Ngày 27/8/1968, Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư số 594-NCPL hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế có quy định cụ thể: Quyền bình đẳng nam nữ trong việc hưởng di sản, các c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng Viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 5075077
Cần Thơ, 11- 2010
Trang 2···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
···
Trang 3Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Cơ cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT GIỮA VỢ - CHỒNG 3
1.1 Lịch sử về thừa kế của vợ chồng 3
1.1.1 Quan niệm của người xưa về thừa kế giữa vợ – chồng 3
1.1.2 Quyền thừa kế giữa vợ - chồng qua các thời kì 4
1.1.2.1 Giai đoạn 1945 – 1975 4
1.1.2.2 Giai đoạn 1975 đến nay 5
1.2 Khái quát chung về thừa kế 6
1.2.1 Thừa kế 6
1.2.2 Quyền thừa kế 7
1.2.3 Thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng 9
1.2.4 Mở thừa kế 9
1.2.4.1 Nguyên nhân mở thừa kế 9
1.2.4.2 Thời điểm mở thừa kế 10
1.2.4.3 Địa điểm mở thừa kế 11
1.2.4.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế 12
1.3 Di sản thừa kế .13
1.3.1 Khái niệm di sản 13
1.3.2 Di sản thừa thừa kế là tài sản riêng của vợ (chồng) 13
1.3.3 Di sản thừa kế là phần tài sản của người vợ (chồng) trong khối tài sản chung với người khác 14
1.4 Ý nghĩa về việc thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng 15
Trang 4THỰC ĐỊNH 16
2.1Điều kiện để vợ - chồng được hưởng thừa kế theo pháp luật 16
2.1.1Điều kiện chung 16
2.1.1.1 Điều kiện về người thừa kế 16
2.1.1.2Không vi phạm pháp luật về điều kiện được hưởng di sản thừa kế 16
2.1.1.3 Người thừa kế không từ chối nhận di sản 19
2.1.2Điều kiện riêng (Điều kiện về hôn nhân) 20
2.2Các trường hợp thừa kế của vợ - chồng 26
2.2.1Trường hợp được hưởng thừa kế theo pháp luật 26
2.2.2Quyền thừa kế của vợ chồng không phụ thuộc vào nội dung di chúc 29
2.3Quyền của người thừa kế với tư cách là vợ hoặc chồng của người để lại di sản 31
2.3.1Quyền thừa kế của vợ chồng trong trường hợp vợ góa, chồng góa đã chia tài sản chung 31
2.3.2 Quyền thừa kế của vợ chồng trong trường hợp vợ góa, chồng góa đang xin ly hôn 32
2.3.3Quyền thừa kế của vợ chồng trong trường hợp vợ góa, chồng góa đã kết hôn với người khác 33
2.3.4Quyền yêu cầu hạn chế việc phân chia di sản thừa kế của vợ (chồng) 34
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG GIẢI QUYẾT NHẰM HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT GIỮA VỢ - CHỒNG 36
3.1Vấn đề từ chối nhận di sản của vợ (chồng) 36
3.2Vấn đề về thời hiệu khởi kiện về thừa kế của vợ (chồng) 38
3.3Vấn đề hạn chế phân chia di sản thừa kế của vợ (chồng) 41
3.4 Vấn đề xác định tài sản thừa kế giữa vợ (chồng) 43
KẾT LUẬN 47 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong mỗi gia đình, khi có một người thân mất đi, khi đó ngoài nỗi đau buồn mất mát người thân thì vấn đề thừa kế di sản của người chết sẽ là mối quan tâm của các thành viên trong gia đình Không ít trường hợp chỉ vì vấn đề thừa kế mà gia đình, họ tộc nghi kỵ, bất hòa, mâu thuẫn nhau dẫn đến tranh chấp căng thẳng, gây ra sự đổ vỡ về tình cảm gia đình
Thật vậy khi mà người vợ (chồng) trong gia đình mất đi thì ngoài sự tiếc thương đau buồn của mọi người mà hơn hết là của người chồng (vợ) thì người chồng (vợ) đó còn phải chịu thêm áp lực từ việc phải một mình gánh vác công việc của cả gia đình Mặt khác vì nhiều lý do khác nhau mà việc chia thừa kế của người đã mất phải diễn ra không lâu sau đó, nhưng chia thừa kế như thế nào là hợp lý, là công bằng cho các bên, cho phù hợp với quan niệm: “của chồng công vợ” hoặc “tài sản là của chung của hai vợ chồng”
Thực tế cho thấy nếu hiểu rõ các quy định của pháp luật về thừa kế và nếu các thành viên của gia đình, họ tộc tôn trọng các quy định của pháp luật về thừa kế thì không chỉ đảm bảo được sự công bằng về quyền lợi của từng thành viên mà còn củng cố mối quan hệ truyền thồng tốt đẹp trong gia đình
Chính vì vậy mà người viết nhận thấy được sự cần thiết của đề tài này và đã đi vào
nghiên cứu, để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề về “quyền thừa kế theo pháp luật giữa vợ
chồng” nhằm tránh sự mâu thuẫn, bất đồng và thù hằn về sau trong gia đình và xã hội
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về
thừa kế giữa vợ chồng từ đó rút ra những kết luận
Nghiên cứu có tính chất tổng quát các khái niệm liên quan đến quyền thừa kế của vợ chồng; quy định của pháp luật thực định về quyền thừa kế của vợ chồng qua hình thức thừa
kế theo pháp luật
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật thừa kế ở nước ta qua các giai đoạn lịch sử; nêu những cơ sở và luận điểm có tính chất tổng quát về tiến trình phát triển pháp luật thừa
kế ở nước ta qua các thời kỳ lịch sử
Đề tài không nghiên cứu tất cả các nội dung của chế định thừa kế mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về thừa kế theo pháp luật giữa vợ chồng
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là nêu những kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định thừa kế cho phù hợp với tổng thể các quy định trong Bộ luật dân sự và đồng bộ với các quy
Trang 6định của các ngành luật khác
3 Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài thừa kế theo pháp luật giữa vợ chồng người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống để tiếp cận đề tài như: Phương pháp lịch sử; Phương pháp so sánh; Phương pháp tổng hợp… Nhằm làm nổi bật quyền thừa kế theo pháp luật của
vợ chồng ngày càng được coi trọng và bảo đảm thực hiện theo quá trình phát triển mọi mặt của đất nước
4 Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo thì Đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quyền thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng
Chương 2: Thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng trong luật thực định
Chương 3: Thực trạng và đề xuất hướng giải quyết nhằm hoàn thiện những quy định
về thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng
Trang 7CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT GIỮA
VỢ - CHỒNG
1.1 Lịch sử về thừa kế của vợ chồng
1.1.1 Quan niệm của người xưa về thừa kế giữa vợ – chồng
Theo tục lệ nông dân cổ xưa (pháp luật thời Lê chịu ảnh hưởng sâu rộng): đã
công nhận cho con trai, con gái có quyền hưởng thừa kế ngang nhau đồng thời vẫn chủ trương bảo vệ gia đình trong việc di chuyển di sản Do vậy quy tắc bảo tồn tài sản thừa kế trong gia đình áp dụng cả đối với người chồng và người vợ Trong trường hợp không có con chung mà vợ hoặc chồng chết thì tất cả tài sản do cha, mẹ của người chết tặng cho hoặc để lại cho người này phải được trao trả về cho gia đình gốc cùng với một nửa khối di sản mà hai vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân Trường hợp có con chung thì tất cả tài sản của gia đình để lại cho con Người vợ (chồng) còn sống không bao giờ thừa kế quyền
sở hữu tài sản của người chết trước, nhưng lại được hưởng hoa lợi đối với một phần di sản nếu không có con chung và đối với toàn bộ di sản nếu có con chung (bộ Quốc triều hình luật Đ.374, 375, 376) Để thực hiện quyền này không bị trở ngại thì người thụ hưởng có thể không cho phép các con, cháu phân chia di sản khi mình còn sống nếu mình không muốn Ta thấy trong các quy tắc ấy sự hài hòa giữa nguyên tắc bảo vệ gia đình và các nghĩa vụ hỗ trương của vợ, chồng
Theo tư tưởng Khổng – Mạnh chính thống: mà dựa trên đó Bộ luật Gia Long và
các Bộ luật dân sự (BLDS) Bắc, Trung được xây dựng lại thừa nhận rằng gia đình thuộc
về người đàn ông và rằng nó tồn tại và phát triển vì lợi ích của người đó Người phụ nữ khi có chồng trở thành một thành viên của gia đình chồng và phải sống cho gia đình ấy chứ không phải cho gia đình của cha, mẹ ruột Trong trường hợp này người chồng là gia trưởng, người vợ sẽ là mẹ trong gia đình và với tư cách đó đảm nhận các công việc nội bộ; trái lại, trong quan hệ với người ngoài gia đình thì chỉ có người cha trong gia đình mới
có quyền hành động dưới danh nghĩa là vì lợi ích của gia đình, người mẹ chỉ đóng vai trò người cộng sự và chỉ được gọi để cùng giao dịch bên cạnh người cha mỗi khi cần thiết
Nếu vợ chết trước, thì người chồng vẫn là (hoặc trở thành) chủ sở hữu tất cả tài sản trong gia đình Với giải pháp này thì không có vấn đề gì phải được đặt ra trong thực tiễn
tư pháp về thanh toán tài sản chung của vợ, chồng và thanh toán di sản sau khi hôn nhân chấm dứt do người vợ chết
Nếu người chồng chết trước thì dù có con hay không thì người vợ sẽ được hưởng
Trang 8hoa lợi trên toàn bộ di sản với điều kiện không kết hôn lại và không ở trong trình trạng không xứng đáng đứng đầu gia đình Ngoài ra, người vợ góa còn có quyền định đoạt các động sản và một vài bất động sản do người chết để lại trong vài trường hợp đặc thù Khi người vợ góa chết thì các tài sản do người đó quản lý sẽ được chuyển giao cho con, cháu trực hệ hoặc cho những người thân thuộc khác của chồng nếu không có con cháu
Ngoài ra BLDS Trung có nêu tại điều 349 một giả thuyết đặc biệt: một người chồng góa lớn tuổi, kết hôn lần tứ hai (hoặc lần thứ ba) với một người phụ nữ trẻ hơn các con riêng của mình Luật nói rằng, nếu chồng chết trước mà không để lại di chúc, thì người vợ góa trẻ phải giao cho các con riêng lớn tuổi của chồng phần di sản mà họ được hưởng theo pháp luật chứ không được giử lại để thụ hưởng hoa lợi Nếu do thực hiện nghĩa vụ này mà người vợ mất quyền hưởng hoa lợi trên toàn bộ di sản thì người ấy sẽ được đền bù bằng một phần di sản ngang với phần của con Đây là trường hợp duy nhất
mà người vợ có quyền thừa kế quyền sở hữu di sản, mặc dù người chết có để lại thân thuộc theo huyết thống
1.1.2 Quyền thừa kế giữa vợ - chồng qua các thời kì
1.1.2.1 Giai đoạn 1945 – 1975
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tự chủ và chủ nghĩa xã hội Song song với việc củng cố chính quyền thì Đảng và nhà nước ta cũng rất chú trọng đến việc phát triển kinh tế nhằm mục đích nâng cao dần đời sống của người dân Cũng từ đó thì các mối quan hệ trong xã hội đã dần dần được đổi mới theo những chủ trương đúng đắn phù hợp với yêu cầu phát triển tất yếu, khách quan của dân tộc và thời đại Cùng với sự ra đời của nhà nước non trẻ thì pháp luật của chế độ mới cũng dần được hình thành và phát triển trong đó quyền thừa kế của người dân cũng được coi trọng
Pháp luật thừa kế của nước ta đã xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong quan hệ thừa kế và thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, giữ các con trong gia đình… Loại bỏ tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ, bảo
vệ quyền thừa kế của người vợ góa và con gái đã kết hôn…,người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản của người chồng Có nhiều văn bản quy phạm pháp luật ra đời để điều chỉnh vấn đề này:
Sắc lệnh ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ, trong đó có những quy định về thừa kế: “Điều thứ 1: Cho đến khi ban hành những Bộ luật duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời
Trang 9giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này
Từ nay đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất nói trên, những điều sửa đổi cần kíp sẽ do sắc lệnh ban bố sau”
Sắc lệnh 97/SL ban hành ngày 22/5/1950 quy định rằng con, cháu hoặc vợ hay chồng của người chết cũng không bắt buộc nhận thừa kế của người ấy và rằng khi nhận thừa kế, các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản do người chế để lại (Điều 10) Mặt khác người vợ góa hay chồng góa, con đã thành niên có quyền yêu cầu chia phần di sản thuộc phần sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung (Điều11) Những quy định trong sắc lệnh 97/SL là tư tưởng chỉ đạo trong pháp luật dân sự nói chung và của pháp luật thừa kế nói riêng trong suốt cả thời gian dài và là tư tưởng chủ đạo được thể hiện cụ thể trong chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự 1995 của nước ta Ngày 18/9/1956, Bộ tư pháp ban hành thông tư số 1742/BNC để hướng dẫn Tòa
án các cấp thống nhất trong việc giải quyết những tranh chấp về thừa kế trong giai đoạn này Thông tư quy định rõ vợ (chồng) của người chết có quyền thừa kế ngang với các con; vợ lẻ và con nuôi chính thức của người để lại di sản có quyền thừa kế như vợ cả và con đẻ của người đó Vợ góa của người để lại di sản (kể cả vợ cả và vợ lẻ) đều có quyền thừa kế di sản của chồng và hưởng phần di sản ngang với phần của các thừa kế cùng hàng khác
Khi hiến pháp 1959 được ban hành, điều 14 hiến pháp đã ghi nhận: “Pháp luật bảo
hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu khác của nông dân, đồng thời pháp luật bảo
hộ quyền sở hữu của công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác, quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân được bảo đảm” Ngày 27/8/1968, Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư số 594-NCPL hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế có quy định cụ thể: Quyền bình đẳng nam nữ trong việc hưởng di sản, các con của người chết không phân biệt giới tình, già trẻ có năng lực hành
vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều được hưởng phần di sản ngang nhau, vợ hoặc chồng của người để lại di sản được thừa kế ở hàng thứ nhất cùng với các con của người đó
Theo thông tư số 07/NV ngày 22/02/1964 của Bộ Nội về việc tổ chức chôn cất, quản lý hồ sơ, di sản và mồ mả của cán bộ, đồng bào miền Nam chết ở trên miền Bắc thì những người thừa kế gần nhất là vợ hoặc chồng, con đẻ, bố, mẹ đẻ
1.1.2.2 Giai đoạn 1975 đến nay
Trong giai đoạn này, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện là xóa bỏ
Trang 10chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nhằm xây dựng và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) Hiến pháp 1980 khẳng định nguyên tắc thừa kế tư nhân tại điều 27: “pháp luật bảo vệ quyền thừa kế của công dân”1
Trên cơ sở các quy định của hiến pháp 1980 và luật hôn nhân gia đình 1959, Tòa
án nhân dân tối cao ban hành thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 dùng để hướng dẫn xét xử các tranh chấp về thừa kế: xác định di sản thừa kế, trình tự thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, thừa kế thế vị, việc thừa kế của những người chết cùng thời điểm, chia di sản thừa kế Tuy nhiên thông tư 81/TANDTC chỉ quy định hai hàng thừa kế dựa trên mối quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng giữa người thừa
kế và người để lại di sản: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, các con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi Hàng thừa
kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột; anh, chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha và anh, chị, em nuôi”
Ngày 30/8/1990 pháp lệnh về thừa kế được ban hành đây được xem là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất đầu tiên trong lĩnh vực thừa kế Nó quy định khá đầy
đủ các vấn đề về thừa kế ở nước ta từ sau cách mạng tháng 8/1945 đến khi có Bộ luật dân
Khi chưa xuất hiện Nhà nước, thừa kế được dịch chuyển theo phong tục, tập quán
1 Tại hiến pháp 1992 điều này được hoàn thiện như sau: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (điều 58)
Trang 11của các thị tộc, bộ lạc, thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của Nhà nước Giai cấp thống trị thông qua quyền lực nhà nước để áp dụng các phương pháp cưỡng chế nhằm tác động đến các quan hệ xã hội làm cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp mình Nghĩa là khi có Nhà nước thì mọi quan hệ cũng như mọi sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội đều được pháp luật điều chỉnh Thừa kế trong xã hội đã có nhà nước cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật.
Theo đó, thừa kế theo pháp luật là sự chuyển dịch di sản của người chết cho người còn sống theo mối quan hệ ràng buộc về huyết thống, gia đình hay thân thuộc giữa người
có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản Thừa kế theo pháp luật bảo đảm quyền của người có tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, nếu không thực hiện quyền định đoạt bằng việc lập di chúc hoặc tuy có lập di chúc, song việc định đoạt đó bị hạn chế bởi pháp luật hay di chúc họ lập ra không có hiệu lực theo quy định của pháp luật Thừa kế theo pháp luật về bản chất là bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết thống, gia đình hay thân thuộc với người có tài sản khi người này chết
1.2.2 Quyền thừa kế
Quyền thừa kế là một chế định của ngành luật dân sự bao gồm một tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển những lợi ích vật chất từ người chết cho những người còn sống khác
Quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống được gọi là thừa kế hay được gọi là quan hệ thừa kế Tương tự như vậy, quá trình dịch chuyển tài sản
từ một người đã chết cho người còn sống khi đã có sự tác động của pháp luật được gọi là quyền thừa kế hay được gọi là quan hệ pháp luật về thừa kế
Trong khoa học pháp luật dân sự, người ta thường dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân chia quan hệ pháp luật dân sự thành các loại khác nhau:
Nếu dựa vào tính xác định của chủ thể mang quyền và chủ thể mang nghĩa vụ thì quan hệ pháp luật dân sự được phân thành quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối và quan hệ pháp luật dân sự tương đối Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối là quan hệ mà trong đó chỉ xác định được chủ thể mang quyền, tất cả các chủ thể khác là chủ thể mang nghĩa vụ (quan hệ đòi nợ, cấp dưỡng) Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ mà trong đó, tương ứng với chủ thể mang quyền đã được xác định cụ thể là chủ thể mang nghĩa vụ cũng đã được xác định cụ thể, theo đó quyền của chủ thể bên này là nghĩa vụ của chủ thể bên kia và ngược lại (quan hệ mua bán)
Như vậy, theo cách phân loại trên và nếu coi thừa kế là một quan hệ thì quan hệ
Trang 12pháp luật về thừa kế sẽ thuộc nhóm quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối hay tương đối Điều này không thể lý giải được bởi lẽ nếu thừa kế là một quan hệ pháp luật thì trong quan hệ đó bao giờ cũng đã xác định được cả hai bên chủ thể nên không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối được Mặt khác, trong quan hệ này không có
sự tương ứng đối lập nhau về quyền, nghĩa vụ giữa các bên chủ thể nên cũng không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ pháp luật dân sự tương đối
Nếu dựa vào cách thức thực hiện quyền dân sự của chủ thể mang quyền thì quan
hệ pháp luật dân sự được phân chia thành quan hệ vật quyền và quan hệ trái quyền Quan hệ vật quyền là quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó, chủ thể mang quyền thực hiện quyền dân sự bằng chính hành vi của mình mà hoàn toàn không phụ thuộc vào hành vi của người khác Ví dụ: quan hệ pháp luật về sở hữu được coi là quan hệ vật quyền vì trong đó khi thực hiện quyền dân sự của mình, chủ sở hữu (chủ thể mang quyền) bằng chính hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật để thực hiện việc chiếm hữu, việc sử dụng và định đoạt tài sản của mình Quan hệ trái quyền là quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó, quyền của chủ thể bên này muốn được thực hiện phải thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên kia Ví dụ: quan hệ nghĩa vụ vay nợ được coi
là một quan hệ trái quyền vì quyền thu hồi nợ của bên cho vay chỉ được thực hiện chừng nào bên vay thực hiện hành vi trả nợ
Theo cách phân loại trên và nếu coi thừa kế là một quan hệ thì quan hệ pháp luật
về thừa kế sẽ được xếp vào nhóm quan hệ nào: Trước hết, không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ trái quyền vì quyền nhận tài sản (thừa kế theo pháp luật) của người thừa kế hoàn toàn không phụ thuộc vào hành vi của người để lại di sản, càng không thể thông qua hành
vi của người đó được vì quyền nhận di sản chỉ xuất hiện khi người để lại di sản đã chết Mặt khác, cũng không thể xếp thừa kế vào nhóm các quan hệ vật quyền được bởi người thừa kế không thể tác động đến tài sản của người để lại di sản nếu ở họ chưa xuất hiện quyền nhận di sản Kể từ khi họ có quyền nhận di sản thì di sản đó đã thuộc sở hữu của họ
và khi họ bằng hành vi của mình tác động trực tiếp đến di sản chính là việc họ đang thực hiện quyền của một chủ sở hữu để chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chính mình Thừa kế chỉ là hệ luận của một quan hệ vật quyền và từ đó tạo ra một quan hệ vật quyền khác Thừa kế chỉ là sự tiếp nối giữa việc để lại tài sản và việc nhận tài sản mà việc
để lại tài sản của người đã chết (dù có di chúc hay không) thì về bản chất, đều là quyền định đoạt tài sản của một chủ sở hữu Việc nhận di sản chính là việc người thừa kế tiếp nhận quyền định đoạt của người để lại thừa kế
Như vậy, nếu thừa kế là một quan hệ pháp luật thì nó phải thuộc hoặc nhóm này
Trang 13hoặc nhóm kia theo các cách phân loại trên Trong khi về mặt lý luận, không thể xếp nó vào bất kỳ một nhóm nào bởi thực chất, thừa kế chỉ là một sự kiện (sự kiện pháp lý) mà qua đó làm dịch chuyển tài sản từ một người đã chết sang người còn sống
1.2.3 Thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng
Vợ - chồng là mối quan hệ giữa một người đàn ông với một người đàn bà trên cơ
sở hôn nhân được pháp luật thừa nhận Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là một quan hệ thừa kế mang tính hai chiều hay còn gọi là “thừa kế đối nhau”, “thừa kế của nhau”, nghĩa
là trong đó, khi bên này chết thì bên kia là người thừa kế ở hàng thứ nhất và ngược lại, khi bên kia chết thì bên này là người thừa kế ở hàng thứ nhất Căn cứ để xác định quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng là quan hệ hôn nhân Theo qui định tại Điều 8, Luật Hôn nhân
và Gia đình Việt Nam năm 2000 (gọi tắt là Luật Hôn nhân 2000) thì “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Mặt khác, cũng tại Điều 8 của luật trên còn quy định “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Vì thế, vợ - chồng được thừa kế di sản của nhau khi một bên chết, nếu vào thời điểm mở thừa kế mà quan hệ hôn nhân giữa họ về mặt pháp lý vẫn còn tồn tại
1.2.4 Mở thừa kế
Thừa kế được mở do các nguyên nhân được pháp luật dự kiến, vào một thời điểm
và tại một nơi xác định theo các quy định của pháp luật
1.2.4.1 Nguyên nhân mở thừa kế
Trong luật thực định thì thừa kế được mở do một trong hai nguyên nhân đó là chết
tự nhiên hoặc tuyên bố là đã chết
Chết tự nhiên được xác nhận bằng giấy chứng tử và được lập theo các quy định hiện hành về hộ tịch
Tuyên bố là đã chết cũng được xác nhận bằng giấy chứng tử, nhưng việc đăng ký khai tử được thực hiện trên cơ sở có quyết định tuyên bố là đã chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật (BLDS 2005 điều 81)
Tuy nhiên trong thực tế cũng có nhiều trường hợp khi cá nhân (người có tài sản)
hiểu biết về pháp luật mà khi người thân của mình bị mất tích thì họ lại tự ý phân chia
2 Điều 78 BLDS (Tuyên bố một ngườ mất tích)
Trang 14di sản của người đó chứ không cần tuyên bố của tòa án rằng người đó đã chết3 Từ đó
đã dẫn đến trường hợp phân chia tài sản một cách không công bằng (không theo quy định của pháp luật) dẫn đến thiệt thòi cho nhiều người mà ở đây phần lớn sự thiệt thòi là thuộc
về người vợ (chưa có con chung) bởi vì gia đình chồng cho rằng tài sản của hai vợ chồng
có được là do gia đình chồng cho hoặc do con trai họ làm ra giờ đây con trai họ chết thì
họ lấy lại tài sản đó
1.2.4.2 Thời điểm mở thừa kế
Theo BLDS điều 633 khoản 1: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa
kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”
Vậy ngày mở thừa kế của một người đã chết trong những hoàn cảnh thông thường
là ngày được ghi trong giấy chứng tử Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì ngày mở thừa kế do Tòa án xác định tùy theo đặc điểm của từng vụ việc cụ thể; nếu không xác định được ngày đó thì ngày mở thừa kế là ngày bản án liên quan có hiệu lực pháp luật Ngày do Tòa án xác định hoặc ngày bản án có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được ghi vào giấy chứng tử
Ngoài ra trong trường hợp vợ hoặc chồng lập di chúc chung thì thời điểm mở thừa
kế là phải tuân theo quy định tại điều 668 của BLDS 2005 cụ thể như sau: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”
Việc xác định thời điểm mở thừa kế có một số lợi ích thực tiễn Trước hết, việc di chuyển di sản được chi phối bởi pháp luật, có hiệu lực pháp luật tại thời điểm mở thừa kế Tuy nhiên, quy tắc này có thể bị loại trừ một khi áp dụng luật cũ đồng nghĩa với vi phạm điều cấm của pháp luật hiện hành hoặc dẫn đến các hệ quả mà không phù hợp với tinh thần của đạo đức mới
Ví dụ: một người có con ngoại tình chết tại địa phương miền Nam vào năm1973
mà không để lại di chúc; pháp luật thừa kế lúc bấy giờ quy định rằng con ngoại tình
Trang 15không có quyền hưởng di sản; quy định này không được áp dụng để giải quyết các vấn
đề di chuyển tài sản và hưởng di sản trong hoàn cảnh hiện tại
Mặt khác, sự hiện hữu của người thừa kế được xác minh bằng cách lùi trở lại thời điểm mở thừa kế, người thừa kế phải có mặt tại thời điểm mở thừa kế hoặc đang thành thai ở thời điểm đó và sinh ra còn sống
Cùng vào thời điểm mở thừa kế thì người thừa kế có những quyền và nghĩa vụ do người chết để lại, người thừa kế trở thành chủ sở hữu các tài sản do người chết để lại cũng như trở thành con nợ của các chủ nợ của di sản Nếu có nhiều người có quyền hưởng di sản và có quyền hưởng di sản chung theo phần đối với một hoặc nhiều tài sản thuộc di sản thì sau khi phân chia mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền sở hữu đối với một phần hoặc toàn bộ tài sản được chia tính từ thời điểm mở thừa kế chứ không phải từ thời điểm phân chia
Và cũng ở thời điểm mở thừa kế, mà trong trường hợp có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, ta phải tính toán giá trị của di sản và giá trị của các thừa kế theo di chúc và di tặng để biết liệu có cần cắt giảm theo tỷ lệ nào
Cuối cùng, thời điểm mở thừa kế cũng là thời điểm bắt đầu các thời hạn, thời hiệu liên quan đến thừa kế: thời hạn từ chối nhận di sản, khởi kiện về quyền thừa kế,…
Trường hợp nhiều người có quyền thừa kế của nhau chết cùng vào một thời điểm: đối với giả thuyết nhiều người có quyền thừa kế của nhau chết cùng vào một thời điểm (do chết trong cùng một biến cố: thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn giao thông…) mà không xác định được người nào chết trước, luật thực định chọn giải pháp đơn giản (BLDS điều 641: Trong trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa
kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 của Bộ
luật này; BLDS điều 677 khoản 2 điểm a: “Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc”)
1.2.4.3 Địa điểm mở thừa kế
Việc xác định nơi mở thừa kế cũng có một số lợi ích thực tiễn: theo BLDS điều
633 khoản 2 thì: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản”
Trang 16Nơi cư trú cuối cùng không nhất thiết là nơi chết, một người có thể cư trú ở một nơi nhưng có thể chết ở nơi khác4
Hiện nay chưa có văn bản nào nói về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế Phần lớn các ý kiến đều cho rằng các tranh chấp
ấy đều do Tòa án nơi mở thừa kế giải quyết
Mặt khác còn phải xác định tòa án có thẩm quyền trong việc kiện cáo của các chủ
nợ của người chết Trên thực tế có thể hiếm có vụ án đòi nợ di sản được khởi kiện sau khi thừa kế được mở bởi hai lẽ:
Thứ nhất, người mắc nợ nếu đến hẹn mà không trả thường bị kiện ngay từ lúc còn sống (và sau khi bị đơn chết thì người thừa kế thay thế người chết để tiếp tục theo đuổi vụ kiện tại Tòa án có thẩm quyền)
Thứ hai, Trong hầu hết trường hợp thì người vay nợ đều có vợ (chồng) và các món
nợ lớn đều do vợ chồng đứng vay Nếu một người chết thì các chủ nợ theo tục lệ sẽ kiện người còn sống khi người còn sống không trả được nợ (kiểu như trách nhiện liên đới)
Hiện nay do sự phát triển kinh tế và do sự tự do cá nhân trong quan hệ xã hội và quan hệ gia đình mà người vợ hoặc người chồng giao kết những khoản nợ lớn mang tính chất cá nhân và trong trường hợp có kiện cáo thì người còn lại từ chối sự liên đới về trách nhiệm Bởi vậy giả định vụ án đòi nợ được khởi kiện sau khi thừa kế được mở thì bị đơn
là tất cả những người thừa kế được gọi chứ không phải chỉ có vợ (chồng) còn sống Trong điều kiện ấy nên có quy định giao việc giải quyết cho một Tòa án cụ thể (Ví dụ: Tòa án
mở thừa kế) nhằm tránh khả năng chủ nợ phải khởi kiện ở nhiều tòa án khác nhau để đòi mỗi một khoản nợ chỉ vì: 1- Do hiệu lực của nguyên tắc quyền hưởng di sản lập tức mà mỗi người thừa kế trở thành con nợ của chủ nợ của ngươi chết; 2 - Nghĩa vụ trả nợ được chia sẽ giữa những người thừa kế
1.2.4.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Thời hiệu mở thừa kế là khoản thời gian do pháp luật quy định để cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về thừa kế bị xâm phạm Nếu thời hạn đó kết thúc mà chưa tiến hành việc khởi kiện thì mất quyền khởi kiện, tức là không được khởi kiện nữa
Điều 645 BLDS 2005 quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế : “Thời hiệu khởi kiện
4 BLDS Điều 52 khoản 1 và 2
- Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống
- Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống
Trang 17để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế ;Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”
Tuy nhiên đối với trường hợp quá thời hiệu khởi kiện mà đương sự chứng minh được khởi kiện chậm trễ là do những trở ngại khách quan như : đương sự bị mất năng lực hành vi, do ốm đau bệnh tật, do bị ta nạn… thì Tòa án vẫn thụ lý theo thủ tục chung (thời gian gặp trở ngại khách quan đó sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện) Trong trường hợp đương sự đã không thực hiện quyền khởi kiện của mình trong thời gian chính đáng thì Tòa án sẽ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đương sự
1.3 Di sản thừa kế
1.3.1 Khái niệm di sản
Theo quy định tại điều 634 BLDS thì: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối di sản của người khác” Tuy nhiên, về di sản thừa kế thì có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí ngay trong pháp luật của mỗi thời kì cũng quy định khác nhau5 Cùng với sự phát triển nền kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian qua, với những chính sách đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,… thì đến nay thành phần, khối lượng, giá trị tài sản thuộc sở hữu tư nhân – nguồn của di sản thừa kế cũng ngày càng phong phú, nhiều hơn và lớn hơn Theo đó thì di sản thừa kế là tài sản thuộc quyến sở hữu của người để lại di sản khi còn sống Theo quy định tại điều 163 BLDS: “Tài sản bao gồm vật, tiền, gấy tờ có giá và các quyền tài sản” Như vậy, thành phần di sản bao gồm các loại tài sản khác nhau và không bị hạn chế về số lượng và giá trị
1.3.2 Di sản thừa thừa kế là tài sản riêng của vợ (chồng)
Tài sản riêng của mỗi người được xác định khi người đó còn sống, có quyền sở hữu tài sản của mình một cách độc lập và có quyền sử dụng, định đoạt tài sản đó theo ý chí riêng của mình mà không bị ràng buộc vào ý chí của người khác và chỉ tuân theo pháp luật Trong quan hệ vợ chồng thì tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước thời kì hôn
Trang 18nhân hoặc ở trong thời kì hôn nhân nhưng do được tặng cho riêng, được thừa kế riêng mà người có tài sản riêng đó không định đoạt ý chí sát lập vào khối di sản chung của vợ chồng thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của vợ hoặc của chồng Tài sản riêng của vợ (chồng) còn được được xác định trong trường hợp vợ, chồng đã thõa thuận bằng văn bản việc chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án chia khi có lý do chính đáng thì phần tài sản của vợ (chồng) được chia là tài sản riêng của mỗi người Những tài sản chung của
vợ (chồng) không chia thì vẫn thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng Những tài sản do
vợ (chồng) tạo ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên khi xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ hoặc của người chồng thì cần phân biệt các trường hơp sau đây:
Thứ nhất, Vợ và chồng đã chia tài sản chung theo căn cứ hợp pháp thì phần tài sản được chia của mỗi người là tài sản riêng và việc khai thác tài sản đó thuộc quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng Theo đó các khoản thu được từ tài sản riêng đó là tài sản riêng
Thứ hai, Trước thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng có tài sản riêng là tư liệu sản xuất nếu sau khi kết hôn tài sản đó không được nhập vào khối tài sản chung thì đó vẫn là tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng nhưng hoa lợi, lợi tức pháp sinh từ tài sản riêng
đó là tài sản chung của vợ chồng
1.3.3 Di sản thừa kế là phần tài sản của người vợ (chồng) trong khối tài sản chung với người khác
Người chết là đồng sở hữu chung hợp nhất tài sản chung với vợ hoặc chồng cả người chết và người chết là sở hữu chung theo phần đối với tài sản chung với người khác Trong trường hợp này, khi người này chết thì tài sản là di sản thừa kế được xác định trong khối di sản chung đó như sau:
- Đối với tài sản chung hợp nhất, khi vợ hoặc chồng chết trước thì di sản của người chết được xác định là 1/2 giá trị trong tổng giá trị tài sản chung hợp nhất của vợ (chồng)
- Đối với trường hợp thứ hai, khi còn sống người chết là đồng sở hữu chung theo phần đối với tài sản, khi người này chết thì phần quyền tài sản trong khối di tài sản chung
là di sản thừa kế
- Các quyền tài sản khác của người chết để lại là di sản thừa kế gồm: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, các khoản bồi thường về tính mạng, sức khỏe, tiền bảo hiểm, là tài sản thừa kế của người đó
1.4 Ý nghĩa về việc thừa kế theo pháp luật giữa vợ - chồng
Công nhận quyền được để lại thừa kế giữa vợ (chồng) sẽ có tác dụng kích thích sự
Trang 19quản lý năng động của một người được cổ vũ bởi niềm tin rằng sự nghiệp của mình sẽ được kế tục bởi những người mình yêu thương
Về quan hệ bình đẳng: Vợ và chồng, trong khung cảnh của luật thực định, hoàn toàn bình đẳng trong quan hệ hỗ tương và có những quyền và nghĩa vụ hỗ tương như nhau, ngang nhau (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 19) Mặt khác, hôn nhân không làm cho vợ và chồng hoà nhập thành một chủ thể duy nhất của quan hệ pháp luật:
vợ, chồng tiếp tục giữ lại lý lịch pháp lý cá nhân của riêng mình, có danh dự, nhân phẩm riêng, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi của riêng mình cả trong quan hệ nội bộ
và trong quan hệ với người thứ ba và cả trong việc thừa kế theo pháp luật của nhau
Trang 20CHƯƠNG 2 THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT GIỮA VỢ - CHỒNG
TRONG LUẬT THỰC ĐỊNH
2.1 Điều kiện để vợ - chồng được hưởng thừa kế theo pháp luật
2.1.1 Điều kiện chung
2.1.1.1 Điều kiện về người thừa kế
Di sản phải được chuyển cho người còn sống hoặc pháp nhân còn tồn tại, nguyên tác này xuất phát từ chính các quan niệm về cơ sở của quyền thừa kế được chấp nhận trong các hệ thống pháp luật
- Quan niệm về kinh tế: Quyền sở hữu sẽ vô nghĩa nếu nó không được truyền lại cho người khác sau khi chủ sở hữu chết
- Quan niệm về gia đình: Quyền thừa kế là điều kiện vật chất của sự kế tục và sự tồn tại lâu dài của gia đình Sẽ vô nghĩa nếu nó được truyền từ người chết này sang cho
người chết khác
Bởi vậy luật quy định rằng vợ (chồng) muốn thừa kế di sản của nhau phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế (điều 635 BLDS), Ở đây cụm từ “còn sống” chỉ sự hiện hữu pháp lý, tức là năng lực pháp luật chứ không phải sự hiện hữu về vật chất Thông thường thì hiện hữu về vật chất trùng hợp với hiện hữu về pháp lý: Con người có năng lực pháp luật trước hết là con người còn sống Từ đó có khoản 3 điều 14 BLDS thì “năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết” Cá nhân không tồn tại về mặt vật chất thì suy cho cùng cũng chẳng có lợi ích của bản thân để tiếp nhận năng lực pháp luật
2.1.1.2 Không vi phạm pháp luật về điều kiện được hưởng di sản thừa kế
Vợ (chồng) muốn thừa kế di sản của nhau phải không rơi vào một trong các trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó” (điểm a khoản 1 điều 643), theo đó thì hành vi cố ý xâm phạm tính mạng được hiểu là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của vợ đối với chồng hoặc ngược lại một cách trái pháp luật Hành vi này có thể gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống của người để lại di sản (ở đây cần phân biệt với hành vi tước đoạt tính mạng do phòng vệ chính đáng) Vợ (chồng) mà có hành vi cố ý
Trang 21xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của nhau và đã bị kết án về hành vi đó thì không có quyền thừa kế di sản của người đã chết
Điều kiện chính đặt ra trong trường hợp này đó là phải có một bản án có hiệu lực pháp luật Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kết án6 thì không
bị ràng buộc bởi điều luật này7
Pháp luật luôn luôn bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của mọi công dân nhưng những công dân có hành vi trái pháp luật thì tư cách chủ thể của công dân đó trong một số quan hệ bị hạn chế hoặc bị đình chỉ theo pháp luật
Tuy nhiên trong trường hợp người vợ hoặc chồng chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người còn lại thì người vợ hoặc chồng còn sống vẫn được thừa hưởng di sản của người đã chết theo quy định của pháp luật
Trường hợp thứ hai: “ Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản” (điểm b khoản 1 điều 643) Nghĩa vụ nuôi dưỡng đã được pháp luật quy định một cách chính thức chứ không phải là nghĩa vụ thuần túy về đạo đức Vợ chồng phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không có khả năng lao động và vợ chồng còn phải cấp dưỡng cho nhau khi đã ly hôn mà bên kia có yêu cầu và Tòa án đã chấp nhận
Khi vợ hoặc chồng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người kia mà bị tòa án kết án về hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế Mặt khác điều 152 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính
về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản không những phải chịu trách nhiệm hình sự mà còn phải bị tước quyền thừa kế do hành vi cố ý vi phạm nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật
Trường hợp thứ ba: “Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người
thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng” (điểm c khoản 1 điều 643) Thực tế cho thấy do mưu đồ chiếm đoạt một
6 Các trường hợp không bị try cứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kết án dù đã có hành vi phạm pháp (BLTTHS điều 107) bao gồm:
- Người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự ;
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật ;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự ;
- Tội phạm đã được đại xá ;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết
7 Thế nhưng một khi đã bị kết án thì dù có được xóa án vẫn không được hưởng di sản : Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của tòa án nhân dân tối cao mục 2 điểm a
Trang 22phần hoặc toàn bộ tài sản mà không ít trường hợp các thừa kế ra tay giết hại lẫn nhau Tuy nhiên trong trường hợp này cần phải phân biệt giữa hành vi vô ý làm chết người với hành
vi cố ý làm chết người Theo quy định của pháp luật thì một người sẽ bị tước quyền thừa
kế nếu như họ bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế nhằm mục đích chiếm đoạt phần di sản mà người đó được hưởng Ngược lại, người bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kế khác hoặc hành vi vô ý làm chết người thừa kế khách mà không nhằm mục đích chiếm đoạt phần di sản của người thừa kế đó được hưởng thì không bị tước quyền thừa kế Nói rỏ hơn, quy tắc được phân tích áp dụng cho giả thuyết trong đó người thừa
kế hành động với mong muống nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế có tính mạng bị xâm phạm được hưởng nếu còn sống
Trong trường hợp này chúng ta cần lưu ý hai điểm sau:
- Hành vi phạm pháp phải xảy ra trước thời điểm mở thừa kế Vì sau khi thừa kế được mở ra thì mỗi người thừa kế sẽ trở thành chủ sỡ hữu của phần tài sản chưa chia Nếu một người thừa kế chết thì phần đó nằm trong phần di sản được để lại cho người thừa kế của họ chứ không phải cho kẻ giết người Giả định kẻ giết người cũng là người có quyền thừa kế của người bị giết, thì các nguyên tắc thiết lập tại trường hợp thứ nhất sẽ được áp dụng Nói rỏ hơn, quy tắc được phân tích chỉ áp dụng cho giả thuyết trong đó người thừa
kế hành động với với mong muốn làm gia tăng phần mình được hưởng một cách trực tiếp, trong phần di sản mà họ và người có tính mạng bị xâm hại có quyền thừa kế chung
- Động cơ phạm tội phải được ghi nhận trong bản án kết án người có hành vi phạm pháp Do đó bản án không thể được tuyên trước khi mở thừa kế Thật vậy, sẽ rất không hợp lý khi mà gán cho người có ý định chiếm đoạt một vật (ở đây là di sản) mà nó không tồn tại vào thời điểm phạm tội và cả ở thời điểm xét xử Bản án chỉ có thể được tuyên sau khi mở thừa kế Trường hợp bản án đã xử xong thì có thể được xét lại theo yêu cầu tái thẩm và cũng giống như trường hợp thứ nhất, người phạm pháp trong trường hợp này cũng không được hưởng di sản cho dù đã được xóa án tích
Trường hợp thứ tư: “Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để
lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”(điểm d khoản 1 điều 643) Khác với ba trường hợp trên trường hợp này dự kiến trong trường hợp mối quan hệ được bảo vệ là quyền thừa kế theo ý nghĩa vật chất chứ không theo theo ý nghĩa đạo đức Thật ra nếu bị cưỡng ép hoặc bị ngăn cản trong việc lập di chúc thì vợ hoặc chồng (người để lại di sản) vẫn có thể sử dụng quyền truất quyền hưởng di sản mình Còn nếu việc ngăn cản đó có dấu hiệu bạo lực nghiêm trọng thì có áp dụng các nguyên tắc tại
Trang 23trường hợp thứ nhất Riêng trường hợp vợ hoặc chồng có hành vi lừa dối người còn lại trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc mà việc lừa dối đó không vì lợi ích của bản thân thì áp dụng các biện pháp chế tài thông thường của luật dân sự (bồi thường thiệt hại,…) chứ không phải biện pháp của điều 643 khoản 1 sẽ được áp dụng
Hiệu lực của tình trạng không có quyền hưởng di sản: Người không có quyền
hưởng di sản không có quan hệ thừa kế với người có di sản Họ không được hưởng thừa
kế dù theo di chúc hay theo pháp luật
Tuy nhiên, nếu vợ hoặc chồng đã biết hành vi của người ở trong tình trạng không
có quyền hưởng di sản nhưng vẫn cho họ hưởng di sản thì họ được hưởng di sản (điều
643 khoản 2) Ta nói rằng người có di sản có quyền thứ tha, song dù có thứ tha, người có
di sản chỉ có thể loại trừ các hệ quả của tình trạng không có quyền hưởng di sản đối với thừa kế theo di chúc Nếu có một phần di sản không được định đoạt bằng di chúc thì phần
đó sẽ được chuyển cho người thừa kế theo pháp mà trong đó không có người ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản
2.1.1.3 Người thừa kế không từ chối nhận di sản
Quyền từ chối nhận di sản thừa kế của vợ chồng với nhau được pháp thừa nhận với điều kiện việc từ chối nhận di sản không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác Ngoài ra, việc từ chối hưởng di sản thừa kế còn phải thõa mãn các điều kiện về thời gian và hình thức Tại khoản 2 điều 642 BLDS quy định về từ chối nhận di sản như sau: “Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản,
cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa
kế về việc từ chối nhận di sản”; “Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế” Vợ hoặc chồng - người thừa kế tài sản của nhau- có quyền nhận di sản và cũng có quyền từ chối nhận di sản Quyền trừ chối nhận di sản của người còn lại bị hạn chế theo khoản 1 điều 642 BLDS “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác” Tuy nhiên, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản theo các mức
độ khác nhau và sự từ chối đó là hợp pháp Vợ (chồng) có quyền từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản, hoặc chỉ từ bỏ quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyền hưởng di sản theo pháp luật hoặc ngược lại Một vấn đề cần làm rỏ, tại sao vợ (chồng) laị
từ bỏ quyền hưởng di sản của mình? Việc từ chối nhận di sản có nhiều nguyên nhân: có thể người có quyền nhận di sản nhận thấy rằng mình có điều kiện kinh tế hơn các thừa kế
Trang 24theo pháp luật cùng hàng khác và việc từ chối này nhằm làm tăng phần di sản được hưởng của các thừa kế cùng hàng đó Mặt khác cũng có nguyên nhân là từ việc nhận thừa kế theo
di chúc mà tình cảm của người thừa kế theo di chúc và các thành viên khác trong gia đình
có khả năng tan rã (bằng di chúc người có tài sản (vợ hoặc chồng) để lại toàn bộ tài sản của mình cho người còn lại mà trước đó tình cảm gia đình của người này không được tốt cho lắm vì muồn gia đình được hòa thuận mà người thừa kế trong hoàn cảnh này đã từ bỏ quyền hưởng di sản theo di chúc và chỉ nhận di sản thừa kế theo pháp luật)
Cũng theo quy định tại Điều 642 BLDS 2005 (đã nói ở trên) thì việc từ chối nhận
di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản Thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế
2.1.2 Điều kiện riêng (Điều kiện về hôn nhân) – người yêu cầu có quyền hưởng di sản
với tư cách là vợ (chồng) phải thiết lập được bằng chứng về mối quan hệ hôn nhân giữa
mình và người có tài sản
* Bằng chứng hôn nhân
Tại điều 8 luật hôn nhân gia đình năm 2000 có quy định: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn - Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài – mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý8 ”
Từ điều luật ấy ta có thể rút ra quy tắc là bằng chứng của hôn nhân chỉ có thể là giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Quy tắc này không thể bị tranh cãi: Hôn nhân khác với sự chung sống tự do và chỉ có giấy chứng nhận kết hôn mới có thể thiết lập sự phân biệt giữa hai hình thức phối hợp nam nữ đó
Tuy nhiên trong thực tiễn xã hội có không ít các cặp vợ chồng không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn gây ra một vấn đề hết sức khó khăn là làm thế nào để phân
biệt được hôn nhân đích thực và tự do chung sống Có một số nguyên nhân dẩn đến vấn
đề trên:
Nguyên nhân thứ nhất: Ngay từ thời thuộc địa người làm luật cũng đã nói rằng
“hôn nhân chỉ có thể chứng minh bằng hôn thứ” Song chính văn bản luật cũng dự liệu
8 Quy định này được nhắc tại khoản 1 điều 11 Luật hôn nhân gia đình 2000
Trang 25các trường hợp ngoại lệ mà trong đó tư cách vợ (chồng) cũng được công nhận bằng các bằng chứng khác Ví dụ: theo điều 2 thiên III Dân luật giản yếu ngày 03/10/1883, các cuộc hôn nhân cử hành trong các vùng mà sổ bộ không được giữ hoặc bị mất hay bị hủy hoại có thể được chứng minh cả bằng văn bản và cả người làm chứng các BLDS Bắc, Trung cũng chấp nhận giải pháp này (BLDS Bắc điều 46, 47; BLDS Trung điều 47, 48)
Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều cơ sở lưu trữ bị phá hoại, việc tổ chức đăng kí và quản lý hộ tịch lại không thể được thực hiện ở nhiều vùng Nhiều cặp vợ - chồng chung sống với nhau trong nhiều năm mà không có giấy chúng nhận đăng kí kết hôn, dù tất cả những yếu tố thực tế để hình thành nên quan hệ vợ - chồng đều đã hội đủ: sự tôn trọng nguyên tắc một vợ một chồng, cung cách cư xử, con cái và tài sản…
Nguyên nhân thứ hai: Trong quan niệm cổ, giá trị của hôn nhân tùy thuộc vào việc
hôn nhân có được cử hành theo đúng các nghi lễ cần thiết hay không Người làm luật thời
cổ quy định rất tỉ mỉ về các nghi thức cưới hỏi nhưng lại không đá động gì đến việc đăng
kí kết hôn Hình như đối với mọi người việc hoàn thành các thủ tục cưới hỏi theo tục lệ được xác nhận bởi cha, mẹ hai bên và người thân thuộc cũng như xóm giềng và trong trường hợp thay đổi chổ ở thì thái độ xử sự của hai người trong quan hệ với mọi người xung quanh đủ để tư cách vợ chồng của họ được thừa nhận
Nói tóm lại, trong ý thức của tổ tiên chúng ta hôn nhân một khi đã được cử hành trọng thể theo đúng tục lệ thì sẽ tồn tại và được chấp nhận một cách tự nhiên Có thể nhận thấy ngay rằng với cách nghĩ như thế, việc đặt vấn đề bằng chứng pháp lý của quan hệ hôn nhân trở nên không cần thiết
Cũng vì hai nguyên nhân nói trên mà trong xã hội đương đại có không ít cặp vợ - chồng không có giấy chứng nhận đăng kí kết hôn, chính vì thế đã làm cho sự phân biệt giữa hôn nhân đích thực và tự do chung sống trở nên rất khó khăn Trước tình hình ấy, các nhà làm luật buộc phải một mặt hạn chế đến mức có thể được việc áp dụng biện pháp chế tài khắc khe do luật dự liệu đối với hôn nhân không đăng ký Mặt khác cố gắn thiết lập một ranh giới giữa hôn nhân và sự sống chung tạm bợ để ngăn ngừa các trường hợp người chỉ có quan hệ chung sống thuần túy vật chất tự nhận tư cách vợ (chồng) vì động cơ vụ lợi
và không chính đáng
* Ly hôn và việc thừa kế của vợ (chồng)
Việc ly hôn làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, vợ (chồng) đã ly hôn theo một bản án
có hiệu lực pháp luật trước khi thừa kế được mở không có quyền lợi gì trong di sản của người chết, do không còn tư cách vợ (chồng) còn sống Trái lại, nếu thủ tục xét xử việc ly hôn chưa kết thúc mà có một người chết, thì người còn sống vẫn có quyền thừa kế (BLDS
Trang 26điều 680 khoản 2) Cũng như thế, trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vẫn duy trì quan hệ vợ (chồng) về mặt pháp lý bởi vì trong lúc này quan
hệ hôn nhân của họ vẫn còn tồn tại về mặt pháp lý (BLDS điều 680 khoản 1)9
* Hủy hôn nhân trái pháp luật và việc thừa kế
Bên cạnh ly hôn thì hủy kết hôn trái pháp luật là một trong các trường hợp chấm dứt hôn nhân Khác với ly hôn, trong bối cảnh luật viết hiện nay của Việt Nam vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật không phải không đặt ra các vấn đề hay các giả định cần được trao đổi để hoàn thiện phần nào pháp chế về hôn nhân và gia đình Kết hôn trái pháp luật được hiểu là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định (điểm 3, điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2000) nên cần phải hủy (việc hủy kết hôn trái pháp luật được ghi nhận tại các điều 15,16 và 17 trên cơ sở các điều 9, 10 của luật hôn nhân và gia đình 2000) Về sau được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Theo đó thì hủy hôn nhân bị hủy coi như chưa bao giờ tồn tại và các bên đương sự không bao giờ có tư cách vợ (chồng) Bởi vậy, không cần phải xem xét tình trạng của người còn sống ở góc độ pháp luật thừa kế: Vì họ không phải là vợ (chồng), người còn sống không phải là người thừa kế theo pháp luật của người đã chết trước
Trong luật thực định, việc hủy hôn nhân trái pháp luật chỉ có tác dụng cấm các đương sự duy trì cuộc sống chung và dẫn đến việc thanh toán tài sản chung theo quy định tại điều 17 Luật hôn nhân và gia đình hoặc thanh toán tài sản chung như là giải quyết một
vụ án ly hôn10 Có thể nói rằng hôn nhân bị hủy sau khi thừa kế được mở cũng có tác dụng thủ tiêu quan hệ vợ, chồng vì thế người còn sống không có quyền hưởng di sản của người chết trước đó với tư cách là vợ (chồng) có chăng là được hưởng thừa kế theo di chúc của người đó
Người viết xin đề cử một số ví dụ sau đây:
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn Sang và bà Đoàn Thị Huyền kết hôn vào năm 1970 (không có đăng ký kết hôn), có với nhau 3 người con gái là Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Thắm, Nguyễn Thị Tươi Do muốn có con trai nên vào năm 1989 ông Sang kết hôn với bà Trần Thị Cúc (có đăng ký kết hôn) và sinh được anh Nguyễn Văn Ngọc Ông Sang qua đời năm 2007 không có để lại di chúc Qua sự kiện trên bà Huyền làm đơn kiện đến
Trang 27Tòa án yêu cầu chia tài sản của ông Sang Tòa án xác định:
- Tài sản chung hợp nhất của ông Sang và bà huyền là 200 triệu
- Tài sản chung hợp nhất cả ông Sang và bà Cúc là 100 triệu
Theo các sự kiện trên Tòa tuyên hủy hôn nhân giữa ông Sang và bà Cúc và chia đôi số tài sản mà hai người kiếm được (mỗi người được 50 triệu) và số tà sản của ông Sang được xác định là 150 triệu (200 triệu : 2 +50 triệu = 150 triệu) số tài sản này được chia theo pháp luật Qua đó ta thấy rằng mặc dù hôn nhân giữa ông Sang và bà Huyền không có đăng ký kết hôn nhưng vẫn là hôn nhân hợp pháp bởi vì nó tồn tại trước ngày 03/01/1987 còn hôn nhân sau với bà Cúc thì không được công nhận (mặc dù có đang ký kết hôn) vì vào thời gian này (năm 1989) pháp luật nước ta không còn công nhận trường hợp đa thê
Ví dụ 2: Năm 1977, ông Bản chung sống không đăng ký kết hôn với bà Tam tại xã Long Trì, huyện Châu Thành 10 năm sau, khi đã có với nhau hai mặt con, ông lên thị xã
ăn ở với bà Khuyến Hai người sống tại nhà cha mẹ bà Khuyến, 5 năm sau ra ở riêng Năm 1995, ông Bản cùng một nhóm bạn đi buôn gỗ ở Campuchia Sau hai năm, ông thành một đại gia ở thị xã Tân An Cùng năm này, ông và bà Khuyến có với nhau đứa con thứ hai và mua một miếng đất ở một vị trí đẹp để xây khách sạn PN (đặt theo tên hai con chung của ông bà) Một năm trước, hai người ra phường làm giấy đăng ký kết hôn Thế rồi cảnh “cơm không lành, canh không ngọt” xuất hiện khi ông Bản quan hệ với người phụ nữ khác Vì chuyện này, bà Khuyến nhiều lần gửi đơn tố cáo chồng đến các cơ quan chức năng nhưng không được giải quyết Cuối năm 2007, do không thể cứu vãn được quan hệ, bà gửi đơn lên TAND thị xã Tân An để xin ly hôn Tòa án xác định:
- Tài sản hiện có của ông Bản và bà Khiêm là 54 tỷ đồng
Theo các dữ kiện trên, trong phiên tòa phúc thẩm ngày 15/8/2008 (tuyên án vào ngày 19/8/2008), TAND tỉnh Long An đã công nhận hôn nhân giữa ông Bản và bà Tam là hôn nhân thực tế, hủy hôn nhân giữa ông Bản và bà Khuyến, và chia tài sản giữa ông Bản
và bà Khuyến theo công sức đóng góp của mỗi người
* Hôn nhân thực tế
Khái niệm hôn nhân thực tế được thai nghén ngay trong thời kỳ chiến tranh và được ghi nhận trong các trường hợp trong đó việc kết hôn dù không đăng ký nhưng hội đủ các điều kiện luật định cũng như xuất phát từ ý chí tự nguyện chung sống của các đương
sự Nói chung, để có thể được xem là vợ, chồng thực tế, các đương sự phải cư xử với nhau như vợ, chồng, phải sống chung và gánh vác chung công việc gia đình; tư cách vợ,