1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT về TRÁCH NHIỆM BẢO vệ môi TRƯỜNG KHU DU LỊCH VÀ THỰC TIỄN TẠI HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG

70 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khái niệm 1.1.1 Khái niệm về môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường - Khái niệm về môi trường Ở Việt Nam, khái niệm pháp lý về môi trường được ấn định trong Luật Bảo vệ môi trư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT -  -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHÓA 2007 – 2011

ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH VÀ THỰC TIỄN TẠI HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSL: LK0732A4

Trang 2

Cần Thơ, tháng 4/2011

MSSV: 5075276 Lớp: Luật Tư Pháp 3,K33

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN



Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN 

Trang 5

Trang 6

MỤC LỤC



Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Khái niệm về môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường 4

1.1.2 Khái niệm về du lịch và hoạt động du lịch 5

1.1.3 Khái niệm về khu du lịch và bảo vệ môi trường khu du lịch 6

1.2 Những tác động phổ biến của hoạt động du lịch đối với môi trường 7

1.2.1 Tác động tích cực từ hoạt động du lịch đối với môi trường 8

1.2.2 Tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đối với môi trường 8

1.3 Tình hình môi trường tại các khu du lịch và sơ lược chính sách của Việt Nam về du lịch 11

1.3.1 Tình hình môi trường tại các khu du lịch 11

1.3.2 Sơ lược chính sách của Việt Nam về du lịch 12

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH 15

2.1 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước 2.2 Trách nhiệm của đơn vị tổ chức cá nhân có hoạt động về du lịch 15

2.2.1 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cơ sở lưu trú du lịch 16

2.2.2 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của Ban quản lý hoặc tổ chức, cá nhân quản lý khu, điểm du lịch 18

2.2.3 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành 20

2.3 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của khách du lịch 22

2.4 Trách nhiệm pháp lý về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch 24

2.4.1 Trách nhiệm pháp lý hành chính 24

Trang 7

2.4.2 Trách nhiệm pháp lý hình sự 26

2.4.3 Trách nhiệm pháp lý dân sự 27

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN TẠI HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG - NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 29

3.1 Tình hình phát triển du lịch tại huyện Kiên Lương 29

3.2 Thực trạng về môi trường tại các khu du lịch huyện Kiên Lương 32

3.2.1 Thực trạng môi trường không khí 33

3.2.2 Thực trạng môi trường nước 34

3.2.3 Thực trạng môi trường chất thải rắn 36

3.3 Những tồn tại của pháp luật và thực tiễn tại huyện Kiên Lương 36

3.3.1 Tồn tại của pháp luật 36

3.3.2 Tồn tại của thực tiễn tại huyện Kiên Lương 38

3.4 Ý kiến đề xuất 39

3.4.1 Về pháp luật 39

3.4.2 Về tổ chức quản lý 40

3.4.3 Về phòng ngừa ô nhiễm tại khu du lịch 41

3.4.4 Về áp dụng công cụ kinh tế 43

3.4.5 Về đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư vào lĩnh vực môi trường tại khu du lịch 44

KẾT LUẬN 45

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử phát triển của loài người, chưa bao giờ vấn đề bảo vệ môi trường cần đặc biệt quan tâm như hiện nay Bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, quốc gia và toàn cầu, là bộ phận cấu thành không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Do vậy phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường là góp phần phát triển bền vững kinh tế xã hội

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường là hai vấn đề có liên quan chặt chẻ, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau Môi trường tốt tạo tiền đề cho du lịch phát triển, ngược lại du lịch phát triển cũng tác động đến môi trường cả trên hai mặt tích cực và tiêu cực Để du lịch phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ được môi trường tại các khu, điểm du lịch thì cần phải xác định bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch là vấn đề cấp thiết, để từ đó xác định được mức ảnh hưởng của du lịch đến môi trường

Huyện Kiên lương là một điểm du lịch hấp dẫn thu hút được nhiều khách du lịch của tỉnh Kiên Giang, có vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nhưng so với lợi thế thì mức độ khai thác, phát triển chưa cao Công tác quản lý còn nhiều bất cập, nội dung chương trình du lịch chưa phong phú, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chất lượng phục vụ chưa cao, nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, vấn đề ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết tốt, từ thực trạng phát triển du lịch của huyện

Kiên Lương thì việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bảo vệ môi trường khu du lịch và thực tiển tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang” trên

cơ sở khảo sát đánh giá và đề ra giải pháp bảo vệ môi trường, đẩy mạnh phát triển du lịch là điều cấp thiết Nhằm nghiên cứu làm rỏ những quy định của pháp luật và thực tiễn bảo vệ môi trường khu du lịch, từ đó xác lập các nguyên tắc, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường khu du lịch phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Đối tượng: Việc xác định đối tượng nghiên cứu là rất quan trọng, nó góp phần

định hướng đúng mục tiêu nghiên cứu, giúp việc nghiên cứu đạt hiệu quả hơn Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài người viết tập trung vào việc trình bày, phân tích có hệ thống những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường khu du lịch Từ đó, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn áp dụng đồng thời đưa ra ý kiến hoàn thiện nhằm xây dựng những quy định để bảo vệ môi trường khu du lịch ngày càng hiệu quả hơn

Phạm vi: Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, ở chương một người viết đi vào tìm

hiểu một số khái niệm Ở chương hai người viết đi sâu vào phân tích luật thực định quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hoạt động du lịch Ở chương ba phần thực tiễn người viết chỉ giới hạn phân tích về tình hình môi trường tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, cũng như trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức cá nhân tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, từ đó nêu ra những thiếu sót, hạn chế về mặt pháp

lý cũng như những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tế Trên cơ

sở đó, người viết đề ra các phương hướng hoàn thiện những điểm mà pháp luật hiện hành còn bất cập, hạn chế, cũng như khả năng áp áp dụng vào thực tế chưa hiệu quả

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, để có những thông tin cần thiết về quy định bảo vệ môi trường khu du lịch, người viết đả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tiếp cận thông tin, phân tích số liêu, tra cứu tài liệu dựa trên những quy định của pháp luật, nghiên cứu thông qua các phương tiện thông tin (sách, tạp chí, website…) để xử lý, tổng hợp những thông tin cần thiết nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu Từ đó, phân tích, so sánh kết hợp với thực tiễn áp dụng, đưa ra ý kiến của bản thân để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu của đề tài

4 Kết cấu đề tài

Kết cấu đề tài có ba phần: phần lời nói đầu, phần nội dung, phần kết luận Trong

đó phần nội dung để thuận tiện cho việc theo dõi, nghiên cứu cũng như tránh bỏ sót những vấn đề quan trọng cần đề cập, người viết phân chia đề tài làm ba chương:

Chương 1 Những lý luận cơ bản về du lịch và bảo vệ môi trường khu du lịchChương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ môi trường khu

du lịch

Trang 10

Chương 3 Thực tiễn tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang – Những vấn đề tồn tại và ý kiến đề xuất.

Qua đây người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là thầy Kim Oanh Na - người đã tận tình hướng dẫn cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất định do người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu chưa thuận lợi Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

KHU DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường

- Khái niệm về môi trường

Ở Việt Nam, khái niệm pháp lý về môi trường được ấn định trong Luật Bảo vệ môi trường, và tính đến thời điểm hiện nay có thể thấy rằng có hai khái niêm được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 1993 và 2005, cụ thể như sau:

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên1

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật2

- Khái niệm về hoạt động bảo vệ môi trường

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường;

1 Xem: khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 1999.

2 Xem: khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.

Trang 11

khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp

lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học3

Hiện nay nguy cơ môi trường bị huỷ hoại với những hậu quả nghiêm trọng của nó

đã buộc các quốc gia chú ý hơn tới những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường Nhiều biện pháp kinh tế, xã hội, tổ chức được triển khai nhằm thực hiện bảo vệ có hiệu quả môi trường Nhiều quốc gia đã thực hiện việc giảm hoặc miễn thuế đối với các cơ

sở sản xuất kinh doanh thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường, miễn thuế đối với các chi phí đầu tư vào các biện pháp bảo vệ môi trường, áp dụng việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, dự án sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân trong nước Nhiều trung tâm nghiên cứu môi trường được thành lập để nghiên cứu các tác động của môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực mà sự trả thù của môi trường có thể mang lại Những quyết định của chính phủ về việc khoanh vùng các khu bảo tồn thiên nhiên, lập vườn quốc gia đã góp phần đáng kể ngăn cản sự huỷ hoại của môi trường.4

1.1.2 Khái niệm về du lịch và hoạt động du lịch

- Khái niệm về du lịch

Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau Đúng như một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì

có bấy nhiêu định nghĩa”

Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng

nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật,

…5

3 Xem: khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.

4 Xem http://vietbao.vn/Xa-hoi/Xa-hoi-hoa-cac-hoat-dong-bao-ve-moi-truong/40075595/157/, [Truy cập ngày 23/4/2005]

5 Xem: http://www.365ngay.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1564&Itemid=14, [Truy cập ngày 20/2/2011].

Trang 12

Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng

hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch

sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ6

Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán

bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên

quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Hoạt động du lịch luôn có mối quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, kinh tế

- xã hội và nhân văn, du lịch khai thác những giá trị, đặc tính của môi trường mà nó tồn tại để phát triển, qua đó thay đổi những đặc tính của môi trường này

Hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng của tài nguyên môi trường tự nhiên như vẻ đẹp của quang cảnh biển, sông, núi, các hang động, sa mạc, các hiện tượng tự nhiên khác và các giá trị văn hóa của môi trường nhân văn như đền chùa, am miếu, nhà thờ, thánh thất, tháp, lăng tẩm, cung điện Các giá trị văn hóa phi vật thể như không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế, các loại hình văn hóa dân gian (ca trù, hát quan họ, hát chầu văn ) nói

6 Xem: Đào Ngọc Cảnh, Giáo trình Tổng quan du lịch, khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, trường Đại học Cần Thơ, trang 2.

Trang 13

chung là các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc Bên cạnh việc khai thác tài nguyên để hoạt động, thì có các quy hoạch, các dự án, công trình xây dựng nên những môi trường

du lịch nhân tạo trên cơ sở tích hợp các yếu tố của tự nhiên, giá trị văn hóa Để tạo nên sự phong phú đa dạng các loại hình du lịch là những công viên, khu du lịch, khu vui chơi giải trí phức hợp 7

Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch8

1.1.3 Khái niệm về khu du lịch và bảo vệ môi trường khu du lịch

- Khái niệm về khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch

tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách

du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường.9

- Khái niệm bảo vệ môi trường khu du lịch

Một trong những thực tế có thể dễ dàng nhận ra là khi điểm du lịch nào đó trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến thì vấn đề ô nhiễm môi trường tại đó càng trở nên trầm trọng Theo báo cáo sơ bộ của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện với 23 điểm, khu du lịch tại 5 tỉnh thành phố là Lào Cai, Hải Dương, Quảng Ninh, Điện Biên, Ninh Bình đã đưa ra nhiều con số gây sốc Có tới 22 trên 23 đơn vị hoạt động du lịch không có giấy phép xả thải do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp; 20 trên

23 đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch không xây dựng kế hoạch, chương trình hành động bảo vệ môi trường hàng năm Trong đó nhiều khu du lịch sử dụng nguồn nước khoáng để kinh doanh mà không xin phép như khu suối khoáng Pe Luông, khu du lịch tắm nước khoáng Cúc Phương

Việc xử lý nước thải tại các khu điểm du lịch còn rất thô sơ, chưa có hệ thống xử

lý đạt tiêu chuẩn môi trường và 12 đơn vị trong số đó đã thải nước trực tiếp vào môi trường mà không hề sử dụng hệ thống xử lý nước Việc bố trí các thùng thu gom rác, nhà vệ sinh công cộng đạt tiêu chuẩn tại các khu văn hóa, khu du lịch còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ khách trong những ngày lễ hội

7 Xem: hang-dau, [Truy cập ngày 30/3/2009].

http://www.hieuhoc.com/khoahochay/chitiet/nganh-du-lich-chat-luong-phuc-vu-luon-duoc-dat-len-8 Xem: khoản 3 Điều 4 Luật Du lịch năm 2005.

9 Xem: khoản 7 Điều 4 Luật Du Lịch năm 2005.

Trang 14

Thậm chí nhiều khu du lịch điểm, điểm du lịch như khu du lịch xã Tả Phìn, Lào Cai nằm xen kẽ với khu vực dân sinh nơi bà con vẫn giữ tập quán chăn thả gia súc gần nơi người sinh sống khiến môi trường du lịch cũng bị xâm hại

Việc bố trí trang thiết bị, phương tiện để phát hiện, ứng phó với sự cố ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch cũng chưa được thực hiện Đặc biệt, kết quả kiểm tra một trong những yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch là bản báo cáo đánh giá tác động về môi trường thì chỉ có 3 trên 23 đơn vị biết và có báo cáo này Từ những bất cập vừa nêu có thể thấy vấn đề bảo vệ môi trường tại các khu du lịch là hết sức cấp thiết.10

Tóm lại bảo vệ môi trường khu du lịch là hạn chế, ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch do sự thiếu ý thức của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch gây ra Nhằm cải thiện và tôn tạo môi trường để hướng đến phát triển du lịch và môi trường một cách bền vững

1.2 Những tác động phổ biến của hoạt động du lịch đối với môi trường

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó tác động qua lại với nhiều ngành kinh tế - xã hội, nhiều lĩnh vực, trong đó quan hệ giữa du lịch

và môi trường gắn kết hữu cơ với nhau: sự tồn tại và phát triển của du lịch gắn liền với môi trường, du lịch phát triển chỉ khi môi trường được bảo vệ

Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo tài nguyên du lịch sẽ làm tốt lên chất lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn tại các điểm, khu du lịch Ngược lại, việc khai thác không đồng bộ, không có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên

du lịch sẽ dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường, sự đi xuống của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch

ở khu vực đó

1.2.1 Tác động tích cực từ hoạt động du lịch đối với môi trường

Sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và nhiều địa phương nói riêng Hoạt động

du lịch đã có những tác động góp phần làm tăng tính đa dạng sinh học, bảo tồn cảnh

10 Xem: http://www.365ngay.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1564&Itemid=14, [Truy cập ngày 20/2/2011].

Trang 15

quan, thúc đẩy các hoạt động bảo vệ di tích lịch sử, di sản văn hóa, hoạt động của các làng nghề truyền thống…

- Đối với môi trường tự nhiên:

Tăng hiệu quả sử dụng đất nhờ sử dụng quỹ đất còn trống hoặc sử dụng không hiệu quả Giảm sức ép do khai thác tài nguyên quá mức từ các hoạt động dân sinh, kinh

tế tại các khu vực nhạy cảm (vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên )

Góp phần đảm bảo chất lượng nước trong và ngoài khu vực phát triển du lịch nếu như các giải pháp kỹ thuật trong cấp thoát nước được áp dụng

Tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch nhờ những dự án có các công viên cảnh quan, khu nuôi chim thú hoặc bảo tồn đa dạng sinh học thông qua nuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch

Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch nhờ các dự án thường có yêu cầu tạo thêm các vườn cây, công viên cảnh quan, hồ nước, thác nước nhân tạo… Hạn chế các lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư nếu như các giải pháp hạ tầng kỹ thuật đồng bộ được áp dụng (ví dụ như đối với các làng chài ven biển trong khu vực được xác định phát triển thành khu du lịch biển )

- Đối với môi trường xã hội - nhân văn:

Góp phần tăng trưởng kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất khẩu tại chỗ) Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận cộng đồng dân cư địa phương

Góp phần cải thiện điều kiện về hạ tầng và dịch vụ xã hội cho địa phương (y tế, thông tin, vui chơi giải trí) kèm theo các hoạt động phát triển du lịch

Bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi phục các di sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi vật thể, văn hóa, thủ công mỹ nghệ, trang phục, phong tục truyền thống… bằng các nguồn kinh phí thu trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động du lịch

Phát triển du lịch tạo tiền đề cho việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng vốn đã bị mai một, đặc biệt là các lễ hội Nhiều lễ hội truyền thống của một địa phương riêng lẻ đã được nâng cấp thành các lễ hội du lịch, thu hút số lượng lớn khách từ các vùng miền khác cùng tham gia.11

1.2.2 Tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đối với môi trường

11 Xem: http://dhdulich2dhvhtp.blogtiengviet.net/2009/03/04/taic-a-ar-ng-du-lar-ch-a-aoin-maai-trada, [Truy cập ngày 04/3/2009]

Trang 16

Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu cực nhất định đến môi trường do tốc độ phát triển quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phương tiện xử lý môi trường, nhận thức và công cụ quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực đến môi trường Tại nhiều khu vực, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài khả năng và nhận thức về quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây

ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài

- Đối với môi trường tự nhiên:

Hoạt động du lịch làm tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm

du lịch, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước Lượng chất thải trung bình từ sinh hoạt của khách du lịch khoảng 0,67 kg chất thải rắn và 100 lít chất thải lỏng trên khách trên ngày (ví dụ như ở chùa Hương vào mùa lễ hội, ước tính trung bình lượng rác thải từ 4 đến 5 tấn trên ngày chưa tính đến nước thải và ô nhiễm về tiếng ồn, khói bụi… nhưng khối lượng thu gom mới chỉ đạt khoảng 80%

Khách du lịch, đặc biệt khách từ các nước phát triển thường sử dụng nhiều nước

và những tài nguyên khác, đồng thời lượng chất thải tính theo đầu người thường lớn hơn đối với người dân địa phương Cùng với việc tăng số lượng khách, nhu cầu nước cho sinh hoạt của khách du lịch tăng nhanh (trung bình khoảng 100 - 150 lít trên ngày đối với khách du lịch nội địa, 200 - 250 lít trên ngày đối với khách quốc tế) Điều này

sẽ làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn nước ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biển do khả năng xâm nhập mặn cao khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì bị khai thác quá mức cho phép Hiện tượng này đã quan sát thấy ở nhiều khu vực có hoạt động du lịch tập trung như: Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Đà Nẵng Vấn

đề này sẽ càng trở nên nghiêm trọng vào mùa du lịch

Tăng thêm sức ép lên quỹ đất tại các vùng ven biển vốn đã rất hạn chế tại vùng ven biển, miền núi trung du do bị khai thác sử dụng cho mục đích xây dựng các bến bãi, hải cảng, nuôi trồng thủy sản và phát triển đô thị

Các hệ sinh thái và môi trường đã rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sức ép của phát triển du lịch Tài nguyên thiên nhiên như: các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn; nghề cá và các nghề sinh sống khác trên các đảo có thể bị biến đổi theo chiều hư-ớng xấu đi do phát triển du lịch không hợp lý Nhiều cảnh quan đặc sắc, hệ sinh thái

Trang 17

nhạy cảm, đặc biệt ở vùng ven biển, hải đảo và ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia bị thay đổi hoặc suy giảm cùng với việc phát triển các khu du lịch mới

Các khu vực có tính đa dạng sinh học cao như: các khu rừng nhiệt đới, thác nước, hang động, cảnh quan… thường rất hấp dẫn đối với du khách, nhưng cũng dễ bị tổn thương do phát triển du lịch, đặc biệt khi phát triển du lịch đến mức quá tải, đa dạng sinh học bị đe dọa do nhiều loài sinh vật, trong đó có cả những loài sinh vật hoang dã quý hiếm như: san hô, đồi mồi… bị săn bắt trái phép phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ lưu niệm, buôn bán mẫu vật… của khách du lịch

Ngoài ra, cuộc sống và tập quán quần cư của các động vật hoang dã có thể bị ảnh hưởng do lượng lớn khách du lịch đến vào các thời điểm trong chu trình sống (di trú, kiếm ăn, sinh sản, làm tổ ) của động vật hoang dã ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia

- Đối với môi trường xã hội - nhân văn:

Hoạt động du lịch cũng gây những tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa - xã hội ở một số khu vực, đó là:

- Các giá trị văn hóa truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư trên các vùng núi cao thường khá đặc sắc nhưng rất dễ bị biến đổi do tiếp xúc với các nền văn hóa xa lạ,

do xu hướng thị trường hóa các hoạt động văn hóa, do mâu thuẫn nảy sinh khi phát triển du lịch hoặc do tương phản về lối sống Ví dụ như tình trạng trẻ em lang thang bán hàng rong ngoài thị trấn Sa Pa (Lào Cai) như hiện nay đang đe dọa phá vỡ sự gắn kết chặt chẽ vốn có giữa trẻ em với các thành viên trong gia đình và dòng tộc, làm tổn thương đến các giá trị truyền thống đã được thiết lập trong cộng đồng dân tộc

- Các di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ thường được xây dựng bằng các vật liệu dễ

bị hủy hoại, ví dụ như di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) do tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam Các di sản này thường phân bố trên diện tích hẹp, dễ bị xuống cấp khi chịu tác động thêm của khách du lịch tới thăm nếu không có các biện pháp bảo

vệ

Do tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch, các nhu cầu tại thời kỳ cao điểm có thể vượt quá khả năng đáp ứng về dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng của địa phương; tiêu biểu là ách tắc giao thông, các nhu cầu về cung cấp nước, năng lượng của hệ thống

xử lý nước thải, xử lý chất thải rắn vượt quá khả năng của địa phương Điển hình của

Trang 18

tình trạng này là vào các dịp nghỉ lễ dài ngày như tại Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cát Bà (Hải Phòng) vừa qua

- Các hoạt động du lịch chuyên đề như khảo cổ học có thể nảy sinh mâu thuẫn với các hoạt động tín ngưỡng truyền thống ở địa phương

- Mâu thuẫn nảy sinh giữa những người làm du lịch với dân cư địa phương do việc phân bố lợi ích và chi phí của du lịch trong nhiều trường hợp chưa được công bằng

Thực tế cho thấy phát triển du lịch thường đi kèm với những tác động tiêu cực đến môi trường Nếu trong quá trình phát triển, các tác động tiêu cực đến môi trường không được liệt kê thông qua những biện pháp bảo vệ môi trường quản lý hữu hiệu thì hậu quả sẽ dẫn tới suy thoái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững Do vậy, trong quá trình phát triển du lịch phải lồng ghép các yêu cầu và giải pháp về bảo vệ môi trường, ngay từ khâu lập quy hoạch, xây dựng các chiến lược phát triển đến triển khai các dự án, thiết kế các sản phẩm du lich cụ thể.12

1.3 Tình hình môi trường tại các khu du lịch và sơ lược chính sách của Việt Nam

về du lịch

1.3.1 Tình hình môi trường tại các khu du lịch

Từ đầu năm 2009 đến nay, Tổng cục Du lịch đã phát động “Tuần lễ bảo vệ môi trường” tại 7 tỉnh, thành phố trên cả nước Tuy nhiên, chỉ khi diễn ra hoạt động trên, người dân địa phương mới ra quân dọn dẹp vệ sinh, rác thải xung quanh những điểm tham quan, du lịch Gần như chỉ có “phát” mà không có “động” nên sau khi lễ phát động qua đi, mọi việc lại “đâu vào đấy” Đánh giá thực trạng môi trường du lịch ở nước ta hiện nay, một vị đại diện của Tổng cục Du lịch đã gói gọn trong 4 chữ: “bẩn - bụi - bừa bãi và buồn” Môi trường “4B” có thể thấy ở bất kỳ điểm du lịch nào

Về nước với mong muốn được khám phá các di tích văn hóa, lịch sử, danh thắng đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội 1000 năm tuổi, ông Lưu Văn Dũng, Việt kiều Canada cảm thấy buồn và tiếc khi ngay tại khu vực Hồ Gươm đẹp và thơ mộng vẫn xuất hiện cảnh nam thanh, nữ tú vứt rác bừa bãi Ông Dũng kể: “Tôi đang bấm máy ghi lại những cảnh đẹp ở Hồ Gươm thì nhìn thấy đôi bạn trẻ ăn quà xong vứt ngay túi ni

12 Xem: http://dhdulich2dhvhtp.blogtiengviet.net/2009/03/04/taic-a-ar-ng-du-lar-ch-a-aoin-maai-trada, [Truy cập ngày 04/3/2009].

Trang 19

lông xuống đất, trong khi thùng rác đặt cạnh đó Khi tôi nhắc nhở, họ lại khó chịu…” Còn cảm nhận của anh Nguyễn Minh Hiền, Giám đốc Công ty Phần mềm HiWorld khi lần đầu đặt chân đến di tích lịch sử Đền Đô (Từ Sơn - Bắc Ninh) là “Phong cảnh nơi đây thật đẹp nhưng khu vệ sinh thì thực sự quá mất vệ sinh! Nếu như ban quản lý di tích cải thiện được nhược điểm này thì chắc hẳn chuyến đi của chúng tôi sẽ toàn kỷ niệm đẹp”.

Tại các điểm du lịch, nạn vứt rác bừa bãi của du khách người Việt ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan chung Vừa trở về Hà Nội sau hành trình tới các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, chị Haruko, du khách Nhật Bản kể: “Thật ngạc nhiên khi nhiều

du khách Việt đi cùng tôi trên chuyến du lịch đã thản nhiên xả rác từ ô tô xuống lòng đường Việt Nam có rất nhiều cảnh đẹp mà không phải quốc gia nào trên thế giới cũng

có được Nếu các bạn không biết cách bảo vệ môi trường thì rất đáng tiếc!” Từ những nhận xét của khách du lịch quốc tế và tình hình môi trường tại các khu du lịch có thể dễ dàng nhận thấy tình hình môi trường tại các khu du lịch của nước ta còn rất ô nhiễm và nhiều vấn đề cần phải giải quyết.13

Trong dự thảo “Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, Tổng cục Du lịch đã đề cập nhiều đến vấn đề bảo vệ môi trường và coi đây như chiếc

“chìa khóa” giúp ngành du lịch phát triển bền vững Thời gian tới, Tổng cục Du lịch sẽ phối hợp với chính quyền địa phương đưa ra những biện pháp mạnh góp phần bảo vệ môi trường ở các danh lam, thắng cảnh.14

1.3.2 Sơ lược chính sách của Việt Nam về du lịch

Chiến lược phát triển du lịch 10 năm lần thứ nhất (2001-2010) đã kết thúc và được đánh giá thành công với kết quả tăng trưởng khá ấn tượng về lượng Mới đây, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch vừa ký quyết định số 3146/QĐ-BVHTTVDL phê duyệt

đề cương bản Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, để tiếp tục bước vào giai đoạn mới với Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 với những mục tiêu cụ thể

và thiết thực

13 Xem: http://sgtt.com.vn/Thoi-su/68039/Tuan-le-bao-ve-moi-truong-du-lich-Viet-Nam.html, [Truy cập ngày 29/11/2008].

14 Xem: phat-trien-du-lich-viet-nam-2020-2030 [Truy cập ngày 22/7/2002].

Trang 20

http://www.isponre.gov.vn/home/chien-luoc-phat-trien-kt-xh/nganh-linh-vuc-khac/210-chien-luoc-Nước ta vốn là nước có tiềm lực về phát triển du lịch đứng đầu Đông Nam Á 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển trong bối cảnh diễn biến phức tạp của thế giới và khu vực, với nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen, du lịch Việt Nam vẫn giữ được những bước phát triển vững chắc Trong 10 năm qua ngành Du lịch nước ta ngày càng

có sự phát triển nhanh và toàn diện, tốc độ phát triển bình đạt 16,9 %/năm và đóng góp vào ngân sách nhà nước hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm Không những vậy, việc phát triển của ngành còn góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành kinh tế khác của đất nước cùng phát triển, đưa nhiều giá trị văn hóa của đất nước vinh danh thế giới, trong

10 năm qua nước ta đã có hàng chục di sản văn hóa được UNESCO công nhận và xếp hạng di sản văn hóa thế giới, trong đó có nhiều di sản có giá trị lịch sử cao, góp phần khẳng định vị thế đất nước trên trường quốc tế

Khép lại chặng đường 10 năm phát triển, với những thành tựu và bài học quý báu, ngành du lịch nước ta lại bước vào chặng đường mới với chủ trương “Xây dựng và phát triển ngành Du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn và là thế mạnh của đất nước, thực hiện xây dựng ngành có đẳng cấp trên thế giới”, tập trung phát triển du lịch gắn chặt với phát triển các ngành kinh tế khác, trong đó Du lịch là điểm tựa vững chắc cho các ngành kinh tế khác phát triển Yêu cầu đặt ra là du lịch phải chú trọng giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc đồng thời gắn chặt với việc mang lại công bằng, tiến bộ xã hội, góp phần giữ vững và tăng cường ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường thế trận Quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân

Các mục tiêu cơ bản xác định đến năm 2030 là: Năm 2015 thu hút 7-7,5 triệu khách du lịch quốc tế, phục vụ 35-37 triệu lượt khác nội địa, thu nhập đạt 10-11 tỷ USD, tỷ trọng GDP du lịch chiếm 5,5-6%; năm 2020 thu hút 10-10,5 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 47-49 triệu lượt khách nội địa thu nhập đạt 18-19 tỷ USD; tỷ trọng GDP chiếm 6,5-7%; năm 2025 thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 50-60 triệu lượt khách nội địa, thu nhập đạt 27 tỷ USD; năm 2030 thu hút 18 triệu lượt khách quốc

tế và 70-72 triệu lượt khác nội địa, thu nhập phấn đấu gấp 2 lần năm 2020 Bên cạnh

đó mục tiêu Chiến lược đặt ra: Góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, phát triển thể chất, nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, tinh thần tự tôn dân tộc, tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội, góp phần giảm

Trang 21

nghèo, năm 2015 tạo việc làm cho khoảng trên 2,2 triệu lao động, năm 2020 là trên 3 triệu lao động, phát triển du lịch “xanh” gắn với hoạt động du lịch với giữ gìn và phát huy các gí trị tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Ngành Du lịch xác định: Để thực hiện thắng lợi mục tiêu ấy trước hết cần tạo dựng tốt một thị trường du lịch đa dạng, lành mạnh và đủ sức cạnh tranh, tạo dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, đặc sắc Tiếp tục đẩy nhanh phát huy nội lực và tăng cường thu hút sức đầu tư từ bên ngoài, phát triển nhân lực, vật lực mạnh mẽ toàn diện, đầu tư

và chú trọng phát triển 7 vùng trọng điểm phù hợp với lợi ích toàn diện của đất nước Theo ý kiến của Tiến sĩ Hà Văn Siêu, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch:

“Bối cảnh hội nhập toàn diện, toàn cầu hoá và cạnh tranh đang thách thức đối với du lịch Việt Nam trên con đường khẳng định vị thế của mình Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn tới cần tập trung cho xây dựng thị trường đồng thời đột phá mạnh và hiệu quả và tính chuyên nghiệp”

Với lợi thế quốc gia, ngành Du lịch nước ta có tiềm năng phát triển vững mạnh, vì thế việc xác dịnh xu thế xây dựng ngành theo hướng “chuyên nghiệp, đồng bộ, đa dạng, chất lượng, mang đậm bản sách dân tộc” là một yêu cầu cấp bách hiện nay của ngành Du lịch Việt Nam.15

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH

Để có thể đánh giá được chính xác thực trạng các quy định của pháp luật về Bảo

vệ môi trường khu du lịch thì chúng ta cần phải lần lượt làm sáng tỏ về mặt pháp lý những vấn đề được nghiên cứu trong mục nhỏ dưới đây:

2.1 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước

Quản lý nhà nước có vai trò quyết định đối với phát triển du lịch nói chung và bảo

vệ môi trường khu du lịch nói riêng Nhà nước với các công cụ quản lý và điều tiết vĩ

mô có thể đưa ra các quyết định và hoạt động cụ thể có tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới việc khai thác sử dụng tài nguyên du lịch và bảo vệ môi trường khu du lịch, một điều mà không thành phần nào khác có liên quan có thể làm được

15 Xem: phat-trien-du-lich-viet-nam-2020-2030 [Truy cập ngày 22/7/2002].

Trang 22

http://www.isponre.gov.vn/home/chien-luoc-phat-trien-kt-xh/nganh-linh-vuc-khac/210-chien-luoc-+ Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung

Đới với trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch được quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 11 Luật Du lịch năm 2005 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch, nhưng cụ thể hơn

là tại khoản 1 Điều 121 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và khoản 1, 2 Điều 122 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định

về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân các cấp

+ Trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn

Đối với trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền chuyên môn về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch được quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Du lịch năm

2005 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nươc về du lịch và cụ thể là tại khoản 2 Điều

121 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ

Để quá trình quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch được hiệu quả thì trong quá trình hoạt động của mình các cơ quan nhà nước cần phối hợp với nhau để giúp cho quá trình quản lý về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch đạt hiệu quả hơn Xuất phát từ tình hình trên nên tại khoản 3 Điều 11 Luật Du lịch năm

2005 và được quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 45 và khoản 11 Điều 121 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

2.2 Trách nhiệm của đơn vị tổ chức cá nhân có hoạt động về du lịch

Theo khoản 4 Điều 9 Luật Du lịch năm 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh

doanh du lịch có trách nhiệm thu gom, xử lý các loại chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình gây

ra đối với môi trường; có biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội trong cơ sở kinh doanh của mình” Ở điều luật này quy định tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo

vệ môi trường, nhưng lại không có nêu cụ thể là tổ chức cá nhân nào vì tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch rất là đa dạng bao gồm: Các cơ sở lưu trú du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, các tổ chức cá nhân quản lý khu, điểm du lịch Vì vậy người viết sẽ phân tích cụ thể trách nhiệm bảo vệ môi trường của cá nhân,

tổ chức vừa nêu trên để làm sáng tỏ quy định của luật

Trang 23

2.2.1 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cơ sở lưu trú du lịch

Kinh doanh lưu trú du lịch là một trong những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của ngành du lịch Các cơ sở lưu trú du lịch không những là nơi lưu trú sử dụng dịch vụ của nhiều đối tượng khách khác nhau có quốc tịch, văn hóa, sở thích và nhu cầu khác nhau mà còn là nơi tiêu thụ nhiều nguyên vật liệu tài nguyên, năng lượng như điện, nước, thực phẩm, hàng hóa từ đó thải ra một lượng không nhỏ rác thải, nước thải, khí thải, tiếng ồn cùng với những tác động ảnh hưởng văn hóa ngoại lai, những tệ nạn xã hội đã ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường Do vậy, thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thiết yếu đối với các cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch nhằm không những để bảo vệ môi trường chung mà còn để tạo sự yên tâm cho khách, tăng uy tín, sức cạnh tranh thu hút khách và hiệu quả kinh doanh các cơ sở lưu trú và dịch vụ

du lịch

Xuất phát từ tình hình trên thì tại điểm đ khoản 1 Điều 66 Luật Du lịch năm 2005

quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh lưu trú du lịch, trong

quy định này có đề cập đến vấn đề môi trường cụ thể như sau: “Thực hiện các biện

pháp nhằm bảo đảm vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thiết bị; thực hiện nghiêm chỉnh quy định về phòng cháy, chữa cháy, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ và tài sản của khách du lịch” Có thể hiểu trách nhiệm bảo vệ môi

trường ở điều luật này như sau:

- Trong quá trình hoạt động của mình các cơ sở lưu trú cần phải xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình hành động bảo vệ môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch Xây dựng phương án, chuẩn bị phương tiện và các điều kiện cần thiết để ứng phó với các sự cố môi trường có thể xảy ra; tích cực với các

cơ quan hữu quan và tuân thủ các điều hành của cơ quan có thẩm quyền để khắc phục hậu quả do sự cố môi trường gây ra; thực hiện các biện pháp chống suy thoái và ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện môi trường tại các cơ sở lưu trú du lịch Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường cho cán bộ, nhân viên trong cơ sở lưu trú Bảo đảm các điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm khi cung cấp cho khách các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác trong cơ sở lưu trú theo quy định của pháp luật

Trang 24

- Đặt các thùng thu gom rác hợp vệ sinh, đảm bảo mỹ quan trong khuôn viên cơ

sở lưu trú; thu gom toàn bộ rác trong cơ sở lưu trú và phân loại rác để xử lý tại chỗ hoặc vận chuyển đến nơi quy định; các chất thải nguy hại phải được phân loại riêng để

xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý chất thải nguy hại Xử lý nước thải trong cơ

sở lưu trú phù hợp với quy chuẩn Việt Nam (QCVN) về môi trường hiện hành Thực hiện các biện pháp chống ồn và ô nhiễm không khí do hoạt động của cơ sở lưu trú du lịch Sử dụng hợp lý điện, nước, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và các tài nguyên khác trong quá trình hoạt động Xây dựng nội quy về bảo vệ môi trường của cơ sở lưu trú du lịch để phổ biến cho cán bộ, nhân viên của cơ sở lưu trú và khách lưu trú biết và thực hiện

- Bố trí cán bộ (chuyên trách hoặc kiêm nhiệm) có kiến thức, nghiệp vụ về bảo vệ môi trường theo dõi công tác bảo vệ môi trường trong cơ sở lưu trú du lịch Tham gia tích cực vào việc khắc phục ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và các phong trào bảo vệ môi trường do địa phương và ngành du lịch phát động Thực hiện quản lý, theo dõi, đánh giá định kỳ về tình hình môi trường tại cơ sở lưu trú và các số liệu về tiêu thụ năng lượng, nước, về rác thải, nước thải; thu thập thông tin phản hồi của khách

về môi trường tại cơ sở lưu trú để không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường

Với những quy định cụ thể của luật đã góp phần làm cho các đơn vị kinh doanh lưu trú du lịch ý thức hơn về công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được thì cũng còn rất nhiều những hạn chế

Theo khảo sát của Tổng cục Du lịch, trung bình mỗi ngày có hơn 320,2 tấn rác thải từ hệ thống khách sạn, resort, trong đó có khoảng 315 tấn được thu gom qua hệ thống thu gom rác tập trung của Công ty Công trình đô thị Số còn lại được xử lý bằng biện pháp chôn lấp Như vậy, các loại rác thải đã được xử lý tương đối tốt Tuy nhiên, điều đáng chú ý là mỗi ngày cũng có hơn 50.600 m3 nước thải ra từ các nhà hàng, khách sạn, nhưng chỉ có khoảng 15.000 m3 nước thải trong số đó được xử lý trước khi thải ra hệ thống thoát nước đô thị hoặc tái sử dụng vào mục đích khác Số còn lại được lắng qua bể rồi cho thấm vào đất, cũng có một số cơ sở cho thoát trực tiếp vào hệ thống nước thải đô thị Một số đơn vị có hệ thống xử lý nước thải tốt và tái sử dụng vào mục đích tưới cây, vi dụ như tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khu du lịch Kỳ Vân (tái sử dụng

Trang 25

50%), làng du lịch Bình An (tái sử dụng 100%), Long Hải Beach Resort (60%) Cũng theo khảo sát của Tổng cục Du lịch một số khu vực trên cả nước đang gặp khó khăn trong vấn đề xây dựng hệ thống nước thải là phải thuê đất làm hố gas hoặc thuê hố gas

để chứa nước thải do nằm trên cung đường chưa xây dựng hệ thống thoát nước chung Đây phần lớn là những cơ sở được xây dựng từ trước khi có Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và 2005 Nước thải tại một số cơ sở này chỉ được xử lý sơ bằng bể tự lắng nên về lâu dài có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường chung16

Ngoài ra ngành du lịch nói chung đã sử dụng một nguồn nước rất lớn cho hoạt động của các khách sạn, bể bơi và cho bản thân khách du lịch Sự tiêu dùng quá mức bởi nhiều công trình du lịch, đặc biệt là các khách sạn lớn và các sân gôn có thể làm giảm bớt nguồn cung cấp nước cho nông nghiệp và dân cư địa phương ở những vùng vốn đã khan hiếm nước, dẫn đến việc thiếu nước trầm trọng Ngoài ra, việc tiêu dùng nhiều nước cũng sẽ tạo ra một lượng nước thải lớn gây ô nhiễm nguồn nước sạch

Sở dĩ có tình trạng trên nguyên nhân một phần là do sự thiếu ý thức của các đơn

vị kinh doanh du lịch và du khách, một phần là do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công tác thanh tra không thường xuyên và mang tính hình thức, dẫn đến tình trạng vi phạm cứ diễn ra phổ biến trên phạm vi cả nước từ đó dẫn đến nhiều tồn tại cần phải giải quyết

2.2.2 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của Ban quản lý hoặc tổ chức, cá nhân quản lý khu, điểm du lịch

Hiện nay nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao và ngày càng quan tâm tới điều kiện về an toàn và sức khỏe, xu hướng du khách chỉ chọn những điểm đến, những

cơ sở dịch vụ du lịch quan tâm đến bảo vệ môi trường Chỉ những nơi môi trường xanh

- sạch - đẹp với những sản phẩm an toàn mới có thể có sức cạnh tranh thu hút khách

Từ những yêu cầu đó thì các khu du, điểm du lịch ngày càng trú trọng đến công tác bảo

vệ môi trường hơn để thu hút khách đến vui chơi Và chủ thể trực tiếp thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại đây chính là những ban quản lý hoặc tổ chức, cá nhân quản

lý tại các khu điểm, du lịch Để những chủ thể quản lý tại các khu du lịch có ý thức và

16 Xem: http://luat.xalo.vn/phap-luat/Nghi-dinh/148392782/Ve-co-so-luu-tru-du-lich.html, [Truy cập ngày 12/9/2008].

Trang 26

trách nhiệm hơn thì tại Điều 28, Điều 29 Luật Du lịch năm 2005 và Nghị định số 92/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật du lịch quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trường của Ban quản lý hoặc tổ chức cá nhân quản lý khu, điểm du lịch Theo quy định của pháp luật chúng ta có thể nhận thấy vấn đề bảo vệ môi trường của Ban quản lý hoặc tổ chức, cá nhân quản lý khu, điểm du lịch gồm các nội dung sau:

- Tại các khu, điểm du lịch do lượng khách đến du lịch rất đông nhất là những ngày cuối tuần cho nên lượng rát thải ra môi trường rất nhiều vì vậy Ban quản lý hoặc

tổ chức, cá nhân quản lý khu, điểm du lịch cần phải xây dựng nội quy bảo vệ môi trường phù hợp với đặc thù của khu, điểm du lịch và niêm yết tại lối vào và những nơi

dễ quan sát trong khu, điểm du lịch Đặt các thùng rác ở vị trí thuận tiện cho khách xả rác; thực hiện thu gom hoặc hợp đồng với các tổ chức, cá nhân khác để thu gom rác trong khu, điểm du lịch và chuyển đến nơi xử lý; xây dựng khu vệ sinh công cộng tại vị trí phù hợp, đảm bảo vệ sinh môi trường

- Bố trí cán bộ (chuyên trách hoặc kiêm nghiệm) có kiến thức, nghiệp vụ về bảo

vệ môi trường theo dõi tình hình môi trường và việc thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường trong khu, điểm du lịch Kiểm tra, hướng dẫn yêu cầu tổ chức, cá nhân có hoạt động tại khu, điểm du lịch thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng tiến hành quan trắc, theo dõi biến động môi trường tại khu, điểm du lịch Thường xuyên theo dõi tình hình môi trường tại khu, điểm du lịch và lập báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm gửi Sở quản lý về du lịch trước ngày 15 tháng 2 năm sau Kịp thời phát hiện các hiện tượng suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi trường tại khu, điểm du lịch, thông báo ngay cho các cơ quan có trách nhiệm, đồng thời áp dụng các biện pháp ngăn ngừa và khắc phục hậu quả trong phạm vi khả năng Trường hợp khu, điểm du lịch nằm trong hoặc liền kề với các khu vực nhạy cảm về môi trường thì đảm bảo các hoạt động tại khu, điểm du lịch không ảnh hưởng xấu đến môi trường ở các khu vực xung quanh

Trên thực tế quy định của pháp luật về trách nhiệm bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch nói chung và trách nhiệm bảo vệ môi trường khu du lịch nói riêng không thiếu, nhưng trên thực tế thì những quy định này chưa được áp dụng một cách hiệu quả

Trang 27

Một trong những thực tế có thể dễ dàng nhận ra là khi điểm du lịch nào đó trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến thì vấn đề ô nhiễm môi trường tại đó càng trở nên trầm trọng Theo báo cáo sơ bộ của Thanh tra Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch năm

2007 thực hiện với 23 điểm, khu du lịch tại 5 tỉnh thành phố là Lào Cai, Hải Dương, Quảng Ninh, Điện Biên, Ninh Bình đã đưa ra nhiều con số gây sốc Có tới 22 trên 23 đơn vị hoạt động du lịch không có giấy phép xả thải do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp; 20 trên 23 đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch không xây dựng kế hoạch, chương trình hành động bảo vệ môi trường hàng năm Trong đó nhiều khu du lịch sử dụng nguồn nước khoáng để kinh doanh mà không xin phép như khu suối khoáng Pe Luông, khu du lịch tắm nước khoáng Cúc Phương 17

Việc xử lý nước thải tại các khu điểm du lịch còn rất thô sơ, chưa có hệ thống xử

lý đạt tiêu chuẩn môi trường và 12 đơn vị trong số đó đã thả nước trực tiếp vào môi trường mà không hề sử dụng hệ thống xử lý nước Việc bố trí các thùng thu gom rác, nhà vệ sinh công cộng đạt tiêu chuẩn tại các khu văn hóa, khu du lịch còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ khách trong những ngày lễ hội

Thậm chí nhiều khu du lịch điểm, điểm du lịch như khu du lịch xã Tả Phìn, Lào Cai nằm xen kẽ với khu vực dân sinh nơi bà con vẫn giữ tập quán chăn thả gia súc gần nơi người sinh sống khiến môi trường du lịch cũng bị xâm hại

Việc bố trí trang thiết bị, phương tiện để phát hiện, ứng phó với sự cố ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch cũng chưa được thực hiện Đặc biệt, kết quả kiểm tra một trong những yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch là bản báo cáo đánh giá tác động về môi trường thì chỉ có 3 trên 23 đơn vị biết và có báo cáo nay này

Vấn đề xử lý của cơ quan chức năng gặp khá nhiều khó khăn một phần là do mỗi điểm, khu du lịch lại chịu sự quản lý của các đơn vị khác nhau như Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, có điểm thuộc sự quản lý của tư nhân, của cộng đồng dân cư vì thế quy trách nhiệm về việc bảo vệ môi trường du lịch là không đơn giản

Được biết, thời gian qua, nhiều hoạt động tuyên truyền hướng tới việc bảo vệ, xây dựng môi trường du lịch xanh, sạch, lành mạnh cũng đã được phát động ở nhiều nơi

17 Xem: http://www.moitruongdulich.vn/index.php?itemid=4535, [Truy cập ngày 27/01/2001].

Trang 28

song kết quả thu được chưa cao Bởi lẽ, người dân cũng như đơn vị kinh doanh du lịch

từ trước tới nay vẫn chưa bỏ được thói quen tùy tiện sử dụng tài nguyên môi trường những cái đã có sẵn, mà không có ý thức giữ gìn và tái đầu tư

2.2.3 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành

Ngày nay du lịch không chỉ là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao

mà còn là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân; góp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước tạo điều kiện cho tình hữu nghị hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Nhiều quốc gia trên thế giới coi phát triển du lịch là một quốc sách một ngành kinh tế mũi nhọn để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội vì du lịch là ngành kinh tế rất có hiệu quả

Góp phần vào thành quả to lớn của toàn ngành du lịch thì không thể không kể đến các công ty lữ hành Công ty lữ hành hoạt động nhằm thực hiện liên kết các dịch vụ đơn lẻ thành sản phẩm du lịch tổng hợp hấp dẫn và chào bán trên thị trường trong nước

và nước ngoài Hoạt động của công ty lữ hành nhằm kích thích nhu cầu, hướng thị hiếu xây dựng và tổ chức cho du khách một chuyến đi an toàn, thú vị Một quốc gia muốn

Du lịch phát triển không thể thiếu được một hệ thống công ty lữ hành hùng mạnh Bên cạnh những lợi nhuận mang lại thì hoạt động lữ hành cũng một phần nào đó tác động đến môi trường

Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động lữ hành đối với du lịch nên tại khoản 3 Điều 45 và điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Du lịch năm 2005 quy định về quyền và nghĩa

vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Từ quy định của pháp luật có hiểu trách

nhiệm bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành là:

- Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trong quá trình hoạt động cần phải tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường khi xây dựng chương trình du lịch, không tổ chức các loại hình du lịch gây tổn hại đến môi trường, đưa nội dung bảo vệ môi trường vào tài liệu hướng dẫn du lịch, thông báo, nhắc nhở, chỉ dẫn khách du lịch tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường nơi đến du lịch; không được phép đưa khách vào những nơi không được phép hoạt động du lịch tại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên

và các khu vực cấm khác

Trang 29

- Thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình môi trường, không đưa khách đến các vùng bị ô nhiễm nặng, vùng đang xảy ra sự cố môi trường, đảm bảo an toàn cao nhất về sức khỏe, tính mạng cho du khách Trang bị kiến thức về bảo vệ môi trường, các biện pháp ứng cứu trong trường hợp xảy ra sự cố môi trường cho các hướng dẫn viên du lịch Tích cực tham gia hoạt động bảo vệ môi trường tại các địa phương nơi doanh nghiệp tổ chức các chương trình du lịch; tuân thủ sự điều hành của cơ quan có thẩm quyền về tránh và khắc phục hậu quả do sự cố môi trường gây ra.

So với các chủ thể phân tích trong phần này thì các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có ý thức hơn về môi trường và ít gây ô nhiễm hơn, tuy nhiên cũng có một số doanh nghiệp lữ hành trong quá trình hoạt động cũng gây ô nhiễm môi trường và chủ yếu tập chung ở các doanh nghiệp khi kinh doanh không đăng ký kinh doanh và được

sự tiếp tai của các doanh nghiệp lớn như Vũng Tàu Inourco, Tracodi, Captour … và một số công ty khác Sở dỉ có tình trạng trên là do, việc kiểm tra hoạt động lữ hành hiện nay chưa thật chặt chẽ nên ở một số địa bàn du lịch trọng điểm đang xảy ra tình trạng lộn xộn, phức tạp như núp bóng, mượn tư cách pháp nhân kinh doanh, làm giả thẻ hướng dẫn viên du lịch Theo điều tra của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch hiện trong hơn 3.000 đơn vị đang hoạt động chỉ có 300 đăng ký với Sở Du lịch Nhiều đơn

vị thay đổi địa điểm liên tục, đăng ký chỗ này nhưng lại hoạt động chỗ khác, nên các doanh nghiệp này không có ý thức về bảo vệ môi trường, không đưa nội dung bảo vệ môi trường vào tài liệu hướng dẫn, không hướng dẫn chỉ đạo khách tuân thủ về môi trường du lịch ở nơi đến.18

2.3 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của khách du lịch

Trong hoạt động du lịch thì khách tham quan du lịch cũng là một nhân tố tác động trực tiếp đến môi trường, vì trong quá trình hoạt động du lịch, khách du lịch thải ra môi trường một lượng chất thải rất lớn điển hình là chất thải rắn, làm ô nhiễm môi trường Qua quá trình nghiên cứu người viết nhận thấy khách du lịch cũng là một nhân tố cần phải được nghiên cứu để tìm ra giải pháp làm sao cho các chủ thể này biết ý thức hơn

về bảo vệ môi trường Tại khoản 5 Điều 9 Luật Du lịch năm 2005 quy định về trách

nhiệm bảo vệ môi trường của khách du lịch: “Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa

18 Xem: vi-moi-truong.html, [Truy cập ngày 07/10/2009].

Trang 30

http://hoaphuongdo.vn/news/cat-ba-24h/phan-tich-va-binh-luan/10942-cat-ba-khach-du-lich-that-kinh-phương và các tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hoá, thuần phong mỹ tục của dân tộc; có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự nhằm nâng cao hình ảnh đất nước, con người và du lịch Việt Nam ” Từ quy

định này có thể hiểu trong quá trình tham quan du lịch thì khách du lịch phải có trách nhiệm:

Tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường tại nơi đến du lịch và sự chỉ dẫn về bảo vệ môi rường của doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú du lịch, của tổ chức, cá nhân vận chuyển khách du lịch và những người có thẩm quyền quản lý đến nơi du lịch Xả rác đúng nơi quy định Không xua đuổi, trêu chọc hoặc có hành vi khác xâm phạm đến sinh hoạt bình thường của các loài động vật tại nơi đến du lịch Không chặt cây, bẻ cành hoặc có hành vi khác phá hoại cây cối, các thảm thực vật tại nơi đến du lịch Không đốt lửa tại các nơi dễ gây cháy rừng hoặc hủy hoại thảm thực vật Không mang hóa chất độc hại, chất nổ, chất dễ gây cháy đến nơi du lịch Không mua bán, sử dụng động vật, thực vật quý hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Mặc dù ngành du lịch được hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn 45 năm qua, song hoạt động du lịch chỉ thực sự diễn ra sôi động kể từ thập kỷ 90 đến nay gắn liền với chính sách mở cửa và hội nhập của Đảng và Nhà nước Du lịch Việt Nam phát triển đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế - xã hội phát triển, tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tổng thu nhập quốc dân; khôi phục nhiều ngành nghề và lễ hội truyền thống ở nhiều nơi; làm thay đổi cơ bản diện mạo các đô thị, nông thôn và đời sống của cộng đồng dân cư Những hiệu quả này lại tác động tích cực thúc đẩy toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển du lịch, tạo nhiều việc làm mới, góp phần tăng trưởng kinh tế, hạn chế sự tác động của xã hội đến môi trường

Với sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của nhiều địa phương nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu cực nhất định đến môi trường do tốc độ phát triển quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phương tiện xử lý môi trường; nhận thức và công cụ quản lý nhà nước về môi trường trong ngành còn hạn chế Trên phạm vi toàn quốc, các vần đề về môi trường trong hoạt động du lịch thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau:

Trang 31

Với lượng khách dồi dào, bên cạnh việc mang lại hiệu quả kinh tế thì lượng chất thải từ sinh hoạt của khách du lịch ra môi trường cũng rất lớn Với lượng khách du lịch đến Việt Nam ngày càng tăng lên nên tổng lượng thải rắn từ hoạt động du lịch có xu hướng tăng mạnh từ 15.939 tấn (2005) đến hơn 30.000 tấn (2010) Lượng nước thải cũng tăng tương ứng từ 1.538.000m3 lên 3.078.000m3, đặc biệt là ở các trung tâm du lịch như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh, áp lực của chất thải ngày càng lớn, nhất là vào mùa du lịch hoặc thời điểm tổ chức lễ hội hay các sự kiện chính trị, kinh tế - văn hóa - xã hội.

Tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm nước ngầm, đặc biệt là ở khu vực ven biển Cùng với việc gia tăng số lượng du khách, nhu cầu nước cho sinh hoạt cũng tăng nhanh: năm 2000 là 1.977.000m3, năm 2005 là 2.868.000m3 và đến năm 2010 tăng lên 5.425.000m3 Vì vậy trong điều kiện chưa có khả năng điều tra, khai thác thêm các mỏ nước ngầm mới thì việc khai thác quá mức để phục vụ đủ nhu cầu của du lịch sẽ làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm nước ngầm do nhiễm mặn khi áp lực các bể chứa giảm mạnh.19

Môi trường sống có thể bị suy giảm do các hoạt động nghỉ ngơi của du khách Ví

dụ, khi du khách đến tham quan thiên nhiên quá đông có thể gây ra nhiều xáo trộn cho động vật và làm thay đổi các hoạt động tự nhiên của chúng Các cuộc đi săn và truy tìm

đã có những ảnh hưởng xấu đến môi trường sống vì du khách thường gây ra các tiếng

ồn, các chấn động khi họ săn đuổi động vật hoang dại bằng xe ô tô hoặc máy bay Điều này đã gây áp lực lớn lên những thói quen, những hoạt động của động vật và có xu hướng làm biến đổi những thói quen đó

Du nhập các loài ngoại lai xam hại, các loài sinh vật ngoại lai xâm hại được coi là một trong những mối đe doạ nguy hiểm nhất gây tổn thất đa dạng sinh học Sinh vật ngoại lai xâm hại trước hết là những loài không có nguồn gốc bản địa Khi được đưa đến một môi trường mới, các loài ngoại lai có thể không thích nghi được với điều kiện sống và do đó không tồn tại được Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, do thiếu vắng các đối thủ cạnh tranh như ở quê nhà cùng với điều kiện sống thuận lợi, các loài này có điều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh và đến một lúc nào đó phá vỡ cân bằng sinh

19 Xem: vi-moi-truong.html, [Truy cập ngày 07/10/2009].

Trang 32

http://hoaphuongdo.vn/news/cat-ba-24h/phan-tich-va-binh-luan/10942-cat-ba-khach-du-lich-that-kinh-thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại Khách du lịch và các nhà cung cấp dịch vụ có thể là vô ý thức đã mang vào những loài ngoại lai xâm hại (côn trùng, các cây hoang dại, cây trồng và các mầm bệnh).

Ngoài ra, nhiều vấn đề khác liên quan giữa môi trường và phát triển du lịch hiện nay cũng vẫn là những vướng mắc đòi hỏi có sự phối hợp giải quyết của nhiều ngành, nhiều cấp chứ không chỉ riêng ngành du lịch như khai thác thủy hải sản, săn bắt động vật hoang dã để cung cấp thực phẩm đặc sản và đồ lưu niệm, khai thác sử dụng đất hợp

lý các nguồn tài nguyên không tái tạo

2.4 Trách nhiệm pháp lý về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động du lịch phổ biến là các hành vi khai thác, săn bắn trái phép động thực rừng quý hiếm, khai thác trái phép khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, gây ô nhiễm nguồn nước, không khí đất…

Vi phạm pháp luật môi trường trong hoạt động du lịch tùy theo tính chất, mức độ nguy hiễm của hành vi có thể bị xử lý ở các dạng trách nhiệm pháp lý: Trách nhiệm hành chính (áp dụng theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Nghị định số 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch ), Trách nhiệm hình sự (theo các điều 182, 182a, 182b, 190, Bộ luật hình sự năm 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2009 ), Trách nhiệm dân sự (áp dụng theo nghị định số 113/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010 Quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường) Để hiểu rỏ hơn các trách nhiệm pháp lý trên, người viết sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể từng trách nhiệm:

2.4.1 Trách nhiệm pháp lý hành chính

Cơ sở pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường là Nghị định 149/2007/NĐ-CP Ngày 09 tháng 10 năm 2007 của Chính Phủ Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch Theo quy định này:

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a Cảnh cáo

Trang 33

b Phạt tiền

Mức phạt tiền tối đa với một hành vi vi phạm hành chính là 30.000.000 đồng.Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức khác như: Hình thức phạt bổ sung hoặc biện pháp buộc khắc phục hậu quả Đây là những hình phạt mà các tổ chức, cá nhân khi vi phạm pháp luật

du lịch phải chịu

Riêng trong hoạt động du lịch nếu tổ chức cá nhân vi phạm quy định về bảo vệ môi trường thì sẻ bị xử phạt theo Điều 18 Nghị định 149/2007/NĐ-CP Ngày 09/10/2007 Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch cụ thể như sau :

1 Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Không niêm yết nội quy bảo vệ môi trường theo quy định tại nơi dễ quan sát trong cơ sở lưu trú du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, trên phương tiện vận chuyển khách du lịch;

b) Không bố trí phương tiện thu gom, xử lý chất thải tại cơ sở lưu trú du lịch, trên phương tiện vận chuyển khách du lịch, trong khu du lịch, điểm du lịch;

c) Xâm hại đến môi trường sống của các loài động vật hoang dã nơi có tài nguyên du lịch;

d) Chặt phá, bẻ cành hoặc có hành vi khác làm thiệt hại cây xanh, thảm thực vật nơi có tài nguyên du lịch.

2 Đối với hành vi sử dụng trái phép thực vật, động vật hoang dã quý hiếm vào mục đích kinh doanh du lịch thì áp dụng theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản để xử phạt.

3 Hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường không quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường để xử phạt.

4 Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.

Trang 34

5 Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc niêm yết nội quy bảo vệ môi trường theo quy định đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;

b) Buộc bố trí phương tiện thu gom, xử lý chất thải đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

c) Buộc khôi phục tình trạng ban đầu đã bị thay đổi đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.

Sau khi tìm hiểu quy định của pháp luật ta có thể nhận thấy quy định về mức phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm còn ở mức thấp chỉ từ 100 đến 500 ngàn, ngoại trừ khoản 2 và khoản 3 Với mức phạt này trên thực tế so với nguồn tài chính của các cá nhân, tổ chức thì tương đối thấp, nên không mang tính răn đe và phòng ngừa cao Vì vậy vấn đề đặt ra là phải điều chỉnh hình phạt ở mức cao hơn, góp phần làm cho các tổ chức cá nhân có ý thức hơn về bảo vệ môi trường

2.4.2 Trách nhiệm pháp lý hình sự

So với các hình thức xử lý khác thì xử lý trách nhiệm hình sự là hình thức xử phạt nặng nhất Các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo pháp luật hình sự chính là các tội phạm về môi trường Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức

độ cao, được quy định trong bộ luật hình sự và người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, đó là hình phạt

Hình phạt được áp dụng với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật hình sự về

môi trường được quy định thành ba hình phạt chính đó là: Phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù Ngoài ra, còn có hai hình phạt bổ sung là phạt tiền và cấm đảm

nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009 thì các tội phạm về môi trường có liên quan đến hoạt động du lịch chủ yếu tập chung ở các

ở các tội như: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182); Tội vi phạm quy định về quản

lý chất thải nguy hại (Điều 182a); Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190) Tùy theo mức độ vi phạm của tội phạm thì sẻ có các khung hình phạt khác nhau Vì đề tài này không tập trung vào trách nhiệm pháp lý nên người viết sẻ tóm gọn phần hình phạt ở các tội vừa nêu như sau:

Trang 35

- Về hình phạt tù: Các tội danh của các điều luật trên điều quy định mức phạt tù

từ 6 tháng (mức tối thiểu của khoản 1) đến 10 năm (mức tối đa của khoản 3).

- Về hình phạt tiền: Với tư cách là hình phạt chính, mức phạt tiền được quy định ở

các điều luật này là từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng.

- Về hình phạt cải tạo không giam giử: Ngoài hình phạt tiền, các điều luật điều có

quy định hình phạt cải tạo không giam giữ từ 2 năm đến 3 năm.

- Về hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung: Trong trường hợp xét thấy

hình phạt tù vẫn chưa thỏa đáng để đạt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội, thì các điều luật cho phép áp dụng thêm hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung

mức phạt từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

- Về cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định: Tất cả

các điều luật vừa nêu trên điều có quy định hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức

vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm để áp dụng với người phạm tội trong trường hợp xét thây nếu để họ tiếp tục giữ chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc liên quan thì có nguy cơ họ sẻ tiếp tục gây nguy hại cho môi trường

Với những hình phạt như thế có thể được xem là đủ để mang tính răng đe đối với các đối tượng vi phạm về môi trường trong hoạt động du lịch Nhưng trên thực tế những hình phạt này chưa áp dụng vào thực tế được vì đa số các đối tượng vi phạm về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch là pháp nhân, nhưng luật hình sự quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân Nên trên thực tế không truy cứu được các đối tượng vi phạm về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch Mặt khác Bộ luật Hình Sự vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về 3 mức độ là “gây hậu quả nghiêm trọng”,

“gây hậu quả rất nghiêm trọng” và “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” của tội phạm môi trường trong hoạt động du lịch, nên gây khó khăn cho quá trình xét sử

2.4.3 Trách nhiệm pháp lý dân sự

Các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường theo quy định của pháp luật dân sự

là những hành vi gây tổn hại tới môi trường, không tuân theo sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi có sự cố môi trường, vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, gây tác hại cho cá nhân, tổ chức hay cộng đồng Theo

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w