Như vậy, thừa kế quyền sử dụng đất là sự dịch chuyển quyền tài sản hợp pháp quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế dưới một trong hai hình thức bằng cách người để lại di
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƯ PHÁP
(KHÓA 2007-2011)
ĐỀ TÀI
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT- LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Mssv: 5075261Lớp: Luật Tư Pháp 3- khóa 33
Cần Thơ, ngày 01 tháng 4 năm 2011
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Khái quát chung về quyền thừa kế 6
1.1.1 Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế 6
1.1.1.1 Thừa kế 6
1.1.1.2 Quyền thừa kế 6
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế với quyền sở hữu 7
1.1.2 Khái niệm về quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất 8
1.1.2.1 Khái niệm quyền sử dụng đất 8
1.1.2.2 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất 10
1.2 Các nguyên tắc của quyền thừa kế 11
1.2.1 Các nguyên tắc chung của quyền thừa kế 11
1.2.1.1 Nguyên tắc bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân 11
1.2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế 12
1.2.2 Nguyên tắc riêng của chế định thừa kế quyền sử dụng đất 13
1.3 Thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa kế 14
1.3.1 Thời điểm mở thừa kế 14
1.3.2 Địa điểm mở thừa kế 15
1.4 Khái quát về di sản thừa kế 16
1.4.1 Khái niệm về di sản thừa kế 16
1.4.2 Hình thức tồn tại của di sản thừa kế 18
1.4.3 Thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế 20
1.5 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế 21
1.6 Lược sử và sự phát triển của chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam 23
1.6.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1990 23
1.6.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến khi có Bộ luật dân sự năm 1995 (có hiệu lực 1/7/1996) 25
1.6.3 Giai đoạn từ sau khi có Bộ luật dân sự năm 1995 đến nay 27
Trang 6CHƯƠNG 2 THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1 Điều kiện được quyền để thừa kế quyền sử dụng đất 29
2.1.1 Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp 29
2.1.2 Đất không có tranh chấp 31
2.1.3 Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án 31
2.1.4 Trong thời hạn sử dụng đất 31
2.2 Người để lại di sản thừa kế 33
2.2.1 Cá nhân để thừa kế quyền sử dụng đất 34
2.2.1.1 Quyền để thừa kế của cá nhân được nhà nước giao đất 35
2.2.1.2 Quyền để thừa kế của cá nhân được nhà nước cho thuê 36
2.2.1.3 Quyền để thừa kế của cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất 37
2.2.2 Thành viên hộ gia đình để thừa kế quyền sử dụng đất 38
2.3 Người được quyền hưởng thừa kế 39
2.4 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế quyền sử dụng đất 41
2.5 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất 41
2.5.1 Các trường hợp tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân 43
2.5.2 Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân 43
2.6 Trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất 44
2.6.1 Nơi nộp hồ sơ đăng ký thừa kế 44
2.6.3 Các bước thực hiện 44
2.6.2 Hồ sơ đăng ký thừa kế 44
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 3.1 Sự tiến bộ của quy định pháp luật hiện hành về chế định thừa kế quyền sử dụng đất .46
3.2 Một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất và giải pháp khắc phục 47
3.2.1 Điều kiện được để thừa kế quyền sử dụng đất 47
3.2.2 Ưu tiên chia hiện vật cho thành viên còn lại của hộ gia đình đối với trường hợp người để thừa kế quyền sử dụng đất là thành viên của hộ gia đình 49
Trang 73.2.3 Chế độ pháp lý của di sản thừa kế là quyền sử dụng đất khi hết thời hiệu khởi kiện 50 3.2.4 Các vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện về thừa kế 543.2.4.1 Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là quá ngắn 543.2.4.2 Các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế (tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 02/2004) 56
3.2.4.3 Quy định việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP là thiếu cơ sở khoa học 583.2.5 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất 603.2.5.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án theo lãnh thổ 603.2.5.2 Phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa Ủy ban nhân dân với Tòa án nhân dân 62
KẾT LUẬN 65
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xã hội hóa và hội nhập nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống Thế nhưng muốn phát triển đất nước, trước tiên cần xây dựng mỗi gia đình hạnh phúc, hòa thuận vì có như vậy đất nước mới phồn vinh và đó là một việc làm hết sức thiết yếu Để thực hiện được mục tiêu đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, đường lối nhằm đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực pháp luật Việt nam là một trong những quốc gia luôn coi trọng quyền công dân nói chung và quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật
bảo vệ, nó đã trở thành một nguyên tắc hiến định “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp
pháp và quyền thừa kế của công dân”1 Quyền thừa kế đối với di sản là quyền sử dụng đất cũng không kém phần quan trọng, là một loại hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất Với vai trò thiết thực như vậy, nên chế định thừa kế quyền sử dụng đất có vị trí rất quan trọng trong Bộ luật dân sự và Luật đất đai
Trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật trải qua các thời kì đều giành phần quan tâm sâu sắc đến quyền thừa kế quyền sử dụng đất Trước tiên ta phải nhắc đến pháp lệnh thừa kế 1990, đây là một công trình nghiên cứu đầy sáng tạo và chọn lọc, góp phần đáng kể trong việc điều tiết quan hệ thừa kế nói chung, bảo hộ quyền thừa kế đối với quyền sử dụng đất nói riêng và những quy định tiến bộ này vẫn được Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật dân sự 2005 kế thừa và hoàn thiện hơn Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội về vấn đề này Hiện nay, nước ta đã ban hành số lượng văn bản quy phạm pháp luật đáng kể để quy định về thừa kế quyền sử dụng đất như: Bộ luật dân sự 2005, Luật đất đai năm 2003,
và một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 Tuy nhiên về thực tiễn,
do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, nên pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất hiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Còn một số quy định pháp luật về thừa kế chung chung, mang tính chất khung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, lại chưa có văn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể Vì vậy, còn nhiều quan điểm trái ngược nhau, nên khi áp dụng vào thực tế sẽ xảy ra tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng
1 Điều 58, Hiến pháp 1992.
Trang 9như cách giải quyết Điều đó đã xâm phạm quyền thừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội.
Trước tình hình thực tế về việc thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất trong những năm qua dù đã đạt được một số thành tựu tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và đảm bảo cho quyền lợi cho những người có liên quan, bên cạnh đó còn có không ít trường hợp xảy ra mâu thuẫn, bất đồng giữa những người được hưởng thừa kế Sở dĩ còn tồn tại những bất cập đó là do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là do đa phần họ không hiểu biết về pháp luật thừa kế hoặc do phong tục tập quán
và tư tưởng lạc hậu đã xâm phạm đến quyền lợi của họ
Từ thực trạng này, người viết nhận thấy sự cấp thiết trong lý luận và thực tiễn thi hành của chế định này trong giai đoạn hiện nay và đi vào nghiên cứu về vấn đề này là việc làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa Xuất phát từ các lý do đó, người viết chọn đề
tài “Thừa kế quyền sử dụng đất- Lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu khoa
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Do thừa kế là một chế định phổ biến của đời sống xã hội nên nó có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú Từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, pháp luật thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc đã có những quy định về thừa kế Tuy nhiên, đối với một loại tài sản đặc biệt là đất đai thì người sử dụng đất chỉ được phép
để thừa kế kể từ khi ban hành Luật đất đai năm 1993 Sau khi luật đất đai năm 1993 được thực thi cho đến nay, những công trình nghiên cứu khoa học về thừa kế quyền sử dụng đất cũng không nhiều, chủ yếu là các bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí
như: Nguyễn Thanh Hải: Bàn về thời hiệu khởi kiện về thừa kế nhà, đất, Tạp chí Tòa
án nhân dân, tháng 3-2007, (Số 6), tr 38-42; Tưởng Duy Lượng: Một số vấn đề về
thừa kế quyền sử dụng đất, Tạp chí nghề luật số 1/2007…
Tuy nhiên, họ mới chỉ dừng ở mức độ phân tích từng vấn đề cụ thể có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất như thời hiệu khởi kiện về thừa kế, các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, các trường hợp và điều kiện được để thừa kế quyền sử dụng đất… mà chưa có tính chất hệ thống, khái quát Vì vậy,
có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học nghiên cứu khái quát
và chuyên sâu về chế định thừa kế quyền sử dụng đất của Bộ luật dân sự hiện hành
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 10Việc nghiên cứu đề tài “Thừa kế quyền sử dụng đất- Lý luận và thực tiễn” nhằm
làm sáng tỏ những quy định của pháp luật có liên quan đến chế định thừa kế thừa kế quyền sử dụng đất và đánh giá thực trạng việc áp dụng những quy định này trong cuộc sống thường nhật Trên cơ sở đó, nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc áp dụng pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tìm ra cơ sở lý luận có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất Dựa trên cơ sở lý luận này, vận dụng nó vào việc phân tích và áp dụng quy định của pháp luật có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong thực tiễn
Thứ hai, phân tích quá trình phát triển và thực trạng áp dụng pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Qua đó nhận xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất hiện hành, rút ra các nguyên nhân của hạn chế
Thứ ba, nêu lên sự cần thiết khách quan, quan điểm, tiêu chí cũng như giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm khắc phục những bất cập trong việc áp dụng quy định của chế định này
3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật của Việt Nam có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất từ năm 1945 đến nay nhưng đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật hiện hành Tuy nhiên, do mức độ phức tạp trong lĩnh vực thừa kế nói chung và vấn đề thừa kế có yếu
tố nước ngoài nói riêng nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong nước, các bất cập trong việc
áp dụng các quy định này và tìm ra giải pháp nhằm khắc phục mà không thể đề cập và giải quyết được vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặc
Trang 11biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về sở hữu tư nhân, về thừa kế trong thời
kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn không thể không nhắc đến phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu là phương thức, thao tác được người viết lựa chọn, sử dụng
để người viết tiến hành nghiên cứu các vấn đề nhằm sáng tạo ra những tri thức mới về đối tượng, qua đó thấy được những mặt tích cực cũng như những hạn chế của vấn đề đang nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị mới và phương pháp hoàn thiện vấn đề Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Người viết dựa trên các điều khoản của pháp luật về thừa kế để phân tích nó ra thành những yếu tố đơn giản để nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề sau đó tổng hợp các vấn đề có liên quan đã được phân tích
Phương pháp so sánh, đối chiếu : người viết vận dụng phương pháp này để so sánh những điểm giống nhau cũng như khác nhau của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất qua các thời kỳ Bên cạnh đó, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra và giải quyết những khó khăn thách thức trong chế định này
Phương pháp thu thập nghiên cứu tài liệu: thu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nghiên cứu nào, để thuận tiện cho việc nghiên cứu đề tài, người viết đã tiếp thu cũng như là thu thập từ nhiều tài liệu khác nhau như: sách bình luận khoa học về thừa kế, giáo trình, tạp chí để hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu
5 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu quy định của pháp luật có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất qua các giai đoạn lịch sử, để phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển và thực trạng áp dụng của pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn cụ thể
Từ những nhận xét, đánh giá sự phát triển và thực trạng áp dụng pháp luật thừa
kế quyền sử dụng đất ở Việt Nam, tham khảo một số quan điểm của nhà luật học, thẩm phán… luận văn đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những bất cập trong những quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan và thực tiễn áp dụng của chế định này
6 Kết cấu của luận văn
Trang 12Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn còn có phần nội dung nghiên cứu được cơ cấu thành 3 chương:
* Chương 1 Cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất
Trong chương này người viết sẽ nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề có liên quan đến chế định thừa kế quyền sử dụng đất như: làm rõ các khái niệm về thừa
kế, thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế, lịch sử và sự phát triển của chế định này từ năm 1945 đến nay Dựa vào lý luận cơ bản này, người viết phân tích các quy định pháp luật thực định, áp dụng tương tự pháp luật và nêu lên một số phương hướng khắc phục những bất cập của luật thực định
* Chương 2 Thừa kế quyền sử dụng đất trong hệ thống pháp luật Việt Nam
* Chương 3 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về thừa kế quyền sử
dụng đất
Chương này người viết chủ yếu nêu lên những mặt tích cực và bất cập của pháp luật thực định về thừa kế quyền sử dụng đất, đồng thời nêu ra nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó Dựa trên những nguyên nhân dẫn đến sai sót, bất cập mà người viết tìm ra những giải pháp thích hợp và hữu ích để khắc phục những điểm còn hạn chế, chưa phù hợp của luật thực định với sự phát triển của xã hội hiện nay
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Khái quát chung về quyền thừa kế
1.1.1 Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế.
1.1.1.1 Thừa kế.
Chu kỳ của con người như một tất yếu, con người sinh ra, tồn tại cần phải có những lợi ích vật chất để đáp ứng nhu cầu cuộc sống và đó là một quy luật khách quan Để duy trì cuộc sống thực tại, con người sử dụng tư liệu sản xuất để tác động vào thiên nhiên để tạo ra của cải tự nuôi sống mình Quá trình lao động động ngày càng làm ra nhiều của cải vật chất cho mình và cho xã hội, vì vậy khi nhu cầu thấp hơn vật chất do họ làm ra, họ sẽ tích lũy vốn tài sản và đến một lúc nào đó họ sẽ chết và họ muốn truyền lại cho những người thừa kế của họ, yêu cầu này đã trở thành một yêu cầu khách quan của xã hội, yêu cầu này được hiểu là việc thừa kế Cùng với sự ra đời của chế độ tư hữu và phân chia giai cấp, nhà nước được hình thành Những nguyên nhân hình thành nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật Nhà nước sử dụng pháp luật như là một công cụ để quản lý xã hội và thừa kế cũng được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật mang tính chất dân sự- quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ tài sản Vì thừa kế được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật nên thừa kế đã trở thành một phạm trù pháp lý mang tính chất chủ quan của các nhà lập pháp và nó bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tư tưởng của từng thời kì Qua đó, ta có thể hiểu thừa kế là sự chuyển quyền sở hữu di sản của người chết cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Mặt khác từ
điển tiếng việt cũng đã định nghĩa “ Thừa kế là hưởng của người chết để lại cho”2
1.1.1.2 Quyền thừa kế
Quá trình dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống được hình thành ở bất cứ xã hội nào và dĩ nhiên, khi chưa khi chưa có nhà nước và pháp luật, nó được xã hội thực hiện theo tập tục xã hội nên được gọi là thừa kế Khi chế độ tư hữu xuất hiện, cùng với nó xã hội phân chia thành giai cấp, nhà nước và pháp luật ra đời Nhà nước đã điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị, trong đó quan hệ thừa kế không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Khi nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển tài sản nói
2 Từ điển tiếng việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển Việt Nam, Hà Nội 2000, tr.972.
Trang 14trên, trong đó quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật Từ đó, quá trình dịch chuyển tài sản gọi là quyền thừa kế Nói cách khác, khái niệm quyền thừa kế là phạm trù pháp luật mà nội dung của nó xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế.
Xuất phát từ quan hệ thừa kế và nó được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, quyền thừa kế được hiểu như sau:
Quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa
vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Ngoài ra, dưới gốc độ thu hẹp, quyền thừa kế được hiểu là quyền năng để người
đó có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật
Như vậy, thừa kế và quyền thừa kế đều có nội dung là sự dịch chuyển tài sản từ người đã chết cho người còn sống Tuy nhiên nếu việc dịch chuyển tài sản nói trên nếu được thực hiện theo tập tục xã hội (khi chưa có nhà nước và pháp luật) thì được gọi là thừa kế, nếu được thực hiện theo quy định của pháp luật( đã được pháp luật điều chỉnh) thì được gọi là quyền thừa kế Do đó, thừa kế điều chỉnh các quan hệ xã hội còn quyền thừa kế điều chỉnh các quan hệ pháp luật thừa kế Ngoài ra, chế định thừa kế không những chỉ điều chỉnh phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế mà còn là phương thức bảo vệ quyền của những người thừa kế hợp pháp khi bị xâm phạm
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa quyền thừa kế với quyền sở hữu
Xã hội phong kiến hoặc trong xã hội tư bản chủ nghĩa là những xã hội mà con người dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, vì thế chế định thừa kế là việc thừa hưởng tư liệu sản xuất của người đã chết để duy trì sự bốc lột sức lao động và cũng cố địa vị của người thừa kế Ngược lại, trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa- một chế độ dựa trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất như: đất đai, rừng núi, sông ngòi và
được thể hiện tại điều 17, Hiến pháp 1992 "Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước,
tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn
và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
Trang 15Vì vậy quyền thừa kế là thừa hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà nhà nước cho phép chuyển dịch Từ đó cho thấy quyền sở hữu và quyền thừa kế đều là những phạm trù pháp lý, song song tồn tại cùng với một hình thái kinh tế xã hội nhất định, giữa chúng có mối liên quan mật thiết và chặt chẽ, từ chỗ pháp luật quy định cho công dân
có quyền sở hữu tài sản và cũng dựa vào đó pháp luật quy định cho họ các quyền năng trong quan hệ thừa kế Như vậy, mối liên hệ giữa quyền sở hữu và quyền thừa kế không những phản ánh bản chất giai cấp mà còn phản ánh hình thức sở hữu của cá nhân do chế định sở hữu điều chỉnh
Quyền thừa kế trong điều kiện nào đó đươc xem như là một căn cứ xác lập quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản của người được thừa kế hợp pháp, bởi cá nhân có quyền để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người
khác, Điều 631 BLDS 2005 “cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Ngoài ra, nhà nước không hạn chế quyền để lại di sản thừa
kế và quyền nhận thừa kế của cá nhân (trừ khi cá nhân đó vi phạm Điều 643 BLDS 2005)3 Nếu nhà nước công nhận quyền sở hữu của cá nhân bằng con đường thừa kế thì sẽ có tác dụng kích thích sự quản lý năng động của một người bởi người đó tin rằng tài sản của mình sẽ được để lại cho những người mà mình muốn để lại di sản Như vậy những đặc điểm của mối liên hệ giữa quyền sở hữu và quyền thừa kế không những chỉ phản ánh bản chất giai cấp mà nó còn phản ánh hình thức sở hữu của cá nhân do chế định sở hữu điều chỉnh
Tóm lại, mối quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu phát sinh trong xã hội rất mật thiết với nhau và được biểu hiện ở chỗ: Nếu quyền sở hữu là tiền đề để quyền thừa kế phát sinh thì ngược lại, quyền thừa kế là phương tiện để duy trì, cũng cố
và phát triển quyền sở hữu tài sản
1.1.2 Khái niệm về quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất
1.1.2.1 Khái niệm quyền sử dụng đất
Khác với các nước tư bản chủ nghĩa, Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Trong đó, đất đai là tư liệu sản xuất cốt lõi, cơ bản Do vậy, đất đai ở Việt Nam thuộc hình thức sở hữu toàn dân
do nhà nước quản lý Các chủ thể sử dụng đất như hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cơ sở tôn giáo chỉ được nhà nước trao cho một số quyền để sử dụng và khai thác lợi ích
3 Xem Điều 643 Bộ Luật dân sự 2005.
Trang 16trên đất Thực tế họ không có quyền năng của chủ sở hữu, cái họ có chỉ là quyền sử dụng đất Xuất phát từ tầm quan trọng của loại tài sản đặc biệt này, việc xây dựng khái niệm quyền sử dụng đất góp phần quan trọng trong việc xác định quyền năng cụ thể của người sử dụng đất.
Từ khi giành được độc lập cho đến nay, Quốc hội đã thông qua Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật đất đai năm 2003 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tuy nhiên, khái niệm quyền sử dụng đất vẫn chưa được luật hóa chính thức Vì vậy, dẫn đến nhiều cách hiểu không thống nhất
về quyền sử dụng đất như:
Theo TS Lê Xuân Bách thì “Quyền sử dụng đất là một bộ phận cấu thành của
quyền sở hữu đất Thông qua việc được độc quyền giao đất, cho thuê đất- Nhà nước trao cho người sử dụng đất thực hiện trong thời hạn thuê đất, nhận giao đất những quyền và nghĩa vụ nhất định, trong đó có sự phân biệt theo loại đất, theo đối tượng sử dụng đất, theo hình thức thuê đất hoặc giao đất.”4
Theo TS Nguyễn Ngọc Điện, ở góc độ khoa học luật thì “khái niệm quyền sử
dụng đất bao hàm quyền sử dụng đất đích thực, phát sinh từ việc chính thức giao đất hoặc cho thuê đất, và quyền sử dụng đất tiềm năng, là quyền của người đang sử dụng đất mà chưa chính thức hoá quyền của mình trong quan hệ với nhà nước, vì một lý do nào đó.”5
Giáo trình Luật đất đai của Đại học Luật Hà Nội năm 2008 có nêu lên khái
niệm quyền sử dụng đất như sau: “Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc
tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước”6 Theo cách hiểu này thì quyền sử dụng đất chỉ bao hàm quyền sử dụng đất đích thực mà không bao hàm quyền sử dụng đất tiềm năng Tuy nhiên, khái niệm này chỉ đề
4 TS Lê Xuân Bách: Sự hình thành và phát triễn thị trường bất động sản trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam,
Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội, 2003, tr 83.
5 TS Nguyễn Ngọc Điện: Cấu trúc kỹ thuật của hệ thống pháp luật sở hữu bất động sản Việt Nam, góc nhìn
pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 6, 2007.
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/02/19/4445/ , [truy cập ngày 4-3-2011].
Quyền sử dụng đất tiềm năng (Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 12 năm 2006- TS Nguyễn Ngọc Điện):
“người sử dụng đất mà chưa được chính thức hoá quyền của mình trong quan hệ với nhà nước là người có
quyền sử dụng đất tiềm năng Người có quyền sử dụng đất tiềm năng được thừa nhận có một số quyền của người
sử dụng đất hợp pháp; thậm chí, trong một vài trường hợp (như khi cần thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm
nợ vay), còn được đồng hoá với người sử dụng đất hợp pháp Tư cách người có quyền sử dụng đất tiềm năng chỉ được thừa nhận mặc nhiên trong thời kỳ áp dụng Luật Đất đai năm 1993, được chính thức ghi nhận về mặt pháp
lý tại Luật Đất đai năm 2003 (Điều 50)”.
6 Giáo trình Luật đất đai, Đại học Luật Hà Nội, Nxb , 2008, Tr 92.
Trang 17cập đến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà không nhắc đến nhu cầu của người sử dụng đất.
Mặc dù Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật dân sự năm 2005 không xây dựng khái niệm quyền sử dụng đất nhưng tại Điều 192 Bộ luật dân sự năm 2005 đã có khái
niệm “quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”
Vì vậy, chúng ta nên xây dựng khái niệm quyền sử dụng đất dựa trên khái niệm quyền
sử dụng đã được luật hóa tại Điều 192 của Bộ luật dân sự năm 2005
Tóm lại, quyền sử dụng đất chính là một loại tài sản (quyền về tài sản) gồm các
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được pháp luật về đất đai quy định cụ thể
Đặc điểm của quyền sử dụng đất
Một là, quyền sử dụng đất là một quyền dân sự đặc thù Tính chất dân sự ở
đây thể hiện ở chỗ Nhà nước cho phép các tổ chức, cá nhân được giao đất, đưa quyền
sử dụng đất vào giao lưu dân sự, được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh góp vốn trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận, không bị ép buộc về mặt ý chí giao dịch Nhà nước không can thiệp về giá
cả và nội dung của các giao dịch này mà chỉ điều tiết qua công cụ thuế
Hai là, quyền sử dụng đất là một loại quyền của người không phải là chủ sở
hữu, quyền này được người sử dụng thực hiện trực tiếp nhưng không trọn vẹn và đầy
đủ Bởi lẽ, người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu
Ba là, không phải bất kỳ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp đều có
quyền chuyển quyền sử dụng đất mà chỉ những chủ thể mà pháp luật cho phép mới có quyền thực hiện quyền của người sử dụng đất Điển hình, việc để thừa kế quyền sử dụng đất thì chỉ có cá nhân đơn lẻ và cá nhân là thành viên của hộ gia đình mới có quyền để thừa kế còn đối với những người sử dụng đất khác thì không có quyền năng này
Ngoài ra, quyền sử dụng đất là không vĩnh viễn và bị hạn chế Người được nhà nước cho phép sử dụng đất thì chỉ có quyền sử dụng đất đúng thời hạn, mục đích sử dụng, đúng diện tích… mà nhà nước cho phép
1.1.2.2 Khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất
Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất được chính thức ghi nhận từ khi Bộ luật
dân sự năm 1995 được ban hành, cụ thể tại Điều 738 như sau: "Thừa kế quyền sử dụng
đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật đất đai"
Trang 18Như vậy, thừa kế quyền sử dụng đất là sự dịch chuyển quyền tài sản hợp pháp (quyền
sử dụng đất) của người chết sang cho người thừa kế dưới một trong hai hình thức bằng cách người để lại di sản lập di chúc, nếu như không có việc lập di chúc để lại di sản thừa kế thì việc thừa kế quyền sử dụng đất sẽ được chuyển dịch theo con đường pháp luật Tuy nhiên, việc thừa kế dù được chuyển dịch dưới bất kỳ hình thức nào thì không những phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự mà còn phải tuân theo cả quy định của pháp luật về đất đai Trải qua mười năm áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 về chế định thừa kế quyền sử dụng đất, bên cạnh những ưu điểm của chế định này còn có khá nhiều điểm bất cập không phù hợp với tình hình phát triển của xã hội lúc bấy giờ Vì vậy, cần thiết phải ban hành một Bộ luật dân sự mới Bộ luật dân sự 2005 đã được đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 có những thay đổi to lớn về chế định thừa kế quyền sử dụng đất Tuy nhiên, khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân sự năm 2005 cũng không có gì khác về mặt câu chữ so với khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân sự năm 1995, cụ thể được quy định tại Điều 733
như sau: "Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết
sang cho người thừa kế theo quy định của BLDS và pháp luật về đất đai" Xét về mặt
nội hàm của khái niệm này thì khác hoàn toàn so với khái niệm được quy định trong
Bộ luật dân sự năm 1995, cụ thể là việc dịch chuyển quyền sử dụng của người chết sang cho người thừa kế phải tuân theo theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật
về đất đai hiện hành Bởi vì, Bộ Luật dân sự năm 2005 đã thay đổi theo hướng mở rộng hơn quyền thừa kế quyền sử dụng đất như: không phân biệt loại đất để thừa kế, quy định về những người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất không còn chặt chẽ
so với quy định của pháp luật trước kia Vì vậy, khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất trong cả hai Bộ luật dân sự không có gì khác nhau nhưng phạm vi áp dụng phải tuân theo quy định cụ thể của từng bộ luật
1.2 Các nguyên tắc của quyền thừa kế
1.2.1 Các nguyên tắc chung của quyền thừa kế
1.2.1.1 Nguyên tắc bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân
Cơ sở pháp lý: Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Trên cơ sở đó, Bộ luật dân sự
năm 2005 đã thể hiện nguyên tắc bảo hộ về quyền thừa kế của cá nhân tại Điều 631:
“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình
cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”
Trang 19Nguyên tắc này thể hiện sự bảo hộ của nhà nước đối với cá nhân trên cả hai phương diện là quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản thừa kế.
Phương diện thứ nhất: Quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân thể hiện sự tôn
trọng của pháp luật đối với người có tài sản hợp pháp bằng cách pháp luật cho phép cá nhân có tài sản hợp pháp được quyền định đoạt tài sản theo ý muốn của mình bằng cách lập di chúc để lại tài sản cho những người thừa kế mà người để lại di sản muốn người đó tiếp tục quản lý sử dụng tài sản của mình khi mình chết mà không ai được quyền ngăn cản, đe dọa hoặc lừa dối Nếu như họ không muốn viết di chúc để lại tài sản hoặc họ chưa thể viết di chúc để lại thì họ có thể để lại tài sản bằng con đường pháp luật
Phương diện thứ hai: Quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc pháp luật Cũng
chính vì pháp luật cho phép cá nhân có tài sản hợp pháp được quyền để lại tài sản của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật nên pháp luật phải bảo hộ quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật của cá nhân Nguyên tắc này thể hiện, khi cá nhân được người lập di chúc cho hưởng di sản thì không ai có quyền hạn chế quyền hưởng
di sản của họ (ngoài trừ trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của
di chúc)7 Nếu như người chết không muốn định đoạt di sản cho họ thì họ cũng có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nếu họ thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người chết
1.2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế
Cơ sở pháp lý: Điều 52 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật” Dựa vào nguyên tắc hiến định này, Bộ luật dân sự năm 2005 đã
thể hiện thành một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ pháp luật thừa kế bắt buộc các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế phải tuân theo Nguyên tắc cơ bản này được thể hiện tại
Điều 632 như sau: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho
người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Mặt khác,
7 Điều 669, Bộ luật dân sự năm 2005
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.
Trang 20nguyên tắc quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân phù hợp với nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 5 của Bộ luật8.
Nguyên tắc này thể hiện sự tiến vượt bậc so với quy định của pháp luật trước kia Dưới thời pháp thuộc, sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng thể hiện rõ nét, cụ thể trong điều 113 Dân luật Bắc kỳ và điều 111 dân luật Trung kỳ cũng quy định khi vợ chết trước người chồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả tài sản chung trong đó có
cả phần của vợ Ngược lại, Điều 346, Dân luật Bắc kỳ và Điều 314, Dân luật trung kỳ quy định nếu chồng chết người vợ chỉ có quyền hưởng di sản riêng của chồng khi không còn người thừa kế nào bên nội, ngoại của chồng
Ngược lại, theo quy định của pháp luật thực định thì mọi cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đều có quyền định đoạt tài sản theo ý chí của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật mà không phân biệt giới tính, vợ hay chồng, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo, sắc tộc Bên cạnh đó, pháp luật còn bảo hộ quyền bình đẳng về quyền hưởng di sản của cá nhân Theo đó, bất kỳ ai được chỉ định trong di chúc thì đều có thể trở thành người thừa kế của người chết Còn đối với thừa kế theo pháp luật, pháp luật không phân biệt người thừa kế là con gái hay con trai, con nuôi hay con ruột, con trong giá thú hay ngoài giá thú, nếu cùng thuộc hàng thừa kế thì đều có quyền hưởng di sản thừa kế ngang nhau9
1.2.2 Nguyên tắc riêng của chế định thừa kế quyền sử dụng đất
Chế định thừa kế quyền sử dụng đất cũng quan trọng như bất kì một chế định pháp luật khác, nếu như một chế định pháp luật luôn được pháp luật quan tâm và ghi nhận thì nó có nguyên tắc nhất định Đặc biệt, chế định thừa kế quyền sử dụng đất là một chế định được pháp luật dân sự dành rất nhiều sự quan tâm và được bảo hộ trong mối quan hệ với các chế định khác; đặc biệt chịu sự điều chỉnh bởi những nguyên tắc chung của Luật dân sự Là một chế định khá đặc biệt quan trọng và là một chế định đặc thù, là sự dịch chuyển quyền sử dụng của người chết sang cho người còn sống Vì vậy, ngoài những nguyên tắc chung điều chỉnh về quyền thừa kế thì chế định thừa kế
8 Điều 5, Bộ luật dân sự năm 2005
Nguyên tắc bình đẳng
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau.
9 Điểm a, khoản 1, Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Trang 21quyền sử dụng đất có nguyên tắc riêng, đặc thù định hướng cho những quy phạm pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất phải nhất định tuân theo.
Nguyên tắc: Chịu sự điều chỉnh của luật chung và luật riêng
Quyền sử dụng đất cũng là một quyền dân sự đặc thù, nhất thiết phải chịu sự điều chỉnh của ngành luật dân sự Tuy nhiên, Bộ luật dân sự chỉ quy định những nội dung chung nhất, ổn định nhất, có khả năng áp dụng cho hầu hết các quan hệ xã hội (ví
dụ các qui định về nguyên tắc dân sự, về quyền nhân thân, tài sản và các quyền tài sản,
sở hữu, giao dịch, các nghĩa vụ ) mà không đi vào quy định chi tiết từng loại quan hệ
xã hội cụ thể.Mặt khác, Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản tài sản đặc biệt,
do nhà nước thống nhất quản lý Quan hệ pháp luật về đất đai là quan hệ xã hội đặc thù, nhất thiết phải chịu sự điều chỉnh bởi ngành luật chuyên ngành hay còn gọi là luật riêng, đó là ngành luật đất đai Tuy nhiên, không phải mọi quan hệ pháp luật đất đai chỉ chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật đất đai Quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất cũng
là một trong những loại quan hệ pháp luật đất đai, tuy nhiên quan hệ lại chịu sự điều chỉnh bởi ngành luật chung (luật dân sự) và luật riêng (luật đất đai)
Cơ sở pháp lý: Điều 733 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Thừa kế quyền sử dụng
đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”.
Điều luật trên đã luật hóa khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất, bên cạnh đó
cũng ghi nhận một nguyên tắc đặc thù của chế định này, đó là “theo quy định của Bộ
luật này và pháp luật về đất đai” Người có quyền sử dụng đất hợp pháp dù muốn để
thừa kế quyền sử dụng đất của mình cho những người thân theo di chúc hoặc theo pháp luật thì ngoài việc đáp ứng những quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2005
về thừa kế (phần thứ tư của Bộ luật này) còn phải thỏa mãn một số quy định của pháp luật đất đai về điều kiện được để thừa kế, loại đất được phép để thừa kế, trình tự, thủ tục nhận thừa kế…
Hiện tại, Luật Ban hành VBQPPL mới chỉ qui định về việc áp dụng pháp luật giữa văn bản trên - dưới; giữa văn bản ban hành trước và văn bản ban hành sau mà chưa có nguyên tắc áp dụng giữa luật chung và luật riêng10 Khoa học pháp lý nói
10 Điều 83, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008
Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
1 Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực
Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.
2 Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Trang 22chung ghi nhận nguyên tắc khi có xung đột giữa luật chuyên ngành và pháp luật chung thì áp dụng luật chuyên ngành Mặt khác, tại khoản 1, Điều 3 Luật đất đai năm 2003 cũng dẫn chiếu đến nguyên tắc giải quyết xung đột giữa quy định của luật đất đai và
quy định của luật chung (Bộ luật dân sự năm 2005) như sau: “Việc quản lý và sử dụng
đất đai phải tuân theo quy định của Luật này Trường hợp Luật này không quy định thì
áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan” Vì vậy, những quy định của Bộ luật
dân sự năm 2005 về thừa kế quyền sử dụng đất chỉ áp dụng trong những trường hợp luật chuyên ngành (Luật đất đai năm 2003) không điều chỉnh hoặc khi việc áp dụng luật chuyên ngành không đủ
1.3 Thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa kế
1.3.1 Thời điểm mở thừa kế
Căn cứ để xác định quyền thừa kế phát sinh là thời điểm mở thừa kế Người có tài sản để thừa kế có thể lập di chúc định đoạt nhưng thời điểm mở thừa kế chỉ bắt đầu khi người có tài sản chết và việc mở thừa kế cũng được xác định bởi thời điểm mở thừa kế Thời điểm mở thừa kế không phải là quy định mới vì đã được đặt ra từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990 (khoản 1 Điều 3), sau đó là Bộ luật dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 636)
Tiếp theo Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành, quy định về thời điểm mở thừa kế đã được kế thừa từ quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 Theo quy định tại
khoản 1 Điều 633 Bộ luật dân sự 2005 thì “thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có
tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này”11 Như vậy, thời
3 Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
4 Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.
11 Điều 81 Bộ luật dân sự năm 2005: Tuyên bố một người là đã chết
1 Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:
a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực
Trang 23điểm mở thừa kế là ngày giờ người để lại di sản chết theo giấy khai tử hoặc theo quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết Đây là mốc thời gian quan trọng, kể từ thời điểm này quyền và nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản thừa kế chấm dứt, đồng thời các quyền và nghĩa vụ này được chuyển cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng đối với những vấn đề thừa kế, cụ thể là:
Thứ nhất, thời điểm mở thừa kế là mốc thời gian để xác định được những
người có quyền hưởng di sản thừa kế Vì theo Điều 635 Bộ luật dân sự “Người thừa kế
là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan,
tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” Như vậy, chỉ những người còn sống ở thời
điểm mở thừa kế hoặc cơ quan tổ chức thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Ngoài ra, những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm thì cũng không có quyền hưởng di sản (Điều 641)
Thứ hai, nhờ vào thời điểm mở thừa kế mà chúng ta có thể xác định di sản của người chết để lại gồm có những gì và đến khi chia thừa kế còn bao nhiêu Do đó việc xác định chính xác ngày mở thừa kế là rất cần thiết Ngoài ra, dựa vào thời điểm
mở thừa kế mà những người thừa kế có thể yêu cầu những người gây thiệt hại cho di sản thừa kế phải bồi thường thiệt hại
Thứ ba, thời điểm mở thừa kế còn có vai trò trong việc xác định quyền từ chối nhận di sản, vì theo khoản 3 Điều 642 Bộ luật dân sự 2005 thì người thừa kế chỉ
có quyền từ chối nhận di sản trong vòng sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế Nếu sau sáu tháng đó mà người thừa kế không từ chối nhận di sản thì xem như đồng ý nhận thừa
kế Ngoài ra, thời điểm mở thừa kế còn có ý nghĩa xác định thời hiệu khởi kiện về thừa
kế (Điều 645 của Bộ luật này)
Thứ tư, thời điểm mở thừa kế là thời điểm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
của người thừa kế theo Điều 636 như sau “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người
thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Như vậy thời điểm mở thừa kế giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong chế
định thừa kế nên việGVHD: Nguyễn Thị Mỹ Linh 23
Trang 24SVTH: Nguyễn Minh Hảic xác định chính xác thời điểm mở thừa kế là yếu tố rất cần
thiết Nếu như xác định không chính xác sẽ dẫn đến việc xác định không đúng những vấn đề về thời hiệu Từ đó dẫn đến việc chia thừa kế cho những người không có quyền hưởng di sản thừa kế hoặc bỏ lọt người được hưởng thừa kế
1.3.2 Địa điểm mở thừa kế
Sự sinh tồn của mỗi người là một chu kỳ của cuộc sống: sinh ra, lớn lên và đến một giai đoạn nào đó sẽ mất đi Như vậy, trong cuộc sống của mỗi người, có thể họ sinh sống ở rất nhiều nơi và tại mỗi nơi họ sẽ tạo lập ra tài sản thuộc sỡ hữu hay quyền
sử dụng của họ Vì vậy, Bộ luật dân sự 2005 đã quy định địa điểm mở thừa kế là nơi
cư trú cuối cùng của người để lại di sản, vì nơi cư trú cuối cùng thường là nơi có nhiều tài sản, nơi tập trung các giao dịch của người chết, là nơi phát sinh và thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người chết Vì vậy, đó là nơi thuận tiện để xác định
và phân chia di sản thừa kế
Tuy nhiên, một người khi còn sống họ có thể sống ở nhiều nơi đến khi họ chết,
ta không thể xác định được nơi cư trú của họ Vì vậy, luật đã dự liệu trường hợp này
như sau: “nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là
nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản” (khoản 2 Điều 633 Bộ luật dân sự 2005) Thông
thường thì khi một người chết, tài sản của họ có thể ở nhiều nơi Vì vậy, đối với trường hợp này khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án hoặc Ủy ban nhân dân phải xác định được nơi để lại toàn bộ hoặc phần lớn di sản
Việc xác định địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng bởi vì việc xác định địa điểm mở thừa kế là nơi thực hiện việc quản lý di sản, từ chối nhận di sản (khoản 2 Điều 642) Ngoài ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết về việc kiện về quyền thừa kế, các tranh chấp về di sản thừa kế là nơi mở thừa kế
1.4 Khái quát về di sản thừa kế
1.4.1 Khái niệm về di sản thừa kế
Khái niệm về di sản thừa kế trải qua mỗi thời kỳ có nhiều cách hiểu khác nhau Theo hướng dẫn của Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1982 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại mục II thì di sản thừa kế không những bao gồm tài sản, quyền tài sản mà còn bao gồm nghĩa vụ của một người
đã chết được chuyển dịch cho người thừa kế hợp pháp của người đó Cho đến khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành, di sản thừa kế đã được quy định cụ thể tại Điều
637 như sau “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người
chết trong tài sản chung với người khác Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế
Trang 25và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này” Theo quy
định này thì di sản thừa kế chỉ bao gồm tài sản, quyền tài sản của người để lại di sản
mà không bao gồm những nghĩa vụ tài sản của họ
Hiện nay, trong Điều 634 Bộ luật dân sự 2005 đã bỏ qui định tại đoạn hai của
Điều luật tương ứng và chỉ qui định thành một đoạn: “Di sản bao gồm tài sản riêng
của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.Điều này không có nghĩa là từ nay, pháp luật không thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại
di sản Quyền sử dụng đất vẫn là một loại di sản thừa kế vì theo BLDS 2005 và Luật Đất đai 2003 thì quyền sử dụng đất là một loại tài sản và được để lại thừa kế Việc thừa
kế quyền sử dụng đất dần dần đã được xã hội chấp nhận Vì thế, BLDS 2005 không cần thiết phải qui định thêm về di sản là quyền sử dụng đất Mặt khác, theo quy định tại Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2005, quyền sử dụng đất được coi là tài sản và khẳng định đất đai thuộc bất động sản Như vậy, nội hàm khái niệm này đã bao hàm tài sản là quyền sử dụng đất nên khái niệm di sản quy định như vậy là đầy đủ và phù hợp với thực tiễn cuộc sống hiện nay Hơn nữa, sự sửa đổi này là tích cực và tiến bộ hơn về kỹ thuật lập pháp so với Bộ luật dân sự năm 1995 vì nó làm cho điều luật trở nên tinh gọn hơn nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật Ngoài
ra, Bộ luật dân sự 2005 đã không còn chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất là di sản thừa kế mà tại một chương riêng (chương XXXIII của Bộ luật này từ Điều 733 đến Điều 735) đã cho phép chuyển dịch quyền sử dụng đất hợp pháp thông qua hình thức thừa kế Như vây, di sản thừa kế được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 634) chỉ bao gồm tài sản và quyền tài sản của người chết để lại mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Bởi lẽ:
Theo qui định tại Điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005, thì việc thực hiện nghĩa
vụ tài sản thuộc về những người hưởng di sản thừa kế: “Những người hưởng thừa kế
có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại ”
Quy định này cần được hiểu là người hưởng thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do
người chết để lại không phải với tư cách là chủ thể mới “bước vào quan hệ nghĩa vụ”,
có nghĩa là họ không thay thế vị trí chủ thể Họ thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết để lại Hay nói cách khác, họ phải trả nợ chỉ vì họ tiếp nhận tài sản có của người chết để lại (nợ của người chết không phải là nợ của người hưởng di sản) Sau khi thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của người chết để lại và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế, nếu tài sản không còn (nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác bằng
Trang 26hoặc lớn hơn khối tài sản mà người chết để lại) thì khi đó không còn tài sản để chia thừa kế và như vậy thì không có quan hệ nhận di sản thừa kế
Ví dụ: Một người để lại khối di sản thừa kế trị giá 360 triệu đồng nhưng lúc còn sống, người đó vay nợ 200 triệu đồng và nợ tiền thuế Nhà nước là 160 triệu đồng; trước lúc chết người đó chưa kịp thực hiện các nghĩa vụ này Như vậy, di sản để lại ngang bằng với các khoản nợ Sau khi thanh toán không còn di sản để chia cho những người thừa kế
Mặt khác, theo quy định tại Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 thì người thừa
kế có quyền nhận hoặc từ chối tiếp nhận di sản Nếu nhận di sản thì phải thực hiện việc trả nợ thay cho người để lại di sản Nếu từ chối nhận di sản cũng có nghĩa từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, họ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, vì không phải là món nợ của bản thân họ Điều này chứng tỏ rằng, người thừa kế không buộc phải nhận di sản để rồi phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ Nếu quan niệm nghĩa vụ tài sản là di sản thừa kế thì trong mọi trường hợp chủ nợ đều có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện việc trả nợ Nghĩa vụ tài sản của người chết thực sự là món nợ của người đó lúc còn sống phát sinh từ những hành
vi pháp lý của họ Vì thế, phải coi nghĩa vụ đó là của chính bản thân người chết, phải dùng di sản của người chết để thanh toán Nếu sau khi đã thanh toán nghĩa vụ tài sản
và các chi phí khác liên quan đến di sản mà vẫn còn di sản (dù ở mức độ nào, ít hay nhiều) để chia cho những người có quyền hưởng di sản, phần di sản còn lại này mới được gọi là di sản thừa kế Nếu sau khi thanh toán mà không còn di sản để dịch chuyển cho người hưởng di sản thì rõ ràng là người chết không để lại di sản thừa kế
Tóm lại, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết mà chỉ
bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập dựa trên những căn cứ hợp pháp mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế Hiểu một cách tổng quan nhất, thì
di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết để lại cho những người có quyền hưởng thừa kế, mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản của người đó Quyền sở hữu hợp pháp là một trong những quyền hiến định của công dân được nhà nước bảo hộ tại Điều 58 Hiến pháp năm 199212 Theo quy định tại Điều 163
Bộ luật dân sự 2005 thì “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
12 Điều 58, Hiến pháp 1992
“Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.
Trang 27sản”; và “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” (Điều 181 Bộ luật dân sự 2005).
1.4.2 Hình thức tồn tại của di sản thừa kế
Di sản thừa kế tồn tại dưới hai dạng cơ bản như sau:
Di sản là tài sản riêng của người chết: tài sản riêng của người chết được hiểu là phần tài sản mà về phương diện pháp lý không bị chi phối hay phải chịu một ràng buộc nào với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền
định đoạt Như vậy, “Tài sản riêng của người chết là tài sản mà người đó có được từ
các căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp”13 và các quyền về tài sản cụ thể như: quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại
về tài sản Theo quy định tại khoản 1 Điều 212 Bộ luật dân sự 2005 thì tài sản riêng
của người chết bao gồm: “Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh
hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân
là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị” Như vậy, tất cả các tài sản riêng của
người chết không phân biệt tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng, không phân biệt là vật, tiền, giấy tờ có giá hay quyền tài sản nếu thuộc sở hữu hợp pháp của người đó thì đều trở thành di sản thừa kế
Di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với
người khác: bên cạnh tài sản riêng thì pháp luật còn quy định phần tài sản của người
chết trong khối tài sản chung với người khác cũng là di sản thừa kế Theo quy định tại chương XIII BLDS năm 2005 thì sở hữu chung tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là: sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất
+ Di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung theo phần với người khác: trong thực tế có nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn
để cùng sản xuất kinh doanh, được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung nên có khối tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người và nó tồn tại dưới hình thức sở hữu chung theo phần14 Nếu một trong đồng sở hữu chết thì di sản thừa kế của người chết
là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung
13 TS Lê Đình Nghị: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam-Tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr 242.
14 Điều 216, Bộ luật dân sự 2005: Sở hữu chung theo phần
1 Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.
2 Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Trang 28+ Di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất: ngoài phần quyền trong sở hữu chung theo phần thì một người cũng có thể là đồng chủ sở hữu trong khối tài sản chung hợp nhất15 Theo quy định của BLDS năm
2005 thì có hai loại sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia
và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia Theo quy định tại Điều 219 BLDS năm 2005 thì tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất (khoản 1) và có thể phân chia (khoản 4) Vì vậy về nguyên tắc khi một bên chết trước thì một nữa khối tài sản chung đó là tài sản của người chết và sẽ được coi là
di sản để phân chia thừa kế Tuy nhiên, đối với sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia như: sở hữu chung của cộng đồng (Điều 220 BLDS năm 2005), sở hữu chung trong nhà chung cư (Điều 225 BLDS năm 2005) thì không thể xác định được là di sản thừa kế Vì vậy, khi có một người mất đi thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu của những chủ thể còn lại chứ không thể xác định là di sản thừa kế của người chết
Di sản thừa kế có thể là những tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc không phải đăng ký Đối với di sản là những tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì không có gì phức tạp trong việc xác định di sản để lại, ngược lại đối với những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng như: xe máy, nhà ở, quyền sử dụng đất để được coi là di sản thì người để lại di sản phải có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyển sử dụng của mình
Chú ý: Đối với những quyền tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di
sản như: quyền của người để lại di sản khi còn sống được hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp thương tật thì không thuộc di sản thừa kế Bởi vì những quyền này chấm dứt khi người để lại di sản chết và không thể chuyển giao được cho những người thừa kế Ngược lại những tài sản mà người để lại di sản được hưởng từ những quyền nhân thân khi còn sống thì thuộc di sản thừa kế như: những tiền lương hưu, tiền trợ cấp đã được hưởng khi còn sống
1.4.3 Thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế
Đây là một trong những nội dung có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn Điều
636 Bộ luật dân sự quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có
15 Điều 217, Bộ luật dân sự 2005: Sở hữu chung hợp nhất
1 Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.
2 Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
Trang 29các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Quy định này cho thấy, kể từ thời
điểm mở thừa kế, những người thừa kế có quyền hưởng di sản của người chết để lại, thời điểm này những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế, dẫu biết rằng về nguyên tắc những người này có quyền yêu cầu chia di sản bất cứ lúc nào,
kể từ thời điểm mở thừa kế
Việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu của người hưởng thừa kế đối với phần di sản thừa kế mà họ được hưởng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tổng khối di sản mà người chết để lại Khi người thừa kế chưa xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản thừa kế trong khối di sản thì mọi giá trị vật chất phát sinh từ di sản thuộc
về “khối di sản” hoặc giá trị vật chất của khối di sản bị tiêu huỷ, bị giảm giá trị hay gây thiệt hại cho người khác được xác định là quyền và nghĩa vụ chung của tất cả những người hưởng di sản thừa kế Các hệ quả này được xác định là hệ quả của quyền thừa kế chứ không phải hệ quả của quyền sở hữu
Ngược lại, khi người thừa kế đã nhận và được xác lập quyền sở hữu thì mọi giá trị vật chất phát sinh từ phần di sản đó cũng như mọi rủi ro hay bất lợi cho di sản từ phần di sản đó thuộc về người thừa kế Lúc này, hệ quả trên là của quyền sở hữu chứ không còn là hệ quả của quyền thừa kế nữa Thêm vào đó, xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế còn có ý nghĩa trong việc xem xét tính hợp pháp của các giao dịch liên quan đến di sản thừa kế Nếu có tranh chấp, cơ quan xét xử sẽ có
cơ sở để công nhận hay tuyên bố giao dịch đó vô hiệu Vì chủ sở hữu tài sản mới có quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình
Khi di sản thừa kế chưa chia thì không ai có quyền thực hiện các hành vi để quyết định số phận thực tế hay số phận pháp lý của di sản Theo đó, khối di sản sẽ được bảo toàn, tránh được chuyển dịch bất hợp pháp hoặc tẩu tán tài sản Hiện nay,
Bộ luật dân sự năm 2005 không quy định thời điểm xác lập quyền sở hữu của người thừa kế đối với phần tài sản mà họ được hưởng trong khối di sản thừa kế của người chết để lại Vì vậy, việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu của người thừa kế đối với di sản thừa kế sẽ được áp dụng dựa vào nguyên tắc chung về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 200516 Theo đó, thời điểm xác lập quyền sở hữu của người thừa kế từ khi họ nhận được di sản
16 Căn cứ vào Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005: Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật
Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.
Trang 30(đối với di sản mà pháp luật không yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu) hoặc từ khi hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với di sản thừa kế (đối với những tài sản mà pháp luật bắt buộc đăng ký quyền sở hữu)17
1.5 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
“Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là thời hạn mà chủ thể có quyền khởi kiện để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.”18 Mặt khác, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng đã chính thức định nghĩa
về thời hiệu khởi kiện tại khoản 1 Điều 159 như sau: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn
mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Như vậy, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan tòa án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Quy định về thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình và sớm có yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện theo ý muốn
Theo quy định tại Điều 645 BLDS năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau:
* Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với ba trường hợp:
+ Người thừa kế yêu cầu chia di sản: trong trường hợp này đã xác định được người thừa kế, tuy nhiên những người thừa kế không thống nhất được cách chia di sản Hay nói khác hơn là họ không thống nhất được người thừa kế nào sẽ nhận được di sản nào
+ Yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình: đây là trường hợp một người đáng
lẽ ra phải là một trong số những người thừa kế nhưng không được công nhận là người thừa kế Trong trường hợp này người yêu cầu xác nhận tư cách thừa kế phải đưa ra các bằng chứng để chứng minh tư cách thừa kế của mình như: giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn
17 Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2005
Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản
1 Việc chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2 Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
18 LS-TS Phan Thị Hương Thủy: 99 tình huống và tư vấn pháp luật về thừa kế nhà và quyền sử dụng đất, Nxb
Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr 24.
Trang 31+ Yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác: đây là trường hợp một người không có quyền hưởng di sản thừa kế nhưng lại được nhận di sản thừa kế thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu tòa án bác bỏ quyền thừa kế của người đó Trường hợp này người yêu cầu cũng phải chứng minh được người thừa kế đó thuộc các trường hợp bị truất quyền thừa kế hoặc không thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật
* Thời hiệu về thừa kế là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với trường hợp yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại Quy định này không chỉ xác định quyền tài sản của các chủ nợ, quyền của người khác có liên quan đến di sản được bảo hộ trong thời hạn ba năm mà còn nhằm bảo đảm tính ổn định trong giao lưu dân sự
Một số lưu ý khi xác định thời hiệu khởi kiện
Những trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế
Theo quy định tại tiểu mục 2.4, mục 2, Phần I Nghị quyết số HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 10/8/2004 về hướng áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự hôn nhân và gia đình đối với những trường hợp sau đây thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế:
02/2004/NQ- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì
di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:
+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc
+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ
+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung
Trang 32 Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 161 Bộ luật dân sự năm 200519
Quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo Điều 162 Bộ luật dân sự năm 200520
1.6 Lược sử và sự phát triển của chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong pháp luật Việt Nam
1.6.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1990
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nước ta giành được độc lập kể từ đó quan hệ pháp luật thừa kế mới được quan tâm xây dựng, cũng cố và bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn Chỉ sau ngày tuyên bố độc lập, ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ Tịch đã đề
ra sáu nhiệm vụ, trong đó có việc ban hành Hiến pháp Dự thảo Hiến pháp được thông qua tại kỳ hợp thứ hai Quốc hội khóa I ngày 8 tháng 11 năm 1946 Theo Điều 12 của
bản Hiến pháp này quy định “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm
19 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
1 Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình;
2 Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3 Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.
20 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005
Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
1 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
b) Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
c) Các bên đã tự hoà giải với nhau.
2 Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
Trang 33bảo”, có thể thấy rằng, mặc dù Hiến pháp trong giai đoạn này không quy định quyền
thừa kế của công dân nhưng đã gián tiếp bảo hộ quyền thừa kế của công dân Tuy nhiên, khi đất nước mới giành được độc lập, công cuộc xây dựng đất nước là yêu cầu cấp thiết nhất trong giai đoạn này và đất đai là một tư liệu sản xuất chủ yếu để xây dựng đất nước nên quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất vẫn chưa được đặt ra
Tiếp đó, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, miền bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền nam tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân Hiến pháp năm 1946, theo nhận định của Đảng, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Vì vậy, với tình hình mới cần phải ban hành một bản Hiến pháp mới Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa 1 ngày 31/12/1959 đã thông qua bản Hiến pháp năm 1959 Trong bản Hiến pháp năm 1959 vẫn chưa chính thức ghi nhận đất đai thuộc sở hữu
toàn dân mà chỉ quy định “Các hầm mỏ, sông ngòi, và những rừng cây, đất hoang, tài
nguyên khác mà pháp luật quy định là của nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
(Điều 12 của Hiến pháp) Mặc dù, Hiến pháp 1959 chưa chính thức ghi nhận đất đai thuộc hình thức sở hữu toàn dân nhưng kể từ khi ban hành Hiến pháp 1959, nước ta bắt đầu tiến trình cải tạo xã hội chủ nghĩa từ một chế độ dân chủ nhân dân21 Mặt khác, đất đai trong giai đoạn này là một tư liệu sản xuất chủ yếu để xây dựng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, mặc dù đất đai chưa được chính thức ghi nhận là thuộc sở hữu toàn dân nhưng đây được xem là tài sản của nhà nước và công dân không có quyền sở hữu Về thừa kế, Hiến pháp 1959 đã chính thức ghi nhận sự bảo hộ quyền thừa kế của công dân
tại Điều 19 “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của
công dân” Như vậy, nhà nước chỉ cho phép công dân được quyền để thừa kế đối với
tài sản tư hữu Hay nói khác hơn, họ chỉ được quyền để thừa kế đối với tài sản mà họ
có quyền sở hữu Bởi vì đất đai được xem là thuộc sở hữu chung của nhân dân nên trong giai đoạn này công dân không được quyền để thừa kế
Sau đại thắng mùa xuân 1975, cả nước hoàn toàn độc lập và thống nhất, nhiệm
vụ cấp bách của Đảng và nhà nước ta cần phải thực hiện trong giai đoạn này là xây dựng đất nước, xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nhằm cũng cố và xây dựng chế độ sở hữu Xã hội chủ nghĩa Vì vậy việc ban hành bản Hiến pháp mới được xem là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của cả nước Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI ngày
Trang 3418/12/1980 đã thông qua bản Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1980 được ban hành đã quy
định chế độ công hữu về tư liệu sản xuất tại Điều 19 như sau: “Đất đai, rừng núi, sông
hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và công trình thuỷ lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở văn hoá và
xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” Theo quy định này thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật
lại không có quy định nào về quyền sử dụng đất hợp pháp là di sản thừa kế của công dân Tuy nhiên, đất đai trong giai đoạn này không thuộc khách thể quyền sở hữu của công dân Vì vậy, đất đai trong giai đoạn này không được xem là di sản thừa kế
Dựa trên quy định của Hiến pháp 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành thông tư số 81-TANDTC ngày 24/7/1981 hướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản Thông tư này được ban hành trong giai đoạn nước ta có nền kinh tế được quản lý theo chế độ tập trung bao cấp Vì vậy, quyền sở hữu của nhà nước được ưu tiên bảo vệ còn quyền thừa kế về quyền sử dụng đất của công dân không được thừa nhận trong giai đoạn này
Do sự phát triển của xã hội Việt Nam trong giai đoạn này còn hạn chế nhưng trong lịch sử phát triển của luật dân sự Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng, Thông tư số 81 đã là văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm liên quan đến quyền thừa kế của công dân trước khi có pháp lệnh thừa kế năm 1990, đánh dấu một bước trưởng thành và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ lịch sử
1.6.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến khi có Bộ luật dân sự năm 1995 (có hiệu lực 1/7/1996)
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, công cuộc xây dựng đất nước, phát triển
xã hội là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và nhà nước ta đã đề ra Để phát triển xã hội, nhà nước ta khuyến khích mọi người say mê lao động, tạo ra của cải vật chất bằng chính sức lao động của mình bằng cách ghi nhận quyền năng thừa kế của cá nhân Vì vậy, nhà nước ta đã ban hành pháp lệnh thừa kế ngày 30/8/1990, đây được xem như là văn bản có hiệu lực pháp lý cao đầu tiên quy định khá đầy đủ về thừa kế ở nước ta kể
từ cách mạng tháng 8/1945 đến khi có Bộ luật dân sự 1995 Nội dung của pháp lệnh này quy định khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến thừa kế, đặc biệt là mở rộng phạm
Trang 35vi thừa kế nhằm bảo vệ quyền thừa kế của những người có quan hệ huyết thống trực
hệ hoặc bàn hệ ở phạm vi rộng Mặc dù pháp lệnh thừa kế 1990 đánh dấu sự phát triển vượt bậc của pháp luật thừa kế Việt Nam, tuy nhiên trong pháp lệnh này vẫn chưa ghi nhận quyền thừa kế về quyền sử dụng đất Theo quy định tại điểm a mục 1 Nghị quyết
số 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 hướng dẫn áp dụng một số quy định của
pháp lệnh thừa kế năm 1990 thì “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, quyền sử dụng
đất được giao không phải là quyền sở hữu về tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết Các tranh chấp về di sản có liên quan đến quyền sử dụng đất được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai”.
Tiếp đó, ngày 15/4/1992 Quốc hội nước ta đã thông qua bản Hiến pháp năm
1992 chính thức ghi nhận và bảo hộ quyền thừa kế của công dân tại Điều 58 “Nhà
nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Nhằm thể hiện
rõ quy định của Hiến pháp năm 1992, ngày 14/7/1993 Quốc hội đã thông qua Luật đất đai 1993 quy định có hai chủ thể có quyền được để thừa kế quyền sử dụng đất đó là: cá nhân và cá nhân là thành viên của hộ gia đình22 Tóm lại, mặc dù Luật đất đai năm
1993 là văn bản chính thức ghi nhận quyền thừa kế đối với đất đai Tuy nhiên, văn bản này chỉ công nhận cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản; cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở được để thừa kế mà đối với đất công nghiệp… thì không được quyền để thừa kế
Quyền thừa kế của công dân nói chung, thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội của nước ta qua từng giai đoạn của lịch sử Để khẳng định và bảo hộ quyền thừa kế của công dân, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX ngày 28/10/1995 đã thông qua Bộ luật dân sự có hiệu lực ngày 1/7/1996 Chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự 1995 là
cả một quá trình pháp điển hóa của pháp luật thừa kế Việt Nam từ khi giành được độc lập đến nay; đều đó cho thấy, vấn đề thừa kế ngày càng được Đảng và nhà nước ta
22 Điều 76 Luật đất đai năm 1993
1- Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, sau khi chết thì quyền sử dụng đất của họ được để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế.
2- Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu trong hộ
có thành viên chết thì các thành viên khác trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất mà Nhà nước đã giao cho hộ Trường hợp trong hộ gia đình không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất.
3- Cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, sau khi chết, quyền sử dụng đất của họ được để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế.
Trang 36ngày càng quan tâm và bảo hộ, đặc biệt trong lĩnh vực thừa kế đất đai Có thể nói Bộ luật dân sự năm 1995 là một văn bản pháp luật ghi nhận đầy đủ nhất về thừa kế quyền
sử dụng đất (gồm 7 điều: từ Điều 738 đến Điều 744) Tuy nhiên, quyền thừa kế về quyền sử dụng đất vẫn còn hạn chế, đều đó thể hiện là chủ thể được quyền để thừa kế theo quy định của Bộ luật này vẫn chỉ được quyền để thừa kế đối với đất nông nghiệp, đất ở, đất lâm nghiệp mà không được quyền để thừa kế với các loại đất khác (tương đối giống với quy định của Luật đất đai năm 1993) Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm
1995 có điểm tiến bộ hơn đó là: “Cá nhân có quyền sử dụng đất do được người khác
chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”23 thì cũng được quyền để thừa kế.
Nhìn chung, vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn này khá mới mẻ Do vậy, quy định của pháp luật nước ta còn nhiều điểm còn hạn chế và ngày càng được hoàn thiện Từ đó cho thấy, quyền của công dân ngày càng được nâng cao và quyền thừa kế quyền sử dụng đất là một trong những quyền cơ bản của công dân cũng ngày càng được quan tâm Mặt khác, quyền sử dụng đất là một trong những quyền tài sản và được pháp luật chính thức ghi nhận trở thành di sản thừa kế khi cá nhân chết Tóm lại, chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong hệ thống pháp luật dân
sự Việt Nam ngày càng được hoàn thiện và góp phần tạo ra sự phát triển của đất nước bằng cách tạo ra sự thi đua thầm lặng của mỗi cá nhân để tạo ra khối tài sản của mình nhằm để lại cho thế hệ sau
1.6.3 Giai đoạn từ sau khi có Bộ luật dân sự năm 1995 đến nay
Chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân sự 1995 được xem là chế định tiến bộ về quyền thừa kế của công dân so với hệ thống pháp luật dân sự của nước
ta từ sau khi giành được độc lập đến khi có Bộ luật này Tuy nhiên, sau nhiều năm thực thi thì chế định này bộc lộ khá nhiều điểm bất cập như: hạn chế quyền thừa kế của cá nhân về quyền sử dụng đất; điều đó thể hiện ở chỗ cá nhân chỉ có quyền để thừa kế đối với các loại đất nhất định chứ không có quyền để thừa kế đối với mỗi loại đất mà họ
có quyền sở hữu hợp pháp Mặt khác, người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất cũng cần phải có những điều kiện nhất định mới được hưởng di sản thừa kế là quyền
sử dụng đất như: có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích24 Như vậy, nếu các hàng thừa kế của người để lại di sản thừa kế quyền sử dụng
23 Khoản 3, Điều 739 Bộ luật dân sự năm 1995.
24 Điều 740, Bộ luật dân sự 1995.
Trang 37đất mà không có đủ các điều kiện trên thì vẫn không được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất.
Để khắc phục những bất cập trên, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội XI ngày 26/11/2003 đã thông qua Luật số 13/2003/QH11 về đất đai Từ khi Luật đất đai năm
2003 được ban hành, chế định thừa kế quyền sử dụng đất có những thay đổi to lớn
Theo quy định tại khoản 5 Điều 113 Luật đất đai năm 2003 thì “Cá nhân có quyền để
thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật” Như vậy, Luật đất
đai năm 2003 đã không còn phân biệt loại đất được để lại thừa kế mà dựa vào hình thức để có quyền sử dụng đất của cá nhân để lại di sản: được giao, được nhà nước cho thuê hoặc do nhận chuyển quyền… và đất được nhà nước giao cho hộ gia đình Để cụ thể hóa những quy định của Luật đất đai 2003, ngày 29/4/2004 Chính phủ đã thông qua Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về việc thi hành Luật đất đai năm 2003 đã có những quy định cụ thể về thừa kế quyền sử dụng đất tại Điều 98, Điều 99 25
Nhìn chung, Luật đất đai năm 2003 đánh dấu một sự phát triển vượt bậc của chế định thừa kế quyền sử dụng đất từ khi giành được độc lập cho đến khi có Luật này Đều đó thể hiện quyền để thừa kế của cá nhân ngày càng mở rộng, nếu như các bộ luật trước đây giới hạn quyền để thừa kế quyền sử dụng đất (chỉ được để thừa kế đối với một số loại đất nhất định do pháp luật quy định) và quyền hưởng di sản thừa kế cũng được quy định chỉ những chủ thể hội đủ các điều kiện được pháp luật quy định thì mới
có quyền hưởng di sản thì Luật đất đai năm 2003 lại quy định điều kiện để lại quyền
sử dụng đất và điều kiện hưởng di sản thừa kế dễ dàng hơn so quy định trước đây
Tiếp theo đó, Bộ luật dân sự 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 Bộ luật này có những thay đổi to lớn so với Bộ luật dân sự 1995, riêng đối với chế định thừa
kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật này cũng chỉ là sự kế thừa những quy định của chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2003 Vì vậy, chế định thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ luật dân sự năm 2005 cũng không có thay đổi đáng kế so với Luật đất đai năm 2003 Hiện nay, Bộ luật dân sự năm 2005 là một trong những văn
25 Xem Điều 98, Điều 99 của Nghị định số 181/200/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai.
Trang 38bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về chế định thừa kế quyền sử dụng đất
CHƯƠNG 2 THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1 Điều kiện được quyền để thừa kế quyền sử dụng đất
Khác với các loại tài sản thông thường khác, việc để lại di sản là quyền sử dụng đất phải có những điều kiện nhất định Ngoài việc có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp thì chủ thể có quyền để thừa kế còn phải đáp ứng một số yêu cầu khác Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2003 về điều kiện thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất trong đó có việc để thừa kế thì chủ thể thực hiện giao dịch phải đảm bảo các điều kiện sau đây mới được quyền để thừa kế đối với quyền sử dụng đất của mình:
Trang 392.1.1 Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể được cấp theo quy định của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 200326 Hiện nay để thống nhất các loại mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của pháp luật trước đây, ngày 19 tháng 10 năm 2009 Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ-
CP về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã thống nhất các loại mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm
2003 thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Như vậy, điều kiện đầu tiên để người sử dụng đất được quyền để thừa
kế là người đó phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo quy định này thì quyền sử dụng đất được xem là di sản trước hết phải chứng minh đất đó có nguồn gốc hợp pháp mà nguồn gốc đó được chứng minh vào giấy tờ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép Điều đó có nghĩa là nguồn gốc hợp pháp phải từ sự công nhận của công quyền, minh thị bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chính cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp mà không coi sự tồn tại các tài sản hay không có tài sản gắn liền với đất làm tiêu chí trước tiên để phân biệt di sản của người đã chết
Tuy nhiên đứng trước thực trạng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn ra còn chậm, trong khi đó nhu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn ra hằng ngày Vì vậy, Luật đất đai năm 2003 vẫn cho phép trong thời gian chưa hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của chính phủ, người đang sử dụng đất có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này cũng được thực hiện các quyền của người sử dụng đất trong đó có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất27
Ngoài ra, quy định này cũng được hướng dẫn cụ thể tại mục 1, phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:
26 Tiểu mục 1.1 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.
27 Khoản 1, Điều 146 Luật đất đai năm 2003 (được sửa đổi ,bổ sung năm 2009).
Chính phủ quy định về thời hạn hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất trong phạm vi cả nước Trong thời hạn này, người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cũng được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật này
Trang 40 Thứ nhất, đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm
2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế28
Thứ hai, trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:
Một là, trong trường hợp đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng
28 Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất
1 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong
sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm
1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất
2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
5 Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành
án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.