1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP vấn đề PHÂN CHIA tài sản CHUNG của vợ CHỒNG TRONG THỜI kỳ hôn NHÂN

87 370 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Hôn Nhân và Gia Đình 1986 được xây dựng và ban hành, đã có bước phát triển mạnh mẽ đó là sự ghi nhận về quyền có tài sản riêng của vợ chồng quy định tại Điều 16: “Đối với tài sản mà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

MSSV: 5062243 LỚP : TƯ PHÁP 1- K32

CẦN THƠ, 27-04-2010

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

-oOo -

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

-oOo -

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 4

1.1 Lý luận chung về quan hệ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 4 1.1.1 Cổ luật Phong kiến 4

1.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc 5

1.1.3 Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay 6

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 22

2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 22

2.1.1 Mục đích quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nh 22 2.1.2.Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 22

2.1.3 Người có quyền và lợi ích liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân 31

2.2 Nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn 37

2.2.1.Cơ chế thanh toán đặc biệt 37

2.2.2 Phân chia tài sản chung không phải thay đổi chế độ tài sản 38

2.2.3 Tiến hành phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 39

2.3 Thể thức phân chia tài sản chung của vợ và chồng trong thời kì hôn nhân 42

2.3.1 Phân chia theo thỏa thuận 42

2.3.2 Phân chia bằng con đường tư pháp 43

2.3.3 Nội dung việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 46

2.4 Các trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu 47

2.5 Hiệu lực việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 49

2.6 Hậu quả việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 51

2.6.1 Hậu quả pháp lý về nhân thân 52

2.6.2 Hậu quả pháp lý về quan hệ về tài sản 52

CHƯƠNG 3 THỰC TIỂN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 55

3.1 Nhận xét chung 55

Trang 5

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy phạm pháp luật: 58

3.2.1 Câu chữ của Luật viết chưa rõ ràng: 59

3.2.2 Về mặc tuyên truyền pháp luật: 60

3.2.3 Tình trạng mất cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ .62

3.2.4 Về mặt áp dụng pháp luật: 62

3.2.5 Các vấn đề bất cập trong điều luật: 65

KẾT LUẬN 72

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

- HĐTPTANDTC : Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

- XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia đình Do vậy gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội

Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình

Nhận định được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn trú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Biểu hiện ở việc, Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia đình

Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Không phải là quy định mới trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng trên cơ sở sự kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (Điều 18), quy định này

đã dần có những bước thay đổi tích cực cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Kể từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp phần xây dựng củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì việc áp dụng các quy định trên vào thực tiễn không tránh khỏi những vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các

tranh chấp liên quan đến tài sản ở các cấp Tòa án Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề “Vấn

đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” có ý nghĩa lý luận và

thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống

Trang 8

Là sinh viên sau 4 năm được học tập tại trường, với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung của vợ chồng;

người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong

thời kỳ hôn nhân” theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam làm đề tài khóa luận tốt

nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực Hôn nhân và gia đình

(HN&GĐ) đã có nhiều bài viết về tài sản chung của vợ chồng trên Tạp chí Luật học, tạp chí Pháp luật, tạp chí Tòa án nhân dân…đề cập đến những khía cạnh khác nhau của tài

sản vợ chồng như “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình 2000” (Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí Luật học số 4/2000 Tr 3); “Hậu quả pháp lý của việc chia tài

sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” (Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học số

6/2002)…Ngoài ra, cũng đã có những khóa luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về vấn đề tài sản vợ chồng như luận văn tốt nghiệp cao học luật khóa

I của Thạc sĩ Hoàng Ngọc Huyên với nội dung “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn

nhân và gia đình” và gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công

luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005 Đây thực sự là những công trình có giá trị về khoa học

và thực tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu tập trung đi vào phân tích những khía cạnh chế độ tài sản của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình hiện hành chứ chưa nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Chính vì vậy

vấn đề “Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo pháp luật

Hôn nhân và gia đình hiện hành mặc dù đã được nghiên cứu và trình bày trong giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đại học Cần thơ và trong các giáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta, nhưng việc trình bày đó chỉ dừng lại ở một số vấn đề mang tính nguyên tắc mà chưa đi sâu vào giải quyết toàn diện vấn đề liên quan, đặc biệt là dưới khía cạnh tài sản

chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ “Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và đưa ra

những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo cho vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đó được triệt để, tuân thủ theo pháp luật và vận hành trơn tru trong thực tế

Trang 9

Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về tài sản chung, chia tài sản chung và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành Đồng thời qua thực tiễn áp dụng Luật, phát hiện những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khóa luận nhất quán dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh Để đạt được mục đích nghiên cứu người viết có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh…

5 Kết cấu khóa luận

Kết cấu của khóa luận bao gồm:

Chương 1: Lý luận chung về quan hệ tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân Chương 2: Những quy định của pháp luật về vấn đề phân chia tài sản của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng và phương hướng hoàn thiện

Hoàn thành việc nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân, người viết đã được sự hướng dẫn tận tình của Giáo viên hướng dẫn Nhân đây người viết xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Mỹ Linh đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

1.1 Lý luận chung về quan hệ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Luật Việt Nam không thừa nhận sự tồn tại của nhiều nhóm quan hệ tài sản giữa vợ

và chồng, nhưng trong hoàn cảnh đặc thù Vợ và chồng được pháp luật củng cố lại khối tài sản riêng của mình để có được điều kiện vật chất cần thiết cho những dự tính riêng của mỗi người Mặc khác, vợ và chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bằng cách chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung khối tài sản riêng của vợ (chồng) hoặc khối tài sản chung được củng cố nhưng các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng vẫn tiếp tục chịu

sự chi phối của luật chung

Đã là vợ chồng thì phải có bổn phận với nhau, trong đó có những bổn phận ảnh hưởng nhất định đối với quyền hạn của vợ, chồng trong việc xác lập các giao dịch có liên quan đến tài sản, thậm chí có các bộ phận có tác dụng đặt cơ sở cho việc xác định tính chất chung hay riêng của một tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra Suy cho cùng, tất cả tài sản của vợ chồng dù là của riêng của mỗi người hay của chung đều phải được khai thác sử dụng trước hết nhằm bảo đảm duy trì và phát triển của gia đình Sau đó mới phục vụ cá nhân chủ sở hữu Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập thực hiện các giao dịch trên các tài sản chung và trong một số trường hợp nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ hoặc chồng một cách liên đới Nghĩa là khiến cho vợ hoặc chồng dù không trực tiếp thực hiện giao dịch phải có trách nhiệm cùng với vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêng Tuy nhiên, qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau luật Hôn nhân và gia đình quy định việc phân chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có sự khác biệt

1.1.1 Cổ luật Phong kiến

Ở thời kỳ này quan hệ gia đình mang nặng tính chất gia trưởng, quyền uy, phục tùng trong đó người vợ phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng Chế độ sở hữu chung của vợ chồng cũng được xác lập nhưng vẫn còn hạn chế

Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc Triều Hình Luật (QTHL) dưới triều

Lê và bộ Hoàng Việt Luật Lệ dưới thời nhà Nguyễn Cả hai bộ luật này đều ghi nhận sự tồn tại chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ chồng, đấy chính là “tần tảo điền sản”

Trang 11

Về vấn đề chia tài sản chung cổ luật phong kiến Việt Nam quy định hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng: khi một bên chết trước và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

QTHL quy định khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản đều được chia đôi mỗi người một phần Đây là một quy định tiến bộ thể hiện sự bình đẳng của người vợ đối với người chồng trong quan hệ tài sản Tuy nhiên, do hạn chế của xã hội bấy giờ nên quyền lợi của người vợ cũng chưa thực sự được đảm bảo, thể hiện ở chỗ: “nếu người vợ còn sống mà cải giá thì phải trả lại điền sản đã được chia”

Trường hợp vợ chồng ly hôn, việc phân chia tài sản chung được quy định trong QTHL như sau: Nếu ly hôn mà có con thì tài sản chung không được chia; nếu vợ chồng không có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho hai người Trường hợp người vợ “phạm gian” mà ly hôn thì không những không được chia tài sản chung, mà còn không lấy lại được tài sản riêng

Như vậy, luật Phong kiến do vẫn còn mang nặng tư tưởng lễ giáo, gia trưởng, đề cao coi trọng vị trí, vai trò của người chồng trong gia đình, người đàn ông trong xã hội, nên quyền lợi của người phụ nữ vẫn chưa được bình đẳng và chưa được bảo đảm

1.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc

Sau khi hoàn tất tiến trình xâm lược, để đảm bảo và duy trì nền móng cai trị thực dân ở nước ta, thực dân Pháp đã chia nước ta ra làm 3 miền với ba chế độ để dễ bề cai trị

ở mỗi miền áp dụng các Bộ luật Dân sự riêng, trong đó quy định điều chỉnh các quan hệ

về Hôn nhân và gia đình

- Tại Bắc kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1931

- Tại Trung kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1936

- Tại Nam kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật Giản yếu năm 1883

Pháp luật thời kỳ này vẫn duy trì hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng như cổ luật là chia khi một bên chết trước và chia tài sản chung khi ly hôn

Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Bộ Dân Luật Bắc Kỳ quy định, nếu vợ chồng có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng sẽ không được chia theo nguyên tắc chia đôi mà người vợ chỉ được chia một phần trong tài sản chung tuỳ theo kỷ phần mà người vợ đã đóng góp Nếu “phạm gian” mà ly hôn thì phần mà người

vợ được chia sẽ bị bớt đi một nửa Nếu người vợ ly hôn mà không có con thì sẽ được lấy lại kỷ phần của mình và một nửa tài sản chung

Trang 12

Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước, Bộ Dân Luật Bắc Kỳ quy định không chia mà giữ nguyên, chỉ đặt ra vấn đề chia khi người vợ còn sống

mà cải giá

Trong bộ dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng tạo sản, toàn

bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của người chồng Do đó, không đặt ra vấn đề chia tài sản

Như vậy, chế độ hôn nhân của nước ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công cụ pháp lý của giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình Thời kỳ này quyền lợi của

1.1.3 Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay

Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời

Dù còn bận chống thù trong giặc ngoài, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn trú trọng tới việc soạn thảo xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệ thành quả của Cách mạng

Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân gia đình là: Sắc lệnh số 97-SL và sắc lệnh số 159-SL Sắc lệnh vẫn duy trì các trường hợp chia tài sản chung của luật cũ Tuy nhiên, việc quy định về vấn đề chia tài sản còn rất chung chung, Sắc lệnh chưa quy định rõ về cách thức chia, nguyên tắc chia cũng như hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung

Ở thời kỳ này Nhà nước ta chưa ban hành bộ luật Dân sự mới, thay vào đó là việc duy trì áp dụng Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ trên cơ sở có chọn lọc các yếu tố tiến bộ, xóa bỏ các quy định thủ tục, lạc hậu Mà theo các Bộ dân luật này quy định, chế độ tài sản chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản Do đó việc Sắc luật chỉ quy định các trường hợp chia mà chưa dự liệu nguyên tắc chia thì vẫn áp dụng nguyên tắc chia đôi

Năm 1959, lần đầu tiên Luật Hôn nhân và gia đình được ra đời, hay còn gọi là Đạo luật số 13 Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, tức mọi tài sản mà vợ chồng có trước và sau khi kết hôn đều là tài sản chung của vợ chồng, luật không thừa nhận tài sản riêng Luật quy định hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là: chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước và chia khi ly hôn Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước (Điều 16) thì sẽ chia như khi ly hôn Còn khi ly hôn việc chia tài sản sẽ căn cứ vào

1

Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỷ XV- Thế kỷ XVII

Trang 13

sự đóng góp về công sức của mỗi bên, tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình… Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã khắc phục được những hạn chế của hai Sắc lệnh khi quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Đồng thời khẳng định được bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp lý của Nhà nước, phục vụ nhân dân lao động, là nền móng để từng bước xây dựng ngành luật Hôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật Xã Hội Chủ Nghĩa của Nhà nước ta

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được Nhà nước ban hành vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng so với Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1986 có điểm tiến bộ hơn, đó là quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong ba trường hợp: Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trước và chia trong thời kỳ hôn nhân.Về nguyên tắc chia tài sản khi một bên chết trước và chia trong thời kỳ hôn nhân sẽ chia như khi ly hôn, đồng thời áp dụng cả pháp luật về thừa kế theo thông tư

số 81/1988 Còn khi ly hôn sẽ theo nguyên tắc chia đôi

Luật Hôn Nhân và Gia Đình 1986 được xây dựng và ban hành, đã có bước phát triển mạnh mẽ đó là sự ghi nhận về quyền có tài sản riêng của vợ chồng quy định tại

Điều 16: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế

riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” Trong khung khổ hồi phục của

sở hữu tư nhân Tính chất “tốt” của một số tài sản ở góc nhìn của quan hệ nội bộ giữa vợ

và chồng bắt đầu được lưu ý Trong các nổ lực nhằm thiết lập sự dung hòa giữa các nguyên tắc tôn trọng tự do cá nhân và nguyên tắc bảo vệ lợi ích của gia đình Luật 1986 thừa nhận việc kết hôn không làm mất khả năng có quyền có tài sản riêng của mỗi người Vậy là bắt đầu hình thành ba khối tài sản trong thời kỳ hôn nhân: khối tài sản chung của

vợ và chồng, khối tài sản riêng của chồng và khối tài sản riêng của vợ Luật 1986 thừa nhận vợ và chồng nhập một hay nhiều tài sản riêng vào khối tài sản chung cũng như

quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu có lý do chính đáng

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được luật dự kiến lần đầu tiên trong luật Việt Nam tại luật Hôn Nhân và gia Đình 1986, có thể xem luật này là “chiếc nôi” nuôi dưỡng chế định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân Bởi vậy, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển về quan hệ tài sản vợ, chồng vấn đề này được luật thừa nhận Sự ra đời của chế định này góp phần tháo gở những khó khăn phát sinh từ quan hệ tài sản của vợ và chồng vốn đã rất phức tạp, đồng thời thể hiện sự nhảy vọt về mặt tư duy lập pháp và sự quan tâm đúng mực của người làm luật đến quan hệ nội bộ

Trang 14

giữa vợ, chồng đều được tôn trọng tự do cá nhân, vợ và chồng bình đẳng, hạnh phúc và lợi ích gia đình được đảm bảo.2

Tuy nhiên, việc nhập khối tài sản riêng vào khối tài sản chung và việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có các quan hệ không giống nhau dưới mắt người thứ ba đặc biệt là các chủ nợ Thật vậy, ta sẽ thấy rằng các chủ nợ chung của vợ, chồng đều có quyền đảm bảo thanh toán không chỉ bằng tài sản riêng của người mắc nợ Nếu việc chia tài sản chung không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích đa số chủ nợ, thì việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung lại làm phát sinh hậu quả bất lợi cho đa số chủ nợ riêng

Kế thừa các tư tưỡng của các nhà làm luật năm 1986 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2000 tiếp tục thừa nhận sự phân chia tài sản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân, luật này nay đang có hiệu lực thi hành, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng thừa nhận sự tồn tại của ban khối tài sản của vợ chồng, thừa nhận việc nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung và quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Việc kế thừa các vấn đề này đã đưa chế định chia tài sản chung của vợ và chồng lên một bước phát triển mới, bước phát triển tới hoàn thiện, xóa bỏ những nhận thức không rõ ràng về vấn đề chia tài sản riêng, tài sản chung trong suốt thời kỳ hôn nhân tồn tại một khoảng thời gian khá dài ở các giai đoạn lịch sử trước Các nguyên tắc liên quan được xây dựng chi tiết hơn trước

Trong chừng mực nào đó có thể nói rằng luật về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng trong luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000 là sự kế thừa có phát triển chế độ tài sản gia đình của các Luật trước trong điều kiện sở hữu tư nhân mang tính chất cá nhân và trong điều kiện vợ và chồng bình đẳng về mọi mặt

Ta thấy Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thành ba trường hợp: đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng và có lý do chính đáng khác

Như vậy trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thực tế lúc bấy giờ

mà việc quy định về chia tài sản chung của vợ chồng có khác nhau Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đang ngày một củng cố và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình ngày một tốt hơn Đồng thời thúc đẩy xã hội ngày một tiến lên, xây

Trang 15

1.2 Các nguồn của luật về chế độ tài sản giữa vợ, chồng trong thời thời kỳ hôn nhân

và mối quan hệ tương quan của đối với các nguồn đó

Luật về chế độ tài sản được hình thành từ các nguồn luật khác nhau:

Thứ nhất, là các văn bản Hiến Pháp đặc biệt là Hiến Pháp năm 1992 Hiến Pháp

năm 1992 là đạo Luật cơ bản của Nhà nước, những nguyên tác của Hiến pháp được xây

dựng trên cơ sở chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Hiến pháp ghi nhận những thành tựu sự nghiệp cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Giữa chế độ xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp với chế độ gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình có mối quan hệ mật thiết và thống nhất Bất cứ quy định nào của luật Hôn Nhân và Gia Đình nói chung và các quy định về tài sản chung của

vợ, chồng nói riêng đều dựa vào cơ sở các quy định của Hiến pháp

Thứ hai, là các văn bản Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm1986 mà cụ thể là

Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000 Đây là nguồn Luật trực tiếp quy định một cách chi tiết về chế độ tài sản giữa vợ và chồng

Thứ ba, là các văn bản Luật Dân Sự năm 1995, 2005 Giữa Luật Hôn nhân và gia

đình và Bộ luật Dân Sự 2005 có nhiều mối quan hệ tương quan, quan hệ mật thiết với

nhau Đều khẳng định sự bình dẳng của vợ và chồng Cùng quy định “Vợ và chồng đều

có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung” cùng thống nhất rằng tài sản

chung của vợ và chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, hay nghĩa vụ của các khối tài sản giữa vợ, chồng đối với người thứ ba mà cả hai có nghĩa vụ thực hiện Vì vậy, trong chừng mực nhất định có thể nói rằng luật về quan hệ tài sản là sự pha trộn giữa luật Hôn nhân và Luật Dân sự Dựa vào luật Dân sự, Luật về quan hệ tài sản của vợ, chồng xác định các quy tắc liên quan đến thành phần cấu tạo của khối tài sản, đến quyền của vợ, chồng đến khối tài sản đó, cũng như đến với các nghĩa vụ của vợ, chồng đối với người thứ ba và đối với nhau Dựa vào luật Hôn Nhân và Gia Đình, luật về quan hệ tài sản xây dựng các nguyên tắc mang tính đặc thù liên quan đến nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản cũng như việc xác lập quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định áp dụng trong điều kiện người có nghĩa vụ, người có tài sản là vợ, chồng Ngoài ra, còn có nhiều văn bản Pháp Luật liên quan khác quy định về việc phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

1.3 Khái niệm về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 1.3.1 Khái niện về tài sản

Có nhiều cách để đưa ra khái niệm về tài sản, nhưng nhìn tổng quan có thể hiểu tài sản theo hai cách:

Trang 16

Cách thứ nhất, Nếu hiểu theo cách thông dụng thì tài sản là của cải được con người

sử dụng, một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết được bằng giác quan hay tiếp xúc Như vậy, ở chừng mực nào đó ta có thể nói tất cả tài sản đều là vật hữu hình và được hữu hình hóa

Cách thứ hai, Theo từ điển pháp luật thì “Tài sản là tất cả những gì có thể định giá

bằng tiền, lưu thông được và thuộc sở hửu của một người nào đó”, với khía cạnh này thì

tài sản được hiểu một cách rộng hơn bao gồm các tài sản hửu hình và vô hình

Tuy nhiên, khái niệm về tài sản chỉ được hiểu rõ khi Bộ luật dân sự ra đời tại Điều

163 tài sản bao gồm: “vật tiền, giấy tờ có giá trị và các quyền tài sản” Theo quy định

của luật Dân sự 2005 thì vật ở đây có thể là vật có thật, hữu hình như: nhà ở, đất đai, các công trình xây dựng… nhưng cũng có thể vật hình thành trong tương lai như: trái cây sẽ được thu hoạch trong vài tháng tới, một công trình sẽ được hình thành trong tương lai, những con gia súc con sắp được mẹ sinh ra…

Tài sản được phân loại như sau:

-Bất động sản là các tài sản bao gồm:

a) Ðất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định

- Ðộng sản là những tài sản không phải là bất động sản

- Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại

- Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản

-Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng

-Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính

Ngoài ra, còn có vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ….4

1.3.2 Tài sản chung của vợ chồng

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Vậy Nhà nước sẽ làm

gì để “bảo hộ Hôn nhân và gia đình”? Có rất nhiều biện pháp mà một biện pháp không thể thiếu được là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Trong gia đình Xã Hội Chủ Nghĩa, vợ chồng cùng nhau chăm lo gánh

4

Trang 17

vác công việc gia đình, do đó tài sản của vợ chồng không chỉ để phục vụ cho bản thân mà còn cho cả các thành viên khác trong gia đình

Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở xem xét mối liên hệ của tài sản và cuộc sống vợ chồng từ thực tiễn đã quy định vợ chồng có tài sản chung

* Căn cứ xác định tài sản chung

Tài sản chung của vợ chồng là toàn bộ những quy định của pháp luật về việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và quyền nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản ấy Trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nam nữ kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu chân chính, bình đẳng và tự nguyện Khi trở thành vợ chồng tính chất cộng đồng tài sản giữa họ được xác lập

Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000:

“ 1 Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời

kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất

2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của

để xác định tài sản riêng của vợ chồng thì coi là tài sản chung Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000, nó xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, thông qua công tác xét xử

và nhằm hướng tới việc đảm bảo cao nhất quyền và lợi ích của các bên

Căn cứ pháp lý để xác định khối tài sản chung của vợ chồng là sự ra đời và tồn tại

của quan hệ vợ chồng Luật quy định, những tài sản được vợ chồng tạo ra “trong thời kỳ

hôn nhân” mới được coi là tài sản chung của vợ chồng

“Thời kỳ hôn nhân” là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại Thời kỳ hôn nhân bắt đầu

từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên chết hoặc ly hôn Tuy nhiên, trong thực tế có

Trang 18

nhiều trường hợp vợ chồng lấy nhau không có đăng ký kết hôn, khi phát sinh mâu thuẫn thì đưa nhau ra toà xin ly hôn và phân chia tài sản Để giải quyết tình trạng hôn nhân thực

tế còn tồn đọng từ trước, khi xem xét hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng theo hôn nhân thực tế sẽ theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội

Như vậy, căn cứ để xác lập tài sản chung của vợ chồng, trước hết phải dựa trên cơ

sở “thời kỳ hôn nhân” của vợ chồng Toàn bộ tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ

hôn nhân này được coi thuộc khối tài sản chung của vợ chồng

- Tài sản do vợ và chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

Đây là tài sản chủ yếu quan trọng đối với khối tài sản được coi là tài sản chung của

vợ chồng, bởi bản chất của cuộc sống chung giữa vợ chồng là cùng nhau chung vai gánh vác mọi công việc gia đình, tạo ra tài sản để đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần, vật chất của gia đình mình

Do tính chất của cuộc sống chung vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải là tài sản do cả hai vợ chồng cùng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ cần vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cũng sẽ là tài sản chung của vợ chồng

Tài sản do vợ, chồng tạo ta có thể là tài sản tự tay vợ hoặc chồng tạo ra phục vụ cho nhu cầu của gia đình, thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể như nhà cửa, xe cộ, vật dụng trong gia đình…Hiểu theo nghĩa rộng tài sản do vợ chồng tạo ra không chỉ là những tài sản do chính tay vợ hoặc chồng tạo ra, mà còn là những tài sản mà vợ hoặc chồng bỏ tiền vàng, công sức để tạo ra Vì lẽ đó, chúng ta phải hiểu tài sản do vợ, chồng tạo ra theo cả hai nghĩa như thế mới thấu suốt được tinh thần điều luật

Trong cuộc sống vợ, chồng có thể tham gia lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là những lao động hợp pháp Thu nhập từ lao động là thu nhập cơ bản, chính đáng chủ yếu của người lao động Trong xã hội ta, lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân Quyền tự do sản xuất kinh doanh của cá nhân được Nhà nước ghi nhận là một quyền hiến định, Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển của gia đình, mặt khác góp phần thúc đẩy sự phát triển cũng như làm giàu cho xã hội

Việc các bên thu nhập nhiều hay ít, cao hay thấp không phải là căn cứ để luật phân định công sức đóng góp của các bên vợ chồng Như vậy, dù vợ chồng ở nhiều ngành nghề

5

Trang 19

khác nhau, mức thu nhập khác nhau, song mọi thu nhập từ lao động nghề nghiệp, sản xuất

- Các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Theo hướng

dẫn tại điểm a, mục 3 Nghị quyết số 02/2000/HĐTP thì “những thu nhập hợp pháp khác”

của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn có thể là tiền lương, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số… mà vợ chồng có được hoặc tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS năm 2005 tại các Điều 240 (xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, chìm đắm được tìm thấy), Điều 239 (xác lập quyền sở hữu đối với vật

vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu), Điều 243 (xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc), Điều 244 (xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước), Điều 242 ( xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc)

Như vậy, chỉ những tài sản có nguồn gốc hợp pháp do vợ chồng cùng tạo ra hoặc được xác lập quyền sở hữu trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung của vợ chồng

- Tài sản chung của vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung là tài sản chung của vợ chồng Đây là loại tài sản chung của vợ chồng có nguồn gốc đặc biệt là

“tặng cho” Tài sản này thường không nhiều bởi vì khi xây dựng gia đình vợ chồng bao giờ cũng mong muốn cùng nhau tạo lập tài sản để phát triển kinh tế gia đình Tuy vậy, nó lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện sự đùm bọc, che chở yêu thương giữa những người thân và bạn bè Ngoài ra vợ chồng còn được nhận di sản thừa kế, trừ thừa kế theo

di chúc, vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong việc hưởng phần di sản bằng nhau khi thừa kế theo pháp luật

Tài sản chung của vợ chồng còn được tạo lập bởi sự thoả thuận của vợ chồng, bao gồm tài sản mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung và tài sản do vợ chồng nhập từ tài sản riêng vào thành tài sản chung Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của một bên thì vô hiệu Đây là quy định rất mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba tham gia vào quan

hệ tài sản đối với vợ hoặc chồng

Đối với tài sản không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang tranh chấp

là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó cũng là tài sản chung Ở đây nhà làm luật đã áp dụng nguyên tắc suy đoán để giải quyết tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng Đây chính là điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2000

Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ- CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và

6

Trang 20

chồng như: nhà ở, quyền sử dụng đất….Với quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa

vợ chồng trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Như vậy, Lụât HN&GĐ năm 2000 đã quy định các căn cứ xác lập tài sản chung của

vợ chồng, dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc các loại tài sản, đảm bảo cho quyền lợi của vợ chồng đối với tài sản chung Đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các Toà án nhanh chóng giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng

* Nội dung quyền sở hữu tài sản

Theo quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000:“Vợ, chồng đều có quyền

ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Tài sản chung của

vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”

Như vậy, về mặt nguyên tắc vợ, chồng có quyền nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định:

“Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29” Cụ thể hoá quy định trên Luật

HN&GĐ đã có hướng dẫn chi tiết tại Điều 4 Nghị đinh số 70/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ

Như vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986 thì Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định khá cụ thể và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung

Bên cạnh việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm

2000 còn quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Quy định này góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở để xây dựng những gia đình hoà thuận, hạnh phúc

1.3.3 Vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Mục đích của kết hôn là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, cùng nhau chung sống suốt đời nhưng cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng “êm đềm” Trong quan

hệ vợ chồng, yếu tố tình cảm thường được đưa lên vị trí hàng đầu, không có sự phân biệt rạch ròi nguồn gốc tài sản và tài sản của ai, nhưng cuộc sống gia đình không tránh khỏi việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung Chỉ đến khi mâu thuẫn trong gia đình phát sinh, lúc đó các tranh chấp về tài

Trang 21

sản mới đựơc đặt ra, tuỳ theo mức độ khác nhau mà họ có thể yêu cầu ly hôn hay xin chia

tài sản chung mà không yêu cầu ly hôn

Chính vì vậy, việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trở thành một nhu cầu tất yếu đáp ứng được nhu cầu thực tế đặt ra Một mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội Mặt khác, giúp cho các Toà án giải quyết nhanh chóng các vụ việc

Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 đã tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng Trong nhiều năm qua chế định này đã từng bước đi vào cuộc sống phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp phần xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam

Vậy chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là “Chia tài sản chung

của vợ chồng là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên những điều kiện nhất định, nhằm bảo đảm cho các bên

tự chủ trong việc sử dụng, định đoạt, tài sản của mình trong khối tài sản chung”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 do nhiều điều kiện và nguyên nhân khác nhau

đã không đặt vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà tất cả tài sản của hai người điều thuộc sở hữu chung của hai người, không phân biệt tài sản chung hay tài sản riêng Bởi vậy, thời kỳ này lợi ích cá nhân luôn gắn liền với lợi ích tập thể, không tồn tại nhiều hình thức sở hữu và đa dạng thành phần kinh tế như hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời trên cơ sở kế thừa và phát huy Hiến pháp 1980 đã công nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng nhưng chưa ghi nhận việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, đến Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2000 ra đời vấn đề này được quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ

chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận phân chia tài sản Việc phân chia tài sản chung phải được lập thành văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì không được pháp luật công nhận” Sở dĩ luật cho phép chia

tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là do yêu cầu thực tiễn đời sống kinh

tế xã hội, xuất phát từ nhiều lý do, sau đây là những lý do cơ bản về việc chia tài sản

chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:

Thứ nhất, trong cuộc sống gia đình nhiều khi không thể tránh khỏi những căng

thẳng, bất hòa dẫn đến tình trạng không thể sống chung với nhau được, nhưng do nhiều lý

Trang 22

do, trong đó chủ yếu là con cái nên họ không muốn ly hôn Việc cho phép chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là biện pháp dung hòa tối thiểu những xung đột, mâu thuẫn của vợ chồng trước hết là trong quan hệ tài sản, sau đó là những quan hệ nhân thân khác, đồng thời giữ được hòa khí cũng như tạo sự ổn định nhất định giữa các thành viên trong gia đình

Thứ hai, là cơ sở kế thừa những quy định tiến bộ của Luật Hôn nhân gia đình năm

1986 cũng như xuất phát từ yêu cầu khách quan làm thay đổi để hợp với Hiến pháp năm

1992 về việc mở rộng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 còn nhằm đảm bảo quyền tự chủ của vợ chồng khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, xã hội nhất định Với tư cách là công dân, vợ hoặc chồng đều

có quyền thực hiện các quyền năng hợp pháp của mình như quyền tự do kinh doanh, quyền tham gia các giao dịch dân sự Để tránh những hậu quả không tốt có thể xảy ra ảnh hưởng đến kinh tế chung của gia đình, cũng như tạo điều kiện cho vợ chồng được tự do thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình thì pháp luật quy định vợ chồng có quyền phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Thứ ba, quy định này đảm bảo quyền lợi của người thứ ba khi tham gia vào các

giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng Hiện nay việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ, chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự Hoạt động này mang lợi ích cho vợ chồng cũng như phát sinh các nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba cùng tham gia giao dịch Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người thứ ba cần biết quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản để xác định phạm vi giao dịch, mức độ tài sản của vợ chồng trong việc thực hiện nghĩa vụ Quy định này tạo ra sự công bằng, hợp lý, đảm bảo sự an toàn về tài sản không những cho người thứ ba mà còn cho cả gia đình

Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải lập thành văn bản, có đủ chữ ký của cả hai vợ chồng phải có ngày, tháng, năm lập văn bản Văn bản

có thể được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của bên vợ, bên chồng hoặc theo quy định của pháp luật Theo Điều 6, Nghị định 70/2001/NĐ-CP văn bản thỏa thuận phải có các nội dung:

a/ Lý do chia tài sản;

b/ Phần chia tài sản (bao gồm động sản, bất động sản, các quyền tài sản); trong đó cần mô tả rõ tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;

c/ Phần tài sản còn lại không được chia, nếu có;

d/ Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;

Trang 23

đ/ Các nội dung khác nếu có

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định rõ phần tài sản của mỗi bên sao khi chia, là chứng cứ quan trọng để giải quyết nếu hai bên xảy ra tranh chấp, bên cạnh việc quy định về chế độ phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, do thực

tế cuộc sống có những người chia tài sản chung để thực hiện việc đầu tư kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng và có lý do chính đáng khác

Sau khi chia tài sản chung thì quan hệ tài sản giữa vợ chồng có sự thay đổi Chế độ cộng đồng tài sản chấm dứt thay vào đó là hai chủ sở hữu riêng biệt được tách rời ra từ khối tài sản chung Tuy nhiên, vấn đề này không hoàn toàn tuyệt đối và vẫn còn tồn tại

“thời kỳ hôn nhân” và việc phân chia tài sản cũng không được triệt để như khi ly hôn Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 29 và Điều 30 thì phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể chia một phần hoặc toàn

bộ tài sản chung tùy thuộc vào thỏa thuận của vợ chồng Nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Quy định này phù hợp với thực tế của cuộc sống, đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ tài sản của vợ chồng, đồng thời đảm bảo lợi ích chung của cả gia đình Trên thực tế, yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng chỉ được đặt ra trong hoàn cảnh đặc biệt như thực hiện nghĩa vụ tài sản quá lớn nếu một phần tài sản chung thì không đủ hoặc có bên yêu cầu chia khi bên kia có hành vi phá tán tài sản như: nghiện hút, rượu chè, cờ bạc…

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi người sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng trừ trường hợp có thỏa thuận khác Trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần còn lại không được chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng Khi chia tài sản chung, thì giữa vợ chồng có thể chấm dứt về mặt quan hệ tài sản nhưng về mặt nhân thân thì họ vẫn phải có nghĩa vụ với nhau vì nhiều lẽ mà trước hết là hôn nhân của họ vẫn còn tồn tại Vì vậy, vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc lẫn nhau… cũng bởi lẽ việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chủ yếu

là thuận tiện cho các giao dịch, nhưng tình cảm của họ thì không có tác động gì Vì vậy,

7

Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình tập II các quan hệ tài sản của vợ chồng -Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện

Trang 24

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được ban hành nhằm làm cho vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phù hợp với thực tế Tại Điều 29,

khoản 1 “Trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự

riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì có thể thỏa thuận chia tài sản” đây là nền tảng

1.4 Đặc điểm về vấn đề phân chia chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trên tinh thần Nghị quyết số 35 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình cũng

đã ghi nhận rõ

Về quan hệ tài sản của vợ, chồng chỉ được xác lập sau khi xác lập quan hệ hôn nhân

và chỉ tồn tại giữa các chủ thể là vợ, chồng hợp pháp với nhau cụ thể có những đặc điểm sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm

1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa

án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu

ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu

về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại điều 29 “Chia tài sản chung trong

thời kỳ hôn nhân”

8

Giáo trình luật Hôn nhân gia đình phần 2 quan hệ tài sản của vợ chồng- Ts Nguyễn Ngọc Điện

Trang 25

1 Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết

2 Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận

Việc chia tài sản khi hôn nhân tồn tại là một trường hợp đặc biệt, chia tài sản chung như trong trường hợp ly hôn, nếu chia tài sản chung khi hôn nhân đổ vỡ trên thực tế nhưng chưa chấm dứt về mặt pháp lý, thì vợ và chồng có thể tính toán với nhau một cách sòng phẳng trong việc xác lập phần quyền của mỗi người dựa vào sự phát triển của khối tài sản chung để thanh toán khối tài sản đó trước khi tiến hành phân chia Việc chia tài sản chung theo phần cũng giống như chia tài sản khi ly hôn Chia tài sản như biện pháp

hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh đây là một cách tạo cơ hội cho vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ riêng Khi giữa hai bên không có thỏa thuận với nhau trong khối tài sản chung, thì vợ và chồng có thể thỏa thuận về việc dành cho người cần có nhu cầu có tài sản riêng

để thực hiện mục đích kinh doanh riêng của mình Phân chia tài sản chung không làm thay đổi chế độ tài sản (không có chuyện thỏa thuận ngược lại với các quy tắc thuộc chế

độ chung), Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là biện pháp giúp cho vợ, chồng chuyển các tài sản chung cụ thể đã được tạo ra và hiện hữu trong khối tài sản chung của

vợ, chồng thành tài sản riêng của mọi người Tuyệt đối không thỏa thuận về việc chia tài sản chung sẽ có trong tương lai Có thể nói trong cơ cấu Luật năm 2000 việc chia tài sản giúp các bên có thể tham gia vào các giao dịch một cách độc lập và thực hiện được quyền tuyệt đối, đây được coi là đặc điểm nổi bật trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.9

1.5 Ý nghĩa về vấn đề phân chia chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong xã hội có giai cấp, vấn đề chia tài sản của vợ chồng bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật, tác động vào các quan hệ tài sản của vợ chồng làm cho các mối quan hệ này phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó

Do pháp luật là sự thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nên trong nền lập pháp của mỗi nhà nước, vấn đề chia tài sản của vợ chồng đều theo ý chí của nhà nước đó Vì vậy,

9

Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình phần tập II các quan hệ tài sản của vợ chồng -Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện

Trang 26

pháp luật Phong kiến quy định chế độ tài sản là bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình Điều này nhằm bảo vệ tư tưởng gia trưởng của chế độ Phong kiến, người vợ hoàn toàn không có quyền gì đối với tài sản chung mà tất cả tài sản đều thuộc về người chồng quản lý

Đối với nhà nước Tư sản thì hôn nhân được xem như một hợp đồng rất được coi trọng Có thể xem hợp đồng như là cơ sở để hình thành quan hệ hôn nhân Pháp luật Tư sản, pháp luật của nhà nước Phong kiến, pháp luật của nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa đều

có quy định về vấn đề này vừa có tình lẫn có lý, vừa phù hợp với đạo đức xã hội và nguyện vọng của nhân dân lao động xuất phát từ bản chất pháp luật luôn vì lợi ích của nhân dân Đối với pháp luật của nhà nước ta, việc quy định về phân chia tài sản chung giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa sau:

Ý nghĩa quan trọng hàng đầu của vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân là nhằm khôi phục khối tài sản riêng của mỗi bên Như ta đã biết, do không

có lý thuyết về tài sản thay thế nên khối tài sản chung luôn có khuynh hướng thu hút các khối tài sản riêng nhập vào nó Do đó, khi có quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các khối tài sản riêng được tồn tại Bên cạnh đó nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng về mặt tài sản giữa vợ và chồng do pháp luật của chế độ Phong kiến thực dân trước khi để lại và được thay thế bằng những quy định mới Trong đó, hệ thống pháp luật mới của ta đã quy định một cách hợp tình hợp lý và bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng Ý nghĩa này đáp ứng được mong muốn của hàng triệu phụ nữ Việt Nam để có một vị trí bình đẳng với người chồng trong gia đình Điều này, trước kia đã bị pháp luật Phong kiến phủ nhận Do sự ảnh hưởng của nên kinh tế thị trường và lối sống Phương tây cho nên hiện nay, tình trạng ly hôn ở nước ta xảy ra khá nhiều và trở thành vấn đề cần quan tâm của xã hội Chính vì vậy, để hạn chế bớt các trường hợp ly hôn khi không thật cần thiết, pháp luật về Hôn nhân và gia đình đã đưa ra quy định về phân chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Trong một số trường hợp

dù thật sự có mâu thuẫn, nhưng vì liên quan đến uy tính, danh dự và sợ ảnh hưởng không tốt đến con cái của họ, nên họ không mong muốn ly hôn mà chỉ ly thân nhằm tìm ra giải pháp thích hợp Trong trường hợp này, rõ ràng quan hệ nhân thân còn tồn tại nhưng quan

hệ tài sản cần giải quyết, do mỗi người cần có tài sản để duy trì cuộc sống

Ý nghĩa không kém phần quan trọng khác là nhằm tạo điều kiện để vợ và chồng có thể độc lập khi tham gia vào các quan hệ xã hội, vì khi các chủ thể có tài sản độc lập có thể dể dàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh hay là khi một bên có nhu cầu trả nợ hoặc thực nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc người thân Việc sử dụng khối tài sản chung

Trang 27

của vợ, chống phát sinh mâu thuẩn, do đó việc chia tài sản chung là giải pháp thỏa đáng nhất Mặc khác, việc đưa ra quy định chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân còn nhằm mục đích không kém phần quan trọng đó là bảo vệ lợi ích của người thứ

ba, có quan hệ với một bên vợ hoặc bên chồng Bởi vậy, trên cơ sở quy định của pháp luật người thứ ba sẽ xác định được quyền hạn của người vợ, người chồng trong việc thực hiện xác lập các giao dịch làm cho quyền lợi của họ được đảm bào hơn Trong trường hợp nhất định pháp luật buộc cả hai vợ chồng thể hiện sự đồng ý của mình trong giao dịch quan trọng để đảm bảo lợi ích của bên thứ ba tham gia

Như vậy, việc đưa ra quy định “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn

nhân” có ý nghĩa hết sức to lớn đối với hệ thống pháp luật nói riêng và đối với sự phát

triển của xã hội nói chung Nó không chỉ có những ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của gia đình mà còn có ý nghĩa đối sự phát triển nền kinh tế của nước ta Quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng, xóa bỏ sự bất công mà xã hội Phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm và một khi muốn phát triển xã hội ta phải xóa bỏ được định kiến này Bên cạnh đó, việc có quy định trên còn tạo điều kiện để cho vợ và chồng tự do tham gia vào các hoạt động kinh doanh riêng nhưng vẫn đảm bảo sự bền chặt giữa hai người bằng quan hệ hôn nhân, ổn định hạnh phúc gia đình Gia đình tồn tại thì xã hội mới phát triển được, Theo triết học Mac-lênin thì vật chất quyết định ý thức vì thế nếu nền kinh tế không phát triển thì gia đình sẽ không hạnh phúc và xã hội không thể phồn thịnh được, vững mạnh được Vì vậy, khi mỗi công đều tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra thật nhiều của cải, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững Quy định này đã tạo đều kiện cho người phụ nữ có một chổ đứng ngang bằng với nam giới trong việc đóng góp mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Thực tế đã cho thấy phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, đồng thời quy định này còn góp phần ổn định các mối quan hệ gia đình, khi có mâu thuẩn phát sinh nhưng với những quy định rõ ràng về việc chia tài sản khi hôn nhân đang tồn tại thì vấn đề ly hôn được hạn chế, tạo cho gia đình tiếp tục tồn tại Do hậu quả pháp lý của hôn nhân bị ảnh hưởng rất lớn đến con cái, để ổn định xã hội Cho nên, chế định này đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn

xã hội hiện nay cho nên nó rất phù hợp với cơ chế thị trường, phù hợp với Hiến pháp, Luật dân sự, Luật đất đai và các văn bản khác có liên quan

Tóm lại, việc quy định cụ thể căn cứ xác lập tài sản chung cũng như việc chia chúng

đã phần nào giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vụ viêc trên một cách nhanh chóng, rõ ràng góp phần ổn định xã hội

Trang 28

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ VẤN ĐỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

NĂM 2000

2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

2.1.1 Mục đích quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và quy định hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng tại Điều 30

Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt về mặt pháp lý như: ly hôn, một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị tòa

án tuyên bố là đã chết Nhưng các nhà làm luật vẫn đặt ra vấn đề chia tài sản chung của

vợ chồng trong thời kì hôn nhân, là xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, của các quan hệ hôn nhân và gia đình trong những năm vừa qua

Một số trường hợp vợ chồng dù có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm không còn, nhưng

vì lý do nào đó như: sợ ảnh hưởng tới hòa khí trong gia đình, ảnh hưởng tới con cái, hàng xóm chê cười, tới danh dự uy tín của nhau… mà họ không yêu cầu ly hôn, chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Chính vì vậy, việc chia tài sản chung khi hôn nhân tồn tại trở thành một nhu cầu tất yếu, đáp ứng được thực tế đặt ra cho các cá nhân tự phát huy các khả năng của mình trong xã hội Mặt khác, vừa giảm thiểu một tỷ lệ lớn các cặp vợ chồng xin ly hôn, hạn chế thấp nhất các tranh chấp phát sinh giữa

vợ và chồng

Ngoài ra, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng thể hiện được tư tưởng lập pháp tiến bộ của nhà nước ta, đó là quan tâm đến lợi ích của từng cá nhân trong gia đình và trong các mối quan hệ ngoài xã hội Với việc quy định vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ là cơ sở pháp lý để Tòa

án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng

Sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội đòi hỏi việc ban hành pháp luật phải kịp thời Do đó, việc đặt ra chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hết sức cần thiết, phù hợp với cuộc sống và tâm lý nguyện vọng của nhân dân

Trang 29

2.1.2.Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Theo quy định tại Điều 29, khoản 1 Luật HN&GĐ năm 2000 thì:“Khi hôn nhân tồn

tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung”

Như vậy, để đảm bảo được mục đích của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì cần phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng

- Vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

- Vợ chồng có lý do chính đáng khác.

*Trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng

Xuất phát từ quy định tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 “Công dân có quyền tự do

kinh doanh theo pháp luật” Việc ghi nhận quyền chia tài sản chung của vợ chồng để đầu

tư kinh doanh riêng là sự cụ thể hóa một trong những quyền hiến định của công dân

Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do của cá nhân, nếu một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng

Nhà nước ta ngày càng mở cửa thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội cho các chủ thể tham gia vào hoạt động đầu tư kinh doanh Bên cạnh những “cơ hội làm giàu” thì nền kinh tế thị trường cũng đặt ra không ít thử thách, đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải luôn nhạy bén, tỉnh táo để nắm bắt tốt “thời cơ” và điều quan trọng là phải chủ động về vốn Cho nên, nhiều khi chỉ vì một lý do nào đó mà vợ chồng không thống nhất được với nhau trong việc sử dụng tài sản chung vào việc đầu tư kinh doanh nên để “lỡ mất cơ hội” Quy định này một mặt tạo điều kiện cho vợ, chồng có tài sản riêng làm vốn đầu tư kinh doanh hoặc “chớp thời cơ” khi tài sản riêng của một bên không đủ, mà bên kia lại không đồng ý

sử dụng vào công việc kinh doanh, buôn bán đó

Mặt khác, quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực, hạn chế rủi

ro do hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra

Ngoài ra, việc quy định chia tài sản chung trong trường hợp đầu tư kinh doanh riêng thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của vợ, chồng trên thương trường, tránh được những quy tắc thuộc chế độ tài sản chung ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh và tạo điều kiện cho các giao dịch mà vợ, chồng đứng ra xác lập Đó có thể là việc thành lập một doanh nghiệp tư nhân, việc tham gia thành lập một công ty với tư cách là thành viên sáng lập hoặc tham gia vào một kế hoạch hợp tác kinh doanh Đồng thời vẫn giữ nguyên

Trang 30

quy chế tài sản chung, người đầu tư kinh doanh riêng sẽ độc quyền khai thác công dụng của tài sản Do áp dụng theo nguyên tắc đó, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc quản lý tài sản chung

Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển nên việc đầu tư kinh doanh bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực, phương thức đầu tư… nói chung rất đa dạng Điểm cần lưu ý trong trường hợp này là việc đầu tư kinh doanh vẫn được chấp nhận ở giai đoạn chuẩn bị Điều này có nghĩa là vợ, chồng chỉ cần chứng minh rằng mình đang chuẩn bị kinh doanh một lĩnh vực nào đó sắp được thực hiện thì đó cũng là căn cứ để chia tài sản chung

Việc chia tài sản chung trong trường hợp đầu tư kinh doanh riêng sẽ tạo điều kiện cho vợ, chồng trong trường hợp muốn định đoạt tài sản chung (bán, tặng, cho) hoặc xác lập các giao dịch có liên quan đến tài sản (cầm cố, thế chấp) theo những thủ tục đơn giản

và không mất thì giờ.10

Sau đây là ví dụ điển hình và xem là có căn cứ để được chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cho việc đầu tư kinh doanh riêng

Bà Đào Thị Nguyệt ở Thị trấn Đức phổ, huyện Đức phổ

“Chồng tôi muốn thành lập Công ty để kinh doanh nhưng tôi không đồng ý, vì ông

ấy không có khả năng đó Tôi đã ngăn cản nhưng ông ấy vẫn quyết tâm thành lập công ty Tôi sợ sau này việc kinh doanh thua lỗ sẽ ảnh hưởng đến tài sản của gia đình tôi, sẽ không có tiền nuôi con ăn học Tôi muốn chia tài sản của vợ chồng tôi ra, phần của ông

ấy thì ông ấy tự kinh doanh, muốn làm gì thì làm, phần tài sản của tôi thì tôi giữ lại để nuôi con Sau này nếu ông ấy có làm ăn thua lỗ thì ông ấy chịu trách nhiệm về phần tài sản của mình, phần tài sản của tôi không góp vào công ty Tôi muốn biết làm thế nào để chia tài sản chung của vợ chồng tôi trong khi vợ chồng tôi không ly hôn”

Vấn đề bà Nguyệt được quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

và Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì việc chia sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân vẫn được thực hiện

Về thủ tục thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân quy định cụ thể sau:

- Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây: lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản), trong đó cần mô tả rõ những tài sản được

10

Trang 31

chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia, nếu có; thời điểm

có hiệu lực của việc chia tài sản chung…

- Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày lập văn bản

và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật

Như vậy, Theo như nội dung bà trình bày thì vợ chồng của bà có thể lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng để thực hiện kinh doanh riêng theo quy định của pháp luật Nếu không thỏa thuận đưọc thì yêu cầu Tòa án giải quyết Cần nói thêm là hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định như sau:

- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng mỗi người trừ trường hợp có thỏa thuận

- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng

- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác 11

* Chia tài sản của vợ, chồng khi một bên thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

Đây là trường hợp vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng như: trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, người vợ hoặc người chồng đó đã vay nợ sử dụng vào nhu cầu riêng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng người khác… Nếu tài sản riêng không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được về việc lấy tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng cho một bên thì vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để người vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của mình một cách độc lập mà không làm ảnh hưởng tới quyền lợi

của phía bên kia

Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của vợ, chồng trong khung cảnh của Luật thực định chưa được xây dựng một cách hoàn hảo Tuy nhiên, do các nghĩa vụ được xác lập trước khi kết hôn cũng như các nghĩa vụ gắn liền với các tài sản được tặng cho riêng, như chúng ta đã biết trong chừng mực nào đó có thể coi như là nghĩa vụ riêng Mặt khác, việc

11

Giáo trình luật hôn nhân gia đình phần 2 quan hệ tài sản của vợ chồng- Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện

Trang 32

chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ cho phép ta nghĩ rằng nghĩa vụ đó là nghĩa vụ mà khối tài sản riêng có trách nhiệm đóng góp toàn bộ tài sản vào việc thanh toán, nếu khối tài sản chung “ứng trước” để thực hiện nghĩa vụ thì đến một thời điểm thích hợp, khối tài sản riêng phải được hoàn lại Với suy nghĩ đó, có thể coi là nghĩa vụ riêng mà việc thực hiện có thể dẫn đến việc chia tài sản chung Nghĩa vụ phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cá nhân vợ hoặc chồng mà người còn lại không bị ràng buộc một cách liên đới Nghĩa vụ trả nợ vay, nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho người khác cũng là nghĩa vụ riêng nếu được xác lập mà không có sự đồng ý của vợ (chồng) Bên cạnh đó, các nghĩa vụ được xác lập trước khi kết hôn cũng như các nghĩa vụ gắn liền với tài sản được tặng cho riêng thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân được đảm bảo bằng tài sản riêng thì đó có thể là nghĩa vụ riêng Mặt khác, chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng cho thấy rằng nghĩa vụ đó là nghĩa vụ mà mọi khối tài sản riêng có trách nhiệm đóng góp toàn bộ vào việc thanh toán, đây có thể là nghĩa vụ riêng mà việc thực hiện có thể dẫn đến việc chia tài sản chung, nghĩa vụ phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân vợ hoặc chồng như tiền bồi dưỡng thiệt hại hay nghĩa vụ về nhân thân, đạo đức của cá nhân vợ chồng Như trường hợp chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên (con riêng), hoặc chia tài sản để nuôi cha mẹ không có khả năng lao động… mà không muốn cho các quan hệ khác bị tác động

Trường hợp cụ thể:

Vào năm 2007, Tòa án nhân dân Thị xã Mỹ xuyên, Tỉnh Sóc trăng (nay là Thành phố Sóc Trăng) có thụ lý một đơn yêu cầu xin chia tài sản chung của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân Sự việc như sau: anh Nguyễn văn Đ và chị Trần thị T là vợ chồng có đăng

ký kết hôn, trong quá trình sinh sống chị T đứng ra bảo đảm cho em ruột mình là P vay Ngân hàng Đông Á số tiền 100.000.000 đồng để cho gia đình em của mình (việc vay trên anh Đ không hay biết) đến thời hạn trả nợ vay thì P không có khả năng thanh toán nên ngân hàng Đông Á buộc chị T thanh toán, do nhiều lần yêu cầu chị T phải thanh toán số tiền trên nên chị T mới cho anh Đ biết và bàn cách chi trả Tuy nhiên, anh Đ không đồng

ý cùng chị T trả số nợ trên với lý do là giao dịch riêng của chị T nên anh không có nghĩa

vụ cùng trả với chị T do không thỏa thuận được cùng nhau cho nên chị T mới gửi đơn yêu cầu Tòa án Thị xã Mỹ Xuyên- Sóc Trăng xin yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để chị có tài sản riêng nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình (tài sản chung của anh chị bao gồm nhà và đất mà gia đình anh chị hiện sinh sống)

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu và tiến hành định giá khối tài sản trên là khoảng 500.000.000 đồng

Trang 33

Tuy nhiên, theo quy định của Luật hiện hành thì khó có thể hình dung một giải pháp hữu hiệu đối với trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận được sự cần thiết của việc chia hay không chia tài sản chung Việc thừa nhận quyền của vợ chồng chủ động yêu cầu chia tài sản chung tỏ ra hợp lý trong trường hợp có lý do chính đáng để chia tài sản chung

đã được ghi nhận, nhưng vợ hoặc chồng lại ở tình trạng không thể bày tỏ ý chí của mình

và do đó không thể có chuyện thỏa thuận giữa vợ chồng về việc chia tài sản chung

Như vậy, việc chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng để có thể thực hiện các nghĩa vụ đó mà không cần lo lắng đến khối tài sản chung không chia hay tài sản riêng của người còn lại Tuy nhiên, thông thường trong thực tế chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện nghĩa vụ riêng thì nghĩa vụ đó chỉ có thể là bồi thường thiệt hại hay trả nợ riêng mà hai vợ chồng không thể thỏa thuận được dùng khối tài sản chung

để thực hiện nghĩa vụ riêng đó, hoặc cá nhân người phải thực hiện nghĩa vụ đó không muốn bị ràng buộc bởi khối tài sản chung và thỏa thuận với người còn lại, hoặc cũng có thể là để bảo vệ tài sản chung của cả hai người

Vấn đề chia tài sản chung trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng sẽ tỏ ra hợp lý trong trường hợp khối tài sản riêng của vợ, chồng không đủ để thanh toán các khoản nợ của vợ hoặc chồng đều phủ nhận nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản nợ (hoặc một người đồng ý trả nợ, người còn lại thì không muốn), trường hợp này sẽ làm xuất hiện quyền yêu cầu chia tài sản chung của chủ nợ, các khoản nợ riêng đó nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Cũng giống như trường hợp đầu tư kinh doanh riêng Luật không quy định nghĩa vụ dân sự riêng hiện tại hay ở trong tương lai, điều này cho phép chúng ta suy lý rằng nghĩa vụ dân sự riêng được chấp nhận ở giai đoạn chuẩn bị

Ta có thể hình dung trường hợp vợ hoặc chồng muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân và

do đó cần một khoản tiền nhất định mà hiện tại không có, họ cần vay một khoản tiền trong khối tài sản riêng không đủ sức để bảo đảm khi vay và cũng không được sự đồng ý của người còn lại đối với việc thành lập doanh nghiệp đó, giải pháp cho trường hợp này là

vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung để tự mình đứng ra vay khoản tiền đó nhằm mục đích phục vụ cho việc thành lập doanh nghiệp

* Lý do chính đáng khác

Ở đây hiểu thế nào là “Có lý do chính đáng khác” của vợ, chồng để chia tài sản

chung khi hôn nhân còn tồn tại, cho đến nay dù đã có hai văn bản hướng dẫn là Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70/2001/NQ-CP ngày

Trang 34

03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng vẫn

chưa có một hướng dẫn đề cập vấn đề này

Được hiểu là việc chia tài sản chung chỉ được xem là cần thiết để ổn định đời sống

của mỗi bên vợ chồng, hoặc theo quy định của pháp luật là “vợ chồng tính tình không hợp

nhau nhưng con cái đã lớn nên không muốn xin ly hôn”

Hay có thể là vợ hoặc chồng có hành vi phạm pháp luật phải bồi thường thiệt hại nhưng vợ hoặc chồng không thỏa thuận được với nhau về việc lấy tài sản chung của vợ chồng để bồi thường thì theo đơn yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên có thể dùng phần tài sản đó của mình để bồi thường thiệt hại cho người khác Kế thừa và phát triển quy định về phần tài sản chung trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 điều 29 khoản 1

quy định:“Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng,

thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”

Ngay trong thời kỳ hôn nhân vợ, chồng hoặc cả hai có thể có nhu cầu củng cố khối tài sản riêng để tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống hoặc cho nhu cầu giao dịch riêng của mỗi người Với tư cách là một công dân, vợ hoặc chồng đều có quyền thực hiện các giao dịch dân sự hợp pháp của mình và có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân Trong những trường hợp nhất định, Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể các lý do cần thiết để Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung và chia tài sản do vợ, chồng tự thỏa thuận mà không cần sự can

thiệp của Tòa án Các lý do đó là: “Khi hôn nhân đang tồn tại, trong trường hợp vợ,

chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ, chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung” Việc pháp luật quy định

tài sản chung của vợ, chồng hợp nhất là thể hiện tình cảm yêu thương gắn bó, hòa hợp giữa vợ và chồng, phù hợp với bản sắc truyền thống văn hóa của người Việt Nam

Song, việc pháp luật quy định các lý do chia tài sản chung khi hôn nhân tồn tại cũng là điều hoàn toàn hợp lý, nhằm bảo đảm và khẳng định sự bình đẳng đối với nhau trong việc tiếp cận cơ hội kinh doanh hay trong việc nắm giữ, quản lý tài sản

Đây là tiêu chí chung để đánh giá sự chính đáng Xét về lý do chính đáng, luật viết quy định các vấn đề còn rất chung chung Dừng lại ở việc khái quát, chưa có sự giải thích

và giới hạn các vấn đề có liên quan Thế nào gọi là chính đáng, thế nào gọi là không chính đáng và đâu là căn cứ để xác định cái “chính đáng” ấy

Trang 35

Một trong những lý do chính đáng là vợ chồng không còn thực sự sống chung nữa,

dù không chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý Một lý do khác, cũng có thể xem là chính đáng như vợ hoặc chồng đã từng có nhiều tài sản riêng, nhưng phần lớn tài sản riêng đã được chuyển thành khối tài sản chung sau các vụ chuyển nhượng, nay vợ chồng muốn khôi phục lại khối tài sản riêng của mình, cũng được coi là lý do chính đáng Trong trường hợp vợ hoặc chồng vắng mặt tại nơi cư trú và người còn lại cần có một khối tài sản riêng để được chủ động hơn trong các giao dịch của mình, ngược lại các điều trên thì khó

có thể coi là lý do chính đáng Nếu vợ hoặc chồng muốn chia tài sản chung vì cảm thấy rằng các quy tắc về quản lý tài sản chung quá gò bó, gây cản trở cho việc thực hiện các quyền tự do cá nhân của mình

Ngoài ra, trong trường hợp vợ, chồng chia tài sản chung mà việc chia tài sản chung

đó ảnh hưởng đến lợi ích của con cái như việc sinh hoạt, học hành… hoặc trường hợp vợ chồng không chấp nhận các quy tắc về chế độ tài sản chung Họ cho rằng các quy tắc đó ảnh hưởng đến quyền tự do trong đời sống và tiến hành chia tài sản chung

Như vậy, các trường hợp này có được xem là chính đáng hay không chính đáng, câu trả lời sẽ dành cho các nhà lập pháp Nói chung, tính chất chính đáng hay không chính đáng của lý do chia tài sản chung chỉ được đánh giá khi có tranh chấp và sự việc đưa ra Tòa án Trong khung cảnh của Luật hiện hành, một khi vợ chồng thống nhất ý kiến về sự cần thiết của việc chia tài sản chung và cả về cách chia, thì trong quan hệ giữa vợ và chồng, vấn đề chính đáng hay không chính đáng của lý do chia tài sản không được đặt ra Bởi vậy, như ta sẽ thấy sự thỏa thuận giữa vợ chồng về việc chia tài sản chung không chịu

sự giám sát của Tòa án

Trừ trường hợp có đơn yêu cầu của một người thứ ba về việc ngăn chặn hoặc chế tài những vụ chia tài sản chung nhằm trốn tránh việc thực hiện những nghĩa vụ tài sản của bản thân vợ hoặc chồng Nói cách khác, vấn đề có hay không có sự nhất trí, đồng thuận về việc chia hay không chia tài sản chung Nếu vậy, thì trong trường hợp vợ hoặc chồng có

sự đồng thuận đối với việc chia tài sản chung, quy định về sự hiện hữu của một lý do chính đáng trở nên thừa, không chắc đó là giải pháp phù hợp của nhà làm luật

Nếu đúng là vợ chồng có thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung mà không cần có

lý do chính đáng, thì toàn bộ chế độ pháp định về tài sản sẽ chỉ mang tính chất của luật bổ

khuyết, nghĩa là chỉ được áp dụng nếu không có thỏa thuận ngược lại

Ví dụ: Do ham mê cờ bạc, chồng tôi nhiều lần mang tài sản của gia đình đi bán, tôi

đã khuyên can nhưng ông ấy vẫn chứng nào tật ấy Nếu cứ để tình trạng này kéo dài, tôi

sợ có ngày sẽ mất hết cả tài sản của gia đình Vậy tôi xin đề nghị Tòa án chia tài sản

Trang 36

chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với lý như trên là chính đáng không? Tôi muốn chia tài sản chung có được không? Nếu chia tài sản chung thì giải quyết như thế

nào?

Nguyễn Thị Nguyệt (Tĩnh Gia - Thanh Hóa)

Như vậy, việc chia tài sản của bà Nguyễn Thị Nguyệt cũng được xem là chính đáng,

vì người chồng không chí thú làm ăn mà chỉ ham mê cờ bạc làm phát tán tài sản chung Vấn đề này hoàn toàn hợp lý khi Tòa án quyết định phân chia tài sản chung của hai vợ chồng, vấn đề đặt ra là việc chia tài sản không vì mục đích phân tán tài sản chung để trốn trách trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình: “Khi hôn nhân tồn

tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”

Ngày 03-10-2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, tại Điều 6 quy định:

“1 Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình phải được lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây:

a) Lý do chia tài sản

b) Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản); trong

đó, cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia c) Phần tài sản còn lại không chia, nếu có;

d) Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; các nội dung khác, nếu có

2 Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật

3 Trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung,

Như vậy, nếu chồng bà vẫn tiếp tục đánh bạc và phá tán tài sản của gia đình thì bà

có thể thỏa thuận với chồng về việc chia tài sản chung theo quy định tại Điều 6 Nghị định

số 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình nêu trên Tuy

12

Trang 37

nhiên, việc chia tài sản không phải là giải pháp tối ưu, bà có thể tiếp tục nhờ mọi người trong gia đình hoặc đoàn thể ở địa phương để có biện pháp khuyên bảo ông ấy

Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia

đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “mở” Giả sử, ngay sau khi kết hôn

với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thỏa thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện

Theo người viết, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc

trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sản bảo đảm cho các

nhu cầu chung của gia đình

Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hợp vợ chồng không thoả thuận

được việc bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình, thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Toà án quyết định mức đóng góp của các bên trên cơ sở nhu cầu thực tế của gia đình và khả năng kinh tế của các bên hoặc quyết định không chia toàn bộ tài sản chung, phần tài sản chung không chia được sử dụng cho nhu cầu của gia đình

Nói chung, với việc quy định cụ thể, rõ ràng về lý do chính đáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc áp dụng của các Tòa án.13

2.1.3 Người có quyền và lợi ích liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

* Về quyền yêu cầu của vợ chồng

Trong thời kỳ hôn nhân thì vợ và chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc yêu cầu phân chia tài sản chung Luật Hôn nhân và gia đình nói rằng trong khung cảnh được luật dự kiến, thì việc phân chia có thể được tiến hành theo sự thỏa thuận của vợ

chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tại Điều 29, Khoản 1:“Trong trường

hợp vợ, chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết, phạm vi của sự thỏa thuận giữa vợ, chồng bao gồm cách phân chia như thế nào, sự cần thiết của việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”

Nếu đó chỉ là sự thỏa thuận về cách chia, thì ta thừa nhận rằng vợ, chồng có quyền yêu cầu phân chia tài sản chung một khi xảy ra một trong các trường hợp được luật dự

13

Trang 38

kiến, mà không nhất thiết có sự đồng ý của người còn lại Nếu đó còn là sự thỏa thuận về việc nên hay không nên chia, thì dứt khoát vợ hoặc chồng không thể chia tài sản chung, nếu người còn lại không muốn chia dù vợ hoặc chồng đang mắc nợ riêng, có nhu cầu kinh doanh riêng… cách giải thích này theo người viết tỏ ra chưa thuyết phục lắm Tuy nhiên, theo quy định của điều luật này hiện nay thì khó có thể hình dung ra một giải pháp hữu hiệu đối với trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được về sự cần thiết của việc chia hay không chia tài sản chung tỏ ra hợp lý trong trường hợp có lý do chính đáng để chia tài sản chung đã được ghi nhận, nhưng vợ hoặc chồng lại ở trong tình trạng không thể bày tỏ ý chí của mình và do đó, không thể có chuyện thỏa thuận giữa vợ chồng về việc chia tài sản chung Thẩm phán có thể không cho phép phân chia, dù vợ hoặc chồng đang mắc nợ riêng, có nhu cầu kinh doanh riêng, nếu quyết định ấy không phù hợp và ảnh hưởng nghiêm trọng với lợi ích của gia đình

Nghĩa là: Trong trường hợp chia tài sản chung với lý do thực hiện nghĩa vụ riêng

hoặc thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh riêng, người yêu cầu phân chia không nhất thiết phải là người có nghĩa vụ hoặc người chủ dự án đầu tư kinh doanh Cũng có khi người này không thấy sự cần thiết của việc phân chia, nhưng vợ hoặc chồng của người này lại muốn chia để tách bạch các khối tài sản nhằm tránh cho một phần tài sản của gia đình khỏi những rủi ro liên quan đến giao dịch hoặc hoạt động đầu tư, kinh doanh của người này

Tình huống

Vụ án chia tài sản chung của ông Nguyễn Thành Long và bà Trần Thị Lưu ở xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (thụ lý số 04/DSST-HNGĐ tháng 02/1998) Ông Long nguyên là bí thư xã Hoà Hải sau khi nghỉ hưu ông và bà Lưu thường xuyên có mâu thuẫn, to tiếng Bà Trần Thị Lưu đã nhiều lần làm đơn yêu cầu xin ly hôn, nhưng do con cái ngăn cản, khuyên ngăn nên ông bà chưa ly hôn Sau đó bà Trần Thị Lưu bỏ vào Nam sinh sống cùng với con trai ở Lâm Đồng Năm 1998 bà trở về yêu cầu ông Nguyễn Thành Long thuận tình ly hôn, nếu ông Long không đồng ý thì phải chia tài sản chung cho bà Lưu Do hai ông bà không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản, nên

bà Lưu đã có đơn yêu cầu Toà án huyện Hương Khê giải quyết

Cho nên, dễ thấy rằng việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

là hai vợ chồng không thống nhất với nhau việc chi trả những khoản nợ riêng của chồng hoặc của vợ có trước hay sau hôn nhân, những giao dịch do một bên thực hiện và nhiều lý

do khác mà vợ chồng không thể thống nhất việc sử dụng tài sản chung cho việc thực hiện nghĩa vụ Vì vậy, việc cho vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong khi hôn

Trang 39

nhân đang tồn tại không những tránh đựơc tình trạng ly hôn mà còn tạo điều kiện cho việc thực hiện nghĩa vụ, tránh làm cho tình trạng hôn nhân của họ ngày thêm xấu đi

* Quyền và lợi ích của chủ nợ riêng

Trong thời kỳ hôn nhân thì việc yêu cầu chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ

riêng Thực ra chúng ta khó có thể hình dung trường hợp cần thực hiện một nghĩa vụ riêng xác định mà vợ chồng phải thỏa thuận về việc chia tài sản chung nếu vợ chồng thống nhất ý chí về việc tự nguyện trả nợ, thì vợ chồng sẽ trả bằng bất kỳ tài sản nào mà không cần biết đó là của chung, của riêng người mắc nợ Vấn đề chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng chỉ được đặt ra trong trường hợp cả vợ chồng đều không muốn trả nợ Vậy cũng có nghĩa rằng việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để thực hiện nghĩa vụ riêng thường được thực hiện bằng con đường tư pháp, theo yêu cầu của người có nghĩa vụ riêng, cũng có trường hợp dù có nghĩa vụ riêng và không có đủ tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ đó Khi đó, cần thừa nhận cho chủ nợ quyền thực hiện những biện pháp cần thiết nhằm thiết lập một khối tài sản của người có nghĩa vụ đủ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đó Quyền của vợ chồng hoặc của chủ nợ riêng, yêu cầu của tòa án tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem xét

Trong trường hợp người mắc nợ không chịu chia tài sản chung thì chủ nợ riêng có

các quyền theo Điều 224, Khoản 2: “Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong

số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ” Khi xây dựng điều luật, người soạn thảo luật

không phân biệt sở hữu chung mang tính chất theo phần hay hợp nhất Bởi vậy, có vẻ như chủ nợ riêng của vợ, chồng cũng có quyền yêu cầu phân chia khối tài sản chung của vợ chồng, nếu người mắc nợ không chủ động yêu cầu chia để có tài sản riêng mà trả nợ Quyền yêu cầu của chủ nợ trong trường hợp này mang tính chất của quyền khởi kiện chéo Chủ nợ thực hiện quyền này dưới danh nghĩa của người mắc nợ Vì thế chúng ta

cần chú ý:

Chủ nợ không thể có nhiều quyền hạn hơn người mắc nợ trong việc chia tài sản chung Giả sử chủ nợ muốn chia nhưng vợ, chồng của người mắc nợ lại không muốn chia, thì chủ nợ phải nhân danh người mắc nợ yêu cầu Tòa án cho tiến hành phân chia bằng con đường tư pháp Trong trường hợp tiến hành phân chia bằng con đường tư pháp, vợ chồng của người mắc nợ có quyền yêu cầu áp dụng lý thuyết về công sức đóng góp để thanh toán phần quyền của mỗi người

Trang 40

Tài sản được chia không đi thẳng vào khối tài sản của chủ nợ mà trước hết sẽ rơi vào khối tài sản riêng của người mắc nợ Nếu chủ nợ muốn nhận tiền thanh toán, thì phải thực hiện tiếp các thủ tục kê biên và bán đấu giá đối với tài sản đó Chủ nợ mà không thực hiện các thủ tục bắt buộc thực hiện nghĩa vụ, để cho người khác tiến hành kê biên trước

và bán trước các tài sản đã được chia cho người có nghĩa vụ, thì coi như bỏ công phục vụ người khác

Trên nguyên tắc, việc chia tài sản chung chỉ càng củng cố khối tài sản đảm bảo cho việc trả nợ, bởi vậy chủ nợ có thể yên tâm một khi vợ chồng quyết định chia tài sản chung Tuy nhiên, có trường hợp chủ nợ muốn người mắc nợ có tài sản riêng để đảm bảo việc trả nợ, nhưng người mắc nợ lại không muốn chia tài sản chung của vợ chồng để tránh

sự kê biên của chủ nợ Trong trường hợp này, chủ nợ riêng có quyền viện dẫn Khoản 2, Điều 224, Bộ luật Dân sự 2005 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều luật

quy định: “Trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung

thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật

có quy định khác” Khi xây dựng điều luật, người soạn thảo luật không phân biệt sở hữu

chung mang tính chất theo phần hợp nhất Bởi vậy, theo điều luật chủ nợ riêng của vợ, chồng cũng có quyền yêu cầu phân chia khối tài sản chung của vợ chồng Nếu người mắc

nợ chủ động yêu cầu chia để có tài sản riêng mà trả nợ

Ví dụ: anh A và chị B là hai vợ chồng hợp pháp, anh A là bạn thân của C nên A đã

mượn C 20 triệu đồng để đi làm ăn xa nhưng thật ra anh A dùng số tiền trên để đánh bạc (chị B không biết) và hứa một tháng sau sẽ trả, nghe vậy C cho A mựơn, một tháng sau

nợ đến hạn C yêu cầu chị B trả nợ, chị B cho rằng đây là số tiền mà anh A mượn riêng không vì mục đích sinh hoạt gia đình nên chi không chịu trả, anh A cũng đưa ra lý do là không có tài sản riêng để tự trả và anh cũng không muốn chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Vì vậy C khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh A và chị B trả tiền đã vay

Khi thụ lý vụ án, Tòa án xem xét và đưa ra quyết định đây là nợ riêng của anh A không liên quan đến chị B vì số tiền anh A mượn không vì lợi ích gia đình, không có sự đồng ý của chị B và số tiền mựơn trên là vì mục đích riêng không chính đáng Cho nên, đây là món nợ riêng mà chỉ anh A mới có nghĩa vụ trả, nhưng với lý do không có tài sản riêng để trả nợ vô cùng bất hợp lý Trong trường hợp này anh A không muốn trả món nợ

đã vay, nhưng không phải vì lý do này mà C lại kiện hai vợ chồng A và B

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w