1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP THUẾ THU NHẬP cá NHÂN đối với HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ độc lập

114 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 11,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá nhân đã có những quy định mớivề đối tượng nộp thuế, cách tính thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế… Về đối tượngchịu thuế thì một trong những đối tượng l

Trang 1

BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH – THƯƠNG MẠI



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 34 (2008 – 2012)

Giảng viên hướng dẫn:

Bộ môn: Luật Kinh doanh – Thương mại Trần Văn Trung

MSSV: 5085933 Lớp: Tư pháp 1 - K34

Cần Thơ, tháng 5 năm 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại nhà trương, bản thân người viết đã được sự giúp

đỡ, động viên của các thầy cô khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, cũng như sự giúp

đở của thầy cố vấn học tập - Tiến sĩ Phạm Văn Beo và đặc biệt là sự giúp đỡ của CôTiến Sĩ Lê Thị Nguyệt Châu, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên ngườiviết vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, cũng như hoàn thành khóahọc kéo dài xuốt bốn năm qua của mình Nhân đây, người viết xin gửi lời cảm ơn xâuxắc đến tất cả những thầy cô khoa Luật và kính chúc thầy cô luôn mạnh khỏe để tiếptục dìu dắt những sinh viên và hoàn thành tốt công cuộc “trồng người” của mình, mộtviệc làm, một nhiệm vụ thật quý báo biết bao

Hơn ai hết, người mà người viết vô cùng kính phục, yêu thương và kính trọngnhất trong đời mình đó chính là mẹ, người đã giành thời gian cả cuộc đời lo cho con,cho cháu Mẹ đã không ngại gian khổ mà quyết tâm để lo cho con ăn học được như

ngày hôm nay mặc dù chỉ có nột thân, một mình Giờ đây mẹ có thể an tâm về các con,con đã có thể bước vào đời bằng những kiến thức có được nhờ sự dạy dỗ, dìu dắt, giúp

đỡ của tập thể thầy cô Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ

Bên cạnh đó người viết cũng không quên sự giúp đỡ của những nhà hảo tâm, sựgiúp đỡ của những người đã tiếp nhận người viết làm thêm ngoài giờ học, và tất cảnhững ai đã cưu mang người viết trong suốt thời gian qua Kính chúc tất cả luôn mạnhkhỏe và thành công

Trân thành cảm ơn!

Cần Thơ, tháng 5 năm 2010

Trần Văn Trung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại nhà trương, bản thân người viết đã được sự giúp

đỡ, động viên của các thầy cô khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, cũng như sự giúp

đở của thầy cố vấn học tập - Tiến sĩ Phạm Văn Beo và đặc biệt là sự giúp đỡ của CôTiến Sĩ Lê Thị Nguyệt Châu, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên ngườiviết vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, cũng như hoàn thành khóahọc kéo dài xuốt bốn năm qua của mình Nhân đây, người viết xin gửi lời cảm ơn xâuxắc đến tất cả những thầy cô khoa Luật và kính chúc thầy cô luôn mạnh khỏe để tiếptục dìu dắt những sinh viên và hoàn thành tốt công cuộc “trồng người” của mình, mộtviệc làm, một nhiệm vụ thật quý báo biết bao

Hơn ai hết, người mà người viết vô cùng kính phục, yêu thương và kính trọngnhất trong đời mình đó chính là mẹ, người đã giành thời gian cả cuộc đời lo cho con,cho cháu Mẹ đã không ngại gian khổ mà quyết tâm để lo cho con ăn học được như

ngày hôm nay mặc dù chỉ có nột thân, một mình Giờ đây mẹ có thể an tâm về các con,con đã có thể bước vào đời bằng những kiến thức có được nhờ sự dạy dỗ, dìu dắt, giúp

đỡ của tập thể thầy cô Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ

Bên cạnh đó người viết cũng không quên sự giúp đỡ của những nhà hảo tâm, sựgiúp đỡ của những người đã tiếp nhận người viết làm thêm ngoài giờ học, và tất cảnhững ai đã cưu mang người viết trong suốt thời gian qua Kính chúc tất cả luôn mạnhkhỏe và thành công

Trân thành cảm ơn!

Cần Thơ, tháng 5 năm 2010

Trần Văn Trung

Trang 4

NHẬN XÉT

Trang 5

Trang 6

MỤC LỤC Lời cảm ơn

Nhận xét

Phần nói đầu 01

1.Lý do chọn đề tài 01

2.Mục tiêu nghiên cứu 01

3 Phạm vi nghiên cứu 02

4 Phương pháp nghiên cứu 02

5 Bố cục đề tài 02

Phần nội dung 04

Chương I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN, CÁ NHÂN HÀNH NGHỀ ĐỘC LẬP 1.1 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân 04

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 04

1.1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 04

1.1.1.2 Đặc điểm của luật thuế thu nhập cá nhân 05

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 05

1.1.2.1 Giai đoạn trước ngày 01 tháng 01 năm 2009 05

1.1.2.2 Giai đoạn kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 07

1.1.3 Sự cần thiết phải ban hành luật thuế thu nhập cá nhân 08

1.2 Các yếu tố cơ bản của luật thuế Thu nhập cá nhân 11

1.2.1 Tên gọi 11

1.2.2 Đối tượng nộp thuế (người nộp thuế) 11

1.2.3 Thu nhập chịu thuế 12

1.2.4 Phương pháp tính thuế và thuế suất 13

1.2.5 Quản lý thuế 15

1.3 Hoạt động hành nghề độc lập 15

1.3.1 Cá nhân hành nghề độc lập 16

1.3.1.1 Địa vị pháp lý 16

1.3.1.2 Điều kiện hành nghề của một số nghề hoạt động độc lập điển hình 16

1.3.2 Cá nhân hành nghề độc lập trong luật thuế thu nhập cá nhân 19

1.4 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới 20

1.4.1 Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan 20

1.4.1.1 Đối tượng nộp thuế 20

1.4.1.2 Thu nhập chịu thuế 20

1.4.1.3 Các khoản giảm trừ gia cảnh và trợ cấp 21

1.4.1.4 Thuế suất 21

1.4.2 Thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quốc 21

1.4.2.1 Đối tượng nộp thuế 22

1.4.2.2 Các khoản chịu thuế, không chịu thuế và thuế suất 22

1.4.3 Nhật Bản 24

1.4.3.1 Đối tượng nộp thuế 24

1.4.3.2 Thu nhập chịu thuế 24

1.4.3.3 Thuế suất 25

Trang 7

Chương II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THUẾ THU NHẬP

CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ ĐỘC LẬP

2.1 Đối tượng nộp thuế 26

2.1.1 Cá nhân Cư trú 26

2.1.2 Cá nhân không cư trú 28

2.1.3 Sự khác biệt giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú 28

2.2 Thu nhập chịu thuế từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân 29

2.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động hành nghề độc lập 30

2.3.1 Đối với cá nhân cư trú 30

2.3.1.1 Thu nhập chịu thuế 30

2.3.1.2 Các khoản giảm trừ 33

2.3.1.3 Thuế suất 38

2.3.1.4 Cách tính thuế 39

2.3.2 Đối với cá nhân không cư trú 40

2.3.2.1 Doanh thu 41

2.3.2.2 Thuế suất 41

2.4 Miễn, giảm thuế 41

2.5 Thủ tục kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động hành nghề độc lập 43

2.5.1 Đối với cá nhân không cư trú 43

2.5.2 Đối với cá nhân cư trú 43

2.6 Xử lý vi phạm về thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động hành nghề độc lập 48

2.6.1 Xử lý vi phạm hành chính về thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động hành nghề độc lập đối với người nộp thuế 48

2.6.1.1 Khái niệm và đặc điểm 48

2.6.1.2 Nguyên tắc xử lý 49

2.6.1.3 Hành vi vi phạm 50

2.6.1.4 Hình thức xử phạt, mức phạt 50

2.6.1.5 Thời hiệu xử phạt 51

2.6.1.6 Thẩm quyền xử lý 52

2.6.2 Truy cứu trách nhiệm hình sự về thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân 54

2.6.2.1 Phạm vi áp dụng 54

2.6.2.2 Hành vi vi phạm 54

2.6.2.3 Mức xử phạt 54

2.6.3 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động hành nghề độc lập đối với cơ quan quản lý thuế và cán bộ thuế 55

2.7 Vấn đề tránh đánh thuế hai lần trong hoạt động hành nghề độc lập 55

2.7.1 Định nghĩa thu nhập từ hoạt động ngành nghề độc lập 56

2.7.2 Tránh đánh thuế trùng theo Thông tư số 84/2008/TT-BTC 56

Trang 8

Chương III NHẬN XÉT CHUNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG

HÀNH NGHỀ ĐỘC LẬP

3.1 Tình hình chung 58

3.2 Một số ưu điểm đạt được của thuế TNCN trong chính sách thuế đối với cá nhân hành nghề độc lập 59

3.2.1 Đối tượng nộp thuế 59

3.2.2 Giảm trừ gia cảnh 60

3.2.3 Phân chia từng khoản thu nhập cụ thể 61

3.2.4 Vai trò của cơ quan thuế 62

3.3 Một số bất cập và đề xuất giải pháp trong chính sách thuế đối với cá nhân nghề độc lập 63

3.3.1 Đối với cá nhân hành nghề độc lập là cá nhân cư trú 64

3.3.1.1 Vấn đề chung 64

3.3.1.2.Thuế suất 66

3.3.1.3 Quy định về mức giảm trừ gia cảnh 67

3.3.2 Đối với cá nhân hành nghề độc lập là cá nhân không cư trú 68

3.3.3 Một số vướng mắc và đề xuất khác 69

3.3.3.1 Thu nhập chịu thuế 69

3.3.3.2 Đối với việc miễn giảm thuế 70

3.3.3.3 Vấn đề khác 70

PHẦN KẾT LUẬN 75 PHỤ LỤC

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 9

cá nhân năm 2007 Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá nhân đã có những quy định mới

về đối tượng nộp thuế, cách tính thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế… Về đối tượngchịu thuế thì một trong những đối tượng lần đầu tiên được quy định trong luật thuế thunhập cá nhân năm 2007 là thu nhập từ kinh doanh nói chung, thu nhập từ hoạt độnghành nghề độc lập của cá nhân nói riêng là một hoạt động khá phổ biến đã được phápluật điều chỉnh trước đây trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp Nhưng kể từngày 01 tháng 01 năm 2009 khoản thu nhập này chính thức bị điều tiết bởi luật thuếthu nhập cá nhân 2007 Với thay đổi này, không phải ai cũng năm bắt được do nhữngthông tin về chính sách thuế mới chưa tiếp cận đến người nộp thuế, mặc dù trước khithuế thu nhập cá nhân chính thức có hiệu lực thi hành, công tác tuyên truyền phổ biếnluật thuế thu nhập cá nhân 2007 đã được triển khai thực hiện rộng khắp cả nước

Chính vì những lý do nêu trên, người viết chon đề tài “Thuế thu nhập cá nhân đốivới hoạt động hành nghề độc lập” làm luận văn tốt nghiệp chương trình học của mình.Thông qua việc tìm hiểu những thông tin về quy định pháp luật đối với lĩnh vực cánhân hoạt đồng hành nghề độc lập, người viết đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiệnquy định pháp luật đối với hoạt động nêu trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài này trước hết giúp người viết hiểu thêm những quyđịnh của phấp luật về thuế TNCN trong hoạt động hành nghề độc lập Từ đó, trình bàynhững quy định về vấn đề này một cách hệ thống Bên cạnh đó, người viết đưa ra một

số ý kiến cá nhân về quy định pháp luật, nêu quan điểm và đưa ra một số giải phápnhằm góp phần hoàn thiện những quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân nói

1

Khoản 1 điều 4 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.

Trang 10

chung, về hoạt động hành nghề độc lập nói riêng trong tương lai.

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu quy định pháp luật về thuế TNCN trong hoạt độnghành nghề độc lập, người viết đã chọn lựa một số phương pháp, thao tác để tìm hiểu,nghiên cứu những vấn đề trong luận văn như sưu tầm thông tin, nghiên cứu lý luậndựa trên những quy định của luật, nghị định, thông tư, giáo trình, sách, cập nhật thôngtin trên tạp chí, báo đài, internet liên quan đến nội dung đề tài mà người viết nghiêncứu

Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, bình luậncác quy định pháp luật về thuế TNCN trong hoạt động hành nghề độc lập theo sựhướng dẫn của giản viên hướng dẫn về đề tài và đưa ra ý kiến cá nhân về một số quyđịnh về hoạt động này Đồng thời, người viết còn sử dụng biện pháp thu thập số liệutại một số cơ quan thực thi các quy định của luật, các Cục thuế, Chi cục thuế ở một sốnơi (cụ thể là Cục thuế Thành phố Cần Thơ, Cục thuế Sóc Trăng…để làm rõ thực trạng

về hoạt động thu ngân sách trong lĩnh vực hoạt động hành nghề độc lập theo quy địnhcủa Luật Thuế TNCN hiện hành

5 Bố cục đề tài

Đề tài được chia thành ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.Trong đó, phần nội dung gồm có ba chương:

Chương 1: lý luận chung về thuế TNCN, đặc điểm, vai trò của thuế thu nhập cá

nhân, thuế thu nhập cá nhân trong hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân Trình bàykhái quát chung như thế nào là hoạt động hành nghề độc lập Người viết trình bày vềcác giai doạn phát triển của thuế TNCN ở Việt Nam qua các thời kỳ Bên cạnh đó,người viết còn trình bày thêm quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân ở một sốquốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản để tham khảo

Chương 2: Người viết giới thiệu cụ thể nội dung quy định pháp luật Việt Nam

về Thuế TNCN trong hoạt động hành nghề độc lập (Luật năm 2007) và các văn bảnhướng dẫn thi hành đối với hoạt động này bao gồm: người nộp thuế, đối tượng chịuthuế, căn cứ tính thuế, việc đăng ký kê khai, nộp thuế, chính sách miễn, giảm thuế

Trang 11

trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật và vấn đề xử lý vi phạm vềthuế đối với hoạt động hành nghề độc lập.

Chương 3: Trong trương này, người viết trình bày thực trạng việc thu ngân sách

Nhà nước trong lĩnh vực thuế hiện nay và một số năm trước, thu thập số liệu ở một sốđịa phương nhằm đánh giá chung tình hình hiện nay Từ đó, người viết đưa ra một sốnhận xét về những mặc đã đạt được và những cái còn hạn chế, vướng mắc nhằm đưa

ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực thuế TNCN nói chung và tronghoạt động hành nghề độc lập nói riêng trong tương lai

Đây là kết quả của cả quá trình học tập và nghiên cứu của người viết trong suốtthời gian qua Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song việc nghiên cứu đề tài này còn khámới mẻ, tài liệu tham khảo còn nhiều hạn chế Kết quả nghiên cứu chắc chắn có nhữngnội dung chưa được hoàn chỉnh Vì vậy, người viết rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp, phản hồi về nội dung, hình thức để người viết có thể hoàn thiện hơn đề tàinghiên cứu này, cũng như bổ sung thêm một số kiến thức hữu ích cho bản thân ngườiviết

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN, CÁ

NHÂN HÀNH NGHỀ ĐỘC LẬP

Mọi Chính phủ đều cần có Ngân sách để hoạt động Tuy có những sự lựa chọn

khác nhau nhưng thuế là công cụ hữu hiệu nhất để tạo ra nguồn thu Ngân sách, “thuế

là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước2”, đây là một trong những nguyên tắc

cơ bản của quản lý thuế Nhà nước có thể vay mượn tiền từ công dân hoặc nước ngoàinhưng nợ thì phải trả Nhà nước có thể bán dịch vụ công cho công dân của mình hoặccho những người nước ngoài đang cư trú trong phạm vi lãnh thổ quản lý nhưng số tiềnthu được sẽ không đảm bảo đủ cho việc trang trãi của Bộ máy Nhà nước Bên cạnh đó,không phải người dân nào cũng có khả năng mua các dịch vụ công và cũng không thể

vì thế mà Nhà nước không cung cấp các dịch vụ đó cho người dân của mình Nhànước với quyền lực chính trị sẵn có sẽ thu một bộ phận thu nhập của xã hội để đảmbảo nhu cầu chi tiêu cho chính mình và phúc lợi xã hội Chính vì thế nên thuế đã ra đờinhằm những mục đích nêu trên

Trong quá trình hội nhập hiện nay (kể từ Đại hội Đảng lần VI năm 1986) đấtnước mở cửa, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tếnhiều thành phần thì đời sống người dân ngày một được nâng cao, thu nhập bình quântăng nhanh Với vai trò quản lý xã hội, thực hiện công bằng xã hội, Nhà nước - chủthể mang quyền lực chính trị phải điều tiết thu nhập của người dân bằng cách đặt ramột số loại thuế, trong đó có thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

Trong phần này người viết tập chung đi vào tìm hiểu khái quát chung nhất vềthuế thu nhập cá nhân của Việt Nam cũng như kinh nghiệm một số nước trên thế giớihiện nay và đi tìm hiểu như thế nào là cá nhân hoạt động hành nghề độc lập

1.1 Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân

Với điều kiện nước ta hiện nay, thuế TNCN giữ vai trò khá quan trọng ThuếTNCN là loại thuế trực thu Loại thuế này có ưu điểm bảo đảm sự công bằng trongviệc điều tiết thu nhập của người nộp thuế, điều chỉnh khoảng cách giàu, nghèo củacác cá nhân trong xã hội, nhưng ngược lại việc quản lý loại thuế trực thu là rất khó, cơchế quản lý phức tạp và tốn kém nhiều Nguyên nhân của việc này là vì người nộpthuế trực tiếp thấy được sự mất mát thu nhập, tài sản của họ khi nộp thuế, nên họ tìmcách tránh hoặc trốn thuế

1.1 1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Mỗi loại thuế đều có nội dung và đặc điểm riêng, thuế TNCN cũng không ngoại

lệ Việc hiểu rõ về khái niệm và đặc điểm là hết sức quan trọng

1.1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Như đã biết, thuế là khoản nộp bắt buộc vào Ngân sách Nhà nước của tổ chức, cánhân khi thỏa điều kiện nhất định để Nhà nước chi tiêu Từ đó ta có thể rút ra kháiniệm về thuế TNCN như sau: Thuế TNCN là loại thuế trực thu chủ yếu đánh vào thu

2 Khoản 1 điều 4 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.

Trang 13

nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của

cá nhân vào Ngân sách Nhà nước3 Thông qua đó có thể khuyến khích làm việc haynghỉ ngơi, bằng việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh,tiền lương, tiền công, đầu tư…

Với đạo luật thuế TNCN năm 2007 của Việt Nam là tổng hợp các loại thuế: Pháplệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, luật thuế chuyển nhượng quyền sửdụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân sản xuất, kinh doanh (không baogồm doanh nghiệp tư nhân theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp)

1.1.1.2 Đặc điểm của luật thuế thu nhập cá nhân 4

Thuế Thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau:

Là loại thuế đánh lên tất cả cá nhân có thu nhập chịu thuế Vì là loại thuế trực thunên người chịu thuế thường khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác Chonên tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này sovới các loại thuế gián thu Cần lưu ý là vai trò của người chi trả thu nhập khác với vaitrò của người chịu thuế Người chi trả thu nhập theo quy định của pháp luật là phảikhấu trừ số thuế mà cá nhân có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước trước khi chi trả thu nhập.Nhà nước có thể sử dụng loại thuế này để khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơithông qua biểu thuế Ví dụ như Nhà nước có thể khuyến khích người lao động làmthêm giờ, tăng thu nhập bằng cách đánh thuế nhẹ hoặc không đánh thuế lên khoản thunhập tăng thêm do làm thêm giờ hoặc có thể khuyến khích nghỉ ngơi bằng cách đánhthuế nặng lên khoản thu nhập này Nhà nước cũng có thể khuyến khích người dân đầu

tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế hay không đánh thuế thunhập đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm

Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp Việc quản lý thuế, thu thuế đòihỏi trình độ, kỹ thuật cao, chi phí quản lý thuế lớn Cơ quan quản lý thuế phải nắmđược các nguồn thu nhập của người chịu thuế, tình trạng cư trú của họ ở Việt Nam…

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước xây dựng xã hội chủ nghĩa,Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách thuế khóa Tại điều 41 của bản Hiến

pháp năm 1959 quy định rằng: “ công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có nghĩa

vụ đóng thuế theo pháp luật”5 Trong phần này, người viết tập trung phân tích, cũngnhư đánh giá sự phát triển của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân nói chung và thuếthu nhập đối với hoạt động của cá nhân hành nghề độc lập nói riêng trong giai đoạn từngày 01 tháng 04 năm 1991 khi pháp lệnh thuế đối với người có thu nhập cao lần đầutiên có hiệu lực đến trước và sau ngày 01 tháng 01 năm 2009 khi Luật thuế TNCNnăm 2007 có hiệu lực thi hành

1.1.2.1 Giai đoạn trước ngày 01 tháng 01 năm 2009

Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được Hội đồng Nhà nướcthông qua ngày 27 tháng 12 năm 1990, đây không phải là đạo luật đầu tiên điều chỉnh

3 Ts Lê Thị Nguyệt Châu, giáo trình tài chính 2 (thuế), Trường Đại học Cần Thơ- Khoa luật, năm 2010, tr25.

4 Ts Lê Thị Nguyệt Châu, giáo trình tài chính 2 (thuế), Trường Đại học Cần Thơ- Khoa luật, năm 2010, tr25.

5 Bản Hiến pháp này được Quốc hội khóa thứ nhất, kỳ họp thứ 11, thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959.

Trang 14

đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam mà ở Miền Nam Việt Nam, trước năm 1975,chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là Thuế lợi tức Lươngbổng năm 1962 và được cải cách năm 1972 mang tính chất là một khoản thuế thunhập Loại thuế này áp dụng đối với thể nhân là loại thuế tổng hợp của từng hộ giađình bao gồm cả lợi tức doanh nghiệp và thuế lương bổng6.

Kể từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì mãi chođến ngày 27 tháng 12 năm 1990, Hội đồng Nhà nước mới thông qua Pháp lệnh Thuếthu nhập đối với người có thu nhập cao (có hiệu lực ngày 01 tháng 4 năm 1991) Đốitượng mà Pháp lệnh này điều chỉnh là công dân Việt Nam và người nước ngoài có thunhập thường xuyên từ tiền lương, tiền công, các khoản tiền có tính chất như tiền lươngtiền công đối với cá nhân là người Việt Nam từ 500.000 đồng/tháng, đối với cá nhânnước ngoài có thu nhập từ 2.400.000đồng/tháng và thu nhập không thường xuyên là1.500.000đồng/lần, riêng trúng thưởng xổ số từ 10 triệu đồng/lần thì được xem làngười có thu nhập cao và phải đóng thuế theo pháp lệnh này7 Sau đó, bằng các Nghịquyết ngày 26 tháng 3 năm 1991, Nghị quyết ngày 10 tháng 3 năm 1992 và pháp lệnhsửa đổi ngày 03 tháng 6 năm 1994 mức thuế thu nhập đã được sửa đổi cho phù hợp vớitình hình kinh tế (do thu nhập người dân ngày một tăng cao) Ngày 06 tháng 02 năm

1997, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh thuế thunhập đối với người có thu nhập cao năm 1994

Sau một thời gian thực hiện pháp lệnh này, do không còn phù hợp với tình hìnhthực tế, vào ngày 19 tháng 5 năm 2001, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháplệnh số 35/2001/PL-UBTVQH10 Pháp lệnh Thuế đối với người có thu nhập cao năm

2001 để thay đổi Pháp lệnh trước đây về lĩnh vực này Đối tượng mà Pháp lệnh này

hướng đến là “Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài và cá nhân khác định cư tại Việt Nam có thu nhập; người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập”8 Đến Pháp lệnh năm 2001 thì mức thu nhập thường xuyên

mà cá nhân là Công dân Việt Nam, cá nhân khác định cư tại Việt Nam là trên 3 triệuđồng/tháng bình quân trong năm; 8 triệu đồng đối với người nước ngoài cư trú tại ViệtNam, Công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài Đối với khoản thu nhậpkhông thường xuyên chịu thuế là số thu nhập của từng cá nhân trong từng lần trên2.000.000 đồng, riêng thu nhập từ trúng thưởng sổ sơ là trên 12.500.000 đồng/lần Vàđến ngày 24 tháng 3 năm 2004 UBTVQH11 lại ban hành tiếp pháp lệnh số 14 năm

2004 để sửa đổi pháp lệnh số 35 năm 2001 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao Nguyên nhân của việc tăng mức thu nhập chịu thuế là do nền kinh tếngày một phát triển, thu nhập của cá nhân được tăng cao, có thêm nhiều mức thu nhậpmới phát sinh9

Tổng cộng Pháp lệnh đã có 06 (sáu) lần sửa đổi bổ sung, bao gồm:

- Lần thứ nhất: có hiệu lực từ 01/04/1991 đến 01/6/1994;

- Lần thứ hai: có hiệu lực từ ngày 01/6/1994 đến ngày 01/7/2001

- Lần thứ ba: có hiệu lực ngày 18/02/1997 đến ngày 30/6/2001;

6 Tạp Chí Thuế Nhà nước số 39 (kỳ 3 tháng 10 năm 2006, tr13).

7 Điều 2 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1990.

8 Điều 1 pháp lệnh số 35 /2001/PL-UBTVQH10 Pháp lệnh Thuế đối với người có thu nhập cao năm 2001( sửa đổi bổ sung bằng pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11).

9 Xem thêm điều 1 pháp lệnh thuế thu nhập năm 2004 số 14/2004/PL-UBTVQH11.

Trang 15

- Lần thứ tư: có hiệu lực ngày 01/7/1999 đến ngày 01/7/2001;

- Lần thứ năm: có hiệu lực từ ngày 1/7/2001 đến 01/01/2009;

- Lần thứ sáu: có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 đến 01/01/2009

Trong giai đoạn này, quy định về khoản thu nhập từ hoạt động của cá nhân hànhnghề độc lập được quy định trong đạo luật thuế khác, Luật thuế thu nhập doanh nghiệpnăm 1997 (Luật này thay thế Luật Thuế lợi tức ngày 30 tháng 6 năm 1990 (sửa đổi, bổsung ngày 06 tháng 7 năm 1993) và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1999 Đối

tượng nộp thuế theo luật này là “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập, trừ trường hợp thuộc diện không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp”10 Nhằm cụ thể hóa “cá nhân sản xuất, kinh

doanh” tại điều 3 khoản 2 của luật này giải thích: “Cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ" bao gồm: hộ cá thể và nhóm kinh doanh; hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp; cá nhân kinh doanh; cá nhân hành nghề độc lập; cá nhân có tài sản cho

thuê; cá nhân nước ngoài kinh doanh có thu nhập phát sinh tại Việt Nam”11, nhằm cụthể hóa hơn cá nhân hành nghề độc lập là như thế nào thì tại điểm c khoản 2 Nghị định

số 30/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 1998 nêu rõ “Cá nhân hành nghề độc lập: Bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, họa sĩ, kiến trúc sư, nhạc sĩ và cá nhân hành nghề

độc lập khác”12 Và đến luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003, cá nhân hành nghềđộc lập lại tiếp tục đóng thuế theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp Về đối tượng nộpthuế luật năm 2003 vẫn không có gì thay đổi so với luật năm 199713 Mãi đến khi luậtthuế TNCN năm 2007 được thông qua thì các “cá nhân hành nghề độc lập” mới đượcchuyển từ đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sang đối tượng nộp thuế của thuếTNCN, cụ thể là các khoản thu từ sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ của cá nhânnói chung

Như vậy, thu nhập của cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nói chung,của cá nhân hành nghề độc lập nói riêng trong giai đoạn này không được xem như làmột khoản thu nhập mang tính thường xuyên hay không thường xuyên của cá nhânnên không là đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp lệnh thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao, mặc dù về bản chất những giá trị vật chất mà cá nhân hànhnghề thu được cũng là một khoản thu nhập của cá nhân Điều này dẫn đến tình trạngcùng là khoản thu nhập của cá nhân nhưng thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập sẽnộp theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp, còn những khoản thu nhập khác thuộc diệnthu nhập thường xuyên và không thường xuyên theo quy định của pháp luật sẽ phảiđóng thuế theo Pháp lệnh về thuế đối với người có thu nhập cao

1.1.2.2 Giai đoạn kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII, Quốc hội đãthông qua luật thuế TNCN và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009

Có thể nói, việc ban hành luật thuế thu nhập cá nhân đã khẳng định bước phát triển của

hệ thống luật thuế của Việt Nam và đồng thời đã làm chấm dứt hiệu lực của hai vănbản luật là Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001, sửa đổi

10 Điều 1 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997.

11 Khoản 2 điều 3 luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997.

12 Điểm c khoản 2 điều 1 Nghị định số 30/1998/NĐ-CP.

13 Xem điều 1 và khoản 2 điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003.

Trang 16

bổ sung năm 2004 và luật thuế chuyển quyền sử dụng đất 1994, sửa đổi bổ sung năm

1999 Bên cạnh đó, Luật thuế TNCN 2007 còn thay đổi luật thuế thu nhập doanhnghiệp và các quy định khác về thuế đối với thu nhập của cá nhân trái với quy địnhcủa Luật thuế TNCN14 Như vậy kể từ thời điểm luật thuế thu nhập cá nhân 2007 cóhiệu lực thì khi một cá nhân hoạt động hành nghề độc lập cũng như cá nhân sản xuất,kinh doanh (không bao gồm doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật thuế thunhập doanh nghiệp) sẽ phải đóng thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động từ hànhnghề độc lập

Để giải thích cho vấn đề này, trước hết người viết phân tích bản chất của thuế thunhập Thuế thu nhập là loại thuế đánh trên tất cả các thu nhập của cá nhân; tổ chứchoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ nghĩa là tất cả những cá nhân, tổchức có thu nhập đều phải đóng thuế thu nhập đối với những khoản thu nhập mà họ cóđược khi những khoản thu nhập này đạt đến mức phải chịu thuế theo quy định củapháp luật Trường hợp, nếu đánh lên thu nhập của cá nhân thì gọi là thuế thu nhập cánhân, còn nếu đánh lên thu nhập của tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụgọi là thuế thu nhập doanh nghiệp (như ở Việt Nam), thuế sự nghiệp, thuế lợi tức Thuế thu nhập là loại thuế trực thu vì người nộp thuế cũng chính là người phải chịugánh nặng về thuế Thuế thu nhập là điển hình của việc Nhà nước dùng thuế để điềutiết thu nhập vì mục đích công bằng, bởi vì thông qua việc áp dụng thuế suất lũy tiếnthì những người có thu nhập cao hơn sẽ chịu gánh nặng về thuế lớn hơn (đánh theokhả năng)

Bên cạnh đó, việc đưa đối tượng này vào thuế thu nhập cá nhân sẽ động viên sựbình đẳng giữa các khoản thu nhập, không phân biệt tiền lương, tiền công của cá nhânnày thông qua việc áp dụng chung biểu thuế và cùng được giảm trừ gia cảnh, tránhđược sự bất hợp lý trong việc một đối tượng chỉ có nguồn thu nhập từ kinh doanh lạiphải chịu hai loại thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN

Theo Ban soạn thảo Luật thuế TNCN giải thích rằng: “Do các đối tượng nàykhông phải là doanh nghiệp nên việc tiếp tục áp dụng Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

là không hợp lý; bên cạnh đó, việc đưa vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân nhằm tạobình đẳng về thuế thu nhập cá nhân, không phân biệt thu nhập từ kinh doanh hoặc thunhập từ tiền lương, tiền công và được áp dụng chung biểu thuế và các khoản giảm trừkhác Quy định này cũng nhằm để phù hợp với thông lệ quốc tế15”

1.1.3 Sự cần thiết phải ban hành luật thuế thu nhập cá nhân.

Ban hành Luật thuế TNCN là cần thiết để thể chế hóa đường lối, chủ trương củaĐảng và Nhà nước về lĩnh vực tài chính

Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra: “Áp dụngthuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, đảm bảo công bằng

xã hội và tạo động lực phát triển” Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X củaĐảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắccông bằng, thống nhất và đồng bộ Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và

14 Khoản 2 điều 34 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007.

15 Quy định về thuế thu nhập cá nhân có nhiều điểm mới, Việt Báo ngày 08 tháng 9 năm 2006, lấy từ

http://vietbao.vn/Kinh-te/Quy-dinh-ve-thue-thu-nhap-ca-nhan-co-nhieu-diem-moi/65065890/87/.

Trang 17

ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Triển khai cácNghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua chiến lược cải cách thuế đến năm

2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷtrọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập Mở rộng diệnthuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”

Ban hành Luật thuế TNCN nhằm thực hiện công bằng xã hội, tăng cường kiểmtra, kiểm soát thu nhập và điều tiết, phân phối lại thu nhập, thu hẹp hợp lý sự chênhlệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinhtế

Khác với thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt ) động viênthu nhập xã hội thông qua tiêu dùng của các tổ chức và cá nhân, khác với thuế thunhập doanh nghiệp - điều tiết vào thu nhập của doanh nghiệp, thuế TNCN động viênmột phần thu nhập của cá nhân, thể hiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đấtnước Công dân được hưởng những thành quả của đất nước: cơ sở hạ tầng, phúc lợi xãhội, an ninh trật tự, thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mìnhcho xã hội thông qua việc nộp thuế

Thuế TNCN được xây dựng trên nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộpthuế”, được thể hiện thông qua việc người có thu nhập thấp thì chưa nộp thuế, người

có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàncảnh khác nhau thì mức nộp thuế cũng khác nhau Thực hiện nộp thuế thu nhập cánhân góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư.Chính vì vậy mà thuế thu nhập cá nhân đã được nhiều nước áp dụng từ rất sớm,ngay từ khi nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập của dân cư cũng chưa cao, điều kiệnkiểm soát thu nhập còn hạn chế

Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện hệ thống chính sáchthuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế

Trước đây, việc động viên thu nhập của cá nhân vào Ngân sách Nhà nước đượcthực hiện bởi 3 văn bản pháp luật thuế: thu nhập của cá nhân kinh doanh thực hiệntheo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập từ tiền lương, tiền công,trúng thưởng xổ số, chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định của Pháp lệnhthuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đấtthực hiện theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất Việc thực hiện chínhsách thuế như nói trên trong thời gian trước khi ban hành luật thuế thu nhập cá nhân

2007 còn rời rạc nên chưa phát huy hết vai trò của việc quản lý thuế Trong giai đoạnhiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được tiếp tục hoàn thiện

và phát triển mạnh mẽ (thị trường tài chính tiền tệ, thị trường vốn, chứng khoán, thịtrường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ ) tạo điềukiện cho các cá nhân có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau ngoài nguồn thu nhập

từ tiền lương, tiền công (đầu tư vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư tài chính,chuyển nhượng vốn, chứng khoán ) Đồng thời, cùng với tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế, không chỉ có người Việt Nam mà người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống, cóthu nhập tại Việt Nam cũng ngày càng gia tăng Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục ápdụng ba loại thuế như trước đối với thu nhập của cá nhân là không còn phù hợp, do:+ Chưa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế: cũng là thu nhập của

Trang 18

cá nhân nhưng thu nhập từ kinh doanh thì nộp thuế 25% trên tổng thu nhập; nhưng thunhập từ tiền công, tiền lương trên mức 5 triệu đồng/tháng mới nộp thuế theo biểu thuếlũy tiến từng phần từ 10% đến 40%;

+ Chưa có chính sách thuế điều tiết thống nhất thu nhập cá nhân trong một vănbản pháp luật như thông lệ quốc tế

Do vậy, việc ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là để hoàn thiện một bước hệthống chính sách thuế của nước ta, góp phần khuyến khích cá nhân tích cực lao động,đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng và thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội ổn định, bền vững Với chính sách của Luật thuế TNCN hiện hành đã phầnnào giảm bớt những gánh nặng cho người nộp thuế bởi những quy định tiến bộ như:giảm trừ gia cảnh đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiềncông; miễn giảm thuế

Người viết xin trình bày về tình hình thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnhSóc Trăng qua một số năm để chứng minh cho sự cần thiết ban hành luật thuế thu nhập

có rất nhiều khoản thu nhập trước đây theo pháp lệnh thuế thu nhập đối với người cóthu nhập cao không thuộc diện nộp thuế này

Nguyên nhân thứ hai, cũng xuất phát từ nguyên nhân thứ nhất, theo Luật thuếTNCN 2007 thì khoản thu nhập từ sản xuất kinh doanh được chuyển từ thu nhập chịuthuế của luật thuế TNDN sang thu nhập chịu thuế TNCN nhằm phù hợp với thông lệquốc tế, cũng như tạo sự công bằng hơn giữa các đối tượng nộp thuế là cá nhân

Và nguyên nhân nữa là do thu nhập của người dân ngày một tăng cao, cuộc sốngđược ổn định hơn trước, và do những chính sách thuế theo luật mới có những khuyếnkhích giành cho người nộp thuế nên người nộp thuế tự giác ý thức thực hiện nghĩa vụđóng thuế của bản thân đối với Nhà nước, góp phần hạn chế tình trạng trốn thuế nhưtrước đây

Vì những lý do nêu trên mà vai trò của thuế TNCN ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói

16 Xem phụ lục Bảng thống kê của cục Thuế Sóc Trăng ngày 09 tháng 3 năm 2012 ở phần phụ lục của bài viết.

Trang 19

riêng và trong cả nước nói chung tăng dần tỷ trọng qua các năm, năm sau cao hơn nămtrước, đây là dấu hiện đáng ghi nhận vì tình hình xã hội hiện nay đang trên đà lạm pháttăng cao Với việc thu thuế TNCN đã phần nào góp phần hạn chế khoảng cách giữacác tầng lớp trong xã hội, đảm bảo vấn đề về phúc lợi xã hội cho người dân.

1.2 Các yếu tố cơ bản của luật thuế Thu nhập cá nhân

Đối với mỗi quốc gia bất kỳ, hệ thống thuế sẽ bao gồm nhiều loại thuế khác nhautrong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm những mục tiêu khác nhau và có phương pháptính riêng biệt Việt Nam cũng không ngoại lệ, hệ thống thuế bao gồm các yếu tố cơbản sau: Tên gọi, đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, phương pháp tính thuế, thuếsuất và việc quản lý thuế…

1.2.1 Tên gọi

Đây là yếu tố không thể thiếu của bất kỳ loại thuế nào Tên gọi của một sắc thuếthường phản ánh nội dung chính của nó và để phân biệt với những loại thuế khác.Trước đây thuế thu nhập cá nhân có tên gọi là thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao Đến kỳ họp thứ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII đã thông qua luật thuế thu nhập cánhân ngày 21 tháng 11 năm 2007 Luật này quy định về đối tượng nộp thuế, thu nhậpchịu thuế, thu nhập được miễn thuế, giảm thuế và căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân17.Tên gọi của luật thật ngắn gọn, dễ hiểu Chỉ cần đọc vào tên loại thuế là người đọc đãhình dung được phần nào đối tượng nộp thuế của loại thuế này

1.2.2 Đối tượng nộp thuế (người nộp thuế)

Đối tượng nộp thuế là nội dung quan trọng đầu tiên của bất kỳ loại thuế nào, khixác định được đối tượng nộp thuế mới có thể áp dụng phương pháp tính thuế phù hợp.Hiện nay, đa số các nước trên thế giới sử dụng tiêu chí “cư trú” và “không cư trú”

để xác định đối tượng nộp thuế Trên cơ sở xác định cá nhân cư trú, các quốc gia đưa

ra quy định về các khoản thu nhập chịu thuế, thu nhập không chịu thuế Ngoài tiêu chí

cư trú, một số nước điển hình như Hồng Kông không sử dụng tiêu chí cư trú mà sửdụng tiêu chí nguồn phát sinh thu nhập, theo đó cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân ởnước đó đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó

Đối với Việt Nam, việc xác định đối tượng chịu thuế theo thuế thu nhập cá nhânxác định theo tiêu chí cư trú và địa điểm phát sinh thu nhập Đối tượng nộp thuế thunhập cá nhân là cá nhân có đối tượng tính thuế Tuy nhiên, không hẳn chỉ có cá nhânnào có đối tượng tính thuế mới thuộc diện tính thuế

Ví dụ, một cá nhân không kinh doanh lại nhận được những hàng hóa quà tặng từnước ngoài để tiêu dùng vào mục đích cá nhân, nhưng vì hàng hóa nhận được có giá trịcao hơn mức miễn thuế của Chính phủ thì cũng phải nộp thuế nhập khẩu và thuế thunhập cá nhân

Chúng ta cần phân biệt giữa người nộp thuế và người chịu thuế Người nộp thuế

là người đem số tiền phải đóng nộp cho Nhà nước, trong khi đó người chịu thuế làngười có thu nhập bị thuế điều tiết Và thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu dongười nộp thuế cũng chính là người chịu thuế

17 Điều 1 luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007

Trang 20

1.2.3 Thu nhập chịu thuế

Luật thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia trên thế giới sử dụng nhiều tiêu chíkhác nhau để phân loại thu nhập chịu thuế Đa số căn cứ vào nguồn thu nhập để phânloại thành: thu nhập từ lao động, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tài sản, thu nhập

từ đầu tư Căn cứ vào tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh thu nhậpcủa các chủ thể để phân thành thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên Nếuxét theo phạm vi lãnh thổ thì có phát sinh trong nước, phát sinh ngoài nước Tuynhiên, không phải mọi phát sinh thu nhập đều thuộc diện điều chỉnh của thuế thu nhập

cá nhân Tùy theo chính sách thuế thu nhập mà các quốc gia xác định thu nhập chịuthuế làm căn cứ tính thuế Hiện nay có 2 quan điểm về việc xác định thu nhập chịuthuế:

Thứ nhất, thu nhập chịu thuế có thể là toàn bộ thu nhập được tạo ra từ nhiềunguồn thu nhập khác nhau, như: thu nhập từ lao động, thu nhập từ kinh doanh, thunhập từ đầu tư, thu nhập từ tiết kiệm, thu nhập từ trúng số, trúng thưởng

Thứ hai, thu nhập chịu thuế là thu nhập còn lại sau khi đã chiết trừ các khoản liênquan đến gia cảnh của cá nhân, như: chi tiêu cho cá nhân người tạo ra thu nhập chịuthuế, tiền nuôi con chưa đến tuổi trưởng thành Bản thân người viết đồng tình vớiquan điểm thứ nhất Vì thu nhập chịu thuế không hẳn đã là thu nhập tính thuế

Thu nhập chịu thuế là khoản thu nhập của cá nhân được xác định cụ thể theo quyđịnh của pháp luật, và đây cũng chính là một trong những căn cứ quan trọng để tínhthuế đối với thu nhập của cá nhân

Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phânchia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Tuy nhiên, Pháplệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập khôngthường xuyên Trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn Đồng thời, việctính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế.Luật thuế TNCN đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuếtheo nguồn phát sinh thu nhập

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế được chia theo hai đối tượng chịu thuế là:

 Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong vàngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập

 Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tạiViệt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập

Theo đó, thu nhập chịu thuế theo luật thuế thu nhập cá nhân bao gồm18:

Thu nhập từ kinh doanh;

Thu nhập từ tiền lương, tiền công;

Thu nhập từ đầu tư vốn;

Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản;

Thu nhập từ trúng thưởng;

Thu nhập từ bản quyền;

Thu nhập từ nhượng quyền thương mại;

18 Mục II, phần A của Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

Trang 21

Luật thuế thu nhập cá nhân đã mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở

bổ sung một số khoản thu nhập chịu thuế Một số khoản thu nhập trước đây không quyđịnh (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật thuếTNCN gồm: thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng làchứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khácphải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sảncủa cá nhận chỉ có nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế), thu nhập từ casino, thu nhập

từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đâychỉ tính đối với trúng thưởng xổ số và khuyến mại) Tất nhiên, những khoản thu nhậpnày chỉ bị đánh thuế khi thu nhập phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng một hợp đồng/một lần phát sinh) Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quàtặng, có một quy định đáng chú ý là Luật thuế TNCN quy định miễn thuế đối với thunhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi;với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ôngnội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau.Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tưvốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thứckhác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán Tuynhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tíndụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễnthuế TNCN Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻtrong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồng vốn của xãhội

Mở rộng diện điều tiết như trên sẽ góp phần điều tiết công bằng thu nhập của cáctầng lớp dân cư theo hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp

và một số trường hợp đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Đồngthời, bằng quy định mới này, Luật thuế TNCN sẽ góp phần tăng thu cho Ngân sáchNhà nước một cách hợp lí trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế

1.2.4 Phương pháp tính thuế và thuế suất

Mỗi loại thuế đều có phương pháp tính thuế không giống nhau Thuế thu nhập cánhân hiện nay trên thế giới có hai quan điểm tính không giống nhau Đó là tính thuếtrên tổng thu nhập hàng năm của cá nhân và tính thuế thu nhập theo từng khoản thunhập Phương pháp đầu tiên được áp dụng ở các nước phương Tây, theo đó thuế đượctính trên tổng thu nhập tương ứng với tổng số các khoản thu nhập cộng lại Trong khi

đó việc tính thuế theo từng khoản thu nhập thường được áp dụng ở các nước Châu Á(Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam ), nghĩa là thuế thu nhập cá nhân được xác địnhtheo từng nguồn thu nhập Ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau sẽ sử dụng quy tắc

Trang 22

khác nhau để xác định số thuế phải nộp và tính thuế theo thu nhập từng tháng, từngquý hoặc từng năm, hoặc một khoản thời gian nhất định nào đó.

Để xác định thuế thu nhập cá nhân phải nộp cần phải xác định được thu nhập nào

là thu nhập chịu thuế, thu nhập nào không là thu nhập chịu thuế nhân với thuế suất.Thuế suất thuế thu nhập cá nhân có thể được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm(%) xác định hoặc thuế suất lũy tiến từng phần với nhiều bậc khác nhau đối với thunhập từ lao động, tiền lương, tiền công, kinh doanh Chẵng hạn: Thụy Điển chỉ ápdụng hai mức thuế suất là 30% và 50%, và hiện có rất nhiều nước áp dụng mức thuếsuất lũy tiến nhiều bậc như: Pháp có 7 bậc (0%, 8,25%, 21,75%, 31,75%, 41,75%và53,25%), Thái Lan có 5 bậc (0%, 10%, 20%, 30% và 37%), Trung Quốc áp dụng lũytiến 7 bậc từ 3%- 45% đánh trên khoản thu nhập tăng thêm của đối tượng nộp thuế đốivới thu nhập từ đầu tư và thu nhập không thường xuyên, nhiều nước quy định biểuthuế riêng

Đối với Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 của Việt Nam, Việt Nam áp dụng

cả hai cách tính cho hai đối tượng khác nhau và cho từng loại thu nhập khác nhau cómức thuế suất khác nhau

Đối với cá nhân cư trú: nếu là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì tùy vào loại thu

nhập mà Nhà nước đánh mức thuế suất khác nhau cho từng loại thu nhập khác nhau.Đối với khoản thu nhập từ kinh doanh, tiền lương tiền công thì áp dụng biểu thuế lũytiến từng phần, biểu thuế suất lũy tiến được chia thành 7 bậc19

Bậc thuế Phần thu nhập tính

thuế/năm (triệu đồng)

Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng)

Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5

19 Điều 22 luật thuế TNCN năm 2007.

20 Điều 23 luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007.

Trang 23

Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều 13

của Luật thuế TNCN 2007

Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại khoản 2

Điều 13 của Luật thuế TNCN 2007

20 0,1

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 1

Điều 14 của Luật thuế TNCN 2007

Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy định tại khoản 2

Điều 14 của Luật thuế TNCN 2007

25 2

Riêng đối với cá nhân không cư trú tại Việt Nam nếu có thu nhập phát sinh tại

Việt Nam sẽ đóng thuế thu nhập với mức thuế suất khác nhau cho từng loại thu nhậpkhác nhau, cụ thể được quy định từ điều 25 đến điều 31 của luật thuế thu nhập cá nhânnăm 2007 Cá nhân không cư trú phải nộp với mức thuế suất thấp nhất là 0.1% đối vơithu nhập từ chuyển nhượng vốn và mức thuế suất cao nhất mà cá nhân không cư trúphải nộp vào Ngân sách Nhà nước là 20% đối với các khoản thu nhập từ tiền lương,tiền công21

1.2.5 Quản lý thuế

Việc quản lý thuế ngày càng trở thành vấn đề quan trọng của các quốc gia trênthế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Quản lý thuế liên quan đến nhữngyêu cầu về kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và tổ chức công tác hànhchính thuế Những vấn đề này được quy định chặt chẽ trong luật để các chủ thể trongnền kinh tế tuân thủ một cách nghiêm ngặt, giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ việchành thu ở các cấp từ trung ương đến địa phương, tránh việc thất thu thuế

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều hướng việc qủan lý thuế theo hướng tự

kê khai, tự nộp Mỗi cá nhân dù có thu nhập chịu thuế hay không có thu nhập chịuthuế đều phải đăng ký mã số thuế với cơ quan thuế hoặc thông qua cơ quan chi trả thunhập Các thao tác trong ngành thuế đã được tin học hóa, hệ thống cơ sở dữ liệu tậptrung được xây dựng, nhiều giải pháp công nghệ thông tin đã được ứng dụng giúp đơngiản hóa các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế Hiện nay, việc đăng

ký thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam đã được Bộ Tài Chính đưa vào website:www.tncnonline.com.vn Các tổ chức, cá nhân chỉ việc truy cập vào website và tải vềphần mềm (gồm các tài liệu, phần mềm và hướng dẫn quy trình kê khai thuế) đăng ký

mã số thuế cá nhân, cập nhật các thông tin đăng ký thuế vào phần mềm theo hướngdẫn sử dụng của chương trình rồi gửi lại cho cơ quan thuế cũng tại website này Sau

đó, cơ quan thuế sẽ gửi phản hồi cho doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất22

1.3 Hoạt động hành nghề độc lập

Đại hội VI với đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, Đảng ta đã khẳng định nền kinh tế của đất nước là nền kinh tế nhiều thành phầntồn tại lâu dài Cụ thể hóa một bước quan trọng tư tưởng cơ bản này, Nghị quyết Hộinghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã khẳng định: Chính sách phát

21 Tham khỏa từ điều 25 đến điều 31 của Luật Thuế TNCN năm 2007.

22 Nguồn Theo Tổng cục Thuế, cập nhật tại website: nhan-qua-internet.html.

Trang 24

http://tamnhinviet.vn/tintuc/72-dang-ky-thue-thu-nhap-ca-triển nền kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sảnxuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và thể hiện tinh thần dân chủ nền kinh tế.Theo tinh thần này, tư nhân dược phép kinh doanh không hạn chế về quy mô và địabàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm23.

1.3.1 Địa vị pháp lý của cá nhân hành nghề độc lập

1.3.1.1 Địa vị pháp lý

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) của Đảng cộng sảnViệt Nam có vai trò đột phá, tạo ra bước ngoặc mới trong quá trình đổi mới ở ViệtNam Đại hội quyết định phải chuyển nền kinh tế nước ta sang hạch toán kinh doanh

xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ Đại hội VI chủ trương đẩymạnh xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, từng bước gắn liền thị trường nước ta với thịtrường quốc tế24 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) tiếp tụckhẳng định và phát triển đường lối đổi mới kinh tế do Đại hội VI đề ra: xây dựng vàphát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựachọn phù hợp với quy luật khách quan Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Hiến pháp

năm 1992, tại điều 15 quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất,

kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” Cơ cấu kinh tế Nhà nước có

phần thay đổi so với trước đó25 Và trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 200126 đã khẳngđịnh nước ta có nền kinh tế thị trương nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa

Với những bước tiến nêu trên đã là tiền đề cho nền kinh tế tự chủ của bản thân,kinh tế tư nhân ngày một phát triển mạnh và chính điều đó làm phát sinh thêm nhiềungành nghề mới (nghề luật sư, nghề kiểm toán độc lập gọi chung là cá nhân hànhnghề độc lập)

1.3.1.2 Điều kiện hành nghề của một số nghề hoạt động độc lập điển hình

Như đã trình bày, hiện nay cá nhân hoạt động trong lĩnh vực hành nghề độc lậprất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhau như: luật sư, hoạt động hành nghề khámchữa bệnh, hành nghề kế toán, kiểm toán độc lập, hành nghề trong lĩnh vực xây dựngnhư kiến trúc sư, kỹ sư, giám sát công trình,… Tuy nhiên, không phải ai cũng có thểhoạt động với những ngành nghề cá nhân muốn mà các cá nhân này phải thỏa một sốđiều kiện nhất định thì mới được cấp phép hoạt động, và cũng có một số ngành nghề

23 Lê Khắc Triết, Đổi mới và phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam thực trạng và giải pháp, Nxb Lao Động,

tr11-12.

24 Văn kiện Đại hội VI của Đảng.

25 Điều 18 Hiến pháp 1980: “Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên”.

26 Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến

pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

Trang 25

quy định hạn chế đối tượng tham gia Sau đây, người viết tìm hiểu điều kiện của một

số ngành nghề cụ thể trong lĩnh vực này

1.3.1.2.1 Nghề luật sư

Nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật củamình, độc lập thực hiện các hoạt động tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi hợp phápcho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp,nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa27 Tuy nhiên, để một cá nhân có thể hànhnghề luật sư ngoài việc cá nhân đó đã tốt nghiệp cử nhân luật thì cần phải có chứng chỉhành nghề luật sư do Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và gianhập một đoàn Luật sư Điều kiện để được cấp chúng chỉ hành nghề luật sư được quyđịnh tại điều 11 luật Luật sư năm 2006 Điều kiện đó là: “Người có đủ tiêu chuẩn sauđây muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhậpmột Đoàn luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp vàpháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật

sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luậtsư”28

1.3.1.2.2 Hành nghề khám, chữa bệnh:

Người Việt Nam xin cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh (Bác sỹ, y sỹ;Điều dưỡng viên; Hộ sinh viên; Kỹ thuật viên; Lương y; Người có bài thuốc giatruyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền) cần phải có các điều kiện sau29:

 Có một trong các văn bằng, giấy chứng nhận sau đây phù hợp với hình thứchành nghề khám bệnh, chữa bệnh: (Văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế được cấphoặc công nhận tại Việt Nam; giấy chứng nhận là lương y hoặc giấy chứng nhận làngười có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền)

 Có văn bản xác nhận quá trình thực hành, trừ trường hợp là lương y, người cóbài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền

Có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

 Không thuộc trường hợp đang trong thời gian bị cấm hành nghề, cấm làmcông việc liên quan đến chuyên môn y, dược theo bản án, quyết định của Tòa án; đang

bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang trong thời gian chấp hành bản án hình sự, quyếtđịnh hình sự của tòa án hoặc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào

cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáotrở lên có liên quan đến chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh; mất hoặc hạn chế nănglực hành vi dân sự

Điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh tại Việt Nam đối vớingười nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài30: Ngoài việc đáp ứng các

Trang 26

yêu cầu giống như đối với người Việt Nam thì cần điều kiện bổ sung điều kiện đáp ứngyêu cầu về sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của phápluật, có lý lịch tư pháp được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại xác nhận và cógiấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấptheo quy định của pháp luật về lao động.

Thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề31: Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại và thuhồi chứng chỉ hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc

Bộ Y tế; người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các bộ khác, trừ trườnghợp do Giám đốc Sở Y tế cấp (đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnhtrên địa bàn quản lý trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc cấpchứng chỉ hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộcthẩm quyền quản lý)

1.3.1.2.3 Hành nghề kế toán, kiểm toán

Hành nghề kế toán: cá nhân hành nghề kế toán phải có chứng chỉ hành nghề kế

toán, chứng chỉ hành nghề kế toán được cấp khi cá nhân đạt yêu cầu sau32:

Đối với Công dân Việt Nam được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán phải có cáctiêu chuẩn và điều kiện sau đây: Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêmkhiết, có ý thức chấp hành pháp luật (trừ Người chưa thành niên; người bị hạn chếhoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang phải đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữabệnh hoặc bị quản chế hành chính hoặc người đang bị cấm hành nghề, cấm làm kếtoán theo bản án hoặc quyết định của Tòa án; người đang bị truy cứu trách nhiệm hìnhsự; người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án về một trong các tội vềkinh tế, về chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán mà chưa được xóa án tích) cóchuyên môn, nghiệp vụ về tài chính, kế toán từ trình độ đại học trở lên và thời giancông tác thực tế về tài chính, kế toán từ năm năm trở lên và phải đạt kỳ thi tuyển do cơquan nhà nước có thẩm quyền tổ chức

Người nước ngoài được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán phải có các tiêu chuẩn

và điều kiện sau đây: được phép cư trú tại Việt Nam; có chứng chỉ chuyên gia kế toánhoặc chứng chỉ kế toán do tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế về kế toán cấpđược Bộ Tài chính Việt Nam thừa nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật kinh tế, tàichính, kế toán Việt Nam do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức

Chứng chỉ hành nghề kế toán do Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp33

Kiểm toán viên hành nghề: ngoài việc là kiểm toán viên, khi kiểm toán viên

muốn hành nghề cần phải có các điều kiện có thời gian thực tế làm kiểm toán từ đủ bamươi sáu tháng trở lên và tham gia đầy đủ chương trình cập nhật kiến thức

1.3.1.2.4 Hành nghề giám sát công trình

Căn cứ vào quyết định số 12/2005/QĐ-BXD về việc ban hành quy chế cấp chứngchỉ hành nghề giám sát công trình ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Xâydựng, cá nhân muốn hành nghề giám sát công trình phải đăng ký cấp chứng chỉ khi

Trang 27

đảm bảo các điều kiện sau34:

 Có quyền công dân và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

 Có trình độ chuyên môn đại học trở lên thuộc chuyên ngành phù hợp

 Đã trực tiếp tham gia thiết kế, thi công xây dựng hoặc giám sát thi công xâydựng công trình ít nhất 05 năm

 Có chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ giám sát thi công xây dựng công trình

do sở đào tạo được Bộ Xây dựng công nhân theo pháp luật

 Có đạo đức nghề nghiệp tốt, chưa có hành vi gây sự cố, hư hỏng, làm giảmchất lượng công trình trong công tác giám sát thi công xây dựng

 Có sức khỏe đảm nhận công tác trên hiện trường

Trên đây là một số điều kiện để cá nhân có thể hành nghề độc lập Đây chỉ làmột số nghề độc lập điển hình cụ thể Bên cạnh những nghề được nêu trên thì đốitượng hoạt động hành nghề độc lập hiện rất đa dạng với nhiều ngành nghề khác nhaunhư: Nhạc sĩ, ca sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư… Do giới hạn đề tài có hạn nên người viết chỉnêu lên một số nghề điển hình trên

1.3.2 Cá nhân hành nghề độc lập trong luật thuế thu nhập cá nhân

Do đất nước đang trong quá trình hội nhập, nền kinh tế thị trường nên có rấtnhiều ngành nghề phát triển Trình độ người dân được nâng lên đáng kể, nhu cầu xãhội cao nên việc làm thêm của cá nhân là một việc tất yếu Hơn thế nữa, do kinh tế nênnhiều người không thích làm việc trong môi trường phụ thuộc người khác (làm công

ăn lương) mà muốn tự mình thực hiện công việc, tự làm chủ bản thân mình nên đãxuất hiện rất nhiều ngành nghề của cá nhân hoạt động một cách tự chủ, riêng lẻ Vìvậy việc quản lý và thu thuế của các đối tượng nêu trên ngày một khó khăn và phứctạp

Theo điểm b, khoản 1, điều 3 Luật thuế TNCN thì cá nhân hành nghề độc lập baogồm cá nhân có giấy phép hành nghề hoặc có chứng chỉ hành nghề theo quy định củapháp luật

Cá nhân hành nghề độc lập có chứng chỉ hoặc giấy phép hành nghề theo quy địnhcủa pháp luật có hoặc không có văn phòng, địa điểm hành nghề cố định thuộc đốitượng kinh doanh (trừ người làm công ăn lương) phải đăng ký nộp thuế thu nhập cánhân với cơ quan thuế như: bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, hoạ sĩ, kiến trúc sư,nhạc sĩ và những người hành nghề độc lập khác

Theo Thông tư số 133/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 31 tháng 12 năm

2004 về hướng dẫn thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì “Thu nhập từhoạt động ngành nghề độc lập là thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú củaNước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ hoạt động độc lập để cung ứng cácdịch vụ ngành nghề như dịch vụ khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giảngdạy, cụ thể là hoạt động hành nghề độc lập của các bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư,nha sĩ, kế toán và kiểm toán viên”35 Tuy nhiên, Thông tư này điều chỉnh các đối tượng

là đối tượng cư trú của Việt Nam hoặc của nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặcđồng thời là đối tượng cư trú của cả Việt Nam và nước ký kết Hiệp định với Việt Nam

34

Điều 6 Quyết định số 12/2005/QĐ-BXD Quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ngày 18 tháng 4 năm 2005.

35 Điểm 1, mục IX, phần B Thông tư số 133/2004/TT-BTC.

Trang 28

Hiện nay, số lượng bác sĩ mở phòng mạch tư, luật sư mở văn phòng luật, ca sĩbiểu diễn trong và ngoài nước, kế toàn ngoài giờ làm việc còn làm thêm như giúp một

số doanh nghiệp kê khai thuế ngày càng nhiều Cho nên, việc đưa các đối tượng nàyvào đồi tượng chịu thuế TNCN là việc làm cần thiết nhằm động viên một phần thunhập của các đối tượng này vào Ngân sách Nhà nước và thống nhất quản lý các đốitượng chịu thuế theo Luật thuế TNCN

1.4 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

Thuế thu nhập cá nhân đã có lịch sử hàng trăm năm và hiện nay đã trở thành loạithuế phổ biến trên Thế giới Có thể nói đối với hầu hết các quốc gia, thuế thu nhập cánhân được xem như là “vua” của các loại thuế Không chỉ bởi nguồn thu khổng lồ của

nó trong tổng Ngân sách để phục vụ cho việc vận hành bộ máy hành chính Nhà nước,đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã hội mà sự ra đời của sắc thuế TNCN còn gópphần quan trọng trong việc điều tiết phân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xemxét đến hoàn cảnh cụ thể của người nộp thuế

Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Vươngquốc Anh vào năm 1799, Đức áp dụng năm 1808 Hoa Kỳ áp dụng loại thuế nàymuộn hơn nhưng cũng từ năm 1864 Các nước châu Âu còn lại và Úc, Newzealand,Nhật Bản cũng áp dụng thuế TNCN vào nửa cuối thế kỹ 19 Các nước châu Á như:Thái Lan áp dụng năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm

1949, Trung Quốc năm 1984; Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổinhư Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992 cho đến nay đã có 180nước áp dụng thuế 36 Ở Việt Nam thuế TNCN được Quốc hội thông ngày 21 tháng 11năm 2007 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009

1.4.1 Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan 37

Thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan đánh theo cả tiêu chí cư trú và tiêu chí nguồnphát sinh thu nhập Tất cả các cá nhân cư trú và không cư trú có thu nhập phát sinhtrên lãnh thổ Thái Lan đều phải nộp thuế TNCN Cá nhân được xem là cư trú tại TháiLan nếu cá nhân đó có mặt tai Thái Lan từ 180 ngày trở lên trong một năm dương lịchthì phải nộp tất cả các thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Thái Lan

1.4.1.1 Đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế ở Thái Lan được chia thành các nhóm: cá nhân tự nhiên; mộtnhóm cá nhân nhưng không thành lập pháp nhân; một nhóm đăng ký kinh doanhnhưng không đăng ký thành lập doanh nghiệp; một người đã chết mà thu nhập và tàisản tính thuế vẫn xác định được trong năm họ chết

1.4.1.2 Thu nhập chịu thuế

Các khoản thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ tiền lương, tiền công; thunhập có bản chất như tiền lương, tiền công; thu nhập từ bản quyền, từ tài sản vô hình,bằng sáng chế, bằng phát minh, tiền nhuận bút và các quyền tài sản khác; thu nhập có

36http://gdt.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/04_sj9cpykssy0xplmnmz0vmafgjzokda72dw7zddazca02mddxd3b2c_ijc du1ctpulsh0vaxb8ofi!/?wcm_global_context=/gdt+content/sa_gdt/sa_news/sa_news_tax/100113_136864.

37 PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, TS Lê Xuân Trường, Hệ thống thuế một số nước Asean và Trung Quốc,

Nxb Tài Chính, năm 2007.

Trang 29

bản chất là tiền lãi cho vay, cổ tức, thu nhập từ đầu tư, tiền lãi từ vốn góp, lãi từ muabán hoặc chuyển nhượng cổ phiếu; thu nhập từ cho thuê tài sản, tiền lãi từ hợp đồngbán trả góp hoặc hợp đồng cho thuê mua tài sản; thu nhập từ hợp đồng làm việc trongtrường hợp người nhận thầu cung cấp các nguyên liệu chính và công cụ sản xuất; thunhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ kinh doanh, thương mại, nôngnghiệp, công nghiệp, vận tải hoặc bất kỳ hợp đồng kinh doanh khác ngoài các lĩnh vựctrên; ngoài ra hoạt động của các cá nhân hành nghề một cách độc lập như luật sư, kỹ

sư, kiến trúc sư và kiểm toán ở Thái Lan cũng bị đánh thuế như ỏ Việt Nam, nghĩa là

nó cũng thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân ở Thái Lan

1.4.1.3 Các khoản giảm trừ gia cảnh và trợ cấp

Các khoản giảm trừ gia cảnh và trợ cấp bao gồm: giảm trừ bản thân đối tượngnộp thuế: 30.000 bath38; giảm trừ cho vợ (chồng) người nộp thuế là 30.000 bath; giảmtrừ cho con là 15.000 bath; phí bảo hiểm nhân thọ của vợ (chồng) không quá 10.000bath; lãi vay để mua nhà không vượt quá 40.000 bath (mỗi ngôi nhà không được vượtquá 10.000 bath); đóng góp quỹ dự phòng lương hưu tối đa không được quá 290.000bath; gia sản người chết 30.000 bath; mỗi thành viên đóng góp kinh doanh khôngthành lập công ty sống ở Thái Lan mỗi người là 30.000 bath nhưng không được quá60.000 bath Bên cạnh đó, thuế TNCN Thái Lan cũng quy định giảm trừ đối với một

số khoản chi phí phát sinh từ thu nhập tiền lương, tiền công, dịch vụ, bản quyền, chothuê tài sản nhưng phải có giấy tờ chứng minh hợp lý và cần thiết hoặc những phátsinh chi phí trên không nằm trong nhóm không được trừ do Bộ luật thu nhập của TháiLan quy định

1.4.1.4 Thuế suất

Thuế TNCN ở Thái Lan đánh vào thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí vàđược tính thuế căn cứ vào bảng lũy tuyến từng phần

Thu nhập tính thuếTrên (bath) Không quá (bath)

1.4.2 Thuế thu nhập cá nhân ở Trung Quốc 39

Trung Quốc ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân vào năm 1984 và sửa đổi bổ

38 Đơn vị tiền tệ của Thái Lan, 1 bath (THB) bằng 678.24 [truy cập lúc11 giờ 28 phút ngày 13/01/2012 trên http://www.vinanet.com.vn].

39

http://translate.google.com.vn/translate?hl=vi&langpair=en|vi&u=http://en.wikipedia.org/wiki/Tax_rates_aro und_the_world , [truy cập ngày 14/01/2012].

Trang 30

sung năm 2001 Và mới đây, Trung Quốc tiếp tục sửa đổi luật này và luật sửa đổi bổsung có hiệu lục từ tháng 9 năm 2011.

1.4.2.1 Đối tượng nộp thuế

Bất kỳ cá nhân nào định cư ở Trung Quốc hoặc không định cư ở Trung Quốcnhưng đã cư trú tại Trung Quốc trong một năm hoặc nhiều hơn phải nộp thuế thu nhập

cá nhân trong tổng số thu nhập của mình Đối với cá nhân mặc dù không định cư vàcũng không thường trú tại Trung Quốc hoặc những người đã cư trú tại Trung Quốc màthời gian cư trú ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho các thu nhập từTrung Quốc

1.4.2.2 Các khoản chịu thuế, không chịu thuế và thuế suất

Theo Luật thuế TNCN Trung Quốc, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân baogồm các khoản: thu nhập từ tiền công, tiền lương; thu nhập từ sản xuất kinh doanh; thunhập về cho thuê tài sản; thu nhập về chuyển nhượng tài sản; thu nhập từ kinh doanhchứng khoán; thù lao dịch vụ; Thu nhập từ nhuận bút; thu nhập về chi phí sử dụngquyền đặc biệt; thu nhập về lãi cho vay, cổ tức, hoa hồng; thu nhập ngẫu nhiên; thunhập khác

Ngoài ra ở Trung Quốc cũng quy định rất rõ các khoản thu nhập không phải chịuthuế thu nhập cá nhân đó là: Tiền thưởng…Lợi tức tiền gửi tiết kiệm, lợi tức trái phiếu

do Bộ Tài chính cho phép phát hành và trái phiếu tín dụng do Quốc vụ viện cho phépphát hành Tiền phụ cấp, trợ cấp được chính quyền phát cho theo quy định của Quốc

vụ viện và tiền phụ cấp, trợ cấp được Quốc vụ viện quy định miễn thuế Tiền phúc lợi,tiền dưỡng lão, tiền cứu tế Tiền bồi thường bảo hiểm Tiền chuyển ngành, tiền phụcviên của quân nhân Tiền được Nhà nước quy định thống nhất phát cho cán bộ viênchức về ổn định chỗ ở, thôi việc, lương hưu Thu nhập của các đại diện ngoại giao,nhân viên lãnh sự và các nhân viên khác thuộc các đại sứ quán, lãnh sự quán tại TrungQuốc, được miễn thuế theo Luật pháp hữu quan quy định Thu nhập được quy địnhmiễn thuế trong các công ước quốc tế, các hiệp định ký kết mà Chính phủ Trung Quốctham gia Thu nhập được ngành tài chính cho phép miễn thuế40

A Tiền lương: Áp dụng biểu tính thuế bảy bậc thể hiện trong bảng dưới đây:

Thu nhập tính thuế (thu nhập

hàng tháng)Bậc

Trên Không quá

Thuế suất(%)

Khấu trừ(RMB)

Trang 31

6 55000 RMB 80000 RMB 35 5505

Công thức để tính toán số thuế phải nộp là:

Thu nhập chịu thuế hàng tháng =tiền lương tổng hợp hàng tháng – số tiền đượckhấu trừ

Số tiền thuế phải nộp hàng tháng = thu nhập chịu thuế hang tháng (x) thuế suất.Mức thuế thu nhập cá nhân cho đến tháng 8 năm 2011

Thuế thu nhập cá nhân hàng tháng

Bậc

Trên Không quá Thuế suất (%)

Khấu trừ(RMB)

B Thu nhập từ hộ gia đình hoặc thu nhập từ hoạt động kinh doanh

Đối với hộ gia đình cá nhân sản xuất hoặc thu nhập từ hoạt động kinh doanh, sốthuế phải nộp được tính trên cơ sở của sự cân bằng của tổng sản lượng hàng năm vàthu từ hoạt động kinh doanh sau khi khấu trừ các chi phí liên quan, chi phí và tổn thất

và bằng cách áp dụng năm bậc mức thuế lũy tiến được liệt kê trong bảng dưới đây.Thuế thu nhập cá nhân

Thu nhập chịu thuế hàng năm

Bậc

Trên Không quá

Thuế suất (%) Khấu trừ

Công thức tính toán số thuế phải nộp là:

Thu nhập chịu thuế hàng năm = Tổng thu nhập hàng năm của sản xuất / kinhdoanh - Chi phí, thiệt hại

Thuế phải nộp trong năm = Thu nhập chịu thuế hàng năm × áp dụng thuế suấtthuế khấu trừ nhanh

C Thu nhập từ hoạt động khoán, cho thuê của doanh nghiệp, tổ chức Thu nhập

từ hoạt động khoán, cho thuê của doanh nghiệp, tổ chức bị đánh thuế trên cơ sở của sựcân bằng của tổng thu nhập hàng năm sau khi khấu trừ các chi phí cần thiết (hiện tại

800 nhân dân tệ mỗi tháng) và bằng cách áp dụng mức thuế suất phù hợp trong Biểu

Trang 32

thuế thu nhập cá nhân ở trên.

D Thù lao dịch vụ cá nhân, thù lao của tác giả, nhuận bút, thu nhập từ cho thuêtài sản

Các thu nhập thù lao cho dịch vụ cá nhân, thù lao của tác giả, bản quyền và thunhập từ cho thuê tài sản được đánh thuế trên cơ sở số tiền còn lại của thu nhập sau khikhấu trừ 800 nhân dân tệ khi mỗi lần trả thu nhập là không hơn 4.000 nhân dân tệ hoặctrên cơ sở số tiền còn lại của thu nhập sau khi khấu trừ 20% thu nhập là chi phí khimỗi lần thanh toán thu nhập của hơn 4.000 nhân dân tệ và bằng cách áp dụng tỷ lệ20% Công thức đó là:

Thu nhập chịu thuế = giá trị của mặt hàng chịu thuế - 800 nhân dân tệ (hoặc 20%tổng giá trị các mặt hàng chịu thuế)

Số tiền thuế thu nhập chịu thuế phải nộp = Thu nhập chịu thuế(x)20%

E.Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản

Các cơ sở thuế là số dư của quá trình thu được từ chuyển nhượng tài sản sau khitrừ giá trị ban đầu của tài sản và các chi phí hợp lý tỷ lệ là 20% Công thức để tính sốthuế phải nộp là:

Thu nhập chịu thuế = lợi nhuận từ chuyển nhượng bất động sản - giá trị tàisảnban đầu - Chi phí hợp lý

Số tiền thuế thu nhập chịu thuế phải nộp = Thu nhập chịu thuế (x) 20%

F Tiền lãi, cổ tức, tiền thưởng và thu nhập không thường xuyên

Thuế suất, cổ tức, tiền thưởng, thu nhập không thường xuyên và thu nhập khác làdựa trên từng nhận được thu nhập với tỷ lệ 20% Công thức để tính thuế thu nhập phảinộp là:

Thuế phải nộp = Toàn bộ số tiền nhận được (×) 20%

1.4.3 Nhật Bản

1.4.3.1 Đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là: những cá nhân cư trú và không cư trú tạiNhật Bản: cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từ lâu hay đã và đangđịnh cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ một năm trở lên Cá nhân không cưtrú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trú tại Nhật dưới một năm

1.4.3.2 Thu nhập chịu thuế

Các khoản thu nhập nằm trong diện nộp thuế của Nhật Bản gồm 10 khoản chính:thu nhập từ công việc lao động; thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu nhập do buônbán bất động sản; thu nhập từ tiền lãi cổ phần; thu nhập từ lợi tức; thu nhập từ cáckhoản hưu trí; thu nhập từ buôn bán gỗ; thu nhập từ các khoản vốn; thu nhập bấtthường; thu nhập khác

Thuế thu nhập cá nhân của Nhật bản chiếm tỹ trọng 30% của tổng số thu từ cácloại thuế Trong tổng số tiền thuế thu nhập cá nhân thu được thì 82% tiền thuế được kêkhai nộp theo phương pháp khấu trừ tại nơi trả thu nhập; 18% thuế thu nhập cá nhân

kê khai Các khoản thu nhập áp dụng thuế khấu trừ tại nơi trả thu nhập là: tiền lương;trợ cấp thôi việc; tiền lương hưu; lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay; lợi tức cổ phần; tiền thùlao và các khoản khác Vào thời điểm đầu năm 2011 số lượng người có thu nhập từtiền lương ở Nhật bản là sáu mươi triệu, trong đó có bốn mươi hai triệu người có thu

Trang 33

nhập chịu thuế khấu trừ tại nơi trả thu nhập, cuối năm khai thuế điều chỉnh Số ngườihoàn thuế hàng năm khoảng mười triệu người41.

1.4.3.3 Thuế suất

Trong luật thuế TNCN của Nhật Bản biểu thuế luỹ tiến từng phần chỉ quy địnhchia làm 3 mức Với thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 37% Như vậy thu nhậpchịu thuế sẽ rơi vào khoảng 3.300.000JPY42~ 30.000USD đến mức cao nhất làtrên18.000.000JPY ~160.000USD Có thể nói tính đến trước thời điểm sóng thần và sự

cố nhà máy điện nguyên tử xảy ra thì mức thuế TNCN của đất nước mặt trời mọc này

có thể coi là mức cao nhất trong các nước Đông Nam Á43

Nhận xét chung: Thông qua việc nghiên cứu thuế TNCN một số nước trên thếgiới có thể nhận thấy rằng luật thuế TNCN ở Việt Nam có sự tương đồng với quy địnhcủa các nước trên thế giới như đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế nói chung vàhoạt động hành nghề độc lập của cá nhân nói riêng Từ đó cho thấy sự nỗ lực cải cáchpháp luật về thuế của Việt Nam đã theo xu hướng chung của pháp luật về thuế của thếgiới Đồng thời, đảm bảo tâm lý cho những đối tượng là cá nhân nước ngoài đến sinhsống, làm việc và đầu tư tại đất nước Việt Nam Thông qua đó, nó còn tạo nguồn thuđáng kể cho Ngân sách Nhà nước

41

Huế Hằng (Tổng hợp), thuế thu nhập cá nhân một số nước trên thế giới, lấy từ http://phaply.net.vn.

42 Đơn vị tiền tệ của Nhật Bản, 1JPY bằng 277.35 VND, truy cập tại http://www.vinanet.com.vn/ lúc 7 giờ 30 phú ngày 14/01/2012

43 Huế Hằng (Tổng hợp), thuế thu nhập cá nhân một số nước trên thế giới, lấy từ http://phaply.net.vn

Trang 34

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ ĐỘC LẬP

Như trên đã phân tích thì cá nhân hành nghề độc lập sẽ phải đóng thuế thu nhập

cá nhân theo khoản thu nhập chịu thuế từ kinh doanh Vì thế, việc tìm hiểu các quyđịnh của pháp luật về thuế của cá nhân này cũng chính là tìm hiểu quy định về thuếcủa cá nhân có thu nhập từ kinh doanh nói chung Trong phần này, người viết đi sâuvào tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cá nhân hành nghềđộc lập thì phải đóng thuế ra sao, đóng thuế ở đâu và bằng cách nào? Tìm hiểu xem họ

có được hưởng những khoản ưu đãi nào không, trình tự thủ tục quy định ra sao theopháp luật Việt Nam

2.1 Đối tượng nộp thuế

Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao sử dụng tiêu chí quốctịch và địa điểm phát sinh thu nhập để xác định đâu là đối tượng nộp thuế Theo đó,đối tượng nộp thuế là cá nhân thỏa mãn một trong ba điều kiên: là công dân Việt Namhoặc cư trú tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

Luật thuế thu nhập cá nhân không sử dụng yếu tố quốc tịch mà áp dụng tiêu chínơi cư trú và địa điểm phát sinh thu nhập để làm căn cứ xác định đối tượng nộp thuếthu nhập cá nhân Theo điều 2 của luật thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế đượcchia thành hai loại là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

Cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú theo quy định của pháp luật về thuế thunhập cá nhân tại điểm 4, mục I, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC bao gồm44:

 Cá nhân có quốc tịch Việt Nam kể cả cá nhân được cử đi công tác, lao động,học tập ở nước ngoài có thu nhập chịu thuế

 Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng có thu nhập chịuthuế, bao gồm: người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; người nước ngoài không hiệndiện tại Việt Nam nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam

2.1.1 Cá nhân cư trú

Việc xác định đâu là cá nhân cư trú đã được quy định tại điều 2 của Luật Thuếthu nhập cá nhân và điều 2 của Nghị định số 100/2008/NĐ-CP Nghị định của ChínhPhủ ngày 08 tháng 9 năm 2008 (Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuếthu nhập cá nhân năm 2007 – sau đây gọi là Nghị định 100/2008/NĐ-CP) Tuy nhiên,

để hiểu cụ thể hơn thì ngày 30 tháng 9 năm 2008 Bộ Tài Chính đã tiếp tục ban hànhThông tư số 84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật Thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CPngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cánhân (sau đây gọi là Thông tư 84/2008/TT-BTC) Tại khoản 1 mục I phần A của Thông

tư quy định cá nhân cư trú là cá nhân đáp ứng một trong các điều kiện sau đây45:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặctrong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Trong đó, ngày đến vàngày đi được tính là 01 (một) ngày Ngày đến và ngày đi được xác định căn cứ vào

44 Điểm 4, mục I, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

45 Điểm 1 mục I phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC.

Trang 35

chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành)của cá nhân đó khi đến và khi rời Việt Nam Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trongcùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Trường hợp người nước ngoài có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên sẽ là đốitượng cư trứ chỉ được xét trong 01 (một) năm dương lịch, không có giá trị đến nămsau Giả sử năm 2010, A – là người nước ngoài thỏa mãn điều kiện có mặt tại ViệtNam trên 183 ngày là đối tượng cư trú, nhưng năm 2011 A có mặt tại Việt Nam dưới

183 ngày thì điều kiện “có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên là đối tượng cư trú” sẽkhông được xem xét

Trong trường hợp người nước ngoài có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày tínhtrong năm dương lịch nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tạiViệt Nam là từ 183 ngày trở lên thì năm tính thuế đầu tiên được xác định cho đốitượng cá nhân cư trú là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Từnăm thứ 2 trở đi, năm tính thuế tính theo năm dương lịch Tương tự như trường hợptrên, nếu cá nhân là người nước ngoài trong năm tiếp theo không đảm bảo đủ điều kiện

là cá nhân cư trú thì họ bị xem là cá nhân không cư trú

Ví dụ: A là cá nhân người nước ngoài, làm việc hành nghề độc lập tại Việt Nam(kế toán, y sĩ, bác sĩ…), ngày 01/01/2010 đến Việt Nam, trong quá trình làm việc tạiViệt Nam tính đến ngày 01/01/2011, số ngày mà A có mặt tại Việt Nam trên 183 ngày,thì A đủ điều kiện “có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong 12 tháng liên tụcnhưng đến hết tháng 04/2011 A về nước Vậy năm tính thuế đầu tiên từ tháng 01/2010đến tháng 01/2011 A được xem là đối tượng cư trú, tháng 2, tháng 3 và tháng 4/2011thì A phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo đối tượng là cá nhân cư trú Tuy nhiên, do A

về nước vào cuối tháng 4/2011 không đủ điều kiện có mặt tại Việt Nam từ 183 ngàytrở lên trong năm dương lịch (chỉ xét ở điều kiện này) thì mặc dù tháng 01/2011 thuếthu nhập cá nhân của A được quyết toán là cá nhân cư trú nhưng đến tháng 02, tháng 3

và tháng 4/2011 thì thuế thu nhập cá nhân của A lại được quyết toán là cá nhân không

cư trú, A sẽ được hoàn thuế nếu phần tạm khấu trừ đã nộp thừa và phải nộp bổ sungnếu số thuế tạm khấu trừ còn thiếu46

Cá nhân có mặt tại Việt Nam là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ ViệtNam

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

b1) Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú:

 Đối với công dân Việt Nam: nơi ở đăng ký thường trú là nơi công dân sinh sốngthường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký cư trútheo quy định của Luật cư trú

 Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên của người nước ngoài là nơiđăng ký và được ghi trong thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyềnthuộc Bộ Công an cấp

b2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thờihạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

46 Theo điểm 1.1, khoản 1, mục VI, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính và công văn 2094/TCT-TNCN ngày 20/6/2011 về chính sách thuế thu nhập cá nhân.

Trang 36

 Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở được đăng ký thường trú, hoặc không đượccấp thẻ thường trú, thẻ tạm trú theo hướng dẫn nêu trên, nhưng có tổng số ngày thuênhà theo hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng thuộc đối tượng là

cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê ở nhiều nơi

 Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhàtrọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan, không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sửdụng lao động thuê cho người lao động

Theo thông lệ quốc tế thì điều kiện cá nhân thuê nhà để ở tại Việt Nam với thờihạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên là đối tượng cư trú chỉ áp dụng trong trườnghợp cá nhân đó không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào Nếu ở ViệtNam trên 90 ngày và dưới 183 ngày trong năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục

kể từ ngày đến Việt Nam nhưng chứng minh được là đối tượng cư trú của một nướckhác thì cá nhân đó vẫn là đối tượng không cư trú tại Việt Nam47

2.1.2 Cá nhân không cư trú

Ví dụ: Ông Kamoro, quốc tịch Nhật Bản tham gia trong chương trình viện trợkhông hoàn lại ODA tại Việt Nam, Ông đã ra vào Việt Nam trong năm 2010 nhiều lầnvới tổng thời gian cư trú tại Việt Nam là 160 ngày, năm 2011 Ông không đến ViệtNam Như vậy, ông Kamoro thuộc đối tượng không cư trú tại Việt Nam và chỉ nộpthuế thu nhập cá nhân mà ông đã thực nhận tại Việt Nam

Theo điểm 2, mục I, phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC thì cá nhân không cư trú

là cá nhân không đáp ứng điều kiện của cá nhân cư trú

2.1.3 Sự khác biệt giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú

Sự khác nhau trước tiên giữa cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú là vấn đề cưtrú bao gồm thời gian cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và có nơi ở thường xuyên tại Việt

Nam (đã trình bày trong phần 2.1.1 và 2.1.2) Bên cạnh đó, giữa hai đối tượng này còn

có một số khác biệt nhất định như khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiềncông, kinh doanh thì đối với cá nhân cư trú sẽ được giảm trừ gia cảnh, các khoản đónggóp vào quỹ từ thiện, quỹ khuyến học và các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc, bảohiểm y tế,…từ thu nhập chịu thuế Đối với cá nhân không cư trú thì sẽ không đượcgiảm trừ đối với các khoản nêu trên Về kỳ tính thuế của cá nhân cư trú được xác địnhtheo năm đối với các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanhhoặc theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượngchứng khoán, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản (riêng chuyển nhượngbất động sản thì kỳ tính thuế có thể được tính theo năm nhưng phải đăng ký với cơquan thuế ngay từ đầu năm), chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế,tặng cho Trong khi đó, kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú chỉ được tính theotừng lần phát sinh thu nhập đối với tất cả thu nhập chịu thuế48 Đối với hoạt động hànhnghề độc lập nói riêng, thu nhập từ kinh doanh nói chung thì giữa cá nhân cư trú và cánhân không cư trú có những quy định không giống nhau, như về việc xác định thunhập tính thuế, thuế suất,…sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của bài viết

47 Theo công văn số 3473/BTC-TNCN ngày 08 tháng 9 năm 2010 về Thuế thu nhập cá nhân.

48 Xem điều 7 Luật thuế TNCN 2007.

Trang 37

2.2 Thu nhập chịu thuế từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân

Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân nói riêng cũng như thunhập từ kinh doanh nói chung, trước khi luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 có hiệulực thi hành thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo khoản 1 điều 3 của luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và theo khoản 1mục II phần A của Thông tư 84/2008/TT-BTC thì thu nhập từ kinh doanh bao gồm

“Thu nhập từ kinh doanh là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trongcác lĩnh vực sau:

 Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực,ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật như: sản xuất, kinh doanh hànghoá; xây dựng; vận tải; kinh doanh ăn uống; kinh doanh dịch vụ, kể cả dịch vụ chothuê nhà, cho thuê mặt bằng

 Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong những lĩnh vực,ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của phápluật

 Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làmmuối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản không đáp ứng đủ điều kiện được miễn thuế quyđịnh tại khoản 6 mục III phần A thông tư 84/2008/TT-BTC

Tuy nhiên, luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và các văn bản hướng dẫn thihành không giải thích cá nhân hành nghề độc lập là gì, bao gồm những ai? Vì thế màhiện nay việc thu thuế cũng như đóng thuế thu nhập cá nhân, người ta dựa vào “kháiniệm” được đưa ra trước đây trong các văn bản cũ (hiện nay không còn hiệu lực thihành) Tại điểm 2.3 khoản 2 mục I phần A của Thông tư số 128/2003/TT-BTC banhành ngày 22 tháng 12 năm 2003 hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CPngày 22 tháng 12 năm 2003 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế thu

nhập doanh nghiệp năm 2003 quy định như sau: “Cá nhân hành nghề độc lập có hoặc

không có văn phòng, địa điểm hành nghề cố định thuộc đối tượng kinh doanh (trừ người làm công ăn lương) phải đăng ký nộp thuế thu nhập với cơ quan thuế như: Bác

sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, hoạ sĩ, kiến trúc sư, nhạc sĩ và những người hành nghề

độc lập khác”49 Theo quy định này, cá nhân hành nghề độc lập được chia thành hailoại đó là có hoặc không có văn phòng, địa điểm hành nghề cố định

Đến luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 việc phận loại cá nhân hành nghề độclập không còn dựa theo tiêu chí có hay không có văn phòng, địa điểm hành nghề màdựa vào tiêu chí có giấy phép hành nghề hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định củapháp luật

Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn một cơ sở pháp lý quy định như thế nào về hoạtđộng hành nghề độc lập vẫn còn có hiệu lực thi hành Đó là thông tư số 133/2004/TT-

BTC của Bộ Tài chính ngày 31/12/2004 Theo quy định, thu nhập từ hoạt động ngành nghề độc lập là thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp

định với Việt Nam thu được từ hoạt động độc lập để cung ứng các dịch vụ ngành nghề như dịch vụ khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giảng dạy, cụ thể là hoạt động hành nghề độc lập của các bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sĩ, kế toán và

49 Điểm 2.3 khoản 2 mục I phần A Thông tư số 128/2003/TT-BTC.

Trang 38

kiểm toán viên Thu nhập từ hoạt động ngành nghề độc lập không bao gồm hoạt động

làm thuê (được quy định tại các Điều khoản thu nhập từ Hoạt động cá nhân phụ

thuộc), tiền thù lao giám đốc (được quy định tại Điều khoản Thù lao giám đốc), tiền

lương hưu (được quy định tại điều khoản tiền lương hưu), phục vụ nhà nước (được quy định tại điều khoản thu nhập từ phục vụ Chính phủ), thu nhập của học sinh, sinh viên (được quy định tại điều khoản thu nhập của Sinh viên), giáo viên và giáo sư (được quy định tại điều khoản thu nhập của giáo sư, giáo viên và nhà nghiên cứu) và

hoạt động trình diễn độc lập của các nghệ sĩ và vận động viên (được quy định tại điều khoản thu nhập của nghệ sĩ và vận động viên)50 Như vậy, cá nhân hoạt động hànhnghề độc lập là thu nhập do một cá nhân thu được từ hoạt động độc lập để cung ứngdịch vụ, ngành nghề nhất định

2.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động hành nghề độc lập

Căn cứ tính thuế đối với hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân cư trú và cánhân không cư trú được xác định không giống nhau

2.3.1 Đối với cá nhân cư trú

Theo mục I phần B của Thông tư số 84/2008/TT-BTC thì căn cứ tính thuế thunhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân cư trú là thu nhập tính thuế và thuếsuất

Thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ các khoản sau đây:

- Các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểmbắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác theo quy định của pháp luật

- Các khoản giảm trừ gia cảnh

- Các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học

Thu nhập chịu thuế đối với cá nhân vừa có thu nhập chịu thuế từ hoạt động hànhnghề độc lập, vừa có thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịuthuế từ các khoản trên

2.3.1.1 Thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế từ hoạt động hành nghề độc lập được xác định bằng doanhthu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập chịu thuếtrong kỳ tính thuế Thu nhập chịu thuế từ hoạt động hành nghề độc lập đối với từngtrường hợp cụ thể được xác định như sau:

a) Đối với cá nhân hành nghề độc lập không thực hiện chế độ kế toán hoá đơn,chứng từ nộp thuế theo phương pháp khoán, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đượcxác định theo công thức:

Doanh thu ấn định được xác định căn cứ vào kê khai của cá nhân kinh doanh, kếtquả điều tra của cơ quan thuế và ý kiến tham gia của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường

50 Điểm 1, mục IX phần B Thông tư 133/2004/TT-BTC.

Thu nhập chịu thuế

trong kỳ tính thuế =

Doanh thu ấn địnhtrong kỳ tính thuế x

Tỷ lệ thu nhập chịu thuế

ấn định

Trang 39

b) Đối với cá nhân hành nghề độc lập chỉ hạch toán được doanh thu bán hànghoá, dịch vụ, không hạch toán, xác định được chi phí Thu nhập chịu thuế thu nhập cánhân được xác định theo công thức:

Thu nhập chịu thuế

Trong đó, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định theo sổ sách kếtoán hoá đơn, chứng từ phù hợp với doanh thu để tính thuế giá trị gia tăng

Tổng cục Thuế quy định cụ thể tỷ lệ thu nhập chịu thuế trên doanh thu để ápdụng đối với trường hợp cá nhân kinh doanh không hạch toán được chi phí hoặc khônghạch toán kế toán51

c) Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán hoá đơn, chứng

từ, thu nhập chịu thuế được xác định theo công thức:

kỳ tính thuế

-Chi phí hợp lý liênquan đến việc tạo rathu nhập trong kỳtính thuế

+

Thu nhậpchịu thuếkhác trong

kỳ tính thuếTrong đó:

- Doanh thu và chi phí được xác định theo sổ sách kế toán hoá đơn chứng từ.Trường hợp, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng thì doanhthu làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế phù hợp với doanh thu tính thuế giá trị giatăng

- Thu nhập chịu thuế khác là các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình kinhdoanh như: tiền phạt vi phạm hợp đồng; tiền phạt do chậm thanh toán; tiền lãi ngânhàng trong quá trình thanh toán, tiền lãi do bán hàng trả chậm, trả góp, tiền lãi do bántài sản cố định; tiền bán phế liệu, phế phẩm

Doanh thu để tính thu nhập chịu từ kinh doanh là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiềngia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuếbao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cá nhân kinh doanh được hưởng khôngphân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền

Trong trường hợp cá nhân hành nghề độc lập (trường hợp thu nhập từ hoạt động

tư vấn, kiểm toán của luật sư, kiểm toán viên hành nghề) nhận được thông qua cácdoanh nghiệp mà các luật sư, kiểm toán viên đó có kí hợp đồng thì được tính là thunhập từ tiền lương, tiền công52

 Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau:

- Đối với hàng hoá là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá hoặc thờiđiểm lập hoá đơn bán hàng

- Đối với dịch vụ là thời điểm dịch vụ hoàn thành hoặc thời điểm lập hoá đơncung ứng dịch vụ

Trường hợp, thời điểm lập hoá đơn trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu

51

Xem công văn 15908 /BTC-TCT của Bộ Tài Chính ngày 26 tháng 11 năm 2008 (phụ lục 11).

52 Khoản 2 Công văn số 2079/TCT-TNCN của Tổng cục thuế về chính sách thuế thu nhập cá nhân, ngày 15 tháng 6 năm 2010.

Trang 40

hàng hoá (hoặc dịch vụ hoàn thành) thì thời điểm xác định doanh thu được tính theothời điểm lập hoá đơn hoặc ngược lại.

 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp được xác địnhnhư sau:

- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp được xác định theo giá bánhàng hoá trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả góp

- Đối với hàng hoá, dịch vụ bán theo phương thức trả chậm là tiền bán hàng hoá,dịch vụ trả một lần, không bao gồm tiền lãi trả chậm

- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cá nhân kinh doanh làm ra dùng để trao đổi; biếu,tặng; trang bị, thưởng cho người lao động, doanh thu được xác định theo giá bán hànghoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi; biếu,tặng, trang bị, thưởng cho người lao động

- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cá nhân kinh doanh làm ra tự dùng để phục vụcho quá trình sản xuất, kinh doanh của cá nhân thì doanh thu là chi phí sản xuất ra sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ đó

- Đối với hoạt động gia công hàng hoá là tổng số tiền thu về từ hoạt động giacông bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụcho việc gia công hàng hoá

- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, giá trị hạng mục côngtrình hoặc giá trị khối lượng công trình nghiệm thu bàn giao Trường hợp xây dựng,lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì doanh thu tính thuế là sốtiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu, máy móc,thiết bị

- Đối với hoạt động vận tải là toàn bộ số tiền thu được từ việc vận chuyển hànhkhách, hành lý, hàng hóa

 Các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế: các khoản chiphí hợp lý được trừ là các khoản chi phí thực tế phát sinh, có liên quan trực tiếp đếnviệc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và có hoá đơn, chứng từtheo quy định của pháp luật Các khoản chi phí hợp lý được xác định như sau:

 Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá thực tế sử dụngvào sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ liên quan đến việc tạo ra doanh thu, thunhập chịu thuế trong kỳ được tính theo mức tiêu hao hợp lý, giá thực tế xuất kho do hộgia đình, cá nhân kinh doanh tự xác định và chịu trách nhiệm trước pháp luật Mọitrường hợp tổn thất vật tư, tài sản, tiền vốn, hàng hoá đều không được tính giá trị tổnthất đó vào chi phí hợp lý trừ trường hợp tổn thất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh vàcác trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường Đối với vật tư hàng hoávừa dùng cho tiêu dùng cá nhân, vừa dùng cho kinh doanh thì chỉ được tính vào chiphí phần sử dụng vào kinh doanh

 Chi phí khấu hao, duy tu, bảo dưỡng tài sản cố định sử dụng cho hoạt động sảnxuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ:

- Tài sản cố định được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý phải đáp ứng cácđiều kiện sau:

+ Tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, kinh doanh

+ Tài sản cố định phải có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và các giấy tờ hợp pháp khác

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w