Lý do chọn đề tài Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính không những có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của
Trang 1ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Lớp: Luật Tư pháp 2 k34
Cần Thơ, năm 2012
Trang 2
Để có thể hoàn thành Luận văn này trước hết em xin gởi lời cám ơn
sâu sắc đến quý Thầy Cô Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, không chỉ mang lại cho em những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực học tập
mà còn cả cách sống, cách làm khi bước chân ra xã hội.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ dẫn tận tình
của Cô Tăng Thanh Phương đã tạo điều kiện giúp em có thể hoàn thành
tốt nhất Luận văn tốt nghiệp này.
Vì kiến thức và thời gian có hạn, thêm vào đó do lần đầu tiên tiếp xúc nên Luận văn này không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận
được sự góp ý của quý Thầy Cô, anh chị để luận văn được tốt hơn.
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt
hái được nhiều thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu.
Xin trân trọng kính chào!
Cần Thơ, tháng 5 năm 2012 Sinh viên thực hiện
Hồ Thị Mỹ Linh
Trang 3
Trang 4
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH 4 1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính 4
1.1.1 Định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt
1.4 Sơ lược về lịch sử hình thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà
nước trong hoạt động quản lý hành chính 15
1.4.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính thời kỳ Lê, Nguyễn 15 1.4.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính thời Pháp thuộc 16 1.4.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính từ sau năm 1945 đến nay 16
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH 21
Trang 6trong hoạt động quản lý hành chính 21
2.1.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra 22
2.1.2 Có hành vi công vụ trái pháp luật trong quá trình quản lý hành chính nhà nước 23
2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật 32
2.1.4 Có lỗi của người gây thiệt hại 33
2.2 Nguyên tắc bồi thường 34
2.2.1 Bồi thường toàn bộ thiệt hại 35
2.2.2 Bồi thường kịp thời, công khai, đúng pháp luật 36
2.2.3 Bồi thường được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ 36
2.2.4 Bồi thường được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác 37
2.3 Xác định thiệt hại được bồi thường 37
2.3.1 Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 37
2.3.2 Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 39
2.3.2.1 Thiệt hại về vật chất 39
2.3.2.2 Thiệt hại về tinh thần 42
2.3.3 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 42
2.3.3.1 Thiệt hại về vật chất 42
2.3.3.2 Thiệt hại về tinh thần 45
2.3.4 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm 46
2.3.4.1 Thiệt hại về vật chất 46
2.3.4.2 Thiệt hai về tinh thần 47
2.4 Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường 48
2.4.1 Yêu cầu xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ 49
Trang 72.4.3 Thụ lý đơn yêu cầu bồi thường 52
2.4.4 Xác minh thiệt hại 52
2.4.5 Thương lượng việc bồi thường 53
2.4.6 Quyết định giải quyết bồi thường 54
2.4.7 Khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết bồi thường 54
2.4.8 Giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính 55
2.5 Thời hiệu yêu cầu bồi thường 56
2.5.1 Khái niệm về thời hiệu yêu cầu bồi thường 56
2.5.2 Cách tính thời hiệu yêu cầu bồi thường 57
2.6 Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại 58
2.6.1 Căn cứ xác định mức hoàn trả 59
2.6.2 Trình tự thủ tục quyết định việc hoàn trả 59
2.6.3 Thực hiện việc hoàn trả 61
2.7 Các trường hợp Nhà nước không phải chịu trách nhiệm bồi thường 61
2.7.1 Thiệt hại xảy ra do hành vi công vụ trong quá trình quản lý hành chính gây thiệt hại không phải là hành vi trái pháp luật 62
2.7.1.1 Phòng vệ chính đáng 62
2.7.1.2 Tình thế cấp thiết 64
2.7.2 Thiệt hại xảy ra do hành vi công vụ trong quá trình quản lý hành chính gây thiệt hại không mang yếu tố lỗi 66
2.7.2.1 Thiệt hại xảy ra do người bị thiệt hại có lỗi hoàn toàn 66
2.7.2.2 Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng 66
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH 69
3.1 Thủ tục yêu cầu bồi thường quá rườm rà 70
Trang 83.1.2 Giải pháp 75
3.2 Công tác giải quyết khiếu kiện còn chưa đạt hiệu quả 76
3.2.1 Thực tiễn 76
3.2.2 Giải pháp 79
3.3 Đội ngũ cán bộ, công chức bị suy thoái 80
3.3.1 Thực tiễn 80
3.3.2 Giải pháp 84
3.4 Việc xác định thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm là chưa hợp lý 85
3.4.1 Thực tiễn 85
3.4.2 Giải pháp 86
3.5 Việc thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại không hiệu quả 86
3.5.1 Thực tiễn 86
3.5.2 Giải pháp 86
3.6.Thời hiệu yêu cầu bồi thường phức tạp 87
3.6.1 Thực tiễn 87
3.6.2 Giải pháp 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9pháp luật để tìm ra những điểm mới, những điều hạn chế để có bài nghiên cứu hoànchỉnh.
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dungcủa đề tài được chia thành ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính
Chương 2: Cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính
Chương 3: Thực tiễn và phương hướng hoàn thiện trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Trang 10A Phần Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản
lý hành chính không những có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người dân, mà còn giúp phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật từ phía
người thi hành công vụ trong quá trình quản lý hành chính, góp phần hoàn thiện hơn
pháp luật về bồi thường thiệt hại,…nhằm tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Nhận thấy được tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền được bồi
thường thiệt hại của người dân trong hoạt động quản lý hành chính, nền lập pháp
của nước ta khi ban hành các văn bản pháp luật đều luôn quan tâm xây dựng chế
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành
chính
Quyền được bồi thường thiệt hại của người dân trong quản lý hành chính đã
được ghi nhận lần lượt qua các bản Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001); đồng thời quyền này được cụ thểhóa trong hàng loạt các văn bản luật như: Bộ luật Dân sự, Luật Khiếu nại, tố cáo,Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thườngthiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan cóthẩm quyền tố tụng gây ra,…Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về trách nhiệmbồi thường thiệt hại trong quản lý hành chính lúc đầu còn nhiều hạn chế như: phântán, hiệu lực pháp lý thấp và thiếu tính khả thi Chẳng hạn như không xác định rõ cơquan có trách nhiệm bồi thường dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, gặp lúngtúng trong việc xác định thiệt hại được bồi thường, thành phần tham gia giải quyếtbồi thường không khách quan… Để góp phần khắc phục những hạn chế này cũng
như nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, địnhhướng đến năm 2020, ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã biểu
quyết thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2010, trong đó có chế định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nướctrong hoạt động quản lý hành chính Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ra
đời đã tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ và hiệu quả hơn trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người dân trong mối quan hệ pháp luật hành chính nói riêng,góp phần tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trênthực tế qua hơn hai năm thực hiện, chế định này vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cậpgây phiền hà cho người dân trong việc thực hiện quyền của mình Trong khi đó, mối
Trang 11quan hệ pháp luật hành chính là mối quan hệ diễn ra hằng ngày trên mọi mặt của
đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân
Từ đây cho thấy việc tìm hiểu, phân tích và đưa ra giải pháp hoàn thiện chế định về
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính” là việc làm cần thiết và có ý nghĩa rất thiết thực đối với cá nhân, tổ chức
trong xã hội Đây cũng chính là lý do mà người viết chọn đề tài này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính” trước hết nhằm làm sáng tỏ một số vấn
đề về lý luận, pháp lý và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính Trên cơ sở đó người viết xem xét việc áp dụngnhững quy định của pháp luật vào thực tiễn nhằm chỉ ra những mặt hạn chế, nhữngtồn tại trong các quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật,
để từ đó đề ra những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của chế định trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, góp phần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân tốt hơn
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu chế định trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được quy định một cách
chi tiết, cụ thể trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản
hướng dẫn Đồng thời, người viết kết hợp với việc áp dụng những quy định chung
về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm
2005 và được hướng dẫn thi hành tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụngmột số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng đối với những vấn đề mà Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưaquy định; chẳng hạn như về đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, thời
hạn được hưởng bồi thường, trường hợp phòng vệ chính đáng…
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này người viết sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp
Trước hết người viết sử dụng phương pháp sưu tầm và tổng hợp các bài nghiên cứu,
ý kiến của các luật gia, dự thảo luật, liệt kê, tham khảo tài liệu, tìm hiểu thực tế vấn
đề…Sau đó, người viết kết hợp với phân tích, so sánh, đối chiếu các quy định của
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Trong chương này, dựa trên cơ sở lý luận người viết chủ yếu tập trung làm rõ
thế nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lýhành chính; trên cơ sở đó, xác định bản chất của mối quan hệ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính Bên cạnh đó,
nêu lên ý nghĩa và sơ lược về lịch sử hình thành chế định trách nhiệm bồi thườngthiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
1.1.1 Định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt
luật các nước ghi nhận và bảo đảm được thực hiện Theo đó, khi một bên vi phạm
một quy tắc xử sự (có thể là quy tắc xử sự do pháp luật quy định hoặc do ý chí của các bên liên quan tạo ra) mà gây thiệt hại (có thể là vật chất hoặc tinh thần) cho bên kia thì phải có nghĩa vụ bù đắp, đền bù những tổn thất mà mình đã gây ra Hay
nói cách khác giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại khi đó phát sinh quan hệ dân
sự, đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Để đáp ứng nhu cầu bồi thường thiệt hại cho người dân, thể hiện sự bình đẳng,đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan nhà nước và mọi công dân,
ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã biểu quyết thông qua LuậtTrách nhiệm bồi thường của Nhà nước, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010.Luật này đã quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong
1
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ, 2004,
tr.53.
Trang 13các lĩnh vực: quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án Trong đó, hoạt động quản
lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính
nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền
quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức,quản lý, điều hành các quá trình xã hội của nhà nước2 Nói cách khác, hoạt độngquản lý hành chính nhà nước là hoạt động tổ chức việc thực thi pháp luật, đưa phápluật đi vào cuộc sống, làm cho quyền và nghĩa vụ của người dân trở thành hiện thực,trực tiếp điều hành mọi công việc thường nhật trên tất cả các lĩnh vực như: kinh tế,chính trị, văn hóa,…nhằm bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất cũng nhưtinh thần cho người dân Đồng thời, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước đòihỏi phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân Ngược lại, nếu gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức khác khi thực hiện
hành vi công quyền trái pháp luật thì nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường, và
sau đó người thi hành công vụ mà có lỗi trong việc gây ra thiệt hại khi thi hành công
vụ thì có trách nhiệm phải hoàn trả lại một khoản tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà
nước, trừ trường hợp do lỗi hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại, do phòng vệ chínhđáng, do tình thế cấp thiết,…Mà hoạt động quản lý hành chính được thể hiện chủ
yếu thông qua quyết định hành chính và hành vi hành chính
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động
quản lý hành chính là một loại trách nhiệm dân sự; theo đó, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất, thiệt hại (cả về vật chất lẫn tinh thần) mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu do quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý hành chính được Nhà nước giao Ví dụ, việc ra quyết định
tháo dỡ nhà trái pháp luật của chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện A đã gây ra thiệt hạicho ông B và không rơi vào các trường hợp không phải bồi thường Trong trườnghợp này thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho B
Theo Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/03/2010,
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước thì người thi hành công vụ ở đây bao gồm: cán bộ, công chức
của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; công chức của Tổng cục, cục,
các đơn vị khác có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng trực thuộc Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; thành viên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; thành
2
Tiến sĩ Phan Trung Hiền, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, phần 1, Những vấn đề chung của Luật
hành chính, Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ, 2009, tr.8.
Trang 14viên Uỷ ban nhân dân cấp huyện và người thi hành công vụ do các cơ quan chuyênmôn trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện trực tiếpquản lý; thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc là cán bộ, công chức cấp xã (gọichung là cán bộ, công chức nhà nước) Theo đó, khi họ có lỗi trong việc đưa raquyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật mà gây thiệthại thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường (trừ một số trường hợp ngoại lệ
như trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng…)
1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính
Quyền được bồi thường khi bị thiệt hại về tài sản, thân thể và danh dự do bị
người khác xâm hại là quyền của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Bản
chất pháp lý của quyền này là một quyền dân sự thông thường Vì một lý lẽ không
ai có thể phủ nhận là khi một người bị một người khác xâm phạm một cách vô lý,gây ra những thiệt hại về tài sản cũng như thân thể và danh dự thì người có hành vixâm hại đó phải bù đắp những tổn thất mà mình đã gây ra cho người bị thiệt hại,không phân biệt người gây ra thiệt hại là ai, kể cả là Nhà nước Do đó, về bản chấttrách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý hành chính chẳng qua cũng làmột loại trách nhiệm dân sự; hay nói cách khác nó cũng là trách nhiệm bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng Bởi lẽ nó phát sinh không trên một cơ sở hợp đồng nàogiữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại Theo đó, Nhà nước phải bồi thường nhữngthiệt hại cả về vật chất cũng như tinh thần cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại khi cóthiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật, có lỗi của cán bộ, công chức trong quátrình thực hiện quản lý hành chính nhà nước (trừ một số trường hợp ngoại lệ) Vìvậy về nguyên tắc, bên cạnh những đặc điểm riêng thì trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính còn mang những đặc điểm chung của
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.2.1 Đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hànhchính mang một số đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng như:
Thứ nhất, về điều kiện phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính chỉ phát sinh khi có đủ bốn yếu tố là có thiệt hạithực tế xảy ra, có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và
Trang 15hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại Tuy nhiên, có một nét đặc thù
ở đây là hành vi trái pháp luật phải gắn liền với yếu tố thi hành công vụ trong quá
trình quản lý hành chính, và chỉ được xem là hành vi trái pháp luật khi nó được xácnhận trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ngoài ra, một điều cần
lưu ý nữa là đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, thì
trong một số trường hợp trách nhiệm bồi thường vẫn phát sinh dù không tồn tại yếu
tố lỗi như: bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, bồi thường thiệthại do làm ô nhiễm môi trường Nhưng đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính là một dạng đặc thù của trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì yếu tố lỗi là bắt buộc Nếu cán bộ, côngchức gây ra thiệt hại mà không có lỗi thì sẽ không làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường
Thứ hai, không tồn tại mối quan hệ hợp đồng giữa người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại Nhiệm vụ của cán bộ, công chức trong quá trình quản lý hành
chính là do pháp luật quy định, chứ không xuất phát từ một sự thỏa thuận (hợp
đồng) nào giữa họ (người gây thiệt hại) và người bị thiệt hại Trong quá trình quản
lý hành chính nhà nước, cán bộ, công chức phải thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước
giao theo đúng quy định của pháp luật Ngược lại, nếu họ không xử sự theo quyđịnh của pháp luật trong quá trình quản lý hành chính mà gây thiệt hại cho người
dân, thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường Như vậy, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính là một loại trách
nhiệm pháp lý, do pháp luật quy định đối với hành vi trái pháp luật xâm phạm đếnquyền và lợi ích hợp pháp của người khác; mà không có thỏa thuận hay dựa vào bất
kỳ một quan hệ hợp đồng nào
Thứ ba, về mặt hậu quả Trong quá trình quản lý hành chính, Nhà nước với tư
cách là một pháp nhân, cho nên nếu người của pháp nhân có lỗi gây ra thiệt hại khithực hiện chức năng, nhiệm vụ do pháp nhân giao thì pháp nhân phải chịu tráchnhiệm bồi thường Sau đó, người thi hành công vụ mà có lỗi gây ra thiệt hại thì phảichịu trách nhiệm hoàn trả một khoản tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước (trừ
trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết) Như vậy, trách nhiệm bồithường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được xem là hậu
quả pháp lý bất lợi về tài sản cho bên gây ra thiệt hại
Trang 161.1.2.2 Đặc điểm riêng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính
Mặc dù trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản
lý hành chính về bản chất là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Nhưng do trách nhiệm bồi thường này phát sinh gắn liền với yếu tố thi hành công
vụ trong hoạt động quản lý hành chính nên nó còn có những đặc điểm riêng nhưsau:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính chịu sự điều chỉnh của luật chung và luật riêng Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính trước hết
được điều chỉnh bởi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Nghịđịnh của Chính phủ số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/03/2010, Quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
(Nghị định số 16/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/03/2010), Thông tư liên tịch
số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chínhphủ ngày 26/11/2010 Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nướctrong hoạt động quản lý hành chính (Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ ngày 26/11/2010).Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có quy định về trách nhiệm bồi thườngcủa Nhà nước trong quá trình quản lý hành chính tại Điều 619 “Bồi thường thiệt hại
do cán bộ, công chức gây ra” Nếu như có những quy định về bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng mà Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa quy định thì sẽ
áp dụng những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự
năm 2005 để điều chỉnh Chẳng hạn như về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do
tính mạng, sức khỏe bị xâm hại (Điều 612), bồi thường thiệt hại trong trường hợp
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 613), bồi thường thiệt hại trongtrường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (Điều 614),…
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính là trách nhiệm dân sự được hành chính hóa Khi một chủ thể
bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợppháp của mình thì họ có quyền được bồi thường, không cần biết người gây ra thiệthại là ai Đây là một quyền dân sự thông thường Cũng vậy, trách nhiệm bồi thườngcủa Nhà nước trong quản lý hành chính là trách nhiệm dân sự nhưng nó đã đượchành chính hóa Theo đó, khi cá nhân, tổ chức cho rằng mình bị thiệt hại do ngườithi hành công vụ gây ra thì trước hết họ phải khiếu nại lần đầu với người đã ra quyết
Trang 17định hành chính hoặc cơ quan có cán bộ, công chức mà có hành vi hành chính gây
thiệt hại cho họ Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộcthẩm quyền giải quyết của mình và không thuộc một trong các trường hợp quy địnhtại Điều 32 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2004 và năm
2005, người giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng
văn bản cho người khiếu nại biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu
rõ lý do Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại
không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩmquyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án Nếu
người khiếu nại tiếp tục khiếu nại lần hai thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết
thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai người khiếu nại không đồng
ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án Người có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại hoặc tòa án phải ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản.Nếu văn bản giải quyết khiếu nại xác định rõ hành vi công vụ gây ra thiệt hại củacán bộ, công chức là trái pháp luật và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 13Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì người bị thiệt hại có quyền gửi đơnyêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường Về nguyên tắc, cơ quan
có trách nhiệm bồi thường là cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hànhcông vụ có hành vi trái pháp luật, có lỗi gây ra thiệt hại Sau khi nhận được đơn yêucầu bồi thường thiệt hại và các giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền giảiquyết của mình thì cơ quan đã nhận hồ sơ phải thụ lý, tiến hành xác minh thiệt hại,
tổ chức cũng như chủ trì thương lượng với người bị thiệt hại về việc giải quyết bồi
thường và ra quyết định giải quyết bồi thường Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm bồi
thường không ra quyết định, hoặc kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyếtđịnh nhưng không đồng ý thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra tòa án có thẩm
quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường Bên cạnh đó, việc khởi kiện yêu cầu bồi
thường không những được thực hiện tại tòa án dân sự mà còn có thể thực hiện tại
tòa án hành chính Như vậy, mặc dù về bản chất thì trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước trong quản lý hành chính là trách nhiệm dân sự, nhưng việc giải quyết bồithường trước hết phải thông qua thủ tục khiếu nại (thủ tục tiền tố tụng) tại cơ quan
quản lý trực tiếp người thi hành công vụ gây ra thiệt hại hoặc nếu yêu cầu bồi
thường trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính thì không phải thông qua thủ tục
khiếu nại Ngoài ra, trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động
Trang 18quản lý hành chính, cơ quan có trách nhiệm giải quyết yêu cầu bồi thường vềnguyên tắc là cơ quan hành chính trực tiếp quản lý cán bộ, công chức có lỗi gây rathiệt hại trong quá trình quản lý hành chính; Điều này cũng đã cho thấy trách nhiệmbồi thường nhà nước trong quản lý hành chính là trách nhiệm dân sự nhưng đã bịhành chính hóa.
Thứ ba, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quản lý hành chính là Nhà nước Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì
chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là người đã gây ra thiệt hại hoặc cũng có thể là
người khác như: cha mẹ, người giám hộ của họ hoặc nhà trường nơi họ theo học…Như đã phân tích từ đầu thì trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý
hành chính được xem là một dạng đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng; điều này còn được thể hiện ở chỗ chủ thể chịu trách nhiệm bồi
thường là Nhà nước Trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý
hành chính thì Nhà nước với tư cách là một pháp nhân Cho nên, về nguyên tắc, nếu
người của pháp nhân có lỗi gây ra thiệt hại khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được
pháp nhân giao thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường Do đó, nếu cán bộ,công chức thực hiện hành vi công vụ trong quá trình quản lý hành chính mà có lỗi
và gây thiệt hại thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường (trừ một số trườnghợp ngoại lệ như sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết, lỗi hoàn toàn thuộc vềbên bị thiệt hại…) Cụ thể là, về nguyên tắc cơ quan có trách nhiệm bồi thường là
cơ quan hành chính trực tiếp quản lý cán bộ, công chức Rõ ràng ở đây ta thấy có sự
không cân xứng về vị thế giữa chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và chủ thể đượcbồi thường Giữa một bên mang quyền lực nhà nước và một bên không mang quyềnlực nhà nước Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hànhchính xét về bản chất nó là trách nhiệm dân sự nhưng việc giải quyết bồi thường ở
đây thực chất là không có sự bình đẳng thỏa thuận Mặc dù luật có quy định thươnglượng về việc bồi thường giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường và bên bị thiệt
hại; tuy nhiên, do cơ quan giải quyết việc bồi thường cũng chính là cơ quan có tráchnhiệm bồi thường nên sẽ rất khó tránh khỏi sự phân biệt đối xử, sự tùy tiện và lạmdụng của cơ quan nhà nước trực tiếp thương lượng
Thứ tư, hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là việc ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính trái pháp luật Đối với trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng thông thường thì hành vi trái pháp luật là hành vi vi phạmquy tắc xử sự được ghi nhận trong pháp luật dân sự Còn trong trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước trong quản lý hành chính, thì hành vi trái pháp luật gây thiệt
Trang 19hại được hiểu là việc ra quyết định hành chính hay có hành vi hành chính trái phápluật Theo khoản 10 và khoản 11 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2004 và năm 2005 đã định nghĩa: “Quyết định hành chính là
văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về
một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính”;”Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.
Chẳng hạn như Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biệnpháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật liệu kiến trúc kiên cố khác; Quyết địnhhành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ
sở chữa bệnh…
Tóm lại, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hànhchính về bản chất là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, là một dạng
đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Chính yếu tố công vụ
trong quản lý hành chính đã làm nên những nét đặc thù của trách nhiệm bồi thườngcủa Nhà nước trong quản lý hành chính
1.1.3 Phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính
Theo Điều 13 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và
Điều 3 Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26/11/2010 của
Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ, Nhà nước có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trongcác trường hợp sau đây:
- Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý viphạm hành chính;
- Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp
cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa
người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;
Trang 20- Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư,giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép; hoặc không cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trịnhư giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;
- Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng
đất;
- Áp dụng thủ tục hải quan;
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất;
- Ban quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
- Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảohộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện
được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;
hoặc không cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;
- Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định
Có thể thấy trên đây là những nhóm hành vi có ảnh hưởng lớn đến các quyền
cơ bản của công dân như quyền tự do thân thể, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do
sở hữu,…mà nếu bị xâm hại bởi hành vi có lỗi của cán bộ, công chức trong quátrình quản lý hành chính thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường
1.2 Bản chất quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân trong hoạt động quản lý hành chính
là quan hệ pháp luật hành chính công tư Tức nó hình thành giữa một bên chủ thểtham gia với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước, và một bên chủthể tham gia không với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước Theo
đó, đây là mối quan hệ “quyền uy – phục tùng” và chịu sự điều chỉnh của pháp luật
hành chính Mà đặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là tínhmệnh lệnh đơn phương Tức một bên có quyền nhân danh nhà nước và ra nhữngmệnh lệnh bắt buộc còn bên kia có nghĩa vụ là phải phục tùng
Tuy nhiên, các chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động quản lý hành
chính nhà nước nếu có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại thì Nhà nước phải chịu
trách nhiệm bồi thường Cơ chế bồi thường Nhà nước được quy định trên nguyên
Trang 21tắc và bản chất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự (người bịthiệt hại có thể yêu cầu bồi thường hoặc không yêu cầu bồi thường, việc yêu cầu bồi
thường về nguyên tắc không được cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra…) Việc xác định
mức độ thiệt hại cũng như mức bồi thường đều mang bản chất của quan hệ dân sự,tức là bình đẳng và thực tế, trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận, bình đẳng giữa bêngây thiệt hại và bên bị thiệt hại Như vậy bản chất của quan hệ giữa Nhà nước vàcông dân trong hoạt động quản lý hành chính nói riêng là mối quan hệ công, nhưngnếu cán bộ, công chức có hành vi công vụ trái pháp luật trong quản lý hành chínhthì Nhà nước phải bồi thường, và việc giải quyết quan hệ bồi thường phát sinh từquan hệ công này lại mang bản chất của mối quan hệ dân sự (quan hệ tư) Trong
trường hợp này Nhà nước đóng vai trò như một chủ thể của quan hệ tư, không có
quyền lực hành chính mà chỉ là một chủ thể dân sự bình đẳng với bên bị thiệt hạitrong việc giải quyết bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, ở đây có thật sự bình đẳng vàkhách quan chưa khi mà cơ quan giải quyết bồi thường cũng chính là cơ quan cótrách nhiệm bồi thường Như vậy chẳng khác nào “vừa đá bóng, vừa thỏi còi”
1.3 Ý nghĩa của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành
chính ra đời mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực, có thể kể đến một vài ý nghĩa cơ bảnsau đây:
Thứ nhất, giúp hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam về bồi thường
nhà nước Trước khi Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 ra đời,
việc coi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý hành chính thuần túy lànội dung của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không xác định được
tính đặc thù và thiếu các quy định cụ thể, chặt chẽ, về cơ bản đã gây bất lợi chongười bị thiệt hại Chẳng hạn như người bị thiệt hại không biết ai là người đã gây
thiệt hại cho mình dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan Bêncạnh đó, các quy định về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong quản lý hành chínhcòn rất tản mạn, nhiều văn bản ở tầm hiệu lực thấp Ví dụ như: Nghị định số 47/CPngày 03/5/1997 của Chính phủ Về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do côngchức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gâyra; Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/19998 của Ban tổ chức – Cán bộchính phủ hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định 47/CP ngày 03/5/1997của Chính phủ Về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà
nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và Thông tư số
Trang 2238/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998 Hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết
toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhànước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra;Thông tư số 49/2008/TT-BTC ngày 12/6/2008 Hướng dẫn bồi thường thiệt hại chongười nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công
chứng thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hành công vụ gây ra… Các
quy định này chưa xác lập được cơ chế bồi thường có hiệu quả cho người bị thiệt
hại, tính khả thi còn thấp Vì thế, chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nướctrong hoạt động quản lý hành chính ra đời rất có ý nghĩa trong việc hoàn thiện hơn
hệ thống pháp luật về bồi thường nhà nước; tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệuquả để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền bồi thường của mình đối vớinhững thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức gây ra
Thứ hai, giúp đảm bảo quyền công dân Quyền công dân là những quyền của
con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật; bao gồm các quyền về
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…đặc biệt, trong đó có quyền được yêu cầu bồi
thường Điều 74 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã quy định:
“Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập
thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh dự” Để góp phần đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại đã được quy định trong Hiến pháp,tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XII, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
đã được thông qua Trong đó có chế định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính Như đã biết, hoạt động quản lý hành chính làhoạt động diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội hàng ngày Do đó, hoạt độngnày thường xuyên liên quan, đụng chạm, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân Mà mối quan hệ pháp luật hành chính là một mốiquan hệ bất bình đẳng giữa một bên mang quyền lực nhà nước và một bên là ngườidân; và bên mang quyền lực nhà nước không phải lúc nào cũng thực hiện chức
năng, nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật dẫn đến thiệt hại cho người dân
Vì thế việc quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lýhành chính là rất cần thiết để góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân thông qua quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Hay nói cách khác là chếđịnh này giúp bảo đảm các quyền công dân trong đó có quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra
Trang 23Thứ ba, giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm, và trình độ chuyên môn của
đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình quản lý hành chính Hiện nay, tình
trạng tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan
hành chính nhà nước trong một bộ phận cán bộ, công chức; cũng như tình trạng
trình độ, năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm và đạo đức của một số cán bộ,công chức vẫn chưa cao Do đó, đã đem lại không ít những rủi ro cho người dân từhoạt động công vụ, gây thiệt hại, xâm phạm đến những quyền và lợi ích hợp phápcủa người dân Vì thế, quy định về trách nhiệm hoàn trả của cán bộ, công chức thihành công vụ trái pháp luật, có lỗi gây ra thiệt hại trong hoạt động quản lý hành
chính nhà nước giúp họ ý thức hơn về trách nhiệm, quyền hạn của mình cũng như
không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trìnhquản lý hành chính; tiến tới xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh
1.4 Sơ lược về lịch sử hình thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà
nước trong hoạt động quản lý hành chính
1.4.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản
lý hành chính thời kỳ Lê, Nguyễn
Triều Lê là một trong những triều đại phong kiến tồn tại lâu dài trong lịch sửViệt Nam từ năm 1428 đến 1788 Cùng với sự phát triển của bộ máy nhà nước thì
hệ thống lập pháp cũng rất được xem trọng Đây là thời kỳ mà pháp luật Việt Nam
đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng và giữ vị trí đặc biệt của nền pháp luật Việt
Nam Một trong những thành tựu phải kể đến là Quốc triều Hình luật (còn gọi là Bộluật Hồng Đức) được ban hành vào năm 1483 Đây được xem là bộ luật quan trọngnhất của triều Lê Đến thời nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng của nước ta kéo dài từ
năm 1802 đến 1945 Tuy nhiên, triều đại nhà Nguyễn chỉ tồn tại độc lập trong thời
gian nửa đầu thế kỷ XIX (1802-1858) Sau khi lên ngôi, vua Gia Long ra chỉ dụ cho
các quan đại thần xem xét lại Bộ luật Hồng Đức và luật Đại Thanh để ban hành bộ
luật thích hợp Đến năm 1812 thì Bộ Hoàng Việt luật lệ được ban hành
Nghiên cứu pháp luật thời Lê, Nguyễn cho thấy các chế định về trách nhiệmbồi thường thiệt hại được quy định sơ sài và tản mạn Bên cạnh đó, dù pháp luậtthời kỳ này có quy định về trách nhiệm bồi thường cho người dân đối với các hành
vi công quyền trái pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước, nhưng trách nhiệmbồi thường ở đây không thuộc về nhà nước mà thuộc về các quan lại mà đã có hành
vi trái pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý gây ra Chẳng hạn, Điều
206 Bộ luật Hồng Đức quy định: Những người quan thu thuế, không theo nghạch đã
định mà thu, lại giấu bớt số thuế thì cũng coi như tội giấu đồ vật công; nếu thu thêm
Trang 24thuế để làm của riêng thì tội cũng như thế; lại phải bồi thường gấp đôi số thuế lạm
thu để trả lại cho dân Và thường thì không có sự phân biệt rõ giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự Chế tài hình sự được quy định trước hết
nhằm trừng phạt kẻ đã xâm phạm tài sản và nhân thân của người khác Ngoài hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại xảy ra Ví dụ, Điều
326 quy định: Quan coi việc thu thuế, nếu để quá hạn rồi mà không nộp vào kho, thì
xử tội biếm hay phạt Nếu quan coi kho, ngoài lượng thuế đã định mà yêu sách lấy của dân thì phải tội biếm hay đồ và phải bồi thường gấp đôi trả lại cho dân số tiền sách nhiễu.
1.4.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản
lý hành chính dưới thời Pháp thuộc
Năm 1858 thực dân Pháp nổ sung xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễnđầu hàng thực dân Pháp Trong thời kỳ cai trị nước ta, thực dân Pháp đã áp dụngđồng thời hai chế độ cai trị là chế độ cai trị hà khắc của Nhà nước phong kiến và
chế độ thực dân Theo đó, xã hội dân sự không được thừa nhận, trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong hoạt động quản lý hành chính nói riêng vì thế cũng không được quy định,trong khi trách nhiệm dân sự khác cũng đã được quy định cụ thể tại các Bộ Dân luậtBắc kỳ (1931), Hoàng Việt Trung kỳ (1936) Tuy nhiên, để nâng cao trách nhiệmcủa quan lại trong quá trình thực thi công vụ, thì pháp luật thời kỳ này quy địnhquan lại làm trái pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước thìphải chịu phạt Chẳng hạn Điều 22 Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
quy định: Hộ lại…không chịu đăng ký một việc sinh, tử, giá thú mà người ta đã khai
với mình…thì bị phạt từ 5 đồng đến 100 đồng.
1.4.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản
lý hành chính từ sau năm 1945 đến nay
Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa được thành lập, các quyền của công dân được xác lập và bảo đảm Về chính trị,
đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân; về quan hệ pháp luật, trong quan hệ vớingười dân (cá nhân, tổ chức) thì Nhà nước là một bên chủ thể bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ Tuy nhiên, cho đến trước khi Hiến pháp năm 1959 ra đời thì tráchnhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung cũng như trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước trong lĩnh vực hành chính chưa được quy định như là một chế định trong
pháp luật
Trang 25Bắt đầu từ Hiến pháp 1959, quyền được bồi thường của người dân đã được ghinhận tại Điều 29 như sau: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyềnkhiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm phápcủa nhân viên cơ quan Nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét vàgiải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ
quan Nhà nước có quyền được bồi thường”
Tiếp đến ngày 23 tháng 3 năm 1972 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành
Thông tư số 173/UBTP Hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.Thông tư này cũng đã quy định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân khi công
nhân, viên chức hay người đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan trong khi thihành nhiệm vụ mà gây thiệt hại cho người khác thì cơ quan, xí nghiệp phải bồi
thường thiệt hại theo chế độ trách nhiệm dân sự, rồi sau đó có quyền đòi hỏi họ
hoàn trả việc bồi thường đó theo quan hệ lao động Tuy nhiên, trường hợp côngnhân, viên chức hoặc đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan lợi dụng nhiệm vụ
và do hành vi không liên quan chặt chẽ đến công tác được phân công, rõ ràng để
mưu lợi ích riêng, mà gây thiệt hại cho người khác thì cá nhân họ phải chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại
Hiến pháp năm 1980, tiếp tục khẳng định quyền được bồi thường của người bị
thiệt hại tại Điều 73 “công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào
của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải
được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường”.
Nhằm tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng tốicao các quyền công dân, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) tại các
Điều 72 và 74 đã quy định mọi chủ thể (kể cả Nhà nước) xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp, gây thiệt hại cho cá nhân và tổ chức đều phải bồi thường
Thể chế hóa các quy định về bồi thường thiệt hại của Hiến pháp năm 1992, Bộluật dân sự năm 1995 đã dành một chương quy định trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng (chương V) Trong đó, Điều 623 quy định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra Trên cơ sở quy định của
Bộ luật dân sự năm 1995, Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ Vềviệc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có
Trang 26thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra được ban hành là một vấn đề vềtrách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung cũng như trách nhiệm bồi thườngtrong lĩnh vực hành chính nói riêng Bên cạnh đó, Thông tư số 54/1998/TT-TCCPngày 04/6/19998 của Ban tổ chức – Cán bộ chính phủ hướng dẫn thực hiện một sốnội dung Nghị định 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ Về việc giải quyết bồi
thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của cơ
quan tiến hành tố tụng gây ra và Thông tư số 38/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998
Hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước cho bồithường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơquan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra cũng đã được ban hành
Bộ luật dân sự năm 2005 tiếp tục kế thừa các quy định về bồi thường thiệt hại
do cán bộ, công chức gây ra trong Bộ luật dân sự năm 1995 Cụ thể Điều 619 quy
định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra: “Cơ quan, tổ chức quản lý
cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ” Tiếp sau là
hàng loạt các văn bản dưới luật quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nướcnói chung, và bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính nói riêng như:Nghị định số 84/2006/NĐ-CP ngày 18/8/2006 của Chính phủ Quy định về bồi
thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính và bồi thường thiệt hại
trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quyết định số 523/2007/QĐ-BCA ngày22/5/2007 của Bộ Công an Quy định về chế độ bồi thường chi phí đào tạo đối vớimột số trường hợp cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức chuyển ra ngoài lực lượngCông an nhân dân; Thông tư số 49/2008/TT-BTC ngày 12/6/2008 Hướng dẫn bồi
thường thiệt hại cho người nộp thuế, người khai hải quan do hành vi vi phạm pháp
luật của cán bộ, công chứng thuế, cán bộ, công chức hải quan trong khi thi hànhcông vụ gây ra;…
Ngoài ra, hầu hết các văn bản pháp luật chuyên nghành trong lĩnh vực quản lýnhà nước cũng đã đề cập tới trách nhiệm bồi thường nhà nước như: Luật Khiếu nại,
tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005); Luật Hải quan năm 2001; Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Luật Đầu tư năm2005; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002;…Đặc biệt trong lĩnh vực ban
hành văn bản pháp quy, Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính
phủ Về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã quy định: “tùy theo tính
Trang 27chất và mức độ của văn bản trái pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền đã ban
hành văn bản trái pháp luật…phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự
hoặc trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” (Điều 8).
Ngày 18/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã biểu quyết thông quaLuật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2010 đã tạo cơ chế pháp lý để người bị thiệt hại thực hiện tốt hơn quyền đượcbồi thường của mình đối với những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thihành công vụ gây ra; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và cáccông chức trong quá trình thực thi công vụ trong điều kiện xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Luật này đã quy định cụ thể vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong các lĩnh vực: hành chính, tốtụng và thi hành án Để cụ thể hóa về vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nướctrong lĩnh vực hành chính, Nghị định số 16/2010/NĐ-CP 03/3/2010 của Chính phủQuy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật trách nhiệm bồi
thường nhà nước; Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP của Bộ Tư
pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính đã ra đời
Có thể khẳng định rằng quyền được bồi thường và trách nhiệm bồi thường Nhà
nước nói chung và trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực hành chínhnói riêng được ghi nhận từ rất sớm trong pháp luật của Nhà nước ta Tuy nhiên,
trong một thời gian dài, đất nước ta phải trải qua cuộc chiến tranh giành độc lậpgian khổ, nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước cũng như toàn thể quốc dân đồng bào là
đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Sau khi giải phóng miền Nam,
thống nhất nước nhà, chúng ta lại bắt tay vào khôi phục kinh tế và kiến thiết nước
nhà nên chưa có điều kiện quan tâm xây dựng đầy đủ và đồng bộ chế định bồithường nhà nước cũng như triển khai trên thực tế chế định này Ngay khi nền kinh
tế dần đi vào ổn định, đất nước đạt được những bước tiến lớn trên nhiều lĩnh vựckinh tế, khoa học kỹ thuật, hợp tác nước ngoài,…Đặc biệt với chủ trương xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản thể
hiện tính chịu trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền và lợi ích của nhân dân Tuynhiên, lúc đầu các quy định về vấn đề này vẫn còn phân tán, hiệu lực pháp lý thấp
và thiếu tính khả thi Mãi đến khi Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước ra đời đãtạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ và hiệu quả hơn trong việc bảo đảm quyền đượcbồi thường của người dân tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Tóm lại, bản chất của trách nhiệm bồi thường nhà nước trong quản lý hành
Trang 28chính là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, do gắn liềnvới yếu tố công vụ trong quản lý hành chính nên nó có những đặc thù riêng như: làtrách nhiệm dân sự được hành chính hóa, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là
nhà nước,…Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý hành
chính rất có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền công dân, quyền con người, cụ thể làquyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người dân Thông qua đó góp phần xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 29Chương 2
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Trong chương này, người viết dựa trên các quy định của pháp luật để làm rõ
các căn cứ dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động
quản lý hành chính; ai có trách nhiệm bồi thường và bồi thường bao nhiêu; bồi
thường thiệt hại trong quản lý hành chính bao gồm những nguyên tắc nào; trình tự
thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường ra sao; trách nhiệm hoàn trả và các trường hợp
Nhà nước không phải chịu trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành
chính
2.1 Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong
quản lý hành chính là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, người được
bồi thường và mức độ bồi thường Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất vàđầy đủ
Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong
hoạt động quản lý hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Trách nhiệmbồi thường của Nhà nước năm 2009 như sau:
a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi củangười thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thườngquy định tại Điều 13 của Luật này;
b) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây
ra đối với người bị thiệt hại
Và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số
19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26/11/2010 Theo đó, để xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nướctrong hoạt động quản lý hành chính cần có 4 yếu tố: có thiệt hại thực tế xảy ra, cóhành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, có mối quan hệ nhân quả giữathiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại
Trang 302.1.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra
Đây là điều kiện tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bởi lẽ mục đích
của trách nhiệm bồi thường là khôi phục lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại hoặc
bù đắp một phần tổn thất Do đó, cần phải có thiệt hại mới làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường, nếu không có thiệt hại thì câu hỏi đặt ra là: bồi thường cái gì? bồi
thường bao nhiêu? Vậy, nhất thiết phải có thiệt hại xảy ra
Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày26/11/2010 thì thiệt hại thực tế là thiệt hại có thực mà người bị thiệt hại phải gánhchịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra Đó là những tổnthất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Thiệt hại thực tế bao gồm thiệt hại về vậtchất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần
Thiệt hại về vật chất thuộc trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động quản lý hành chính bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tạiĐiều 45 của Luật; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút quy định tạiĐiều 46 của Luật; thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết quy định tại Điều
48 của Luật; thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe quy định tại Điều 49 củaLuật Ví dụ, chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn X ra quyết định tạm giữ đối với lôhàng hóa của công ty A để làm căn cứ xử lý hành chính; tuy nhiên, trong quá trìnhvận chuyển vị chủ tịch đó đã làm mất lô hàng hóa đó Như vậy, ở đây ta thấy đã có
sự thiệt hại về tài sản xảy ra đối với công ty A
Mặc dù Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như các văn bản
hướng dẫn thi hành đều không nêu rõ thế nào thiệt hại về tinh thần; tuy nhiên, ta có
thể hiểu thiệt hại về tinh thần theo quy định của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTPngày 08/7/2006 như sau:
“Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất họ phải chịu”.
“Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không
phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin…vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”
Trang 31Thiệt hại do tổn thất về tinh thần thuộc trách nhiệm bồi thường của Nhà nướctrong hoạt động quản lý hành chính bao gồm: thiệt hại do tổn thất về tinh thần trongthời gian bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh quy
định tại khoản 1 Điều 47 của Luật; thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường
hợp người bị thiệt hại chết quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật; thiệt hại do tổnthất về tinh thần trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 4 Điều
47 của Luật Như vậy, hầu như trong mọi trường hợp thì thiệt hại về tinh thần đềugắn liền với thiệt hại vật chất Ví dụ, ông A bị đưa vào cơ sở chữa bệnh từ ngày
01/02/2011 và đến ngày 01/5/2011 thì được ra khỏi cơ sở chữa bệnh Ngày
15/5/2011, cơ quan có thẩm quyền xác định ông A không thuộc đối tượng bị ápdụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh Trong trường hợp này A vừa có quyền
được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bị đưa vào cơ sở
chữa bệnh vừa được quyền bù đắp tổn thất về tinh thần cho bản thân do bị đưa vào
cơ sở chữa bệnh trái pháp luật
Việc xác định thiệt hại là rất quan trọng, cần phải xác định rõ có thiệt hại xảy
ra hay không, thiệt hại nào chính đáng cần được bồi thường, bồi thường cho ai, bồi
thường bao nhiêu,…Cơ quan có thẩm quyền cần xem xét kỹ để xác định đúng đắn
và hợp lý mức thiệt hại được bồi thường
2.1.2 Có hành vi công vụ trái pháp luật trong quá trình quản lý hành chính
nhà nước
Từ khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có thể hiểu:hành vi công vụ trái pháp luật trong quá trình quản lý hành chính gây ra thiệt hại làhành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy địnhcủa pháp luật và được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
đồng thời nó thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 của Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Như vậy, hành vi gây thiệt hại có thể ở dạng
không hành động hoặc hành động
Hành vi công vụ trái pháp luật dưới dạng không hành động trong hoạt độngquản lý hành chính là việc cán bộ, công chức không thực hiện nhiệm vụ của mìnhtrong quá trình quản lý hành chính và gây ra thiệt hại Hay nói cách khác là cán bộ,công chức không thực hiện hành vi mà pháp luật yêu cầu dẫn đến hệ quả là gây rathiệt hại cho cá nhân, tổ chức Ví dụ như hành vi không cấp văn bằng bảo hộ cho
đối tượng có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
Trang 32Hành vi công vụ trái pháp luật dưới dạng hành động trong hoạt động quản lýhành chính tức là việc cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trái phápluật Theo đó họ thực hiện hành vi công vụ mà đáng lý ra không được phép thựchiện theo quy định của pháp luật hoặc thực hiện hành vi công vụ không đúng nhưpháp luật quy định khi thực hiện hoạt động quản lý hành chính và gây thiệt hại.
Điều này được thể hiện thông qua việc cán bộ, công chức ban hành quyết định hành
chính hoặc thực hiện hành vi hành chính trái pháp luật gây ra thiệt hại Tuy nhiên cónhững hành vi hành chính gây ra thiệt hại nhưng không bị coi là hành vi trái phápluật, như trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết
Có một nét đặc thù ở đây là hành vi công vụ này chỉ được xem là hành vi tráipháp luật khi nó được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnrằng nó là hành vi trái pháp luật Văn bản đó có thể là: quyết định giải quyết khiếunại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; quyết định xử lý tố cáo của
cơ quan hoặc người có thẩm quyền; bản án,quyết định của Tòa án về giải quyết vụ
trái pháp luật Ngoài ra, hành vi đó phải thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy
định tại Điều 13 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, bao gồm:
Thứ nhất, ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Mặc dù
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008
không có đưa ra định nghĩa cụ thể về quyết định xử phạt vi phạm hành chính Tuynhiên dưới góc độ khoa học pháp lý thì có thể hiểu quyết định xử phạt vi phạm hành
chính là văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính quy định hình thức xử phạt vi phạm hành chính được áp
dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể Theo đó, việc ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh Xử lý viphạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008; Nghị định số
128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm
2007, 2008 Ví dụ như theo luật định thì người có thẩm quyền phải ra quyết định xửphạt vi phạm hành chính đúng thời hạn, nếu quá thời hạn theo quy định thì không
Trang 33được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (trừ quyết định áp dụng hình thức
xử phạt trục xuất)
Thứ hai, áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm
hành chính hoặc để đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền
có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tục hành chính như: Tạm giữ người;tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; khám người theo thủ tục hành
chính; khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính; khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; bảo lãnh hành chính; quản lý đối với
người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;
truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ
sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn Các biện pháp này chỉ được áp dụng khi rơivào những trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật Chẳng hạn như biện pháptạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngănchặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng gây thương tích cho
người khác hoặc cần thu thập, xác minh những tình tiết quan trọng làm căn cứ để
quyết định xử lý vi phạm hành chính; hay biện pháp khám người theo thủ tục hànhchính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồvật, tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính…Bên cạnh đó nó còn phải được ápdụng đúng thẩm quyền, việc áp dụng không được vượt quá thời hạn theo quy định,tuân thủ các quy định về phòng tạm giữ, bảo quản tang vật,…Ví dụ như: tạm giữ
người theo thủ tục hành chính không được quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữngười vi phạm; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơnnhưng không được quá 24 giờ; nơi tạm giữ phải đảm bảo vệ sinh, an toàn cho người
bị tạm giữ; khám người phải tuân theo nguyên tắc nam khám nam, nữ khám nữ…Tóm lại, việc áp dụng các biện pháp này phải tuân theo Pháp lệnh Xử lý viphạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008; Nghị định số
128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm
2007, 2008; Nghị định số 162/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 của Chính phủ Banhành quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính; Nghị định số 19/2009/NĐ-CPngày 19/02/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tạm giữ
người theo thủ tục hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 162/2004/NĐ-CP
ngày 07/9/2004 của Chính phủ
Trang 34 Thứ ba, áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác
được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính đã quá thời
hạn tự nguyện chấp hành hoặc quá thời hạn hoãn chấp hành các quyết định xử phạt
vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do viphạm hành chính gây ra mà không tự nguyện chấp hành Các biện pháp cưỡng chếthi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm: biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở,công trình, vật kiến trúc; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm
môi trường sống, lây lan dịch bệnh; khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần
thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng; kê biên phần tài sản có giá trị
tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;… Theo đó, việc áp dụng các biện phápcưỡng chế này phải tuân theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chínhnăm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008; Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày
18/3/2005 của Chính phủ Quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thihành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Chẳng hạn như theo quy định củaNghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005, khi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có
đưa ra đề nghị yêu cầu kê biên tài sản nào trước, thì người được giao chủ trì kê biên
phải chấp nhận nếu xét thấy đề nghị đó không ảnh hưởng đến việc cưỡng chế; hoặc
đối với những tài sản như: thuốc chữa bệnh, công cụ lao động, thì không được
quyền kê biên;…
Thứ tư, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo
dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh.
Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa
người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh phải tuân theo đúng
thẩm quyền, đúng đối tượng và đúng thời hạn Phải tuân theo Pháp lệnh Xử lý viphạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008; Nghị định số
76/2003/NĐ-CP ngày 27/06/2003 của Chính phủ Quy định và hướng dẫn cụ thể
việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Nghị định số 125/2008/NĐ-CPngày 11/12/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
76/2003/NĐ-CP ngày 27/06/2003 Về quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003của Chính phủ Quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trườnggiáo dục; Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ Quy địnhchế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở
Trang 35chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với
người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh Theo đó, việc đưangười vào trường giáo dưỡng và cơ sở chữa bệnh thuộc thẩm quyền của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp huyện; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền đưa
người vào cơ sở giáo dục Ngoài ra, nó còn phải được áp dụng đúng đối tượng
Cũng vậy, không được áp dụng các biện pháp đưa người vào trường giáo dưỡng,
đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh đối với một sốđối tượng như: không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo
dục đối với người nước ngoài; không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đốivới người chưa đủ 18 tuổi; người trên 55 tuổi đối với nữ, trên 60 tuổi đối với nam;không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy
chưa đủ 18 tuổi; người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên trong thời hạn hai năm
lại tái nghiện kể từ ngày đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh;
người bán dâm chưa đủ 16 tuổi hoặc trên 55 tuổi Đối với trường hợp vừa thuộc đốitượng đưa vào trường giáo dưỡng vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục thì áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
Thứ năm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép; hoặc không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối
tượng có đủ điều kiện Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là
quyền của cá nhân, tổ chức và được nhà nước bảo hộ Tuy nhiên muốn được thànhlập và hoạt động hợp pháp thì trước hết doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinhdoanh tại cơ quan có thẩm quyền là Phòng Đăng ký kinh doanh Việc cấp hoặckhông cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấyphép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ
điều kiện phải tuân theo Luật doanh nghiệp năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009;
Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ Về đăng ký doanhnghiệp; Thông tư số 14/2010/TT-BKH ngày 04/6/2010 của Bộ Kế hoạch và đầu tư
Hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theoquy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ Về đăng
ký doanh nghiệp; Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2008 của Chính phủ
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đầu tư
Theo đó, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, thì trong vòng 05 ngày làm việc cơ quan
có thẩm quyền phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp
Trang 36Trường hợp hồ sơ đăng ký kinh doanh chưa hợp lệ thì phải thông báo rõ nội dung
cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệptrong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ Nếu sau thời gian này
mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc thông báo yêu cầusửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký kinh doanh thì họ có quyền khiếu nại và có thể yêucầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Và cũng vậy, đối với trườnghợp khi có yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì trong thời hạn 15 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký đầu tư hợp lệ thì cơ quan có thẩm quyền phảicấp Giấy chứng nhận đầu tư mà không được yêu cầu bổ sung thêm giấy tờ nào khác.Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động, Phòng Đăng ký kinh doanh có quyền thuhồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu rơi vào những trường hợp quy địnhtại Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 như:nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo; kinh doanh nghànhnghề bị cấm; không hoạt động tại trụ sở đăng ký trong thời hạn sáu tháng liên tục,
kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;…Riêng đối với Giấychứng nhận đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền chỉ được phép thu hồi khi: hết thờihạn hoạt động được ghi trong Giấy chứng nhận đầu tiên; theo các điều kiện đượcchấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, điều lệ doanh nghiệp hoặc thỏathuận, cam kết của các nhà đầu tư về tiến độ thực hiện dự án; nhà đầu tư quyết địnhchấm dứt hoạt động của dự án; Chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan
nhà nước quản lý đầu tư hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài do vi
phạm pháp luật
Như vậy, nếu như không rơi vào những trường hợp nêu trên mà doanh nghiệp vẫn
bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư thì rõ ràngviệc thu hồi đó là trái pháp luật, và nếu nó gây ra thiệt hại cho doanh nghiệp thì họ
có quyền được bồi thường
Thứ sáu, áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất Thuế, phí và lệ phí đều là khoản thu để nộp vào ngân sách
nhà nước Trong đó thuế là khoản thu chủ yếu của ngân sách mang tính chất nghĩa
vụ bắt buộc mà mọi tổ chức, cá nhân phải đóng góp theo đúng quy định của phápluật; phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhânkhác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí; lệ phí là khoản tiền mà
tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyềnphục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong danh mục lệ phí Có thể
kể đến một số loại thuế, phí, lệ phí như: Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập
Trang 37doanh nghiệp, phí sử dụng nước, phí kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, lệ phíquốc tịch, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính,… Cán bộ, công chức phải tuân theo phápluật về thuế (Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luậtquản lý thuế, Pháp lệnh về phí, lệ phí… và các văn bản hướng dẫn thi hành) khi xác
định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế; xác định căn cứ tính thuế, phí, lệ phí;
miễn; giảm; hoàn; giãn nợ; xóa nợ thuế, phí, lệ phí Ngược lại nếu áp dụng trái phápluật, có lỗi và gây thiệt hại thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường
Thứ bảy, áp dụng thủ tục hải quan trái pháp luật Áp dụng thủ tục hải
quan trái pháp luật và gây ra thiệt hại trong các trường hợp: tiếp nhận và đăng ký hồ
sơ hải quan; kiểm tra hồ sơ; kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; thôngquan hàng hóa, phương tiện vận tải: trong thời kỳ hội nhập hiện nay thì hoạt động
xuất – nhập khẩu rất phát triển Do đó pháp luật về hải quan của Việt Nam có vai tròrất quan trọng trong việc tạo điều kiện góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội, hợp tác và giao lưu quốc tế với các nước Để đạt được điều này đòi hỏicác công chức hải quan khi tiến hành các thủ tục hải quan cần phải tuân theo các
quy định của Luật Hải quan năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2005; Nghị định154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của
Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; Thông tư số BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính Hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra,giám sát hải quan, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu Chẳng hạn như theo quy định của pháp luật về hải quan, côngchức hải quan khi tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan ngay sau khi ngườikhai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan đúng theo quy định của pháp luật, trong
194/TT-trường hợp không chấp nhận đăng ký hồ sơ hải quan thì phải thông báo lý do chongười khai hải quan biết Hay theo điểm c khoản 2 Điều 19 Luật Hải quan năm
2001 sửa đổi, bổ sung năm 2005 thì việc kiểm tra phương tiện vận tải xuất cảnh,nhập cảnh phải đảm bảo kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và việcxuất cảnh, nhập cảnh của hàng hóa…
Thứ tám, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích
sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Quan hệ bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư phát
sinh khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, an ninh,
quốc phòng, mục đích công cộng Việc bồi thường, hỗ trợ ở đây tuân theo cácnguyên tắc, căn cứ và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai Còn
Trang 38quan hệ bồi thường nhà nước trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặtbằng phát sinh do vi phạm từ phía cơ quan, công chức, viên chức nhà nước trongquá trình thực hiện các hành vi này gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân Có thể kể đếnmột số hành vi vi phạm như: không có phương án sử dụng đất sau khi thu hồi của
cơ quan có thẩm quyền để công bố công khai đối với người có đất bị thu hồi; không
thành lập hội đồng đền bù hỗ trợ trước khi thu hồi; không tổ chức đối thoại với
người được giao đất bị thu hồi; xác định không đúng chủ thể được bồi thường; áp
dụng đơn giá bồi thường không đúng thời điểm;…Tóm lại việc giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải
phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải tuân theo các quy định vềpháp luật đất đai, cụ thể là: Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CPngày 29/10/2004 của Chính phủ Về thi hành luật đất đai; Nghị định số 88/2009/NĐ-
CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ Về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Nghị định 84/2007/NĐ-CPngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đấtđai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môitrường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu
hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Thứ chín, ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Doanh nghiệp
được tự do cạnh tranh nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật Do đó trong quá
trình kinh doanh nếu doanh nghiệp có hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tức làhành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc
có khả năng gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củadoanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
Theo đó, việc ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh phảituân theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, Nghị định 116/2005/NĐ-CP
ngày 15/9/2005 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh
tranh Theo Điều 136 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 thì Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh chỉ được ra quyết định xử lý hành vi cạnh tranh không lànhmạnh sau khi đã tiến hành điều tra và phải dựa trên nội dung điều tra chính thức quy
Trang 39định tại khoản 2 Điều 89, báo cáo điều tra quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Cạnh
tranh 2004, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 3 Điều 85 và
các quy định khác có liên quan của Nghị định này và Pháp lệnh về xử lý vi phạm
hành chính
Thứ mười, cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp
văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu
lực của văn bằng bảo hộ; hoặc không cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ
điều kiện Việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ có vai trò rất quan trọng Nó không
những giúp bảo vệ các quyền nhân thân và tài sản của tác giả mà còn tạo điều kiện
để cho công chúng tiếp cận với các sản phẩm trí tuệ Đồng thời nhằm khuyến khích
việc sáng tạo, phổ biến, áp dụng các kết quả trí tuệ vào cuộc sống Theo đó, phápluật sở hữu trí tuệ chỉ cấp văn bằng bảo hộ hay ra quyết định chấm dứt hiệu lực của
văn bằng bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ khi chúng thỏa mãn những điều kiện đượcquy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Nghị định số103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số
122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2006 Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghịđịnh số 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/9/2006 Quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả;
Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 của Bộ Khoa học và công nghệhướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2006Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở
hữu công nghiệp Chẳng hạn như đối với nhãn hiệu để được cấp văn bằng bảo hộ thìphải thỏa mãn điều kiện là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình
vẽ, hình ảnh kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằngmột hoặc nhiều màu sắc; đồng thời, phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụcủa chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác; hay đối với tên
thương mại, để được bảo hộ thì tên thương mại đó phải có khả năng phân biệt chủ
thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùnglĩnh vực và khu vực kinh doanh Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước về quyền
sở hữu công nghiệp chỉ được ra quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ khichủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sỏ hữu công nghiệp Hoặc trên cơ sở kết
Trang 40quả xem xét đơn yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ và ý kiến của các bênliên quan, cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định chấm dứt hiệu lực văn bằngbảo hộ trong các trường hợp như: Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủGiấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có
người kế thừa hợp pháp; nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở
hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấmdứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt
đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu
lực; chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểmsoát hoặc kiểm soát không hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tậpthể; chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạmquy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không hiệuquả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận; các điều kiện địa lý tạonên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổilàm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó
Thứ mười một, các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy
định Các trường hợp được bồi thường khác tức là những trường hợp không lọt vào
những nhóm hành vi đã nêu trên Về nguyên tắc, chỉ cần nó là hành vi trái pháp luậtcủa cán bộ, công chức trong quá trình quản lý hành chính, có lỗi, gây ra thiệt hại
cho người dân thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường
2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi công
vụ trái pháp luật
Phạm trù nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong triết học, nhân quả
là mối quan hệ nội tại, khách quan và tất yếu giữa các hiện tượng tự nhiên cũng như
xã hội, trong đó một là nguyên nhân sau đó là kết quả3 Như vậy, giữa hành vi tráipháp luật của cán bộ, công chức trong quá trình quản lý hành chính và hậu quả xảy
ra phải có mối quan hệ nhân quả Tức là, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu củaquyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật; và ngược lại quyết địnhhành chính, hành vi hành chính trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Tráchnhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không phát sinh nếu thiệt hại xảy ra không phải là kếtquả tất yếu của nguyên nhân là quyết định hành chính, hành vi hành chính trái phápluật Nghĩa là nguyên nhân bao giờ cũng xảy ra trước kết quả trong khoảng thời
gian xác định và phải là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa
quyết định với thiệt hại xảy ra Quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp
3
Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam – Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công An Nhân dân, 2004, tr448.