1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP THỪA kế THEO PHÁP LUẬT lý LUẬN và THỰCTIỄN

68 507 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 637,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, xuất phát từ những quan hệ xã hội đời thường và được điều chỉnh bời các quy phạm pháp luật, quyền thừa kế được hiểu như sau: Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế được hiểu là một chế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

MSSV : 5062383 Lớp : Luật Tư pháp 3 Khóa : 32

Trang 2

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 3

1.1 Sơ lược quá trình phát triển pháp luật thừa kế Việt Nam: 3

1.1.1 Sơ lược về pháp luật thừa kế của chế độ phong kiến Việt Nam: 3

1.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1959: 3

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980: 4

1.1.4 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay: 4

1.2 Một số khái niệm về thừa kế: 5

1.2.1 Khái niệm về thừa kế: 5

1.2.2 Khái niệm về quyền thừa kế: 8

1.2.3 Khái niệm người để lại di sản thừa kế: 9

1.2.4 Khái niệm người thừa kế: 9

1.2.4.1 Người thừa kế theo di chúc: 9

1.2.4.2 Người thừa kế theo pháp luật: 9

1.2.4.3 Điều kiện của người thừa kế: 10

1.3 Phân loại thừa kế: 11

1.3.1 Thừa kế theo di chúc: 11

1.3.1.1 Khái niệm thừa kế theo di chúc: 11

1.3.1.2 Đặc điểm của thừa kế theo di chúc: 11

1.3.2 Thừa kế theo pháp luật: 12

1.3.2.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật: 12

1.3.2.2 Đặc điểm của thừa kế theo pháp luật: 15

1.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế: 16

1.4.1 Thời điểm mở thừa kế: 16

1.4.2 Địa điểm mở thừa kế: 18

1.5 Ý nghĩa của việc pháp luật quy định về thừa kế theo pháp luật: 18

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 21

2.1 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế của Việt Nam 21

Trang 4

2.1.3 Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa

kế 24

2.1.4 Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại 24

2.2 Quy định pháp luật về người thừa kế theo pháp luật và hình thức đặc thù của thừa kế theo pháp luật 26

2.2.1 Cơ sở quy định và phạm vi những người thừa kế theo pháp luật 27

2.2.2 Quan hệ giữa những người cùng hàng thừa kế 28

2.2.3 Các hình thức đặc thù của thừa kế theo pháp luật 30

2.2.3.1 Thừa kế thế vị 30

a) Các trường hợp được thừa kế thế vị 31

b) Các trường hợp không được thừa kế thế vị 33

2.2.3.2 Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi; mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ 34

2.2.3.3 Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế 34

2.2.3.4 Việc thừa kế trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác 35

2.3 Quy định của việc phân chia di sản 36

2.3.1 Quy định của việc phân chia di sản 39

2.3.2 Hạn chế của việc phân chia di sản 40

2.3.3 Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người bị bác bỏ quyền thừa kế .43

2.4 Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế .45

2.4.1 Quyền của người thừa kế 45

2.4.2 Nghĩa vụ của người thừa kế 46

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 48

3.1 Thực tiễn giải quyết những tranh chấp về thừa kế theo pháp luật 48

3.1.1 Về những quy định chung 48

3.1.2 Về xác định người thừa kế theo pháp luật 50

3.1.3 Về thanh toán và phân chia di sản 50

Trang 5

thừa kế theo pháp luật trong BLDS 52

3.2.1 Về con riêng và cha kế, mẹ kế 52

3.2.2 Về thừa kế thế vị .54

3.2.3 Về người thừa kế từ chối nhận di sản 57

3.2.4 Vấn đề thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của chủ nợ liên quan đến di sản và chủ nợ của người thừa kế 60

KẾT LUẬN 62

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam Ở nước ta, từ năm 1945 đến nay pháp luật thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp với các quan hệ xã hội chủ nghĩa, theo đó quyền và lợi ích về tài sản của công dân được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Lịch sử đã cho thấy rằng, vấn đề thừa kế có sự biến đổi theo hướng ngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh

tế - xã hội qua các thời kì Hệ thống pháp luật thừa kế được ban hành qua các thời kì đều thể hiện nguyên tắc “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Cụ thể được quy định tại Điều 58 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định:

“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì quy định tại Điều 17 và Điều 18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Pháp luật thừa kế đã có từ xa xưa và gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Tuy có những đặc thù riêng nhưng dân tộc nào, đất nước nào và từng con người cụ thể đều chịu sự tác động của pháp luật thừa kế

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay những quan hệ xã hội ngày một đa dạng hơn, những tranh chấp về thừa kế ngày càng có xu hướng tăng nhanh về số lượng

và phức tạp về nội dung Trong một số trường hợp, xuất phát từ tranh chấp về thừa

kế mà các gia đình ly tán, cha mẹ từ mặt con, anh chị em thù hận nhau…gây nên tình trạng bất ổn định trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội nhằm hạn chế tối đa những tranh chấp này, pháp luật về thừa kế không ngừng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế, đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc

Để cụ thể hóa những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong lĩnh vực thừa kế của Hiến pháp đã ghi nhận, trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành BLDS năm 2005 thay thế BLDS năm 1995, là một bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đất nước Chế định thừa kế trong BLDS năm 2005 đã có những quy định cụ thể và phù hợp hơn với đời sống thực tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay Các quy định về thừa kế luôn là những chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể trong việc bảo

vệ các quyền, lợi ích chính đáng của mình

Mặc dù pháp luật thừa kế của nước ta đã được xây dựng và phát triển cùng với

Trang 7

quá trình đổi mới toàn diện của đất nước, tuy nhiên còn nhiều quy định của BLDS chưa thực sát với thực tế và chưa được rõ ràng khiến cho nhiều tòa án các cấp gặp khó khăn khi giải quyết áp dụng, những quy định về thừa kế trong BLDS chưa thật

sự phù hợp với thực tế cuộc sống xã hội, do vậy, khi thi hành và áp dụng vẫn gặp vướng mặc Những hạn chế đó đã gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc

áp dụng thiếu thống nhất giữa các cấp tòa án trong việc giải quyết những tranh chấp thừa kế

Chính vì những lí do trên, người viết chọn đề tài “Thừa kế theo pháp luật Lý luận và thực tiễn” nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu và thực thi những quy định của pháp luật về thừa kế; góp phần vào việc nâng cao kiến thức pháp lý cơ sở và thiết yếu của mọi người, qua đó hạn chế các tranh chấp về thừa kế nhằm giữ vững quan

hệ gia đình, trật tự xã hội

Mục đích nghiên cứu

Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu đề tài, người viết tạo điều kiện cho người đọc hiểu rõ hơn về thừa kế theo pháp luật; giúp cho mỗi công dân thực hiện các quy định của pháp luật một cách đúng đắn và đầy đủ nhằm đạt được những mục đích mà Đảng và nhà nước ta đang hướng đến trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Trong phạm vi đề tài này, người viết đã dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, liệt kê để làm rõ các quy định những quy định của pháp luật về thừa kế Tuy nhiên, do kiến thức của người viết có hạn và vấn đề thừa kế đặc thù là loại việc phức tạp, nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Người viết mong được

sự đóng góp ý kiến của cô và bạn đọc để bài viết hoàn chỉnh hơn

Phạm vi nghiên cứu

Trong bài viết này, người viết chỉ nghiên cứu các vấn đề về thừa kế theo pháp luật, bên cạnh đó đi sâu nghiên cứu vào những quy định pháp luật về thừa kế theo pháp luật và hình thức đặc thù của nó Qua tìm hiểu thực trạng thừa kế từ đó có một

số đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thừa kế trong tương lai Cơ cấu đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về thừa kế

Chương 2: Những quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật

Chương 3: Thực tiễn và một số đề xuất về thừa kế theo pháp luật

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 1.1 Sơ lược quá trình phát triển pháp luật thừa kế Việt Nam

1.1.1 Sơ lược về pháp luật thừa kế của chế độ phong kiến Việt Nam 1

Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua nhiều thời kì Mỗi nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng cố quyền lực và phục vụ cho công việc quản lí đất nước Đáng chú ý là các bộ luật của các triều đại phong kiến như Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ luật Gia Long (1815) Ngoài bộ luật, các nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn đơn hành như chiếu, chỉ dụ, lệnh của vua…Nội dung của các bộ luật điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội thuộc đối tượng của nhiều ngành luật hiện nay Trong đó có những quy định về thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc Trong Bộ luật Hồng Đức quy định các con (con trai, con gái, con nuôi) đều có quyền thừa kế của cha, mẹ Mọi người đều có quyền để lại hương hỏa cho con cháu Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cha mẹ làm chúc thư phân chia tài sản, thiết lập hương hỏa trong chúc thư” Còn Bộ luật Gia Long không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chú trọng quyền thừa kế của con trai Vấn đề thừa kế đã được đề cập như Điều 388 quy định: “nếu có mệnh lệnh của cha mẹ phải theo đúng Vi phạm điều này sẽ mất phần của mình”

Xét về mặt nội dung, các quy định về thừa kế trong luật Hồng Đức, luật Gia Long tương đối chặc chẻ và đầy đủ

Thời kì Pháp thuộc, ở Việt Nam áp dụng các bộ luật sau: Bộ dân luật Bắc Kì

1931 và Hoàng Việt Trung Kì hộ luật 1936 Trong các bộ luật này đều có quy định

về thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

1.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1959

Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời Một Nhà nước non trẻ đã phải đối mặt đến nhiều vấn đề phức tạp về chính trị, văn hóa, xã hội…Nhiệm vụ của Nhà nước lúc này là phải bảo vệ củng cố thành quả cách mạng, kể cả những vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân sự Để bảo đảm cho các quan hệ xã hội về dân sự phát triển bình thường, Nhà nước cần phải có hệ thống pháp luật Vì vậy, mặc dù bận trăm công ngàn việc của những ngày đầu dựng nước

và giữ nước, ngày 22/5/1950 Hồ Chủ Tịch đã kí Sắc lệnh 97/SL về việc sửa đổi một

số quy lệ và chế định trong luật dân luật, quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong những điều kiện của nền dân chủ luật nước ta Riêng trong lĩnh vực thừa

1 Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, NXB Công an nhân dân,

2007

Trang 9

kế đã quy định vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha, mẹ; chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia di sản; con, cháu hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết; các chủ nợ của người đã chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh toán nợ quá phần di sản mà người đó nhận được

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

Hiến pháp năm 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế thành nguyên tắc, Điều 19 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định: “Các con đều có quyền lợi và nghĩa

vụ ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi”

Sau này, để đáp ứng yêu cầu của công tác xét xử trong phạm vi chức năng do Luật tổ chức tòa án quy định Tòa án nhân dân tối cao ra nhiều thông tư hướng dẫn Thông tư số 549/NCPL ngày 27/8/1968 hướng dẫn đường lối xét xử các tranh chấp

về thừa kế, Thông tư số 02/TATC ngày 02/8/1973 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản liệt sĩ…

1.1.4 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay

Hiến pháp năm 1980 ghi nhận “Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” (Điều 27) Để phục vụ cho công tác xét xử các tranh chấp về thừa kế đồng thời bổ sung một số điểm cho phù hợp với Hiến pháp mới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (di sản thừa kế, thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc, phân chia di sản thừa kế…) Thông tư

81 là văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm liên quan đến quyền thừa kế

Tiếp đó, Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 đã quy định một số điều liên quan đến quyền thừa kế của vợ, chồng (Điều 14, Điều 16, Điều 17…)

Ngày 30/8/1990, Hội đồng Nhà nước nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế Qua hơn 5 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế và thực tiễn xét xử cho thấy pháp lệnh này đã đi vào cuộc sống, về cơ bản vẫn còn phù hợp với thực trạng các quan hệ thừa kế hiện nay bảo đảm quyền thừa kế của công dân được các tầng lớp nhân dân đồng tình và chấp nhận

Thừa kế được quy định tại Phần thứ tư BLDS năm 1995 đã thừa kế hầu hết các quy định của Pháp lệnh về thừa kế năm 1990 Ngoài ra, có bổ sung một số vấn

đề mới trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá

Trang 10

BLDS năm 1995 và có một số thay đổi nhỏ để khắc phục vướng mắc không phù hợp với thực tế trong quá trình giải quyết tranh chấp về thừa kế trong thời gain qua

1.2 Một số khái niệm về thừa kế

1.2.1 Khái niệm về thừa kế

Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người Ở thời kì này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và cho những phong tục tạp quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định Nghiên cứu về thừa kế, Ph.Ăngghen viết: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tạp tục nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thiết nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ”.2

Thừa kế là sự kế quyền tổng hợp của những người còn sống đối với quyền, nghĩa vụ của người đã khuất Việc kế quyền toàn bộ hay một bộ phận quyền, nghĩa

vụ do người chết để lại còn phụ thuộc vào các quy định của pháp luật và ý chí của người để lại di sản, người hưởng di sản

“Thừa” và “kế” đều có nghĩa là nối tiếp, tiếp tục Dó đó, thừa kế thường được hiểu rằng, người sống thừa hưởng tài sản của người qua đời Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản đã chết Thừa kế với nghĩa là quan hệ dân sự, trong đó có các chủ thể của quan hệ thừa kế bao gồm người để lại di sản và người thừa kế Người có tài sản để lại khi chết gọi là người để lại tài sản Người được hưởng tài sản của người chết để lại gọi là người thừa kế Người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, mà không bao giờ là pháp nhân, cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức; nhưng người thừa kế có thể là cá nhân, hoặc cơ quan Nhà nước hoặc bất kỳ một chủ thể nào khác

Trong chế độ phong kiến và tư bản, những giai cấp bóc lột chiếm hữu những

tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội; di sản của họ để lại cho con cháu không những

là truyền lại quyền lực về kinh tế, mà còn truyền lại quyền lực về chính trị để duy trì

sự áp bức bóc lột của những giai cấp đó đối với nhân dân lao động Trong xã hội có những chế độ sở hữu khác nhau, thừa kế là một trong những phương thức để củng

cố và phát triển chế độ sở hữu đó

2 Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, NXB Công an nhân dân,

2007

Trang 11

Sự thừa kế, nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác là quy luật khách quan, nhưng các quan hệ thừa kế ở mỗi chế độ xã hội được giải quyết như thế nào là do chủ quan con người quyết định Quyền sở hữu cá nhân là cơ sở khách quan của việc thừa kế Vì vậy, quyền thừa kế trong điều kiện của nước ta hiện nay được thể hiện như một phương tiện để củng cố sở hữu của công dân, củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình; bảo vệ lợi ích của những người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

Pháp luật của Nhà nước ta bảo vệ những lợi ích cơ bản của mỗi người lao động trên cơ sở bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần xóa bỏ những tàn tích của chế độ thừa kế do xã hội thực dân phong kiến để lại, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, làm cho nhân dân lao động yên tâm lao động sản xuất tạo nhiều của cải vật chất cho xã hội

1.2.2 Khái niệm về quyền thừa kế

Như một sự tất yếu, con người sinh ra và tồn tại cần phải có những lợi ích vật chất để đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở… của mình Để duy trì và phát triển cuộc sống, con người ngày càng làm ra nhiều của cải vật chất cho mình và cho xã hội3 Tuy nhiên, không như tài sản có thể tồn tại vĩnh cửu hoặc chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác thì con người theo quy luật tư nhiên sẽ không thể sống được mãi mà phải chết đi Bởi vậy, việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống

đã tồn tại như một yêu cầu khách quan của xã hội và được hiểu đó là việc thừa kế tài sản

Khi Nhà nước ra đời, mỗi Nhà nước đều sử dụng một công cụ hữu ích để quản lý xã hội là pháp luật Là một quan hệ ra đời và tồn tại từ rất lâu trong đời sống xã hội, thừa kế được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự, một ngành luật điều chỉnh mối quan hệ về tài sản mang tính chất ngang giá và giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý

Như vậy, xuất phát từ những quan hệ xã hội đời thường và được điều chỉnh bời các quy phạm pháp luật, quyền thừa kế được hiểu như sau:

Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế được hiểu là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về việc dịch chuyển tài sản từ người chết cho những người còn sống khác theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hoặc theo ý chí của Nhà nước được thể hiện trong các quy phạm pháp luật

Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng dân sự chủ

Trang 12

quan của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo ý chí của người đó hoặc theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, dưới góc độ khoa học pháp lý, quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự Quan hệ pháp luật dân sự về thừa kế là quan hệ thừa kế được các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh Quan hệ này cũng bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung Quan hệ thừa kế là quan hệ tài sản do Bộ luật dân sự điều chỉnh được xác định là quan hệ tuyệt đối giống như quan hệ sở hữu, trong đó chỉ xác định được một bên chủ thể mang quyền là người để lại di sản hoặc những người thừa kế còn các chủ thể khác là những người phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền để lại di sản thừa kế và quyền hưởng di sản thừa kế của họ

Ngay từ khi ban hành Pháp lệnh Thừa kế và đặc biệt là Bộ luật Dân sự đầu tiên của Việt Nam đều đã quy định rõ quyền thừa kế của cá nhân là: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.” (Điều 631

Bộ luật Dân sự 2005)4 đồng thời pháp luật Việt Nam cũng công nhận “mỗi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”

Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự thì quyền thừa kế của cá nhân có

2 nội dung cơ bản, đó là: Quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản Mỗi cá nhân đều bình đẳng về quyền trong việc định đoạt tài sản riêng của mình và quyền hưởng

di sản thừa kế Điều đó có nghĩa là bất cứ ai cũng có quyền đều có quyền lực chọn hình thức chuyển dịch tài sản của mình trước khi chết, hình thức đó có thể là bán, cho…có thể là định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc, di tặng, hoặc phân chia tài sản của mình theo pháp luật…

Lao động có ích của mỗi người là nguồn gốc tạo ra của cải xã hội Song để biến lao động trở thành một hoạt động tự giác, phát huy được tín năng động sáng tạo của họ thì xã hội phải quan tâm đến lợi ích của người lao động Chế định quyền

sở hữu nói chung và quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản và chế định thừa kế ra đời

là một trong những phương tiện pháp lí cần thiết để bảo toàn và gia tăng tích lũy của cải xã hội Bởi vì, về mặt tâm lí, cá nhân không chỉ muốn mình có quyền năng đối với khối tài sản của mình khi còn sống mà họ còn muốn chi phối nó ngay cả khi

họ đã chết Giả thiết, nếu Nhà nước và xã hội không công nhận quyền thừa kế của

cá nhân mà chỉ công nhận quyền năng chủ sở hữu khi họ còn sống, còn sau khi họ

đã chết mọi quyền năng đó đều chấm dứt hoàn toàn, tài sản mà họ có được sẽ

4 Xem: Bộ Luật Dân sự 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005

Trang 13

chuyển cho Nhà nước, cho một cá nhân hay một tổ chức bất kỳ ngoài ý chí của họ, thì sẽ không chỉ triệt tiêu động lực trong việc bảo toàn và phát triển tài sản, mà nó còn triệt tiêu luôn cả động lực lao động của mỗi cá nhân Lúc đó chủ sở hữu sẽ tiêu dùng một cách vô độ, lãng phí tài sản mà họ đang có, đồng thời họ cũng trở nên lười biếng, thờ ơ với lao động, với các hoạt động có tính sáng tạo, xã hội sẽ trở nên nghèo nàn và buồn tẻ Vì vậy, công nhận quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân đối với tài sản, coi thừa kế là một căn cứ xác lập quyền sở hữu Nó không chỉ

có tác dụng kích thích tính tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng mà còn kích thích lòng say mê lao động sáng tạo, kích thích sự quản lý năng động của mỗi một con người; tạo sự thi đua thầm lặng của mỗi cá nhân nhằm nhân khối tài sản của mình lên bằng sức lực và khả năng sáng tạo mà họ có, chỉ khi đó quyền sở hữu và quyền thừa kế mới trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế Quyền thừa kế của cá nhân có nghĩa là quyền để lại di sản của mình cho người khác hoặc hưởng di sản của người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật

1.2.3 Khái niệm người để lại di sản thừa kế

Là người có tài sản sau khi chết để lại cho người còn sống theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc hay theo quy định của pháp luật Người để lại di sản chỉ

có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứ điều kiện nào (thành phần xã hội, mức độ năng lực hành vi…)

Mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình sau khi chết cho người khác Việc chuyển dịch cho người khác những tài sản của người chết để lại được thực hiện:

Căn cứ vào ý chí của người quá cố định đoạt tài sản của mình trước khi chết

Ý chí này được thể hiện ở di chúc lập ra khi người đó còn sống Việc thừa kế này được gọi là thừa kế theo di chúc Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai mà mình muốn, có thể cho người trong diện, hàng thừa kế,

có thể ngoài hàng thừa kế (kể cả, cơ quan, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế…) Đối với việc để lại thừa kế theo di chúc, thì ngoài điều kiện về tài sản, người lập di chúc phải tuân theo quy định về việc lập di chúc hợp pháp

Hoặc căn cứ vào pháp luật Trong trường hợp người quá cố không lập di chúc, hoặc có lập di chúc nhưng người thừa kế theo di chúc từ chối nhận di sản hoặc di chúc bị coi là không có giá trị pháp lý thì việc chuyển dịch tài sản phải căn

cứ vào quy định của pháp luật

Trong trường hợp người để lại di sản chỉ lập di chúc về một số tài sản, hoặc

Trang 14

của pháp luật

Đối với pháp nhân, tổ chức được thành lập với những mục đích và nhiệm vụ khác nhau Tài sản của pháp nhân, tổ chức để duy trì các hoạt động của chính mình Không cá nhân nào có quyền định đoạt tài sản của pháp nhân, tổ chức Khi pháp nhân, tổ chức đình chỉ hoạt động của mình (giải thể, phá sản…) Tài sản được giải quyết theo quy định của pháp luật Pháp nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ thừa kế với tư cách là người được hưởng di sản theo di chúc.5

Người thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) được pháp luật bảo đảm cho việc hưởng di sản của người chết để lại, có quyền nhận hoặc không nhận di sản thừa kế Như vậy, quyền để lại tài sản của người có tài sản cho người thừa kế, và quyền hưởng di sản của người khác là hai nội dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ

1.2.4 Khái niệm người thừa kế

Người thừa kế là người được thừa hưởng tài sản người chết để lại theo chỉ định trong di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Như vậy, có thể xác định được hai loại người thừa kế là người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc

1.2.4.1 Người thừa kế theo di chúc

Người thừa kế theo di chúc là người được thừa hưởng di sản theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trước khi chết Do đó, người này có thể là bất

cứ ai Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức, có thể là người có mối quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết hoặc không có các mối quan hệ nào

1.2.4.2 Người thừa kế theo pháp luật

Người thừa kế theo pháp luật là người thừa kế theo hàng thừa kế và trình tự thừa kế do pháp luật quy định Những người này phải thuộc diện thừa kế và phải ở trong hàng thừa kế theo pháp luật Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và có mối quan hệ thân thiết gần gũi nhất với người chết Đó là những người thuộc một trong ba mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết

Không giống như pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, thừa kế là một quan hệ pháp luật, do đó người thừa kế phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tức là phải là cá nhân hoặc tổ chức

Do đó, con vật (chó, mèo…) hoặc các đối tượng khác không thể trở thành người

5 Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập một, NXB Công an nhân dân,

2007

Trang 15

thừa kế di sản do người chết để lại6 Trong trường hợp một người có định đoạt trong

di chúc để lại di sản cho các con vật hoặc đồ vật thì phần di sản đó sẽ vô hiệu và phần di sản đó sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật

1.2.4.3 Điều kiện của người thừa kế

Điều kiện của người thừa kế, theo quy định tại Điều 635, BLDS 2005 thì người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

• Đối với người thừa kế là cá nhân

Xuất phát từ lý luận người đã chết không thể có năng lực chủ thể để tham gia vào bất kỳ quan hệ pháp luật nào mà pháp luật Việt Nam quy định người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế Người còn sống được hiểu là người đã sinh ra và chưa chết vào thời điểm mở thừa kế

Ví dụ: A có khối tài sản trị giá 500 triệu đồng A lập di chúc trong đó chia cho bố, mẹ mỗi người được hưởng 50 triệu đồng, vợ và con của A mỗi người được hưởng ½ khối di sản còn lại Nhưng bố, mẹ của A chết vào ngày 20/10/1996, A chết vào ngày 8/10/1997, thì bố, mẹ của A không được hưởng di sản của A Bởi vì, chỉ người còn sống vào thời điểm mở thừa kế mới có năng lực hưởng quyền thừa kế di sản của A Phần di sản chia cho bố, mẹ A theo di chúc sẽ được chia theo pháp luật

Trong trường hợp một người chưa sinh ra vào thời điểm mở thừa kế thì người đó phải là người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và phải sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế

• Đối với người thừa kế là tổ chức

Điều kiện để một cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức đó phải tồn tại vào thời điển người để lại di sản chết, cơ quan, tổ chức

đã được thành lập và chưa chấm dứt hoạt động Pháp nhân có thể chấm dứt hoạt động trong nhiều trường hợp khác nhau Trong trường hợp pháp nhân bị giải thể hoặc phá di sản thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân hoàn toàn chấm dứt Tuy nhiên, trong trường hợp pháp nhân được cải tổ lại như hợp nhất pháp nhân, chia, tách, sáp nhập pháp nhân thì theo quy định của pháp luật quyền và nghĩa vụ của pháp nhân sẽ được chuyển giao cho pháp nhân mới Do đó, trong trường hợp này, quyền thừa kế cũng được xem xét để chuyển giao cho pháp nhân mới mặc dù lúc này pháp nhân được thừa kế theo di chúc không được coi là còn “tồn tại” vào thời

Trang 16

điểm mở thừa kế

1.3 Phân loại thừa kế

Pháp luật thừa kế của Việt Nam cũng như pháp luật thừa kế của các nước trên thế giới đều quy định hai hình thức thừa kế, đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

1.3.1 Thừa kế theo di chúc

1.3.1.1 Khái niệm thừa kế theo di chúc

Theo Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005 Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện

có hiệu lực của di chúc nói riêng Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc

Theo quy định này thì di chúc phải có những yếu tố sau:

- Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân (người để lại di sản) mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác;

- Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác;

- Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá nhân,

tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản

1.3.1.2 Đặc điểm của thừa kế theo di chúc

Theo Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005.7 “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Việc chuyển dịch di sản cho những người thừa kế theo di chúc là dựa trên cơ sở ý chí định đoạt của người lập di chúc khi còn sống

Người thừa kế theo di chúc là bất kỳ ai (hoặc cá nhân hoặc tổ chức) được chỉ định bằng di chúc Người được thừa kế theo di chúc không bị giới hạn trong phạm

vi các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng…với người để lại

di sản (có thể đồng thời hoặc không đồng thời thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản Pháp luật thừa kế của nước ta không ấn định trước phạm vi

7 Xem: Bộ Luật Dân sự 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005

Trang 17

người được thừa kế theo di chúc mà phụ thuộc vào sự định đoạt của người để lại di sản Người được thừa kế theo di chúc được hưởng các phần di sản hoặc nhiều hoặc

ít tùy thuộc vào việc phân định di sản của người lập di chúc Người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc có thể là người được hưởng toàn bộ khối di sản của người chết để lại nếu quyền định đoạt của người để lại di sản không bị hạn chế vì có

sự liên quan đến người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

1.3.2 Thừa kế theo pháp luật

1.3.2.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật

Theo Điều 674 Bộ luật Dân sự 2005 Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định

Điều luật trên quy định về một phương thức chuyển dịch di sản từ người chết sang những người còn sống khác trong trường hợp người có tài sản chết mà không

để lại di chúc hoặc có di chúc nhưng di chúc không có hiệu lực

Theo phương thức này, người được hưởng di sản phải là những người có một trong ba mối quan hệ: về hôn nhân, nuôi dưỡng, huyết thống với người đã chết Những người này chỉ có thể được hưởng thừa kế theo pháp luật với những điều kiện sau:

+ Còn sống vào thời điểm người có tài sản chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

+ Sinh ra và còn sống sau khi người có tài sản chết nhưng đã thành thai trước khi người đó chết

+ Không thực hiện những hành vi đã được quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005

• Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: 8

Hiến pháp 1992 và Điều 634 Bộ luật Dân sự đều ghi nhận quyền hưởng thừa

kế của cá nhân Tuy nhiên, trong đời sống xã hội có một số trường hợp cá biệt người thừa kế vi phạm nghiêm trọng hoặc có hành vi trái đạo đức xã hội bị pháp luật truất quyền thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) Điều 646 Bộ luật Dân sự

2005 quy định những người không được quyền hưởng di sản vì họ không còn xứng đáng được quyền thừa kế Đó là những trường hợp sau đây:

+ Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó

Cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản là cố ý giết

Trang 18

người để lại di sản, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người

để lại di sản Ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản là đối xử tồi tệ hoặc đày đọa người để lại di sản về thể xác, tinh thần Xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản thể hiện ở hành vi làm nhục, bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người để lại

di sản Người thừa kế có những hành vi nói trên đã bị kết án về tội hình sự, dù đã được xóa án cũng không có quyền hưởng di sản của người đã chết

+ Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình như nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con cái, giữa ông, bà và cháu, giữa anh, chị, em với nhau, nếu có khả năng nuôi dưỡng, mà không thực hiện nuôi dưỡng, làm cho người cần nuôi dưỡng lâm vào tình cảnh khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, hoặc nguy hiểm đến tính mạng, thì không có quyền hưởng di sản của người đó

+ Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó được hưởng

Đây là hành vi cố ý giết người thừa kế để được hưởng quyền thừa kế của người đó

+ Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý muốn của người để lại di sản

Những người có hành vi này xâm phạm đến quyền định đoạt tài sản của người để lại di sản khi còn sống, xâm phạm đến quyền thừa kế theo di chúc của những người khác, do đó pháp luật quy định họ không được hưởng di sản của người chết

• Lưu ý: Trong trường hợp nói trên nếu người để lại di sản đã biết hành vi

của những người đó nhưng vẫn lập di chúc cho họ hưởng di sản, thì họ vẫn được hưởng di sản căn cứ theo di chúc Quy định này dựa trên cơ sở pháp luật luôn tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản Tuy nhiên, để người thừa kế khi có những hành vi đã quy định tại khoản 1 Điều 643 là không có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật vẫn được hưởng di sản cần phải dựa trên những điều kiện sau:

Người để lại di sản biết người thừa kế đã thực hiện những hành vi nói trên; Người để lại di sản vẫn thể hiện ý chí bằng cách lập di chúc cho người thừa

kế đó được hưởng di sản Nếu di chúc đã lập trước khi người thừa kế thực hiện những hành vi nói trên, thì người đã lập di chúc cũng vẫn phải thể hiện bằng văn

Trang 19

bản về việc vẫn cho người thừa kế hưởng di sản

Căn cứ vào mức độ gần gũi thân thiết của những người này đối với người chết mà họ được phân theo từng hàng thừa kế khác nhau Mỗi hàng thừa kế được hưởng di sản theo một thứ tự mà pháp luật đã quy định tại khoản 3 Điều 679 Bộ luật Dân sự 2005.“Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản”

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc Điều đó không có nghĩa là người có tài sản trước khi chết không để lại di chúc

sẽ phát sinh thừa kế theo pháp luật mà thừa kế theo pháp luật có thể phát sinh theo nhiều tình huống khác nhau

Theo quy định tại điều 675 BLDS 2005 thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những tình huống sau đây:9

- Không có di chúc: Đây là trường hợp theo quy định pháp luật thì người để lại

di sản có năng lực chủ thể trong việc lập di chúc, do đó không có di chúc Tuy nhiên trong những trường hợp này cần điều tra, xác minh đầy đủ để tránh trường hợp người thừa kế biết nội dung di chúc không có lợi cho mình nên họ giấu hoặc hủy di chúc

- Di chúc không hợp pháp: Người để lại di sản có để lại di chúc nhưng di chúc

đó vi phạm các điều kiện có hiệu lực của di chúc do pháp luật quy định Trong trường hợp này di chúc bị coi là vô hiệu nên di sản được chia theo pháp luật

- Những người thừa kế theo di chúc đếu đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc: Cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế Trong trường hợp này, di chúc sẽ bị coi là vô hiệu và di sản được chia theo pháp luật Tuy nhiên, nếu chỉ có một trong số những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc (đối với cá nhân) hoặc một trong số cơ quan, tổ chức không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này vô hiệu và được chia thừa kế theo pháp luật

- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản: Đây là trường hợp người thừa

kế vi phạm vào Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2005 và người lập di chúc không biết hành vi của người thừa kế này hoặc người được hưởng thừa kế theo di chúc từ

Trang 20

chối quyền nhận di sản Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có trường hợp người thừa kế nhường quyền thừa kế của mình cho người khác (thực chất là người thừa kế cho người khác phần di sản mà lẽ ra họ được hưởng) thì cũng không coi là từ chối quyền hưởng di sản

- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc: Người để lại di sản định đoạt một phần nhất định trong tổng số khối di sản do họ để lại Đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật Ví dụ: Ông A chết

để lại 500 triệu đồng, ông A lập di chúc để định đoạt 100 triệu đồng, như vậy di sản còn lại là 400 triệu đồng sẽ được chia theo pháp luật

- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật: Nếu di chúc có một phần vô hiệu mà không ảnh hưởng đến các phần còn lại thì chỉ phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật được chia theo pháp luật còn các phần khác vẫn đươc chia theo ý chí của người lập di chúc

- Phần di chúc có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế

1.3.2.2 Đặc điểm của thừa kế theo pháp luật

Theo Điều 674 Bộ luật Dân sự 2005 “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự do pháp luật quy định” Thừa kế theo pháp luật chỉ được thực hiện trong trường hợp người chết không để lại di chúc hoặc tuy có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, di chúc không thể thực hiện được và những trường hợp khác do pháp luật quy định Việc chuyển dịch di sản cho những người thừa kế theo pháp luật theo quy định của pháp luật

Nếu như ở thừa kế theo di chúc, người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức và nếu là cá nhân thì có thể không phải là người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản Tuy nhiên, đối với thừa kế theo pháp luật thì chỉ có cá nhân mới được hưởng thừa kế và các cá nhân này phải có một trong ba mối quan hệ với người để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng Tuy nhiên, không phải bất cứ

cá nhân nào có một trong ba mối quan hệ này với người để lại di sản cũng được hưởng thừa kế mà việc thừa kế được xác định theo hàng Tương tự như vậy, không phải bất cứ ai trong các hàng thừa kế cũng được hưởng di sản mà điều nay còn phụ thuộc vào nguyên tắc ưu tiên của hàng thừa kế Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được pháp luật chỉ định hưởng di sản theo trật tự ưu tiên là hàng thừa

Trang 21

kế (những người thừa kế theo pháp luật trong cùng một hàng thừa kế thì họ được hưởng các phần di sản bằng nhau)

1.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1.4.1 Thời điểm mở thừa kế

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế Theo quy định tại khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 quy định: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật này Điều này có nghĩa là tuỳ từng trường hợp, Tòa án xác định ngày chềt của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 81 Bộ luật Dân sự

Khoản 1 Điều 81 Bộ luật Dân sự 2005 quy định người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:

- Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống, thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Bộ luật này

- Khi một người mất tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng

Việc xác định được chính xác thời điểm mở thừa kế có những ý nghĩa rất quan trọng sau đây:10

Thứ nhất, việc xác định thời điểm mở thừa kế có những ý nghĩa trong việc

Trang 22

xác định được chính xác di sản thừa kế của người chết để lại bao gồm những gì, giá trị bao nhiêu để giải quyết việc phân chia di sản sau này Thông thường, điạ điểm

mở thừa kế và thời điểm chia thừa kế là khác nhau nên nếu vào thời điểm phân chia

di sản thừa kế, tài sản của người chết lại bị giảm sút thì người thừa kế có quyền yêu cầu người có lỗi để dẫn đến thiệt hại về tài sản phải bồi thường thiệt hại

Thứ hai, thời điểm mở thừa kế có những ý nghĩa trong việc xác định những người có quyền hưởng di sản thừa kế vì theo quy định của pháp luật thì người thừa

kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì tùy từng trường hợp, tòa án xác định ngày chết của người đó; nếu không xác định được ngày chết thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên bố người đó là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết Ví dụ: Trong một tai nạn máy bay hay lũ lụt…thân nhân của người bị tai nạn yêu cầu tuyên bố là người đó đã chết, qua điều tra xác minh, nếu biết chính xác được ngày xảy ra tai nạn thì tòa án có thể tuyên bố ngày chết của người đó là ngày xảy ra tai nạn

Ngoài ra, những người có quyền hưởng di sản thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điềm thì họ cũng không được hưởng di sản thừa kế của nhau và di sản của mỗi người sẽ do những người thừa kế của người đó hưởng

Thứ ba, thời điểm mở thừa kế là thời điểm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản, có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại…

Thứ tư, thời điểm mở thừa kế có những ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của di chúc Theo quy định của pháp luật thì di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế, di chúc của vợ chồng có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết Việc xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc là vô cùng quan trọng vì chỉ kể từ thời điểm đó quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo di chúc mới được phát sinh Ngoài ra, nếu người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di chúc thì phần

di chúc liên quan đến phần di sản của người đó cũng không phát sinh hiệu lực pháp luật và phần di sản đó sẽ mang ra chia theo pháp luật

Thứ năm, việc xác định thời điểm mở thừa kế có những ý nghĩa trong việc xác định thời hạn, thời hiệu vì thời hạn từ chối hưởng di sản của người thừa kế là 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế; thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác định hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế; thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của

Trang 23

người để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế

1.4.2 Địa điểm mở thừa kế

Khoản 2, Điều 633 BLDS2005 quy định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì điạ điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản” Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn)

Trong suốt cuộc đời mình, một người có thể sinh sống ở nhiều nơi và tại mỗi nơi người đó đã từng sống đều có thể có những tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền

sử dụng hợp pháp của họ Mặc khác có thể có trường một người tuy đã chết tại một nơi nhưng tại nơi đó không có một tài sản nào thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của người đã chết Vì vậy, theo quy định tại khoản Khoản 2 Điều 633 BLDS, việc xác định địa điểm mở thừa kế có thể theo nơi cư trú, hoặc nơi có tài sản của người để lại di sản và tuân theo thức tự sau:

Trước tiên, địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản Vì nơi cư trú cuối cùng thường là nơi người đó có tái sản, nơi tập trung các giao dịch dân sự của người để lại di sản khi còn sống, nơi phát sinh các quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản của người đó, nơi người đó thực hiện các quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản Vì vậy, đó là nơi thuận tiện cho việc xác định và phân chia di sản

Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi

có toàn bộ hoặc phần lớn di sản Trong trường hợp người để lại di sản có tài sản ở nhiều nơi, thì nơi nào có phần lớn tài sản của người đó sẽ được xác định là nơi mở thừa kế

Xác định địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng, vì ở nơi đó thường phải tiến hành nhiều công việc như: Kiểm kê ngay tài sản của người đã chết trong trường hợp cần thiết nhằm ngăn chặn những hành vi phân tán hoặc chiếm đoạt tài sản trong khối tài sản; là nơi thực hiện việc thanh toán nghĩa vụ tài sản và phân chia tài sản; xác định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật; người

từ chối nhận di sản…

Ngoài ra, nếu có người thuộc diện thừa kế từ chối nhận di sản thì phải báo ngay cho cơ quan công chứng nhà nước hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản Hơn nữa, trong trường hợp có tranh chấp thì tòa án nhân dân nơi mở thừa kế có thẩm quyền giải quyết

1.5 Ý nghĩa của việc pháp luật quy định về thừa kế theo pháp luật

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho

Trang 24

từ lí do này, chế định thừa kế theo pháp luật được coi là “sự phỏng đoán” ý chí của người để lại di sản Sự phỏng đoán” này ở mỗi nước khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm và phong tục tập quán

Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá nhân,

tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản…Còn thừa kế theo pháp luật thì luật sẽ chỉ định người có quyền hưởng di sản; người có di sản vẫn có quyền tự do chọn người thừa kế nhưng phạm vi thực hiện quyền đó được gia hạn trên một phần di sản

Nếu thừa kế theo pháp luật được lựa chọn thì việc di chuyển di sản của người chết để lại cho những người thừa kế có tác dụng tăng cường tình đoàn kết gia đình.11 Các tài sản thuộc di sản hoặc ít nhất là một phần lớn các di sản ấy phải được chuyển giao và phân phối theo đúng những nguyên tắc chi phối của tổ chức và sự vận hành của gia đình, chính pháp luật phải chủ động can thiệp vào việc ấn định phương thức chuyển giao và phân phối này Nếu để việc này cho những người có di sản làm thì sẽ có nhiều trường hợp di sản không được chuyển giao đúng địa chỉ một khi tình cảm của người có di sản không hướng về gia đình nữa Tuy nhiên, nếu việc

di chuyển di sản của người chết để lại cho những người thừa kế được bày tỏ một cách thích đáng, đúng theo quy định của pháp luật trong trường hợp đặc thù, có thể loại bỏ hẳn thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật vừa bảo đảm quyền đương nhiên của người có di sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người có quan

hệ huyết thống, quan hệ gia đình , quan hệ nuôi dưỡng với người có di sản để lại (bảo vệ cho những người mà người có di sản có bổn phận đảm bảo như thế nào để điều kiện sinh sống của những người đó không bị sa sút nghiêm trọng sau khi người

có di sản chết.) Như vậy, hình thức thừa kế theo pháp luật là hình thức thừa kế truyền thống được bảo tồn trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của xã hội loài người nhằm củng cố cơ sở vật chất của mối huyết thống, gia đình – nền tảng của mọi xã hội

Việc xác định thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật là giải pháp nguyên tắc cho vấn đề chuyển giao di sản, hầu hết các nền pháp luật hiện đại chủ trương sự dung hòa giữ thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Nguyên tắc

cơ bản là người có di sản có quyền chỉ định người thừa kế của mình, nhưng quyền

đó bị giới hạn trong phạm vi phần di sản tự do định đoạt

Pháp luật thừa kế của Nhà nước ta luôn chú trọng bảo vệ quyền thừa kế hợp

11 Xem: Ts: Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản

trẻ TP Hồ Chí Minh, 1999

Trang 25

pháp của công dân trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước.12 Trong suốt quá trình phát triển pháp luật thừa kế ở nước ta từ năm 1945 đến nay, quyền thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật của công dân nói riêng ngày càng được quy định cụ thể hơn và quyền đó được pháp luật bảo đảm thực hiện ngày một hiệu quả hơn

Trang 26

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 2.1 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế của Việt Nam

Những nguyên tắc thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung cho hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên, xét cho cùng thì các nguyên tắc này (nếu xem xét từ góc độ quyền hưởng di sản) áp dụng chủ yếu đối với hình thức thừa kế theo pháp luật

2.1.1 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân, tổ chức Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện ở hai chủ thể, đó là chủ thể để lại tài sản và chủ thể hưởng thừa kế di sản Quyền thừa kế thuộc về tổ chức được thể hiện ở một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế di sản (chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc)

Pháp luật thừa kế hiện hành kế thừa việc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế của các văn bản thừa kế trước đó và bảo đảm một cách nhất quán nguyên tắc này với các quy định cụ thể về quyền của cá nhân để lại tài sản và quyền của cá nhân hưởng thừa kế di sản

Đối với cá nhân người để lại di sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối với những tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tài sản của bản thân sau khi chết Quyền định đoạt đó được khẳng định tại Điều 648 BLDS 2005 Quyền của người lập di chúc bao gồm:

1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2 Phân định phần di sản của từng người thừa kế;

3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để tặng, thờ cúng;

4 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lí di sản, người phân chia di sản Quyền định đoạt của người lập di chúc chỉ có hiệu lực khi việc định đoạt bằng

di chúc thỏa mãn các điều kiện về di chúc hợp pháp, nếu không tuân thủ các điều kiện về di chúc hợp pháp thì di chúc đó được xác định là không hợp pháp Do đó quyền định đoạt của người có di sản không phải là tuyệt đối, không vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật thừa kế Trong một số trường hợp, pháp luật có quy định

về quyền của những người thừa kế có liên quan đến người lập di chúc, đó là quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Quyền tự do ý chí của cá nhân được thể hiện không những trong việc lập di chúc để định đoạt tài sản mà còn thể hiện cả trong việc không lập di chúc để định

Trang 27

đoạt tài sản để lại sau khi chết Đây là sự thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc không lập di chúc để định đoạt tài sản của họ mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để lại

di sản cho những người có quyền thừa kế theo pháp luật

Đối với cá nhân có quyền nhận di sản, pháp luật nước ta quy định họ có quyền nhận di sản hoặc từ chối nhận di sản nếu sự từ chối quyền nhận di sản phù hợp với những điều kiện mà pháp luật đã quy định Vấn đề này, trước năm 1945 ở nước ta, theo Điều 376 Dân luật Bắc kỳ và Điều 308 Dân luật Trung kỳ, những người thừa

kế thuộc diện con, cháu, vợ hay chồng của người quá cố không có quyền khướt từ

di sản Dân luật Trung Kỳ chỉ bó buộc vợ hay chồng, con, cháu trai phải nhận di sản Ở miền Nam, theo án lệ đã định, con không có quyền khước từ di sản của người cha để lại Con cháu của người khước từ không được hưởng di sản do cha,

mẹ của mình đã khước từ Hình thức khước từ phải thể hiện ở phòng lục sự Toà sơ thẩm tại địa điểm mở thừa kế có di sản trong hạn một năm từ ngày người thừa kế biết thời điểm mở thừa kế của người chết Sự từ chối quyền hưởng di sản của người thừa kế đã được quy định tại Điều 642 BLDS 2005 “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa

vụ tài sản của mình đối với người khác.Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.Thời hạn từ chối nhận di sản

là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận di sản”.13

Quyền từ chối nhận di sản thừa kế được pháp luật cho phép nếu phù hợp với điều kiện, nguyên tắc, thời hạn theo quy định của pháp luật Nhưng nếu người được thừa kế từ chối hưởng di sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của bản thân cá nhân họ với người khác thì pháp luật không chấp nhận Điều kiện kinh tế của người

có quyền hưởng thừa kế trước khi nhận di sản là không thỏa mãn của việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người đó với người khác nhưng do muốn trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản đó mà họ đã thể hiện quyền tự do ý chí của mình bằng việc không nhận di sản thì không được pháp luật thừa nhận, người thừa kế này buộc phải nhận di sản theo quy định của pháp luật để lấy tài sản thừa kế đó thực hiện nghĩa vụ tài sản với người có quyền

Từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc cũng là sự thể hiện ý chí của người

Trang 28

được chỉ định thừa kế theo di chúc đã không nhận thừa kế theo sự định đoạt của người để lại di sản

Trong trường hợp người thừa kế theo pháp luật đồng thời là người thừa kế theo

di chúc thì việc thể hiện ý chí của người đó có thể xảy ra trong các trường hợp: Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật;

Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc;

Từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc và quyền hưởng thừa kế theo pháp luật;

2.1.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế

Theo quy định tại Điều 11 Sắc lệnh số 97- SL thì: “Trong lúc sinh thời, người chồng góa hay người vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết sau khi đã thanh toán tài sản chung”

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, “vợ chồng có quyền bình đẳng nhau trong gia đình” và “người đàn bà có chồng có năng lực về mặt hộ” Với tư cách đồng chủ sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản chung của vợ chồng, trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp thì: “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung” Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc để lại di sản thừa kế theo pháp luật quy định đã loại trừ được ý thức hệ phong kiến luôn coi chồng là gia trưởng, còn người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình nếu không được người chồng cho phép

Theo các quy định trên thì luật của chế độ thực dân, phong kiến luôn bảo vệ quan điểm trọng nam, khinh nữ và người vợ được coi là ngoại tộc Thân phận người phụ nữ không những bị hủ tục phong kiến hà khắc trói buộc mà còn bị pháp luật thắt chặc thêm

Trong chế độ XHCN của nước ta, quyền của người vợ luôn luôn được tôn trọng bảo vệ Trong trường hợp chồng chết trước, người vợ dù đã kết hôn với người khác được thừa kế di sản của chồng: “Khi một bên chết trước nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau” Những quy định trên đã bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc để lại di sản thừa kế và nhận di sản thừa kế

Các con trong gia đình không phân biệt nam, nữ, độ tuổi, có năng lực hành vi dân sự hay không có năng lực hành vi dân sự đều được thừa kế những phần ngang nhau nếu được hưởng thừa kế theo pháp luật Pháp luật còn quy định con nuôi có

Trang 29

các quyền và nghĩa vụ như con đẻ trong việc nhận di sản thừa kế Nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế nhằm bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong quan hệ tài sản, nhằm củng

cố tình đoàn kết trong gia đình, dòng họ và phủ định tư tưởng trọng nam, khinh nữ, phân biệt đối xử giữa các thành viên trong gia đình và xã hội

2.1.3 Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Quan hệ thừa kế hình thành với những đặc thù riêng của nó Đặc thù đó được ghi nhận ngay trong các quy định của pháp luật như là một nguyên tắc Pháp luật không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng di sản Do vậy, theo pháp luật thì người có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được hưởng phần di sản ngang nhau nếu họ cùng một hàng thừa kế được hưởng

Đối người đã thành thai chưa sinh ra thì chưa có năng lực pháp luật dân sự Bởi vì, theo quy định của pháp luật thì: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có

từ khi sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Pháp luật cũng quy định bảo vệ quyền thừa kế của người con ra đời sau khi người bố chết mà người con đó còn sống thì được hưởng di sản đó của bố Quy định tại Điều 635 BLDS 2005 phù hợp

và thống nhất với Luật hôn nhân và gia đình: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng” Cũng theo nguyên tắc trên, tại Điều 685 BLDS 2005 có quy định “Khi phân chia di sản nếu người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống thì khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng” Pháp luật còn quy định: “Trẻ em khi sinh ra sống được

24 giờ trở lên rồi mới chết thì cũng phải đăng ký theo quy định của Nghị định này; nếu chết trước khi khai sinh (chết lưu) hoặc sinh ra mà còn sống chưa được 24 giờ thì không phải đăng ký khai sinh”14 Như vậy, trong trường hợp đứa trẻ sinh ra được

24 giờ trở lên rồi sau đó chết thì đứa trẻ đó vẫn là người được thừa kế

2.1.4 Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại

Theo khoản 1 Điều 637 BLDS 2005 quy định người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ

Trang 30

trường hợp có thỏa thuận khác” Theo quy định trên, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản

do người chết để lại thuộc về người hưởng di sản Nghĩa vụ về tài sản do người chết

để lại mà người hưởng di sản thực hiện được hiểu là người thừa kế quyền di sản, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại trong phạm vi kế quyền đó

Nghĩa vụ về tài sản không phải là di sản thừa kế Di sản thừa kế chỉ là những tài sản và quyền về tài sản do người chết để lại được đem chia thừa kế Sự thanh toán nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại chính là xác định di sản để chia thừa kế hoặc không còn di sản để chia Di sản thừa kế là những tài sản và quyền về tài sản của người chết để lại được chia cho những người có quyền hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật Tuy nhiên, những quyền về tài sản và nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân người chết thì không phải là di sản thừa kế vì nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân người chết chấm dứt vào thời điểm mở thừa kế Do vậy, người hưởng di sản theo quy định của pháp luật chỉ phải thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản của người đó

Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định di sản thừa kế của người chết để lại Có quan điểm cho rằng, di sản thừa kế là toàn bộ tài sản, quyền về tài sản, nghĩa

vụ về tài sản do người chết để lại được chuyển cho người thừa kế Vì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản nhận được; nên nghĩa vụ về tài sản của người chết nằm trong phạm vi di sản của người

đó Quan điểm khác lại cho rằng, di sản thừa kế là những tài sản và quyền về tài sản

do người chết để lại để chia thừa kế, còn nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại đối với người khác không phải là di sản thừa kế của người đó mà chỉ đơn thuần là nghĩa vụ chưa được thực hiện Nó sẽ được thực hiện bởi những người thừa kế nhưng phải bằng tài sản của người để lại nghĩa vụ - người đã chết

Người thừa kế được xác định có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết nhưng nếu di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ về tài sản của chính người đó thì quyền hưởng di sản thừa kế của người được thừa kế cũng không phát sinh Người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại bằng chính tài sản của người đã chết đó và chỉ trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận được Người thừa kế không phải là người thứ ba thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại bằng chính tài sản của người chết đó Người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại nếu người đó từ chối quyền hưởng di sản theo đúng quy định của pháp luật Người thứ ba thực hiện nghĩa vụ thì phải thực hiện bằng chính tài sản của mình và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên có quyền Còn nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại mà người thừa kế

Trang 31

tiến hành chỉ thuộc phạm vi tài sản và quyền về tài sản do người chết để lại

2.2 Quy định pháp luật về người thừa kế theo pháp luật và hình thức đặc thù của thừa kế theo pháp luật

Người thừa kế theo pháp luật là người thừa kế theo hàng thừa kế và trình tự thừa kế do pháp luật quy định Những người này phải thuộc diện thừa kế và phải ở trong hàng thừa kế theo pháp luật

Diện thừa kế là khái niệm được đề cập dưới góc độ khoa học pháp lý, tuy nhiên dưới góc độ quy định của pháp luật thì chưa được đề cập tới “Sự phỏng đoán” về những người có thể được hưởng di sản do người chết để lại hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học Mỗi nước khác nhau quy định về những người có thể được hưởng di sản của người chết theo quy định của pháp luật là khác nhau Pháp luật quy định mỗi cá nhân có thể được hưởng di sản của người chết để lại nếu họ thuộc một trong ba mối quan hệ với người để lại di sản (hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng) Tuy nhiên, không phải ai trong ba mối quan hệ này cũng được hưởng di sản

mà đó chỉ là khả năng có thể được hưởng.15

Như vậy, có thể hiểu: Diện thừa kế là phạm vi những người có thể được hưởng

di sản do người chết để lại được xác định theo một trong ba mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản

Không phải cá nhân nào trong diện thừa kế cũng được hưởng di sản thừa kế

mà họ chỉ có thể được hưởng nếu thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định Điều kiện do pháp luật quy định không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thừa kế Trên cơ sở xác định diện thừa kế, pháp luật quy định những người có thể được hưởng di sản thừa kế của người chết được sắp xếp theo thứ tự hàng thừa kế theo nguyên tắc ưu tiên và những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau Khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,

bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà

Trang 32

người chết là cụ nội, cụ ngoại”

2.2.1 Cơ sở quy định và phạm vi những người thừa kế theo pháp luật

Căn cứ vào mối quan hệ giữa người chết với những người khác, điều 676 BLDS 2005 đã xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Là quan hệ giữa vợ chồng được xác lập thông qua việc kết hôn hợp pháp hay trong trường hợp kết hôn thực tế được pháp luật công nhận Đây là sự kiện làm pháp sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng Trong đó quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng được pháp luật xác định và bảo vệ Theo mối quan hệ về hôn nhân thì người thừa kế theo pháp luật của người chết là

vợ hay chồng của người đó

Về quan hệ nuôi dưỡng được xác định thông qua việc nhận người nhận con nuôi Việc nuôi con nuôi phải được đăng ký và làm thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hôn nhân, gia đình và pháp luật về hộ tịch Người được nhận nuôi là con nuôi hợp pháp của người nhận nuôi, nếu việc nhận nuôi con nuôi là đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục của luật định Mặc khác, những trường hợp nhận nuôi con nuôi xảy ra trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986 có hiệu luật pháp luật dù không tuân thủ các thủ tục vẫn được thừa nhận và người được nhận nuôi là con nuôi thực tế của người nhận nuôi, nếu giữa người nhận nuôi (cha, me nuôi) với người được nhận nuôi (con nuôi) yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như con đẻ và được mọi người thừa nhận Theo mối quan hệ này thì người thừa kế theo pháp luật của người chết là cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi của họ

Do vậy, pháp luật quy định một trường hợp ngoại lệ đặc biệt, đó là trường hợp con riêng với bố dượng, mẹ kế nếu quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì cũng được thừa kế di sản của nhau

Về quan hệ huyết thống: là quan hệ giữa người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ

Phạm vi những người thừa kế di sản được xác định từ quan hệ huyết thống trực hệ bao gồm: Các cụ, ông, bà, cha đẻ, mẹ đẻ và các con của người chết

Phạm vi những người thừa kế di sản được xác định từ quan hệ huyết thống bàng hệ bao gồm: Anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột,

dì ruột của người chết

Phạm vi những người thừa kế di sản được xác định thông qua các mối quan hệ nói trên được quy định từng hàng thừa kế theo trật tự: người nào có quan hệ gần gũi hơn với người chết sẽ đứng ở hàng thừa kế trước

Trang 33

2.2.2 Quan hệ những người cùng hàng thừa kế

a) Quan hệ giữa những người trong hàng thừa kế thứ nhất: Ở hàng thừa kế này có hai mối quan hệ như sau:

đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác Ngoài ra cần lưu

ý các điểm sau đây:

Nếu một người có nhiều vợ mà tất cả các cuộc hôn nhân được tiến hành trước ngày 13/1/1960 ở miền Bắc (ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình 1959) và trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam ( ngày công bố văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước, thì khi người chồng chết trước, tất cả những người vợ (nếu còn sống vào thời điểm người chồng chết) đều là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của người chồng Ngược lại, người chồng cũng là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của người vợ đã chết trước (theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) Điều lưu ý trên đây nhằm khắc phục những tồn tại của lịch sử Vì các cá nhân chỉ tuân thủ theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng kể từ ngày Luật Hôn nhân và gia đình 1959 được công bố (ở miền Bắc) và kể từ ngày các văn bản pháp luật được

áp dụng thống nhất trong cả nước (ở miền Nam)

Đối với các cán bộ, chiến sĩ đã có vợ ở miền Nam, sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, thì tất cả những người vợ đó đều là những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người chồng và ngược lại Có điểm lưu ý này bởi vì, sau khi tập kết ra Bắc các cán

bộ, chiến sĩ không thể xác định được ngày đoàn tụ vì Nghị định hiệp thương năm

1954 đã làm đất nước ta bị tạm thời chia cắt mà giới tuyến là vĩ tuyến 17

Đối với những trường hợp hôn nhân không có đăng kí kết hôn, nhưng được thừa nhận là hôn nhân thực tế, thì quan hệ vợ chồng vẫn được thừa nhận và vì vậy

họ là người thừa kế theo pháp luật của nhau

• Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con

Cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh ra người đó Vì vậy, cha mẹ của người con trong giá thú hoặc ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của

Trang 34

Cha nuôi, mẹ nuôi của một người là người đã thừa nhận người đó làm con nuôi của mình theo quy định của pháp luật Cha nuôi, mẹ nuôi là người thừa kế ở hàng thứ nhất của con nuôi và ngược lại, con nuôi là người thừa kế ở hàng thứ nhất của cha nuôi, mẹ nuôi của mình

Đối với trường hợp nhận con nuôi không có đăng kí theo quy định của pháp luật, thì cha, mẹ nuôi, con nuôi chỉ được thừa kế di sản của nhau nếu được thừa nhận là con nuôi thực tế

Cần lưu ý, con dâu không phải là người thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ chồng, con rể không phải là người thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ vợ Tuy nhiên, trong trường hợp con dâu tham gia lao động chung trong gia đình bố mẹ chồng, thì người con dâu có quyền được hưởng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung hiện có với tư cách là một đồng chủ sở hữu Phần di sản còn lại mới được coi là di sản thừa kế mà bố, mẹ chồng để lại khi chết và mới được chia cho những người thừa kế của họ người con rể trong trường hợp tương tự cũng được giải quyết như người con dâu

b) Quan hệ giữa những người trong hàng thừa kế thứ hai Ở hàng thừa kế này

có hai mối quan hệ sau đây:

• Quan hệ thừa kế giữa anh ruột, chị ruột và em ruột

Một người sinh ra bao nhiêu người con thì tất cả những người đó đều là anh, chị em ruột của nhau Như vậy, anh, chị em ruột là những người có cùng cha, mẹ,

có thể là những người có cùng cha nhưng khác mẹ hoặc những người có cùng mẹ nhưng khác cha Anh, chị em ruột là những người có quyền hưởng di sản thừa kế của nhau (người này chết, người kia có quyền thừa kế và ngược lại)

Trong trường hợp một người vừa có con đẻ, vừa có con nuôi, thì giữa những người con đẻ và con nuôi không phải là anh, chị em ruột nên họ không phải là những người thừa kế theo pháp luật của nhau

• Quan hệ thừa kế giữa ông, bà và cháu

Ông nội, bà nội của một người là người đã sinh ra cha của người đó Ông ngoại, bà ngoại của một người là người đã sinh ra mẹ của người đó Người đó tức là cháu của ông bà Như vậy, quan hệ này chỉ xác định trên cơ sở huyết thống Ông nuôi, bà nuôi, tức là bố, mẹ nuôi của người để lại di sản không phải là người thừa kế

ở hàng thừa kế thứ hai của người đó (con của người để lại di sản) Vì quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa bố, mẹ nuôi với con nuôi chỉ xuất hiện theo sự kiện nhân nuôi con nuôi Mặt khác, theo hướng dẫn Nghị quyết 02 – HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “con nuôi không đương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ của người nuôi dưỡng”

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w