đặc ựiểm Dựa trên khái niệm về tham nhũng chúng ta có thể rút ra 3 ựặc ựiểm chắnh của tham nhũng như sau: đặc ựiểm về chủ thể: Chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ, qu
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOÁ 30 (2004 - 2008)
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ
QUAN,TỔ CHỨC TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hữu Lạc Nguyễn Quốc Việt
Lớp: Luật Tư Pháp K30
Cần Thơ 2008
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
LỜI NÓI ðẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG 1 KHÁI NIỆM 4
1.1 Nguồn gốc và ñặc ñiểm của tham nhũng 4
1.2 Khái niệm tham nhũng 11
2 NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA THAM NHŨNG 14
2.1 Nguyên nhân 14
2.2 Hậu quả 22
Chương 2: TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN TỔ CHỨC 26
1 KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM 26
1.1 Theo nghĩa chủ ñộng 26
1.2 Theo nghĩa thụ ñộng 27
2 KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN 28
2.1 Theo quan ñiểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh 28
2.2 Theo quan ñiểm của Luật phòng, chống tham nhũng 30
II TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN TỔ CHỨC 31
1 CHỈ ðẠO, BAN HÀNH CÁC QUY ðỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 31
1.1 Xây dựng chương trình hành ñộng về phòng, chống tham nhũng 31
1.2 Xây dựng chế ñộ, ñịnh mức, tiêu chuẩn 32
1.3 Ban hành các quy tắc ứng xử của cán bộ công chức trong cơ quan, tổ chức do mình quản lý 32
1.4 Về việc kê khai tài sản 38
1.5 Xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát thường xuyên 40
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2 TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHI
ðỂ XẢY RA THAM NHŨNG DO MÌNH QUẢN LÝ 40
2.1 Trách nhiệm của người ñứng ñầu do tự mình thực hiện hành vi tham nhũng 40
2.2 Trách nhiệm của người ñứng ñầu cơ quan, tổ chức, ñơn vị khi ñể xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, ñơn vị do mình quản lý, phụ trách 41
2.3 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm, miễn, giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình thức kỷ luật 43
III CÁC HÌNH THỨC XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU KHI ðỂ XẢY RA THAM NHŨNG DO MÌNH QUẢN LÝ 44
1 HÌNH THỨC XỬ LÝ 45
1.1 Theo ðiều 55 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 45
1.2 Theo Nghị ñịnh 107 46
2 MỨC ðỘ CỦA VỤ, VIỆC THAM NHŨNG 47
Chương 3: THỰC TRẠNG, HƯỚNG XỬ LÝ TÌNH HÌNH THAM NHŨNG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ CỤ THỂ I THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THAM NHŨNG 48
1 TÌNH HÌNH THẾ GIỚI 48
1.1 Thực trạng tham nhũng trên thế giới hiện nay 48
1.2 Hướng xử lý của pháp luật ñối với những người ñứng ñầu phạm tội của một số nước 49
2 TÌNH HÌNH VIỆT NAM 50
2.1 Quy mô, tính chất và mức ñộ của tham nhũng hiện nay 50
2.2 Những dạng tồn tại của tham nhũng ở Việt Nam hiện nay 53
2.3 Thực trạng tình hình tham nhũng trong các lĩnh vực ở Việt Nam thời gian qua 55
2.4 Hướng xử lý của pháp luật Việt Nam ñối với những người có trách nhiệm vi phạm qua một số vụ án ñiển hình 61
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
III NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ CỤ THỂ NHẰM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 62
1 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG 62
1.1 Phương hướng chung 62
1.2 Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy ñịnh của pháp luật 63
1.3Việc xử lý trách nhiệm người ñứng ñầu phải ñược thực hiện công khai 63
1.4 Kiên quyết xử lý các ðảng viên vi phạm pháp luật 63
2 CÁC KIẾN NGHỊ CỤ THỂ 64
2.1 Nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức cho người ñứng ñầu tiến tới xoá bỏ cơ chế song trùng trực thuộc 64
2.2 Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật của người có trách nhiệm 64
2.3 Tiến hành cải cách tiền lương, xây dựng chế ñộ tiền lương hợp lý và tăng phụ cấp trách nhiệm cho những người ñứng ñầu 64
2.4 Xây dựng kế hoạch kiểm tra thường xuyên 65
KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI NÓI ðẦU
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực xuất hiện từ rất lâu , gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người từ lúc xã hội phân chia giai cấp Tham nhũng là việc người có chức vụ, quyền hạn ñã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình ñể mưu lợi cá nhân Hành vi tham nhũng diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế ñộ chính trị, xã hội, không kể là nước giàu hay nghèo, ñang ở trình ñộ phát triển thấp hay cao và chúng len lõi vào các mặt của ñời sống xã hội gây ra những hậu quả hết sức nguy hại về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp ñến bộ máy nhà nước, ñến sự tồn vong của chế ñộ, chúng ta biết ñược rằng tham nhũng là hành vi của người có chức vụ quyền hạn ñã lợi dụng chức vụ quyền hạn ñể mưu lợi Vậy thì trách nhiệm của người ñứng ñầu cơ quan, tổ chức quản lý người có chức vụ, quyền hạn phải ñược quy ñịnh nhằm hạn chế và tiến ñến tiêu diệt tham nhũng Do ñó ðảng và Nhà nước ta ñã ban hành nhiều văn bản pháp luật ñể quy ñịnh về trách nhiệm người
ñứng ñầu cơ quan, tổ chức trong hoạt ñộng phòng, chống tham nhũng Vậy xin
mời quý Thầy, Cô và các bạn cùng tìm hiểu xem pháp luật Việt Nam quy ñịnh như thế nào về trách nhiệm của người ñứng ñầu cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống tham nhũng
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hiện nay ở nước ta cũng như trên thế giới ñã có nhiều công trình, ñề tài nghiên cứu và rất nhiều bài báo, bài viết về vấn ñề tham nhũng và trách nhiệm
của người ñứng ñầu của các chuyên gia ðặc biệt là công trình nghiên cứu về
chống tham nhũng và trách nhiệm của người ñứng ñầu của Ngân hàng thế giới;
của tổ chức minh bạch quốc tế; một số tổ chức khác và của nhiều chuyên gia,
học giả Ở Việt Nam có nhiều ñề tài, công trình nghiên cứu của Ban nội chính
trung ương ðảng Cộng sản Việt Nam, Viện Khoa học thanh tra, của Học viện
hành chính quốc gia cùng một số nhà khoa học và nhiều luật gia… cùng rất
nhiều bài báo, bài viết ñăng tải trên các tạp chí chuyên nghành, các báo của trung
ương và ñịa phương
Trong khuôn khổ của ñề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật tác giả nghiên cứu với mục ñích làm rõ những vấn ñề lý luận về tình hình tham nhung từ
ñó làm cơ sở chung ñể nghiên cứu về thực tiễn tình hình Việt Nam về trách
nhiệm của người ñứng ñầu cơ quan trong việc phòng, chống tham nhũng
Mục ñích nghiên cứu của ñề tài là:
tiến ñến hệ thống hoá các khái niệm về tham nhũng của các chuyên gia ñã ñưa ra từ ñó tìm hiểu về nguyên nhân và hậu quả
do tham nhũng gây ra
trách nhiệm của người ñứng ñầu
cơ sở ñể ñưa ra các phương hướng và kiến nghị
Nhiệm vụ trọng tâm của ñề tài là: Tiến hành hệ thống hoá cơ sở lý luận, di sâu vào tìm hiểu thực tiễn pháp luật Việt Nam quy ñịnh về trách nhiệm người
ñứng ñầu cũng như hướng xử lý của pháp luật khi vi phạm và các kiện nghị cụ
thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nước nhà
Phạm vi nghiên cứu của ñề tài: Chủ yếu nghiên cứu về lý luận và các quy
ñịnh của pháp luật về trách nhiệm người ñứng ñầu cơ quan tổ chức trong việc
phòng, chống tham nhũng
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng Mác – Lênin
là phương pháp giữ vai trò chủ ñạo trong suốt quá trình nghiên cứu của ñề tài
Do tính chất ñặc thù của vấn ñề nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu và
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phân tích luật viết ñược vận dụng linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể Ngoài
ra, các phương pháp khác như thống kê, nghiên cứu so sánh, phân tích tổng
hợp… có ý nghĩa hỗ trợ hiệu quả ñối với kết quả nghiên cứu của ñề tài
Cấu trúc nghiên cứu của ñề tài gồm 3 chương:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG
Chương 1 nhằm mục ñích giới thiệu cho người ñọc khái quát về tham nhũng
Chương 2: TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN, TỔ
CHỨC TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
Chương 2 ñịnh nghĩa về trách nhiệm chung và trách nhiệm của người ñứng ñầu
và xử lý trách nhiệm của người ñứng ñầu khi họ vi phạm pháp luật
Chương 3: THỰC TRẠNG, HƯỚNG XỬ LÝ TÌNH HÌNH THAM
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
a Nguồn gốc chung của hiện tượng tham nhũng
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có mầm mống từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người, từ khi hình thành các bộ lạc, thị tộc nguyên thủy vào cuối giai ñoạn công xã nguyên thủy ñầu thời kỳ chiếm hữu nô lệ tức là khi bắt ñầu hình thành những tổ chức nhà nước ñầu tiên, sơ khai Hiện tượng tham nhũng bắt ñầu khi những người ñứng ñầu bộ lạc, thị tộc do lòng tham ñã lợi dụng uy tín chiếm ñoạt phần của cải dư thừa làm của riêng ñây chính là hình thức sơ khai của tham nhũng Nhưng tham nhũng chỉ trở thành vấn ñề của xã hội và phát triển mạnh khi xã hội bắt
ñầu có giai cấp, nhà nước Như vậy là trong chế ñộ xã hội cộng sản nguyên thủy
không có hiện tượng tham nhũng
Lịch sử loài người ñã trải qua ba lần phân công lao ñộng xã hội lớn, mà mỗi lần xã hội lại có những bước tiến mới làm sâu sắc thêm quá trình tan rã của chế ñộ cộng sản nguyên thủy Sau lần phân công lao ñộng xã hội ñầu tiên - chăn nuôi tách
ra khỏi trồng trọt thành một ngành kinh tế ñộc lập thì những mầm mống ñầu tiên của chế ñộ tư hữu xuất hiện, xã hội ñã phân chia thành người giàu, người nghèo
ðến lần phân công lao ñộng thứ hai - thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp,
nô lệ ñã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội và lần phân công lao ñộng thứ ba - ngành thương nghiệp phát triển, xuất hiện tầng lớp thương nhân Những thay ñổi trên ñã làm ñảo lộn ñời sống thị tộc, chế ñộ thị tộc ñã tỏ ra bất lực, những xung ñột về lợi ích giữa các giai cấp, giữa người giàu và kẻ nghèo diễn ra gay gắt Xã hội ñòi hỏi cần phải có một tổ chức mới ñủ sức mạnh ñể giải quyết những mâu thuẫn, xung ñột ñó, tổ chức ñó chính là Nhà nước Nhà nước ra ñời cùng với bộ máy của nó ñã kịp thời giải quyết những mâu thuẫn xung ñột nhưng cũng từ trong bộ máy của nó ñã kế thừa những mầm mống tham nhũng manh nha
từ thời thị tộc, bộ lạc giờ trở thành căn bệnh tham nhũng tồn tại song song và gắn liền với bộ máy Nhà nước
Tham nhũng, là căn bệnh muôn thuở, căn bệnh ung thư của mọi nhà nước Cội nguồn của nó chính là ở thuộc tính tự nhiên của con người kết hợp cùng với
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
những ñiều kiện kinh tế - xã hội nhất ñịnh ñó là các xã hội có giai cấp và Nhà nước Khi xây dựng một lý luận, một tiêu chuẩn trong lĩnh vực tư tưởng hay ñạo
ñức xã hội, một khuynh hướng thường thấy là người ta không hoặc cố tình
không nhìn nhận những gì ñang tồn tại trong thực tế với ñầy ñủ các khuyết tật tự nhiên của nó Nếu nhìn nhận một cách tỉnh táo, chúng ta không thể không thừa nhận sự tồn tại của những mặt khuyết tật, cái mà chúng ta thường gọi là các căn bệnh xã hội Trong vấn ñề ñang nghiên cứu, chúng ta phải thừa nhận rằng tham nhũng tồn tại trong mọi thời ñại, mọi nhà nước, mọi hệ thống chính trị và mọi quốc gia dân tộc Vì vậy mọi quốc gia trên thế giới ñều phải ñối mặt với nạn tham nhũng với nhiều hình thức, thủ ñoạn tinh vi
Như vậy, tham nhũng xuất hiện rất sớm từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước; tham nhũng là một căn bệnh xã hội của nhân loại Và cũng như các loại bệnh xã hội khác, nó là khuyết tật tự nhiên mang tính bản năng, là một phần thuộc về bản chất ñời sống con người; ñồng thời cũng chịu những tác
ñộng của các ñiều kiện kinh tế xã hội Tham nhũng xuất hiện cùng với sự ra ñời
của Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước do ñó nó
sẽ tiêu vong cùng với sự tiêu vong của Nhà nước Tức là khi xã hội không còn giai cấp và ñấu tranh giai cấp ñó là xã hội cộng sản chủ nghĩa Khi ñó con người
“Làm việc theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” thì nguồn gốc tự nhiên và xã hội
của tham nhũng sẽ không còn
b Nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội của tham nhũng hiện ñại
Mặc dù là một hiện tượng muôn thuở, tham nhũng ở mỗi quốc gia, mỗi thời
ñại lịch sử, chịu tác ñộng của những nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau
ðể chống tham nhũng hiệu quả cần phải dựa trên cơ sở phân tích khoa học những
nhân tố ñó Dưới ñây là những phân tích sơ bộ về nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội của tham nhũng hiện ñại:
Về mặt kinh tế: tham nhũng là hậu quả của môi trường kinh tế thiếu minh
bạch Môi trường kinh tế thiếu minh bạch là mảnh ñất tốt cho các hành vi tham
nhũng sinh sôi nảy nở ðiều này lý giải tại sao tham nhũng tại các nước ñang phát triển trầm trọng hơn nhiều so với các nước phát triển, nơi có môi trường kinh tế minh bạch hơn Tại những nước có môi trường kinh tế kém minh bạch, việc trốn thuế diễn ra tràn lan, lý do ñơn giản là tại ñó hành vi này dễ dàng thực hiện trót lọt hơn tại các quốc gia khác Trong môi trường kinh tế thiếu minh bạch, sự can thiệp thái quá và nhiều khi thô bạo của các cơ quan nhà nước vào hoạt ñộng kinh doanh
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
làm méo mó các quan hệ kinh tế - xã hội đó là tình trạng tốt tạo ựiều kiện thuận lợi ựể các quan tham dễ bề trục lợi Do ựó chúng ta có thể khẳng ựịnh rằng nguồn gốc sâu xa sinh ra tham nhũng chắnh là lợi ắch kinh tế
Về mặt chắnh trị: tham nhũng là kết quả của hệ thống chắnh trị thiếu khả
năng tự kiểm soát Một hệ thống chắnh trị không xây dựng ựược các tiêu chuẩn, không tự kiểm soát ựược, ựể cho quyền lực bị ựánh cắp ựại trà trên quy mô xã hội, dưới mọi hình thức, mọi mức ựộ sẽ tạo cơ hội tốt cho tham nhũng phát triển
Hệ thống chắnh trị thiếu khả năng tự kiểm soát sẽ làm xuất hiện sự nhập nhằng trong nhận thức và những cơ cấu không ựược pháp chế hóa Tất cả những yếu tố này giải thắch tại sao trong thời ựại chúng ta, tham nhũng lại nở rộ tại những quốc gia có nền chắnh trị không chuyên nghiệp, hay nói một cách ựơn giản, tại những quốc gia trong ựó nền chắnh trị tuột khỏi tầm kiểm soát của xã hội
Tham nhũng là kết quả của tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chắnh trị Tham nhũng gắn liền với bản chất con người, nhưng không phải bất kỳ ai cũng tham nhũng và cũng có thể tham nhũng để tham nhũng thì phải có chức
vụ, ựịa vị và quyền lực Ngoài ra, tham nhũng còn phụ thuộc vào các cơ chế xã hội có nhiệm vụ hạn chế hành vi tham nhũng Khi một quốc gia lâm vào tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chắnh trị, những người thoát khỏi sự hạn chế của các cơ chế xã hội sẽ lợi dụng, lạm dụng quyền lực, ựịa vị, uy tắn xã hội ựể thực hiện hành vi tham nhũng Cùng với tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chắnh trị, sự thiếu công khai trong ựời sống chắnh trị cũng tạo ra không gian ựen tối cho hiện tượng tham nhũng phát sinh và phát triển
Về mặt thể chế nhà nước: tham nhũng là con ựẻ của những thể chế tồn tại bất
hợp lý và bị ựộc quyền lũng ựoạn Quy mô tham nhũng lệ thuộc nhiều vào tắnh chất của thể chế nhà nước Chẳng hạn tại các quốc gia Châu Phi, nơi tập trung nhiều thể chế lạc hậu và phi dân chủ, các quyền lực nhà nước, quyền lực chắnh trị bị phân chia một các tùy tiện hoặc không ựược bảo vệ và sử dụng cẩn trọng, tức là các quyền lực này dễ bị tham nhũng ựể mở ựường cho nạn tham nhũng tràn lan trong xã hội Các thể chế này không ựủ năng lực ựể tự kiểm soát, nhưng lại ra sức ngăn cản việc xây dựng một thể chế mới có thể quản lý xã hội hữu hiệu hơn Tình trạng bất hợp lý của thể chế có thể thấy rõ ở những quốc gia mà một bộ phận nhân lực quan trọng của nó
ựược trả lương quá thấp so với nhu cầu tối thiểu của cuộc sống Thể chế bất hợp lý
ựã buộc nhiều người phải tham nhũng ựể sống và tồn tại
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Về mặt pháp luật: tham nhũng là kết quả của tình trạng các quyền và lợi ích
cá nhân bị hạn chế hoặc chưa ñược hợp pháp hóa Tình trạng nhiều quyền lợi
chính ñáng của cá nhân không ñược hợp pháp hóa hoặc bị hạn chế như chúng ta
có thể quan sát thấy tại nhiều quốc gia chậm phát triển Ví dụ như tình trạng
“ngăn sông cấm chợ” ở nước ta trước ñổi mới hay sự hạn chế các hoạt ñộng của
nữ giới tại Afghanistan, Iran hay một số quốc gia Hồi giáo, khi chỉ vì những suy nghĩ cực ñoan thiển cận, người ta muốn tối thiểu hóa không gian sống của mỗi cá nhân ðiều này trên thực tế ñã ñẩy nhiều người vào vòng xoáy tham nhũng ñể thỏa mãn các khát vọng thật ra là chính ñáng của họ ðiều nguy hiểm là ở chỗ tình trạng này sẽ tạo ra sự nhập nhằng về nhận thức Việc thay thế các quy ñịnh của pháp luật bằng những thỏa thuận ngầm trên quy mô xã hội hoặc ñạo ñức xã hội khiến các nhóm lợi ích luôn ñấu tranh với nhau trên cùng một cá nhân Nếu chúng
ta tạo cho cá nhân một không gian sống tốt, nếu chúng ta hợp pháp hóa các quyền
cá nhân chính ñáng ñể mỗi cá nhân có thể phát huy tối ña sức sống, sức sáng tạo của họ trong khuôn khổ pháp luật, chắc chắn rất nhiều người bình thường sẽ sống
và ứng xử theo những chuẩn mực ñược chấp nhận rộng rãi trong xã hội
Về mặt văn hóa xã hội: tham nhũng ñược hỗ trợ bởi những yếu tố tiêu cực
trong nền văn hóa, chẳng hạn tính gia trưởng vốn là một ñặc ñiểm rất rõ nét tại nhiều nước Châu Á Văn hóa gia trưởng gắn liền với việc ñộc quyền sở hữu lẽ phải Kết quả là quyền lực dễ bị ñánh cắp, tạo cơ sở cho cả tham nhũng vật chất
và tinh thần
Xét từ góc ñộ người dân thì tâm lý cam chịu, xem tham nhũng như là việc bình thường của những người làm quan do ñó họ chấp nhận việc quà cáp, biếu xén (mà thực chất là ñút lót, hối lộ) cho các quan chức ñể ñược việc hay khi bị sách nhiễu, ñòi hối lộ thì họ thường chấp nhận ñể ñược giải quyết xong việc của
mình chứ không chống lại hoặc không dám chống lại Họ quan niệm rằng “ñồng
tiền ñi trước là ñồng tiền khôn” có tiền mọi việc sẽ ñược giải quyết một cách dễ
dàng, nhanh chóng và ổn thỏa ðây là nguồn gốc văn hóa xã hội tiêu cực biểu hiện rõ nét ở các quốc gia Châu Á, người dân không biết rằng chính quan niệm
và cách ứng xử của họ ñã tạo ra một thứ “văn hóa tham nhũng” là môi trường
văn hóa có lợi cho tham nhũng, làm tham nhũng dễ phát triển cả về lượng và chất
Về mặt nhân văn: tham nhũng là hậu quả của quan niệm lệch lạc và thái ñộ
thiếu tôn trọng các giá trị cá nhân Các giá trị cá nhân không ñược tôn trọng sẽ dẫn
ñến sự xâm hại các giá trị công cộng ðiều này có vẻ ngược ñời nhưng thực ra rất
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hợp lôgic Trên thực tế, việc chống chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá luôn luôn dẫn ựến một tình trạng cực ựoan trong ựời sống tinh thần của xã hội Tâm lý xem nhẹ, nếu không muốn nói là bài bác các giá trị cá nhân khiến người ta tìm mọi cách hạn chế không gian sống của cá nhân, làm cho con người thiếu ý thức trách nhiệm về hành vi của mình, dễ dàng bằng lòng với thực tại, dễ dàng tham nhũng, tiếp tay hoặc ắt nhất là mặc nhiên thừa nhận tham nhũng
Sự ngộ nhận về giá trị cá nhân và giá trị tập thể còn dẫn ựến cả hiện tượng tham nhũng mang tắnh tập thể, nghĩa là có sự kết cấu, ựồng tình ựể tiến hành hành
vi tham nhũng trên quy mô lớn hơn đó là chắnh là mầm mống của tội phạm có tổ chức Còn nếu cá nhân nào không chịu tham nhũng, họ sẽ không còn là người của tập thể, họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi điều này giải thắch tại sao tham nhũng tại những nước có sự nhìn nhận sai lạc về cá nhân và tập thể lại càng trầm trọng và khó ựẩy lùi hơn nhiều nước khác
1.1.2 đặc ựiểm, hiện tượng và biểu hiện của tham nhũng
a đặc ựiểm
Dựa trên khái niệm về tham nhũng chúng ta có thể rút ra 3 ựặc ựiểm chắnh của tham nhũng như sau:
đặc ựiểm về chủ thể: Chủ thể của tham nhũng phải là những người có
chức vụ, quyền hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một số công việc cụ thể làm việc trong bộ máy nhà nước, bộ máy của đảng chắnh trị, trong bộ máy của các tổ chức kinh tế nhà nước hay tư nhân (nếu hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng)
đặc ựiểm về mặt hành vi: Tham nhũng ựược thể hiện bằng cách người
thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền lực, lợi dụng nhiệm vụ, trọng trách cũng như vị trắ, ựịa vị công tác mà mình ựược giao phó ựể không làm hoặc làm trái với những nguyên tắc quản lý nhà nước, trái với nội dung công việc ựược giao, gây thiệt hại ựến lợi ắch chung của nhà nước, xã hội, các tổ chức và công dân
đặc ựiểm về mặt ựộng cơ, mục ựắch: thể hiện ở chỗ vụ lợi cá nhân cho
bản thân, cho nhóm mang tắnh tập thể hoặc cho những người khác, sự vụ lợi cá nhân về vật chất có thể ựược hưởng ngay nhưng cũng có thể phải qua khâu trung gian, hoặc là chuyển vụ lợi cá nhân cho người thân Những ựặc ựiểm trên ngoài
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tác dụng giúp chúng ta nhận diện những hành vi tham nhũng còn là yếu tố trong cấu thành tội phạm hình sự ñể xử lý những hành vi tham nhũng
b Hiện tượng, biểu hiện
Năm 2001 tại Praha thủ ñô của Cộng hòa Séc, Hội nghị quốc tế chống tham nhũng với sự tham gia của 1200 ñại biểu, trong ñó có các vị tổng thống, thủ tướng, phó thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng, các nghị sĩ, các nhà khoa học… của 130 nước, ñã chỉ ra những hiện tượng chủ yếu của tham nhũng: ñó là những quan chức giàu lên nhanh chóng sau một thời gian ñảm nhiệm những chức vụ quan trọng; là những vụ tư nhân hóa hàng loạt các công ty, xí nghiệp ở các nước có nền kinh tế
ñang chuyển ñổi; là những khoản viện trợ hay những khoản vay kếch xù ñể phát
triển kinh tế xóa ñói giảm nghèo hoặc cứu trợ giúp ñỡ nhân dân hoạn nạn nhưng
ñến ñược với dân thì ít mà ñến với các quan chức chính phủ thì nhiều; là nạn mua
chuộc, hối lộ ñể tổ chức các cuộc bầu cử thiếu minh bạch, hối lộ ñể lập các công ty mới; là nạn rửa tiền của bọn maphia quốc tế…(1)
Học giả Klitgaard ñã xác ñịnh qui luật hoạt ñộng của tham nhũng trong thực tế dưới dạng công thức sau:
“Tham nhũng = ðộc quyền (Monopoly) + Bưng bít thông tin (Discretion)
- Trách nhiệm giải trình (Accountability)” (2)
Theo công thức trên, có thể dễ dàng nhận dạng tham nhũng trong các biểu hiện của nó: thừa ñộc quyền, thừa bưng bít thông tin, thiếu trách nhiệm giải trình Công cụ nhận dạng tham nhũng này cho ta thấy ñược bản chất của tham nhũng, mà con người là yếu tố quan trọng tham gia vào quy trình ñó
Riêng ở Việt Nam những biểu hiện của tham nhũng dễ nhận biết nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản: ñó là sự kém chất lượng và xuống cấp nhanh chóng của các công trình cơ sở hạ tầng như ñường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa thậm chí có công trình ñang làm lễ khánh thành cũng bị sập Ở các lĩnh vực khác là nạn sách nhiễu nhân dân của công chức trong các cơ quan hành chính; hiện tượng ñưa người thân trong gia ñình, họ hàng vào nắm các chức vụ quan trọng trong cùng một cơ quan; hiện tượng ñòi tiền mãi lộ của cảnh sát giao thông hay hiện tượng bắt buộc học sinh phải ñi học thêm trong ngành giáo dục; tham nhũng còn biểu hiện ở hiện tượng một số cán
bộ giàu lên nhanh chóng và biểu hiện ngay cả trong lối sống ăn chơi xa xỉ của
(1) Vũ Hiền - Thế giới chống tham nhũng - Tạp chí cộng sản, số 21 (11/2001), tr 15
(2) Ngân hàng thế giới: Kiềm chế tham nhũng , Sñd tr 169
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
một số cán bộ và con cái họ…Căn cứ đồng lương, kể cả việc sản xuất kinh doanh gia đình cũng khơng thể lý giải được mức sống đĩ Qua hàng loạt vụ án lớn, đều do nhân dân và báo chí phát hiện là chủ yếu, và qua kết quả cơng tác của các đồn Chính phủ, cĩ thể khái quát một số biểu hiện của tham nhũng trong thực tiễn đời sống ở nước ta hiện nay cụ thể được liệt kê như sau(1):
- Một số địa phương, đơn vị ra những chỉ thị, quyết định khơng đúng với chính sách, luật pháp của Nhà nước để thu lợi bất chính, phổ biến là lấy đất cơng
để bán và chia nhau;
- Một số nơi đề ra hàng loạt khoản (cĩ nơi tới trên 30 khoản) bắt nơng dân
đĩng gĩp, bưng bít thơng tin, thiếu cơng khai minh bạch để xà xẻo, tư túi;
- Gây khĩ khăn, sách nhiễu để địi hối lộ dưới nhiều hình thức kể cả mua bằng, bán điểm;
- Vừa là bên A, vừa cĩ quyền chỉ định bên B… để dễ hưởng hoa hồng, lại quả, tham nhũng lớn trong nhiều chương trình, dự án kể cả các chương trình, dự
án nghiên cứu khoa học;
- Khi xây dựng định mức về kinh tế - kỹ thuật thì nâng lên cao, khi thực hiện thì lắt léo để giảm xuống cĩ cơng trình chỉ cịn trên dưới 50%, lấy chênh lệch để chia chác, thơng đồng mĩc ngoặc với nhà thầu, giám sát thi cơng, kiểm tra chất lượng… làm cho hàng loạt cơng trình mặc dù được hội đồng nghiệm thu
đánh giá tốt nhưng mới sử dụng đã xuống cấp, hư hỏng;
- Lợi dụng buơn bán, vận chuyển, đi nước ngồi câu kết với bọn buơn lậu
cĩ tính quốc tế để nhập tàu xe cũ, máy mĩc lạc hậu, rác thải cơng nghiệp… bất chấp hậu quả tai hại cho dân và cho nền kinh tế, miễn là cĩ chênh lệch, cĩ hoa hồng;
- Thơng đồng với nhau để vay tiền ngân hàng, tiền nước ngồi (như vốn ODA) đến hàng nghìn tỷ đồng khơng kể hiệu quả sử dụng để hưởng hoa hồng, bịn rút, tư túi;
- Sử dụng tiền quỹ cơng, tín dụng ưu đãi người nghèo, gia đình chính sách
để cho vay lấy lãi; buơn bán lập quỹ đen; mua tặng phẩm cĩ giá trị lớn tặng lẫn
nhau;
(1) PGS, TS Lê Trọng - Bàn về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta - Tạp chí cộng sản, số 21 (11/2001), tr
18 - 19
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Tạo ra thành tích giả ñể tham ô dưới danh nghĩa tiền thưởng, quà cáp, biếu xén nhau ngày lễ, ngày tết, việc hiếu hỷ ñến hàng trăm tỉ ñồng;
- Tranh mua hàng xuất khẩu, chạy chọt “quota” ñể lấy ngoại tệ, mua hàng tiêu dùng xa xỉ về bán lấy lãi chia nhau… gây lãng phí và rối loạn thị trường;
- Lập những “dự án lừa”, “trồng rừng trên giấy” ñể lấy tiền nhà nước;
- Thậm chí còn tệ hơn là ở một số còn có tình trạng “ăn” cả tiền cứu giúp người ñói nghèo, xã khó khăn, “ăn” chặn tiền ủng hộ bão lụt …
Tất cả những hiện tượng, biểu hiện ñó của tham nhũng diễn ra hàng ngày trước mắt chúng ta và thật sự cũng không khó khăn ñể nhận biết chúng Nhưng
ñiều quan trọng là không phải là ở việc có nhận biết ñược nó hay không mà là ở
chỗ khi nhận biết chúng rồi chúng ta có dám quyết tâm loại trừ chúng hay không 1.2 Khái niệm tham nhũng
Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra ñời của Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước Lịch sử Nhà nước từ khi xuất hiện ñến nay cho thấy, tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của “quyền lực”, là loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu quả do
nó gây ra Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới coi tham nhũng là
một “quốc nạn” cần phải chủ ñộng phòng ngừa và kiên quyết trừng trị bằng
nhiều biện pháp mạnh mẽ Vì vậy, ñể phòng ngừa và ñấu tranh có hiệu quả với tham nhũng ñòi hỏi chúng ta phải hiểu rõ tham nhũng là gì? Những ñặc ñiểm nhận dạng những hành vi tham nhũng, nguyên nhân và hậu quả do nó gây ra… Trong ñó việc xác ñịnh chính xác khái niệm tham nhũng là vô cùng quan trọng Vậy tham nhũng là gì? Thuật ngữ tham nhũng xuất hiện từ bao giờ? Hiện nay có nhiều quan ñiểm khác nhau về vấn ñề này
Thuật ngữ tham nhũng bắt nguồn từ tiếng Latinh Rumpese (ñộng từ) với
nghĩa là bẻ gãy, vi phạm hoặc sai lệch Trong tiếng Anh, tham nhũng ñược gọi
là Corruption xuất phát từ ñộng từ Corrupt nghĩa là bị ñút lót, bị mua chuộc,
ñồi bại…(1) nhằm chỉ các quan chức Nhà nước ñã vi phạm luân thường, ñạo lý
xã hội hoặc các luật lệ ñể tìm kiếm nguồn lợi cho bản thân, gia ñình, bạn bè,
ñảng phái hay các nhóm người có liên quan Thuật ngữ tham nhũng theo cách
hiểu thông thường hiện nay là ñể chỉ những hành vi tiêu cực của những cá nhân, tổ chức có quyền lực lợi dụng chức quyền chiếm ñoạt tài sản, tiền của nhà nước, tổ
(1) Từ ñiển Anh - Việt, NXB TP Hồ Chí Minh - 1997, tr 210
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chức và của công dân ñể thõa mãn lòng tham, tính vụ lợi của cá nhân; là sự kết hợp giữa quyền lực và lòng ham muốn lợi ích cá nhân do những ñiều kiện kinh tế -
xã hội nhất ñịnh cụ thể tác ñộng như cơ chế, chính sách, pháp luật, ñạo ñức…
Xuất phát từ những ñiều kiện, ñặc thù riêng, các quốc gia có sự khác nhau về truyền thống lịch sử, ñặc ñiểm văn hóa, ñiều kiện kinh tế - xã hội, tình hình tham nhũng… nên quan niệm về tham nhũng có khác nhau Chẳng hạn: Từ ñiển Bách
khoa của Brue khaus - ðức nêu khái niệm:“Tham nhũng là hiện tượng mất phẩm
chất, hối lộ, ñút lót, thường xảy ra ñối với công chức có quyền hành” (2) Ở Áo cho
Thụy Sĩ:“Tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có
trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước, ñó là hành vi phạm pháp ñể phục vụ lợi ích
cá nhân” (2) Luật hình sự Trung Quốc quy ñịnh rõ tội phạm tham nhũng và khung hình phạt, Luật giám sát hành chính coi tham nhũng là hiện tượng hủ bại và chống tham nhũng là chống hủ bại Luật chống tham nhũng của Malaixia quy ñịnh tham
nhũng là việc“công chức nhận quà biếu có giá trị bất hợp pháp ñể ñánh ñổi lấy
việc bản thân thực hiện một hành vi dựa trên quyền lực, chức vụ của mình”,
“người có chức quyền nhận quà biếu bất hợp pháp như một khoản thù lao cho việc người ñó lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thực hiện một hành vi có lợi hoặc có hại cho một người khác” (3) Luật chống tham nhũng của Singapo (ðiều 2) quy
ñịnh: Tham nhũng là “tiền hay một hình thức quà biếu, tiền vay mượn, tiền
thưởng, tiền hoa hồng, các bảo ñảm có giá trị tài sản, lợi tức của tài sản dưới hình thức ñộng sản hay bất ñộng sản; chức vụ, công việc hay hợp ñồng; mọi hình thức trả tiền, thanh toán hay miễn trả nợ, miễn thực hiện nghĩa vụ hay các khoản thanh toán khác; mọi hình thức dịch vụ, giúp ñỡ hay tạo ñiều kiện, kể cả việc bảo ñảm không bị hình phạt, không bị kỷ luật hoặc không phải chịu trách nhiệm hình sự hay không phải thực hiện nghĩa vụ khác; mọi hình thức cung phụng, thực hiện hay hứa hẹn sẽ cung cấp về một khoản tiền nào ñó như quy ñịnh trên” (4)
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank viết tắt là WB), tham nhũng là sự
"lạm dụng quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân" ("the abuse of public
power for private benefit") Hội ñồng châu Âu (The Council of Europe), trong
Công ước 1999, tại ñiều 2, ñịnh nghĩa:"Tham nhũng là hành vi ñòi hỏi, ñề nghị,
ñưa hoặc nhận hối lộ hoặc một lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ hoặc lợi ích
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khác, trực tiếp hoặc gián tiếp, làm sai lệch sự thực hiện ñúng ñắn của bất kỳ chức trách hoặc hành vi theo nghĩa vụ nào của người nhận hối lộ, lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ và lợi ích khác ñó" (5)
Còn theo một số chuyên gia về chống tham nhũng thế giới như: Rick Stanpenhurst và Shahrzad Sedigh(6) thì “Tham nhũng, theo nghĩa ñơn giản nhất, là
sự lạm dụng quyền lực, ña phần là ñể ñạt ñược lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của một nhóm mà người ta phải trung thành với nó… Thuật ngữ tham nhũng thường
ñược áp dụng nhất cho sự lạm dụng quyền lực công của các chính khách hay công
chức Nhà nước, thì nó lại mô tả một hình mẫu ứng xử có thể thấy ở hầu như mọi lĩnh vực của cuộc sống” (1) Các ông Petter Langseth và Jeremy Pope(2) thì quan
niệm rằng:“Tham nhũng có thể ñược ñịnh nghĩa như là sự lạm dụng quyền lực
công ñể mưu cầu lợi ích cá nhân hay một lợi ích của một nhóm người mà ta phải trung thành với nó” Theo ñịnh nghĩa của học giả Nye, một ñịnh nghĩa ñược ñánh
giá là vừa ngắn gọn, lại có thể khái quát ñược bản chất của tham nhũng và ñược
nhiều người chấp nhận thì:“Tham nhũng là hành vi làm sai lệch trách nhiệm, bổn
phận chính thống của một vai trò vì tiền hoặc tài sản trục lợi cho cá nhân (hoặc cho người thân), xâm phạm các quy tắc, ngược lại với cách hành xử chuẩn mực, liên quan ñến quyền lợi cá nhân” (3)
Tại Hội nghị Quốc tế về chống tham nhũng họp ở Bắc Kinh (Trung Quốc)
ngày 10/10/1995, khái niệm tham nhũng ñược ñịnh nghĩa “là lòng tham của con
người thông qua quyền lực” (4) Cách ñịnh nghĩa này có tính tổng hợp và ñúc kết
ñược những yếu tố hợp lý, xác thực; nó khẳng ñịnh toàn bộ hành vi tham nhũng
của con người xuất phát từ lòng ham muốn vật chất của chính những người có chức phận hoặc thế lực nằm trong hệ thống chính trị của mỗi quốc gia; tham nhũng là yếu tố luôn tiềm ẩn ở mọi Nhà nước, khi có cơ hội hoặc không bị kiểm soát là có thể nảy sinh và phát triển Công ước quốc tế về chống tham nhũng của
(1) Ngân hàng thế giới: Kiềm chế tham nhũng hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch quốc gia
- NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 1
(2) Petter Langseth - chuyên gia cao cấp và quản lý khu vực công cộng, bộ phận cải cách quy chế và phát triển khu vực tư nhân, Viện phát triển kinh tế, Ngân hàng Thế giới; Jeremy Pope - Giám ñốc phụ trách nghiên cứu Transperency International (Tổ chức minh bạch quốc tế)
(3)
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2 (9/2005), tr 22
(4) (5) Luật gia Phạm Thành Nam - TS ðỗ Thị Thạch: Phát huy dân chủ trong ñấu tranh chống tham
nhũng ở nước ta hiện nay - NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2005, tr 13
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Liên hiệp quốc ựã quan niệm:ỘTham nhũng là sự lợi dụng quyền lực nhà nước
Ở Việt Nam, câu thành ngữ ỘQuan tham, lại nhũngỢ ựã khái quát nhận
thức của nhân dân ta về tham nhũng trong các triều ựại phong kiến trước ựây (Quan thì tham lam, Lại thì nhũng nhiễuẦ vơ vét của công, sách nhiễu lấy của dân về làm của riêng) Trong quá trình triển khai thực hiện cuộc ựấu tranh chống tham nhũng hiện nay, chúng ta ựã ngày càng nhận diện ựầy ựủ hơn về tham nhũng trên cơ sở khoa học và thực tiễn Theo từ ựiển tiếng Việt của Trung tâm từ
ựiển học thì ỘTham nhũng là lợi dụng quyền hành ựể nhũng nhiễu nhân dân và
lấy củaỢ (6) Còn theo Luật phòng, chống tham nhũng vừa ựược Quốc hội thông
qua ngày 29/11/2005 tại điều 1 khoản 2 thì:ỘTham nhũng là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn ựã lợi dụng chức vụ, quyền hạn ựó vì vụ lợiỢ
Như vậy là hiện nay, ựang tồn tại nhiều cách hiểu, cách xác ựịnh khác nhau về khái niệm tham nhũng Tuy nhiên, qua nghiên cứu ta thấy rằng hầu hết các ý kiến ựều thống nhất ở một ựiểm là: Tham nhũng chỉ do những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện với ựiều kiện là họ ựã lợi dụng chức vụ, quyền hạn ựó ựể vụ lợi Những người có thể tham nhũng chủ yếu là cán bộ, công chức nhà nước, nhưng cũng có thể là cán bộ, nhân viên của các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tếẦ có chức vụ, quyền hạn Những lợi ắch mà họ có ựược từ tham nhũng chủ yếu là lợi ắch vật chất, nhưng cũng có thể là lợi ắch tinh thần, lợi ắch chắnh trị hoặc các loại lợi ắch khác mà họ mong muốn ựạt ựược
Trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa các quan niệm về tham nhũng của nhiều nước trên thế giới cũng như của một số học giả trong và ngoài nước, chúng ta
có thể thấy rằng quan niệm phổ biến nhất hiện nay coi tham nhũng là hành vi
của người có chức vụ, quyền hạn, ựã lợi dụng chức vụ, quyền hạn ựó ựể tham
ô, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì ựộng cơ vụ lợi Hành vi tham
nhũng thường ựược biểu hiện bằng việc các công chức nhà nước cố ý làm trái các quy ựịnh pháp luật trong chấp hành chức trách, công vụ ựược giao hoặc không thực hiện chức trách, công vụ ựược giao Những biểu hiện tập trung và
ựiển hình nhất là ở hành vi tham ô và nhận hối lộ Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì
hành vi tham nhũng không những chỉ xảy ra ở khu vực nhà nước mà còn xảy ra trong khu vực tư nhân Tuy nhiên trong khuôn khổ ựề tài nghiên cứu này chúng
ta chỉ xem xét tham nhũng trong khu vực công - khu vực Nhà nước
(6)
Từ ựiển tiếng Việt - NXB đà Nẵng -1998, tr 878
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2 NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA THAM NHŨNG
2.1 Nguyên nhân
Xung quanh vấn đề nguyên nhân của hiện tượng tham nhũng cũng cĩ nhiều
ý kiến khác nhau, cĩ ý kiến nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế - xã hội; cĩ ý kiến cho rằng do cơ chế quản lý cịn nhiều nhược điểm, nhiều sơ hở và thiếu đồng bộ;
cĩ ý kiến lại cho rằng tham nhũng xảy ra nhiều là do các cơ quan bảo vệ pháp luật cịn quá yếu, bất cập trong việc phịng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng… tất cả các ý kiến trên đều đúng nhưng vẫn chưa tồn diện và chưa thể hiện được đầy đủ những nguyên nhân phát sinh, tồn tại của tham nhũng Qua nghiên cứu, tổng hợp các ý kiến và xem xét tồn diện vấn đề chúng ta thấy cĩ các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:
2.1.1 Nguyên nhân khách quan
a ðiều kiện kinh tế - xã hội
Sự biến động mạnh mẽ về kinh tế - xã hội đã dẫn đến sự biến động trên nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội Sự biến động này bên cạnh những tác động tích cực thì những tác động tiêu cực của nĩ cũng là một nguyên nhân cơ bản tạo điều kiện cho tệ tham nhũng hồnh hành và phát triển
Về kinh tế, tình hình chung ở các nước đang phát triển như nước ta hay các
quốc gia cơng nghiệp mới thì tham nhũng tràn lan cùng với sự tăng trưởng và bùng nổ của nền kinh tế do nhà nước kiểm sốt gắn liền với các tập đồn kinh tế lớn thu lợi từ sự phát triển bùng nổ này Bởi vì trong quá trình thực hiện các chính sách kinh tế cĩ sự kiểm sốt của chính phủ tham nhũng gia tăng do quy
định quá mức về thể lệ cấp phép và các giấy tờ tương tự
Ở nước ta kể từ 1986 khi tiến hành đổi mới, mở cửa đến nay, chúng ta đã
cải cách chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với việc đổi mới kinh tế là đổi mới cơ chế quản lý nhưng với bộ máy quản lý hành chính cũ kỹ, quan liêu, mệnh lệnh khơng đáp ứng được yêu cầu phát triển của các thành phần kinh tế và các nhân tố mới Khi chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới giai
đoạn đầu chúng ta chưa kịp thích ứng: hệ thống chính sách, pháp luật chưa hồn
chỉnh, thiếu đồng bộ thậm chí cịn chống chéo nhau; một số địa phương quá tập trung cho phát triển kinh tế mà đưa ra một số quy định chưa phù hợp với quy
định của Nhà nước; thủ tục hành chính rườm rà qua nhiều khâu trung gian, tạo
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kẽ hở dẫn ñến tiêu cực, tham nhũng; ñồng thời gây nhiều phiền hà cho nhân dân cũng như cho các nhà ñầu tư
Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập về kinh tế (một xu thế tất yếu của thời ñại ngày nay), trao ñổi thương mại và sự luân chuyển các nguồn tài chính và nạn “rửa tiền” (mới xuất hiện ở nước ta trong vài năm gần ñây) cùng với việc du nhập của lối sống hưởng thụ, thực dụng kiểu phương Tây vào nước
ta cũng là yếu tố làm nghiêm trọng thêm tình trạng tham nhũng Trong ñiều kiện của nền kinh tế thị trường với những mặt tốt xấu ñan xen nhau; mặt trái của cơ chế thị trường làm nảy sinh những yếu tố phức tạp, tiêu cực mới, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc là rất nguy hiểm tác ñộng trực tiếp
ñến ñội ngũ cán bộ, công chức nhà nước (mà ña phần chưa ñược ñào tạo ñầy
ñủ(1) lại gặp ñời sống khó khăn ñồng lương không ñủ chi phí trang trải cho cuộc sống gia ñình), nhất là khi nạn tha hóa cán bộ ñang phát triển như hiện nay thì ñó
là mảnh ñất màu mỡ cho tệ tham nhũng nảy mầm và phát triển
Nước ta bắt ñầu tiến hành cải cách, mở cửa trong ñiều kiện nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng, lạm phát phi mã, ñời sống nhân dân rất khó khăn Những biến ñổi về kinh tế ñã tác ñộng trực tiếp ñến việc giải quyết các vấn ñề xã hội, nhiều vấn ñề xã hội nóng bỏng, cấp bách cần giải quyết bị kéo dài và ngày càng phức tạp Số người thất nghiệp tăng Kết cấu hạ tầng cho sản xuất và sinh hoạt như ñường sá, trường học, bệnh viện, phương tiện ñi lại, thông tin liên lạc… còn lạc hậu, chậm ñược ñổi mới Hiện tượng mất dân chủ, vi phạm pháp luật và
kỷ cương xã hội không giảm, trật tự an toàn xã hội chưa ñược ổn ñịnh Các truyền thống, nếp sống xã hội, tinh thần ñạo ñức, quan hệ giữa người với người
bị xói mòn, xuống cấp Trong xã hội ta hiện nay dường như ñang hình thành một tâm lý mặc nhiên thừa nhận những hành vi tham nhũng, tiêu cực, chấp nhận việc
lo lót ñối với một số cán bộ, công chức ñể giải quyết công việc; coi việc lo lót như là sự trả ơn như khi làm giấy tờ liên quan ñến nhà ñất, ñến sản xuất kinh doanh; ñể ñược khám chữa bệnh; ñể thầy cô quan tâm ñến con cái; ñể nhận trợ cấp xã hội; xin giấy phép ñầu tư; nhận ñề tài nghiên cứu khoa học…
Tham nhũng, tiêu cực là môi trường phi xã hội chủ nghĩa, ñối lập với bản chất của chế ñộ ta vì bản chất của chế ñộ xã hội chủ nghĩa không sinh ra tham
nhũng; tham nhũng tiêu cực là một thứ “giặc nội xâm” chúng ta cần phải quét
(1) Theo Số liệu ñiều tra của ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ năm 2002 ở nước ta có 69,3% số ủy viên UBND chưa ñược ñào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý nhà nước; có 85,2% cán bộ trong HðND và 82,2% cán bộ trong UBND chưa ñược ñào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
sạch Nhưng thật ựáng tiếc là hiện nay chúng ta chưa ngăn chặn, ựẩy lùi ựược chúng chứ chưa nói là tiêu diệt hay quét sạch chúng, môi trường này lại ựang hình thành ở trong xã hội ta
Chúng ta ựang cố gắng hướng tới xây dựng một xã hội tôn vinh những giá trị
ựạo ựức, tri thức, nhưng trên thực tế tệ tham nhũng, tiêu cực lại ựang xô ựẩy không
ắt cán bộ, ựảng viên, công chức nhà nước chạy theo vật chất, chủ nghĩa thực dụng
Có nhà nghiên cứu ựã nhận xét rằng:ỘTinh thần nhân văn cao ựẹp mà bấy lâu nay
ựược coi như nguyên tắc sống của xã hội: mình vì mọi người, mọi người vì mình,
bị xem nhẹ ựến mức ngượng ngùng khi ai ựó nhắc ựến nó Không ắt người (trong
ựó có những cán bộ trong các cơ quan Nhà nước - những công bộc của nhân dân)
giờ ựây ựang ủng hộ nguyên tắc ứng xử Ộsòng phẳngỢ theo kiểu Ộtiền trao, cháo
múcỢ mà không quan tâm ựến người khác Nghĩa vụ xã hội của công dân dường
như ngày càng bị thu hẹp hoặc thực hiện thiếu tự giác; các phúc lợi hết sức tốt ựẹp của chế ựộ xã hội chủ nghĩa trước ựây không những không ựược phát huy mà còn
bị mai một, thậm chắ bị hủy bỏ, nhất là trong giáo dục, y tếẦ Không ắt học sinh ngày càng ắt biết ựến nhiệm vụ quản trường, quản lớp; không ắt thầy cô giáo quên
cả nhiệm vụ phải giúp ựỡ học sinh Các mối quan hệ ựó ựang dần ựược thay thế bằng tiền và phải có tiềnỢ(1) Những hành vi trên không chỉ ảnh hưởng có hại hiện nay mà sẽ tác ựộng tiêu cực tới thế hệ tương lai của ựất nước Chúng ta hãy nghĩ xem một khi những cán bộ, công chức tương lai ựược sống, ựược giáo dục ựào tạo trong một môi trường như vậy thì sau này khi ựược giữ những chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước họ sẽ làm việc và phục vụ ựất nước, phục vụ nhân dân thế nào?
đất nước ta ựang ngày càng phát triển, công cuộc ựổi mới ựất nước ựang tiếp
tục ựược ựẩy mạnh, ựiều kiện kinh tế - xã hội ngày càng ựược cải thiện tốt hơn, Việt Nam ựang ngày càng hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới Nền kinh tế thị trường ựịnh hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục ựược xây dựng, hoàn thiện và phát triển thì mặt trái của nó với những tác ựộng tiêu cực vẫn còn là mảnh
ựất cho tham nhũng tồn tại Do vậy ựây không chỉ là nguyên nhân trước mắt mà còn
là nguyên nhân lâu dài của tình trạng tham nhũng, tiêu cực
b Cơ chế (1) quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của ựời sống xã hội
(1) Nguyễn Văn Thụy - Tình hình tham nhũng trong cán bộ, ựảng viên - Tạp chắ cộng sản, số 15 (8/2004),
tr 53
(1) Cơ chế là một cách thức theo ựó một quá trình thực hiện - Từ ựiển tiếng Việt, NXB đà Nẵng 1998
tr 207 Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát cơ chế là hình thức tổ chức (nói gọn là bộ máy con
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ðây là một nguyên nhân rất quan trọng nữa mà có rất nhiều ý kiến cho rằng ñây là nguyên nhân chính, nguyên nhân chủ yếu nhất sinh ra tệ nạn tham nhũng
ñó là: cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội; cơ chế tiền lương; cơ chế chi tiêu
thanh toán; cơ chế ñào tạo và tuyển chọn cán bộ; cơ chế thanh tra, kiểm tra…Cụ
thể như: Cơ chế “xin - cho” các chương trình, dự án, nguồn vốn ñầu tư, vốn tín
dụng ưu ñãi, vốn ODA còn tồn tại ở không ít nơi Cơ chế quản lý ñầu tư xây dựng cơ bản, quản lý ñất, vốn, tài sản nhà nước, tài sản doanh nghiệp, hoạt ñộng xuất, nhập khẩu chưa chặt chẽ Việc thực hiện chế ñộ, chính sách thiếu công khai, minh bạch Hoạt ñộng thu, chi tài chính, tuyển dụng, ñề bạt, bổ nhiệm cán
bộ chưa nghiêm…
Từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơ chế thị trường
ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước ta ñang ñổi mới cơ chế, phương pháp
quản lý bằng những công cụ chính sách và pháp luật nhằm giữ vững mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh Tuy nhiên do mới xây dựng nền kinh tế thị trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý kinh tế - xã hội chưa hoàn thiện, còn không ít sơ hở Những cơ chế này ñã thiếu
ñồng bộ, thiếu chặt chẽ lại không thống nhất thậm chí còn chống chéo nhau Mà
trong cơ chế hiện nay thì phi lý và tiêu cực nhất là cơ chế tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức Thứ ñến là cơ chế chi tiêu thanh toán phổ biến dùng tiền mặt, khiến cho việc ăn cắp công quỹ khá dễ, và sau nữa nhưng cũng quan trọng không kém là cơ chế ñề bạt, cất nhắc cán bộ thiếu công khai, minh bạch dễ dẫn
ñến tệ mua quan bán tước, chạy quyền chạy chức
Cơ chế là một nguyên nhân rất quan trọng vì mỗi cơ chế hình thành là do một ñiều kiện kinh tế - xã hội quy ñịnh Khi ñiều kiện kinh tế - xã hội thay ñổi thì cơ chế cũng phải thay ñổi theo ñể thích ứng Ở nước ta khi ñiều kiện kinh tế
xã hội có những khủng hoảng, biến ñộng, kinh tế khó khăn xã hội mất ổn ñịnh buộc chúng ta phải tiến hành cải cách mở cửa chuyển ñổi cơ chế, từ cơ chế quản
lý hành chính quan liêu(1) sang cơ chế quản lý mới cơ chế thị trường Chính trong giai ñoạn chuyển ñổi này khi mà cơ chế cũ chưa mất ñi, cơ chế mới ñang ñược xây dựng nhưng chưa hoàn thiện (cơ chế quản lý kinh tế, xã hội còn quá nhiều sơ
người), kèm theo ñó là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cả bộ máy, của từng bộ phận
và từng cá nhân trong bộ máy ñó, ñể vận hành tất nhiên là trong ñó có cả vai trò ñiều hành, quản lý, thực hiện… tiến tới ñạt bằng ñược mục ñích ñề ra cho bộ máy ñó
(1) Theo từ ñiển tiếng Việt, tr 771 thì Quan liêu là cách thức lãnh ñạo, chỉ ñạo thiên về dùng mệnh lệnh, giấy tờ, xa thực tế, xa quần chúng Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh tệ quan liêu là nguồn gốc của
tham nhũng, lãng phí Bác nói “có nạn tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu”
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hở, lỏng lẻo và yếu kém) dẫn tới tình trạng rất nhiều người, rất nhiều vị trắ công việc người ta có thể dễ dàng chiếm ựoạt tiền bạc, của cải, tài sản của nhà nước, của nhân dân làm của riêng đó là ựiều kiện, là môi trường thuận lợi cho tệ tham
nhũng phát triển
c Sự yếu kém của các cơ quan bảo vệ pháp luật
Nguyên nhân này cũng một phần do xuất phát từ hai nguyên nhân trên ựó
là những hạn chế, yếu kém của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc phát hiện và xử lý những hành vi tham nhũng Sự yếu kém hạn chế này một mặt do: lãnh ựạo các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, Kiểm sát, Toà án, Thanh tra) chưa quan tâm ựúng mức ựến việc chỉ ựạo xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế của ựơn vị và ngành mình; chưa tăng cường ựúng mức cán bộ có bản lĩnh vững vàng, phẩm chất ựạo ựức tốt, tinh thần trách nhiệm cao vào các vị trắ chủ chốt của ựơn vị, ngành Nhận thức, quan ựiểm ựối với việc phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng chưa kiên quyết và thống nhất; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa hoàn thiện
rõ ràng; lực lượng cán bộ mỏng, có nhiều hạn chế về trình ựộ chuyên môn, nghiệp vụ
Một mặt do ựiều kiện kinh tế của ựất nước còn khó khăn nên ựiều kiện vật chất và trang bị kỹ thuật phục vụ công tác ựấu tranh phòng chống tham nhũng còn thiếu thốn, nghèo nàn và lạc hậu Hiện nay, mặc dù ựã ựược trang bị thêm nhiều phương tiện, trang bị mới nhưng lực lượng ựấu tranh chống tội phạm nói chung và tội tham nhũng nói riêng vẫn chưa có ựầy ựủ phương tiện hiện ựại ựảm bảo ựáp
ứng yêu cầu của cuộc ựấu tranh với những thủ ựoạn ngày càng tinh vi, phức tạp
của bọn tội phạm tham nhũng
Một lý do nữa rất quan trọng ựó là cơ chế hoạt ựộng của các cơ quan bảo vệ pháp luật: cơ chế Ộsong trùngỢ trực thuộc tức là các cơ quan này (trừ ngành kiểm sát) ngoài việc chịu sự lãnh ựạo dọc theo ngành của Bộ chủ quản vừa chịu sự lãnh ựạo của chắnh quyền ựịa phương cùng cấp Chẳng hạn như ngành công an là lực lượng chủ lực trong cuộc ựấu tranh phòng, chống tham nhũng (Bộ công an giao nhiệm vụ phòng ngừa và ựấu tranh chống tham nhũng cho lực lượng cảnh sát ựiều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ) vừa chịu sự lãnh ựạo của Bộ công an vừa phải chịu sự chỉ ựạo của chắnh quyền ựịa phương cùng cấp mà các vụ tham nhũng thường do những quan chức chắnh quyền hay những kẻ tham nhũng có mối quan hệ với các quan chức trong chắnh quyền ựịa phương từ huyện ựến tỉnh
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Và chắnh những quan chức tỉnh, huyện này lại là người trực tiếp hoặc gián tiếp quyết ựịnh sinh mệnh chắnh trị của lãnh ựạo công an tỉnh, quận, huyện và cán bộ, chiến sĩ cảnh sát ựiều tra tội phạm kinh tế và chức vụ đó chắnh là những Ộlực cản vô hìnhỢ rất mạnh (nhưng ắt có dấu vết) làm cho lãnh ựạo công an tỉnh, huyện Ộkhông dám ựiều traỢ hoặc không ựiều tra ựược tham nhũng Vì vậy mà khả năng phát hiện và xử lý những hành vi tham nhũng của các cơ quan bảo vệ pháp luật bị hạn chế, bọn tội phạm tham nhũng không bị phát hiện sẽ ngày càng
lộng hành
d Công tác tuyên truyền pháp luật
Hiện nay, công tác tuyên truyền pháp luật cho các tầng lớp nhân dân còn yếu kém, mang nặng tắnh hình thức điều này dẫn tới việc hiểu biết về pháp luật,
về quyền và nghĩa vụ công dân của người dân còn kém, nhiều người dân không biết, không hiểu rõ mình có những quyền và nghĩa vụ gì đa số người dân chưa hiểu rõ thậm chắ không hiểu một ựiều rằng việc thực hiện những công việc hành chắnh theo yêu cầu của nhân dân là nhiệm vụ của cán bộ, công chức nhà nước; không hiểu rằng phục vụ nhân dân là nghĩa vụ của cán bộ, công chức Không
biết rằng trong chế ựộ taỘcán bộ, công chức là công bộc của nhân dânỢ
Cụ thể công tác tuyên truyền, giáo dục về cuộc ựấu tranh chống tham nhũng chưa ựược chỉ ựạo thường xuyên, chưa huy ựộng ựược sức mạnh của toàn xã hội
tố giác các hành vi tham nhũng, chưa tạo ựược dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ những cán bộ có chức, có quyền tham nhũng Việc biểu dương người tốt, việc tốt, người có công trong cuộc ựấu tranh chống tham nhũng làm chưa tốt Chắnh những ựiều này là nguyên nhân, cũng là ựiều ựiều kiện thuận lợi cho nạn tham nhũng tồn tại
2.1.2 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân về kinh tế xã hội và cơ chế quản lý có ảnh hưởng rất lớn ựến quá trình hình thành ý ựồ thực hiện những hành vi tiêu cực, tham nhũng của những cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước Bởi lẽ họ cũng là những con người mà con người là một thực thể xã hội luôn bị tác ựộng và phụ thuộc vào hoàn cảnh, môi trường xã hội Song nếu chúng ta chỉ hiểu nguyên nhân của tình trạng tham nhũng là như vậy thì không thể giải thắch ựược một sự thật là ựội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ựều chịu tác ựộng bởi ựiều kiện sơ hở
và sự buông lỏng quản lý trong một thời gian dài nhưng không phải tất cả ựều
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thực hiện hành vi tham nhũng Trái lại chỉ có một bộ phận thực hiện hành vi xấu
ta cần xem xét nguyên nhân của hành vi tham nhũng và các hành vi tiêu cực khác trong một tổ hợp thống nhất biện chứng giữa chủ thể của hành vi với những nguyên nhân khách quan bên ngoài của nó Với ý nghĩa ñó, chúng ta có thể nói rằng: những nguyên nhân về ñiều kiện kinh tế - xã hội và cơ chế cũng như một
số nguyên nhân khách quan khác là rất quan trọng, nhưng nguyên nhân xuất phát
từ tâm sinh lý, ý thức, hệ tư tưởng của con người với tư cách là chủ thể của những hành vi mới là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân có tính chất nội lực quyết ñịnh
Nói ñến tâm sinh lý của con người là nói ñến nhu cầu Con người có nhu cầu nhưng ñồng thời cũng có ý thức về nhu cầu, về cách thức, con ñường ñể thõa mãn nhu cầu Ý thức sai về cách thức, con ñường ñể thỏa mãn nhu cầu (tức là ý thức vượt qua chuẩn mực của pháp luật và cộng ñồng xã hội) chính là nguyên nhân trực tiếp của các hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội nói chung và hành vi tham nhũng nói riêng Chỉ khi nào con người có ý thức sai về con ñường thỏa mãn nhu cầu mới có thể trở thành nguyên nhân trực tiếp thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật
Ý thức sai về con ñường thỏa mãn nhu cầu và biểu hiện ña dạng của nó là các loại hình tâm lý tiêu cực trong ñó có các dạng là: lòng tham, tính vị kỷ, khát vọng làm giàu bằng cách không chính ñáng, ý muốn chiếm ñoạt tài sản của người khác bằng bất kể con ñường nào kể cả vi phạm ñạo ñức, pháp luật Những người thực hiện các hành vi tiêu cực tham nhũng ñều chịu ảnh hưởng và
bị chi phối trực tiếp bởi tâm lý tiêu cực vụ lợi này
Tâm lý tiêu cực vụ lợi luôn vận ñộng và phát triển trong con người; và khi gặp những ñiều kiện thuận lợi chúng tiến công gieo rắc quan ñiểm, lối sống lệch lạc lấy ñồng tiền làm mục ñích và ñộng lực phấn ñấu Một khi ñã nhiễm nặng tâm lý tiêu cực vụ lợi và nó trở thành ý thức, quan ñiểm sống thì lý tưởng, lòng tin trở nên mờ nhạt và xa lạ Và khi ñó, họ bất chấp cả ñạo ñức, pháp luật
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hễ có những ñiều kiện thuận lợi là dễ dàng dùng mọi cách ñể chiếm ñoạt tài sản của nhà nước và công dân, biến công thành tư
Thực tế cũng ñã chứng minh ñây mới là nguyên nhân chính, trong hầu hết các vụ án tham nhũng mà chúng ta phát hiện và xử lý thì những người phạm tội tham nhũng ña số ñều có cuộc sống và hoàn cảnh kinh tế khá giả, cao hơn nhiều
so với mức sống trung bình trong xã hội ðiều ñó chứng tỏ rằng nguyên nhân không hoàn toàn do hoàn cảnh kinh tế - xã hội, do cơ chế và những yếu tố khách quan khác tác ñộng tới mà nguyên nhân trực tiếp là do yếu tố tâm lý tiêu cực vụ lợi của người phạm tội
Tuy nhiên, tâm lý tiêu cực vụ lợi, sự tham lam, tính vị kỷ, khát vọng làm giàu bằng bất kỳ con ñường nào, cũng như ý thức coi thường pháp luật không phải là thuộc tính có sẵn, bẩm sinh trong con người Như Chủ tịch Hồ Chí Minh
ñã nói “Hiền dữ phải ñâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” (1) Bản
bị tác ñộng bởi hoàn cảnh, môi trường bên ngoài Các yếu tố này tác ñộng vào nhu cầu, ý thức, tư tưởng, tình cảm của con người Mối quan hệ biện chứng giữa
sự tác ñộng của các yếu tố khách quan (bên ngoài) với các yếu tố chủ quan (bên trong) của con người ảnh hưởng trực tiếp ñến nhu cầu và ý thức về con ñường thỏa mãn nhu cầu
Chính vì vậy, trong khi chú ý ñến yếu tố tâm lý xã hội, yếu tố bên trong với
tư cách là nguyên nhân trực tiếp của hành vi tham nhũng thì ñồng thời chúng ta cũng phải chú ý tất cả các yếu tố tiêu cực bên ngoài ñang tác ñộng ñến ý thức của con người về nhu cầu và con ñường thỏa mãn nhu cầu Có phân tích, tìm hiểu một cách khách quan, toàn diện các nguyên nhân và mối liên hệ giữa chúng thì chúng ta mới ñề ra ñược những biện pháp hữu hiệu ñể phòng ngừa, ngăn chặn
và ñẩy lùi tệ nạn tham nhũng
2.2 Hậu quả
Tham nhũng hiện nay ñang là vấn ñề nhức nhối của hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt nước giàu hay nghèo, theo chế ñộ chính trị nào Nó
là căn bệnh của bộ máy nhà nước có tác ñộng tiêu cực tới tất cả các lĩnh vực của
ñời sống kinh tế, chính trị, xã hội Hậu quả của nạn tham nhũng là rất nghiêm
trọng, theo thống kê của Văn phòng Chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp
(1) Nửa ñêm - CD Hồ Chí Minh toàn tập - NXB Chính trị quốc gia 2005
(2) Giáo trình Triết học Mác - Lênin - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999, tr 612
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Quốc (UNODC) mỗi năm toàn cầu mất ñến 1.000 tỷ USD Nghiêm trọng hơn, theo Chủ tịch TI Peter Egen, tham nhũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra ñói nghèo và là rào cản rất lớn của sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Hậu quả
do tham nhũng gây ra có thể làm băng hoại các giá trị truyền thống văn hóa và
ñạo ñức của các dân tộc, làm tê liệt bộ máy nhà nước của các quốc gia thậm chí
làm sụp ñổ cả một chế ñộ xã hội Cụ thể các mặt như sau:
2.2 1 Về mặt kinh tế
Tham nhũng làm chậm sự phát triển về kinh tế của ñất nước, là nguy cơ làm cho nước ta bị tụt hậu xa hơn về kinh tế Tham nhũng làm thất thoát ñáng kể ngân sách Nhà nước, tiền ñóng góp từ mồ hôi, nước mắt của nhân dân; tham nhũng dẫn ñến năng suất lao ñộng xã hội giảm sút, giá thành sản phẩm xã hội tăng cao, khả năng cạnh tranh của kinh tế ñất nước ñã yếu kém càng yếu kém hơn Nguy hại hơn tham nhũng sẽ làm suy giảm, thậm chí có thể làm triệt tiêu
ñộng lực của lao ñộng Qua một số vụ tham nhũng bị phát hiện và ñược ñưa ra
xét xử trong những năm gần ñây như vụ Mường Tè (Lai Châu); vụ Mai Văn Huy; vụ Tăng Minh Phụng; vụ Lã Thị Kim Oanh và mới ñây là vụ PMU18… cho thấy rằng, tham nhũng ñã ăn cắp các nguồn lực công cộng, làm cho các nguồn ñầu tư trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội bị sử dụng không hiệu quả và không ñúng mục ñích, làm suy yếu tính ổn ñịnh kinh tế vĩ mô, làm chậm lại hoạt ñộng ñầu tư trực tiếp nước ngoài Kinh nghiệm quốc tế cho thấy: tham nhũng làm chậm nhịp ñộ phát triển hàng năm của mỗi nước khoảng 0,5 - 1%(1)
Bộ Công an tổng kết 10 năm công tác ñấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu ở nước ta ñã ñưa ra nhận xét với con số ñáng báo ñộng: thiệt hại do tham nhũng gây ra tăng ngày một nghiêm trọng hơn Nếu như trong năm 1993 thiệt hại do tham nhũng gây ra bị phát hiện là 319 tỷ ñồng thì ñến năm 2004 thiệt hại lên tới 712 tỷ ñồng(2) Trong năm 2005 lực lượng công an ñã phát hiện, ñiều tra
1051 vụ tham nhũng, làm thiệt hại 2310 tỷ ñồng của nhà nước và nhân dân Theo Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ thì riêng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản “không có công trình nào thất thoát dưới 20%” Nếu theo tỷ lệ ñó nhân lên,
sẽ thất thoát khoảng 30 ngàn tỷ ñồng, số tiền này ñủ ñể trả lương cho khu vực
(1) Tạp chí cộng sản, số 21 (11/2001), tr 15
(2) Báo An ninh ñời sống, số ra ngày 9/6/2005
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hành chắnh, sự nghiệp của cả nước Chỉ cần giảm 10% thất thoát trong xây dựng
cơ bản là có thể ựủ nguồn ựể cải cách tiền lương(1)
Tham nhũng chẳng những là sự bóc lột tiền của, tài sản của nhân dân - những người lao ựộng chân chắnh mà còn ựể lại hậu quả nặng nề là trong tương lai không xa chắnh chúng ta và con cháu chúng ta phải nai lưng lao ựộng ựể bù
ựắp sự thâm hụt ngân sách nhà nước thông qua những khoản ựóng góp phụ trội
dưới dạng thuế, công trái bắt buộc hay nghĩa vụ lao ựộng công ắchẦ Xa hơn nữa, khi ngân khố bị tham nhũng bòn rút rỗng, chỉ còn lại các con số khống trên giấy tờ; khi những khoản viện trợ, những khoản vay nước ngoài ựến kỳ phải trả thì ai sẽ là người phải gánh chịu những món nợ khổng lồ ựó của Nhà nước?
đương nhiên vẫn là chắnh chúng ta những người lao ựộng và các thế hệ con
cháu Có vay thì phải trả ựó là sự khắc nghiệt của kinh tế thị trường Một khi không ựủ ngân sách ựể trả nợ thì phải quy ựổi tương ựương bằng việc bán non tài nguyên thiên nhiên hoặc bán rẻ nhân công và ựáng sợ nhất là bằng việc hy sinh
quyền lợi của dân tộc, chủ quyền quốc gia trong thương lượng quốc tế
2.2.2 Về mặt chắnh trị - xã hội
Tham nhũng thúc ựẩy sự phân hóa giàu nghèo, làm giàu bất chắnh ngày càng nhanh, ảnh hưởng xấu ựến giá trị, chuẩn mực xã hội Tham nhũng sẽ phát sinh ra tệ lãng phắ: ựồng tiền kiếm ựược một cách dễ dàng sẽ không ựược trân trọng mà sẽ ựược ựem tiêu xài phung phắ, xa hoa trác táng dẫn ựến sa ựọa về ựạo
ựức, lối sống, làm ựảo lộn các giá trị, trật tự xã hội Tham nhũng tạo ra sự bất
công, bất bình ựẳng xã hội: Người có tài sống chân chắnh, ngay thẳng thì không hoặc ắt ựược trọng dụng; kẻ có tiền hối lộ, ựút lót thì dễ dàng tiến thân từ học hành ựến công tác, từ kinh doanh ựến quản lý nhà nước Chắnh vì vậy tham nhũng ựược coi là tệ nạn của mọi tệ nạn
Tham nhũng làm mất lòng tin của nhân dân vào cơ cấu, thể chế của xã hội, thậm chắ dẫn ựến ựổ vỡ hoàn toàn một cơ cấu xã hội nhất ựịnh hoặc dẫn tới tình trạng vô chắnh phủ Có nhà nghiên cứu cho rằng ựây chắnh là hình ảnh của sự phá hủy dần dần Tham nhũng làm xói mòn phẩm chất, ựạo ựức cách mạng, tha hóa và làm hỏng một bộ phận không nhỏ cán bộ, ựảng viên gây nên sự bất bình
từ phắa nhân dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân ựối với đảng, Nhà nước
đánh mất lòng tin của nhân dân là ựánh mất cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho sự tồn
tại của đảng, Nhà nước và chế ựộ xã hội chủ nghĩa Dưới sự khống chế của tham
(1) Tạp chắ cộng sản, số 15 (8/2004), tr 51 - 52
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhũng, quyền lực Nhà nước chỉ còn lại lực mà không còn quyền vì tắnh ựồng thuận xã hội ựã mất Sự kiện xảy ra ở Thái Bình năm 1997 và một số nơi trong những năm qua ựã chứng minh ựiều ựó Chắnh vì vậy tham nhũng là kẻ thù của nhân dân ta và chế ựộ ta
Thời gian qua ở nước ta, một bộ phận không nhỏ cán bộ, ựảng viên thoái hóa biến chất vì tệ nạn tham nhũng Họ ựã lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế, chắnh sách quản lý, luật pháp của nhà nước ựể tham ô, hối lộ; trao ựổi quyền, tiền
và những lợi ắch khác; lợi dụng chức quyền ựể sách nhiều nhân dân Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công an, trước kia, chủ thể của các vụ tham nhũng chỉ là những người có chức vụ trong các cơ quan quản lý kinh tế, doanh nghiệp nhà nước; thì từ 1993 ựến nay, ựối tượng tham nhũng lại là những người ựang giữ chức vụ rất cao trong các cơ quan quản lý nhà nước đã có 1 bộ trưởng, 5 thứ trưởng, 14 chủ tịch và phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cùng hàng trăm vụ trưởng, tổng giám ựốc ựã bị xử lý hình sự; hàng trăm cán bộ trung, cao cấp liên
hại lớn tới các nguồn lực của ựất nước, làm suy yếu tổ chức đảng và bộ máy Nhà nước, cản trở lớn ựến sự phát triển, tạo ra nguy cơ tiềm ẩn mất ổn ựịnh chắnh trị và ở một số nơi ựã gây mất ổn ựịnh chắnh trị - xã hội
Như vậy, tham nhũng với những hành vi, hiện tượng và biểu hiện cũng
như tác hại to lớn của nó có thể làm hỏng ựời sống kinh tế của xã hội, làm tăng tình trạng nợ nần, bần cùng hóa ựất nước và thậm chắ không loại trừ khả năng
là làm sụp ựổ chắnh quyền, ựánh mất chủ quyền quốc gia dân tộc Chắnh vì vậy
đảng và Nhà nước ta xác ựịnh tham nhũng là Ộquốc nạnỢ và là một trong bốn
nguy cơ lớn ựối với sự tồn vong của ựất nước, của chế ựộ xã hội chủ nghĩa
(1) Báo An ninh thế giới, số 487 (17/9/2005)
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương 2
TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN, TỔ
CHỨC TRONG VIỆC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN TỔ CHỨC
1 KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM
1.1 Theo nghĩa chủ ñộng
Theo nghĩa chủ ñộng là trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của người ñó phải thực hiện trước nhà nước, trước nhân dân trên cơ sở quy ñịnh của pháp luật và các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước do chính mình tham gia
Tức là khi tham gia vào quan hệ xã hội thì trách nhiệm của họ trước tiên
là thực hiện tốt nhiệm vụ ñược giao, phải ý thức ñược rằng khi mình là lãnh
ñạo thì ngoài nhiệm vụ của mình là giữ gìn tốt kỷ luật cơ quan, kỷ luật nhà
nước, tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; Hoàn thành và chịu trách nhiệm cá nhân về chất lượng, khối lượng công việc của mình, ngang cao hiệu quả công vụ; ðấu tranh chống mọi căn bệnh thường xảy ra của nền hành chính,
tệ quan liêu, cửa quyền, vô trách nhiệm, né tránh công việc, tham nhũng, bè phái, vi phạm kỷ luật Người ñứng ñầu còn phải giám sát các nhân viên cấp dưới của mình ñể kịp thời phát hiện và ñưa ra hướng xử lý các vi phạm (nếu xảy ra)
Trường hợp ñiển hình: Ban chỉ ñạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ ñứng ñầu có trách nhiệm chỉ ñạo, phối hợp, kiểm tra, ñôn ñốc hoạt ñộng phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước Thì chúng ta có thể hiểu rằng khi Thủ tướng Chính phủ nhận trách nhiệm làm người ñứng ñầu cơ quan này thì phải có hàng loạt các nhiệm vụ ñó là: Lãnh
ñạo, ñiều hành hoạt ñộng của Ban chỉ ñạo; phân công nhiệm vụ cho từng thành
viên Ban chỉ ñạo; Chỉ ñạo xây dựng kế hoạch, chương trình về phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Quyết ñịnh kế hoạch, chương trình công tác và những vấn ñề khác thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ ñạo; Chủ trì, kết luận các cuộc họp của Ban chỉ ñạo; Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban chỉ ñạo quyết ñịnh tạm ñình chỉ công tác ñối với người giữ chức vụ Thứ trưởng và các chức vụ tương ñương, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phĩ Chủ tịch, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các chức vụ khác do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, cách chức khi người đĩ cĩ dấu hiệu tham nhũng, cĩ hành vi gây khĩ khăn đối với hoạt động chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức
Trong trường hợp cần thiết yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và người cĩ thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ đối với đảng viên, cán bộ, cơng chức khác khi người đĩ cĩ dấu hiệu tham nhũng, gây khĩ khăn đối với hoạt
động chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức; cơ quan, tổ chức, đơn vị và
người cĩ thẩm quyền cĩ trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban chỉ đạo trong thời hạn chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; Chịu trách nhiệm trước Ban chấp hành trung ương ðảng,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ về hoạt động của Ban chỉ đạo
1.2 Theo nghĩa thụ động
Theo nghĩa thụ động thì trách nhiệm khi một người khơng thực hiện trách nhiệm một cách tích cực, vi phạm pháp luật xảy ra do họ trực tiếp thực hiện hoặc do họ bị liên luỵ gây thiệt hại cho cơng dân, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhà nước họ “bước vào” một quan hệ pháp luật mới và phải chịu những hậu quả bất lợi nhất định về vật chất hoặc tinh thần Tức là khi cĩ hành vi vi phạm xảy ra trong một chừng mực nhất định nào đĩ họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của mình hoặc khi xảy ra một sự kiện pháp lý nào đĩ mà mình cĩ liên quan và cĩ thể bị cưỡng chế bằng các chế tài của pháp luật (Tuy nhiên một số trường hợp cụ thể trong luật trách nhiệm của họ loại trừ do họ khơng biết hay khi họ đã áp dụng các biện pháp để ngăn chặn )
Trường hợp điển hình như: “Vụ án Lương Cao Khải là Phĩ Vụ trưởng
Vụ thanh tra kinh tế 2 của Thanh tra Chính phủ làm Trưởng đồn thanh tra tại Tổng cơng ty Dầu khí Việt Nam đã cĩ hành vi làm sai lệch kết luận thanh tra
và cĩ dấu hiệu nhận hối lộ: 6.000m2 đất ở Vũng Tàu và sửa chữa nhà riêng khơng mất tiền thì thủ trưởng trực tiếp là Vụ trưởng Vụ Thanh tra kinh tế 2 của Thanh tra Chính phủ phải chịu trách nhiệm với trách nhiệm là người đứng đầu nếu khơng cĩ ý kiến chỉ đạo, tác động vào hành vi của Vụ phĩ Lương Cao Khải hoặc nếu cĩ chứng cứ là lãnh đạo cĩ liên quan thì phải xem xét Nhưng Chánh Thanh tra Chính phủ khơng biết đến hành vi của Lương Cao Khải mà cũng xử
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lý với tư cách là người ñứng ñầu thì quá tràn lan, ít thuyết phục; vì Vụ trưởng
Vụ Thanh tra kinh tế 2 là thủ trưởng trực tiếp nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự như Lương Cao Khải ”
2 KHÁI NIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN
2.1 Theo quan ñiểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Những năm gần ñây, trong các văn bản của ðảng và Nhà nước xuất hiện khái niệm “người ñứng ñầu” Sinh thời, Bác Hồ thường dùng khái niệm:
Do ñâu mà có người ñứng ñầu?
Có nhiều quan ñiểm khác nhau có người cho rằng mình có tài, có ñức,
cơ quan, tổ chức có nhu cầu thì mình ñược ñề bạt làm người ñứng ñầu ðiều ñó
là lẽ ñương nhiên nhưng chưa phải tất cả Không ít người khi ñược ñề bạt ñã không biết ngoái nhìn quá khứ ñể hiểu thấu cái nôi sinh ra mình, chỉ biết có hôm nay và chặng ñường phía trước mà quên cuộc cách mạng của nhân dân do
ðảng và Bác Hồ lãnh ñạo, quên sự hy sinh công sức, tiền của, xương máu của
biết bao thế hệ mới có cơ ñồ, sự nghiệp hôm nay nhưng theo quan ñiểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh ñược thể hiện rõ ở ngày 28-5-1948, khi chủ trì lễ phong hàm ñại tướng cho ñồng chí Võ Nguyên Giáp và cấp tướng cho một số ñồng chí khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh ñã nói: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao hy sinh, cố gắng của ñồng bào,
ñồng chí Chúng ta phải cố gắng, phải quyết giành ñược ñộc lập, tự do cho thỏa
lòng những người ñã mất” Trong một lần khác, khi nói chuyện với các tướng lĩnh Quân ñội nhân dân Việt Nam, Người còn nói: Các chú có công trạng, có thành tích, ñược phong cấp tướng, cấp tá nhưng các chú có biết câu “Nhất nhật công thành vạn cốt khô” không? Câu ấy có nghĩa là mỗi một thành công trên con ñường công danh của các chú là nhờ có sự hy sinh của hàng vạn ñồng bào, chiến sĩ
Do yêu cầu mới của cách mạng và do quy luật của thời gian mà thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước, trong ñó có những người ñược giao trọng trách là
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
người ựứng ựầu cơ quan, tổ chức Khi ựã có quyền lực trong tay, một số người
ựã quên rằng quyền lực mà họ ựang nắm giữ vốn không phải là của cá nhân họ
(quyền lực nhà nước vốn không phải của riêng bất cứ người nào) Tất cả quyền bắnh trong nước là của nhân dân Nhân dân ủy thác cho họ ựại diện ựể sử dụng quyền lực thực hiện nhiệm vụ đảng và Nhà nước giao phó Quên ựiều ựó, người ta dễ sinh tự kiêu, tự mãn, Ộkhi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông Ộvua conỢ ở ựấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe đối với cấp trên thì xem thường, ựối với cấp dưới cậy quyền lấn áp đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi Cái ựầu óc Ộông tướng, bà tướngỢ ấy ựã gây ra bao
ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dânỢ
được trao quyền quản lý, chi tiêu một khối lượng tiền của, tài sản nào ựó, một
số người ựã cậy quyền thủ trưởng quyết ựịnh tất cả, bất chấp kỷ cương, phép nước, chỉ Ộlo chiếm của công làm của tư, lợi dụng ựịa vị và công tác của mình
mà buôn bán phát tài, lo việc riêng hơn việc công đạo ựức cách mạng thế nào,
dư luận chê bai thế nào cũng mặcỢ Trong công tác nhân sự thì ựối với bản thân
Ộcố tranh cho ựược ủy viên này chủ tịch kiaỢ, ựối với xã hội thì giữ thói Ộmột người làm quan, cả họ ựược nhờỢ, ựem bà con, bạn hữu ựặt vào chức này, việc kia, làm ựược hay không mặc kệ Hỏng việc, đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có ựịa vị là ựượcỢ Nhiều lần Bác Hồ ựã dạy, việc nước là việc chung, tài sản của Nhà nước là của chung nhân dân chứ không phải của riêng ai, của dòng họ nào Vì vậy, người ựứng ựầu phải phục tùng tổ chức, nêu gương sáng giữ gìn và bảo vệ tài sản của công, phải toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc và nhân dân, phải chắ công vô tư
Sinh ra người ựứng ựầu ựể làm gì?
đã là xã hội thì ắt phải có tổ chức, có tổ chức thì phải có lãnh ựạo và
quản lý, cơ chế làm việc và người ựứng ựầu Lãnh ựạo là dẫn dắt, phát triển cơ quan, tổ chức ựúng hướng, bày tỏ quyết tâm, duy trì các chuẩn mực, là làm việc với con người (tổ chức, dẫn dắt, giáo dục, thuyết phục, cảm hóa, ựoàn kết, tạo
sự ựồng thuậnẦ) Vì vậy, lãnh ựạo phải tập thể, người ựứng ựầu cơ quan, tổ chức là một thành viên của tập thể lãnh ựạo Bác Hồ ựã dạy Ộvì một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm ựến ựâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét ựược một hoặc nhiều mặt của một vấn ựề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn ựề Vì vậy, cần phải có nhiều ngườiẦ
Ý nghĩa của tập thể lãnh ựạo rất giản ựơn, chân lý của nó rất rõ rệt Tục ngữ có câu: ỘKhôn bầy hơn khôn ựộcỢ là nghĩa ựóỢ
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhưng khi ñã có hội nghị, ñã bàn thảo, có nghị quyết của tập thể rồi thì phải thi hành, phải có người chỉ huy, ñiều khiển “Việc gì ñã ñược ñông người bàn bạc
kỹ lưỡng rồi, kế hoạch ñịnh rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch ñó mà thi hành Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy…
Vì lẽ ñó, cho nên lãnh ñạo cần phải tập thể, mà phụ trách cần phải cá nhân” Nên trách nhiệm của người ñứng ñầu thường ñược ñề cao
2.2 Theo quan ñiểm của Luật phòng, chống tham nhũng
Trong phòng, chống tham nhũng vấn ñề trách nhiệm của người ñứng ñầu
cơ quan, ñơn vị khi ñể xảy ra hành vi tham nhũng là vấn ñề hết sức phức tạp và khó khăn bởi nhiều lý do khác nhau vì ñây là vấn ñề mới hình thành trong pháp luật nước ta và chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn
Trước hết nói về bối cảnh việc xác ñịnh, ở nước ta với một nền hành chính luôn mang tính hệ thống với nhiều yếu tố cấu thành và ñơn giản nhất là tổng hợp tất cả các yếu tố, quyền hạn và trách nhiệm của từng chức danh trong nền hành chính Tuy nhiên quyền hạn và trách nhiệm trong từng vị trí của nền công vụ lại khác nhau cho nên mức ñộ và phạm vi trách nhiệm cũng rộng hẹp khác nhau Giữa các hoạt ñộng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chủ yếu là do hệ thống thứ bậc Vậy thì vấn ñề ñặt ra là khi có một vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình thực thi công vụ thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào?
Một ñiều dễ dàng thống nhất và ai cũng chấp nhận ñược là người nào thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì trước hết người ñó phải chịu trách nhiệm, tất nhiên tuỳ theo mức ñộ và tính chất vi phạm mà phải chịu một hình thức xử phạt nhất ñịnh hoặc là hành chính hoặc là hình sự nếu ñến mức ñộ tội phạm và bồi thường, bồi hoàn nếu hành vi của người ñó gây ra thiệt hại vật chất Nhưng việc xác ñịnh trách nhiệm của những người “xung quanh”, cụ thể là cấp trên, người
có trách nhiệm quản lý hoạt ñộng hành chính, nhiệm vụ của người vi phạm như thế nào là một vấn ñề hết sức khó khăn Nếu buộc cấp trên phải chịu trách nhiệm
về mọi vấn ñề xảy ra do việc làm trái pháp luật của cấp dưới thì thục ra xét trên nhiều mặt cũng là ñiều không hợp lý, nhất là ñối với những ñơn vị lớn, phải quản
lý một số lượng nhân viên rất nhiều Nhung nếu nói rằng một người lãnh ñạo quản lý hoàn toàn không chịu trách nhiệm một chút nào về việc làm của cấp dưới thì bất cứ lý do gì cũng là ñiều khó chấp nhận ðây chính là vấn ñề gây tranh
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
luận trong quá trình quy ñịnh trách nhiệm của người ñứng ñầu cơ quan, tổ chức,
ñơn vị khi ñể xảy ra hành vi hay vụ việc tham nhũng
Hiện nay pháp luật ñã có quy ñịnh cụ thể về trách nhiệm của người ñứng
ñầu cơ quan, tổ chức, ñơn vị trong công tác phòng, chống tham nhũng trong ðiều 72 của Luật, phòng chống tham nhũng năm 2005 Khái niệm về trách
nhiệm của người ñứng ñầu ñược ñịnh nghĩa như sau:
Người ñứng ñầu cơ quan, tổ chức, ñơn vị có trách nhiệm áp dụng quy
ñịnh của Luật phòng, chống tham nhũng và các quy ñịnh khác của pháp luật có
liên quan ñể tổ chức phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, ñơn vị
do mình quản lý
Người ñứng ñầu cơ quan, tổ chức, ñơn vị chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, ñơn vị cấp trên trực tiếp về việc phòng, chống tham nhũng trong
cơ quan, tổ chức, ñơn vị do mình quản lý
II TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ðỨNG ðẦU CƠ QUAN TỔ CHỨC
1 CHỈ ðẠO, BAN HÀNH CÁC QUY ðỊNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
1.1 Xây dựng chương trình hành ñộng về phòng, chống tham nhũng
Nhận thức “chống tham nhũng” ñây là một trong những chủ trương lớn
ñược ðảng, nhà nước rất quan tâm lãnh ñạo thực hiện thường xuyên trong mọi
lĩnh vực kinh tế-xã hội, nhằm ngăn chặn, ñẩy lùi và góp phần xây dựng ðảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh Trách nhiệm của người ñứng ñầu các cơ quan, ñơn vị, tổ chức cần nâng cao qua việc chỉ ñạo, quản lý và thực hiện các quy ñịnh pháp luật về hoạt ñộng thanh tra, xác minh giải quyết các khiếu tố và phòng chống tiêu cực, tham nhũng ñối với cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý Và góp phần quan trọng trong công cuộc ñấu tranh phòng, chống tham nhũng Vì vậy trách nhiệm của người ñứng ñầu cần xây dựng chương trình hành ñộng về phòng chống tham nhũng như:
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, học tập, nghiên cứu, quán triệt Luật Phòng, chống tham nhũng trong ñơn vị mình quản lý: nhằm mục ñích giáo dục tác phong ñạo ñức của cán bộ, công chức ñể họ thấy tham nhũng gây nguy hại như thế nào ñể cán bộ, công chức có quyết tâm chống tham nhũng ngay từ ñầu nhằm ñào tạo những người kế thừa có phẩm chất ñạo ñức tốt