1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP THỪA kế THEO PHÁP LUẬT từ bộ LUẬT dân sự 1995 đến bộ LUẬT dân sự 2005

104 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống xuất hiện trong thời kì sơ khai của xã hội loài người, thì việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống ñựơ

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

TỪ BỘ LUẬT DÂN SỰ 1995 ðẾN BỘ LUẬT DÂN

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC

Lời mở ñầu trang 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG ðIỂM GIỐNG NHAU CỦA CHẾ ðỊNH

THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TỪ BLDS 1995 ðẾN BLDS 2005 3

Mục 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1 Các khái niệm 3

1.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật .3

1.2 Khái niệm di sản thừa kế .4

2 Mở thừa kế 5

2.1 Thời ñiểm mở thừa kế .5

2.2 ðịa ñiểm mở thừa kế .7

3 Các trường hợp thừa kế theo pháp luật 8

3.1 Các trường hợp cụ thể .8

3.2 Những trường hợp không ñược thừa kế theo pháp luật 10

4 Chủ thể của quan hệ thừa kế theo pháp luật 13

4.1 ðiều kiện chung .13

4.2 ðiều kiện riêng 14

Mục 2: NHỮNG ðIỂM GIỐNG NHAU .15

1.Thứ tự người thừa kế theo pháp luật 15

1.1 Sơ lược nguồn gốc quy ñịnh 15

1.2 BLDS 2005 kế thừa những giải pháp chưa hợp lý chưa khoa học của thứ tự người thừa kế theo pháp luật 17

1.3 Căn cứ xác lập quan hệ thừa kế theo pháp luật 23

1.4 Thiết lập quan hệ thừa kế theo chiều dọc 27

2 Quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa những người có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng 29

2.1 Căn cứ xác lập quan hệ nuôi dưỡng 29

2.2 Hai tình trạng pháp lý khác nhau giữa người nuôi và người ñựơc nuôi 32 2.3 Vấn ñề thừa kế thế vị của con nuôi 34

2.4 Quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa bố dượng (mẹ kế) với con riêng thiết lập một tình trạng pháp lý tương tự như cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi .37

3 Quyền thừa kế theo pháp luật của vợ, chồng ñã chia tài sản chung 44

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3.1 Cơ sở quyền thừa kế giữa vợ chồng 44

3.2 Quyền thừa kế của vợ, chồng ñã chia tài sản chung 45

3.3 Quyền thừa kế của vợ chòng ñang xin ly hôn hoặc ñã kết hôn với người khác 46

Mục 3: THỰC HIỆN QUYỀN HƯỞNG DI SẢN 50

1 Chuyển giao và quản lý di sản 50

1.1 BLDS 2005 kế thừa một cách trung thực những “câu chữ chết” của chế ñịnh chuyển giao di sản .50

1.2 Tính chất không bắt buộc của chuyển giao di sản 56

2 Thanh toán và phân chia di sản theo pháp luật 55

2.1 Phân chia di sản theo pháp luật 56

2.2 Thanh toán tài sản nợ .58

2.3 Thiết lập một chế ñịnh chung về phân chia di sản: “Chế ñộ sở hữu chung theo ph ần” .62

CHƯƠNG 2: NHỮNG ðIỂM KHÁC NHAU CỦA CHẾ ðỊNH THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TỪ NĂM 1995 ðẾN 2005 64

Mục 1: GIẢI PHÁP BỔ SUNG NGƯỜI THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT: CHÁU Ở VỊ TRÍ HÀNG THỪA KẾ THỨ HAI, CHẮT Ở HÀNG THỪA KẾ THỨ BA 64 1 Giải pháp của luật 1995 kết hợp kỹ thuật thừa kế thế vị với việc không quy ñịnh cháu, chắt ñựơc thừa kế theo hàng .64

1.1 Ưu ñiểm 64

1.2 Khuyết ñiểm 64

2 BLDS 2005 kết hợp kỹ thuật thừa kế thế vị và cháu, chắt ở hàng thừa kế thứ hai, thứ ba 65

2.1 Tính ưu việt của giải pháp bổ sung người thừa kế theo hàng 65

2.2 Khuyết ñiểm 67

3 Giải pháp so sánh một chế ñịnh trong hai bộ luật tạo một bước tiến trong nền lập pháp Việt Nam 68

Mục 2: THỪA KẾ THẾ VỊ 72

1 Sơ lược về chế ñịnh thừa kế thế vị .72

1.1 Những trường hợp thế vị 72

1.2 Những trường hợp không ñựơc thừa kế thế vị 74

2 ðiểm khác nhau của giải pháp bổ sung cụm từ “chết trước hoặc cùng thời ñiểm với người có di sản” 75

2.1 Giải pháp của luật 1995 và thực trạng pháp lý .75

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.2 Giải pháp của luật 2005 giải quyết thoả ñáng quyền thừa kế thế vịcủa cháu, chắt 76

3 Những suy nghĩ 77

Mục 3: PHÂN CHIA DI SẢN LÀ QUYỀN TÀI SẢN 81

1 Phân chia di sản mà tài sản là quyền sử dụng ñất một trường hợp cụ thể của phân

chia di sản là các quyền tài sản .81

1.1 Sơ lược về quyền sử dụng ñất 81

1.2 Phân chia quyền sử dụng ñất 83

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI MỞ DẦU

Pháp luật về thừa kế là một chế định hết sức quan trọng trong Bộ luật dân sự

Thừa kế nĩi chung và thừa kế theo pháp luật nĩi riêng đã gĩp phần quan trọng trong

việc ổn định và phát triển đời sống xã hội Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế

cĩ mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội lồi người Qua nhiều

giai đoạn phát triển khác nhau thì nội hàm của khái niệm “thừa kế theo pháp luật”

khơng cịn bĩ hẹp trong phạm vi thuần tuý là: Di chuyển di sản thơng thường của người

chết để lại cho những người cùng huyết thống Hơn mười năm qua (từ năm 1995 đến

nay), cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển ngày càng phát triển

ngày càng đa dạng các quan hệ xã hội Từ đĩ, tranh chấp về thừa kế theo pháp luật nĩi

riêng và thừa kế nĩi chung ngày càng phức tạp về nội dung Giá trị của “di sản” khơng

cịn là những tài sản thơng thường phục vụ cho sinh hoạt tiêu dùng mà là quyền tài sản

như: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, cổ phần, cổ phiếu, trang trại,

doanh nghiệp…Trước tình hình cấp thiết trên Bộ luật dân sự 1995 ra đời vừa kế thừa

những nội dung phù hợp của pháp lệnh thừa kế 1990 vừa bổ sung những nội dung mới

của thừa kế, cũng với xu hướng đĩ Bộ luật dân sự 2005 cũng ra đời nhằm để hồn thiện

thêm chế dịnh thừa kế nĩi chung và thừa kế theo pháp luật nĩi riêng Với sự mới mẽ và

nĩng bỏng của đề tài nghiên cứu “Chế định thừa kế theo pháp luật từ Bộ luật dân sự

1995 đến Bộ luật dân sự 2005”người viết nhận thức được cĩ sự cần thiết phải cĩ một

đề tài nghiên cứu khoa học để làm sáng tỏ những vướng mắc khơng phù hợp của Bộ luật

dân sự 1995; cũng như những nội dung mới nhằm hồn thiện chế định thừa kế theo pháp

luật trong bộ luật dân sự 2005 ðồng thời, Bộ luật dân sự 2005 đã ra đời và đi vào thực

tiễn hơn một năm, liệu chế định thừa kế theo pháp luật đã thật sự hồn thiện hay chưa

trong khi nĩ đang bị chi phối bởi những quy định pháp luật khác cĩ liên quan đang

khơng ngừng đổi mới?

Thừa kế theo pháp luật là một chế định pháp lý cần thiết để bảo tồn và gia tăng tích luỷ của cải xã hội, trong điều kiện nĩ được coi là một phương thức để xác lập quyền

sở hữu của cá nhân Nĩ thể hiện giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp từ lâu đời của dân

tộc ta đĩ là giữ gìn và phát huy truyền thống đồn kết tương thân, tương ái giữa các thành

viên trong gia đình Qua đĩ, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của xã hội Tuy

nhiên, những cơng trình nghiên cứu khoa học về thừa kế theo pháp luật là khơng nhiều,

cũng khơng tập trung thành một hệ thống mà rải rác trong các sách bình luận Bộ luật dân

sự, trong những quyển hỏi đáp pháp luật về thừa kế với tính chất riêng lẽ của từng vấn đề

nhỏ Do đĩ, người viết lựa chọn và thực hiện đề tài này với mục đích: Cĩ thể khái quát

được những vấn đề chủ yếu của chế định thừa kế theo pháp luật, đặt các khái niệm và các

vấn đề cĩ liên quan của nĩ vào trong một hệ thống khoa học, qua đĩ hình thành được tập

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hợp các kiến thức chíng xác về chế ñịnh thừa kế theo pháp luật, giúp cho việc tìm hiểu

vận dụng nó trên thực tế ñược dể dàng và ñúng ñắn

Trong quá trình nghiên cứu người viết sử dụng chủ yếu các phương pháp phân tích câu chữ kết hợp với so sánh ñối chiếu ñể làm nổi bật ñề tài Bên cạnh ñó, người viết

còn sử dụng phương pháp nghiên cứu luật viết và phương pháp suy luận duy vật biện

chứng ñể nắm bắt nội dung những khái niệm, những quy ñịnh pháp luật có liên quan, vận

dụng những quy ñịnh ñó vào những giả thiết khác nhau, những trường hợp cụ thể ðể có

thể lý giải các vấn ñề và phối hợp vận dụng linh hoạt các quy ñịnh pháp luật có liên quan,

ñể giải quyết vấn ñề phức tạp mà chỉ dựa vào một quy ñịnh duy nhất về quyền thừa kế

theo pháp luật hoặc chỉ bám sát vào câu chữ của ñiều luật thì không thể ñạt ñược một kết

quả thoả ñáng Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này người viết chỉ dừng lại ở việc vận

dụng những “công cụ pháp lý” có sẳn trong thừa kế theo pháp luật hiện hành ñể giải

quyết và lý giải vấn ñề và rất hạn chế trong việc ñưa ra những kiến nghị mới ñể hoàn

thiện hệ thống quy ñịnh pháp luật ðiều này xuất phát từ khả năng người viết chưa thể

khái quát cao nhiều mặt khác nhau của vấn ñề Vì vậy, người viết cũng rất hạn chế trong

việc ñưa ra những giải pháp mới ñể tránh trường hợp ñưa ra giải pháp thiếu tính khái quát

và làm nảy sinh mâu thuẩn trong việc giải quyết nhiều mặt khác nhau của vấn ñề Bên

cạnh ñó, còn có nguyên nhân khách quan là trong quá trình thực hiện ñề tài rất ít thu hút

ñược sự chú ý của những nhà làm luật, nên người viết cũng gặp rất nhiều khó khăn trong

việc sưu tầm các tài liệu tham khảo các ý kiến khác nhau của những nhà nghiên cứu

trước Do ñó, phạm vi luận văn không ñược mở rộng mà người viết chỉ tập trung nghiên

cứu và so sánh những vấn ñề cơ bản của chế ñịnh thừa kế theo pháp luật từ Bộ luật dân

sự 1995 ñến Bộ luật dân sự 2005 (sau ñây viết tắt là BLDS)

Theo ñó nội dung luận văn chia thành hai chương:

CHƯƠNG 1: NHỮNG ðIỂM GIỐNG NHAU CỦA CHẾ ðỊNH THỪA KẾ THEO

PHÁP LUẬT TỪ BỘ LUẬT DÂN SỰ 1995 ðẾN BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

CHƯƠNG 2: NHỮNG ðIỂM KHÁC NHAU CỦA CHẾ ðỊNH THỪA KẾ THEO

PHÁP LUẬT TỪ BỘ LUẬT DÂN SỰ 1995 ðẾN BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

Kết luận: Trong phạm vi luận văn người viết không tham vọng rằng sẽ tìm hiểu

một cách ñầy ñủ và toàn diện tất cả những vấn ñề của thừa kế theo pháp luật Song, người

viết cố gắng trong khả năng của mình ñưa ra các lý giải cho nhiều vấn ñề khác nhau có

thể xảy ra trên thực tế Từ ñó, chỉ ra ñược những ưu ñiểm cũng như khuyết ñiểm của các

quy ñịnh pháp luật hiện hành Qua ñó, nhằm ñưa ra những hiểu biết cơ bản nhất về chế

ñịnh thừa kế theo pháp luật và hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật

ðể làm rõ khái niệm thừa kế theo pháp luật trước hết phải làm rõ từng câu chữ

trong khái niệm ñó Theo nghĩa thông thường thì “thừa” và “kế” ñiều có nghĩa là tiếp

nối tiếp tục Do ñó, thừa kế theo nghĩa thông thường ñựơc hiểu là người sống thừa hưởng

di sản của người ñã qua ñời việc thừa kế chỉ ñựơc thực hiện khi người có di sản chết

Với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống xuất hiện trong thời kì sơ khai

của xã hội loài người, thì việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những

người còn sống ñựơc tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống; theo những phong tục tập

quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc

Với ý nghĩa là một quan hệ pháp luật dân sự trong ñó chủ thể của quan hệ thừa kế

bao gồm: Người ñể lại di sản, người ñựơc hưởng di sản gọi là người thừa kế Trong ñó,

người ñể lại di sản chỉ có thể là cá nhân mà không bao giờ là cơ quan, tổ chức Vì chế

ñịnh thừa kế theo pháp luật ñựơc thiết lập trên một nền tảng của các mối quan hệ ñặc

trưng của con người và chỉ có con người mới thoả mãn các quy ñịnh này như là: Các

quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống… ðiều này không thể diễn ra ñối với một chủ

thể không phải là con người Trong phạm vi luận văn này, người viết chỉ nghiên cứu

khái niệm thừa kế với ý nghĩa của một quan hệ pháp luật dân sự Qua những ñặc ñiểm

nêu trên có thể ñịnh nghĩa thừa kế như sau: “Thừa kế là một chế ñịnh pháp luật dân sự,

t ổng hợp các quy phạm pháp luật ñiều chỉnh sự chuyển dịch tài sản của người chết cho

ng ười khác theo một trình tự thủ tục nhất ñịnh; ñồng thời quy ñịnh phạm vi quyền, nghĩa

v ụ và phương thức ñể bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.” Như vậy, có thể

khẳng ñịnh rằng thừa kế theo pháp luật là một bộ phận của chế ñịnh thừa kế Trong ñó, di

sản của người chết sẽ ñựơc di chuyển cho người thân thiết của họ theo từng trình tự, thủ

tục mà các nhà làm luật ñã sắp xếp Thoả các ñiều kiện này mới trở thành người thừa kế

theo pháp luật Theo ñó, khái niệm thừa kế theo pháp luật ñựơc ñịnh nghĩa như sau:

“Th ừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, và trình tự thừa kế theo luật

ñịnh.”(1)

(1) BLDS 2005-NXB chính trị quốc gia-năm 2006, ñiều 634

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.2 Khái niệm di sản thừa kế

Về mặt câu chữ thì khái niệm ựựơc ghi nhận trong ựiều 634 BLDS 2005 ngắn

gọn hơn, và bỏ hẳn ựi khoản 2 ựiều 637 của Bộ luật dân sự 1995 Và ựều này có thể trở

thành một ựiểm khác Nhưng về mặt pháp lý hai quy ựịnh này có chung một giải pháp Vì

quyền sử dụng ựất cũng là một quyền tài sản Với ựịnh nghĩa tài sản ựựơc nêu tại ựiều

172 BLDS 1995, ựiều 163 BLDS 2005 thì tài sản bao gồm: ỘVật có thực, giấy tờ trị giá

ựựơc bằng tiền và các quyền tài sản.Ợ Mà di sản là những tài sản của người chết ựể lại

cũng bao gồm những tài sản trên và các nghĩa vụ tài sản do người chết thiết lập lúc còn

sống Theo ựó, di sản ựựơc ựịnh nghĩa: ỘDi sản gồm tài sản riêng của người chết, phần

tài s ản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.Ợ

Ấn ựịnh các tài sản thuộc khối di sản:

* Phần tài sản riêng của người thừa kế

Tài sản riêng của người chết ựể lại bao gồn thu nhập hợp pháp, như tiền lương,

tiền nhuận bút, tiền trúng thưởng xổ sốẦ tài sản ựựơc tặng cho riêng, ựựơc thừa kế, tư

liệu sinh hoạt riêng, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn dùng ựể kinh doanh

* Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác

Trong thực tế có nhiều trường hợp có nhiều người cùng hợp tác kinh doanh

chung Nên những người này trở thành chủ sở hữu chung Nếu có một người chết thì

phần tài sản thuộc sở hữu của người ựó ựã ựóng góp trong khối tài sản chung Khác với

hình thức sở hữu chung theo phần thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp

nhất.(2) Nếu như vợ hoặc chồng chết trước thì 1/2 khối tài sản chung ựi vào di sản của

người chết

* Quyền về tài sản do người chết ựể lại

đó là các quyền dân sự ựựơc phát sinh từ các giao dịch có ựền bù do người có di

sản thiết lập như quyền ựòi nợ: đòi lại tài sản cho thuê, hoặc cho mượn, chuộc lại tài sản

ựã thế chấpẦhoặc do các quan hệ bồi thường thiệt hại trong hoặc ngoài hợp ựồng do

người chết bị người khác gây thiệt hại khi còn sống nhưng chưa kịp ựòi thì ựã chết Bên

cạnh các quyền thì các nghĩa vụ tài sản do người chết ựể lại cũng nằm trong khối di sản

Quy ựịnh này thiết lập trên nguyên tắc Ộcó quyền thì có nghĩa vụỢ (trừ trường hợp ựựơc

di tặng) như: Các nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do người chết gây ra cho

người khácẦ

Nhưng cần lưu ý rằng không phải tất cả các quyền tài sản ựiều ựựơc ựể lại thừa kế

Một số quyền tài sản như quyền cấp dưỡng, lương hưu, chắnh sách ưu ựãi người có công

(2) BLDS năm 2005-NXB chắnh trị quốc gia-năm 2006, ựiều 219

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

với cách mạng, quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc,…Tất cả các quyền

tài sản gắn với nhân thân của người cĩ di sản thì khơng đựơc chuyển giao tồn bộ quyền

đĩ Nếu cĩ chuyển giao cũng chính là phần đáng lẽ ra người này đựơc nhận những chưa

kịp nhận thì người này chết Ví dụ như ba tháng lương hưu chưa kịp lãnh…

Bên cạnh đĩ, các khoản tiền bảo hiểm như: Bảo hiểm nhân thọ mà người mua bảo

hiểm khơng nĩi rõ ai là người thụ hưởng, khi người đựơc bảo hiểm chết thì số tiền bảo

hiểm đĩ cũng đi vào di sản của người mua bảo hiểm Các hành khách đi trên các phương

tiện cĩ bảo hiểm khi các phương tiện này bị rủi ro thì khoản tiền bồi thường đĩ thuộc di

sản của hành khách

2 Mở thừa kế

2.1 Thời điểm mở thừa kế

Việc xác định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng, vì từ thời điểm đĩ xác định

được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản gồm những

gì; đề phịng tình trạng tài sản đĩ cĩ thể bị người khác phân tán hoặc chiếm đoạt Ngồi

ra, thời điểm mở thừa kế cịn là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết

Vì người thừa kế phải là người cịn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và cịn

sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

Do đĩ, điều 633 BLDS 2005 (điều 636 BLDS 1995) quy định: “Thời điểm mở

th ừa kế là thời điểm người cĩ tài sản chết Trong trường hợp Tồ án tuyên bố một người

ch ết thì thời điểm mở thừa kế là ngày xác định theo quy định của BLDS về chế định pháp

lý c ủa người bị tuyên bố chết” (tại khoản 2 điều 91 BLDS 1995, khoản 2 điều 631 của

BLDS 2005)

Quy định của Việt Nam chỉ cho phép thừa kế trong trường hợp bị tuyên bố chết

Riêng đối với luật của Pháp, cĩ thể cho phép mở thừa kế nếu cĩ người bị tuyên bố mất

tích Theo quy định của BLDS Pháp thì một người biến mất khỏi nơi cư trú thì bị suy

đốn là bị mất tích Nếu như sau mười năm, sau khi cĩ bản án suy đốn mất tích mà

đương sự vẫn khơng cĩ tung tích gì, thì Tồ án sẽ lên bản án tuyên bố mất tích Trong

trường hợp khơng cĩ bản án suy đốn mất tích, thì bản án tuyên bố mất tích sẽ được thực

hiện sau 20 năm đương sự biến mất khỏi nơi cư trú.(3) Cịn việc tuyên bố chết chỉ được

thực hiện khi người đĩ đã biến mất trong những hồn cảnh cĩ tính chất đặt sinh mạng của

đương sự vào tình trạng nguy hiểm, mà khơng tìm thấy thi thể.(4) Ví dụ như: Một hành

khách đi máy bay dân dụng nhưng khơng rõ tung tích sau 3 tháng kể từ ngày máy bay đĩ

(3) BLDS Pháp-NXB Tư pháp-năm 2005, điều 122

(4) BLDS Pháp, điều 88 đoạn 1

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không có tung tích gì.(5) Và việc tuyên bố một người chết có thể thực hiện bởi bất kì

người nào có liên quan

Như vậy, hai chế ñịnh tuyên bố mất tích và tuyên bố chết của Việt Nam và Pháp là

không khác nhau về bản chất pháp lý mà chỉ khác về mặt tên gọi Trong luật Pháp gọi là

mất tích thì trong luật Việt Nam là tuyên bố chết và hệ quả về mặt tài sản là như nhau

Bằng chứng của sự chết trong luật Việt Nam ñược xác ñịnh theo hai cách ðối với

trường hợp chết tự nhiên thì căn cứ vào giấy khai tử về giờ, tháng, năm từ trần của người

quá cố; riêng ñối với trường hợp cái chết pháp lý: Tức là người bị tuyên bố chết theo yêu

cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, do Toá án nơi người có di sản cư trú xác

ñịnh tuỳ theo tính chất của từng vụ việc khác nhau mà thời ñiểm mở thừa kế không giống

nhau ðược xác ñịnh là ngày, tháng mà bản án liên quan có hiệu lực pháp luật

Việc xác ñịnh thời ñiểm mở thừa kế có tầm quan trọng trong việc xác ñịnh người

thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên theo quy ñịnh của hai ñiều luật giống nhau trong BLDS

1995 và 2005 về thời ñiểm mở thừa kế là chưa chặt chẽ Theo ñó thì thời ñiểm mở thừa

kế ñược xác ñịnh theo giây, phút, giờ, ngày hay tháng ? Theo tinh thần của quy ñịnh 633

khoản 1 thì thời ñiểm thừa kế ñược xác ñịnh theo ngày ðể làm rõ tầm quan trọng của

vấn ñề trên ta xét ví dụ sau: Ông A có hai người con là X và Y vào lúc 20 giờ ngày 30

tháng 4 năm 2007 ông A chết ðến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì X chết Nếu thời ñiểm

mở thừa kế là theo phút thì X sẽ ñược thừa kế phần của A và con, cháu, chắt của X cũng

ñược thế vị ông Nếu thời ñiểm mở thừa kế là ngày thì A và X không có quyền hưởng di

sản của nhau vì X chết cùng ngày, cùng giờ với A hay gọi là chết cùng thời ñiểm Do ñó,

không có chuyện thừa kế theo pháp luật giữa A và X Cho nên, Y và con, cháu, (chắt) của

Y nhận trọn di sản của A (nếu có thừa kế thế vị) Thế nhưng, thời ñiểm mở thừa kế tính

theo phút, giờ, ngày thì X và con, cháu (chắt) của X cũng có phần trong di sản ñó là phần

1/2 di sản Theo quy ñịnh của luật hiện hành thì X và con của X bị loại trừ khỏi di sản

của A ðiều này thật không hợp lý, vì cùng là con cũng là cháu, chắt nhưng người thì

ñược thừa kế người thì không; và suy cho cùng thì việc chết cùng thời ñiểm là không có

lỗi Do vậy, cần có một hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền ñể tránh tình trạng

bỏ lọt quyền thừa kế của những người thân thuộc của người chết lẽ ra phải ñược nhận

một phần hay toàn bộ di sản, thì di sản lại chuyển cho người khác hoặc thuộc sở hữu nhà

nước (nếu người chết cùng thời ñiểm với người có di sản là người thừa kế duy nhất)

Bên cạnh ñó, thời ñiểm mở thừa kế cũng có ý nghĩa quan trọng về mặt thời hiệu,

thời hạn như: Thời hạn từ chối nhận di sản, thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

(5) Luật hàng không dân dụng Pháp ñiều L - 142-3

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.2 ðịa điểm mở thừa kế

Trong suốt cuộc đời một người cĩ thể cư trú rất nhiều nơi khác nhau và cĩ thể nơi

người đĩ chết cũng khơng phải là nơi người chết cư trú Việc xác định nơi cư trú của

người để lại di sản cĩ liên quan đến các vấn đề sau:

-Xác định nơi quản lý di sản, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết cấp bách

để ngăn chặn các hành vi phân tán hoặc chiếm đoạt tài sản trong khối di sản;

- Xác định nơi thanh tốn và phân chia di sản;

- ðây cũng là nơi thực hiện các thủ tục từ chối nhận di sản;

- ðặc biệt quan trọng hơn địa điểm mở thừa kế cũng là nơi xác định Tồ án cĩ

thẩm quyền giải quyết nếu cĩ tranh chấp về thừa kế

Về phần thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế của Tồ án trong luật Việt Nam

khơng xác định thẩm quyền theo lãnh thổ Và thực tiễn tư pháp chấp nhận điều này như

một thơng lệ Do vậy việc quy định về địa điểm mở thừa kế là khơng thể thiếu ðiều 632

khoản 2 quy định “ðịa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản

N ếu khơng xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi cĩ tồn bộ

ho ặc phần lớn di sản.” Nơi mở thừa kế được xác định là nơi cư trú cuối cùng; vì cĩ thể

nơi đây là nơi tập trung các giao dịch dân sự của người để lại di sản khi cịn sống hoặc

phát sinh quyền và các nghĩa vụ tài sản của người đĩ, nơi người đĩ thực hiện các quyền

và nghĩa vụ tài sản Vì vậy, đĩ là nơi thuận tiện cho việc xác định và phân chia di sản

ðiều này khơng dựa vào một cơ sở vững chắc mà chỉ được suy đốn và nĩ cũng được

chấp nhận trong thực tiễn Vì trên thực tế cũng cĩ trường hợp nơi cư trú cuối cùng khơng

hẳn là nơi cĩ nhiều giao dịch di sản hay cĩ nhiều tài sản

Khác với luật Việt Nam trong luật của Pháp xác định thời điểm mở thừa kế theo

hai tiêu chuẩn: Nơi mở thừa kế là nơi người chết và tại nơi cư trú cuối cùng của người để

lại di sản.(6) Theo cách này thì khĩ cĩ thể xác định đựơc nếu một người chết khơng phải

tại nơi mà mình cư trú thì thời điểm thừa kế khĩ cĩ thể xác định đựơc Việc xác định thời

điểm mở thừa kế trong luật Việt Nam là hợp lý, phù hợp với thực tiễn Trước đây, trong

bối cảnh đất nước bị chia cắt do chiến tranh và hiện tại đời sống nhân dân cịn chưa cao;

nên cĩ rất nhiều người rời khỏi nơi cư trú và đi nhiều nơi để tìm cách mưu sinh Cho nên,

cĩ nhiều nơi cư trú khác nhau Do vậy, quy định về việc mở trong luật Việt Nam rất linh

hoạt và dễ xác định

(6) BLDS Pháp-NXB Tư pháp-năm 2005, điều 720

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3 Các trường hợp thừa kế theo pháp luật

3.1 Các trường hợp cụ thể

Các trường hợp thừa kế theo pháp luật được thiết lập trên việc suy đốn khơng cĩ

thừa kế theo di chúc hoặc cĩ di chúc nhưng di chúc khơng định đoạt tồn bộ di sản, quy

định này thiết lập nên một chế định thừa kế theo pháp luật Tức là trong nhiều trường hợp

thì di chúc được tơn trọng nếu như di chúc khơng lạm quyền và hợp pháp, thì di chúc

được tơn trọng hồn tồn và loại hẳn thừa kế theo pháp luật Pháp luật chỉ can thiệp trong

trường hợp người cĩ di sản vi phạm quyền thừa kế của các chủ thể được pháp luật bảo vệ

bằng một chế định thừa kế bắt buộc (quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di

chúc) hoặc di chúc vi phạm các điều kiện luật định làm cho di chúc khơng thể áp dụng và

khơng cĩ hiệu lực về mặt pháp lý Theo đĩ, việc thừa kế theo pháp luật được luật suy

đốn gồm các trường hợp sau:

* Trong tr ường hợp khơng cĩ di chúc hoặc di chúc khơng hợp pháp

Khơng cĩ di chúc được xác định trong nhiều trường hợp như người chết thật sự

khơng lập di chúc, hay trường hợp cĩ di chúc nhưng di chúc lại là giã thì điều này khơng

thể xác định là cĩ di chúc nhưng khơng hợp pháp, mà là khơng cĩ di chúc Trường hợp

người chết để lại di sản cĩ lập di chúc nhưng trước khi chết người này xé bỏ di chúc hoặc

tuyên bố huỷ di chúc đã lập cũng được coi là khơng cĩ di chúc Cũng được coi là khơng

cĩ di chúc khi người chết cĩ để lại di chúc nhưng di chúc bị hư hại đến mức khơng thể

thực hiện đầy đủ ý chí của người của người lập di chúc, và cũng khơng thể chứng minh

được ý nguyện đích thực của người lập di chúc Trường hợp này tồn bộ di sản được chia

theo quy định pháp luật

Một di chúc chúc như thế nào mới được xem là hợp pháp ? Trả lời câu hỏi này sẽ

giải đáp được trường hợp di chúc khơng hợp pháp Di chúc hợp pháp được xác định theo

điều điều kiện của điều 652 BLDS 2005 (điều 655 BLDS 1995) Di chúc được coi là bất

hợp pháp sẽ khơng cĩ hiệu lực Riêng di chúc khơng hợp pháp được xem xét ở hai trường

hợp: Di chúc vơ hiệu một phần hay tồn bộ

- Di chúc bị coi là vơ hiệu tồn phần khi di chúc được lập trong tình trạng khơng

minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc; khơng phải ý nguyện đích thực của người

lập, di chúc do người dưới 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi lập ra mà khơng cĩ sự đồng ý

của cha, mẹ hoặc người giám hộ Nĩi tĩm lại, một di chúc gọi là vơ hiệu tồn bộ nếu như

tồn bộ nội dung của nĩ trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

- Di chúc vơ hiệu một phần nếu nội dung nĩ cĩ một phần khơng hợp pháp, phần

hợp pháp vẫn cĩ giá trị Trong trường hợp này phần di sản cĩ liên quan đến di chúc cĩ

hiệu lực thì vẫn được giải quyết theo di chúc phần cịn lại được chia theo pháp luật

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* Áp dụng thừa kế theo pháp luật ñối với phần di sản ñược ñịnh ñoạt trong di

chúc

ðiều này thật dễ hiểu, di chúc không ñịnh ñoạt toàn bộ di sản trong di chúc thì

phần còn lại sẽ ñược di chuyển theo pháp luật Nếu một người ñã ñược thừa kế theo di

chúc nhưng cũng nằm trong hàng thừa kế ñược gọi lên ñể nhận di sản thì vẫn ñược nhận

phần theo pháp luật ðiều này cho phép có sự cạnh tranh công bằng giữa những người

thừa kế ñể nhận phần nhiều dựa vào sự thương yêu của người có di sản

* Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật ñối với người thừa kế theo di chúc

nhưng không ñược hưởng di sản theo di chúc

Ở phần này có hai dạng người không ñược hưởng thừa kế theo di chúc: Người

không có quyền hưởng di sản do vi phạm pháp luật nên dẫn ñến không có quyền hưởng

di sản và người thừa kế theo di chúc không tồn tại vào thời ñiểm mở thừa kế

ðối với dạng không tồn tại ở thời ñiểm mở thừa kế có ba chủ thể là cơ quan, tổ

chức và cá nhân Một cơ quan, tổ chức ñược xem là không tồn tại ở thời ñiểm mở thừa kế

nếu như tổ chức ñó chấm dứt hoạt ñộng, không còn tồn tại về mặt pháp lý như: Phá sản,

giải thể, sáp nhập, hợp nhất, bị thay thế bằng một tổ chức khác…Nếu như di chúc ñịnh

ñoạt toàn bộ hoặc một phần di sản cho tổ chức này, nhưng ñến thời ñiểm mở thừa kế mà

tổ chức này không tồn tại, thì phần ñược ñịnh ñoạt trong di chúc sẽ ñược chuyển giao cho

người thừa kế theo pháp luật của người có di sản

Nhưng ñối với cá nhân lại có hai dạng không ñược hưởng thừa kế theo di chúc:

Thứ nhất là chết trước hoặc cùng thời ñiểm với người có di sản Ở ñây không ñặt ra vấn

ñề thừa kế thế vị ñối với người thừa kế theo di chúc Như ñã phân tích trên, thì ñây là

phần gắn liền với nhân thân của người ñược dành phần thương yêu của người có di sản

Trong mô hình thừa kế theo pháp luật mà Việt Nam ñã lựa chọn, thì lợi ích của gia ñình

là không kém phần quan trọng Do vậy, việc thế vị ñối với người thừa kế theo di chúc

cũng không ñặt ra; Thứ hai là người có hành vi của ñiều 646 BLDS 1995 (643 BLDS

Nếu tất cả những người ñiều không có quyền hưởng di sản thì phần di chuyển theo

di chúc sẽ di chuyển theo pháp luật

* Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật trong trường hợp có người từ chối nhận

di sản theo di chúc

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong trường hợp có người thừa kế theo di chúc từ chối nhận di sản theo di chúc

thì phần tài sản liên quan ñến họ sẽ di chuyển theo pháp luật Cần lưu ý là trong thực tế

có người vừa là người thừa kế theo di chúc chúc vừa là người thừa kế theo pháp luật Cho

nên, phần từ chối theo di chúc không ảnh hưởng gì ñến quyền thừa kế theo pháp luật của

người ñó Việc từ chối của người này cũng không ảnh hưởng ñến phần quyền của người

khác Nói cách khác, thì việc từ chối chỉ có hiệu lực với chính bản thân người ñó và chỉ

có hiệu lực ñối với phần bị từ chối

3.2 Các trường hợp không ñược thừa kế theo pháp luật

Các trường hợp không ñựơc thừa kế trong luật của Pháp ñựơc chia thành nhiều

dạng khác nhau: Người bị tước quyền hưởng di sản và người không xứng ñáng, người bị

truất quyền hưởng di sản Nhưng trong luật của Pháp lại cho phép người không xứng

ñáng hưởng thừa kế trong vài trường hợp Tuy luật Việt Nam quy ñịnh về trường hợp

không ñựơc quyền hưởng di sản chỉ mang tính chất tương ñối nhưng việc cho phép một

người có hành vi vi phạm ñạo ñức, vi phạm pháp luật nhận di sản thừa kế như trong luật

của Pháp là ñiều không ñương nhiên ñựơc chấp nhận trong luật Việt Nam

-Trường hợp thứ nhất: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức

khoẻ về hành vi ngược ñãi nghiêm trọng, hành hạ người ñể lại di sản, xâm phạm nghiêm

trọng danh dự nhân phẩm của người có di sản, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người

ñó

ðiều kiện ñặt ra trong trường hợp này là có một bản án có hiệu lực pháp luật

Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kết án thì không thể bị ràng

buộc bởi ñiều này

- Trường hợp thứ hai: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người

ñể lại di sản Trách nhiệm nuôi dưỡng ñược quy ñịnh rõ trong luật hôn nhân và gia ñình

ñiều 36 (sau ñây viết tắt là luật HN&Gð) Do ñó, việc quy ñịnh lại như ñiều này trở nên

thừa và thể hiện rằng kỹ thuật lập pháp của ñiều luật chưa ñựơc súc tích Vì vậy, chỉ cần

viện dẫn ñiều luật có liên quan ñể giảm ñi sự dài dòng của ñiều luật ðiều này cũng chính

thức ghi nhận một nghĩa vụ pháp lý ñối với quan hệ nuôi dưỡng, chứ không thuần tuý là

nghĩa vụ ñạo ñức Nhưng việc thực hiện ñiều luật này lại mang tính chất ñạo ñức vì người

cần ñược một người khác nuôi dưỡng thì khả năng tích luỹ tài sản cũng không nhiều

Việc người có di sản bị ngược ñãi lại trong khả năng hiểu biết của người có di sản

Nhưng trong thực tế ghi nhận trường hợp người cha (mẹ) chấp nhận im lặng vì danh dự

và uy tín của gia ñình và của con mình, chứ không thực hiện việc truất quyền hưởng di

sản của người thừa kế, thì việc thừa kế vẫn diễn ra Do vậ, ñiều này cuối cùng cũng mang

nghĩa vụ ñạo ñức nhiều hơn nghĩa vụ pháp lý

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Trường hợp thứ ba: Người bị kết án vì hành vi cố ý xâm phạm ñến tính nạng

của người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế ñó

có quyền hưởng Trong phần này có các ñiểm lưu ý sau: Hành vi này phải là hành vi cố ý

giết người, xảy ra trước thời ñiểm mở thừa kế; Vì nếu như sau thời ñiểm mở thừa kế thì

người ñã chết cũng trở thành người thừa kế và phần của họ sẽ di chuyển cho con (cháu

hoặc chắt) hoặc người thừa kế khác của người bị giết Trong việc chia di sản thừa kế của

người bị giết sẽ loại trừ kẻ giết người ra ðiều này xác lập một tình trạng bất hợp lý là:

ðiều này chỉ ràng buộc ñối với người thừa kế trực tiếp trong mối quan hệ với người bị

giết chứ không ràng buộc ñối với người thừa kế “trung gian.” Hay nói cách khác là

không áp dụng ñối với trường hợp thừa kế thế vị Lưu ý thứ hai là: Hành vi này phải

mang một mục ñích là nhằm hưởng một phần hay toàn bộ di sản của người bị giết có

ñược Việc chứng minh cho mục ñích này là một ñiều không dễ trên thực tế Và phải có

bản án của Toà án có thẩm quyền tuyên tại thời ñiểm mở thừa kế Nếu như bản án ñược

tuyên sau thời ñiểm mở thừa kế Trong lúc này phải tiến hành chia lại di sản thừa kế

trong trường hợp có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế Người thừa kế sẽ ñựơc nhận

phần của mình nhưng không phải theo nguyên tắc bình ñẳng về giá trị mà là bình ñẳng về

hiện vật ðiều này ñược chính thức ñặt ra trong BLDS 2005; trong BLDS 1995 người có

liên quan cũng phải tiến hành thêm một thủ tục bác bỏ quyền thừa kế của người ñó thì

mới ñược nhận phần di sản ñã ñược chia, nhưng theo cả hai nguyên tắc ñược thừa nhận

trong việc phân chia di sản là bình ñẳng về hiện vật và bình ñẳng về giá trị Nếu di sản ñã

chia rồi, những tài sản ñó ñã ñi vào quá trình lưu thông trong giao lưu dân sự mà ít có cơ

hội trở lại với những người xứng ñáng nhận phần ðiều này ñặt ra một câu hỏi có cần hay

không một bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án Theo người viết thì không cần có

một bản án có hiệu lực pháp luật; mà nên trao trọn quyền này cho Toà án làm một việc

xác minh tư cách thừa kế của người thừa kế bị yêu cầu không công nhận quyền thừa kế

Theo ñó Toà án sẽ ra một tuyên bố một tình trạng không có quyền hưởng di sản của

người không xứng ñáng nhận thừa kế như trong luật của Pháp, tuyên bố có tác dụng phủ

nhận tư cách của người thừa kế và tuyên bố này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên

bố tại thời ñiểm mở thừa kế

- Trường hợp thứ tư: Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép người có di sản trong

việc lập di chúc, giã mạo di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản

trái với ý chí của người ñể lại di sản Trên thực tế, tình trạng mà nhà làm luật thiết lập tạo

ra một tình trạng hết sức phức tạp Nếu như nội dung di chúc bị huỷ ñó là một di chúc phi

ñạo ñức và trái pháp luật thì sao ? Giả sử, trường hợp có một người chồng lập di chúc

ñịnh ñoạt tất cả tài sản của mình cho bạn giái ñể lại một ñứa con không khả năng lao

ñộng và một chưa thành niên Người vợ hay ñược, trong cơn nóng giận bà vợ ñã tìm và

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

xé bỏ di chúc Trong trường hợp này bà vợ không ñược quyền hưởng di sản theo pháp

luật bằng phương pháp thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc Nhưng xem lại việc

làm trái ñạo ñức của ông chồng thì lại ñược bảo vệ Việc cho bà vợ hưởng di sản của ông

chồng thì trở nên hợp lý hơn việc tôn trọng ý chí của ông chồng

- Trường hợp thứ năm: Những người chết cùng một thời ñiểm: Trong trường hợp

này xác lập quyền không ñược hưởng di sản không do lỗi của người thừa kế, mà do sự

tồn tại về mặt pháp lý của người thừa kế Nếu như việc thừa nhận quyền thừa kế của

những người này thì sẽ dẫn ñến sự xáo trộn Nếu họ là những người thừa kế của nhau thì

việc xác ñịnh ai ñược thừa kế của ai là một ñiều nan giải Nếu người này không tồn tại về

mặt thực tế thì không có người nhận di sản và số phận nó sẽ ñi về ñâu ? Thay vào ñó

bằng kỹ thuật thế vị cho con cháu của họ nhận phần nếu còn sống họ sẽ nhận ðối với

trường hợp những người thừa kế chết cùng một thời ñiểm, thì việc xác ñịnh người chết

trước trong luật của Pháp ñựơc xác ñịnh bằng mọi cách Quy ñịnh này rất cụ thể và khẳng

ñịnh ñúng mức ñộ chính xác của người chết cùng một thời ñiểm, tránh ảnh hưởng ñến

quyền thừa kế của những người thân thuộc của người ñã chết Tuy trong luật Việt Nam

không cụ thể như trong luật của Pháp nhưng việc chứng minh cho sự chết trước này

cũng ñựơc xác ñịnh như trong luật của Pháp

- Trường hợp bị truất quyền huởng di sản theo pháp luật: Truất quyền hưởng di

sản là sự bày tỏ ý chí của người có di sản về việc không cho một người thừa kế nào ñó

ñược hưởng phần di sản mà lẽ ra họ có thể ñược hưởng theo quy ñịnh của luật ðối với

việc truất quyền hưởng di sản người thừa kế ở hàng thứ nhất có nghĩa là hàng thừa kế

thứ hai ñược chỉ ñịnh là người thừa kế tiếp theo Việc truất quyền hưởng ñược có thể

ñược nói rõ hoặc không nói rõ và việc làm này của người có di sản không cần phải nêu lý

do

ðối với trường hợp truất quyền hưởng di sản ñược không nói rõ: Trong trường

hợp người có di sản có nhiều người thừa kế theo pháp luật Nhưng người này ñịnh ñoạt

tất cả tài sản cho một vài người thì những người còn lại là người bị truất quyền hưởng di

sản theo pháp luật ðối với trường hợp truất quyền hưởng di sản ñược nói rõ: Người có di

sản nói rõ một người, một nhóm người nào ñó không ñược nhận di sản ðiều này còn tuỳ

thuộc vào việc người này có chỉ ñịnh người thừa kế theo di chúc hay không Nếu có thì

việc truất quyền thừa kế có hiệu lực Nếu không có chỉ ñịnh thì việc truất quyền trở nên

vô nghĩa Vì theo pháp luật những người này có quyền bình ñẳng và hưởng phần bằng

nhau nếu cùng hàng

Qua những phân tích trên có thể nói rằng các trường hợp không có quyền hưởng di

sản chỉ mang tính chất tương ñối Và việc truất quyền hưởng di sản là một giải pháp ñược

diễn dịch theo quy ñịnh ñiều 676 khoản 3 BLDS 2005 chứ không phải là một quy ñịnh

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chính thức ðiều này cho thấy rằng quy ñịnh của luật thừa kế còn chưa chặt chẽ và còn

nhiều lổ hỏng ðiều này tất yếu dẫn ñến tình trạng bất hợp lý của ñiều luật Do ñó, việc

sửa ñổi, bổ sung các trường hợp không ñược thừa kế theo pháp luật trở nên cấp thiết ñể

giảm bớt tình trạng bất hợp lý nêu trên

4.Chủ thể của quan hệ thừa kế theo pháp luật

4.1 ðiều kiện chung

ðể trở thành chủ thể của quan hệ thừa kế theo pháp luật thì trước hết cá nhân ñó

phải trở thành chủ thể của quan hệ thừa kế Theo quy ñịnh của pháp luật hiện hành

thì một cá nhân có thể trở thành người thừa kế phải thoả các ñiều kiện sau:

Tồn tại về mặt pháp lý: Tức là “người thừa kế” phải có năng lực pháp luật thừa kế Theo

ñó, một người có năng lực pháp luật từ khi ñược sinh ra và chấm dứt khi người ñó chết

ñi.(7) Riêng ñối với năng lực pháp luật thừa kế ñựơc thiết lập như một ngoại lệ của

nguyên tắc này “Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời ñiểm mở thừa kế hoặc

sinh ra còn s ống sau thời ñiểm mở thừa kế nhưng ñã ñựơc thành thai trước khi người ñể

l ại di sản chết” (ñiều 635 BLDS 2005) Vậy, bào thai trong trường hợp nêu trên chưa

ñựơc sinh ra nhưng ñã có năng lực pháp luật thừa kế ðây chỉ là trường hợp ñặc thù của

pháp luật thừa kế Theo ñó, bào thai phải ñược sinh ra và còn sống ít nhất 24 giờ.(8)

Theo người viết thì thời gian này ñủ ñể khẳng ñịnh sự tồn tại về vật chất Những người có

liên quan phải ñi ñăng ký khai sinh và khai tử cho ñứa trẻ ñó Làm như vậy thì ñứa trẻ ñó

sẽ tồn tại về mặt pháp lý Thế nhưng, việc làm này chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý Trên

thực tế thì người mẹ sau khi mất con ñã là một nỗi mất mác lớn; trên thực tế ñứa con này

không tồn tại trong một thời gian ñủ ñể cho những người có liên quan ñi ñăng ký các thủ

tục pháp lý (trừ trường hợp những người này ñã chuẩn bị sẵn sàng cho việc thừa kế) ðối

với thai nhi ñã thành thai trước khi người có di sản chết nhưng thai bị chết lưu Thì việc

ñăng ký trở nên vô nghĩa vì “người thừa kế” ñã chết trước người có di sản và không tồn

tại về mặt pháp luật và vật chất Trong giả thiết này thì bào thai ñược bảo vệ là con, cháu

của người chết… Nhưng thử hình dung ñứa con này lại là của một người khác thì có

ñược bảo vệ hay không ? Luật không nói gì mà chỉ thiết lập theo một trạng thái bảo vệ bà

mẹ và trẻ em ðiều này vô tình dẫn ñến việc ñưa di sản của người chết về một gia ñình

khác (trong trường hợp người vợ ngoại tình và một ñứa con hoang không thể tạo thành

một gia ñình truyền thống và trong gia ñình hiện ñại ña số vẫn không chấp nhận lý lẽ

này) Tồn tại về mặt pháp lý còn thể hiện ở chổ người này không bị tuyên bố chết theo

quyết ñịnh của Toà án Trong trường hợp này, thai nhi ñựơc pháp luật cho phép có một

(7) BLDS 2005-NXB chính trị quốc gia-năm 2006, ñiều 14 khoản 3

(8) Nghị ñịnh số 158/2005/CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của chính phủ , ñiều 2

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cơ sở pháp luật ñủ mạnh ñể ñựơc hưởng thừa kế; ñây cũng chính là ưu ñiểm của giải

pháp có một quy ñịnh rất chặt chẽ Tồn tại vật chất là sự hiện hữu của người thừa kế vào

thời ñiểm mở thừa kế Tức là người này phải có mặt tại thời ñiểm mở thừa kế Theo phân

tích trên thì tồn tại về mặt pháp lý ñang lấn ác tồn tại vật chất Nhưng không thể xây dựng

một mô hình thừa kế trong ñó người thừa kế tồn tại vật chất mà không tồn tại về mặt

pháp lý, ñiều này không xảy ra trong thực trạng pháp lý Thực tiễn xảy ra trường hợp

ngược lại là một người không tồn tại về pháp lý (tuyên bố chết) nhưng về vật chất người

này vẫn tồn tại (những người có liên quan không biết ñược sự tồn tại ñó); việc thừa kế

của những người này ñược thực hiện trong những trương hợp hết sức ñạc thù Thực tiễn

này vẫn ñựơc chấp nhận trong luật Việt Nam Trong ñó, người thừa kế hoàn mỹ nhất là

tồn tại về vật chất lẫn pháp lý Nhưng những chủ thể này phải không vi phạm những ñiều

kiện không ñựơc thừa kế (như ñã nêu ở phần 3.2)

4.2 ðiều kiện riêng

ðiều kiện ñể trở thành người thừa kế theo pháp luật bắt buộc người thừa kế phải

có quan hệ mật thiết với người có di sản mà luật ñã thiết lập theo thứ tự ưu tiên: Trước

hết là có quan hệ huyết thống còn hôn nhân và nuôi dưỡng ñựơc thừa nhận tuỳ theo quan

niệm của mỗi quốc gia ðối với Việt Nam thì việc thừa nhận vị trí của vợ chồng trong

hàng thừa kế ñựơc chấp nhận như một sự tong trọng truyền thống, bản sắc riêng của dân

tộc Việt Nam Vị trí là cần thiết ñể một người thừa kế trở thành người thừa kế theo pháp

luật Nhưng không phải tất cả những người thoả ñiều kiện là người thừa kế theo pháp luật

ñiều ñựơc gọi ñến ñể nhận di sản mà phải theo thứ tự sắp xếp sẵn có, theo một trình tự

luật ñịnh Như vậy, ñiều kiện riêng ở ñây chính là thoả ñiều kiện của ñiều 676 về việc chỉ

ñịnh người thừa kế theo pháp luật

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Mục 2: NHỮNG đIỂM GIỐNG NHAU

1 Thứ tự người thừa kế theo pháp luật

1.1 Sơ lược nguồn gốc quy ựịnh

Trước ựây, từ thời phong kiến thừa kế theo pháp luật ựã ựược ghi nhận và ựi vào thực

tiễn một cách phổ biến cũng như một quy luật tự nhiên của con người Ộsinh, lão, bệnh,

t ửỢ đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn ựến sự ra ựời của pháp luật thừa kế

Và ở mỗi giai ựoạn khác nhau thì quyền thừa kế theo pháp luật ựược ghi nhận và mang

một màu sắc riêng biệt của mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau và cũng mang bản chất

giai cấp sâu sắc để có ựược sự ghi nhận của pháp luật hiện hành về thứ tự hàng thừa kế

như ựiều 676 BLDS 2005 có thể nói ựó là một quá trình lịch sử lâu dài

Xuất hiện lần ựầu tiên trong pháp luật thừa kế Việt Nam thời Pháp thuộc ựược ghi

nhận trong bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật theo thứ tự sau:

ỘN ếu người ựể lại di sản không lập chúc thư thì di sản sẽ ựược chia theo pháp luật

theo th ứ tự như sau:

1 Các con c ủa người ựể lại di sản, con trai con gái ựược chia ựiều nhau Nếu có người

nào ch ết thì cháu của người ựó thế vị;

2 N ếu người ựể lại di sản không có con, di sản ựược ựể lại cho bố mẹ của người ựể lại di

s ản nhưng phải giữ quyền lợi cho vợ (chồng ) còn sống;

3 N ếu người ựể lại di sản không còn cháu hay bố mẹ thì di sản sẽ thuộc về người chắnh

h ệ tôn thuộc gần nhất;

4 N ếu không có cháu hoặc người tôn thuộc thì di sản ựược chia cho anh em, chị em ruột

c ủa người ựể lại di sản Nếu có người nào chết thì con cháu của họ thế vị;

5 N ếu không có anh, chị, em ruột thì di sản sẽ chia cho anh em bằng chi bên nội gần

nh ất và con cháu chắnh hệ các hàng bằng chi ấy;

6 N ếu không có người thân thuộc bên nội thì di sản thuộc bên họ mẹ theo cách thức chia

nh ư trên;

N ếu người ựể lại di sản không có người thân thuộc thì người vợ không ly hôn ựược

h ưởng toàn bộ di sản của chồng ựể lại Nếu người ựể lại di sản không có vợ goá thì tài

s ản của người chết ựược sung vào tài sản của công làng xã.Ợ(9)

Như vậy, ựã có sự chuyển biến rõ rệt từ thứ tự người thừa kế mà trong pháp luật

thời phong kiến không ghi nhận, ựến quyền bình ựẳng về thừa kế của nam và nữ, quyền

thừa kế thế vị của cháu ựối với di sản của ông bà phần mà lẽ ra cha mẹ cháu sẽ ựược

hưởng nếu còn sống, ựiều luật cũng không bỏ quên quyền lợi của vợ chồng trong thứ tự

(9) Bộ tư Pháp-Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý-Một số vấn ựề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỉ XV

ựến thời Pháp thuộc-NXB chắnh trị quốc gia-năm 1998, trang 138

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ưu tiên thừa kế thứ hai Và ñây ñược xem như là tư tưởng tiến bộ của pháp luật thừa kế

Thừa kế theo pháp luật ñược bảo ñảm theo huyết thống từ trực hệ ñến bàng hệ Có thể

xem việc ưu tiên hàng thừa kế bên nội rồi ñến bên ngoại là có sự phân biệt ñối xử nhưng

hợp lý Vì tàn tích phong kiến ñến nay ñã mấy trăm năm vẫn còn dư âm, trong khi xã hội

lúc bấy giờ là thực dân nửa phong kiến thì tư tưởng này không thể coi là sự ấu trỉ, lạc

hậu Sở dĩ, người viết cho rằng “xem như sự tiến bộ” mà không khẳng ñịnh là sự tiến bộ

vì pháp luật thời Pháp thuộc không do chính người Việt Nam giác ngộ sự không phù hợp

và trở nên lỗi thời của pháp luật phong kiến, cũng không phải do sự tiếp nhận những tư

tưởng, những giải pháp tiến bộ của bộ luật Napoléon; mà là theo một khuôn mẫu ñã ñúc

sẳn và áp ñặt lên xã hội Việt Nam.Chính vì vậy mà người dân có tư tưởng phản kháng lại

nền pháp luật ñô hộ bằng cách không ủng hộ cũng không áp dụng nó vào thực tiễn Xét

cho cùng thì một quan hệ pháp luật ñược tạo ra nhằm mục ñích duy nhất là ñiều chỉnh

quan hệ xã hội tương ứng Nhưng quan hệ pháp luật thừa kế mà người Pháp tạo ra thật sự

không tương xứng về mặt tư tưởng lập pháp Do ñó, có thể nói thời kì này Việt Nam chưa

có quy ñịnh hàng thừa kế Mà ñây chỉ là những tư tưởng sơ khai về hàng thừa kế theo

pháp luật

Sau khi thống nhất ñất nước ổn ñịnh xã hội mãi ñến năm 1981 Việt Nam mới có văn

bản chính thức quy ñịnh về hàng thừa kế: Thông tư số 81/TANDTC ngày 27/04/1981 của

Toà án nhân dân tối cao ghi nhận giải pháp người thừa kế theo pháp luật ñược gọi theo

hàng:

-Hàng thừa kế thứ nhất: gồm có vợ goá (chồng goá )vợ cả và vợ lẽ ñiều ñược

thừa kế, con ñẽ, con nuôi, bố ñẻ, mẹ ñẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi

-Hàng thừa kế thứ hai: Bao gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh, chị,

em ruột; anh, chị, em nuôi

Pháp lệnh thừa kế ngày 30/08/1990 thiết lập thêm hàng thừa kế thứ ba bao gồm:

Cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người

chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì

ruột Riêng hàng thừa kế thứ hai không ghi nhận anh, chị, em nuôi Hàng thừa kế thứ nhất

không thay ñổi

Năm 1995 BLDS 1995 ra ñời và chấp nhận toàn bộ giải pháp của pháp lệnh thừa kế

năm 1990 Gần mười năm sau BLDS 2005 ra ñời tiếp tục bổ sung thêm vị trí của cháu

trong hàng thừa kế thứ hai và chắt ở hàng thừa kế thứ ba Như vậy cháu, chắt không

những ñược thừa kế thế vị mà còn ñược thừa kế theo hàng Liệu giải pháp bổ sung này sự

hoàn toàn hợp lý và thật sự trở thành một giải pháp hữu ích ñây là một vấn ñề cần phải

bàn luận

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.2 Bộ luật dân sự 2005 kế thừa những giải pháp chưa hợp lý và chưa khoa học

của Bộ luật dân sự 1995

Qua một thời gian dài không ngừng phát triển và hoàn thiện, chế ựịnh thừa kế theo

pháp luật quy ựịnh về hàng thừa kế ựã trở thành một Ộựiểm dừngỢ của sự tiến bộ Trong

bối cảnh hiện nay, việc chỉ ựịnh người thừa kế theo pháp luật ựược ựặt ra với mục ựắch

bảo tồn sản nghiệp của cá nhân có quyền sở hữu, tạo ựiều kiện và khả năng ựể sản nghiệp

của người chết có thể di chuyển một cách có lợi nhất cho gia ựình và sản nghiệp của

người có di sản điều này thể hiện rằng quan niệm kinh tế ựược xem trọng, nhưng nói

quan niệm kinh tế quan trọng hơn quan niệm gia ựình là không ựúng Bởi vì, pháp lụât

Việt Nam phần lớn dựa trên nền tảng ựạo ựức và ựặt nặng quan niệm gia ựình đó chắnh

là tình ựoàn kết, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa những thành viên trong gia ựình Vì

vậy, tư tưởng chủ ựạo của việc chỉ ựịnh người thừa kế theo pháp luật là nhằm kế thừa một

phần tài sản làm cơ sở vật chất, ựảm bảo cuộc sống của những thành viên trong gia ựình

Song song ựó, là ựảm bảo sự nghiệp kinh tế của người ựó tiếp tục bảo tồn và phát huy

Thế nhưng, pháp luật thừa kế hiện hành chưa làm ựược ựiều này

Trước hết, cần xét lại vị trắ của những người thừa kế ựã ựược các nhà làm luật xếp

thành ba hàng qua hơn mười năm ựã ựược duy trì và tái hiện lại trong BLDS 2005 Một

ựiều cần khẳng ựịnh rằng mô hình thừa kế theo pháp luật của Việt Nam là dựa trên quan

hệ huyết thống tức là Ộcha truyền con nốiỢ Với vị trắ của hàng thừa kế thứ nhất ựã nêu

trên thì con ruột và con nuôi là hoàn toàn hợp lý, ựây là một quyền ựã ựược các nhà làm

luật ưu tiên ở vị trắ hàng ựầu ựể ựảm bảo cho sự kế thừa Bên cạnh ựó, ựể phù hợp với

phong tục, tập quán và không thể phủ nhận công sức ựóng góp của vợ, chồng trong khối

tài sản chung mà từ pháp luật thời Lê ựã ghi nhận tuỳ theo trường hợp Nếu vợ (chồng)

không có con mà một người chết: đối với ựiền sản riêng của người chồng ựể chia làm hai

phần bằng nhau; một phần dành cho gia ựình bên chồng ựể lo tế lễ, phần còn lại dành cho

vợ phụng dưỡng một ựời mà không ựựơc quyền sở hữu Trường hợp vợ chết trước, thì

cũng ựựơc chia như vậy nhưng có ựiểm khác chồng ựi lấy vợ khác vẫn ựựơc hưởng dụng

ựối với tài sản ựựơc chia, khi người chồng chết thì mới trả lại cho gia ựình vợ Tuy trong

quy ựịnh thời phong kiến không nhắc gì ựến hàng thừa kế nhưng vẫn ghi nhận công sức

ựóng góp của vợ chồng đây là ựiều tiến bộ, ựáng khen của pháp luật thời Lê.(10) Nhưng

do hoàn cảnh lịch sử nên quyền của vợ chồng ựối với di sản là không bằng nhau Ngày

nay với nguyên tắc bình ựẳng về quyền thừa kế không phân biệt nam, nữ cho nên vợ

chồng cũng có mặt ở hàng thừa kế thứ nhất Quy ựịnh như vậy là hoàn toàn phù hợp với

(10) Quốc triều Hình luật, ựoạn ựiều 375, 258 Hồng đức Thiện chắnh thư

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tục lệ Việt Nam Và không có sự bàn cải về vị trí của vợ (chồng) trong hàng thừa kế

trong luật của Pháp mà dẫn ñến hệ quả là vợ chồng không ñựơc thừa kế theo hàng mà chỉ

là một phần di sản dành riêng

Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy rằng vị trí hàng thừa kế thứ nhất quy ñịnh như vậy

là không phù hợp Thử hình dung một người A có một doanh nghiệp tư nhân, có một

người vợ B và hai con một là con ruột là C; C có một ñứa con là D, một là con nuôi Z,

cha mẹ cùng sống chung là E, F Tất cả những người này ñiều ñược gọi ñến ñể nhận thừa

kế sau một biến cố là cái chết của A (không ñể lại di chúc) Dĩ nhiên, phần người vợ

trong khối di sản phải ñược ghi nhận là 1/2 khối tài sản chung Phần còn lại trở thành di

sản thừa kế và sẽ ñược chia ñiều cho B, C, Z, E, F Giả sử, B muốn tái giá và bán phần

quyền của mình cho một người ngoài (vì những người trong gia ñình không ñủ khả năng

mua) Còn E, F ñã già nên không muốn kinh doanh nên cũng bán lại di sản, Z muốn bán

ñể nhận tiền ñể trở về với cha mẹ ruột, còn C muốn phát triển gia ñình riêng của mình

Riêng D muốn gìn giữ sản nghiệp của ông nhưng vì ở hàng thừa kế thứ hai nên không

ñược nhận phần Như vậy, sự nghiệp kinh tế của A sẽ chấm dứt cùng với nhân thân của

A Cũng trong ví dụ trên nếu như C muốn gìn giữ sản nghiệp cũng không ñủ sức ñể mua

lại phần của những người còn lại vì nó ñã ñược “chia năm xẻ bảy”

Phân tích ví dụ trên cho tấy rằng: Quy ñịnh hàng thừa kế ñược xây dựng trên giả

thuyết một di sản mà các tài sản không là hiện vật chứ không phải quyền tài sản Ngày

nay, với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường thì di sản là quyền thừa kế rất phổ

biến cho nên quy ñịnh như vậy là không phù hợp Bên cạnh ñó, những người thừa kế

không có quan hệ huyết thống (con nuôi) thì lại ñược xếp vào hàng thừa kế thứ nhất còn

cháu trực hệ lại xếp ở hàng thừa kế thứ hai, chắt lại ñược xếp ở hàng thừa kế thứ ba

chung với hàng loạt những người bên nội lẫn bên ngoại và cũng không có cơ hội ñể nhận

phần nhiều Trong khi ñó là sự nghiệp phấn ñấu cả ñời của cha, ông họ hy vọng sẽ ñể lại

cho con, cháu, chắt ñời sau sẽ sung sướng hơn; nay ñược chia nhỏ cho những người như:

Cháu gọi người chết là cô, dì, cậu, chú, bác Có thể nói là những người không có quan hệ

gì ñối với sản nghiệp của người chết Trong ví dụ trên cũng cho thấy rằng những người

thừa kế trẻ như cháu, chắt chỉ có ñiều kiện cần là ñược luật quy ñịnh trong hàng thừa kế,

thoả ñiều kiện ñiều 643 BLDS, nhưng không có ñiều kiện ñủ ñể nhận di sản ñó là có một

vị trí thích hợp Và những người không có tiềm năng ñể phát triển sự nghiệp như cha, mẹ

của người chết lại ñược xếp ở hàng thừa kế thứ nhất, dù cho họ còn khả năng ñể phát

triển nhưng một thời gian sau di sản lại ñược ñem ra chia một lần nữa khi bố mẹ của

người có di sản chết, ñiều này trở thành một vật cản ñối với việc phát triển sự nghiệp kinh

doanh

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Cho nên, ựể phù hợp với xu hướng phân tắch trên thì việc quy ựịnh lại hàng thừa

kế theo xu hướng trẻ hoá những người thừa kế, tạo ựiều kiện cho cháu, chắt trực hệ có thể

tiếp quản sản nghiệp một cách trọn vẹn thì nên quy ựịnh lại như sau: Vị trắ (của vợ

chồng) vẫn giử nguyên, nhưng ựược xếp ở bậc thứ nhất, kế tiếp là con, cháu, chắt Nếu

như vợ (chồng) của người chết tức là cha mẹ của con từ chối thì con sẽ trọn quyền thừa

kế ựối với di sản, cháu từ chối thì chắt nhận, nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất

mới ựến hàng thừa kế tiếp theo Còn cha, mẹ là những người thừa kế già nên ựược xếp ở

hàng thừa kế thứ hai

Ở hàng thừa kế thứ hai gồm có: Ông, bà (nội ngoại) và anh, chi, em ruột, cháu

ruột của người chết cho nên việc sắp xếp như vậy là không phù hợp với tôn ti trật tự gia

ựình, nếu như những người này tranh giành di sản với nhau thì sẽ rất mất trật tự và trái

với ựạo ựức xã hội Trong khi ựó, một nước phương Tây như Pháp lại có một quan niệm

trật tự gia ựình ựựơc xắp sếp theo hàng, theo bậc Theo ựó mỗi hàng sắp xếp theo một thứ

tự nhất ựịnh Các quy ựịnh ấy có trật tự hơn một nước phương đông như Việt Nam; mà

phương đông lại ựựơc xem như là cái nôi của các gia ựình tồn tại và phát triển lại không

có một quy ựịnh hết sức phù hợp với một nước phương đông như Pháp Các hàng thừa

kế trong luật của Pháp ựựơc sắp xếp như sau:

- Hàng thừa kế thứ nhất thì có con và các ti thuộc của con;

- Hàng thứ hai gồm có cha, mẹ anh, chị, em ruột và các ti thuộc của những người

nàyẦ những hàng tiếp theo cũng ựựơc xắp xếp như vậy Theo ựó mức ựộ thân thắch

ựựơc xác lập theo số ựời, mỗi một ựời là một bậc khác nhau Các bậc nối tiếp nhau tạo

thành một dòng họ; dòng trực hệ là sự nối tiếp trong ựó người nọ sinh ra người kia; dòng

bàng hệ là sự nối tiếp những người không sinh ra nhau nhưng cùng sinh ra từ một

người.(11) Tại sao không cân nhắc ựể có một quy ựịnh phù hợp như vậy ? Do ựó, người

viết ựưa ra giải pháp là nên xếp ông, bà (nội, ngoại) ở hàng thừa kế thứ ba Như vậy,

hàng thừa kế thứ hai ựược sắp xếp lại như sau: Cha, mẹ của người chết ở bậc 1; kế tiếp là

con của cha mẹ tức là anh, chị, em của người chết; cuối cùng là cháu gọi người chết là cô,

dì, chú, bác, cậu

Riêng vị trắ của cháu của người chết ựã tạo ra một sự bất hợp lý và không khoa

học Trong BLDS 1995, kết hợp kỹ thuật lập pháp cháu, chắt chỉ ựược nhận thừa kế bằng

con ựường thế vị, và không quy ựịnh cháu ựược thừa kế theo hàng, với quy ựịnh này thì

cháu, chắt có hành vi của ựiều 643 ựối với ông, bà nhưng vẫn ựược hưởng thừa kế với tư

cách là người thừa kế để làm rõ ựiều này ta xét vắ dụ sau:

X có một người con là Y và Y lập gia ựình và sinh ra một ựứa con duy nhất là Y1

(11) BLDS Pháp-NXB tư pháp-2006, ựiều 734, 741, 742

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Do là con một nên Y1 sinh ra hư ñốn Một hôm Y1 nảy sinh ý ñịnh giết chết ông nội ñể

ñược hưởng trọn di sản từ tay cha ñể tiêu sài thoả ñáng Nhưng không mai ông nội không

chết, mà cha của Y1 phát hiện sự việc ñau tim mà chết Ít lâu sau ông nội cũng chết theo

Tình trạng này ñặt ra một vấn ñề cần giải quyết: Y1 có ñựơc nhận di sản hay không ?

Theo ñiều 643 ñiểm b khoản 1 thì Y1 là người không ñược nhận thừa kế, nếu như

Y1 không có quyền nhận di sản thì có nghĩa là cha của Y1 không có quyền nhận di sản

(theo ñiều 677) ðiều này thật sự bất hợp lý chỉ vì lỗi của con mình mà cha, mẹ của Y1

trở thành người không có tư cách hưởng thừa kế mà những hành vi này cha mẹ y1 không

hề thực hiện ñiều này ñiều 643 không quy ñịnh Nhưng nếu cho Y1 nhận thừa kế thì hoàn

toàn không xứng ñáng Và nếu trước toà Y1 chứng minh rằng hành vi của Y1 chỉ vì mâu

thuẩn chứ không nhằm mục ñích hưởng di sản, thì Y1 vẫn có quyền nhận di sản vì ñây là

phần nếu còn sống thì cha, mẹ cháu sẽ ñược hưởng Theo giải pháp bổ sung cháu, chắt ở

hàng thừa kế thứ hai thì giải pháp này sẽ trở nên hợp lý hơn nếu như thiết lập một người

thừa kế “ảo” Tức là người không tồn tại ở thời ñiểm nhận thừa kế (nhưng nếu còn sống

người này có tư cách hưởng thừa kế từ người chết) nhưng vẫn dành phần cho họ và con

cháu của họ sẽ nhận phần từ họ chứ không phải từ cha, mẹ nghĩa là nhận thừa kế từ y chứ

không phải từ cha mẹ của Y1 Nếu như không thừa nhận tư cách thừa kế của Y1 thì di sản

sẽ thuộc về nhà nước, nhưng ñây không phải là mục ñích của thừa kế theo pháp luật Nên

lưu ý rằng tư cách của nhà nước trong trường hợp này không phải với tư cách là người

thừa kế mà với tư cách là người ñi thu lượm vật vô chủ vì mục ñích ñảm bảo trật tự xã

hội

Hàng thừa kế thứ ba ñựơc xem như là một sự nổ lực ñể không bỏ lọt bất cứ người

nào có liên quan ñến người chết Nhà làm luật thiết lập hàng thừa kế thứ ba, với mong

muốn rằng di sản sẽ ñựơc trao cho những người có quan hệ huyết thống với người chết

chứ không trở thành tài sản công cộng Nhưng với sự nhiệt tình tìm kiếm người thừa kế

cho người có di sản ñã trở thành một phương thức ñể chia nhỏ từng phần sản nghiệp như

ñã phân tích trên ðiều này là không phù hợp với nguyện vọng của người chết, ñi ngược

lại với tư tưởng chỉ ñịnh người thừa kế theo pháp luật Vì vậy, hàng thừa kế thứ ba ñựơc

sắp xếp lại như sau: Bậc 1 gồm có ông, bà nội (ngoại), tiếp theo là con của ông bà nghĩa

là người mà người chết gọi là cô, dì, chú, bác ruột của người chết và ở bậc thứ ba là cháu

của ông bà tức là người gọi người chết là cô, dì, chú, bác ruột Và cuối cùng là hàng thừa

kế thứ tư là các cụ ông, cụ bà và con của các cụ

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chắt Cha, mẹ Con của cha, mẹ

Cháu (con của anh, chị, em người chết)

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nhìn lại giải pháp ñựơc ghi nhận ở pháp luật của thời Pháp thuộc và giải pháp

ñựơc ñưa ra dường như có mối quan hệ với nhau Thật vậy, mối quan hệ này xuất phát từ

nguồn gốc xuất thân của giải pháp ñó chính là BLDS Pháp Cùng với những con người ấy

cũng với sự sắp xếp theo chiều dọc Nhưng giải pháp mới này thật sự có trật tự phù hợp

với tôn ti trật tự gia ñình và có thể ñảm bảo trọn quyền thừa kế ñối với sản nghiệp mà tài

sản là quyền tài sản là chủ yếu.(12) Bên cạnh ñó, việc thừa nhận cả hai giải pháp trong luật

2005 vừa chấp nhận cháu chắt ñựơc thừa kế theo hàng, vừa ñựơc thừa kế theo pháp luật

ñã tạo ra sự không hợp lý tiếp theo là cháu ñựơc thừa kế thế vị thì ñựơc trọn phần, nhưng

nếu do lỗi của cha, me (ông, bà) thì cháu (chắt) lại phải sẻ chia phần mình cho những

người khác và không công bằng của các cháu Cụ thể như sau: Ông A có hai con là Z và

X; Z lại có con là Z1, Z2; X có con là X1, X2, X3 Nếu như X, Z chết cùng thời ñiểm với

A thì di sản ñựơc trao trọn cho các con của X và Z Theo ñó, di sản ñựơc chia theo chi

phần của X là 1/2 nên các con của Z nhận mỗi người 1/4; Các con của X cũng ñựơc nhận

1/2 của Z; các con của X nhân mỗi người ñựơc 1/6 Nhưng nếu như cha mẹ của cháu là

X, Z (hoặc ông bà của chắt là người vi phạm ñiều 643 thì cháu ñựơc hưởng thừa kế chia

theo ñầu người mỗi cháu ñựơc nhận 1/5 Và qua ñó có thể thấy rằng việc thừa nhận cả hai

giải pháp trên là một bước lùi Bên cạnh ñó, việc chỉ ñịnh người thừa kế theo pháp luật

cũng có hơn mười năm ñể xâm nhập vào thực tế, ñể nhận thấy ñựơc ñựơc sự bất hợp lý

giữa lý luận và thực tiễn, và mười năm không phải là một thời gian ngắn ñể cho một nền

kinh tế ñi lên và nhất là nước ñang phát triển như Việt Nam Quan hệ kinh tế thay ñổi dĩ

nhiên quan hệ sở hữu tài sản sẽ thay ñổi, từ ñó quan hệ pháp luật thừa kế phải thay ñổi

theo ñể kịp thời ñiều chỉnh Thế nhưng, từ năm 1990 ñến 2005 BLDS ñã ñựơc thay ñổi

nhiều mặt và cũng không ít các bài viết về nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu

luật và sự ra ñời của BLDS 2005 là một cơ hội ñể thay ñổi, nhưng quan hệ thừa kế theo

pháp luật ña số vẫn ñựơc giữ nguyên ðiều này cho thấy quan hệ thừa kế chưa ñựơc chú

trọng lắm Gia ñình với vai trò là một tế bào của xã hội, nếu như mỗi tế bào ñang bệnh

hoạn hoặc không ñủ cơ sở vật chất ñể phát triển, thì cả một cấu trúc lớn là xã hội cũng

không thể phát triển hưng thịnh ñựơc Từ ñó, dẫn ñến hệ quả tất yếu là ñất nước không

thể phát triển tốt Mà việc sửa ñổi luật là cả một vấn ñề phải bàn luận và ảnh hưởng ngân

sách quốc gia Nhận thức ñựơc và nhận thức ñúng về vai trò của thừa kế theo pháp luật là

một ñiều cấp thiết ñể ñạt ñựơc ñích ñến của ðảng nhà nước và nhân dân ñó là: “Dân giàu

n ước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh” Vì vậy, việc thay ñổi quy ñịnh không

phù hợp trên là cấp bách

(12) Tham khảo mô hình chỉ ñịnh người thừa kế theo pháp luật của Pháp ở thời ñiểm hiện tại

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.3 Căn cứ xác lập quan hệ thừa kế theo pháp luật với những người cĩ di sản

Quan hệ thừa kế giữa những người thừa kế đựơc thiết lập trên ba phạm vi quan hệ

quan hệ huyết thống, hơn nhân, và nuơi dưỡng từ các mối quan hệ chính này thiết lập ra

mối quan hệ khác nhau bao gồm những quan hệ sau:

* Quan hệ giữa vợ chồng

Nếu vào thời điểm một bên chết mà quan hệ hơn nhân về mặt pháp lý vẫn tồn tại

thì người cịn sống là người thừa kế tài sản của người chết Hơn nhân đựơc xác định ở hai

dạng hơn nhân hợp pháp và hơn nhân thực tế Hơn nhân hợp pháp đựơc chứng minh bằng

một bằng chứng duy nhất là giấy đăng ký kết hơn; hơn nhân thực tế là một tình trạng thực

tế của hơn nhân hợp pháp và cũng được thừa nhận là cĩ quan hệ hơn nhân Nhưng họ

phải cĩ chung một trong ba mối quan hệ: Cĩ quan hệ chung sống như vợ chồng, cĩ tài

sản chung, cĩ con chung Và cĩ tài sản chung là một quan hệ bắt buộc để cĩ quan hệ thừa

kế (điều này loại trừ trường hợp thừa kế nhân thân, hay các giao dịch cĩ đền bù do vợ

chồng xác lập khi cịn sống thì người cịn lại cĩ trách nhiệm trả nợ (13))

Tuy nhiên khi giải quyết di sản của vợ chồng cần lưu ý các điểm sau:

Một người cĩ nhiều vợ mà tất cả các cuộc hơn nhân đựơc tiến hành trước ngày

13/01/1960 ở miền Bắc(14) và trước ngày 25/03/1959 ở miền Nam.(15) Thì người chồng

chết trứơc tất cả những người vợ ( nếu cịn sống ở thời điểm mở thừa kế ) điều là người

thừa kế ở hành thứ nhất của người chồng

Ngược lại, người chồng cũng là người thừa kế của những người vợ này ở hàng thứ

nhất nếu người vợ chết trước.(16) ðiều lưu ý trên đây chỉ nhằm giải quyết những tồn tại

lịch sử Vì những cá nhân khác phải tuân thủ chế độ một vợ một chồng kể từ ngày luật

HN&Gð 1959 đựơc cơng bố ở miền Bắc và kể từ ngày văn bản pháp luật được áp dụng

trên cả nước ðối với cán bộ chiến sĩ đã cĩ vợ ở miền Nam, sau khi đi tập kết ra Bắc lấy

thêm vợ mà việc kết hơn sau khơng bị huỷ bỏ bằng một bản án cĩ hiệu lực pháp luật, thì

tất cả những người vợ đĩ đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của người chồng và ngược

lại Cĩ điểm lưu ý này là vì các cán bộ chiến sĩ khơng thể xác định đựơc ngày đồn tụ với

gia đình; vì nghị định hiệp thương 1954 đã làm đất nước ta tạm thời chia cắt giới tuyến là

vĩ tuyến 17 ðối với vợ chồng đã ly hơn sau đĩ lại kết hơn lại mà việc sống chung khơng

bị huỷ bằng một bản án cĩ hiệu lực pháp luật thì họ cũng là người thừa kế theo pháp luật

của nhau

(13) Theo luật HG&Gð điều 25 thì vợ chồng cĩ trách nhiêm liên đới

(14) Ngày cơng bố luật HN&Gð năm 1959

(15) Ngày cơng bố văn bản pháp luật áp dụng thống nhất trong cả nước

(16) Theo nghị quyết 02/HðTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tồ án nhân dân tối cao

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Con trong giá thú và ngoài giá thú ñây là một khái niệm của luật HN&Gð 1959

tại ñiều 32 ghi nhận ðây là một khái niệm pháp lý quan trọng nói ñến tình trạng pháp lý

của con và ñây cũng là một căn cứ quan trọng ñể xác ñịnh người này có quan hệ thừa kế

theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc ñối với người cha Với ñịnh nghĩa “con trong

giá thú”, ý ñịnh của nhà làm luật muốn ám chỉ con ñựơc cha mẹ sinh ra và họ thừa nhận

con là kết quả của hôn nhân giữa họ, một ñứa con sinh ra hoàn toàn hợp pháp, hợp lý và

ñựơc xã hội thừa nhận ñặc biệt là cha mẹ của ñứa trẻ ñó thừa nhận dù cho ñứa con ñó

không phải là con chung của vợ chồng mà có thể là của một người ñàn ông hay một

người ñàn bà khác ngoài vợ (chồng) hợp pháp Còn con ngoài gia thú là ñứa con ñựơc

sinh ra không ñựơc cha mẹ nó thừa nhận là kết quả của cuộc hôn nhân giữa họ (người

không phải là cha (mẹ) ruột); thì thừa kế theo pháp luật ñựơc xem như một chiếc phao

cứu vớt ñời sống vật chất, cũng như tinh thần của ñứa con ñó Pháp luật thừa kế ghi nhận

quyền thừa kế theo pháp luật của con không phân biệt tình trạng pháp lý là trong giá thú

hay ngoài giá thú là phù hợp với ñạo luật gốc.(17)

Phát triển thêm quy ñịnh trên luật HN&Gð năm 2000 quy ñịnh “con sinh ra trong

th ời kì hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kì ñó là con chung của vợ chồng

Con sinh ra tr ước ngày ñăng ký kết hôn ñựơc cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của

v ợ chồng.” Như vậy, thì tình trạng pháp lý của con ñã ñựơc thay ñỗi rõ rệt Luật xác lập

tình trạng pháp lý chung và rất khái quát của con “Thành thai hoặc sinh ra trong thời kì

hôn nhân” ñiều luật cũng ghi nhận rằng dù cho ñứa con ñó là kết quả của sự ngoại tình

cũng ñựơc thừa nhận ðiều này xây dựng nhằm bảo vệ tối ña tình trạng còn non yếu của

bà mẹ và ñứa con Câu chuyện “kẻ ăn ốc người ñổ vỏ” của người ñàn ông này chưa kết

thúc Người này có thể phủ nhận ñứa con này bằng một thủ tục tư pháp tại Toà án (Luật

HN&Gð, ñiều 63 khoản 2) Nhưng ñây là một giải pháp của một người coi trọng quan

niệm kinh tế ðối với người xem trọng quan niệm gia ñình thì không ai ñem công bố tình

trạng “cấm sừng” của mình trước công chúng và có thể người này im lặng ñể bảo vệ gia

ñình và uy tín cá nhân ðiều này có thể xác lập tình trạng một người con có thể thừa kế

theo pháp luật của hai người cha ruột cụ thể như sau:

A kết hôn với B sinh ra con gái A1, và ñứa con trai B1 Nhưng B1 không phải là

con của A và B mà là kết quả chung sống giữa B với C A biết vẫn chấp nhận, một thời

gian sau A chết vì bệnh trầm uất Dĩ nhiên, B1 về mặt pháp lý vẫn có tư cách thừa kế ở

hàng thứ nhất cùng với A1 vì B1 ñựơc sinh ra trong khi mẹ thời kỳ hôn nhân Và ñứa con

này không hề biết ñến cha ruột của mình, trước khi qua ñời mới cho B1 biết Một ngày

ñẹp trời, B1 tìm ñến C và nhận cha (có thể bằng sự thừa nhận, hoặc bằng thủ tục tư pháp)

(17) Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 ñến năm 2001-NXB TPHCM; Hiến pháp năm 1992, ñiều 64

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nhưng sau ñó người cha xấu số này lại qua ñời Như vậy B1 cũng có quyền nhận di sản

cũng với tư cách người thừa kế thứ nhất của C Và B1 cũng có tư cách người thừa kế thứ

hai của A1 và những người con của C nếu những người này chết trước Mối quan hệ này

không thể phủ nhận ñược vì họ là anh, chị em cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ

Trong trường hợp này thì A1 có thể phủ nhận quan hệ cha con của B1 với vai trò là có

quyền và nghĩa vụ liên quan ñể nhận lại tài sản mà B1 thừa kế từ cha của A1 (nếu còn tài

sản )

Bên cạnh ñó, nhà làm luật cũng quan tâm ñến số phận của những ñứa con sinh ra

trước thời kỳ hôn nhân mà ñựơc cha mẹ thừa nhận là “con chung của vợ chồng” ðây là

một khái niệm ñựơc xây dựng trên quan niệm ñạo ñức là chủ yếu, có thể ñứa con này là

con chung của hai người ñã “ăn cơm trước kẻng” tức là ñã có quan hệ chung sống thực

tế hoặc là kết quả của một cuộc tình mà sau ñó có một người “quất ngựa truy phong” ñể

lại một ñứa con rơi Thế nhưng, ñứa con này cũng sẽ ñựơc thừa nhận nếu như cuộc hôn

nhân chính thức của cha (mẹ) cũng thừa nhận ñó là con chung giữa họ; bằng cách ñăng

ký khai sinh cho con tại Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi mà cha, mẹ của ñứa con cư

trú(18) Và từ ñó ñứa con này cũng trở thành người thừa kế của người cha hợp pháp ở hàng

thừa kế thứ nhất Về thực tế nếu như cha mẹ không thừa nhận là con chung của vợ chồng

thì ñứa con ñó lại ở trong một tình trạng pháplý bấp bênh Quyền thừa kế của ñứa con

này phụ thuộc vào tình yêu thương của người cha hoặc mẹ (không phải là cha (mẹ) ruột):

“n ếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng” thì có quan hệ thừa kế với “cha hoặc mẹ” nhưng

không phải với tư cách là con chung của vợ chồng mà với tư cách pháp lý là con riêng

với bố dượng (mẹ kế)

Tóm l ại, quan hệ thừa kế giữa cha, mẹ, con, không những có thể xác lập trên quan

hệ huyết thống theo pháp luật mà còn ñựơc xác lập trên tình yêu thương, chăm sóc lẫn

nhau giữa những người trong gia ñình Với quan niệm không phân biệt tình trạng pháp lý

ñựơc thể hiện bằng câu chữ của ñiều luật: Chỉ xác lập tình trạng con chung hoặc con

riêng chứ không phân biệt trong giá thú hay ngoài giá thú

Cha nuôi, mẹ nuôi của một người ñã nhận người ñó làm con nuôi của mình theo

quy ñịnh pháp luật ðối với trường hợp nhận con nuôi nhưng không ñăng ký theo quy

ñịnh thì cha mẹ con nuôi chỉ ñựơc thừa kế di sản của nhau nếu ñược công nhận là con

nuôi thực tế(19)

Cần lưu ý rằng con dâu không phải là người thừa kế theo pháp luật ñối với bố mẹ,

(18) Luật HN&Gð-NXB chính trị quốc gia-2004, ñiều 64

(19) Con nuôi thực tế là một tình trạng thực tế của quan hệ cha mẹ con nghĩa là người ñựơc nuôi và người nuôi

ñựơc xác ñịnh là có mối quan hệ nuôi dưỡng bằng một bằng chứng duy nhất là yếu tố xã hội: danh xưng, thái ñộ

cư xử, dư luận xã hội chứ về mặt pháp pháp lý nếu yếu tố xã hội ñựơc thừa nhận mới có quan hệ thừa kế

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

con rể cũng không phải là người thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ vợ Tuy nhiên, trong

trường hợp tham gia lao ñộng chung trong gia ñình bố mẹ chồng (bố mẹ vợ) thì con dâu

(con rể) nhận lại phần tài sản sau khi cha mẹ chồng (cha mẹ vợ) chết với tư cách là ñồng

sở hữu, chứ không phải là tư cách người thừa kế theo pháp luật Phần tài sản còn lại mới

ñựơc coi là tài sản thừa kế mà bố mẹ chồng ñể lại khi chết và mới ñựơc chia cho những

người thừa kế của họ

* Quan hệ thừa kế giữa anh, chị, em ruột

Một thực tiễn ñã ñựơc ñặt ra trên thực tế: Có người hỏi rằng như thế nào là anh,

chị em ruột ? Câu trả lời rất ñơn giản:

Một người sinh ra bao nhiêu con thì tất cả những người con ñó ñiều là anh, chị, em

ruột của nhau Pháp lệnh thừa kế năm 1991, Bộ luật dân sự năm 1995 ñến Bộ luật dân sự

mới năm 2005, ñều quy ñịnh như nhau về anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết

thuộc hàng thừa kế thứ hai theo pháp luật, ñược hưởng thừa kế của người chết khi không

còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất Theo ñó, qui ñịnh về thế nào là anh, chị, em ruột ñã ñược

hướng dẫn cụ thể tại nghị quyết số 02/HðTP ngày 19-10-1990 của Hội ñồng thẩm phán

ðến nay cách hiểu này vẫn không thay ñỗi Như vậy, hiểu như thế nào mới ñúng là “anh,

ch ị, em ruột” ?

Từ văn bản hướng của hội ñồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về thừa kế ñã

ñịnh nghĩa cụ thể như sau:

Anh ruột, chị ruột, em ruột là anh, chị, em cùng mẹ hoặc cùng cha, nghĩa là một

người mẹ sinh bao nhiêu người con thì bấy nhiêu người con ñó ñều là anh, chị, em ruột

của nhau; không phụ thuộc việc các người con ñó là cùng cha hay khác cha Cũng tương

tự như vậy, một người cha sinh ra bao nhiêu người con thì bấy nhiêu người con ñó ñều là

anh, chị, em ruột của nhau, không phụ thuộc việc các người con ñó cùng mẹ hay khác

mẹ Con riêng của vợ và con riêng của chồng thì không phải là anh, chị, em ruột của

nhau.(20) Tóm lại, anh, chị, em ruột là người có cùng cha, mẹ có thể là người cùng cha

khác mẹ hoặc người cùng mẹ khác cha Anh, chị, em là những người thừa kế của nhau

người này chết người kia có quyền thừa kế và ngược lại Trong trường hợp vừa có con

ñẻ, vừa có con nuôi thì giữa con ñẻ và con nuôi không phải là anh, chị, em của nhau nên

họ không có quyền thừa kế của nhau

* Quan hệ giữa ông bà và cháu

Ông nội, bà nội là người ñã sinh ra cha của người ñó Như vậy, quan hệ này chỉ

ñựơc xác ñịnh trên cơ sở huyết thống Ông nuôi, bà nuôi tức là bố mẹ của cha nuôi, mẹ

nuôi không phải là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai của người ñó Bởi vì, giữa họ về

(20) Nghị quyết số 02/ 1990/HðTP ngày 19/10/1990 của Hội ñồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,

ñiểm E mục 4

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

mặt pháp lý không có quan hệ gì; ñó chỉ là một khái niệm của một quan hệ xã hội thông

thường, ñược những người có liên quan ñến quan hệ ñó vay mượn từ quan hệ ông, bà và

cháu, trong gia ñình (những người có quan hệ huyết thống) ñể dễ dàng trong việc giao

tiếp, xưng hô phù hợp với tôn ti trật tự Về mặt pháp lý, không có khái niệm này và quan

hệ nuôi dưỡng chỉ xuất hiện khi có quan hệ nhận nuôi con nuôi Mặt khác, theo hướng

dẫn của Nghị quyết 02/HðTP ngày 19/10/1990 của Hội ñồng thẩm phán Toà án nhân dân

tối cao thì con nuôi không ñương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ của người nuôi

dưỡng Nếu ông (bà) ngoại còn sống vào thời ñiểm cháu của mình chết thì ông, bà sẽ là

người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ hai Trước ñây, cháu không phải kà người thừa

kế ở hàng thứ hai mà chỉ ñược thừa kế bằng kỹ thuật thế vị Do ñó, cháu không phải là

người thừa kế ở hàng thứ hai của ông, bà Nay theo BLDS 2005 thì cháu cũng là người

thừa kế thứ hai của ông, bà nhưng tuỳ tình trạng pháp lý mà ñựơc hưởng thừa kế thế vị

hay thừa kế theo hàng

* Quyền thừa kế giữa cụ và chắt

Cụ nội (ngoại) là người ñã sinh ra ông, bà nội (ngoại) của người ñó Như vậy họ

cũng có tình trạng pháp lý như ông, bà và cháu Họ là những người thừa kế của nhau ở

hàng thừa kế thứ ba nếu chắt còn sống ở thời ñiểm mở thừa kế và không vi phạm ñiều

643 BLDS 2005 thì trở thành người thừa kế theo pháp luật của người chết ở hàng thứ ba

và ngược lại

* Quan hệ giữa bác, chú, cô, cậu, dì ruột và cháu

Có thể cách gọi quan hệ này ở nhiều vùng là không giống nhau Vì vậy, hiểu một

cách chung nhất thì bác, chú, cô, cậu, dì là anh, chị, em ruột của cha, mẹ của người chết

Quan hệ này là quan hệ giữa người hưởng di sản của nhau nghĩa là người này chết trước

thì người kia ñựơc thừa kế ở hàng thứ ba và ngựơc lại

1.4 Thiết lập nguyên tắc và trình tự hàng thừa kế theo chiều dọc

Với những giải pháp ñựơc ñưa ra thì những người thừa kế sẽ ñựơc gọi ñến ñể nhận

di sản theo thứ tự từ trên xuống Bắt ñầu từ hàng thừa kế thứ nhất “Những người ở hàng

th ừa kế sau chỉ ñựơc hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do ñã chết,

không có quy ền hưởng di sản hoặc bị truất quyền hưởng di sản” (khoản 1, ñiều 643

BLDS 2005) Cụ thể quy ñịnh trên, ta lấy lại ví dụ ñã ñựơc phân tích ở phần 1.2 bao gồm

khối di sản như sau: Nhà trị giá 100.000.000 ñồng, xe 30.000 ñồng, quyền sở hữu doanh

nghiệp 120.000.0000 ñồng Tổng giá trị tài sản có là 250.000.000 ñồng, tài sản nợ bằng 0

Xác ñịnh người thừa kế theo pháp luật theo pháp luật hiện hành gồm có B, C, Z, E,

F riêng D không ñược hưởng thừa kế vì ở hàng thừa kế thứ nhất có mặt tất cả những

người thừa kế có quyền hưởng di sản Chỉ khi nào hàng thừa kế thứ nhất ñã chết hết hoặc

những người này có hành vi ñựơc ghi nhận ở ñiều 643 thì những người này về mặt pháp

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

lý gọi là người khơng cĩ quyền hưởng di sản Như vậy, tất cả di sản mới được trao trọn

cho cháu ruột là D (nếu hàng thứ hai chỉ cĩ D) Mà điều này ít xảy ra vì gia đình Việt

Nam thơng thường cĩ nhiều hơn hai con ở mỗi gia đình Hoặc giả sử do bi thương trước

cái chết của A hững người ở hàng thừa kế thứ nhất khơng muốn nhận những gì cĩ liên

quan đến người chết hay vì họ muốn trao di sản cho D nên từ chối nhận di sản thì cháu và

những người trong hàng kế tiếp sẽ đựơc hưởng thừa kế

Xác định người thừa kế theo giải pháp được thiết lập theo chiều dọcsẽ gồm cĩ B,

C, D, Z Theo giải pháp này thì B là người thừa kế ở bậc 1 sẽ đựơc nhận phần Nếu B từ

chối thì C, D, Sẽ nhận di sản cịn E, F khơng cĩ phần dọ được xếp ở hàng thừa kế thứ hai

Lúc này ưu điểm của giải pháp đưa ra mới phát huy Thế nhưng, giải pháp này chỉ phù

hợp với một gia đình cĩ nề nếp, những thành viên trong gia đình cĩ trách nhiện chăm sĩc

nuơi dưỡng nhau Giả sử, sau khi nhận phần C, D, Z khơng chăm sĩc, nuơi dưỡng đối với

B, E, F thì những người này sẽ sống như thế nào và sẽ trở thành gánh nặng xã hội Do đĩ,

khơng thể thiết lập hàng thừa kế theo một chiều mà phải cĩ mối quan hệ hỗ tương với

hàng ngang Nghĩa là những người này cĩ quyền bình đẳng về thừa kế chỉ khi nào họ từ

chối thì người ở bậc kế tiếp mới đựơc nhận trọn phần di sản của người đã từ chối nhận di

sản Như vậy, họ sẽ cĩ một thời gian hợp lý hơn để cĩ thể tin tưởng và trao trọn di sản

cho những người thừa kế cịn lại theo một thủ tục hợp pháp Những giải pháp đựơc đưa ra

thì cĩ rất ít giải pháp đạt tính hồn hảo tuyệt đối giải pháp nêu trên là một điển hình ðể

đưa ra một giải pháp hồn hảo thì một mình pháp luật thừa kế khơng đủ sức, nếu những

người nêu trên vi phạm nghĩa vụ nuơi dưỡng nhưng khơng nghiêm trọng thì cĩ sự can

thiệp của pháp luật hành chính, hội phụ nữ, hoặc các đồn thể xã hội, chính quyền địa

phương, nghiêm trọng hơn là cĩ những hành vi bạo lực thì cĩ Bộ luật hình sự can

thiệp.(21)

Theo đĩ những người thừa kế kế đựơc chia như sau: Mỗi người điều đựơc chia

phần bằng nhau cụ thể là: Tổng số người thừa kế là năm người do đĩ mỗi người đựơc

nhận 1/5 di sản tức là 1/5*250.000.000 = 50.000.000 đồng Thế nhưng, giải pháp này chỉ

mang tính chất tương đối Qua đĩ, cũng thấy rằng tính chất bằng nhau của giải pháp đựơc

xây dựng trên giả thuyết được chia tiền mới cĩ thể đảm bảo Nếu như những người trên

mỗi người địi chia một tài sản khác nhau B, C địi chia nhà; Z yêu cầu chia quyền sở hữu

cơng ty và những hoa lợi, lợi tức; cịn E, F yêu cầu xe, quyền sở hữu cơng ty; thì khơng

thể xác định được chính xác phần bằng nhau của mỗi người trong một hiện vật Tính chất

(21) Bộ luật hình sự năm 1999-NXB chính trị qốc gia-2004, điều 151 Tội ngược đãi, hành hạ ơng, bà, cha,

mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người cĩ cơng nuơi dưỡng mình

(22) Quốc triều hình luật điều 380, 388

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tương ñối của giải pháp sẽ ñựơc phân tích kỉ ở phần phân chia di sản Trong luật phong

kiến Việt Nam không có quy ñịnh phần bằng nhau ñối với người thừa kế mà tuỳ theo tình

trạng pháp lý mà ñựơc hưởng phần không giống nhau Như trong luật thời Lê thì con vợ

lẽ và con vợ cả hưởng phần không giống nhau Các con trai nhất là con trưởng, con vợ

cả, con ñẽ thường ñựơc hưởng nhiều hơn con thứ, con vợ lẽ, con nuôi.(22) Còn luật nhà

Nguyễn thì càng câu nệ hơn các tư tưởng nho giáo phong kiến, nên cũng thiết lập quy

ñịnh về thừa kế theo pháp luật càng khắc khe hơn luật thời Lê Do ñó, quy ñịnh về phần

bằng nhau giữa các ñồng thừa kế không có nguồn gốc từ luật dân sự-thừa kế Việt Nam

mà có sự du nhập từ một tư tưởng tiến bộ của nước ngoài Trong luật của Pháp có ghi

nhận giải pháp mỗi người trong cùng một hàng ñựơc hưởng phần bằng nhau Vậy, có thể

khẳng ñịnh rằng quy ñịnh này có nguồn gốc từ luật Latinh

Tóm lại, có thể nói rằng quy ñịnh về hàng thừa kế theo pháp luật không chỉ giống

nhau về giải pháp mà chính xác từ câu chữ của ñiều luật ðiều này có những ưu ñiểm

cũng như những bất hợp lý Do ñó, cần có một cách nhìn ñúng ñắn hơn về quan hệ thừa

kế theo pháp luật cũng như việc sửa ñổi các quy ñịnh có liên quan ñể thừa kế theo pháp

luật thật sự trở thành một giải pháp hữu ích trên thực tế

2 Quan hệ thừa kế của những người có quan hệ nuôi dưỡng

2.1 Căn cứ xác lập quan hệ thừa kế giữa những người có quan hệ chăm sóc, nuôi

dưỡng nhau

Thật ra, ñối với giải pháp thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ nuôi dưỡng giữa

BLDS năm 1995 và BLDS 2005 không có sự khác biệt về mặt câu chữ lẫn tinh thần của

giải pháp Với sự xuất hiện lần ñầu tiên trong pháp luật thừa kế hiện ñại trong Thông tư

số 81 ngày 24/7/1981 của Toà án nhân dân tối cao Giải pháp chính thức này, ghi nhận

chưa ñầy ñủ mối quan hệ thừa kế giữa những người có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng

nhau như trong luật hiện hành mà chỉ ghi nhận quyền thừa kế của bố dượng, mẹ kế, con

riêng (nếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng) Mãi ñến pháp lệnh thừa kế năm 1990 mới

ghi nhận quyền thừa kế giữa con nuôi và gia ñình cha mẹ ñẽ có mối quan hệ hỗ tương

Cho ñến nay, pháp luật thừa kế chưa có quy ñịnh gì mới ñối với quyền thừa kế của những

con người ñặc biệt này, mà chỉ có sự kế thừa liên tục từ năm 1990 ñến 2005 Với quy

ñịnh của pháp luật hiện hành ñã tạo ra hai quy ñịnh khác nhau Nhưng xác lập chung một

tình trạng pháp lý của những người gọi là “có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau”

Nhìn chung, giải pháp ñựơc ghi nhận trong Thông tư số 81 có lẽ hơi ích kỉ Nhưng lại bớt

ñi một tình trạng một người có thể thừa kế ñựơc của nhiều người Và việc không thừa

nhận quyền thừa kế của con nuôi ñối với gia ñình gốc lại trở nên bất hợp lý, khi mà con

nuôi lại ñựơc thừa kế của cha mẹ nuôi; trong khi cha mẹ ruột là người có quan hệ huyết

thống lại không ñược thừa kế Và ñây mới chính là quan hệ cốt yếu và là bản chất của

Trang 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thừa kế theo pháp luật Nhưng giải pháp của luật năm 1981 lại ghi nhận mối quan hệ thừa

kế giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi, còn cha mẹ ruột thì không ñựơc thừa kế ðiều này

cho thấy rằng kỹ thuật lập pháp của nước ta lúc bấy giờ chưa khoa học và chưa tiến bộ

ðiều này không có gì lạ ñối với một quốc gia vừa ñựơc thống nhất, ñang trong bối cảnh

thiết lập nền mống xã hội chủ nghĩa thì chưa thể ñủ kinh nghiệm lập pháp, và còn non

yếu trong việc xây dựng một giải pháp hoàn thiện Giải pháp không phù hợp này sớm

ñựơc sửa ñổi trong pháp lệnh thừa kế 1990 Có lẽ, nhà làm luật muốn thiết lập một giải

pháp công bằng giữa người thừa kế là con nuôi của người khác và nguời không làm con

nuôi của người khác thì vẫn ñược hưởng một suất thừa kế từ cha mẹ Dù sao quy ñịnh

này cũng có một lý lẽ ñể tồn tại và ít có sự tranh cải hơn luật hiện hành Giải pháp của

luật hiện hành cũng ñang ñựơc tranh cải một cách quyết liệt ñến mức ñộ phủ nhận rằng

nên hay không nên thừa nhận quan hệ thừa kế theo pháp luật của những người có quan hệ

chăm sóc, nuôi dưỡng nhau ? và ñang trong tình trạng một người có thể thừa kế của nhiều

người khác nhau bằng quan hệ nuôi dưỡng

Những người có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau theo luật hiện hành bao

gồm: Cha nuôi, mệ nuôi, con nuôi, bố dượng, mẹ kế, con riêng Từ câu chữ của ñiều 678,

679 BLDS 2005 có thể thấy rằng ñiều luật thật sự mang tính khái quát hoá cao ñộ ñến

mức “trừu tượng hoá”(23) vấn ñề thừa kế theo pháp luật giữa họ với nhau ðiều này xuất

phát từ căn cứ xác lập quan hệ thừa kế giữa họ Trong phạm vi luận văn này người viết

không nhằm ñưa ra một giải pháp ñặc sắc ñể thay ñỗi hoàn toàn cục diện của ñiều luật

Thế nhưng, với những gút mắc của ñiều luật là một vấn ñề thật sự cần một lời giải ñáp,

ñể tháo gở thực trạng pháp lý của ñiều luật ñã ñựơc xây dựng mà không thể áp dụng trên

thực tế Hay nói một cách khác giải pháp chỉ mang tính chất lý luận Với vai trò của một

người nghiên cứu luật và sẽ áp dụng pháp luật trên thực tế trong tương lai gần Người viết

cũng không tránh khỏi sự nhầm lẫn khi ñọc ñiều 681, 682 BLDS 1995 (ñiều 678, 679

BLDS 2005)

ðể làm rõ tính chất quy ñịnh không chỉ riêng người viết thắc mắc mà ñã có rất

nhiều ngòi bút ñóng góp xây dựng pháp luật như: Tưởng Duy Lượng Chánh toà dân sự

Toà án nhân dân tối cao, Thái Công Khanh… ñã ñưa ra tính không phù hợp, trái với

nguyên tắc cơ bản của thừa kế theo pháp luật của quy ñịnh Cũng trong trang viết này

người viết xin ñựơc ñưa ra những suy nghĩ của mình về giải pháp vừa nêu

Mối quan hệ giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi ñựơc thiết lập trên cơ sở pháp

lý mà luật HN&Gð năm 2000 ñã dành trọn chương VIII ñể nói về quan hệ này Giữa con

nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi ñựơc xác lập dựa vào việc ñăng ký nuôi con nuôi và cũng từ

(23) Thái Công Khanh-Những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện ñiều 679 BLDS về quan hệ thừa kế

giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế-Tạp chí Toà án nhân dân số 16-Tháng 8-2006

Trang 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ñó quan hệ như cha con, mẹ con giữa họ với nhau cũng phát sinh từ ñó Nghĩa là họ có

quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con còn con nuôi thì có nghĩa vụ kính trọng, biết

ơn, hiếu thảo…Và ñặc biệt là quyền ñuợc thừa kế di sản của nhau tại ñiều 678 BLDS

2005 Về mặt pháp lý giữa cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi là cha, mẹ, con giống như cha mẹ

ñẽ với con ruột của mình Và chỉ có thể ñánh ñỗ mối quan hệ này bằng con ñường pháp

lý theo thủ tục của ñiều 76 luật HN&Gð ðiều này cho phép khẳng ñịnh rằng quan hệ

cha con, mẹ con giữa họ không ñương nhiên chấm dứt khi có một người chết, mà chỉ

chấm dứt khi có một bản án có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,

theo sự yêu cầu của những người có liên quan ðây chính là ưu ñiểm của giải pháp: Kỹ

thu ật lập pháp rất chặt chẽ

Nhưng cũng cần lưu ý rằng con nuôi của một người vợ (chồng) không ñương

nhiên trở thành con nuôi của người còn lại Cụ thể là con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với

ñối với người nuôi Nếu một người trước khi kết hôn ñã nhận con nuôi, thì sau khi kết

hôn người con nuôi này sẽ trở thành con riêng của người ñã nhận nuôi Hoặc nếu người

nhận con nuôi trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ một người vợ (chồng) ñăng ký thì người

con nuôi chỉ có quyền thừa kế ñối với người ñã nhận nuôi mình Trong trường hợp này

không ñương nhiên xác lập tình trạng pháp lý “con chung của vợ chồng” vì ñã ñược

nhận nuôi trong thời kỳ hôn nhân Giả thuyết này chỉ ghi nhận ñối với con có quan hệ

huyết thống với vợ (chồng)

Khác với cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi, con riêng với bố dượng, mẹ kế không

ñựơc xác lập bằng một quan hệ pháp lý rõ ràng, chặt chẽ mà chỉ là một quy ñịnh chung

chung Và chỉ có thể xác ñịnh bằng yếu tố xã hội có quan hệ “như cha mẹ con” thì sẽ

ñựơc thừa kế di sản của nhau theo pháp luật và việc xác ñịnh bằng chứng cho quan hệ

chăm sóc, nuôi dưỡng là một ñiều khó có thể xác ñịnh Ngoài ra không có một văn bản

nào giải thích như thế nào là bố dượng, mẹ kế và con riêng ? Thời gian chăm sóc, nuôi

dưỡng là bao lâu ñể có quan hệ thừa kế ? khi nào thì kết thúc mối quan hệ giữa họ ? Cơ

sở duy nhất ñể xác ñịnh có quan hệ thừa kế theo pháp luật hay không chính là ñiều 679

Về nguyên tắc con riêng, bố dượng, mẹ kế không có quyền thừa kế theo pháp

luật Thật ra, ñiều luật này xuất phát từ thực tiễn, nhu cầu ñạo lý là khuyến khích những

người trong gia ñình quan tâm, giúp ñở và có trách nhiệm với nhau Nhưng với quy ñịnh

chưa rõ ràng này ñã làm cho ñiều luật trở nên phức tạp và không thể áp dụng trên thực tế,

cũng có thể bị ñánh ñổ bất cứ lúc nào bằng một lý lẽ phủ nhận Như vậy, ñể áp dụng

ñựơc ñiều 678, 679 vào thực tiễn chúng ta cần phải hiểu rõ ý ñịnh của nhà làm luật: Tư

tưởng chủ ñạo của ñiều luật quy ñịnh cái gì ? áp dụng cho những trường hợp nào ? và ñối

tượng là ai ?

Trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.2 Hai tình trạnh pháp lý khác nhau giữa người nuôi và người ñựơc nuôi

Theo quy ñịnh ñiều 678 cho thấy rằng nhà làm luật muốn thiết lập hai tình trạng

pháp lý khác nhau trong mối quan hệ tay ba gồm cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi; quan hệ

giữa con nuôi và gia ñình gốc; quan hệ cha nuôi, mẹ nuôi với gia ñình của họ

* Mối quan hệ giữa người nuôi và người ñựơc nuôi:

ðối với những nuôi và người ñựơc nuôi ñựơc thiết lập trên cơ sở pháp lý của luật

HN&Gð và giữa họ tuy có mối quan hệ huyết thống Do chính sách khuyến khích xã hội

ñối xử tốt không phân biệt ñối xử với những thành viên trong gia ñình ñựơc thiết lập giữa

người không có mối quan hệ huyết thống nào (con nuôi và cha, mẹ nuôi) hoặc gia ñình

vừa có quan hệ huyết thống và người không có quan hệ huyết thống (cha, mẹ nuôi, con

ruột, con nuôi) ðiều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn Bởi lẽ, một gia ñình không có

con và xin một ñứa trẻ về nuôi và ñăng ký tại Uỷ ban nhân dân (sau ñây viết tắt là

UBND) xã, phường, thị trấn Họ cũng yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng như con ruột

trong gia ñình Nếu những người này không ñựơc thừa kế thì tài sản của người cha nuôi

thì tài sản của cha nuôi sẽ thuộc về nhà nước (nếu cha mẹ nuôi không còn ai thừa kế theo

pháp luật) thì ñiều này hoàn toàn không hợp lý Bên cạnh ñó, theo tinh thần của ñiều 67

luật HN&Gð tạo tình trạng pháp lý không phân biệt giữa con ruột và con nuôi trong gia

ñình, thì con nuôi cũng ñựơc thừa kế như con ruột và ñựơc xếp ở hàng thừa kế thứ nhất

của cha nuôi, mẹ nuôi

Tuy nhiên, ñối với những người trong gia ñình gia ñình người nuôi không có quan

hệ gì với người than của người ñựơc nuôi và ngược lại Do ñó, họ không ñựơc thừa kế

của nhau ðiều này cũng dễ hiểu thôi bởi vì ngoài việc thừa kế của nhau, thì họ còn ñựơc

thừa kế từ gia ñình gốc của mỗi người Do vậy, nếu thừa nhận quyền thừa kế giữa người

nuôi, người ñựơc nuôi với người người thân thuộc của mỗi người thì dĩ nhiên sẽ có nhiều

người nghĩ ñến việc chọn lựa một gia ñình giàu có mà gửi cho con nuôi, ñể có ñựơc

nhiều cơ hội tích luỷ của cải của nhiều người khác nhau bằng việc thừa kế

* Mối quan hệ giữa người nuôi và người ñựơc nuôi với gia ñình gốc của mỗi

người

Hiểu như thế nào về cụm từ “và còn ñựơc thừa kế di sản theo ñiều 676, 677 của

b ộ luật này” Ý ñịnh của nhà làm luật muốn nói ñến quan hệ thừa kế giữa cha nuôi, mẹ

nuôi với con nuôi hay quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi hoặc con nuôi với gia ñình gốc ?

Tìm hiểu dự thảo BLDS tháng 1/2005 xác ñịnh ñối với gia ñình gốc nghĩa là cha

ruột, mẹ ruột, anh, chị, em ruột…Tất cả những người có quan hệ huyết thống của người

ñi làm con nuôi của người khác Họ có thể bảo tồn toàn bộ quyền thừa kế theo pháp luật,

thừa kế thế vị Pháp luật Việt Nam từ thời Lê không ghi nhận quyền này mà chỉ ghi nhận

Trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trong trường hợp gia ñình cha mẹ ruột tuyệt tự tức là không còn người thừa kế Và trong

luật triều Nguyễn cũng không nói ñến quan hệ này Có lẽ con nuôi không sống với cha,

mẹ từ thuở bé cho nên không thừa nhận quan hệ với gia ñình gốc Vô tình cho thấy rằng

luật thời Nguyễn thiên vị về quan hệ nuôi dưỡng, vì con riêng cũng ñựơc thừa nhận bằng

tư cách là con nuôi của chồng nếu ñựơc tiếp nhận Giống với luật triều Nguyễn thì trong

luật của Pháp cũng không thừa nhận quan hệ thừa kế giữa con nuôi ñựơc nhận nuôi theo

một thủ tục ñầy ñủ ñối với gia ñình gốc Nhưng trong luật của Pháp có cơ sở pháp lý chặt

chẽ hơn; trong trường hợp này thì con nuôi và cha, mẹ nuôi có quan hệ như người con

ruột và không thể bị huỷ bỏ Còn con nuôi ñựơc nhận theo một thủ tục ñơn giản thì lại

giống như tình trạng pháp lý của con nuôi trong luật Việt Nam (ñiều 356, 364, 368-1

BLDS Pháp) Ngày nay, ñiều này cũng không khó hiểu với quan hệ thừa kế theo pháp

luật dựa trên quan hệ huyết thống của hệ thống luật Việt Nam; ñối với quan hệ nuôi

dưỡng người con nuôi và cha, mẹ nuôi thiết lập ñựơc mối quan hệ thừa kế theo pháp luật

và chưa kể ñến thừa kế thế vị trong một số trường hợp Thì có thể khẳng ñịnh rằng quyền

thừa kế của con nuôi với gia ñình gốc không thể nào chấm dứt Vì mối quan hệ giữa cha

mẹ con không thể nào chấm dứt kể cả khi những người này chết rồi thì quyền nhận cha,

mẹ, con cũng có thể thực hiện ñựơc.(24)

* Xác ñịnh hàng thừa kế cho con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi

Trong bộ Quốc triều Hình luật ghi nhận quyền thừa kế của con nuôi ñựơc chia

theo hai tình trạng: Con sống với cha nuôi, mẹ nuôi từ thuở bé thì ñựơc hưởng trọn di sản

di sản (nếu không có con ruột) ðiều này ñựơc ghi trong văn tự là người này sẽ ñựơc

hưởng ñiền sản Nếu không sống với cha mẹ từ thuở bé thì ñựơc hưởng 2/3 di sản Nếu

như có con ruột thì con nuôi chỉ ñựơc hưởng 1/3 di sản trong mọi trường hợp Còn Bộ

luật Gia Long thì ghi nhận con dưới ba tuổi ñựơc hưỏng một phần gia tài.(25) Còn con

nuôi không ñể lập tự cũng có vậy Con nuôi ñể lập tự mà cha mẹ nuôi sinh ñựơc con trai

thì thân phận con nuôi lập tự giống như con nuôi không lập tự và khi trở về với cha mẹ

ruột thì phải trả lại tài sản cho gia ñình cha nuôi, mẹ nuôi Có thể nói rằng trong luật

phong kiến còn khắc khe ñối với con nuôi và có sự phân biệt giữa các con Việc ghi nhận

quyền thừa kế của con nuôi cũng là một thực tiễn phát sinh rất lâu ñời Cho ñến ngày nay

vẫn ñựơc kế thừa nhưng với tư tưởng tiến bộ phù hợp với truyền thống gia ñình Việt

Nam vừa ñảm bảo theo kịp xu hướng tiến bộ của các nước trên thế giới Trong luật Việt

Nam thời hiện ñại thì ñây là mối quan hệ của những người thừa kế di sản của nhau Nếu

như cha nuôi, mẹ nuôi chết trước thì con nuôi trở thành người thừa kế của cha nuôi, mẹ

(24) Luật HN&Gð năm 2000- NXB chính trị quốc gia-2004, Theo ñiều 64, 65

(25) Bộ luật Gia Long, Lệnh V, ñiều 76

(26) BLDS năm 2005 –NXB chính trị quốc gia-2005, ñiều 676; BLDS 1995, ñiều 679

Trang 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nuôi hàng thừa kế thứ nhất.(26)Nếu còn sống ở thời ñiểm mở thừa kế và ngược lại Con

nuôi chết trước mà cha nuôi, mẹ nuôi vẫn còn sống thì cha nuôi, mẹ nuôi là người thừa kế

ở hàng thứ nhất của con nuôi Như vậy, câu chữ của ñiều 678 ñã làm rõ một phần Quyền

thừa kế theo pháp luật rất rõ ràng và chặt chẽ mà chỉ có thể bác bỏ bằng một thủ tục pháp

2.3 vấn ñề thừa kế thế vị của con nuôi

ðây là vấn ñề của luật hiện ñại chứ trong luật phong kiến không nhắc ñến việc

này ðể làm rõ phần còn lại của ñiều luật 678 ta xét vị dụ thực tiễn sau (ñặt là ví dụ 1):

Cụ Q Có ba người con là ông A, ông B và bà C (chết năm 1990 có con nuôi là chị M hiện

ñang sống tại Cộng hoà Pháp) Năm 1995, cụ bà Q chết Năm 1996 cụ Q mua một ngôi

nhà tại thị trấn H Năm 2000 cụ Q chết không ñể lại di chúc Ngôi nhà của cụ do ông B

quản lý và sử dụng ðến những năm 1990, Ông A mới có yêu cầu ông B về việc chia tài

sản của cha Do không dàn xếp ñựơc nên năm 2006, ông A khởi kiện ông B, yêu cầu Toà

án chia tài sản thừa kế của cụ Q sau khi hoàn tất hồ sơ và thủ tục tố tụng, toà án nhân dân

huyện X mở phiên toà sơ thẩm, ông B xuất trình một lá thư của chị M gửi về; trong ñó M

ñề nghị Toà án Việt Nam xác ñịnh cho chị có quyền thừa kế tài sản của cụ Q và phần tài

sản mà chị M ñựơc hưởng chị xin nhường cho ông B Thư của chị M có thi thực của lãnh

sự quán Việt Nam, xác nhận chữ ký trong thư của chị M ðiều quan trọng trong vụ án

này là xác ñịnh cháu nuôi có quyền thừa kế thế vị hay không ? Riêng tình trạng pháp lý

của M hiện nay có hai quan niệm trái ngược nhau:

-Quan ñiểm thứ nhất: cho rằng M ñựơc hưởng thừa kế thế vị Những người theo

quan ñiểm thứ nhất dựa trên lập luận cho rằng việc thừa kế thế vị nhằm ñảm bảo quyền

thừa kế của cháu ñối với ông nội, bà nội hoặc ông ngoại, bà ngoại (hoặc của chắt ñối với

tài sản của cụ nội, cụ ngoại) Nếu là con của bố mẹ thì con ñẽ cũng như con nuôi ñiều là

người ở hàng thừa kế.(27) Hơn nữa ñiều 678 (BLDS 1995) quy ñịnh con nuôi, cha nuôi,

mẹ nuôi ñựơc hưởng di sản của nhau và còn ñựơc thừa kế theo ñiều 679, 680 BLDS1995;

(ñiều 676, 677 BLDS 2005).Do vậy, bảo ñảm quyền thừa kế giữa con nuôi, giống như

con ñẽ Cụ thể nếu con ñẽ của người chết ñựơc quyền thừa kế thế vị thì con nuôi cũng

ñựơc quyền thừa kế thế vị

-Quan ñiểm thứ hai: Ngược lại cho rằng M không có quyền thừa kế thế vị Và

theo người viết thì quan ñiểm thứ nhất ñã có sự nhầm lẫn về ñối tượng thừa kế Vấn ñề ở

chổ tài sản ñược chia thừa kế là tài sản của ông, bà Do vậy, ñể xác ñịnh việc thừa kế thế

vị không chỉ xem xét ñến mối quan hệ giữa cha mẹ (thế hệ thứ hai) với con (thế hệ thứ

(27) BLDS 1995 khoản 1 ñiều 679, BLDS 2005 ñiều 676

Trang 40

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ba) với ông bà là thế hệ thứ nhất

Vậy thì cháu ñựơc thừa hưởng phần tài sản của ông bà là cháu nào ? Ngoài cháu

ruột thì cháu nuôi có ñựơc hưởng phần tài sản của ông, bà hay không ? Giải quyết ñựơc

vấn ñề này là tìm ñựơc câu trả lời con nuôi có ñựơc thừa kế thế vị hay không Theo ñiều

677 BLDS 2005 quy ñịnh “Trong trường hợp con của người ñể lại di sản chết trước

ho ặc cùng thời ñiểm với người ñể lại tài sản thì cháu ñựơc hưởng nếu còn sống; nếu

cháu c ũng chết trước hoặc cùng thời ñiểm với người ñể lại di sản thì chắt cũng ñựơc

h ưởng phần tài sản mà ông, bà của cháu ñựơc hưởng nếu còn sống ở thời ñiểm mở thừa

k ế” Như vậy, người ñựơc hưởng thừa kế thế vị (thế hệ thứ ba) không chỉ là con của

người chết ñể lại di sản (thế hệ thứ hai) mà còn là cháu của người ñể lại di sản (thế hệ thứ

ba) ðây là ñiều kiện quan trọng nhất ñể xác ñịnh có thừa kế thế vị hay không Như ñã

nói trên thì việc chia tài sản ở ñây là của người ñể lại di sản (thế hệ thứ hai) Do vậy, nếu

chỉ dừng lại ở việc xác ñịnh người thừa kế ở thế hệ thứ hai chưa ñủ ñể kết luận là có mối

quan hệ thừa kế thế vị hay không Bởi nếu con thì có thể là con ñẽ hoặc là con nuôi ñiều

có quyền hưởng thừa kế như nhau Nhưng vấn ñề ñặt ra ở ñây không phải là chia tài sản

của cha mẹ (thế hệ thứ hai ) mà chia tài sản của ông bà (thế hệ thứ nhất) Do vậy cần phải

xác ñịnh người ñó phải có mối quan hệ như thế nào ñối với thế hệ thứ nhất ðiều 677 xác

ñịnh người thuộc thế hệ thứ ba ñó phải là cháu của người thuộc thế hệ thứ nhất Mối quan

hệ giữa ông bà với cháu theo quy ñịnh BLDS 2005 và luật HN&Gð 2000 xác ñịnh trên

cơ sở huyết thống chứ không nuôi dưỡng Quan hệ nuôi dưỡng chỉ hình thành giữa cha,

mẹ và các con Cũng không có quy ñịnh nào của pháp luật về việc con nuôi ñương nhiên

trở thành cháu nuôi của ông, bà (vấn ñề này ñựơc hướng dẫn theo nghị quyết 02/HðTP

ngày 19/10/1990 như sau: “con nuôi không ñương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ của

ng ười nuôi dưỡng và cũng không ñương nhiên trở thành anh chị em anh, chị, em của con

ñẽ của con nuôi” Mặc dù nghị quyết 02 ñã ñựơc bãi bỏ theo nghị quyết của việc thi hành

BLDS 1995 nhưng ñây cũng có thể trở thành văn bản ñể tham khảo khi phân tích ñiều

677 về thừa kế thế vị)

Như vậy, cháu trong ñiều 677 BLDS 2005 là cháu nội hoặc cháu ngoại của người

ñể lại di sản Con nuôi của người con (thế hệ thứ hai) của người ñể lại di sản không thể

trở thành cháu nội hoặc ngoại của người chết ñể hưởng thừa kế thế vị Mặt khác, theo quy

ñịnh tại ñiều 678 BLDS 2005 thì ngoài việc ñựơc hưởng thừa kế của cha nuôi, mẹ nuôi

còn ñựơc thừa kế tài sản của cha mẹ ñẽ và ngược lại.(28)

Qua phân tích trên người viết cũng tán thành quan ñiểm thứ hai Thế nhưng người

viết không tán thành tuyệt ñối mà cân nhắc trong việc nên hay không nên thừa nhận quan

(28) Trong thực tế cho thường gọi là việc thừa kế hai mang

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w