Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra với các trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự khác Bồi thường của Nhà nước là một loại trách nhiệm pháp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA
MSSV: 5075280
LỚP: TƯ PHÁP 3 K33
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 7
1.1 Tìm hiểu chung về hệ thống Cơ quan tiến hành tố tụng 7
1.1.1 Khái niệm hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng 7
1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong bộ máy Nhà nước 7
1.2 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại 10
1.2.1 Trách nhiệm bồi thường trong hợp đồng 10
1.2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 11
1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 11
1.3.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại 11
1.3.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 12
1.3.3 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại 12
1.3.4 Trách nhiệm bồi thường Nhà nước 13
1.3.5 Phân biệt trách nhiệm bồi thường do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra với các trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự khác 16
1.4 Bản chất và ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 18
1.4.1 Bản chất của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 18
1.4.2 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 19
1.5 Lịch sử hình thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 20
1.5.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật La Mã 20
1.5.2 Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật cổ (Luật thời Lê - Nguyễn) 21
1.5.3 Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn hiện nay 22
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền SVTH: Nguyễn Thanh Mãy
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 29
2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố
Trang 3tụng gây ra 29
2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra 29
2.1.2 Phải có hành vi trái pháp luật 30
2.1.3 Phải có lỗi của người gây thiệt hại 31
2.1.4 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra 33
2.2 Chủ thể của quan hệ bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra 35
2.2.1 Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại 35
2.2.2 Chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại 36
2.2.2.1 Đối với cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong tố tụng hình sự 36
2.2.2.2 Về cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính 38
2.3 Phạm vi bồi thường thiệt hại 39
2.3.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự 39
2.3.2 Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính 40
2.3.3 Các thiệt hại được bồi thường theo quy định của Luật bồi thường Nhà nước 41
2.3.3.1 Thiệt hại về vật chất được bồi thường 43
2.3.3.2 Thiệt hại về tinh thần được bồi thường 45
2.3.3.3 Khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự 45
2.3.4 Các trường hợp khi có thiệt hại xảy ra Cơ quan tiến hành tố tụng cũng không có trách nhiệm bồi thường 46
2.3.5 Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại 48
2.4 Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại 50
2.4.1 Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Cơ quan gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi thường 50
2.4.2 Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án 52
2.5 Kinh phí bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ 53
2.5.1 Nguồn kinh phí bồi thường 53
2.5.2 Lập dự toán và quyết toán kinh phí bồi thường 54
2.5.3 Trình tự thủ tục chi trả tiền bồi thường 54
2.5.4 Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ 54
CHƯƠNG III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 56
Trang 43.1 Tình hình thực tiễn và những vướng mắc khi áp dụng Nghị quyết 388 và qua
một năm thực hiện Luật bồi thường Nhà nước thay thế Nghị quyết 388 56
3.1.1 Tình hình thực tiễn và những vướng mắc trong thời gian qua khi thực
hiện Nghị quyết 388 56 3.1.2 Nguyên nhân dẫn đến những bất cập của nghị quyết 388 65
3.1.3 Những điểm mới của Luật bồi thường Nhà nước 68
3.2 Vướng mắc trong triển khai thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước 73 3.2.1 Nguyên nhân 78
3.2.2 Một số kiến nghị để thực hiện tốt hơn việc bồi thường thiệt hại của Cơ
quan tiến hành tố tụng 79 PHẦN KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước mà vấn đề then chốt là xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân đã đặt ra nhiệm vụ củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) Để xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần cải cách nền hành chính quốc gia, song cùng với những cải cách tư pháp để hướng đến mục tiêu xây dựng một hệ thống
cơ quan tư pháp thực sự sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, vì công lý, công bằng xã hội, theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước là:
Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, bảo vệ trật tự, kỷ cương, đảm bảo và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
Đi đôi với những định hướng chiến lược này, việc cải cách tư pháp còn hướng tới giải quyết những đòi hỏi mà thực tiễn đặt ra, cụ thể: kịp thời giải quyết có hiệu quả của các vụ khiếu kiện yêu cầu bồi thường do bị oan, sai trong hoạt động tố tụng, kết hợp với việc xây dựng cơ chế, chính sách để mang lại bước phát triển thực sự đổi mới của hệ thống tư pháp từ Trung ương tới địa phương
Nhưng so với những định hướng trên, hiện nay tổ chức và hoạt động của hệ thống
cơ quan tư pháp vẫn chưa có những bước đột phá để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, trong đó điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn để gây ra oan, sai cho công dân Đối với nhiều địa phương, khi có oan, sai xảy ra nhưng cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) lại chưa kịp thời giải quyết việc bồi thường cho người bị thiệt hại, từ đó gây bất bình trong dư luận nhân dân, tạo ra một trong số tác nhân gây cản trở cho công tác cải cách và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung Vì vậy, việc khắc phục thiệt hại do cơ quan THTT gây ra đang là vấn đề có tính thời sự trong khoa học pháp lý nói riêng và trong định hướng cải cách tư pháp nói chung
Hiện nay, ngoài quy định của Hiến pháp và Bộ luật dân sự (BLDS) 2005, Nhà nước ta
đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để từng bước cụ thể hóa việc giải quyết loại trách nhiệm nhà nước (TNNN) bồi thường thiệt hại (BTTH) do hoạt động của cơ quan THTT
Trang 6gây ra Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều sự bất cập cả trong việc lập pháp, lập quy lẫn cơ chế bảo đảm thực hiện loại TNNN này để hoàn thiện hơn những quy định về trách nhiệm bồi thường do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Nhà nước đã ban hành Luật bồi thường nhà nước có hiệu lực ngày 01/01/2010 Với những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài
"Bồi thường thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra", về phương diện lý luận và
phương diện thực tiễn sẽ góp phần giải quyết tốt hơn vấn đề có tính thời sự cấp thiết này
2 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định và thực tiễn
giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và công dân qua việc thực hiện trách nhiệm nhà nuớc BTTH trong các vụ việc oan, sai mà các cơ quan THTT gây ra
* Phạm vi nghiên cứu: BTTH do cơ quan THTT là đề tài rộng, chứa đựng nhiều vấn
đề phức tạp về cả lý luận và thực tiễn Đề tài nghiên cứu liên quan đến cơ quan THTT là
cơ quan nhà nước được giao thực thi quyền tư pháp, tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và giải quyết các vụ việc tranh chấp xảy ra trong xã hội Hoạt động bảo vệ pháp luật của cơ quan THTT là hoạt động liên quan đến nhiều người, nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ đan xen, có sự tham gia của nhiều cơ quan và chịu sự điều chỉnh của nhiều loại quy phạm của cả luật nội dung lẫn hình thức Đặc biệt, hoạt động này lại phải tuân theo những trình tự, thủ tục tố tụng khác nhau (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính…), vì vậy, phù hợp với đối tượng nghiên cứu, đề tài giới hạn
ở những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giải quyết BTTH do quan THTT gây ra cho người bị oan, sai trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Trên thực tế, dù hoạt động theo trình tự, thủ tục tố tụng nào thì gây oan, sai cho công dân là khả năng hoàn toàn có thể xảy ra, do khi thi hành công vụ của cơ quan THTT đã có hành vi hoặc quyết định tố tụng trái pháp luật, xâm phạm quyền tư pháp Việc nghiên cứu sẽ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu về BTTH do bị oan, sai mà Cơ quan THTT gây ra với tính chất thực hiện TNNN từ hoạt động của cơ quan THTT Việc giải quyết BTTH giữa
cơ quan THTT và người bị oan, sai được đặt trong mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và công dân khi thực thi quyền lực tư pháp
* Mục đích nghiên cứu đề tài:
Trang 7Làm rõ được đặc điểm, nội dung, bản chất của TNNN trong việc BTTH do của cơ quan THTT gây ra khi tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Phân tích để thấy được thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết BTTH do Cơ quan THTT gây ra phát sinh từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hiện nay
Căn cứ vào định hướng xây dựng pháp luật, thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết BTTH do cơ quan THTT gây ra để đề xuất hướng xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết BTTH đối với các vụ việc có oan, sai do cơ quan THTT gây ra trong thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan THTT
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn trước hết được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với việc vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.Ngoài ra, để làm sáng tỏ từng luận điểm khoa học, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, lôgíc, lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp khác
4 Bố cục đề tài
Đề tài luân văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành
tố tụng gây ra
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành
tố tụng gây ra, vướng mắc và một số kiến nghị
Trang 8CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 1.1 Tìm hiểu về hệ thống Cơ quan tiến hành tố tụng
1.1.1 Khái niệm hệ thống các Cơ quan tiến hành tố tụng
Hệ thống Cơ quan tiến hành tố tụng là một bộ phận cấu thành nên bộ máy Nhà nước ta, để thực hiện chức năng, điều tra, truy tố, xét xử, góp phần giữ gìn trật tự xã hội
và đảm bảo cho việc thực hiện đúng đắn những quy định của Pháp luật Một trong những biểu hiện của phương pháp quyền uy trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là Nhà nước quy định cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện các chức năng như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người thực hiện tội phạm, buộc họ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật một cách nghiêm chỉnh Do tính chất phức tạp của vụ án hình sự mà không phải bất kỳ cơ quan nào cũng có quyền tiến hành các hoạt động tố tụng này Chỉ có những cơ quan nào được Nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ trong các giai đoạn tố tụng mới tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội Những cơ quan này được gọi là Cơ quan tiến hành tố tụng
Vì vậy, Cơ quan tiến hành tố tụng là các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được giao thực hiện các chức năng tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, dân sự và hành chính
Hệ thống Cơ quan tiến hành tố tụng được quy định theo Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Điều 29 của Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước, Cơ quan tiến hành
tố tụng gồm có: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án
1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong bộ máy Nhà nước
Trong các cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra chiếm vị trí rất quan trọng Giai đoạn điều tra được coi là giai đoạn giữ vai trò thành bại đối với cả tiến trình tố tụng hình sự, kết quả của việc điều tra là cơ sở để Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội Hơn nữa thực tế cho thấy, những kết quả đạt được cũng như những sai lầm mắc phải trong quá trình giải quyết vụ án hình
Trang 9sự như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội… thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra Ngoài ra, hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra còn tạo điều kiện cho công tác xét xử bằng việc cung cấp chứng cứ về tội phạm và người phạm tội Mặt khác, hoạt động của
Cơ quan điều tra còn góp một phần to lớn vào việc thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng
và chống tội phạm, bảo đảm giữ gìn an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội
Cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm theo nguyên tắc Cơ quan điều tra cấp nào thì điều tra những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa
án nhân dân cấp đó (đoạn 2 khoản 4 Điều 110 BLTTHS) Theo đó, Cơ quan điều tra cấp huyện, Cơ quan điều tra quân sự cấp khu vực điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực; Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra những vụ án hình
sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp dưới nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; Cơ quan điều tra cấp Trung ương chỉ điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra
Để thực hiện hoạt động điều tra, các Cơ quan điều tra có quyền áp dụng mọi biện pháp do luật định để xác định tội phạm và kẻ phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa
Về cụ thể, Cơ quan điều tra được tổ chức thành nhiều đơn vị khác nhau bao gồm Cơ quan điều tra ở lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
Tổ chức và thẩm quyền điều tra của từng đơn vị khác nhau phù hợp với chức năng, nhiệm vụ từng đơn vị
Chức năng của Viện kiểm sát được thể hiện qua những điểm sau: Theo Luật Hiến pháp 1992 quy định thì Viện kiểm sát là một trong bốn cơ quan quan trọng tạo nên Bộ máy Nhà nước Nếu như Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền lập hiến và lập pháp, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội có nhiệm vụ chấp hành Hiến pháp và Pháp luật do Quốc hội ban hành thì Viện kiểm sát là cơ quan được Quốc hội giao nhiệm vụ
Trang 10kiểm tra và giám sát việc tuân theo Hiến pháp và Pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức Kinh tế, lực lượng vũ trang, mọi công dân trong hoạt động tư pháp Khi có hành vi
vi phạm Pháp luật trong lĩnh vực tư pháp thì Viện kiểm sát thực hiện những biện pháp bảo đảm cho Hiến pháp và Pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh trong phạm vi cả nước bằng cách như kiến nghị khác phục sửa chửa những thiếu sót sai lầm trong quá trình tố tụng, đề nghị cơ quan có thẩm quyền thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu điều tra
bổ sung… Bên cạnh chức năng kiểm sát tư pháp chung đối với tất cả các hoạt động tố tụng thì riêng biệt trong tố tụng hình sự, cơ quan Viện kiểm sát được giao một quyền năng đặc biệt là cơ quan duy nhất có quyền thực hành quyền công tố Đây là chức năng quan trọng mà luật đã quy định, cho phép phân biệt vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước ta với các cơ quan khác của Nhà nước Đó là quyền thay mặt Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án và đề nghị Tòa án áp dụng loại hình phạt và mức hình phạt đối với người phạm tội
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân có mối quan hệ mật thiết với nhau Một mặt, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là chức năng thay mặt nhà nước giám sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm và đưa ra các biện pháp khắc phục bảo đảm cho pháp luật đước thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất Mặt khác, thông qua chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp mà phát hiện có sự vi phạm pháp luật đến mức cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước buộc tội người vi phạm pháp luật để có biện pháp xử lý đúng đắn Việc thực hiện tốt chức năng kiểm sát tư pháp hình sự là một điều kiện để cơ quan Viện kiểm sát thực hiện đúng đắn
và hiệu quả quyền công tố
Nói tóm lại, trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có hai chức năng nhiệm vụ quan trọng sau:
Thực hành quyền công tố Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Ngoài những nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố, Viện kiểm sát còn có
Trang 11nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan
áp dụng biện pháp ngăn ngừa, giải quyết khiếu nại tố cáo trong vụ án hình sự
Tổ chức: Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Viện kiểm sát chia thành các cấp sau đây: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, các Viện kiểm sát quân sự
Chức năng, nhiệm vụ: Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992 thì Tòa án nhân dân là một trong bốn cơ quan quan trọng của Bộ máy Nhà nước Trong hệ thống Bộ máy Nhà nước thì Hiến pháp quy định Tòa án là cơ quan duy nhất của Nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có quyền xét xử Tòa án có nhiệm vụ xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật các vụ án hình sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia
tố tụng Cụ thể trong hoạt động tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân có những nhiệm vụ sau: Xét xử những vụ án và quyết định hình phạt; Ra quyết định thi hành án và các quyết định khác trong giai đoạn thi hành án; Giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án
Khi tiến hành xét xử, Tòa án có nhiệm vụ làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp ngăn ngừa; giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự…
Ngoài ra thông qua hoạt động xét xử, Tòa án có nhiệm vụ giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, giáo dục ý thức đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, các vi phạm pháp luật khác
Tổ chức: Tòa án có cơ cấu tổ chức như sau: Tóa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tỉnh; Tòa án nhân dân huyện; các Tòa án quân sự
1.2 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Đây là cách phân loại cơ bản nhất bởi lẽ xác định cơ sở giải quyết bồi thường theo hợp đồng và ngoài hợp đồng sẽ rất khác nhau Chính vì vậy, xác định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật dân sự một cách đúng đắn
1.2.1 Trách nhiệm bồi thường trong hợp đồng
Trang 12Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Như vậy, cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao gồm:
Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra thiệt hại trước
đó phải có một quan hệ hợp đồng Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại xảy ra bao giờ cũng sẽ là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gây thiệt hại chỉ có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Chính
vì vậy, BTTH trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng và vi phạm đề nghị giao kết hợp đồng là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi lẽ hợp đồng chưa được giao kết giữa các bên hoặc được coi là chưa hề tồn tại
Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không phải là do vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh cũng không phải là trách nhiệm theo hợp đồng
Ví dụ, A thuê B đến sơn lại nhà cho mình Trong quá trình làm việc, B đã ăn trộm chiếc điện thoại của A và đã bán cho người khác Trong trường hợp này không thể tìm lại chiếc điện thoại thì A chỉ có thể khởi kiện B yêu cầu BTTH ngoài hợp đồng
Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan hệ hợp đồng đó Bồi thường thiệt hại theo hợp đồng được áp dụng khi hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng Hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia trong hợp đồng đó Do đó, nếu người thứ ba có lỗi để gây ra thiệt hại cho một bên trong hợp đồng hoặc một bên trong hợp đồng gây ra thiệt hại cho người thứ ba thì trách nhiệm dân sự phát sinh chỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trường hợp này không áp dụng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vì người thứ ba cũng là người có quyền lợi liên quan và được đề cập đến trong hợp đồng
1.2.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 13Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra
Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý
do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để thể hiện tính dân chủ, công bằng, bình đẳng giữa Nhà nước và công dân, Nhà nước ta đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Cơ quan tiến hành tố tụng, đây cũng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là chủ thể đặc biệt là Nhà nước
1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
1.3.1 Khái niệm trách nhiệm BTTH
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm BTTH được BLDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm BTTH nói chung và chương XXI về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong
xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành
vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH)
Trang 14Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo
đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
1.3.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Cũng như các trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Bởi hệ thống Cơ quan tiến hành tố tụng thuộc hệ thống cơ quan Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được Nhà nước giao cho, khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thì Nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm trước tiên và Nhà nước cũng ban hành ra luật để điều chỉnh loại trách nhiệm của các Cơ quan tiến hành tố tụng Cụ thể là Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước điều chỉnh trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
Theo luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước thì các cơ quan tiến hành tố tụng sau đây phải chịu trách nhiệm bồi thường: Cơ quan điều tra; Cơ quan Kiểm sát; Tòa án
1.3.3 Đặc điểm của trách nhiệm BTTH
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp
lý nói chung như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước… thì trách nhiệm BTTH còn có những đặc điểm riêng sau đây:
Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân
sự điều chỉnh và được quy định trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS
Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với
Trang 15thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc) Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
Về hậu quả: Trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại
Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề…
1.3.4 Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình, đó chính là nguyên tắc đạo lí của Nhà nước trước xã hội công dân Xã hội càng hiện đại, văn minh càng đòi hỏi tính trách nhiệm cao hơn, đầy đủ và toàn diện hơn đối với các chủ thể, trong đó có Nhà nước Nhà nước phải là hiện thân, là mẫu hình của tính trách nhiệm toàn vẹn nhất trong xã hội Trách nhiệm của Nhà nước là khái niệm có phạm
vi rộng lớn, nhiều cấp độ và phức tạp, bởi Nhà nước vốn là một trong những phạm trù chính trị - xã hội và pháp lí thuộc loại phức tạp nhất Vì vậy, đến nay vấn đề về Nhà nước, trách nhiệm của Nhà nước chưa bao giờ đạt đến sự thống nhất trong toàn bộ các vấn đề có liên quan
Trách nhiệm của nhà nước trước hết bắt nguồn từ khái niệm trách nhiệm trong đời sống xã hội Trách nhiệm được hiểu là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao
Trang 16cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; Thứ hai là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai thì phải gánh chịu phần hậu quả Còn theo Bách khoa Toàn thư Việt Nam, thì trách nhiệm là:
“Khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc trưng của nhân cách trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra Nếu nghĩa vụ đặt ra cho con người vấn đề nhận thức và thực hiện những yêu cầu của xã hội, thì vấn đề trách nhiệm là ở chỗ con người hoàn thành và hoàn thành đến mức nào hoặc không hoàn thành những yêu cầu
ấy Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hoạt động với nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý thức của con người Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội Khi năng lực chi phối tự nhiên,
xã hội của con người lớn lên thì trách nhiệm của con người đối với hành vi của mình cũng lớn lên Về mặt pháp lí, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ: quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn”
Nhà nước là chủ thể thể xã hội đặc biệt, phục vụ cho cuộc sống của con người và
xã hội nói chung Do vậy, Nhà nước cũng phải có trách nhiệm và phải chịu hậu quả nếu không làm tròn trách nhiệm theo vai trò, chức năng mà xã hội phân công Hơn nữa, Nhà nước cũng phải chịu sự ràng buộc với những hoạt động, việc làm của mình đối với con người và xã hội trong phạm vi được phép, nếu không thì cũng phải chịu hậu quả Là chủ thể xã hội đặc biệt, Nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm chính trị hay còn phải chịu cả trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ của mình với tư cách là bị đơn dân sự
Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm được xác định bởi các quan hệ và thể chế chính trị, nếu vi phạm thì cán bộ, nhân viên Nhà nước, người có thẩm quyền sẽ phải từ chức, bị giáng chức, cách chức, các thiết chế Nhà nước hay toàn bộ bộ máy Nhà nước bị thay thế, bị lật đổ… thông qua cơ chế chính trị Trách nhiệm chính trị bắt buộc Nhà nước cũng như các quan chức Nhà nước phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại gây ra cho dân Việc chính thức, công khai thừa nhận có lỗi lầm khi ban ra các quyết sách, chủ trương và việc bồi thường thiệt hại cho người dân thể hiện hậu quả của trách nhiệm chính trị mà nhà nước phải gánh chịu Trong trách nhiệm chính trị không có việc bồi thường bằng vật chất, tài sản như trách nhiệm dân sự mà “bồi thường” bằng hệ chính sách và chính khách mới (sửa đổi chính sách, thay thế nhân vật chính trị), bởi lẽ, trong trách
Trang 17nhiệm chính trị không thể xác định được thiệt hại về tài sản cho từng cá nhân, tổ chức cụ thể; Chính sách của Nhà nước tác động lên toàn bộ xã hội, thiệt hại có thể ở diện rộng và mức độ rất lớn không lượng hóa được… Mặt khác, các chính khách thực hiện nhiệm vụ
do người dân uỷ quyền (thông qua bầu cử) Nhưng dù sao, trách nhiệm chính trị của Nhà nước theo nghĩa trên cũng chỉ tồn tại trong Nhà nước dân chủ mà không tồn tại trong các Nhà nước phi dân chủ Tuy nhiên, trong Nhà nước pháp quyền hiện nay, bên cạnh trách nhiệm chính trị, Nhà nước còn phải chịu trách nhiệm pháp lý bình đẳng với các chủ thể khác (tổ chức, cá nhân), nghĩa là Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại cho các bên như trong quan hệ dân sự Đây chính là một trong những điểm thể hiện tính phức tạp của vấn đề trách nhiệm Nhà nước
Trước pháp luật, Nhà nước cũng bình đẳng với các cá nhân, tổ chức nên Nhà nước
có thể phải gánh chịu các hậu quả bất lợi khi vi phạm trách nhiệm, đó là trách nhiệm pháp lý Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm được hiểu là: “Loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan chuyên môn) và chủ thể vi phạm pháp luật (có thể là cá nhân hoặc pháp nhân), trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định ở chế tài pháp luật Tức là sự cưỡng chế của Nhà nước buộc người vi phạm pháp luật phải chấp hành quy phạm pháp luật, trừng trị người vi phạm pháp luật, bắt buộc phải khôi phục lại pháp luật đã bị vi phạm Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá
vỡ trật tự pháp luật, trực tiếp gây ra tổn thất về vật chất, tinh thần cho con người, xâm phạm đến các cơ quan xã hội mà pháp luật bảo vệ Vì vậy, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ những quan hệ xã hội phát triển, làm cho pháp luật được thực hiện triệt để và nghiêm chỉnh Truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm pháp luật có ý nghĩa lớn trong việc phòng ngừa, cải tạo và giáo dục người vi phạm pháp luật
Trách nhiệm pháp lý được cấu thành bởi các yếu tố: Hành vi vi phạm pháp luật; Sự thiệt hại gây ra cho xã hội; Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và sự thiệt hại gây ra cho xã hội; Lỗi của chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật”
Thật ra, trong định nghĩa của Bách khoa Toàn thư Việt Nam cũng như công trình chuyên khảo về trách nhiệm pháp lý của một số tác giả như đã dẫn chưa thấy sự quan tâm
Trang 18đến trách nhiệm bồi thường Nhà nước với tư cách là loại trách nhiệm pháp lý
Tuy Nhà nước là phạm trù trừu tượng nhưng việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước lại được triển khai bởi hệ thống các cơ quan, tổ chức và các cán bộ, công chức có thẩm quyền Vì vậy, trách nhiệm pháp lý của Nhà nước có thể phát sinh do hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đó Trong lịch sử có những Nhà nước và chế độ Nhà nước không chịu bất kỳ loại trách nhiệm nào (vô trách nhiệm) Về chính trị, đó là những Nhà nước không bị hạn chế quyền lực hay quyền lực của các nhà nước đó không
có giới hạn xác định Ở đây, Nhà nước và quan chức Nhà nước không phải chịu hình thức trách nhiệm và hậu quả bất lợi nào; Thần dân không có quyền gì ngoài sự phục tùng và phụng sự Nhà nước Nếu quan chức nhà nước có gây thiệt hại cho thần dân thì cũng vô can Nhà nước dân chủ là Nhà nước phải chịu trách nhiệm, bởi về chính trị, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quan hệ pháp luật trong quan hệ với dân (cá nhân, tổ chức), Nhà nước là một bên chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, nên Nhà nước phải chịu trách nhiệm Đó cũng chính là những biểu hiện cụ thể của Nhà nước pháp quyền hiện nay Tuy vậy, lý luận về Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải dễ dàng được chấp nhận trong thực tiễn hoạt động Nhà nước ở các nước trên thế giới Ở nhiều nước tư bản phát triển từ lâu vẫn tồn tại thuyết miễn trừ quốc gia - thuyết có nguồn gốc từ nước Anh hồi thế kỉ XV Theo đó, Nhà nước không thể bị truy cứu và phải chịu bất kỳ loại trách nhiệm pháp lí nào cả
Loại trừ cách hiểu trách nhiệm theo nghĩa là nghĩa vụ, bổn phận phải làm, trách nhiệm của Nhà nước mà người viết đề cập là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do việc vi phạm nghĩa vụ Trên cơ sở đó, người viết đi sâu phân tích khái niệm trách nhiệm pháp lý của Nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại cho cá nhân, tổ chức do cán bộ công chức Nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ - trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước hay trách nhiệm bồi thường Nhà nước (BTNN)
Hiện nay, nhiều nhà luật học cho rằng, trách nhiệm BTNN thuộc loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, nhưng cũng không đơn thuần như vậy mà có những đặc thù riêng Bên cạnh các đặc điểm của loại trách nhiệm dân sự, tính đặc thù của trách nhiệm
Trang 19BTNN thể hiện ở chỗ trước hết đó là trách nhiệm thuộc về Nhà nước (không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan Nhà nước có thẩm quyền); Thứ hai, Nhà nước là loại chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật, do vậy tính chất của trách nhiệm bồi thường ở đây cũng đặc biệt, khác với trách nhiệm dân sự thông thường Các đặc điểm riêng của trách nhiệm BTNN như trên đòi hỏi phải thiết kế xây dựng pháp luật tương đối độc lập so với việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự hay hành chính nhưng cơ chế điều chỉnh này cũng phải bảo đảm tính liên thông hoặc có khả năng hoán đổi linh hoạt giữa các cơ chế khi cần thiết nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
Nhưng điều cơ bản là quyền lực nhà nước và công vụ nói chung thường dễ bị lạm dụng hay cán bộ, công chức Nhà nước thường có thói thiếu trách nhiệm, thờ ơ, thậm chí
vô cảm… nên Nhà nước với tư cách là người sử dụng cán bộ, công chức (người lao động, làm thuê cho Nhà nước) phải chịu trách nhiệm bồi thường là hợp với lẽ công bằng(1)
Như vậy, về khái niệm có thể định nghĩa: Trách nhiệm BTNN là trách nhiệm pháp
lý trong đó Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.
1.3.5 Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra với các trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự khác
Bồi thường của Nhà nước là một loại trách nhiệm pháp lý đặc thù, vì Nhà nước
là loại chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật, do vậy tính chất của trách nhiệm bồi thường ở đây cũng đặc biệt, khác với trách nhiệm dân sự thông thường Bên cạnh những đặc điểm chung của bồi thường trách nhiệm dân sự, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có đặc thù riêng
∗ Về chủ thể gây thiệt hại
Trong bồi thường của Nhà nước, chủ thể gây thiệt hại là người thi hành công vụ Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi
1
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/trach-nhiem-boi-thuong-nha-nuoc-va-phan-biet-voi-111en-bu-nha-nuoc
Trang 20hành án hoặc người khác được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ
có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án
Bồi thường dân sự khác, chủ thể gây thiệt hại là bất kỳ người nào có hành vi trái pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý mà gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường
∗ Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
Trong bồi thường của nhà nước, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là Nhà nước
mà không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền Mọi hành vi, quyết định của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ đều được xác định là hành vi, quyết định của Nhà nước Nếu hành vi đó trái luật, gây thiệt hại, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường Nhưng nếu việc làm của cán bộ, công chức xảy ra không gắn với việc thi hành công vụ thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình, trường hợp này Nhà nước không phải bồi thường
Bồi thường dân sự khác, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là người gây thiệt hại hoặc có thể là người thứ ba như cha, mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc là pháp nhân, người dạy nghề khi người của pháp nhân, người học nghề, người làm công gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc được giao
∗ Bản chất của quan hệ bồi thường
Trong bồi thường của Nhà nước, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thay cho cán bộ, công chức khi họ thi hành công vụ đã gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức Mục đích của bồi thường Nhà nước là đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho công dân nước mình Mọi công việc của cán bộ, công chức đều được pháp luật quy định cụ thể, nếu cán bộ công chức gây thiệt hại do vi phạm pháp luật (tức là có lỗi) thì đó là sai phạm của cán bộ, công chức, chứ bản thân Nhà nước hoàn toàn không có lỗi Vì Nhà nước với tư cách
là người sử dụng cán bộ, công chức nên Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường
Trong bồi thường dân sự khác, chủ thể có trách nhiệm bồi thường là người có lỗi
“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” (Điều
604 Bộ luật dân sự năm 2005) Trong trường hợp người giám hộ không chứng minh được
Trang 21mình không có lỗi trong việc giám hộ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì người giám hộ phải lấy tài sản của mình để bồi thường (khoản 3 Điều 606 của Bộ luật dân sự năm 2005) Nhà trường phải bồi thường thiệt hại do người dưới mười lăm tuổi gây ra trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại; Bệnh viện, tổ chức phải bồi thường thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian bệnh viện, tổ chức trực tiếp quản lý người mất năng lực hành vi dân sự (Điều
621 Bộ luật dân sự năm 2005)
Cơ quan tiến hành tố tụng thuộc bộ máy Nhà nước nên bản chất của việc bồi thường mang bản chất của bồi thường của Nhà nước
1.4 Bản chất và ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành
tắc không thể phủ nhận, trong Nhà nước dân chủ pháp quyền và xã hội dân sự: Khi một người xâm phạm một cách vô lý và gây ra những thiệt hại về tài sản cũng như thân thể
và danh dự của người khác thì người có hành vi xâm hại đó phải bù đắp những tổn thất
mà mình đã gây ra cho người bị hại Xét trên góc độ pháp lý thì đó là sự công bằng, là
quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, không phân biệt người gây thiệt hại là ai,
kể cả là Nhà nước trong mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân
Cơ chế bồi thường Nhà nước được quy định trên nguyên tắc và bản chất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự (người bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường hoặc không yêu cầu bồi thường, việc yêu cầu bồi thường về nguyên tắc không được cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra) Việc xác định mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự, tức là bình đẳng và thực tế, trên cơ sở thương lượng, thoả thuận, bình đẳng giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại Như vậy, bản chất của quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ công, nhưng nếu
Trang 22Nhà nước gây thiệt hại cho công dân thì Nhà nước phải bồi thường và việc giải quyết quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh từ quan hệ công này lại mang bản chất của mối quan hệ dân sự (quan hệ tư) Trong trường hợp này Nhà nước đóng vai trò như một chủ thể của quan hệ tư, không có quyền lực hành chính mà chỉ là một chủ thể dân sự bình đẳng với bên bị thiệt hại trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại
Như vậy, cơ sở của chế định bồi thường Nhà nước chính là dựa trên các quyền của công dân, các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước Hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức Nhà nước khi thi hành công vụ
mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì trước hết Nhà nước với tư cách là người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại
Mặc dù thiệt hại do cá nhân người thi hành công vụ gây ra, nhưng trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước Tiền bồi thường được lấy từ ngân sách Nhà nước,
mà ngân sách Nhà nước là do người dân đóng góp Nếu Nhà nước lấy tiền của dân để bồi thường cho dân thì chẳng có ý nghĩa gì Do vậy, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách Nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền(2)
1.4.2 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là “sản phẩm” tất yếu của xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền và
xã hội dân sự Một trong những nguyên tắc quan trọng của một Nhà nước pháp quyền là nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Nhà nước cũng như một tổ chức hay một công dân và đều là một chủ thể trong quan hệ pháp luật (nhà nước là một chủ thể pháp lý công), mọi hoạt động của Nhà nước phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Quyền được bồi thường khi bị xâm phạm là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Rõ ràng việc yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại là một quyền cơ bản của chủ thể dân sự ngoài Nhà nước Ngoài ra, trong Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước cũng thực hiện các hành vi pháp lý
2 http://www.hanhchinh.com.vn/forum/showthread.php?t=25140
Trang 23và có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác khi hành xử trái pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền Và khi có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác, thì Nhà nước cũng
có nghĩa vụ bồi thường một cách bình đẳng như các chủ thể khác trong xã hội
Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là cơ sở để xác định ranh giới trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Trong tương quan với cơ quan Nhà nước, thì các
cá nhân và tổ chức thường yếu thế hơn khi tiến hành giải quyết yêu cầu đòi bồi thường Chế định bồi thường của Nhà nước quy định phương thức và thủ tục tiến hành giải quyết yêu cầu bồi thường nhằm tránh cho sự lạm quyền không xảy ra và bảo đảm quyền lợi của công dân
Chế định bồi thường của Nhà nước góp phần ngăn chặn tình trạng tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan hành chính Nhà nước trong một bộ phận cán bộ, công chức; Đồng thời khắc phục tình trạng yếu kém về trình
độ và năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức nước ta, nâng cao ý thức trách nhiệm và đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, từ đó hạn chế những rủi ro đem lại cho người dân từ hoạt động công vụ
Ngoài ra, chế định bồi thường của Nhà nước nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu
về tài sản và động viên về tinh thần đối với người bị thiệt hại, thể hiện sự tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân của Nhà nước ta
1.5 Lịch sử hình thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
1.5.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật La Mã
Trong thời kỳ La Mã, người La Mã đã đặt ra quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người phụ thuộc hoặc súc vật gây ra
Thiệt hại do người phụ thuộc gây ra: Người chủ gia đình không bị ràng buộc bởi các hợp đồng do người phụ thuộc giao kết; nhưng chủ gia đình phải chịu trách nhiệm và những hành vi trái pháp luật của người phụ thuộc gây thiệt hại cho người khác
Hành vi trái pháp luật đó phải có tính chất là một tội phạm tư: Nếu người phụ thuộc phạm tội công, thì trách nhiệm được quy kết ngoài khuôn khổ Luật Dân sự
Thực ra, chủ gia đình không bị buộc phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của người phụ thuộc: Nếu muốn, chủ gia đình có thể để mặc cho người bị thiệt hại tùy nghi
Trang 24xử lý người gây thiệt hại Trong trường hợp người chủ gia đình nhận trách nhiệm về phần mình, thì người này có thể bị phạt tiền.
Thiệt hại do súc vật gây ra: Trong trường hợp thiệt hại do súc vật gây ra, thì trên nguyên tắc, việc xác định trách nhiệm cũng tương tự như trong trường hợp thiệt hại do người phụ thuộc gây ra: Chủ sở hữu có thể nhận trách nhiệm của mình và bồi thường thiệt hại hoặc để mặc súc vật cho người bị thiệt hại xử lý Tuy nhiên, chủ sở hữu súc vật, khác với chủ gia đình của người sống phụ thuộc không thể bỏ súc vật chết cho người bị thiệt hại như cách bồi thường, trong khi chủ gia đình của người phụ thuộc có thể giải trừ trách nhiệm bằng cách để mặc thi thể của người gây thiệt hại cho người gây thiệt hại xử
lý(3)
1.5.2 Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật cổ (Luật thời Lê – Nguyễn)
Tìm hiểu chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật thời Lê với
Bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), được ban hành vào năm 1483 Pháp luật thời nhà Nguyễn với Bộ Hoàng Việt luật lệ gồm có 398 điều chia làm 22 quyển, các điều được chia theo chức năng quản lý của 6 bộ ở cấp trung ương Chúng ta thấy chế định về trách nhiệm dân sự được quy định sơ sài, không cụ thể và không được rõ ràng Các quy định này không phân định rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự Chế tài hình sự được quy định trước hết nhằm trừng phạt đến kẻ nào xâm phạm đến tài sản hoặc nhân thân của người khác Ngoài hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại đã xảy ra
Ví dụ: Ở điều 466 của Quốc triều hình luật quy định trường hợp đánh người gây
thương tích, ngoài hình phạt kẻ đánh người còn phải bồi thường thiệt hại bằng tiền cho nạn nhân theo giá ngạch được quy định một cách cụ thể trong điều luật Hay ở điều 472 quy định trường hợp đánh các quan chức bị thương ngoài việc bồi thường thương tích người gây thiệt hại còn phải bồi thường tiền tạ từ những ví dụ
trên thì khoản tiền tạ được hiểu là khoản tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần cho các quan lại phong kiến, tùy theo địa vị xã hội của họ do danh dự, nhân phẩm, uy tính bị xâm
3 Giáo trình Luật dân sự La Mã trường đại học Cần Thơ do Tiến sĩ Nuyễn Ngọc Điện biên soạn trang 69.
Trang 25phạm, đối với người dân thường trong xã hội khoản tiền tạ không thấy được nhắc đến trong pháp luật: Chỉ có giai cấp quan lại thống trị mới được hưởng một chế định trách nhiệm bồi thường hoàn thiện ở mội mặt, về tài sản cả về tinh thần, danh dự nhân phẩm uy tín Thiệt hại tinh thần, do tính mạng sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân, phẩm, uy tín bị xâm phạm Trong các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, thuật ngữ “thiệt hại về tinh thần” không được nhắc đến trong các điều luật cụ thể nhưng thông qua một số điều luật có thể nhận thấy được đó
là bồi thường thiệt hại về tinh thần nhưng cũng chỉ liên quan đến tầng lớp thống trị
Điều 472 Quốc triều hình luật quy định trường hợp đánh các quan chức bị thương, thì ngoài tiền thương tích còn phải đền tiền tạ tương tự, điều 473 quy định các trường hợp lăng mạ quan chức, điều 474 quy định trường hợp đánh người trong hoàng tộc cũng đều đưa ra một khoảng tiền tạ, ngoài việc chịu một khoảng tiền phạt Khoảng tiền tạ được quy định trên được hiểu là các khoản tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần cho các quan lại phong kiến, tùy theo địa vị xã hội của họ do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm pham Đối với người dân thường trong xã hội thì khoản tiền tạ không được đề cập đến trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật thời phong kiến Đó là sự bất bình đẳng của pháp luật thời phong kiến không những ở chế định bồi thường thiệt hại mà cả các chế định pháp luật khác cũng vậy Pháp luật chỉ chủ yếu tập trung vào bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Bên cạnh đó trách nhiệm bồi thường cũng được dự liệu chung cho tất
cả mọi người trong trường hợp từ hôn, nghĩa là đã nhận đồ sính lễ gả con mà lại đổi ý hoặc nhà trai đã mang đồ sính lễ dạm hỏi mà thay đổi ý kiến thì người thay đổi ý kiến không kết hôn nữa thì phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người kia (Điều 315 Quốc triều hình luật và điều 94 Hoàng Việt luật lệ)
Sự phân biệt không rõ ràng giữa hình luật và dân luật trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ là do nó được ban hành là nhằm cho mục đích phục vụ giai cấp thống trị để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nền dân chủ, chứ không chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho chế định trách nhiệm dân sự quy định sơ sài không đầy đủ trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ
Trang 261.5.3 Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn hiện nay
Giai đoạn từ năm 1945 đến khi có Bộ luật dân sự 2005
Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, các quyền của công dân được xác lập và bảo đảm về chính trị, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; Về quan hệ pháp luật trong quan hệ dân sự với người dân (cá nhân, tổ chức) thì Nhà nước là một bên chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng chưa được quy định như là một chế định trong pháp luật, bản Hiến pháp năm 1946 được ban hành một cách cấp thiết và lại không có quy định nào quy định về thiệt hại về tinh thần cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại về những thiệt hại đó
Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1959, quyền được bồi thường của người dân đã được
ghi nhận như sau: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường” 4
Tiếp đến, ngày 23 tháng 3 năm 1972 Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông
tư số 173/UBTP hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo Thông
tư này, để xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay không cần phải căn cứ vào bốn yếu tố: Phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật, phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi của người gây thiệt hại Đặc biệt, Thông tư đã quy định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân khi công nhân, viên chức hay người đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan trong khi thi hành nhiệm vụ mà gây thiệt hại cho người khác thì cơ quan, xí nghiệp phải bồi thường thiệt hại theo chế độ trách nhiệm dân sự, rồi sau đó có quyền đòi hỏi họ hoàn trả việc bồi thường đó theo quan hệ lao động Tuy nhiên, trường hợp công nhân, viên chức hoặc đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan lợi dụng nhiệm vụ và do hành vi
4 Điều 29 hiến pháp 1959
Trang 27không liên quan chặt chẽ đến công tác được phân công, rõ ràng để mưu lợi ích riêng, mà gây thiệt hại cho người khác, thì cá nhân họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Hiến pháp năm 1980, tiếp tục khẳng định quyền được bồi thường của người bị
thiệt hại là “công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp
thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường” 5
Nhằm tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng tối cao
các quyền công dân, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Người
bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” và “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự 6
Thể chế hoá các quy định về bồi thường thiệt hại trong Hiến pháp năm 1992, Bộ luật dân sự năm 1995 đã dành một chương quy định trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (chương V) Hơn nữa, Bộ luật này còn quy định hai điều về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước là Điều 623 quy định bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước gây ra và Điều 624 quy định bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Theo đó, cơ quan Nhà nước,
cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại khi công chức, viên chức, người tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ
Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá
5 Điều 73 hiến pháp 1980
6 Điều 72 và điều 74 hiến pháp 1992 sủa đổi bổ sung năm 2001
Trang 28nhân; Tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết các công việc của công dân; Tiến tới xây dựng một cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính có hiệu quả
Điều 1 của Luật quy định: “Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó
là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” và “Người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 6), “Người bị thiệt hại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật” (Điều 8).
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 quy định tại Điều 40 về trường hợp người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính vì vụ lợi hoặc vì động
cơ cá nhân khác mà vi phạm các quy định về xử phạt vi phạm hành chính; Người không
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà tùy tiện phạt thì tùy theo tính
chất, mức độ của vi phạm bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; Nếu gây thiệt hại về vật chất cho Nhà nước, tổ chức hoặc công dân thì phải bồi thường
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) đều quy định người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử
lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 91 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Điều 121 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002)
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định cụ thể hoá các quy định tại Điều 72 của Hiến pháp năm 1992 về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực tư pháp, hình sự, nhằm đảm bảo quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, người bị oan do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra Điều 29 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 quy định “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ
Trang 29quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” Điều 30 quy định “Người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường cho người bị thiệt hại; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
Việc ban hành Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là một bước tiến lớn trong việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể và để triển khai thực hiện có hiệu quả Điều 623 và Điều 624 của Bộ luật dân
sự năm 1995 Nghị định quy định:“Cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng phải
bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước hoặc người có thẩm quyền gây ra trong khi thi hành công vụ hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án” (Điều 1) và “Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng bồi thường cho mình thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ của quan tiến hành tố tụng gây ra hoặc yêu cầu Toà án bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp mình” (Điều 3) Nghị định cũng quy định trình tự, thủ tục giải
quyết việc bồi thường thiệt hại và quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc bồi thường khi các bên không thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường Sau khi cơ quan Nhà nước,
cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại thì công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền
mà cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường
Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ cũng đã ban hành Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04 tháng 6 năm 1998 để hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 47/CP
Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra Nghị quyết là một bước “đột phá” trong việc Nhà nước nhận trách nhiệm về mình khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm bởi
Trang 30người tiến hành tố tụng Nghị quyết xác định rõ hơn, cụ thể hơn các trường hợp được bồi thường thiệt hại, trường hợp không được bồi thường, xác định thiệt hại và mức bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và hình thức khôi phục danh dự đối với người bị oan…
Cụ thể, tại Điều 1 của Nghị quyết quy định bốn trường hợp được bồi thường thiệt hại là: Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giam vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không thuộc các trường hợp trên mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội Những người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, bị thi hành án nêu trên
mà có tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị thiệt hại thì được bồi thường
Đồng thời Điều 2 của Nghị quyết cũng quy định bốn trường hợp không được bồi thường thiệt hại là: Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; Người bị xử lý về hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (được sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1997) nhưng nay theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; Những người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, bị thi hành án mà do họ cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm; Những người bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị tạm giữ, tạm giam, bị thi hành án mà bị tổn hại
về sức khỏe, tính mạng, tài sản do lỗi của chính mình hoặc do sự kiện bất khả kháng Nghị quyết xác định cụ thể cơ quan có trách nhiệm bồi thường, thủ tục bồi thường, thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường Kinh phí bồi thường thiệt hại là một khoản trong ngân sách Nhà nước, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự thì có nghĩa
vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật
Trang 31Nghị quyết thể hiện chủ trương đúng đắn của Nhà nước ta trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan, đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động của cơ quan tố tụng, góp phần quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp, đặc biệt là trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường Nghị quyết đã thể hiện quan điểm, trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tuân thủ pháp luật của người tiến hành tố tụng hình sự Nghị quyết phản ánh tính dân chủ, công khai trong hoạt động tư pháp của Nhà nước, tạo niềm tin và dấu ấn tốt trong nhân dân.
Thông tư liên tịch số BTC ngày 25 tháng 3 năm 2004 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11
01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP- Từ khi có Bộ luật dân sự 2005 đến nay
Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục kế thừa các quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức và người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong Bộ luật dân sự năm 1995 Cụ thể, Điều 619 quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công
chức gây ra: “Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ” Điều 620 quy định về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”
Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao,
Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số quy
Trang 32định của Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 Thông tư liên tịch này thay thế Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC.
Thông tư số 49/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công
vụ gây ra
Có thể khẳng định rằng quyền được bồi thường và trách nhiệm bồi thường Nhà nước được ghi nhận từ rất sớm trong pháp luật của Nhà nước ta Tuy nhiên, trong một thời gian dài, đất nước ta phải trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập gian khổ, nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước cũng như toàn thể quốc dân đồng bào là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, chúng
ta lại bắt tay vào khôi phục kinh tế và kiến thiết nước nhà nên chúng ta chưa có điều kiện quan tâm xây dựng đầy đủ và đồng bộ chế định bồi thường nhà nước cũng như triển khai trên thực tế chế định này Ngay khi nền kinh tế dần đi vào ổn định, đất nước đạt được những bước tiến lớn trên nhiều lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, hợp tác nước ngoài,
… đặc biệt với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta
đã ban hành nhiều văn bản thể hiện tính chịu trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền và lợi ích của nhân dân
Áp dụng Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 388/2003/NQ-BTVQH11 và các văn bản pháp luật liên quan, hàng trăm vụ việc được giải quyết bồi thường với số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng, người bị oan sai còn được các cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát tiến hành phục hồi danh dự
Tuy nhiên, pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở giai đoạn này còn phân tán, hiệu lực pháp lý thấp và thiếu tính khả thi Trên thực tiễn thi hành còn nhiều bất cập, người bị thiệt hại chưa được bù đắp, phục hồi quyền lợi, gây bức xúc trong nhân dân Các cơ quan Nhà nước ở các cấp chưa thực sự quan tâm đến việc thực hiện chính sách bồi thường khi cán bộ, công chức gây thiệt hại trong khi đang thi hành công vụ Cơ quan quản lý Nhà nước về bồi thường của Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm bồi thường chưa được xác định hoặc có nhưng quản lý Nhà nước về công tác này rất hạn chế Cho nên trong giai đoạn hiện nay Nhà Nước ta đã ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của
Trang 33Nhà Nước để góp phần hoàn thiện hơn chế định bồi thường thiệt hại của Nhà nước cũng như quy định chặt chẽ hơn việc bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong giai đoạn hiện nay.
Trang 34CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cơ quan tiến hành
Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường trong 2 lĩnh vực hoạt động khác nhau, cụ thể là:
Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án (khoản 1Điều 6) bao gồm:
+ Có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước
+ Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại
Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự (khoản 2 Điều 6) bao gồm:
+ Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 6 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước
+ Có thiệt hại thực tế đối với người bị thiệt hại do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra trong trường hợp quy định tại Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
2.1.1 Phải có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại là sự mất mát tổn thất mà một chủ thể của quan hệ pháp luật phải gánh chịu, là một thay đổi theo chiều hướng xấu mà hành vi trái pháp luật gây ra Phải có
Trang 35thiệt hại xảy ra, đây là điều kiện tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại bởi lẽ mục đích của trách nhiệm bồi thường là khôi phục lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại hoặc
bù đắp một phần tổn thất cho người bị thiệt hại Do đó cần phải có thiệt hại mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính bằng tiền do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại mà người gần gũi thân thích của nạn nhân phải chịu sự đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút sức khỏe mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải gánh chịu
Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức
+ Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại
+ Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần Bộ luật Dân sự quy định: Toà án có thể buộc người xâm hại "bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân”
Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong việc bồi thường thiệt hại Bởi vậy, Toà án là người phải xác định trong trường hợp nào được bồi thường, bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai
Thiệt hại về vật chất bao gồm: Thiệt hại do tài sản bị xâm hại, quy định tại điều
608 BLDS 2005; Thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại, quy định tại khoản 1 điều 610 BLDS 2005; Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại quy định tại điều 611 BLDS 2005
Trang 36Ví dụ: Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại Việc xác định thiệt hại rất quan trọng, cần phải xác định rõ có thiệt hại xảy ra hay không, thiệt hại nào chính đáng cần được bồi thường.
2.1.2 Phải có hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những hành vi cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật
Theo pháp luật dân sự hành vi gây thiệt hại là nguyên nhân gây ra thiệt hại do các quan hệ xã hội, không thể có người gây ra thiệt hại khi không có hành vi gây ra thiệt hại, hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật, nghĩa là hành vi mà pháp luật cấm thực hiện, nếu hành vi đó pháp luật không cấm thực hiện thì dù hành vi đó có gây thiệt hại vẫn không phải bồi thường
Hành vi trái pháp luật dưới dạng hành động: Chủ thể đã thực hiện hành vi mà
đáng ra không thực hiện hành vi đó, dẫn đến một hệ quả là trái với các quy định của pháp luật, trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc gây ra thiệt hai
Tuy nhiên có những hành vi gây ra thiệt hại nhưng không bị coi là hành vi trái pháp luật, chẳng hạn:
+ Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng
+ Gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ
+ Gây thiệt hại do tình thế cấp thiết
Hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng không hành động: Chủ thể không thực
hiện hành vi mà pháp luật yêu cầu dẫn đến một hệ quả là trái với các quy định của pháp luật, trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc gây ra thiệt hai
Trang 37a Chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm Ví dụ: Đi xe máy vào đường ngược chiều…
b Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện Ví dụ: Trốn tránh nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà, cha mẹ…
c Chủ thể sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép Ví dụ: Trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định…
2.1.3 Phải có lỗi của người gây ra thiệt hại
Hành vi có lỗi, theo quy định tại Điều 309 BLDS thì "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi
cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác: Khoản 1 Điều 309 nói trên quy định lỗi do hành vi không thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người có hành vi đó bị coi là có lỗi Theo quy định của khoản 2 Điều 309 BLDS thì nội dung của khoản này có ý nghĩa viện dẫn trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Khoản 2 Điều 309 quy định: "Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại
cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”
Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gây thiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, cho dù người
đó mong muốn hoặc không mong muốn nhưng đã có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ý của mình
Về mặt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây hại luôn nhằm mục đích có thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiện dưới hai mức độ:
+ Mong muốn có thiệt hại xảy ra
+ Không mong muốn có thiệt hại, nhưng lại để mặc cho thiệt hại xảy ra.Mức độ thể hiện ý chí - hành vi của người cố ý gây thiệt hại trong trường hợp người đó nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, thì phải chịu trách nhiệm dân sự do lỗi cố ý là nguyên nhân của thiệt hại
Trang 38Theo nội dung khoản 2 điều 309 BLDS, người viết thấy cần thiết phải làm rõ những quan hệ và yếu tố có liên quan đến phạm vi lỗi của người gây thiệt hại.Một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại đó xảy ra thì lỗi của người gây thiệt hại là lỗi cố ý Những yếu tố liên quan đến hình thức lỗi cố ý gây thiệt hại được thể hiện ở những mức độ khác nhau, do biểu lộ ý chí của chủ thể đã là yếu
tố quyết định hình thức lỗi
Khi xác định lỗi cố ý gây thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải phân biệt với những hành vi gây thiệt hại khác, không thuộc hành vi do lỗi cố ý hoặc vô ý gây ra Đó là hành
vi gây thiệt hại được xác định là sự kiện bất ngờ Sự kiện bất ngờ được qui định tại Điều
11 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được dẫn chiếu vì điều luật này không những được áp dụng trong lĩnh vực luật hình sự, mà còn có ý nghĩa trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại ngoài hợp đồng Sự kiện bất ngờ được hiểu là sự kiện pháp lý nhưng hậu quả của nó không làm phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi tạo ra sự kiện đó Một sự kiện pháp lý có đủ các yếu
tố sau đây là sự kiện bất ngờ:
Luật thực định Việt Nam coi như là điều kiện cơ bản để xét trách nhiệm bồi thường, lỗi là một trong những căn cứ để phát sinh trách nhiệm nếu có thiệt hại xảy ra Và có hành vi trái pháp luật dẫn đến thiệt hại đó, tức là giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật
có mối quan hệ nhân quả, đồng thời phải có lỗi của người gây thiệt hại
Tuy nhiên, có trường hợp thiệt hại xảy ra mà không thuộc hành vi trái pháp luật người gây ra thiệt hại không có lỗi vẫn phải bồi thường, khi xác định và phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự (TNDS) ngoài hợp đồng, cần thiết phải đặt yếu tố đó trong mối liên hệ với những sự kiện pháp lý khác, mà rõ nét hơn cả là sự biến pháp lý tuyệt đối
và sự biến pháp lý tương đối là những căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan
hệ pháp luật dân sự Sự biến pháp tương đối là một sự kiện pháp lý mà sự khởi phát của
nó do hành vi của con người tác động dưới hình thức lỗi vô ý, do vậy người có hành vi tạo ra sự kiện đó phải bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại Trong khoa học pháp lý các nhà luật học đều thừa nhận sự biến pháp lý tương đối là sự biến do con người tác động, còn sự thay đổi và chấm dứt của nó con người không kiểm
Trang 39soát được Như vậy, hành vi tạo ra sự biến pháp lý tương đối là hành vi có lỗi và là hành
vi trái pháp luật Theo khoản 2 Điều 309 BLDS lỗi vô ý được xác định là "trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được" Người gây thiệt hại đã không mong muốn, không để mặc cho thiệt hại xảy ra mà là do không kiểm soát được diễn biến của sự kiện do hành vi vô ý của mình tạo ra thì người có hành vi đó phải bồi thường
Ngoài ra Nhà nước không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp được quy định tại khoảng 3 điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
- Lỗi thuộc về người bị thiệt hại;
- Người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc;
ra thiệt hại Điều này được quy định ở điều 604 BLDS 2005 ( điều 609 BLDS 1995) với nội dung: “ Người nào xâm phạm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn Do đó, cần phải xem xét, đánh giá, phân tích tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng khách quan toàn diện chính xác nhất Để từ đó rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân nào dẫn đến kết quả nào và có mối quan hệ nhân quả không, cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người đối với lỗi gây thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không phát sinh nếu thiệt hại xảy ra không phải là kết quả tất yếu của nguyên nhân là hành vi trái pháp luật, nghĩa là giữa lỗi và hành
vi trái pháp luật không có mối quan hệ nhân quả với nhau Nguyên nhân bao giờ cũng
Trang 40xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác định phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc
là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định với thiệt hại xảy ra Hành vi trái pháp luật phải luôn xuất hiện trước thiệt hại về mặt thời gian Nếu không thỏa điều này chúng ta có thể loại trừ ngay được khả năng tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra
Những hành vi gây thiệt hại đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra có mối quan hệ nhân quả được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau,
có hai dạng phổ biến:
Đối với quan hệ nhân quả đơn trực tiếp thường dễ nhận thấy và nhanh chóng xác định được trách nhiệm bồi thường vì trong quan hệ này chỉ có một hành vi trái pháp luật đóng vai trò quan trọng là nguyên nhân của hậu quả
Ngược lại trong mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp thì có nhiều lỗi của một chủ thể hoặc có nhiều chủ thể độc lập cùng đóng vai trò, nguyên nhân trực tiếp hoặc có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra
Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại xảy ra cũng cần xem xét mối quan hệ tổng hợp giữa các nguyên nhân bởi nó cũng bao hàm tác động qua lại của nhiều hiện tượng làm phát sinh thiệt hại, thậm chí khả năng gây hậu quả đôi lúc cũng có
sự kết hợp nhiều hành vi trái pháp luật Khi xác định người có hành vi trái pháp luật trực tiếp gây ra thiệt hại thì người đó cũng không nhất thiết phải bồi thường tất cả các thiệt hại phát sinh sau khi xảy ra hành vi gây thiệt hại của mình, bởi lẽ những hành vi gây thiệt hại nào là hệ quả tất yếu của việc phạm lỗi mới thuộc phạm vi trách nhiệm của người có lỗi, nói cách khác người gây thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại mà mình gây ra
Tuy luật viết không quy định về trách nhiệm chứng minh lỗi quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại Song một cách hợp lý, có thể thừa nhận rằng chính người bị thiệt hại phải chứng minh rằng có nguồn gốc từ hành vi trái pháp luật của người gây thiệt hại
Ngoài những dấu hiệu trên thì trong Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước còn quy định dấu hiệu đặc trưng để xác định trách nhiệm bồi thường trong lĩnh vực hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng đó là căn cứ được quy định tại Điều 6: