NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ .... Về mặt pháp lý, mặc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Lớp: Tư Pháp 1 – K34
Cần Thơ, 5/2012
Trang 2Để có thể hoàn thành Luận văn này trước hết em xin gởi lời cám ơn sâu sắc đến quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, không chỉ mang lại cho em những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực học tập mà còn cả cách sống, cách làm khi bước chân ra xã hội
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của Cô Mạc
Giáng Châu đã tạo điều kiện giúp em có thể hoàn thành tốt nhất Luận văn tốt
nghiệp này
Vì kiến thức và thời gian có hạn, thêm vào đó do lần đầu tiên tiếp xúc nên Luận văn này không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô, anh chị để luận văn được tốt hơn
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu
Xin trân trọng kính chào!
Cần Thơ, tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Ngô Trà My
Trang 3
Cần Thơ, ngày tháng năm 20…
Trang 4
Cần Thơ, ngày tháng năm 20…
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 5
1.1 Khái quát chung về quyền bào chữa của người chưa thành niên 5
1.1.1 Khái quát về quyền bào chữa và người bào chữa 5
1.1.1.1 Khái niệm bào chữa 5
1.1.1.2 Khái niệm quyền bào chữa 6
1.1.1.3 Khái niệm người bào chữa 11
1.1.1.4 Khái niệm trách nhiệm của người bào chữa 16
1.1.2 Khái quát về quyền bào chữa của người chưa thành niên 17
1.1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 17
1.2 Cơ sở lý luận về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên 21
1.2.1 Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người chưa thành niên 21
1.2.1.1 Luật Hiến Pháp 21
1.2.1.2 Pháp luật Tố tụng hình sự 22
1.2.2 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên 22
1.2.3 Tầm quan trọng của người bào chữa dành cho người chưa thành niên 23
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ 25
2.1 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra 25
2.1.1 Có mặt khi hỏi cung, lấy lời khai 25
2.1.2 Thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động bào chữa 28
2.1.3 Gặp bị can, bị cáo khi đang bị tạm giam 30
Trang 62.2 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai
đoạn truy tố 33
2.2.1 Xem xét lại bản cáo trạng 33
2.2.2 Yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung 35
2.2.3 Yêu cầu đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án 37
2.3 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai đoạn xét xử 39
2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị xét xử 39
2.3.1.1 Kiểm tra lại việc giao các quyết định của Tòa án đối với bị cáo 39
2.3.1.2 Gặp gỡ trao đổi với bị cáo những vấn đề liên quan hay tình tiết mới của vụ án 40
2.3.1.3 Giải thích cho bị cáo biết trình tự thủ tục tại phiên tòa 41
2.3.2 Giai đoạn tại phiên tòa 41
2.3.2.1 Bắt đầu phiên tòa 41
2.3.2.2 Quá trình xét hỏi 43
2.3.2.3 Tranh luận tại phiên tòa 47
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 55
3.1 Thực trạng và hướng hoàn thiện về hoạt động của người bào chữa khi bào chữa cho người chưa thành niên trong vụ án hình sự 55
3.1.1 Thực trạng 55
3.1.2 Nguyên nhân của những tồn tại 59
3.1.3 Hướng hoàn thiện 64
3.2 Những bất cập và hướng hoàn thiện trong việc người bào chữa thực hiện trách nhiệm đối với người chưa thành niên 65
3.2.1 Về việc người bào chữa tham gia hỏi cung bị can là người chưa thành niên 65
Trang 73.2.2 Về việc người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên khi đang tạm giam 68 3.2.3 Về việc cấp giấy chứng nhận bào chữa 69 3.2.4 Về việc từ chối người bào chữa 72 3.2.5 Về vai trò của người bào chữa khi tham gia bào chữa cho người chưa thành niên 73
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 81 Lý do chọn đề tài
LỜI NÓI ĐẦU
……
Những năm gần đây, với chính sách mở cửa của Nhà nước cùng với nền kinh
tế thị trường thì Việt Nam đã có sự chuyển mình và phát triển mạnh mẽ Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, con người được tiếp xúc nhiều hơn với các phương tiện hiện đại trên thế giới, tầm nhận thức trong cuộc sống ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó nó song song phát sinh và tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực nảy sinh trong xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, nhận thức của con người thay đổi theo chiều hướng xấu mà chúng ta chưa kiểm soát hết được Nhiều đối tượng, loại tội phạm mới trong nhiều lĩnh vực đang phát sinh và gia tăng Nhất là đối với đối tượng phạm tội là người chưa thành niên - lứa tuổi mà trình độ và khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, chưa phát triển đầy đủ
về thể chất lẫn tinh thần nên dễ bị lôi kéo, xúi giục vào những con đường phạm pháp Số lượng người chưa thành niên phạm tội gia tăng, hành vi và mức độ phạm tội ngày càng nguy hiểm đang là mối lo ngại hàng đầu của toàn xã hội Trước tình hình xã hội đặt ra, yêu cầu cấp thiết hiện nay là chúng ta cần phải có những biện pháp cấp bách và sự trợ giúp về mặt pháp lý kịp thời và hiệu quả nhằm ngăn chặn
và hạn chế số lượng người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, thông qua đó cũng tăng cường sự trợ giúp về mặt pháp lý cho đối tượng phạm tội này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước pháp luật Bản chất loại đối tượng này còn rất hạn chế về tâm sinh lý cũng như nhận thức nên khó có thể tự mình đứng ra để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước cơ quan tiến hành tố tụng Vì vậy việc tăng cường trách nhiệm của xã hội nhằm đảm bảo tính công bằng trong quá trình thực thi pháp luật dành cho đối tượng này là mang tính cấp thiết
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để đảm bảo quyền và lợi ích của người chưa thành niên Trong đó có quyền bào chữa – là một trong những bảo đảm thực thi quyền công dân mà Hiến pháp đã quy định để bảo vệ người bị tình
nghi trong vụ án hình sự Tại Điều 132 Hiến pháp 1992 quy định: “Tổ chức luật sư
được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” nhằm đảm bảo
quyền và lợi ích của bị can, bị cáo nói chung và người chưa thành niên nói riêng
Trang 9Tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 chế định bào chữa không chỉ được quy định cụ thể rõ ràng mà còn được mở rộng hơn cả về thời điểm tham gia lẫn các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như của người bào chữa Điều 56
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “người bào chữa có thể là luật sư; người đại
diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân”, họ
có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt, đó là giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý, kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan và đúng pháp luật Sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là cần thiết và khách quan, trước hết là thực hiện nguyên
tắc “bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo” Đặc biệt là khi tham gia vào hoạt
động bào chữa cho người chưa thành niên thì sự có mặt của người bào chữa là yếu
tố bắt buộc, góp phần đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác Với những quy định mở rộng và ưu đãi đó đã tạo điều kiện cho người bào chữa có thể thực hiện tốt trách nhiệm của mình khi tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo nói chung và nhất là đối với đối tượng là người chưa người chưa thành niên nói riêng Một mặt góp phần cho việc bào chữa đạt hiệu quả cao có thể phần nào hạn chế được tình hình phạm tội của người chưa thành niên trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên trên thực tế việc thực thi và áp dụng pháp luật vào việc bào chữa để đảm bảo quyền và lợi ích cho người chưa thành niên còn rất nhiều hạn chế Việc đảm bảo cho người bào chữa có đủ điều kiện hoàn thành tốt trách nhiệm bào chữa của mình vẫn chưa được quan tâm và coi trọng đúng mức nên người bào chữa còn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tác nghiệp Bên cạnh đó trách nhiệm, tinh thần và thái độ của người bào chữa khi tham gia bào chữa cho người chưa thành niên cũng chưa được đảm bảo, còn mang nặng tính hình thức Chính vì thế mà chất lượng bào chữa cho người chưa thành niên chưa đạt được kết quả cao Kéo theo đó
là số lượng người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng đang là mối lo ngại rất lớn cho toàn xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng và tính thực tiễn từ những vấn đề nêu trên cho
thấy, việc nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm của người bào chữa đối với người
chưa thành niên trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử” là vấn đề cấp thiết Đó
cũng chính là lí do thúc đẩy người viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này
Trang 102 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua bốn giai đoạn khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử Đối với người bào chữa tham gia vào quá trình Tố tụng thì theo quy định
tại Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 thì: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ
khi khởi tố bị can” Nhưng khi tham gia bào chữa cho người chưa thành niên thì
trách nhiệm của người bào chữa thường được thể hiện rõ nét nhất ở ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Vì thế, người viết tập trung nghiên cứu về trách nhiệm của người bào chữa trong ba giai đoạn nói trên nhằm nói lên tầm quan trọng của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong quá trình tố tụng
Theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự, người bào chữa không những
có mặt trong phiên tòa sơ thẩm mà còn tham gia trong những phiên tòa phúc thẩm Nhưng khi xem xét về tính chất thì dù ở phiên tòa xét xử nào, dù được mời, được yêu cầu hay chỉ định thì người bào chữa cũng đều tham gia với tư cách là người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói chung và người chưa thành niên nói riêng Vì vậy, đối với đề tài luận văn này tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu về đối tượng là người chưa thành niên để nói lên trách nhiệm và tầm quan trọng của người bào chữa đối với đối tượng này - đối tượng đặc biệt rất cần được bảo vệ và uốn nắn
Với những vấn đề nêu trên tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành khi bàn về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong ba giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Đồng thời đề ra những phương hướng hoàn thiện về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm của người bào chữa đối với
người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử” nhằm làm sáng
tỏ một số vấn đề về pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên Về mặt pháp lý, mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đối với bị can, bị cáo nói chung và trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên nói riêng Tuy vậy, thực tế để đảm bảo thực thi tốt trách nhiệm bào chữa cho người chưa thành niên còn nhiều khó khăn, bất cập từ mọi phía, có thể từ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như những hạn chế về trình độ cũng
Trang 11như thái độ làm việc của người bào chữa Điều này sẽ dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên không được đảm bảo, quá trình tố tụng không chính xác khách quan, rất dễ làm oan sai người vô tội Giải pháp đề ra là cần hoàn thiện lại các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đối với bị can, bị cáo nói chung và nâng cao trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên nói riêng Đó sẽ là tiền đề góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống người chưa thành niên phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và đóng góp tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài luận văn này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở; phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết; phương pháp sưu tầm số liệu thực tế và phương pháp tổng hợp các thông tin thông qua các bài viết, các văn bản pháp luật có liên quan, một số sách, các công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành
5 Cấu trúc đề tài
Đề này nghiên cứu luận văn này gồm có ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về quyền bào chữa của người chưa thành
niên
- Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
- Chương 3: Một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
- - 1.1 Khái quát chung về quyền bào chữa của người chưa thành niên
1.1.1 Khái quát về quyền bào chữa và người bào chữa
1.1.1.1 Khái niệm bào chữa
Trong lịch sử pháp luật đã thừa nhận nhiều cách bào chữa khác nhau, ở những chế độ khác nhau thì quan điểm giai cấp cũng sẽ không giống nhau Và trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử thì vấn đề bào chữa cũng có nhiều quan niệm
Ở thời cổ đại xa xưa, khi có một người bị nghi ngờ là phạm tội thì họ được bào chữa bằng cách trói chân, trói tay rồi quẳng xuống nước mà không chìm thì họ được coi là vô tội hoặc nhúng tay vào nước sôi mà không bị bỏng thì được coi là vô tội Cách bào chữa mỏng manh theo ý trời này đối với số phận con người thực chất
là lời buộc tội họ một cách hùng hồn nhất, vì dù có vô tội họ cũng cầm chắc trong tay một bản án kết tội, khó có thể bào chữa được1, bởi lẽ có mấy ai bị trói tay, trói chân quẳng xuống nước mà không bị chìm, nhúng tay vào nước sôi lại không bị bỏng
Ở thời kỳ phong kiến người ta đã biết dùng những lời nói biện hộ cho những hành vi sai trái mà bản thân mình không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn biện hộ cho hành vi của mình là đúng để tránh bị phạt vạ hay trách móc của người khác gọi là “bào chữa” Bào chữa là dùng lời nói hay đưa ra những chứng cứ chứng minh một vấn đề nào đó mà chính bản thân mình cho là đúng hoặc là những việc làm sai trái để nhận được sự khoan hồng tha thứ từ người khác
Trong bối cảnh xã hội hiện nay thì “bào chữa”được dùng để nói lên quyền được chống lại sự buộc tội từ người khác hoặc từ cơ quan quyền lực Nhà nước Theo Từ điển luật học thì “bào chữa” được hiểu là “việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ bị can, bị cáo”2 Bào chữa
Trang 13còn được sử dụng rộng rãi hơn trước, không chỉ được hiểu là dùng lời nói để biện
hộ mà còn đưa ra những chứng cứ, nhân chứng, vật chứng để bào chữa Không những thế mà còn được nâng lên thành những điều luật cho phép người bị buộc tội
có cơ hội để chứng minh mình vô tội hay để giảm nhẹ tội do mình gây ra
Bào chữa là một trong những hoạt động đặc trưng của Tố tụng hình sự, là hình thức biểu hiện ưu thế của công lý nhằm đảm bảo quyền dân chủ trong hoạt động tố tụng nói chung cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo nói riêng Mà trong đó người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng chức năng này có thể để
tự mình hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Chế định bào chữa cũng được
quy định trong Hiến pháp 1992 tại Điều 132 như sau: “Quyền bào chữa của bị cáo
được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” Và trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 tại Điều 11 có quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của bộ luật này”
Như vậy, từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm bào chữa như sau: Bào chữa chính là dùng lý lẽ, đưa ra chứng cứ chứng minh cho sự không có tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự
1.1.1.2 Khái niệm quyền bào chữa
Cũng như quyền công tố, quyền bào chữa của người bị buộc tội (bao gồm cả quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa) là một trong những chế định
cổ xưa và lâu đời của pháp luật tố tụng hình sự Điều dễ nhận thấy là ngày nay, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều quy định về quyền bào chữa như một trong những quyền cơ bản, quan trọng và cần thiết nhất của người bị buộc tội Việc pháp luật ghi nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội không chỉ là bởi vì nó là một trong những quyền tự nhiên của con người được thừa nhận ở bất cứ đâu, trong bất kỳ phạm vi không gian, thời gian nào, mà còn là
do vai trò quan trọng, không thể thiếu của chức năng bào chữa trong tố tụng hình
sự Nếu trong tố tụng hình sự có chức năng buộc tội thì song song với nó phải có chức năng bào chữa Cùng với chức năng buộc tội, sự hiện hữu của chức năng bào chữa là một trong những điều kiện cần thiết giúp cho phán quyết của Toà án được
Trang 14công bằng, khách quan; giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có cơ hội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là một trong những chế định quan trọng
và phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao.Từ trước đến nay
đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu xung quanh khái niệm nội dung, bản chất chủ thể… của quyền bào chữa song vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Do vậy việc xác định khái niệm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trên cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp với quy định của pháp luật là cần thiết nhằm không ngừng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố cơ sở pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Ở các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, Nhà nước luôn có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Những quyền cơ bản đó được Nhà nước đảm bảo thực hiện, đồng thời công dân cũng có nghĩa vụ tôn trọng
và bảo đảm quyền lợi của người khác Một trong các hình thức thể hiện quyền cơ bản của công dân được Nhà nước đảm bảo thực hiện đó là quyền được bảo vệ mình trước cơ quan pháp luật trong đó có quyền bào chữa Tuy nhiên xung quanh khái niệm quyền bào chữa lại có nhiều quan điểm khác nhau Cụ thể như:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm của bị can”3
Quan điểm thứ hai thì: “Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo
mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ”4
Quan điểm thứ ba lại nói: “Quyền bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong Tòa án hình sự 5
3
Phạm Hồng Hải, Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội 1999,
trang 14
4
Kỷ yếu đề tài khoa học, Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của Luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm
sát nhân dân năm 1995
5
Phạm Hồng Hải, Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công An Nhân Dân, Hà Nội
1999,trang 29,30
Trang 15Quan điểm thứ tư cho rằng: “Không chỉ bị cáo mà cả người bị hại cũng cần đến việc bào chữa Nhân chứng, giám định viên và cả những người khác cũng vậy nếu quyền lợi của họ bị xâm hại”6
Nếu cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can như quan điểm thứ nhất thì quá hẹp, còn nếu cho rằng quyền bào chữa còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn dân sự…như quan điểm thứ hai, thứ
ba và thứ tư thì quá rộng Nhìn chung tất cả các quan điểm về quyền bào chữa nói trên chưa hoàn thành chính xác, chỉ xoay quanh phạm vi áp dụng chứ chưa đi thẳng vào vấn đề làm rõ như thế nào là quyền bào chữa nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Vì vậy để có cách hiểu chính xác về nội dung cũng như phạm vi áp dụng cần làm sáng tỏ nội dung của từ “quyền” và cụm từ “bào chữa” để có cách hiểu chính xác hơn về “quyền bào chữa”
Theo Từ điển Luật học thì “quyền” được hiểu là “khái niệm pháp lý để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức
để theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”7
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước Tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”8
Qua việc tìm hiểu các quan điểm cũng như các đinh nghĩa khoa học về quyền
bào chữa có thể xây dựng khái niệm quyền bào chữa như sau: Quyền bào chữa là
tổng thể các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác nhau của mình
*Đặc điểm của quyền bào chữa
Thứ nhất: Chủ thể của quyền bào chữa là người bị tình nghi
Người bị tình nghi trong vụ án là người bị buộc tội trong trường hợp cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu, bao gồm người có hành động
Trang 16phạm pháp bị mời làm việc, người bị bắt, hoặc bị tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố bị can Người bị tình nghi trong vụ án trước hết là người bị buộc tội Khái niệm buộc tội cần được hiểu là một người bị cơ quan bảo vệ pháp luật nghi ngờ do hành động phạm pháp của họ và trên cơ sở các hoạt động điều tra ban đầu như bị triệu tập, bị mời làm việc, bị xác minh, bị lấy lời khai… Nhưng, song song với những hoạt động của cơ quan điều tra như thế thì mặc dù chưa bị khởi tố với tư cách bị can nhưng
“người bị bắt, bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi
thưc hiện tội phạm” (Điều 71 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) Pháp luật nước ta luôn
hướng tới giá trị nhân đạo dù trong bất kỳ trường hợp nào cũng tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trình bày những tình tiết liên quan nhằm mục đích chứng minh cho hành vi của bản thân mình là vô tội Nhưng những tình tiết đó vẫn chưa đáng tin mà phải qua quá trình điều tra của Cơ quan tiến hành tố tụng mới biết được sự thật, đúng sai của vụ án Nếu trong trường hợp đã có đủ cơ sở để khởi tố vụ
án thì người bị tạm giữ lúc này sẽ trở thành bị can “Khi bị can đó bị khởi tố về vụ
án hình sự” (khoản 1 Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự) và trải qua quá trình điều tra
kéo dài thì có đủ chứng cứ chứng minh hành vi của họ là vi phạm pháp luật thì lúc
này họ sẽ trở thành bị cáo “khi bị Tòa án có quyết định đưa ra xét xử” (khoản 1
Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) Như vậy, có thể khẳng định rằng trong những người tham gia tố tụng chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người bị tình nghi Đối với từng giai đoạn khác nhau của quá trình Tố tụng thì ở mỗi giai đoạn người bị tình nghi có một tên goi riêng, từ người bị tạm giữ rồi đến bị can, bị cáo
Bị can, bị cáo vẫn là người bị tình nghi nhưng lúc này sự nghi ngờ đối với họ có mức độ cao hơn so với người bị tạm giữ ban đầu Tuy nhiên cho dù sự nghi ngờ đó
đã đến mức độ chắc chắn là sẽ phạm tội vì dấu hiệu phạm tội đã được Cơ quan điều tra xác nhận đã vi phạm một tội trong Bộ luật hình sự Nhưng hành vi của người bị tình nghi này vẫn chưa xem là có tội khi chưa có phán quyết của Tòa án Và nếu như Tòa án đã kết án và tuyên phạt bị cáo một tội nào đi chăng nữa thì cũng không
vì thế mà người đó có tội Bởi lẽ theo tinh thần của Hiến pháp năm 1992 tại Điều 72
và Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự đã khẳng định: “Không ai bị xem là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nguyên tắc này đòi hỏi các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
tụng phải tạo điều kiện để bị cáo và người bào chữa cho bị cáo sử dụng các biện pháp do luật định để minh oan hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Trang 17Thứ hai: Quyền bào chữa chỉ xuất hiện trong Tố tụng hình sự
Đây là một đặc điểm đặc trưng mà chỉ trong Tố tụng hình sự mới có Vì chỉ
có trong Tố tụng hình sự mới xuất hiện những đối tượng như: người bị tạm giam, bị can, bị cáo khi họ bị nghi ngờ hay đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật Đây là một điểm đặc biệt mà khi so sánh với các Tố tụng khác ở Việt Nam như Tố tụng hành chính, Tố tụng dân sự hoàn toàn không có
sử dụng đến thuật ngữ “bào chữa” này Nếu như đem một “lỗi” của một tranh chấp dân sự ra so sánh với một hành vi “phạm tội” bên hình sự thì về bản chất cũng khác nhau hoàn toàn Bởi lẽ không ai gọi là “tội” trong tranh chấp dân sự và ngược lại không ai gọi đó là “hành vi phạm lỗi” trong Tố tụng hình sự Ở đây có thể đưa ra một ví dụ về tranh chấp hợp đồng mua bán trong tranh chấp dân sự Khi tranh chấp xảy ra dù đúng hay sai các đương sự cũng tự đứng ra bảo vệ cho bản thân mình, luôn cho rằng mình là người đúng trong mọi trường hợp Không hề đề cập đến
“quyền bào chữa” mà khi có tranh chấp xảy ra mà ở đây chỉ tồn tại “quyền bảo vệ” Nhưng sự đánh giá chính xác về một người có “lỗi” hay có “tội” hay không thì phải phụ thuộc hoàn toàn vào phán quyết của Tòa án
Tóm lại, quyền bào chữa chỉ xuất hiện trong tố tụng hình sự, ở đây người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa bằng việc
sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật cũng như trước Cơ quan tiến hành tố tụng
Thứ ba: Quyền bào chữa là một trong các bộ phận cấu thành quyền công dân
để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
Cũng như các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp Việt Nam hiện hành dành riêng Chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Và cũng như nhiều nước trên thế giới, quyền công dân Việt Nam xuất phát từ quyền con người:
“Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50)
Trang 18Quy định này của Hiến pháp thể chế hóa quan điểm của Đảng “quyền công dân, quyền con người và tự do cá nhân được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật”9
Quyền công dân là một trong những quyền Hiến định đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nếu như các quyền con người thể hiện ở quyền công dân thì quyền công dân phải là những quyền của con người mà được Nhà nước và pháp luật thừa nhận Và trong những quyền đó có một quyền đáng kể đến ở đây đó
là “quyền bào chữa” Quyền bào chữa thể hiện ở chỗ, nếu một người bị nghi ngờ có hành vi vi phạm pháp luật thì bằng quyền bào chữa của mình có quyền đưa ra những tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý mình trong vụ hình sự trước Cơ quan tiến hành tố tụng
1.1.1.3 Khái niệm người bào chữa
Trong những người tham gia tố tụng hình sự quy định tại Chương 3 Bộ luật
Tố tụng hình sự 1988 thì người bào chữa là người có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt Tuy nhiên, cho đến nay trong lý luận pháp lý và thực tiễn tố tụng hình sự vẫn chưa có khái niệm chính thức và thống nhất về người bào chữa Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có những cách hiểu khác nhau về người bào chữa
Có một số quan điểm cho rằng: “Người bào chữa là người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật”10
Một tác giả khác còn khẳng định rõ hơn rằng: “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án”11 Ngoài ra, cũng có không ít người vẫn quan niệm người bào chữa là “thầy cãi”…
Trong chương IV Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 ( Điều 56, 57, 58) thì người
bào chữa được quy định như sau: “Người bào chữa là người được các cơ quan tiến
hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người
bị tạm giữ,bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt
9
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2005, trang 339
10
Xem M.Chen – Txôp M.A, Luật sư trong Tố tụng hình sự Xô Viết, M 1954, trang 53
11
Xem Ngô Hướng Đàm, Về quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Tạp chí Luật học số 03 năm 1977
Trang 19pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ” Theo khoản 1 Điều 56 Bộ
luật tố tụng hình sự 2003 thì người bào chữa có thể là:
Luật sư bào chữa: Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can,bị cáo: Là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị tạm giữ,bị can,bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần
Bào chữa viên nhân dân: Có thể là người đươc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử đề bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là thành viên của tổ chức mình Khi tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa, luật sư, đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân đều có quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định chung cho người bào chữa
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về người bào chữa trong Tố tụng hình sự như sau: Người bào chữa trong tố tụng hình sự là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
*Đặc điểm của người bào chữa
Thứ nhất, người bào chữa là người bảo vệ cho người bị tình nghi
Người bị tình nghi là người bị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghi ngờ đã
có một hành vi vi phạm pháp luật nào đó cần phải được điều tra làm rõ Trong trường hợp này yêu cầu của người bị tình nghi hay người đại diện hợp pháp của họ đặt ra là cần có người bào chữa Vì vậy người bào chữa sẽ xuất hiện với tư cách là được mời hay được triệu tập từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng Mục đích sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi Bằng kiến thức pháp luật vốn có của mình, trong mỗi giai đoạn của quá trình tố tụng, người bào chữa luôn tìm ra những chứng cứ gỡ tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ và giúp đỡ họ về những vấn đề pháp lý cần thiết Nhưng những vấn đề đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép và phải tôn trọng sự thật pháp luật
Vì vậy, khi tham gia tố tụng dù trong bất luận trường hợp nào người bào chữa cũng phải đảm bảo hai vấn đề tồn tại song song là vừa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi được bảo vệ vừa không vi phạm pháp luật
đề ra trong qua trình bào chữa Đây là vấn đề luôn được chú trọng và nâng cao
Trang 20Thứ hai, người bào chữa phải được chấp nhận tham gia tố tụng bởi người bị
tình nghi và Cơ quan tiến hành tố tụng
Như đã đề cập, quyền bào chữa là các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội, hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác nhau của mình Các chủ thể này có quyền sử dụng mọi phương tiện và phương pháp do luật định để làm rõ sự thật của vụ án, phát hiện và làm sáng tỏ những tình tiết để chứng minh bị can, bị cáo không có tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý, đảm bảo cho họ thực hiện được những quyền công tố do luật định Nhưng trong thực tiễn hiện nay cho thấy đâu phải bất cứ ai cũng có khả năng tự đứng ra bào chữa để bảo vệ quyền lợi của mình
Điển hình như đối với đối tượng là người chưa thành niên phạm tội hay người bị suy nhược về thể chất hoặc tinh thần thì khả năng tự bào chữa hoàn toàn không được bảo đảm.Và điều kiện đặt ra ở đây là họ và người thân của họ cần có người bào chữa đứng ra để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước pháp luật
Người bị tình nghi có thể trực tiếp mời người bào chữa hoặc ủy quyền cho người thân mời người bào chữa và đương nhiên người bào chữa đó phải được Cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa thì mới có tư cách ,đủ tiêu chuẩn, để tham gia vào hoạt động bào chữa của mình.Nhưng cũng có một số trường hợp nếu như bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời được người bào chữa thì Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ cử người bào chữa (Điều 51 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003)12 Tuy nhiên nếu trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không đồng ý với sự chỉ định người bào chữa của cơ quan tiến hành tố tụng thì chính họ hoặc người đại diện cho họ có quyền từ chối hoặc thay đổi người bào chữa khác Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam luôn tạo điều kiện để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền lợi của mình nhất là trong hoạt động bào chữa
12
Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị
cáo, hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”
Trang 21Vì vậy, người bào chữa có thể xuất hiện trong vụ án hình sự hay không phải phụ thuộc vào ý chí của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và sự chấp nhận của Cơ quan tiến hành tố tụng Đó là hai điều kiện để đảm bảo sự có mặt của người bào chữa trong các vụ án hình sự
Thứ ba, người bào chữa không có quyền và lợi ích trong vụ án hình sự
Người bào chữa là người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án Họ tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội Người bào chữa không phải là người tiến hành tố tụng
mà chỉ là người tham gia tố tụng Từ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của người bào chữa “Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành Điển hình như: người bào chữa thực hiện việc bào chữa bằng cách giúp bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định, tham gia xét hỏi, trình bày lời bào chữa và đối đáp với Kiểm sát viên… Hơn nữa, người bào chữa không phải là người được nhân danh quyền lực Nhà nước và không được sử dụng quyền lực Nhà nước như những tiến hành tố tụng Người bào chữa không có quyền và lợi ích trong vụ án hình sự Việc họ tham gia tố tụng bất luận trong trường hợp nào cũng chỉ để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội Cơ sở cho sự hiện diện của họ trong Tố tụng hình sự xuất phát từ hợp đồng bào chữa giữa
họ với người bị buộc tội (hoặc với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội)
và phải được sự chấp thuận của Cơ quan tiến hành tố tụng Trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, nếu người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ và dĩ nhiên ngay trong trường hợp này
sự tham gia của người bào chữa cũng phải được sự đồng ý của người bị buộc tội
Nhìn chung, dù bất luận trong trường hợp nào đi nữa người bào chữa cũng xuất hiện trong vai trò là người bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mục đích của người bào chữa hướng tới đó là sự công bằng trong xã hội, không bỏ lọt tội phạm và không xử oan người vô tội
*Phân loại người bào chữa
Luật sư: Là người hoạt động chuyên nghiệp tham gia trong một đoàn Luật
sư theo quy định của pháp luật Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 cũng đưa định nghĩa:
“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật
Trang 22này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Để trở được công nhận là một Luật sư thì cá nhân phải
đáp ứng các điều kiện như: “ là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân
thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư, đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một đoàn luật sư” (Điều 10 và Điều 11 Luật Luật sư năm
2006) “Luật sư được lựa chọn hình thức để hành nghề theo một trong hai hình thức
là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân”
(Điều 23 Luật Luật sư năm 2006) Những Luật sư được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mời làm người bào chữa để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ khi luật sư này không thuộc một trong những điều kiện không được bào chữa được quy định tại Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự:
“Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc
đang tiến hành tố tụng trong vụ án; Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch” Ngoài những trường
hợp đó ra thì Luật sư được mời làm người bào chữa và được Cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý cấp giấy chứng nhận bào chữa thì Luật sư được mời mới trở thành Luật
sư bào chữa trong vụ án hình sự
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người đại
diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người cần
họ bào chữa Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định rõ thế nào là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nên có thể vận dụng
Điều 58 Bộ luật dân sự về giám hộ Tại khoản 1 Điều 58 có quy định: “Giám hộ là
việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung
là người được giám hộ)”.Và tại điểm a khoản 2 Điều 58 Bộ luật dân sự có quy định
về người được giám hộ đương nhiên là: “Người chưa thành niên không còn cha,mẹ
không xác định được cha mẹ hoặc cha mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó, và nếu cha, mẹ có yêu cầu” Hoặc “người đại diện theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa
Trang 23thành niên; Người giám hộ đối với người được giám hộ” (Điều 141 Bộ luật dân sự)
Như vậy, dù trong những trường hợp là người giám hộ hay người đại diện theo pháp luật cũng có thể được vân dụng là người đại diện hợp pháp Do vậy, họ có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, vì mục đích duy nhất mà họ hướng tới là bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đồng thời việc tham gia của họ vào quá trình tố tụng sẽ giúp cho việc giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao hơn Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã có quy định cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, yêu cầu các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác phải tôn trọng và thực hiện
Bào chữa viên nhân dân: Ra đời trên cơ sở Sắc lệnh 69 do Chủ tịch nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành vào ngày 18/6/1949, chế định bào chữa viên nhân dân còn tồn tại đến ngày nay và được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự
tại Điều 56 “người bào chữa có thể là bào chữa viên nhân dân” Theo quy định tại
Nghị định Số 01/NĐ-VY ngày 12/01/1950 của Bộ Tư pháp về kiện để trở thành bào chữa viên nhân dân bao gồm: là công dân Việt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà, ít nhất 21 tuổi, hạnh kiểm tốt và chưa có can án…13 Ngoài những quy định chung quy như thế thì cho đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể về bào chữa viên nhân dân và trong thực tế hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được
tổ chức thành một hệ thống, điều kiện để trở thành bào chữa viên nhân dân cũng không được quy định cụ thể, trong khi đó trong xã hội có nhiều người có trình độ pháp lý có hiểu biết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạp vào đoàn Luật sư và họ lại được bị can, bị cáo nhờ bào chữa
1.1.1.4 Khái niệm trách nhiệm của người bào chữa
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác
hoặc phải nhận lấy về mình”14
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì khái niệm trách nhiệm được hiểu như sau: Trách nhiệm là khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc trưng của nhân cách trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra Nếu nghĩa vụ đặt ra cho con người vấn đề nhận thức và thực hiện những yêu cầu của xã hội, thì vấn đề trách nhiệm là ở chỗ con người hoàn thành và hoàn thành đến mức nào
13
http://www.saigonminhluat.com/index.php?option=com_content&view=article&id=2789:ch-nh-bao-cha- vien-nhan-dan-nhin-t-lch-s-va-hin-ti&catid=334:hinh-s-to-tung-hinh-s&Itemid=519 [truy cập ngày 15/ 03/2012]
14
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ [truy cập ngày 10/ 03/ 2012]
Trang 24hoặc không hoàn thành những yêu cầu ấy Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hoạt động với nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý thức của con người Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội Khi năng lực chi phối tự nhiên, xã hội của con người lớn lên thì trách nhiệm của con người đối với hành vi của mình cũng lớn lên Về mặt pháp lí, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền
và nghĩa vụ: quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn15
Tóm lại, trách nhiệm được hiểu là khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức xã hội.Trách nhiệm là nghĩa vụ mà xã hội đặt ra cho con người để con người nhận lấy
và thực hiện theo yêu cầu của xã hội Và một trong những yêu cầu của xã hội đề ra
đó có đề cập vấn đề về bào chữa mà ở đây người trực tiếp thực hiện trách nhiệm đó chính là người bào chữa
Qua phân tích, tìm hiểu những định nghĩa khoa học kết hợp với khái niệm về
“người bào chữa” thì “trách nhiệm của người bào chữa” được hiểu như sau: Với yêu cầu xã hội đặt ra, cùng với chức năng bào chữa và kiến thức pháp luật vốn có của mình, người bào chữa phải có nhiệm vụ đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ,bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ
1.1.2 Khái quát về quyền bào chữa của người chưa thành niên
1.1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về người chưa thành niên của các tổ chức trên thế giới
Tùy theo từng quốc gia khác nhau trên thế giới cũng có những khái niệm và
quy định khác nhau về người chưa thành niên cụ thể như sau:
Theo Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em (United Nations Convention
on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18
15
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=14BCaWQ9Mjc1NzQmZ3JvdXBpZD0xMC ZraW5kPSZrZXl3b3JkPQ==&page=1 [truy cập ngày 06/ 03/ 2012]
Trang 25tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”16
TheoTổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên.Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi17
Theo chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi18
Như vậy, theo cách hiểu của các tổ chức thế giới này thì người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách, chưa đủ khả năng để sử dụng quyền và gánh vác nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên
Khái niệm về người chưa thành niên ở Việt Nam
Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong
Hiến Pháp năm 1992, Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Cụ thể như sau:
Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, Chương II: Cá nhân, Mục I, Điều 20 nêu rõ :
"Người đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa
thành niên"
Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 68 cũng nói rất rõ: "Người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này"
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, tại Chương XXXII: Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, cũng đề cập hai nhóm: từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, và
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Theo Điều 1
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt
Nam dưới 16 tuổi”
16
http://luathinhsu.wordpress.com/2010/08/11/khai-niem-nguoi-chua-thanh-nien-va-toi-pham-do-nguoi- chua-thanh-nien-gay-ra-co-so-co-tinh-phap-ly-quan-trong-ngua-dieu-tra-toi-pham-va-xu-ly-nguoi-chua- thanh-nien-pham-toi/ [truy cập ngày 01/03/2012]
Trang 26Như vậy, trong pháp luật Việt Nam, thì cách hiểu phổ biến của pháp luật Việt Nam về người chưa thành niên là chỉ những người chưa đủ 18 tuổi Pháp luật Việt Nam quy định như vậy là vì qua quá trình nghiên cứu về tâm sinh lý của người Việt Nam thì đưa ra kết luận rằng người Việt Nam chỉ phát triển toàn diện về cả thể chất và tâm lý khi ở tuổi 18 Đến tuổi này con người mới thật sự trưởng thành và kiểm soát được suy nghĩ và hoàn toàn có đủ khả năng chịu trách nhiệm về hành vi
mà mình gây ra
Đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên
Việc tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi chưa thành niên là không thể thiếu được đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự Khi nghiên cứu tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này thì cần quan tâm đến 3 vấn đề chính: Thứ nhất, vấn đề tâm sinh lý; thứ hai, trình độ nhận thức; thứ ba, về kinh nghiệm ứng xử Ở lứa tuổi này
có thể được phân thành hai nhóm19
Nhóm thứ nhất: Từ 14 tuổi tròn đến dưới 16 tuổi, có thể nói đây là giai đoạn đầu phát triển về tâm sinh lý Đây là thời kỳ được cho rằng vừa vượt qua giai đoạn trẻ con, thích được chiều chuộng yêu thương Cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình Ở giai đoạn này các em rất dễ trở thành đối tượng của những vụ án hình sự phần lớn do bị xúi giục hoặc bị uy hiếp
Một ví dụ: Nguyễn Văn Phú (54 tuổi) cư ngụ tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã lãnh án 20 năm tù với 3 lần hiếp dâm trẻ em.Tiêu biểu trong số đó là lần Phú dở trò đồi bại với cháu Hồng (sinh năm 1999) Trong lúc cháu Hồng bị Phú thực hiện hành vi đê hèn thì có cháu Châu (sinh năm 2007) chứng kiến Phú đã hăm dọa cấm cháu Châu không được kể về việc mình đã làm với cháu Hồng Cháu Châu
vì sợ quá cũng không dám nói đến khi người nhà thấy biểu hiện đáng ngờ, người cậu gặng hỏi thì được cháu bé kể lại toàn bộ sự việc Phú bị bắt giữ ngay sau đó Còn bé Hồng thì phải chịu một chấn động rất mạnh về mặt tâm lý chỉ biết khóc và không muốn tiếp xúc với bất cứ ai, ngay cả người thân trong gia đình20
Ở giai đoạn này khả năng nhận thức các vấn đề xung quanh của đối tượng
này còn rất nhiều hạn chế.Với đặc điểm tâm sinh lý như vậy thì việc tự bào chữa
Trang 27(hay có thể gọi là kinh nghiệm ứng xử), tự đứng ra bảo vệ mình của người chưa thành niên dường như họ không có và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người bào chữa
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước pháp luật
Nhóm thứ hai: Từ 16 tuổi tròn đến dưới 18 tuổi, đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể lực và tâm lý Quá trình phát triển tâm sinh lý đã ảnh hưởng lớn đến tính cách của người chưa thành niên, làm cho họ dễ xúc động, khi trầm tư, lúc sôi nổi Ở lứa tuổi này tâm trạng của người chưa thành niên rất thất thường, dễ kích động, lòng kiên trì và năng lực tự kiềm chế thấp, dễ bốc đồng nhưng cũng dễ dao động, hăng hái nhưng khi gặp khó khăn lại dễ bỏ cuộc, chán nản, không cố gắng vượt qua Ở độ tuổi này, họ luôn hướng tới sự ham thích mới lạ, hiếu động, muốn thể hiện tính anh hùng, hảo hán, do đó có trường hợp chỉ vì cái nhìn thiếu thiện cảm hay chỉ vì xích mích nhỏ mà các em thực hiện những hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như cố ý gây thương tích, giết người hoặc dễ bị các đối tượng xấu trong xã hội kích động, lôi kéo vào con đường vi phạm pháp luật
Ví dụ điển hình như: Ngày 14-6, Công an huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã bắt khẩn cấp Trương Mậu Đức (17 tuổi), Phan Hồng Sơn (17 tuổi), cùng ngụ huyện Xuân Lộc để làm rõ hành vi giết người và cố ý gây thương tích Sự việc xảy ra như sau: Tối 13-6, Đức và Sơn đến nhà bạn gái chơi thì gặp nhóm của Trần Văn Quang (16 tuổi) đang ở đây Hai bên nảy sinh mâu thuẫn, vì ghen tuông Đức đã dùng dao thủ sẵn trong người đâm liên tục vào cổ Quang dẫn đến tử vong Còn Sơn cũng lấy hung khí đuổi đánh bị thương một số người trong nhóm của Quang21 Chỉ vì một mâu thuẫn, xích mích nhỏ chưa rõ căn cứ Đức, Sơn cùng đồng bọn đã trở thành tội phạm hình sự về tội giết người và cố ý gây thương tích khi đang ở độ tuổi chưa thành niên Độ tuổi còn quá bồng bột chỉ muốn thực hiện hành vi để thỏa mãn cơn nóng giận tức thời mà không nghĩ gì tới hậu quả đã xảy ra sau đó Chính vì sự nông nỗi thiếu suy nghĩ đó đã để lại cho bản thân người chưa thành niên cũng như gia đình và xã hội nhiều hậu quả nghiêm trọng
Vì vậy, về mặt nhận thức có thể nói lứa tuổi này nhân cách của người chưa thành niên đã được hình thành nhưng chưa ổn định Do đó, khả năng nhận thức, trình độ của các đối tượng này chưa cao, tâm lý dễ bị dao động trước những tác động từ bên ngoài nên khả năng tự bào chữa đã xuất hiện nhưng không được bảo
21
http://www.baomoi.com/2-tre-vi-thanh-nien-giet-nguoi-vi-ghen/104/4407268.epi [truy cập ngày 05/ 04/ 2012]
Trang 28đảm Nếu muốn đạt kết quả cao trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa người chưa thành niên với người bào chữa
Nhìn chung, khi đề cập đến khả năng bào chữa của người chưa thành niên
dù ở giai đoạn nào đi nữa thì khả năng bào chữa cũng không được bảo đảm, không
đủ độ tin cậy để có thể làm bằng chứng trước Tòa án Đã là người chưa thành niên thì dù trong giai đoạn nào khi liên quan đến vụ án hình sự đều cần đến người bào chữa Vì vậy đối với những vụ án hình sự mà có đối tượng là người chưa thành niên thì vai trò và trách nhiệm của người bào chữa càng được nâng cao và chú trọng
Khái niệm quyền bào chữa của người chưa thành niên
Trên cơ sở tìm hiểu độ tuổi cũng như đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên kết hợp với khái niệm vê quyền bào chữa, có thể suy ra khái niệm về quyền bào chữa của người chưa thành niên như sau: Quyền bào chữa của người chưa thành niên là tổng thể các quyền của người chưa thành niên được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong việc sử dụng các lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý trong vụ án hình sự Người chưa thành niên có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác nhau của mình
1.2 Cơ sở lý luận về trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên
1.2.1 Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người chưa thành niên
1.2.1.1 Luật Hiến pháp
Nhìn lại dòng chảy lịch sử lập hiến qua bao biến cố, thăng trầm cùng lịch sử đất nước, có thể khẳng định từ khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã có sự quan tâm đến việc bảo đảm quyền của những người bị tình nghi phạm tội, trong đó quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa được coi là một trong những quyền Hiến định, được cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp Từ Hiến pháp 1946,1959,
1980 luôn đề cao vấn để bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo bằng “quyền bào chữa” Đến Hiến pháp năm 1992, ngoài việc kế thừa các Hiến pháp trước thì bị cáo có thể
tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, lại một lần nữa quyền bào
chữa tiếp tục được khẳng định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo
có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được
Trang 29thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Điều 132 Hiến pháp
1992)
Vì vậy việc bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ bị can, bị cáo là một trong những biểu hiện của tính dân chủ và nhân đạo xã hội chủ nghĩa, một cách thức để bảo đảm cho hoạt động tố tụng tiến hành một cách khách quan, công bằng
và nhân đạo
1.2.1.2 Pháp luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã cụ thể hóa chế định bào chữa Cụ thể tại
khoản 1 Điều 58 của Bộ luật này thì quy định rằng: “Người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can…” hoặc “từ khi một người có quyết định tạm giữ, người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa ( điểm d khoản 2
Điều 48) Trong Bộ luật này đã bổ sung thêm trường hợp “người bị tạm giữ” cũng
có quyền bào chữa nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tại Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sư 2003 có quy định rõ:
“người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào
chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ” Và theo tinh thần của Bộ luật này tại khoản
1 Điều 56 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã quy định cụ thể những chủ thể có thể trở
thành người bào chữa: “Người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp
pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân”
Nhìn chung Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đã mở rộng phạm vi bào chữa và
có nhiều điều luật quy định đảm bảo chế định bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và người chưa thành niên nói riêng
1.2.2 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên
Người bào chữa là người tham gia tố tụng với trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.Và khi đề cập đến đối tượng là người chưa thành niên thì trách nhiệm của người bào chữa lại càng được chú trọng hơn Bởi lẽ, sự có mặt của người bào chữa là yếu tố bắt buộc khi giải quyết vụ án hình sự liên quan đến người chưa thành niên.Vì ở độ tuổi này năng lực hành vi tố tụng của họ chưa đầy đủ cũng như khả năng nhận thức còn rất nhiều hạn chế, dễ nhạy cảm dễ bị dao
Trang 30động bởi các tác động bên ngoài Vì vậy rất cần có người bào chữa để giúp đỡ họ về mặt pháp lý hỗ trợ trong việc chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý hình sự
Trước tiên khi tham gia vào hoạt động bào chữa với đối tượng này thì người bào chữa có trách nhiệm phải tìm hiểu sâu hơn về nhân thân của người chưa thành niên Tìm hiểu về gia đình, nhà trường và môi trường xung quanh mà thành phần này đang sinh sống và học tập để biết rõ hơn về động cơ phạm tội, mục đích phạm tội, và hành vi pham tội này có bị xúi giục hay không… Từ việc tìm hiểu những yếu
tố đó sẽ hỗ trợ cho người bào chữa trong việc tìm ra những chứng cứ để chứng minh
họ vô tội hoặc bằng những chứng cứ đó giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ Tiếp theo, người bào chữa có trách nhiệm thay mặt cho người chưa thành niên giải quyết các thủ tục của quá trình tố tụng Giải thích cho người chưa thành niên hiểu rõ những quyền mà họ được hưởng cũng như nghĩa vụ mà họ phải thực hiện trong suốt quá trình tố tụng…
Tóm lại, khi tham gia vào hoạt động bào chữa ngoài trách nhiệm giúp bị can,
bị cáo về mặt pháp lý, đảm bảo cho họ thực hiện những quyền tố tụng do luật định, người bào chữa còn phải đảm bảo được những quy định của pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan của vụ án Hai yếu tố này đòi hỏi phải được tồn tại song song và xuyên suốt trong suốt qua trình bào chữa
1.2.3 Tầm quan trọng của người bào chữa dành cho người chưa thành niên
Đối với đối tượng là người chưa thành niên thì tầm quan trọng của việc bào chữa càng được thể hiện rõ nét hơn Khi được pháp luật trao quyền, ngoài việc giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý, kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan và đúng pháp luật thì người bào chữa còn có một tầm quan trọng nữa là giúp cho người chưa thành niên nhận thức đúng sai trong xã hội Người bào chữa góp phần giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, nhà trường, tổ chức, đơn vị mà người chưa thành niên phạm tội là thành viên làm sáng tỏ bản chất vụ án có cái nhìn đúng đắn, tạo điều kiện cho người chưa thành niên sớm hòa nhập cộng đồng, phát triển bình thường với xã hội
Khi tham gia vào quá trình bào chữa dường như quyền và nghĩa vụ của hai đối tượng này đã nhập lại thành một Người bào chữa luôn tìm mọi cách làm sáng tỏ
sự thật khách quan của vụ án và đưa ra những chứng cứ, tình tiết để bảo vệ quyền
và lợi ích cho thân chủ mình, cùng thân chủ hợp thành một bên tranh tụng Sự tham
Trang 31gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự là cần thiết và khách quan, trước hết là
thực hiện “nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo” (Điều 132 Hiến pháp 1992) Đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được toàn diện, đầy đủ “nhằm phát
hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội" (Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự
và người chưa thành niên nói riêng
Trang 32CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA,
TRUY TỐ, XÉT XỬ
- - 2.1 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
2.1.1 Có mặt khi hỏi cung, lấy lời khai
Hỏi cung bị can là một hoạt động điều tra do Điều tra viên tiến hành nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can22, yêu cầu bị can phải khai báo mọi hành vi phạm tội của mình và của đồng phạm trong vụ án cũng như những tình tiết khác có liên quan nhằm làm rõ toàn bộ vụ án, phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử
và phòng ngừa tội phạm Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập lời khai của bị can về các tình tiết có liên quan đến vụ án, phục vụ công tác điều tra và xử lý đối với vụ án đó Mục đích của hỏi cung bị can là thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của bị can về toàn bộ sự thật của vụ án, hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm cũng như các tin tức, tài liệu khác mà bị can biết
có ý nghĩa đối với công tác điều tra và phòng ngừa tội phạm
Quá trình hỏi cung là nghiêm túc, khách quan nên đối với đối tượng là người chưa thành niên thì sự có mặt của người bào chữa trong vụ án hình sự nói chung và trong các buổi hỏi cung nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng và là yếu tố bắt buộc Người bào chữa có quyền khiếu nại hoặc không công nhận kết quả của những buổi
hỏi cung mà không có mặt họ vì “Mọi trường hợp không có người bào chữa tham
gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên là vi phạm
cho người chưa thành niên yên tâm hơn, tự tin hơn, khai báo chính xác hơn trước những câu hỏi của Điều tra viên mà còn ngăn ngừa được những sai phạm từ phía cơ
22
Nguyễn Ngọc Điệp, Những điều cần biết về thủ tục: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, Nxb,
Công an Nhân Dân năm 2001, trang 31
23
Khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
Trang 33quan tiến hành tố tụng, tránh tình trạng bức cung, mớm cung, nhục hình Nếu phát hiện Điều tra viên có vi phạm pháp luật trong quá trình hỏi cung, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền24, nhằm bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong quá trình khai báo
Hỏi cung, lấy lời khai là hoạt động đầu của giai đoạn điều tra và cũng là mắt xích quan trọng góp phần vào việc làm sáng tỏ vụ án trong các giai đoạn tố tụng về sau Vì vậy, vai trò của người bào chữa trong giai đoạn này có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nhất là khi tham gia bào chữa cho người chưa thành niên thì vai trò của người bào chữa càng được đánh giá cao hơn Trước khi bắt đầu vào công việc hỏi cung, lấy lời khai bị can người bào chữa có trách nhiệm phải xem xét đến nơi lấy lời khai và cách thức bố trí trong phòng hỏi cung lấy lời khai Nếu thấy không khí trong phòng quá căng thẳng thì có thể yêu cầu Điều tra viên bố trí lại phòng hỏi cung cho phù hợp với độ tuổi, cũng như tâm lý của người chưa thành niên Vì đây là lứa tuổi
mà tâm lý dễ nhạy cảm, dễ bị kích động với môi trường xung quanh mà nhất là khi trở thành đối tượng của một vụ án hình sự thì luôn có tâm lý lo sợ là điều không thể
tránh khỏi nên “Nơi lấy lời khai hoặc hỏi cung cần được bố trí theo cách thức phù
cần tạo cho đối tượng này có một tâm lý thoải mái để họ có thể cảm nhận đây là một cuộc trao đổi bình thường chứ không phải là một cuộc hỏi cung căng thẳng Từ
đó sẽ giúp cho công việc hỏi cung được tiến hành thuận tiện và đạt kết quả nhanh chóng, góp phần thành công vào việc điều tra, làm sáng tỏ vụ án
Tại điểm a, khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Người bào
chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bi tạm giữ, bi can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác” Thông thường, nếu được Điều tra viên đồng ý thì
người bào chữa có quyền đặt các câu hỏi về những tình tiết chứng minh người chưa thành niên vô tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ mà vì lý
24
Điều 31 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân
có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó
Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục Trình
tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này quy định.”
25
Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
Trang 34do nào đó Điều tra viên không hỏi đến để Điều tra viên lưu ý những tình tiết có lợi cho bị can đáng được chú ý và cân nhắc Một mặt, giúp người bào chữa hoàn thiện
hồ sơ theo hướng bào chữa của mình, mặt khác sẽ giúp cho bị can có tâm lý an tâm hơn khi làm việc với Điều tra viên
Trong quá trình Điều tra viên tiến hành lấy lời khai người bào chữa có trách nhiệm giám sát việc hỏi cung của Điều tra viên đối với người chưa thành niên Giám sát cả về thái độ, hành vi, cách sử dụng ngôn ngữ trong quá trình hỏi cung, cũng như thời gian hỏi cung dành cho đối tượng này Nếu như Điều tra viên có thái
độ không tốt trong quá trình hỏi cung mà theo người bào chữa nếu tiếp tục sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả điều tra thì người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi Điều tra viên để nhằm mục đích đạt được hiệu quả cao trong quá trình lấy lời khai Căn cứ tại khoản 2 Điều 10 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC- TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
đã có quy định: “Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng
cần hạn chế đến mức thấp nhất số lần lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can
là người chưa thành niên Điều tra viên, Kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người chưa thành niên phải có thái độ, hành vi cũng như sử dụng ngôn ngữ phù hợp với độ tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành của họ Thời gian lấy lời khai, hỏi cung cần được xác định dựa trên độ tuổi, tình trạng tâm lý, sức khỏe cũng như khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, phát triển của người chưa thành niên và yêu cầu điều tra, Việc lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can phải được tạm dừng ngay khi người chưa thành niên có biểu hiện mệt mỏi, ảnh hưởng đến khả năng khai báo chính xác, đầy đủ” Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần,
là những đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị kích động, nên muốn đạt được hiệu quả cao trong quá trình hỏi cung khi thấy cần thiết người bào chữa cần đề xuất với cơ quan tố tụng cần có những biện pháp thích hợp nhất, cách làm việc khoa học phù hợp với đặc điểm tâm lý, sức khỏe… vì nếu như tạo cho bị can có tâm lý thoải mái thì việc hỏi cung, lấy lời khai của bị can sẽ rất thuận tiện và dễ dàng Người bào chữa có quyền yêu cầu, đề xuất, điều chỉnh hoặc thay đổi những điều kiện chủ quan hoặc khách quan làm ảnh hưởng đến kết quả trong buổi hỏi cung, nhằm góp phần đảm bảo cho việc xét xử nhanh chóng, khách quan, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Trang 35“Thu thập chứng cứ được hiểu là việc ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ
của cơ quan tiến hành tố tụng làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh và
của quá trình chứng minh trong Tố tụng hình sự Theo quy định pháp luật hiện hành, người bào chữa có một vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá thu thập tài liệu, chứng cứ Người bào chữa được quyền sử dụng tổng hợp những kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức chuyên môn của mình trong đó có kiến thức về chứng cứ
và đánh giá chứng cứ nhằm góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án
Tại điểm d khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về việc cho
phép người bào chữa được “thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào
chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác” Đây là điểm mới so với Bộ luật
Tố tụng hình sự 1988, là bổ sung rất quan trọng để đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Và đây cũng là một sự công nhận gián tiếp tư cách chủ thể thu thập chứng cứ của người bào chữa Và đối với người chưa thành niên thì vai trò của người bào chữa càng được thể hiện rõ nét hơn Tại Điều 9 Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền
bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có quy định: “Cơ quan điều tra,
Điều tra viên tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác” Theo tinh thần
của Thông tư đã mở rộng phạm vi cho người bào chữa trong giai đoạn điều tra nói chung và quá trình thu thập chứng cứ nói riêng góp phần cho hoạt động bào chữa
cho người chưa thành niên đạt hiệu quả cao Vì vậy trong trường hợp “Nếu thấy cần
thiết cho quá trình lấy lời khai, hỏi cung thì có thể cho đại diện gia đình hỏi người
26
Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội năm 2001, trang 101
GVHD: ThS Mạc Giáng Châu 28 SVTH: Ngô Trà My
Trang 36bị tạm giữ, hỏi bị can những câu hỏi mang tính chất động viên, thuyết phục, giáo dục”27 Người bào chữa có quyền đề xuất với Cơ quan tiến hành tố tụng cho phép người đại diện gia đình có thể hỏi người chưa thành niên những câu hỏi mang tính chất động viên để các em giảm bớt căng thẳng, động viên các em khai đúng sự thật,
từ đó người bào chữa có thể thu thập được nhiều chứng cứ, tình tiết liên quan đến
vụ án Làm căn cứ để góp phần cho hoạt động bào chữa đạt kết quả cao, quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên sẽ được bảo vệ trước cơ quan tiến hành
tố tụng bằng những chứng cứ hợp pháp, đúng sự thật mà người bào chữa đã thu thập được
Người bào chữa có thể gặp gỡ trao đổi với người thân của người chưa thành niên Qua tiếp xúc với những người thân thuộc của đối tượng này người bào chữa
có thể tìm hiểu được về nhân thân người chưa thành niên, môi trường sống, môi trường học tập… để từ đó tìm ra được nguyên nhân phạm tội, mục đích phạm tội, cũng như những tình tiết giảm nhẹ có lợi cho người chưa thành niên Qua đó người bào chữa có thể thu thập được những tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án làm chứng cứ xác thực để chứng minh bị cáo vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Từ những tình tiết giảm nhẹ đó là căn cứ để Hội đồng xét xử đưa ra mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với đối tượng này
Ngoài ra, người bào chữa cũng có quyền trong những hoạt động điều tra khác
mà có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa để thu thập chứng cứ, chuẩn bị cho luận cứ bào chữa như: xem xét đối chiếu lời khai của người chưa thành niên với các biên bản lấy lời khai có đầy đủ và chính xác với nội dung hỏi và trả lời trong suốt quá trình lấy lời khai, hỏi cung hay không Xem xét các căn cứ và đánh giá chứng cứ của Điều tra viên có phù hợp và
khách quan với thực tế vụ án hay không Nếu như “Trường hợp biên bản ghi chưa
đầy đủ, chưa chính xác nội dung câu hỏi và trả lời, người bào chữa có quyền đề
bào chữa có quyền độc lập thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án để chuẩn bị luận cứ cho bài bào chữa của mình Đây không phải là một hoạt động tố
27
Khoản 4 Điều 10 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
28
Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Trang 37tụng mà đơn thuần là một biện pháp để người bào chữa thực hiện trách nhiệm bào
chữa của mình “Ngay sau khi thu thập được những tài liệu đồ vật liên quan đên vụ
án người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án” 29 tất cả tài liệu, đồ vật mà mình đã thu thập được Vì trong nhiều trường hợp những tài liệu, đồ vật đó có ý nghĩa làm sáng tỏ tình tiết của vụ án Và muốn thuyết phục được Cơ quan tiến hành tố tụng tin rằng những chứng cứ đó khẳng định rằng thân chủ của mình vô tội hay với những tài liệu đồ vật như vậy thì một mình bị can không thể nào thực hiện được hành vi phạm tội mà có đồng phạm, hay bị xúi giục…Muốn đưa ra được kết luận như vậy thì người bào chữa phải có trách nhiệm chứng minh để làm rõ những tình tiết làm rõ sự việc Từ đó Cơ quan tiến hành Tố tụng sẽ có cơ sở căn cứ để có thể thay đổi toàn bộ nội dung vụ án nhằm xác định người chưa thành niên vô tội hoặc xét về những tình tiết nhân thân, độ tuổi, cũng như xét về khả năng nhận thức còn nhiều hạn chế mà đưa ra những quyết định nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ
Tóm lại, thông qua việc thực hiện các quyền năng tố tụng của mình theo quy định của pháp luật Người bào chữa góp phần tích cực vào việc giúp Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, không chỉ làm rõ chứng cứ có tội mà còn làm rõ những chứng cứ vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên Hạn chế tình trạng oan sai
và vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, tạo điều kiện cho việc giải quyết
vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật
2.1.3 Gặp bị can, bị cáo khi đang bị tam giam
Tại điểm e khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người
bào chữa được quyền gặp người bị tạm giam, bị can, bị cáo đang bị tạm giam”
Bào chữa sẽ trở thành hình thức nếu như người bào chữa không gặp gỡ trực tiếp để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của bị can Do vậy việc gặp gỡ đối tượng này trong phòng tạm giam là điều cần thiết, một mặt để tạo tâm lý an tâm cho người chưa thành niên Mặt khác người bào chữa có thể có cơ hội tìm thêm được những chứng
cứ mới góp phần vào hoạt động bào chữa đạt kết quả tốt hơn “Khi người bào chữa
có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra cho gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam thì Cơ quan điều tra làm các thủ tục theo quy định của pháp luật để người bào
29
Điểm a khoản 3 Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
Trang 38chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam” 30 Sau khi nhận đươc quyết
định của cơ quan điều tra về việc được gặp người chưa thành niên khi đang bị tạm giam thì việc đầu tiên mà người bào chữa cần làm là kiểm tra việc tạm giam và nơi tạm giam của đối tượng này có đúng với quy định hay không nhằm mục đích đảm bảo sự an toàn cho người chưa thành niên Vì theo quy định, người chưa thành niên
“phải được tạm giữ, tạm giam riêng, không được giam giữ chung với người đã
đối tượng này thì cũng hoàn toàn khác nhau, khác cả về động cơ và mục đích phạm tội Nên nếu như giam giữ chung người chưa thành niên sẽ bị ảnh hưởng, luôn có tâm lý sợ sệt, tinh thần không ổn định Vì vậy rất khó để Điều tra viên cũng như người bào chữa tiếp xúc trong hoạt động lấy lời khai thu thập thêm chứng cứ, cũng như gây khó khăn cho quá trình tố tụng sau này Do đó, trong trường hợp này người bào chữa có quyền đề xuất với cơ quan điều tra khắc phục ngay, tránh những tác động xấu làm ảnh hưởng đến thể chất và tin thần của người chưa thành niên
Trong quá trình tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên “Khi xét thấy người
chưa thành niên phạm tội có biểu hiện hoang mang, lo lắng có thể manh động dẫn đến hành vi tiêu cực thì cơ quan điều tra yêu cầu cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy ra Chế độ tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội phải được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật
đang tạm giam nói riêng và trong suốt quá trình Tố tụng nói chung Trong trường hợp thấy người chưa thành niên có biểu hiện hoang mang, lo lắng dễ dẫn đến những hành động tiêu cực thì người bào chữa có quyền đề xuất với Cơ quan điều tra cũng như cơ sở giam giữ áp dụng các biện pháp phù hợp để tránh hậu quả xấu có thể xảy
ra Vì đối tượng này là đối tượng còn đang ở lứa tuổi bồng bột, dễ bị ức chế nên khi
bị kích động sẽ có những hành động thiếu suy nghĩ gây hậu quả đáng tiếc xảy ra
30 Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
31
Khoản 4 Điều 8 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
32
Khoản 4 Điều 8 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
Trang 39Người bào chữa có trách nhiệm phải thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với người chưa thành niên để có thể nắm được đầy đủ, chi tiết hơn các tình tiết của
vụ án, cũng như tâm tư nguyện vọng mà đối tượng này muốn hướng tới Vì đây là lứa tuổi nhạy cảm nên khi tiến hành các hoạt động tố tụng thì cần phải tạo tâm lý thoải mái cho bị can để đảm bảo cho việc điều tra án có hiệu quả hơn Từ việc gặp
gỡ đó người bào chữa còn có thể giúp cho người chưa thành niên cũng như người đại diện hợp pháp của bị can nhận thức đúng đắn vai trò của người bào chữa và việc người bào chữa tham gia trong quá trình giải quyết vụ án chính là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Từ đó sẽ tạo được tâm lý an tâm cho người chưa thành niên khi ra xét xử Tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, giải thích những vấn đề pháp luật liên quan, cần thiết đến việc bảo vệ bị can, bị cáo mà bị can, bị cáo chưa hiểu hoặc chưa trình bày rõ với Cơ quan tiến hành tố tụng nhằm minh oan hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của họ Qua quá trình gặp gỡ trao đổi đó nếu phát hiện có sai lệch, mâu thuẫn với lời khai của biên bản hỏi cung có trong hồ sơ vụ án thì người bào chữa hoàn toàn có quyền khiếu nại, có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành việc lấy lời khai của bị can với sự có mặt, giám sát của mình Vì vậy đặt ra vấn đề nếu trong biên bản hỏi cung bị can có sự tham gia của người bào chữa
và biên bản hỏi cung không có sự tham gia của người bào chữa có sự mâu thuẫn với nhau thì Cơ quan tiến hành Tố tụng sẽ sử dụng biên bản nào để buộc tội Vì vậy, tại
Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ
có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất đề kết tội” Vì vậy
để đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án chính xác khách quan thì người bào chữa cần phải có mặt xuyên suốt trong quá trình tố tụng, nhất là khi xem xét, sâu chuỗi lại lời khai, lời nhận tội của người chưa thành niên Bỡi lẽ, họ là đối tượng bị hạn chế về nhiều mặt: tâm sinh lý chưa phát triển đầy đủ cộng với sự non nớt trong nhận thức rất dễ bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của chính họ
Tóm lại, sự tham gia của người bào chữa ở giai đoạn điều tra không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ trong Tố tụng hình sự mà còn nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường pháp chế trong giai đoạn điều tra Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong vụ án hình sự không những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắc phục những sai lầm trong việc xử lý vụ án Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên và các đương sự khác
Trang 40bằng những phương tiện hợp pháp Người bào chữa thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền công dân nói chung người chưa thành niên, góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam
2.2 Trách nhiệm của người bào chữa đối với người chưa thành niên trong giai đoạn truy tố
2.2.1 Xem xét lại bản cáo trạng
Bản cáo trạng là một văn bản pháp lý thể hiện quan điểm, thái độ của Cơ quan kiểm sát đối với người phạm tội và vụ án Vì vậy, nội dung bản cáo trạng phải thể hiện đầy đủ những vấn đề phải chứng minh được quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự trong vụ án hình sự Bản cáo trạng không chỉ phản ánh kết quả tài liệu chứng cứ của hoạt động điều tra thu thập được mà còn nêu rõ các biện pháp điều tra
để thu thập tài liệu đó Sự trình bày trong bản cáo trạng phải đầy đủ, khách quan đối chiếu với những quy định của pháp luật Bản cáo trạng là cơ sở để Tòa án tiến hành hoạt động xét xử, là căn cứ để xác định giới hạn xét xử vụ án Với tính chất quan trọng như vậy thì trong trường hợp nếu có gì sai sót trong bản cáo trạng sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
Vì vậy, trong giai đoạn này “Người bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi chép và
sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa theo quy
quyền của người bào chữa là thể hiện nguyên tắc công khai, dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự, hạn chế được oan sai trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Đối với vụ án mà có bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì vai trò của người bào chữa trong giai đoạn này càng quan trọng hơn Với đặc điểm tâm sinh lý chưa phát triển toàn diện, khả năng nhận thức còn nhiều hạn chế nên không thể nào
có khả năng kiểm tra lại các nội dung trong bản cáo trạng cũng như không thể nào
có đủ hiều biết để tìm ra những sai sót trong bản cáo trạng để kiến nghị với Viện kiểm sát xem xét lại được Vì vậy trách nhiệm của người bào chữa trong giai đoạn này là phải kiểm tra lại nội dung của bản cáo trạng có đúng với thực tế từ giai đoạn khởi tố và điều tra đã thực hiện hay không Cũng như xem xét về độ tuổi của người chưa thành niên có trùng khớp với những điều tra ban đầu hay không, hoặc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng điều luật, khung hình phạt có đúng theo quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội hay không Vì đối với người
33
Khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003