Người viết nghiên cứu khái quát về những nội dung cơ bản và vai trò của pháp luật, công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hữu Lạc Thị Mỹ Anh
Bộ môn: Luật hành chính MSSV: 5085786
Lớp: Tư pháp 1- k34
Cần Thơ Tháng 5/2012
Trang 2.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Trang 3
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 3
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 3
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tuyên truyền, giáo dục pháp luật 3
1.1.1.Khái niệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật 3
1.1.1.1 Khái niệm tuyên truyền 3
1.1.1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật 4
1.1.2 Mục đích của tuyên truyền, giáo dục pháp luật 6
1.2.3 Chủ thể và đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật 8
1.2.3.1 Chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật 8
1.2.3.2 Đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật 8
1.1.4 Nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật 10
1.1.4.1 Nội dung tuyên truyền, giáo dục pháp luật 10
1.1.4.2 Hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật 12
1.2 Khái quát chung về các dân tộc Việt Nam 13
1.2.1 Đại gia đình các dân tộc Việt Nam 13
1.2.2 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng 14
1.3 Cơ sở pháp lý của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở nước ta 15
CHƯƠNG 2 19
THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH HẬU GIANG 19
2.1 Đặc điểm tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang 19
2.2 Đặc điểm tình hình địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang 23
2.2.1 Đặc điểm vị trí địa lý 23
2.2.2 Đặc điểm dân cư 24
2.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 24
2.2.4 Về văn hóa - xã hội 25
2.2.5 Về giáo dục và y tế 28
2.3 Thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật 29
2.3.1 Khái quát tình hình thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật 29
2.3.1.1 Thực trạng về đối tượng 29
2.3.1.2 Thực trạng về chủ thể 32
Trang 5Giang 34
2.4 Trách nhiệm tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật của các cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội 37
CHƯƠNG 3 43
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO 43
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HẬU GIANG 43
3.1 Phương hướng tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang 43
3.2.1 Xây dựng kế hoạch chương trình tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số 43
3.2.2 Xây dựng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ tuyên truyền viên về pháp luật 44
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các hình thức tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cơ bản ở Hậu Giang 46
3.3.1 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng 46
3.3.2 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua công tác hòa giải ở cơ sở 49
3.3.3 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian 51
3.3.4 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của tòa án 55
3.3.4.1 Đặc điểm về tuyên truyền, pháp luật thông qua xét xử của tòa án 56
3.3.4.2 Về đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong một phiên tòa 56
KẾT LUẬN 58
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ
trương xây dựng một “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thực sự của dân, do dân, vì dân, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí và trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội
Cùng với việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đưa pháp luật đi vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng Một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt đó là tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật Đây là một biện pháp không thể thiếu được trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật,
thực hiện “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” của người dân
Hậu Giang là một tỉnh được chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) theo Nghị Quyết số
22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khoá XI và Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ
Theo Quyết định số 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Ủy ban Dân tộc về việc công nhận 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển và Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ thì tỉnh Hậu Giang có 21 xã, 31 ấp đồng bào dân tộc thiểu số thuộc khu vực II Đa số đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang chủ yếu sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vì vậy, các điều kiện để tiếp nhận thông tin, nhất là thông tin pháp
lý, văn bản pháp luật rất hạn chế cho nên ý thức pháp luật không cao, nhiều vụ vi phạm Luật hình sự, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Giao thông đường
bộ và đường thủy… thường xuyên xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường tuyên truyền phổ biến, giáo dục đưa pháp luật vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số, để họ hiểu và làm theo pháp luật, giảm bớt những hủ tục lạc hậu, những vụ vi phạm pháp luật qua đó nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự ở địa
phương Với những lý do trên người viết chọn vấn đề: “tuyên truyền, giáo dục pháp
Trang 7luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hậu Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó khảo sát thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang trong giai đoạn hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang nói chung, đặc biệt là nhân dân các dân tộc Khmer Người viết nghiên cứu khái quát về những nội dung cơ bản và vai trò của pháp luật, công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, thực trạng về tình hình công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tỉnh Hậu Giang Trên cơ sở đó người viết đưa ra một số giải pháp góp phần cho công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật được hoàn chỉnh hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật Nhà nước ta về tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và cho đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng
Để nghiên cứu đề tài, người viết sử dụng tổng hợp các văn bản luật, dưới luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các tạp chí, bài báo liên quan đến vấn
đề phổ biến giáo dục pháp luật để phân tích vấn đề Bên cạnh đó người viết còn liên hệ với thực tế để tìm hiểu, quan sát và thu thập những giá trị thực tiễn để tạo nên bài viết
5 Kết cấu đề tài
Trong đề tài ngoài lời nói đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài
có bố cục như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho
nhân dân các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Chương 2: Thực trạng tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản của việc tăng cường tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tuyên truyền, giáo dục pháp luật
1.1.1.Khái niệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật
1.1.1.1 Khái niệm tuyên truyền
Tuyên truyền, theo tiếng La tinh (Prataganda) là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định
Theo Đại từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô (cũ), thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật… nhằm biến những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích thế giới quan ấy Với quan điểm này, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên truyền chính trị, tuyên truyền tư tưởng mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực xã hội của con người
Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân theo, dân làm” Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, do Giáo Sư Hoàng Phê (chủ biên) chú giải “Tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”
Từ những quan điểm trên, vận dụng vào công tác tuyên truyền ở nước ta hiện nay, có thể xác định: tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể tuyên truyền, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đối tượng tuyên truyền, từ đó tạo cho đối tượng tuyên truyền có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng và tự giác, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, nhằm góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
Trang 9hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.1 Tuyên truyền có quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử nhân loại Xã hội loài người xuất hiện cũng đồng thời xuất hiện hoạt động tuyên truyền Tuyên truyền gắn liền với các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Ngôn ngữ chính là phương tiện truyền thông sơ khai nhưng quan trọng bậc nhất của con người Qua những tín hiệu âm thanh giản đơn, con người có sự trao đổi tình cảm, tạo sự giao tiếp trong sinh hoạt, lao động sản xuất Hoạt động tuyên truyền chính là hoạt động của con người tác động đến con người Vì vậy
nó là hoạt động xã hội đặc biệt, bởi chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền đều
là con người
1.1.1.2 Khái niệm giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta Khái niệm giáo dục pháp luật thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật Chính vì vậy, quan niệm về giáo dục pháp luật ở nước ta vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Song để có một cách nhìn nhận đúng đắn khoa học về giáo dục pháp luật, trước hết chúng ta cần xem xét một số quan niệm về giáo dục pháp luật cơ bản sau đây:2
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục
chính trị tư tưởng, đạo đức Theo quan niệm này khi tiến hành giáo dục chính trị tư tưởng, các quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng cho nhân dân thì tự nó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật Điều đó có ý nghĩa là khi làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức sẽ đạt được sự tôn trọng pháp luật của nhân dân Hay nói cách khác, sự hình thành ý thức pháp luật là hệ quả tất yếu của việc giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức
- Quan niệm thứ hai: Xem giáo dục pháp luật chỉ đơn thuần là hoạt động phổ
biến tuyên truyền, giải thích pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình và sách báo Chỉ cần làm tốt công tác thông tin tuyên truyền pháp luật như vậy là có thể làm tốt công tác giáo dục pháp luật
- Quan niệm thứ ba cho rằng: Giáo dục pháp luật là lấy “trừng trị” để giáo dục
người vi phạm và răn đe giáo dục người khác Thông qua việc xử lý hành vi vi phạm
Trang 10pháp luật như áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, xử phạt vi phạm hành chính hay áp dụng chế độ trách nhiệm dân sự điều đó sẽ có tác dụng giáo dục pháp luật cho mọi người, không cần phải tuyên truyền hay giải thích pháp luật
- Quan niệm thứ tư: Đồng nghĩa giáo dục pháp luật với dạy và học pháp luật ở
các trường học, còn việc tuyên truyền phổ biến pháp luật ở ngoài xã hội thì không phải
Tất cả các quan niệm trên, mặc dù ở những góc độ khác nhau, nhưng đều có sự nhìn nhận giáo dục ở những khía cạnh và mức độ hợp lý nhất định Song, các quan niệm đó đều bộc lộ ít nhiều sự phiến diện, hoặc đơn giản đến mức tầm thường hóa vai trò của giáo dục pháp luật; chưa thấy được đặc thù và giá trị vốn có của giáo dục pháp luật Vì vậy, những quan niệm đó đã hạ thấp vai trò, vị trí xã hội của pháp luật Mặt khác, trong thực tiễn, các quan niệm trên đây đã không tạo ra khả năng hoặc thậm chí cản trở việc triển khai hoạt động có tổ chức cũng như quy mô thực hiện pháp luật; làm cho hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong thực tế không cao Nhận định trên thể hiện trong quan niệm thứ nhất; việc hình thành nên ý thức pháp luật của con người được xem là sản phẩm của quá trình giáo dục chính trị tư tưởng hay giáo dục đạo đức Nếu quan niệm như vậy thì vấn đề sẽ không được coi trọng đúng mức, do vậy không được đặt ra một hoạt động độc lập Chính quan niệm này trong thực tiễn đã gây ra một hậu quả kéo dài trong nhiều năm nay ở nước ta dẫn đến không có nội dung, chương trình giáo dục pháp luật; pháp luật không đến với người dân nên ý thức pháp luật trong xã hội thấp kém
Quan niệm thứ hai coi giáo dục pháp luật thực chất là những đợt tuyên truyền, cổ động không mang tính thường xuyên, liên tục với nội dung, chương trình cụ thể theo mùa vụ, mỗi khi các văn bản pháp luật mới được ban hành Khi sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự… thì Nhà nước tổ chức tuyên truyền theo đợt Quan niệm giáo dục pháp luật như vậy là thiếu đồng bộ, thiếu liên tục nên hiệu quả giáo dục không cao
Các quan niệm thứ ba, thứ tư cũng đều bọc lộ những khiếm khuyết nên trong thực tiễn đã không tạo ra khả năng triển khai hoạt động giáo dục một cách rộng rãi Có thể nói các ý kiến trên khó có thể khái quát một cách đầy đủ nội hàm của khái niệm này
Trong khoa học sư phạm thì giáo dục được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng
và nghĩa hẹp
Trang 11- Theo nghĩa rộng: Giáo dục là sự ảnh hưởng, tác động của những điều kiện khách quan (như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường sống…) và của
cả những nhân tố chủ quan (tác động tự giác, có chủ định và định hướng của nhân tố con người) nhằm hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục
- Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhân tố chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội
Thực tế hiện nay theo quan điểm chung của các nhà khoa học pháp lý đều xuất phát từ nghĩa hẹp của giáo dục Từ đó cho thấy, sự hình thành ý thức của con người là một quá trình chịu ảnh hưởng và sự tác động khách quan lẫn các nhân tố chủ quan
Các Mác viết: “Con người vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục Và do đó con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi”.3
Tóm lại: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định pháp luật Để từ đó, đối tượng sẻ có ý thức tốt về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử xự theo yêu cầu của pháp luật.4
1.1.2 Mục đích của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Mục đích của tuyên truyền, giáo dục pháp luật được xem xét trên nhiều góc độ tùy thuộc vào đối tượng phổ biến cũng như đối tượng được giáo dục… Với những cách tiếp cận góc độ như trên cho thấy, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là những mức
độ khác nhau trong việc truyền tải những thông tin đến các chủ thể cần thiết, để nhân dân hiểu biết pháp luật nhiều hơn, và để cho họ tránh được những sai phạm trong cuộc sống… Từ đó, ta có các mục đích tuyên truyền, giáo dục cơ bản sau:5
- Một là: Từng bước nâng cao nhận thức về pháp luật cho công dân
Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của con người trên các lĩnh vực là một yêu cầu khách quan của công tác giáo dục nói chung Trong tuyên truyền, giáo dục
Trang 12pháp luật, mục đích đặt ra là không ngừng nâng cao nhận thức về Nhà nước, về pháp luật và đặc biệt là về pháp luật thực định Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, thực tế cho thấy rằng Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao dân trí, nhất
là dân trí pháp lý Tuy nhiên, do đặc điểm và điều kiện ở một số vùng sâu, vùng xa nên nhân dân các dân tộc ít người có hạn chế về hiểu biết pháp luật Vì thế việc xác định đúng đắn mục đích tuyên truyền giáo dục pháp luật có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng
- Hai là: Hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp
luật cho đối tượng Thông qua tuyên truyền giáo dục pháp luật, người tuyên truyền giáo dục được trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong từng lĩnh vực đời sống Hình thành tri thức pháp luật là nền móng cơ bản để xây dựng tình cảm pháp luật Trên cơ sở kiến thức pháp luật được trang bị đã hình thành mở rộng và làm sâu sắc tri thức pháp luật, giúp người dân am hiểu hơn về pháp luật và biết cách đánh giá một cách đúng đắn các hành vi pháp lý Tri thức pháp luật góp phần định hướng cho lòng tin đúng đắn vào các giá trị của pháp luật, tạo cơ sở hình thành hành vi hợp pháp ở mỗi
sự tuân theo một cách tự nguyện những qui định của pháp luật Để đạt được mục đích này trong quá trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật phải lựa chọn nhiều hình thức, phương pháp và thường xuyên, liên tục để mọi công dân hiểu được sự cần thiết của pháp luật thực tiễn hiện nay ở nước ta, mục đích này có quan hệ vô cùng to lớn khi mà
đa số nhân dân lao động vẫn còn tình trạng chưa có thói quen theo pháp luật, việc sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật còn nhiều hạn chế, thậm chí còn vi phạm nghiêm trọng
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm đạt được ba mục đích nêu trên, ngoài ra mục đích của nó còn giúp cho việc xác định hiệu quả của quá trình tuyên truyền, giao dục pháp luật
Trang 131.2.3 Chủ thể và đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Trong hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật những người (cá nhân, tổ chức) theo chức năng nhiệm vụ của mình tham gia vào việc truyền thụ, tuyên truyền phổ biến pháp luật như giảng dạy, trình bày, giải thích pháp luật được gọi là chủ thể, những người được truyền thụ học tập, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật gọi là đối tượng
1.2.3.1 Chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Trong lý luận và giáo dục học chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật là những thầy giáo, cô giáo và tất cả những người làm công tác tuyên truyền khác Theo
từ điển Tiếng Việt: chủ thể nói chung được hiểu “là đối tượng gây ra hành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối bởi hành động tác động, gọi là khách thể”.6 Vận dụng vào công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, ta có thể hiểu thế nào là chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật Hay nói cách khác, chủ thể của tuyên truyền pháp luật được hiểu là tất cả những người, mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội, đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu tuyên truyền, giáo dục pháp luật Việc xác định chủ thể, đối tượng tuyên truyền giáo dục pháp luật có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn Trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng trong quá trình tuyên truyền giáo dục pháp luật, chủ thể khi tiến hành mọi hoạt động tuyên truyền thì sự tác động đó có ý thức, có mục đích, có kế hoạch hướng đến đối tượng tuyên truyền giáo dục Trên cơ sở đó, chủ thể xác định những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động tuyên truyền, giáo dục pháp luật của đối tượng cũng như các yêu cầu đòi hỏi khách quan với các chủ thể tuyên truyền trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp để tiếp cận tuyên truyền và tiến hành tuyên truyền có hiệu quả nhất
1.2.3.2 Đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Vấn đề đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật có quan hệ chặt chẽ với chủ thể, vì chủ thể khi tiến hành hoạt động tuyên truyền thì phải xác định đối tượng là
ai, cơ quan, tổ chức hay cá nhân, công dân nào, trình độ tuổi tác Trên cơ sở xác định đúng đắn đối tượng cần tuyên truyền thì chủ thể mới lựa chọn hình thức và phương pháp thích hợp Chẳng hạn đối tượng là cán bộ, công chức Nhà nước thì khi tuyên truyền, giáo dục phải khác với nhân dân các dân tộc ít người Có như vậy, chủ thể mới mang lại hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật có thể là những cá nhân công dân,
cơ quan tổ chức hoặc một nhóm cộng đồng dân cư trong xã hội được tiếp nhận tác
6 Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thống kê 2004, tr 130
Trang 14động của các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp do chủ thể tuyên truyền tiến hành nhằm đạt được mục đích đặt ra Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ vẫn giữ nguyên các nhóm đối tượng như trong kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đến năm 2002, cụ thể là: các tầng lớp nhân dân; cán bộ, công chức; thanh thiếu niên; người lao động, người quản lý và cán bộ công đoàn trong doanh nghiệp; lực lượng vũ trang Trong từng nhóm kế hoạch có chỉ rõ một số đối tượng cụ thể cần tập trung
- Cán bộ, công chức nhà nước: Đối tượng này là cán bộ, công chức Nhà nước
Họ đã được đào tạo bồi dưỡng nên đã có trình độ và khả năng nhận thức nhất định Ở đối tượng này, vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật phải chú ý hơn đến những người đang làm việc trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra… Trong mối quan hệ này, họ là đối tượng cần được tuyên truyền pháp luật Trong những năm gần đây đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước ta đã được Đảng
và Nhà nước quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức pháp luật Tuy nhiên, nhiều cán bộ, công chức Nhà nước, do không được đào tạo cơ bản nên kiến thức pháp luật còn nhiều hạn chế, thiếu hệ thống Điều đó đã hạn chế rất nhiều năng lực quản lý nhà nước, khả năng giải quyết công việc trong các cơ quan nhà nước Vì vậy, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đối tượng cán bộ công chức là một vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài, phải thường xuyên, liên tục mới có thể đáp ứng đòi hỏi của quá trình quản lý nhà nước bằng pháp luật ở nước ta
- Học sinh, sinh viên: Đối tượng này là những công dân trẻ, khỏe, thông minh và
sáng tạo, là chủ nhân tương lai của đất nước Học sinh, sinh viên đang thực sự là lực lượng xung kích trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ Tuy nhiên, ý thức pháp luật của họ vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy tình trạng vi phạm pháp luật đã xảy ra trong các trường học hiện nay rất đáng kể cũng như ngoài xã hội Các tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, lối sống buông thả… phần nhiều lại do thanh thiếu niên mác phải
Vì thế tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đối tượng học sinh - sinh viên cũng là một yêu cầu khách quan của xã hội đang được Nhà nước ta thật sự quan tâm và coi trọng
Có như vậy, học sinh, sinh viên sau khi ra trường sẽ có kiến thức khoa học vững vàng,
có lối sống lành mạnh và ý thức pháp luật được nâng cao
- Các chủ doanh nghiệp, người quản lý, cán bộ công đoàn ở các doanh nghiệp:
Trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế ở nước ta, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta là nhất quán ổn định lâu dài Nhà nước tạo ra môi trường pháp luật bình đẳng nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế Song, Nhà
Trang 15nước cũng đòi hỏi nghiêm ngặt các doanh nghiệp, các thương nhân phải hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên trên thực tế việc sản xuất, kinh doanh vẫn bị ảnh hưởng của cơ chế cũ và trật tự lỏng lẽo Bởi không ít các doanh nghiệp, các thương nhân, đặc biệt là những người sản xuất nhỏ hay làm kinh tế gia đình khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, do kiến thức pháp luật còn hạn chế, nhất
là pháp luật kinh tế Vì vậy, hiện tượng vi phạm hợp đồng, hoặc bị lừa đảo hoặc dẫn
đến thua lỗ là khó tránh khỏi Đúng như Đảng ta đã nhận định: “lối làm ăn chảy theo lợi nhuận bất kể giá nào, dẫn đến vi phạm pháp luật, lừa đảo, hối lộ, làm hang giả, buôn lậu, trốn thuế, xâm phạm nghiêm trọng tài sản xã hội chủ nghĩa và của công dân, làm cho kỹ luật, kỹ cương và pháp luật không nghiêm”.7 Như vậy, tuyên truyền, giáo dục pháp luật đòi hỏi từ nhu cầu cần thiết của các nhà kinh doanh và yêu cầu quản lý kinh tế của Nhà nước Có như vậy mới giúp họ có những kiến thức cơ bản về pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, từng bước tạo cho họ thói quen kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, tránh tình trạng vi phạm pháp luật
- Các tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt là nhân dân các dân tộc ít người,
vùng sâu, vùng xa: Đây là lực lượng đông đảo những người lao động, chiếm đa số
trong xã hội và lao động của họ đang tạo ra một khối lượng lớn giá trị vật chất trong xã hội
Tuy nhiên, lực lượng đông nhất trong xã hội này lại ít có điều kiện được học tập, nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật Đặc biệt là nhân dân các dân tộc ít người ở vùng sâu, vùng xa như Hậu Giang, ý thức pháp luật của họ còn rất thấp Chính vì vậy cần phải tuyên truyền, giáo dục pháp luật để họ nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền lợi của công dân đối với Nhà nước và xã hội Tỉnh Hậu Giang cần phải chú ý đến các già làng với tư cách vừa là chủ thể tuyên truyền giáo dục vừa là đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp luật Có thể nói các già làng là những người rất có uy tính ở phum, sóc Những việc xích mích trong phum, sóc với nhau đều do già làng giải quyết một cách có hiệu quả Tuy nhiên, các già làng ở đây chỉ dựa vào uy tính tập quán, luật tục để chỉ dẫn và giải quyết công việc, còn kiến thức pháp luật còn rất nhiều hạn chế
Vì vậy, đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật chủ yếu được đề cập ở đây chính là nhân dân các dân tộc ít người ở Hậu Giang
1.1.4 Nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật
1.1.4.1 Nội dung tuyên truyền, giáo dục pháp luật
7
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật Hà Nội, 1991, tr 25
Trang 16Việc xác định nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật là vấn đề đặc biệt quan trọng Nói chung nó là một phạm vi rộng bao gồm kiến thức pháp luật cơ bản như lý luận khoa học về pháp luật, các nghành luật, các văn bản pháp luật thực định Ngoài ra, nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật còn bao hàm các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về việc điều tra, xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, cả
về nghiên cứu điều tra xã hội học pháp luật Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật
cụ thể của công dân như thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật, các quy định và thủ tục để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước và xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp tập thể và công dân Đối với nhân dân ở nước ta nói chung và ở tỉnh Hậu Giang nói riêng, theo người viết nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật cụ thể là:8
- Đối với nông dân: Tập trung phổ biến, hướng dẫn các trình tự, thủ tục thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, trong đó chú trọng quyền liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; giao đất, thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải tỏa, đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; xử lý vi phạm hành chính, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai; nghĩa vụ nộp thuế, bảo vệ đê điều, các công trình thủy lợi
- Đối với đồng bào dân tộc thiểu số: Tập trung phổ biến, hướng dẫn thực hiện các
quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, các trình tự, thủ tục về giao đất rừng, giao khoán rừng và đất lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Đối với phụ nữ: Tập trung phổ biến, hướng dẫn thực hiện các quy định pháp
luật liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của phụ nữ thuộc các lĩnh vực hôn nhân
và gia đình, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; quyền bình đẳng nam, nữ trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình
Nội dung giáo dục pháp luật đòi hỏi phải làm sáng tỏ quan điểm của Đảng đó là: pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người điều bình đẳng trước pháp luật.9 Giáo dục pháp luật phải đặt trong mối quan hệ với việc coi trọng pháp luật và nâng cao đạo đức, coi đó như là một trong những cơ sở quan trọng để bảo đảm hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật Thông qua những nội dung cụ thể, tuyên truyền cho các đồng bào dân tộc thiểu số phải thực sự tạo thành một chuyển biến
Trang 17tích cực về ý thức pháp luật, giúp họ có nhận thức đầy đủ về vai trò, vị trí và trách nhiệm của mình trước pháp luật, khắc phục và loại bỏ tư tưởng coi pháp luật là một cái
gì đó trừu tượng, ít gắn bó đến cuộc sống hằng ngày và từ đó tự tước bỏ quyền làm chủ và tự tách mình ra khỏi xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã
đặt ra: “kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội”.10 Mục tiêu phương hướng đó chỉ đạt được khi mà công tác tuyên truyền được chú trọng thường xuyên, và trình đội dân trí của mỗi thành viên trong xã hội không ngừng được nâng cao
Như đã đề cập ở trên, việc xác định nội dung tuyên truyền phải dựa trên nhu cầu, điều kiện, đặc điểm của đối tượng được tuyên truyền giáo dục mới có hiệu quả Trên thực tế, nội dung của tuyên truyền, giáo dục pháp luật phù hợp hay không còn phải căn
cứ vào thực trạng ý thức pháp luật của người dân, vào điều kiện, khả năng tiếp thu của
họ để xác định nội dung tuyên truyền cho phù hợp với người dân
Đối với đồng bào các dân tộc ít người ở Hậu Giang, ngoài những nội dung tuyên truyền, giáo dục pháp luật nêu trên, Nhà nước cần hướng dẫn nhân dân thực hiện các tập quán sinh hoạt tốt đẹp, các luật tục còn phù hợp với pháp luật Nhà nước Đồng thời chỉ ra cho nhân dân thấy được những hủ tục lạc hậu, những luật tục trái với lợi ích cộng đồng và trái với pháp luật Nhà nước trong điều kiện đổi mới hiện nay
1.1.4.2 Hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu là hoạt động có định hướng,
có tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hòi của hệ thống pháp luật hiện hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của công dân Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật là cách thức tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, cách tiến hành một hoạt động cụ thể để đạt được mục đích hình thành ở đối tượng tình cảm, tri thức và hành vi pháp lý phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật
Đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật một khi đã tiếp nhận được tri thức
pháp luật và làm biến đổi về chất trong nhận thức của họ thì bản thân mục đích và nội dung của tuyên truyền pháp luật không thể tự nó đi vào nhận thức Vấn đề là ở chỗ cần phải thông qua các hình thức truyền tải thông tin… Có quan niệm cho rằng:
10 Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996, tr 39.
Trang 18“hình thức tuyên truyền giáo dục pháp luật là các dạng hoạt động cụ thể để tổ chức quá trình giáo dục pháp luật”.11 Với quan niệm này thì chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ đề ra 5 loại hình thức, biện pháp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đó là:12
- Củng cố, mở rộng lực lượng tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật
- Phát triển các hình thức thông tin, phổ biến pháp luật đa dạng, thuận tiện đáp
ứng nhu cầu của các đối tượng
- Nâng cao chất lượng dạy và học pháp luật trong nhà trường ở các cấp học
- Mở rộng, nâng cao chất lượng các loại hình tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý
- Có các hình thức thích hợp tổ chức và phát động các đợt cao điểm, tập trung
tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật theo từng chủ đề, nội dung cụ thể
Về phương pháp tuyên truyền pháp luật: có thể nói rằng, trong khoa học pháp
lý chưa có một định nghĩa về phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật Tuy nhiên theo khoa học sư phạm, phương pháp giảng dạy là các con đường, cách thức, biện pháp tác động để chiếm lĩnh nội dung giảng dạy và đạt được mục đích giảng dạy
Phương pháp giảng dạy pháp luật là cách thức, biện pháp mà chủ thể sử dụng
để truyền đạt nội dung pháp luật tác động đến đối tượng nhằm mục đích nâng cao nhận thức pháp luật, tình cảm và lòng tin cũng như thói quen xử sự theo pháp luật
1.2 Khái quát chung về các dân tộc Việt Nam
1.2.1 Đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Cả nước hiện có 54 dân tộc anh em Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thưở sơ khai, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta Do vị trí địa lý nước ta có điều kiện giao lưu hết sức thuận lợi với các nước bạn nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước ta Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước
Trang 19Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn chuyển đến nước
ta sau năm 1945 Ðây là những đợt di cư lẻ tẻ, bao gồm một số hộ gia đình đồng tộc Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu và người Thủy 13 Trong đó, dân tộc Kinh
là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam
Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh
em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn Nước ta không có tình trạng dân tộc
đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc đa số Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, các dân tộc anh em trên đất nước ta tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.14
1.2.2 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.15 Cùng với nền văn hoá chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào của dân tộc mình Bản sắc văn hoá dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
13 Đến với dân tộc còn ít người nhất ở Việt Nam - Dân tộc - Báo tin tức Thông tấn xã / Baotintuc.vn,
http://baotintuc.vn/151n20120120215202649t0/den-voi-dan-toc-con-it-nguoi-nhat-o-viet-nam.htm, [Truy cập
ngày 12 – 12 – 2011]
14 Trang tin điện tử, Đại gia đình các dân tộc Việt Nam,
http://cema.gov.vn/modules.php?mcid=122&name=Content, [truy cập ngày 12-12-2011]
15 Nguyễn Đức Bình, Mấy vấn đề lớn trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 về văn hóa, tạp chí Cộng sản, số
16, năm 1998, tr 98
Trang 20Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam
Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc Ðồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc
Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bó với nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoàn kết với nhau hơn trong công cuộc xây dựng đất nước Những thành tựu đạt được trên là cơ sở vững chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống, phát triển các dân tộc
1.3 Cơ sở pháp lý của công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở nước ta
Nhà nước thể chế hóa những quan điểm đường lối, chủ trương của Đảng trong:
- Hiến pháp 1980 tại điều 38 đã quy định: “Nhà nước tuyên truyền giáo dục sâu rộng đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
- Hiến pháp 1992 cụ thể hơn một bước: “Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân sống theo Hiến pháp và pháp luật” “Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động thực hiện theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội” Điều 112 Hiến pháp cũng quy định nhiệm vụ của Chính phủ: “Bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân, tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền và giáo dục hiến pháp và pháp luật trong nhân dân” Điều 121 Hiến pháp quy định: “Đại biểu hội đồng nhân dân có nhiện vụ vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân đang tham gia quản lý Nhà nước” Trên cơ
sở quy định của Hiến pháp về công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật:
- Luật tổ chức Chính phủ quy định: “Quyết định các biện pháp chỉ đạo và kiểm tra thi hành Hiến pháp, pháp luật và các quyết định của chính phủ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân Tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền giáo dục Hiến pháp và pháp luật”.16
16 Điều 7 khoản 2, Luật tổ chức chính phủ năm 2001
Trang 21- Về công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân quy định quyền hạn của ủy ban nhân dân như sau:17 Cấp tỉnh: Tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa phương
Cấp huyện: Chỉ đạo, tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiểm tra
việc chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
Cấp xã: Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật; giải quyết các vi phạm pháp
luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.
- Trong Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay
- Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg đã chỉ rõ “chú trọng hình thức tuyên truyền miệng trong việc phổ biến, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật cần thiết cho từng đối tượng, nhất là cán bộ chính quyền cấp cơ sở, các tầng lớp nhân dân” và “xác định rõ các biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng đối tượng như tuyên truyền miệng, biên soạn tài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng…”
- Ngày 17/1/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 trong đó dành một mục lớn quy định các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp
13/2003/QĐ-luật chủ yếu
- Thông tư số 01/2003/TT-BTP ngày 14/3/2003 quy định một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật như phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, tủ sách pháp luật, biên soạn tài liệu pháp luật, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giáo dục pháp luật trong nhà
trường
- Để tiếp tục đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 9/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ,
17 Điều 94 khoản 1,điều 106 khoản 1, điều 117 khoản 1, Luật tổ chức HĐND và UBND
Trang 22nhân dân Chỉ thị đã tạo một bước phát triển mới về nhận thức và lãnh đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước, toàn dân ta
trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
- Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 phê duyệt Chương trình
hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp
luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010
- Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ về tiếp tục thực
Nhình chung, Các quy định, các văn bản pháp luật trên đây đã góp phần quan trọng tạo nên cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, đặc biệt là các hoạt động phối hợp, là những mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của công tác phổ biến giáo dục pháp luật
Qua việc phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người của nước
ta hiện nay cho thấy: tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chức nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nhằm nâng cao ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật Từ đó tạo ra một trật tự xã hội, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật là quá trình nhằm nâng cao dân trí pháp lý Vì vậy, để đạt được mục đích đó, chủ thể tuyên truyền pháp luật phải tìm hiểu, nghiên cứu các đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật để áp dụng hình thức và phương pháp tuyên truyền phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao Vì thế, khi tiến hành tuyên truyền phải phân loại đối tượng, đặc biệt là nhân dân các dân tộc ít người thì phải có phương pháp tuyên truyền phù hợp, dễ nhớ, dễ hiểu tránh lấy tư duy vòng vo, trừu tượng Khi tuyên truyền cho nhân dân các dân tộc ít người ở Hậu Giang còn phải chú
ý đến đặc điểm đối tượng Trên cơ sở đó, chủ thể tuyên truyền sẻ lựa chọn nội dung pháp luật nào phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương, ưu tiên cho việc tuyên truyền giáo dục pháp luật đối với những lĩnh vực nào mang tính chất cấp bách,
Trang 23thời sự liên quan đến đời sống hàng ngày của họ Những nội dung cơ bản của tuyên truyền, giáo dục pháp luật được phân tích ở chương 1 sẽ là cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở Hậu Giang được trình bày ở chương 2
Trang 24CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH HẬU GIANG 2.1 Đặc điểm tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang
Tuyên truyền, giáo dục pháp luật là “quốc sách hàng đầu” là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta “Nhà nước thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục; thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình nội dung kế hoạch giáo dục” Tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một nội dung trương
trình và kế hoạch của sự nghiệp giáo dục nói chung ở nước ta Nền giáo dục nước ta là thống nhất, không có nền giáo dục cho từng tỉnh hoặc thành phố Vì vậy, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật không có “con đường” đi riêng cho mỗi tỉnh.18 Để công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật được thực hiện có hiệu quả cần xác định đặc điểm của tuyên truyền cho nhân dân các dân tộc ít người ở Hậu Giang Tuy nhiên, phải xác định Hậu Giang là một trong các tỉnh thuộc vùng có dân tộc ít người sinh sống ở Việt Nam
- Đặc điểm thứ nhất: Đối tượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật là nhân dân các
dân tộc ít người làm ăn sinh sống trong tỉnh Hậu Giang
Đối tượng chính của tuyên truyền, giáo dục pháp luật là nhân dân Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân là chủ yếu chứ không phải là tuyên truyền cho cán bộ công chức Nhân dân ở đây là những người đủ 6 tuổi trở lên, có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú ở tỉnh Hậu Giang Họ là học sinh, họ là nông dân, công nhân, là người lao động khác ở các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội trong phạm vi một tỉnh Đây là
đối tượng có tính “phổ biến” trong đó có tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho các học
sinh trong nhà trường từ cấp tiểu học đến phổ thông trung học
Theo báo cáo tổng kết công tác của tỉnh Hậu Giang hiện nay trong tỉnh có 7.533
hộ đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống Trong khi cả nước có 54 dân tộc anh em,
Vì vậy đặc điểm tâm lý dân tộc bản sắc từng dân tộc, hoàn toàn khác nhau Trình độ học vấn nói chung của đa số các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hậu Giang là chưa cao Đa số nhân dân các dân tộc ít người đều không biết tiếng nói và chữ viết của người Kinh, đây
là hạn chế lớn nhất khi tiếp thu những kiến thức về pháp luật
Tâm lý dân tộc ít người thường hay tự ti, bảo thủ, gồm cả tư tưởng cục bộ dân tộc, địa phương chủ nghĩa, các cộng đồng, các cụm dân cư, các dòng họ có phong tục
18
Phạm Hàn Lâm, Giáo dục pháp luật cho dân tộc ít người ở Đăk Lắk-thực trạng và giải pháp, luận văn Thạc sỹ
luật học, năm 2001, tr 30
Trang 25tập quán riêng biệt.19 Nhân dân các dân tộc ít người vẫn còn sử dụng hệ thống luật tục Luật tục vừa mang tính dân tộc vừa mang tính khu vực Luật tục có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống đồng bào dân tộc Luật tục có tính tiến bộ, tích cực được Nhà nước thừa nhận và cộng đồng các cư dân tự giác tuân theo Bên cạnh đó, vẫn còn các hủ tục nặng nề, lạc hậu như thách cưới, tang ma, lấy nhiều vợ, tảo hôn… Vì thế, ở nhiều vùng dân tộc thiểu số sinh sống, hầu như các quy định của luật hôn nhân và gia đình không
có hiệu lực hoặc có hiệu lực nhưng rất hạn chế Thậm chí, một bộ phận đồng bào dân tộc không biết đến luật hôn nhân và gia đình mà chỉ biết đến các quy chuẩn của luật tục.20 Khi tuyên truyền, pháp luật cho đối tượng này phải chú ý và thận trọng, có phê phán nhưng hết sức khéo léo, tế nhị đối với những hủ tục lạc hậu
- Đặc điểm thứ hai: Chủ thể tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân các
dân tộc thiểu số tại tỉnh Hậu Giang Chủ thể là người dạy pháp luật cho nhân dân Nếu tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một dạng tổ chức thực hiện pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa thì trách nhiệm về tình hình thực hiện pháp luật trước hết thuộc về các cơ quan Nhà nước Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân vì thế
là nhiệm vụ của nhà nước Ở địa phương: “Hội đồng nhân dân Quyết định biện pháp bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương”.21 Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp Như vậy,
Ủy ban nhân dân là chủ thể tuyên truyền pháp luật cho nhân dân Thực hiện nhiệm vụ này Ủy ban nhân dân giao cho sở tư pháp, phòng tư pháp ở địa phương Các sở tư pháp đều có phòng tuyên truyền pháp luật Việc tổ chức thực hiện lực lượng tuyên truyền ở địa phương có những loại chủ thể giống nhau, nhưng cũng có loại chủ thể tuyên truyền cụ thể khác nhau Từ những phân trên Nhà nước ta có đưa ra quy định về báo cáo viên pháp luật như sau:22
Báo cáo viên pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội,
19 Phan Xuân Trường, Phạm Thị Thu Dung, Nghiên cứu xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền trong đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai, Ban Tuyên Giáo Tỉnh Ủy Gia Lai,Pleiku, tháng 7-2010, tr 37
20
Lê Hồng Sơn, kế thừa phong tục tập quán trong luật hôn nhân và gia đình, Dân chủ và pháp luật, Tr 3-4
21 Điều 16, khoản 1, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Nxb pháp lý Hà Nội, năm 2003 22
Điều 1, điều 2 Thông Tư 18/ 2010/ TT-BTP, Quy chế về báo cáo viên pháp luật,
http://moj.gov.vn/pbgdpl/Lists/HoaDongPGBDPLTW/Attachments/32/THONG%20TU%2018%20BCV.%20D
A%20KY.doc [truy cập ngày 20-12-2012]
Trang 26tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương (sau đây gọi là Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương)
Báo cáo viên pháp luật của các cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh)
Báo cáo viên pháp luật của các cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Báo cáo viên pháp luật cấp huyện)
Như vậy, những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trên đây là chủ thể của tuyên truyền giáo dục pháp luật
Tiêu chuẩn của báo cáo viên pháp luật như sau:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức tốt, không vi phạm pháp luật
Được cơ quan, tổ chức nơi công tác giới thiệu
Có trình độ Cử nhân luật đối với Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương và cấp tỉnh; có trình độ trung cấp luật trở lên đối với Báo cáo viên pháp luật cấp huyện
Trường hợp cá nhân không có bằng đại học Luật, nhưng có bằng đại học khác thì cần có thời gian công tác từ 05 năm trở lên đối với Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương và từ 03 năm trở lên đối với Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh và am hiểu pháp luật về lĩnh vực cần phổ biến
Ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số nói chung và ở tỉnh Hậu Giang nói riêng, các già làng là chủ thể của tuyên truyền, giáo dục pháp luật Đây cũng là loại chủ thể được vận dụng trong thực tế và họ vừa là đối tượng của tuyên truyền, giáo dục pháp
luật nhưng đồng thời cũng là chủ thể Ưu thế của những người này là vừa có “uy quyền” thực tế, tự nhiên trong cộng đồng người dân tộc, vừa gần gũi dân vừa thường
giải quyết những tranh chấp, xích mích trong phum sóc Vì vậy, nếu họ là chủ thể thì hiệu quả sẽ rất cao
Nhình chung, những người được nhà nước giao nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở Hậu Giang cũng giống như các tỉnh miền núi và vùng dân tộc ít người khác Sự khác biệt cơ bản đối với các tỉnh khác là đội ngũ các già làng Với lợi thế và
Trang 27uy tín của họ đối với nhân dân, họ là những người đi tuyên truyền và cần được tuyên truyền trước hết trong nhân dân
Đặc điểm thứ ba: Nội dung tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân
tộc thiểu số hiện nay không chỉ áp dụng cho nhân dân một tỉnh mà được áp dụng trong
cả nước Một mặt khác, nội dung tuyên truyền được xác định cho từng thời kỳ, từng
đối tượng khác nhau Vì thế, nội dung tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một “đại lượng động” hay thay đổi cho phù hợp để đạt được mục đích hiệu quả như mong
muốn Mặt khác là nội dung tuyên truyền phải tương ứng với khả năng tiếp nhận tri thức pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số
Đặc điểm thứ tư: Các hình thức và phương pháp giáo dục Về các hình thức hay
“mô hình” hoặc “con đường” tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở nước ta thực chất
chưa có các hình thức giáo dục được xác định ổn định về mặt lý luận vẫn đang trong giai đoạn tìm tòi thử nghiệm Thành tựu về giáo dục học ở nước ta đã tổng kết có tính
giáo khoa về giáo dục công dân trong đó có chỉ dẫn “con đường giáo dục ý thức công dân” bao gồm:23
- Tuyên truyền pháp luật thông qua các giảng dạy pháp luật trong nhà trường
- Tuyên truyền pháp luật thông qua các dạng hoạt động xã hội như xây dựng gia đình văn hóa hay các cuộc vận động có tính phong trào trong nhân dân
- Tuyên truyền pháp luật thông qua các lễ hội
- Tổ chức các sinh hoạt đoàn thể
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật hấp dẫn và có thưởng Đó là những
“con đường” chung nhất được vận dụng trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật Đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong tác phẩm: “Một số vấn đề về tuyên truyền pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số”, đã nêu lên các hình thức (mô hình) tuyên
truyền, giáo dục pháp luật sau đây:24
- Tuyên truyền pháp luật thông qua công tác hòa giải
- Tuyên truyền pháp luật thông qua hoạt động báo chí tuyên truyền
- Tuyên truyền pháp luật thông qua một số loại hình trường học
23 Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật, Các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật,
http://www.phapluatbacninh.gov.vn/?module=7&idsub=1100&id=22399037 [truy cập ngày 02-01-2012]
24 Nguyễn Duy Lãm (chủ biên) và nhóm tác giả, Một số vấn đề về tuyên truyền giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr 23 – 54 – 87 - 113
Trang 28- Tuyên truyền pháp luật thông qua hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống
Các hình thức tuyên truyền pháp luật kể trên mang tính phổ biến có thể áp dụng rộng rãi ở các vùng, miền, các dân tộc ở miền xuôi cũng như ở miền ngược Ở mỗi hình thức phổ biến giáo dục việc sử dụng các phương pháp tuyên truyền giáo dục ở từng nơi đối với từng loại đối tượng sẽ khác nhau Những phương pháp sử dụng có tính riêng biệt ở Hậu Giang cũng như các tỉnh ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số cho thấy những đặc điểm khác biệt với việc tuyên truyền pháp luật ở nơi khác
Đặc điểm nổi bật là việc dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc sẽ hiệu quả hơn dùng tiếng phổ thông Người dân tộc trực tiếp làm công tác hòa giải hoặc giảng dạy pháp luật hoặc tổ chức các lễ hội dân tộc sẽ có hiệu quả hơn Các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, đài phát thanh, truyền hình, được sử dụng ở Hậu Giang cũng như đặc điểm riêng biệt như tiếng nói, hình ảnh và các yêu cầu về kỹ thuật phải phù hợp với địa hình Ở thành phố, vô tuyến truyền hình là phương tiện chuyển tải thông tin chủ yếu thì ở Hậu Giang radio, casetes lại là phương tiện truyền thông phổ biến phù hợp với đồng bào dân tộc ít người vì có những địa phương ở vùng sâu vùng
xa chưa có lưới điện quốc gia, nên vô tuyến chưa sử dụng được Như vậy, con đường
mà pháp luật đến với nhân dân, các hình thức phương pháp tuyên truyền pháp luật không thể rập khuôn ở mọi miền là giống nhau Nếu như không xem xét những đặc điểm và yêu cầu riêng biệt này thì công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật sẽ rơi vào tình trạng lan man và tuyên truyền không có hiệu quả
2.2 Đặc điểm tình hình địa lý tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang
2.2.1 Đặc điểm vị trí địa lý
Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Vị Thanh cách thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía tây nam; phía bắc giáp thành phố Cần Thơ; phía nam giáp tỉnh Sóc Trăng; phía đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long; phía tây giáp tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu Ba tộc người Kinh, Khmer, Hoa của Hậu Giang có truyền thống đoàn kết, cần cù lao động sáng tạo kiến thiết quê hương, đem đến sự da dạng về văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán
Ngày nay, thị xã Vị Thanh còn là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và là đầu mối giao thông của tỉnh Hậu Giang, là điểm tựa quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh Hậu Giang và tiểu vùng Tây sông Hậu, có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng Cơ cấu kinh tế của thị xã Vị Thanh đang phát triển theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
Trang 29Địa hình ở Hậu Giang khá bằng phẳng là đặc trưng chung của đồng bằng sông cửu long Trên địa bàn tỉnh có 2 trục giao thông huyết mạch quốc gia là quốc lộ 1A, quốc
lộ 61; 2 trục giao thông thủy quốc gia kênh Xà No, kênh Quảng lộ-Phụng Hiệp Thuận tiện nối liền các mạch giao thông với các tỉnh nên có khả năng giao lưu và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh vùng Nam Sông Hậu và cả vùng đồng bằng sông cửu Long Đặc biệt tuyến đường bộ nối Thành phố Vị Thanh, thị trấn Một Ngàn và Thành phố Cần Thơ, là cầu nối quan trọng giữa Thành phố Cần Thơ với tỉnh Kiên Giang và Bạc Liêu
2.2.2 Đặc điểm dân cư
Theo báo cáo tổng kết công tác của tỉnh Hậu Giang hiện nay trong tỉnh có 7.533
hộ đồng bào dân tộc thiểu số với 35.268 khẩu, cùng sinh sống chiếm 3,16% dân số, trong đó nhiều nhất là đồng bào dân tộc Khmer với 5.537 hộ, 25.536 khẩu, đồng bào Hoa 1.977 hộ với 9.530 khẩu, các dân tộc Chăm, Ê Đê, Mường có 58 hộ với 202 khẩu Trong khi cả nước có 54 dân tộc anh em, Vì vậy đặc điểm tâm lý dân tộc bản sắc từng dân tộc, hoàn toàn khác nhau Trình độ học vấn nói chung của đa số các dân tộc thiểu
số ở tỉnh Hậu Giang là chưa cao Đa số nhân dân các dân tộc ít người đều không biết tiếng nói và chữ viết của người kinh, đây là hạn chế lớn nhất khi tiếp thu những kiến thức về pháp luật
Nhân dân các dân tộc bản địa ở đây chủ yếu là người Khrme còn lại là người của các vùng, các tỉnh khác đến sinh sống như người Hoa, người Chăm…ở phía Đông Nam lên sinh sống Tính xã hội đa sắc dân tộc, đa tôn giáo, một nền văn hóa tổng hợp của nhiều bản sắc dân tộc
2.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tỉnh Hậu Giang với điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi vì thế đây là vùng đất thu hút sự quan tâm chú ý của nhân dân lao động từ khắp nơi, về đây làm an, định cư, sinh sống tại đây Có thể nói Hậu Giang
là một vùng đất thuận lợi về phát triển kinh tế với nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống
Sau khi tỉnh Hậu Giang được thành lập (01/01/2004), Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, tự lực, tự cường vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quyết tâm cao, phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng Theo đó.25
25
Cục thống kê tỉnh Hậu Giang ,trích Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang năm 2011
Trang 30 Sản xuất nông nghiệp được quan tâm chỉ đạo và đạt được kết quả khá toàn diện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực I đạt 5,3%
Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 4.212 tỷ đồng, tăng 28,28% so với cùng kỳ, vượt 17,01% (công nghiệp quốc doanh địa phương và công ty cổ phần có vốn Nhà nước chiếm 25,73%, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 74,1% và tăng 33% so cùng kỳ, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,17%) Số cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 16% so cùng kỳ
Dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ thực hiện 16.555 tỷ đồng, tăng 37,43% so với cùng kỳ, vượt 16,57% (thương nghiệp thực hiện 12.724 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 76,85%, tăng 29,48% so với cùng kỳ; ngành khách sạn, nhà hàng thực hiện được 2.376 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14,35%, tăng 101% so với cùng kỳ; ngành dịch vụ khác thực hiện 1.455 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 8,8 %, tăng 40,8% so cùng kỳ)
Tuy nhiên, Hậu Giang cũng còn những yếu kém đó là:26 Chưa tận dụng hết cơ hội
để khai thác đúng tiềm năng, lợi thế; một số mặt xã hội còn nhiều bức xúc; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng chưa theo kịp sự phát triển của thời kỳ mới; việc quản lý, điều hành của chính quyền các cấp còn nhiều hạn chế; công tác vận động quần chúng chưa chuyển kịp theo yêu cầu của tình hình Hiện nay tình trang dân di cư tự do ở các tỉnh khác tràn vào Hậu Giang khá nhiều Quản lý nhà nước ở địa phương đang gặp nhiều khó khăn, các tệ nạn xã hội và tội phạm đang diễn ra rất
phức tạp
2.2.4 Về văn hóa - xã hội
Trong ngôn ngữ đời thường, văn hóa được sử dụng với rất nhiều nghĩa, nhiều góc độ khác nhau Theo đó, văn hóa được thể hiện tiêu biểu ở các ngữ nghĩa như: Lĩnh vực đời sống tinh thần - đời sống văn hóa nghệ thuật, cách ứng xử đẹp, văn hóa nói, văn hóa viết 27 Bên cạnh đó, nhân dân các dân tộc ở Hậu Giang lại có một nền văn hóa rất phong phú, đa dạng lại là nơi hội tụ của sự giao lưu văn hóa Ở đây mỗi dân tộc anh em có một nền văn hóa và bản sắc dân tộc riêng Nét văn hóa độc đáo của đồng
26 Trang tin điện tử Hậu Giang, Thành tựu sau 7 năm thành lập và phát triển,
http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co-id=28340674&cn-id=475645 [truy cập ngày 4-2-2012]
27 Hoàng Thị Kim Quế, Văn hóa pháp lý – dòng riêng giữa nguồn chung của văn hóa dân tộc Việt Nam, Tạp chí
dân chủ & pháp luật, khoa luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội, số 10 (151) – 2004, tr 5
Trang 31bào dân tộc khơmer Trong đời sống xây dựng, phong tục đang chi phối mạnh mẽ đến đời sống sinh hoạt của nhân dân các dân tộc nói chung và ở Hậu Giang nói riêng Đặc biệt là tập tục của người khmer hiện nay Dân tộc Khmer thuần theo đạo Phật Tiểu thừa Ở đồng bằng sông Cửu Long có hơn 440 ngôi chùa lớn nhỏ của người Khmer, mỗi chùa có ít nhất 5 - 10 ông lục, nhiều khi đến 60 - 70 ông ăn ở, học tập tu hành Các ông lục, còn gọi là sư sãi, là con em người bổn sóc Gia đình nào có con trai từ 12 tuổi trở lên đều cho vào chùa tu, có thể 3 tháng hoặc 3 - 4 năm hay trọn đời tuỳ ý
Ngày xưa, nếu người con trai nào không qua giai đoạn tu trong chùa thì bị xã hội
và gia đình cho là bất hiếu và lớn lên rất khó lấy vợ Bởi vì người con gái Khmer đến tuổi lấy chồng, thường chọn những chàng trai đã qua tu luyện trong chùa, đã hoàn tục Theo họ, đó là người đã hoàn thành nghĩa vụ và học được cách làm người, nhất là biết chữ nghĩa, được mọi người trọng vọng
Lễ đi tu thường được tổ chức vào ngày đầu Tết Chôl Chnam Thmây Vào ngày này, gia đình nào muốn đưa con vào chùa tu (vài tháng trước đó, người con trai này phải vào chùa học thuộc vài bài kinh cơ bản) sẽ tổ chức một lễ gọi là Bank-Bom-Buôn
để người đi tu từ giã họ hàng, bạn bè và được mọi người cầu chúc sức khoẻ Khi vào
lễ, anh ta cạo đầu, thay quần bằng chiếc xà rông, thay áo bằng một khăn vải trắng đắp lên vai từ trái sang phải gọi là Pênexo, chứng tỏ rằng anh ta từ bỏ thế tục Lúc đó
người ta gọi anh là Nec (có nghĩa là “rồng”) Để vào lễ, buổi tối họ mời sư sãi đến
tụng kinh, cúng Tam bảo và thọ giới theo Phật Sáng hôm sau, khi cơm nước xong, họ đưa con trai lên chùa, có bạn bè thân quyến mang lễ vật cùng đi theo Đến chùa, họ đi vòng quanh chánh điện ba vòng rồi mới vào trong làm lễ Ở đây có một nhà sư ngồi gọi là Uppachhe giảng dạy, hỏi và đọc các điều của luật tu hành cho các nec nghe Sau
đó nec mới cầm áo cà sa đi vào hàng giữa sư sãi và đọc lời xin tu Khi vị thượng toạ chấp thuận thì nec mới đi thay xà rông và khăn trắng bằng áo cà sa Tiếp theo là lễ thọ giới 10 điều của Phật giáo:
1 Không sát sinh;
2 Không trộm cắp;
3 Không tà dâm;
4 Không nói dối;
5 Không uống rượu;
6 Không ăn ngoài bữa;
7 Không xem múa hát;
Trang 328 Không dùng đồ trang sức;
9 Không chiếm ghế cao và giường êm;
10 Không đụng đến vàng bạc
Cuối cùng, các nhà sư cùng Phật tử tụng kinh cầu phước cho người mới tu hành
và chúng sinh để chấm dứt buổi lễ.28 Đi tu đồng thời theo nếp nghĩ truyền thống của người Khmer ở miền Tây Nam Bộ cũng là một cách tích phước cho cha mẹ, gia đình
và chính bản thân
Theo truyền thuyết, nguồn gốc của việc tu báo hiếu của người Khmer xuất phát
từ câu chuyện về hai mẹ con người Khmer Vì chồng mất sớm nên người mẹ trong câu chuyện này phải thay cha làm nghề săn bắt để nuôi con Là một đứa trẻ thông minh, có lòng nhân từ nên từ nhỏ khi thấy mẹ sát sinh hại vật tội lỗi, Socpenh Kokma - đứa con trai - đã trốn mẹ lên chùa gần nhà để xin được đi tu nhằm phần nào hóa giải tội lỗi giúp mẹ Khi người mẹ chết, oan hồn của bà đã không bị quỷ dữ hành hạ dù bà đã sát sinh rất nhiều khi còn sống Bà có được sự may mắn đó chính là nhờ đức độ tu hành của con mình đã giúp bà hóa giải những tội lỗi Từ đó câu chuyện cảm động, người con trai Khmer đến tuổi trưởng thành đều đến chùa tu một thời gian để tạo phước báu cho cha mẹ như một cách báo hiếu công sinh thành dưỡng dục.29
Luật tục đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau trong đời sống dân tộc ít người từ môi trường tự nhiên, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, cho đến hôn nhân và gia đình Quan hệ xã hội truyền thống của dân tộc Khmer là chế độ mẫu hệ Dòng họ mẹ thống trị mọi mặt trong đời sống như quyền thừa kế về tài sản, hôn nhân và gia đình
Do vậy, luật tục là công cụ quan trọng để bảo vệ chế độ mẫu hệ, khẳng định vai trò của dòng họ mẹ, khẳng định vị trí to lớn của người phụ nữ trong xã hội Từ xưa khi chưa
có chữ viết, luật tục được hình thành và tồn tại trong cộng đồng các buôn làng là những quy định bất thành văn, đó là những câu phương ngôn, ngạn ngữ, truyền miệng
từ đời này sang đời khác trong đồng bào dân tộc thiểu số Song, chúng ta thấy rằng, tính tuân thủ của luật tục là hết sức nghiêm ngặt Trước hết là mọi thành viên tự giác tuân theo, trường hợp không tự giác thì vai trò của già làng có uy quyền lớn trong dân
sẽ đứng ra phạt những ai không tuân thủ “Luật tục dựa vào tính ngưỡng đa thần ở hai
28
Tập tục của người khmer ở miền Tây Nam Bộ, đi tu để thành người,
http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Ban-sac-van-hoa/Gioi-thieu-ban-sac-van-hoa/2011/08/420B15BF/ [truy cập ngày 4-2-2012]
29 Tạp chí hồn Việt, Tiếp nối truyền thống báo hiếu cha mẹ,
http://honvietquochoc.com.vn/Van-hoa/Dan-toc-thieu-so/Tiếp-truyền-thống-báo-hiếu-cha-mẹ.aspx [truy cập ngày 6-2-2012]
Trang 33khía cạnh phục tùng ý nguyện của thần linh để tạo nên sức mạnh cũng cố quan hệ cộng đồng Vì xét cho công bằng ý nguyện của thần linh và cộng đồng là một”.30
Như phân tích ở trên, bản chất của luật tục, theo các nhà khoa học đó là “phong tục, đạo đức, phép ứng xử vừa là lập pháp, nó vừa là lời khuyên giải, đề nghị thực hiện những điều nên làm, vừa là sự bắt buộc phải thực hiện các quy định tiêu chí của
xã hội bằng tác dụng tiêu cực và tích cực trách phạt và khen ngợi”.31
Tóm lại, tập tục có nhiều quy định mang đậm bản sắc văn hóa đó là điều tiết cuộc sống trong cộng đồng bằng lễ nghi, hoặc khuyên răn, giáo dục tính cộng đồng, lòng nhân ái giữa con người với con người bằng tình thương trách nhiệm Đó là những mặt tích cực, tiến bộ trong luật tục cần phải nghiên cứu đầy đủ để kế thừa những giá trị của
nó Giáo dục mọi người có ý thức đấu tranh với những hủ tục, lạc hậu, bảo vệ lẽ phải, công bằng, đồng thời đấu tranh phê phán với những hủ tục lạc hậu trái pháp luật nhà nước
2.2.5 Về giáo dục và y tế
Trong công tác giáo dục, tỉnh đã đẩy mạnh xã hội hoá trong giáo dục, tiếp tục triển khai chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên Đến nay toàn tỉnh có 79/331 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 23,93%, thành lập mới trên
71 trường Công tác chống mù chữ - phổ cập giáo dục đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, trung học cơ sở đúng độ tuổi, phấn đấu đến 2013 hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông.32 Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, quy mô, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Cơ
sở vật chất, trường lớp ngày càng được đầu tư xây dựng kiên cố, khang trang sạch đẹp phục vụ công tác dạy và học ngày càng tốt hơn Hiện nay ở tỉnh có hai trường dân tộc nội trú một trường mang luôn tên tỉnh (Trường Dân Tộc Nội Trú Hậu Giang) trường thứ hai là trường phổ thông dân tộc nội trú Him Lam Bên cạnh đó, còn có trường đào tạo dạy nghề cho thanh thiếu niên người dân tộc Đó là sự quan tâm đặc biệt thể hiện trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Báo cáo, Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2012,
http://www haugiang.gov.vn/Portal/Data/Sites/1/GalleryImages/Doc/KTXH_2011.doc
[truy cập ngày 6-2-2012]
Trang 34Tuy nhiên, chất lượng dạy và học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, còn sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng trong tỉnh Những tiêu cực trong giáo dục đào tạo nhiều tình trạng dạy thêm học thêm không đúng quy định, tiêu cực trong thi cử chưa được khắc phục triệt để Công tác bồi dưỡng giáo viên là người dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu Số giáo viên đạt trình độ chuẩn ở bậc tiểu học còn ít, ở vùng sâu, vùng xa tình trạng thiếu giáo viên vẫn còn tồn tại
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn được quan tâm, bệnh viện tỉnh, huyện được đầu tư xây dựng Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển; các dịch vụ y tế ngày càng phong phú, đa dạng; nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng; trang thiết bị y tế được đầu tư nhiều hơn; đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo bổ sung; nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi
Hậu Giang là một tỉnh có vị trí hết sức quan trọng trên địa bàn chiến lược, đất đai rộng và màu mỡ, tài nguyên rừng và khoáng sản giàu có nhiều dân tộc anh em trên nhiều vùng, nhiều miền của đất nước cùng nhau về sinh sống; sự ổn định và phát triển bền vững của tỉnh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với khu vực và cả nước, cả về kinh tế-xã hội cả về an ninh quốc phòng.33
2.3 Thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật
2.3.1 Khái quát tình hình thực trạng tuyên truyền, giáo dục pháp luật
2.3.1.1 Thực trạng về đối tượng
Khi đã phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” thì có những nội dung chính sau:34 Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và người học, góp phần ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Tổ chức dạy và học kiến thức pháp luật phù hợp ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo:
33
Đại hội Đại biểu Đảng bộ Hậu Giang lần thứ XII (nhiệm kì 2010 – 2015), Hậu Giang tạo bức phá mới,
tao-but-pha-moi/144/4930483.epi [truy cập ngày 03-02-2012]
http://www.baomoi.com/Dai-hoi-Dai-bieu-Dang-bo-Hau-Giang-lan-thu-XII-nhiem-ky-20102015-Hau-Giang-34
Quyết Định, 1928/QĐ-TTg, Phê duyệt đề án Nâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường, http://moj.gov.vn/pbgdpl/Lists/ChutruongtrinhPLGDCuaChinhPhu/Attachments/4/QD1928%20QĐ- TTg%20De%20an%20nang%20cao%20chat%20luong%20giao%20duc%20phap%20luat%20trong%20nha%20 truong.DOC [truy cập ngày 9-2-2012]