và pháp luật, được nhân dân tín nhiệm và tin tưởng thì phải thật sự gương mẫu để không phụ lòng nhân dân Khi các chủ thể này
có hành vi vi phạm trong quản lý đất đai thì càng phải xử lý thích đáng, đúng pháp luật
Những chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai là những người nắm trong tay quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước trong quá trình thực hiện công vụ Tuy nhiên, một số người lại lợi dụng quyền lực Nhà nước để làm những việc trái pháp luật và có tính nguy hiểm rất cao, có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng Do đó xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước
về đất đai là vấn đề nóng bỏng, đang được dư luận toàn xã hội quan tâm
Theo giáo trình Luật đất đai của trường Đại học Luật Hà Nội: “Xử lý vi phạm pháp luật đất đai là việc áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm nhằm mục đích buộc họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi và hậu quả của hành vi vi phạm gây ra”
Khi một tổ chức hay cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đất đai, về nguyên tắc Nhà nước sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định Chỉ những cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể được trao quyền thì mới có quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân nào đó
Nó thể hiện ở việc các cơ quan nhà nước, nhà chức trách hay các chủ thể có thẩm quyền theo trình tự thủ tục luật định, yêu cầu chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý giải thích rõ về hành vi vi phạm pháp luật đất đai của mình và buộc các chủ thể vi phạm đó chịu những trách nhiệm nhất định
Xử lý vi phạm pháp luật là nhằm mục đích ngăn ngừa và trừng phạt những hành
vi vi phạm đồng thời giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ những quan hệ, những giá trị được pháp luật ghi nhận Đó cũng là vấn đề có tính quyết định để duy trì trật tự kỷ cương và nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý đất đai ở nước ta hiện nay
Như vậy, xử lý vi phạm pháp luật đất đai là việc áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm những quy định của pháp luật đất đai nhằm mục
Trang 39đích buộc họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi và hậu quả của hành
vi vi phạm gây ra
Từ khái niện xử lý vi phạm pháp luật đất đai nêu trên, ta có khái niệm xử lý vi
phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai như sau: xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý
vi phạm đối với người quản lý đất đai, quyết định áp dụng các biện pháp trách nhiệm
kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người quản lý đất đai nhằm đảm bảo duy trì trật tự, kỷ cương và nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý đất đai
2.1.2 Đặc điểm của xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà
nước về đất đai
Xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai có những đặc điểm chung của xử lý vi phạm pháp luật nói chung và cũng có những đặc điểm riêng để giúp ta phân biệt với vi phạm pháp luật khác, đặc biệt là đối với xử lý vi
phạm hành chính đối với người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai
Hoạt động xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất
đai có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất
đai chỉ được tiến hành khi có hành vi vi phạm trong khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai của cán bộ, công chức, viên chức Cơ sở của trách nhiệm pháp lý trong xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý nhà nước về đất đai chính là các vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ Không có vi phạm pháp luật trong hoạt động công
vụ thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý Như vậy, để thực hiện hoạt động xử
lý vi phạm đối với chủ thể quản lý đất đai thì trước hết phải xác định các vấn đề sau:
- Đối tượng của xử lý vi phạm đối với quản lý nhà nước về đất đai chỉ có thể là
những người thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai có hành vi vi phạm như: lợi dụng chức vụ quyền hạn làm trái với các quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật đất đai hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Các hành vi vi phải là hành vi được thực hiện trong khi thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về đất đai và thường gắn với lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn Đây chính là những điểm khác biệt đối với việc xử lý vi phạm hành chính đối với người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai bởi vì cơ sở của xử lý vi phạm hành chính là vi phạm hành chính trong quá trình sử dụng đất và đối tượng xử lý chính là những người sử dụng đất
Thứ hai, xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý đất đai được thể hiện bằng quyết
định xử lý kỷ luật thực hiện theo quy định chung về phân cấp quản lý cán bộ hoặc bản
án hình sự của Tòa án nếu có hành vi cấu thành tội phạm
Việc xử lý cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai do người đứng đầu cơ quan quản lý có hành vi
vi phạm xử lý kỷ luật Nếu người đứng đầu cơ quan, đơn vị vi phạm kỷ luật thì người đứng đầu cơ quan đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp ra quyết định kỷ luật
Trang 40Đối với người quản lý có hành vi vi phạm pháp luật đất đai đã bị xử lý kỷ luật
mà tái phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị xử lý hình sự thể hiện qua bản án hình sự
Hoạt động xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải tiến hành theo trình
tự, thủ tục pháp luật quy định Và kết quả của quá trình điều tra, tìm hiểu được thể hiện bằng quyết định xử lý kỷ luật và bản án hình sự nếu có dấu hiệu cấu thành tội phạm
Khi tiến hành xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai, cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thầm quyền xử lý đều phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Thứ ba, xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai là hoạt động cưỡng chế
mang tính quyền lực Nhà nước
Trách nhiệm pháp lý luôn gắn với những biện pháp cưỡng chế Chủ thể vi phạm pháp luật bị buộc phải thực hiện những biện pháp cưỡng chế được quy định ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm, do đó không một chủ thể nào lại mong muốn hay tự nguyện chịu trách nhiệm pháp lý Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật thì trong xử lý vi phạm, Nhà nước buộc phải sử dụng biện pháp cưỡng chế, buộc đối tượng phải chấp hành vô điều kiện mà không có sự lựa chọn nào khác Việc xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành Do đó, xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai
là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước
Thứ tư, trong xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai thể hiện sự bình đẳng
trong các trách nhiệm pháp lý với công dân Nếu cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật đất đai thì cũng phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật Hơn thế, trong nhiều trường hợp họ phải chịu trách nhiệm pháp lý nặng hơn so với những người dân lao động bình thường ko phải là cán bộ, công chức, viên chức
Và trong xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai, người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm pháp luật của những người thuộc quyền quản lý của mình mà có hành vi vi phạm pháp luật đất đai
2.1.3 Nguyên tắc xử lý vi phạm đối với chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước
về đất đai
Khi xử lý vi phạm đối với các chủ thể quản lý trong quản lý nhà nước về đất đai phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Mọi vi phạm phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời Việc xử lý kỷ luật
và trách nhiệm vật chất phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để, mọi hậu quả do vi phạm gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật
- Hình thức kỷ luật được áp dụng độc lập, biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất được áp dụng kèm theo hình thức kỷ luật đối với những hành vi vi phạm có quy định biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất Hình thức, mức độ kỷ luật được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân người có hành vi vi phạm
- Các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện công vụ có liên quan đến quản lý đất đai mà không thuộc các trường hợp