1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP tội cướp tài sản TRONG LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM

102 328 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song bản chất của các tội phạm xâm phạm sở hữu có thể được hiểu như sau: Các tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NIÊN KHÓA (2007 – 2011)

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS.Phạm Văn Beo Phạm Thị Kim Yến

MSSV: 5075085

Lớp: Luật Tư Pháp 1-K33

Cần Thơ, Tháng 11 năm 2010

Trang 2

Trang 3

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cơ cấu đề tài 2

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 3

1.1 Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu 3

1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu 3

1.1.2 Đặc điểm chung về các tội xâm phạm sở hữu 4

1.1.3 Các yếu tố cấu thành của các tội xâm phạm sở hữu 6

1.1.3.1 Mặt khách thể của các tội xâm phạm sở hữu 6

1.1.3.2 Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu 8

1.1.3.3 Mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu 10

1.1.3.4 Mặt chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu 11

1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển những quy định về tội cướp tài sản trong Luật hình sự Việt Nam 12

1.2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về tội cướp tài sản từ thời kỳ phong kiến đến trước cách mạng tháng tám 1945 13

1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về tội cướp tài sản từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 16

1.2.3 Quy định về tội cướp tài sản từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ra đời Bộ luật hình sự 1999 19

1.2.4 Quy định về tội cướp tài sản từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến giai đoạn hiện nay 21

1.3 Khái quát về tội cướp tài sản 22

1.3.1 Đặc điểm của cướp tài sản 22

1.3.2 Phương thức, thủ đoạn của bọn cướp tài sản 23

1.3.3 Nguyên nhân – điều kiện của tội cướp tài sản 25

1.3.4 Hậu quả của tội cướp tài sản 27

1.3.5 Ý nghĩa của việc quy định về tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự hiện hành 28

1.4 Những quy định về tội cướp tài sản trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới 29

1.4.1 Những quy định của pháp luật hình sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về tội cướp tài sản 30

1.4.2 Những quy định của pháp luật hình sự Nhật về tội cướp tài sản 31

1.4.3 Những quy định của pháp luật hình sự Trung Hoa về tội cướp tài sản 31

CHƯƠNG II: TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 32

2.1 Định nghĩa về tội cướp tài sản 32

2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản 33

2.2.1 Khách thể của tội phạm 33

2.2.2 Khách quan của tội phạm 35

2.2.3 Chủ quan của tội phạm 38

2.2.4 Chủ thể của tội phạm 39

Trang 5

2.3.4 Cướp tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 133 Bộ luật hình sự 50

2.4 So sánh tội cướp tài sản với một số tội khác có liên quan trong Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 51

2.4.1 So sánh tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản 52

2.4.2 So sánh tội cướp tài sản với tội cướp giật tài sản 54

2.4.3 Các trường hợp chuyển hóa tội phạm thành tội cướp tài sản 56

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI CƯỚP TÀI SẢN 59

3.1 Thực trạng về tội cướp tài sản trong giai đoạn hiện nay 59

3.1.1 Tình hình về tội cướp tài sản trong phạm vi cả nước 59

3.1.2 Thực trạng về tội cướp tài sản trên một số địa bàn nhất định 61

3.1.2.1 Thực trạng về tội cướp tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 61

3.1.2.2 Thực trạng về tội cướp tài sản trên địa bàn thành phố Cần Thơ 63

3.1.2.3 Thực trạng về tội cướp tài sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long 64

3.1.3 Dự báo về tình hình tội cướp tài sản trong thời gian tới 66

3.2 Những bất cập và nguyên nhân bất cập của tội cướp tài sản 67

3.2.1 Những bất cập về tội cướp tài sản trong quy định của Bộ luật hình sự 67

3.2.2 Những bất cập của tội cướp tài sản trong quá trình áp dụng pháp luật 70

3.2.5 Những bất cập khác của tội cướp tài sản 76

3.3 Một số giải pháp đề xuất 81

3.3.1 Giải pháp về pháp luật hình sự 81

3.3.2 Giải pháp trong quá trình áp dụng pháp luật 84

3.3.3 Một số giải pháp khác 86

KẾT LUẬN 92

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI từ nắm 1986 đến nay mở đầu cho công cuộc đổi mới ở đất nước ta Những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội sau 20 năm đổi mới không ngừng tăng trưởng và ổn định đã chứng tỏ đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo đất nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội

Việc xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những kết quả khả quan về nhiều mặt

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao đời sống cải thiện nhu cầu của mình Song song với việc nâng cao đời sống, người dân không ngừng tích lũy tài sản Điển hình như việc sắp sửa nhiều nữ trang, điện thoại, xe máy, máy tính xách tay…

Tuy nhiên, trong xã hội lại xuất hiện những phần tử lao động không chân chính mà nhắm vào tài sản của người khác để chiếm đoạt một cách phi pháp Đáng chú ý trong giai đoạn hiện nay, nhiều vụ cướp taxi, xe máy và cướp tiệm vàng càng gia tăng

Bọn chúng thường để tấn công người lái xe chở khách nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô, ôtô và các tài sản khác, đồng thời chúng sử dụng luôn tài sản cướp được làm phương tiện tẩu thoát khỏi hiện trường

Tội phạm cướp tài sản là loại tội phạm nguy hiểm, không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại Thời gian qua trên địa bàn nhiều tỉnh thành trên cả nước tội phạm cướp tài sản diễn biến phức tạp Nhiều vụ để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản chúng đã không từ một thủ đoạn đê hèn nào, kể cả tước đoạt mạng sống của nạn nhân

Tình hình trên đã gây tâm lý hoang mang trong xã hội và gây bất bình trong nhân dân Đây thực sự là một thách thức lớn đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật Thế nhưng vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu đối với lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

Hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng diễn ra phức tạp với chiều hướng gia tăng gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Đặc biệt là những tội phạm giết người cướp của, cướp taxi, cướp xe máy với thủ đoạn và phương thức man rợ

Trước tình hình trên, đặt hồi chuông báo động cho toàn xã hội Tuy nhiên, ý thức giữ gìn tài sản của người dân chưa cao và những biện pháp đề phòng, cảnh giác chưa được chú trọng một cách nghiêm túc

Cho nên, người viết nghiên cứu vấn đề “Tội cướp tài sản trong luật hình

sự Việt Nam” nhằm đề ra giải pháp phòng chống về loại tội phạm này và qua đó

nâng cao nhận thức về pháp luật đối với những người có ý định phạm tội, cũng như đối với người dân trong việc cảnh giác tội phạm nói chung và tội cướp tài sản nói riêng

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Người viết nghiên cứu về tội cướp tài sản nhằm tìm hiểu những quy định pháp luật về tội này trong Bộ luật hình sự Bên cạnh đó, tìm hiểu những thủ đoạn, phương thức hoạt động của bọn cướp tài sản

Nghiên cứu thực trạng hoạt động tội cướp tài sản từ đó nhận xét đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại để đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống trong thời gian tới

về pháp luật quy định tội cướp tài sản

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Nhà nước và ngành Công an, Viện kiểm sát và Tòa án về điều tra khám phá tội phạm

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp tổng kết thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu điển hình

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích tổng hợp

5 Cơ cấu đề tài

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, đề tài luận văn được cấu trúc bởi 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về tội cướp tài sản

Chương 2: Tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự hiện hành

Chương 3: Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng chống tội cướp tài sản

Trang 8

CHƯƠNG I KHÁT QUÁT CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

1.1 Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu

Tài sản là giá trị cơ bản của xã hội và là giá trị không thể thiếu của con

người trong mọi thời đại Theo Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Tài sản

bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Kể từ khi tư hữu xuất hiện,

tài sản luôn là đối tượng để con người phấn đấu đạt tới Bởi vì, nó là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Hai nhu cầu vật chất và tinh thần suy cho cùng đều là nhu cầu cơ bản và thiết yếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người

Ngoài ra, tài sản còn là đối tượng của quyền tài sản Quyền sở hữu tài sản là quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình bao gồm các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt Để có được quyền sở hữu tài sản, con người có nhiều cách thức tìm kiếm khác nhau Chẳng hạn qua lao động sản xuất, kinh doanh hợp pháp… hành vi tìm kiếm này phải hợp pháp và phải được xã hội chấp nhận Mức độ chấp nhận hay không chấp nhận của con người đối với hành vi tìm kiếm phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó Chính vì thế, Nhà nước ta đã dùng pháp luật để điều chỉnh hành vi này

Tùy thuộc vào tính nguy hiểm của hành vi mà mỗi ngành luật đều có cách thức điều khiển khác nhau (dân sự, hành chính, hình sự…) Những hành vi tìm kiếm tài sản thể hiện tính nguy hiểm cao bị cho là tội phạm đều được luật hình sự điều

chỉnh

1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu

Ở Việt Nam, kể từ khi Nhà nước ban hành Bộ luật hình sự 1985, tài sản của Nhà nước, của tập thể và của công dân đều được bảo vệ hữu hiệu bằng các quy phạm pháp luật hình sự Bộ luật hình sự 1985 chia các hành vi xâm phạm sở hữu ra thành hai nhóm: các hành vi xâm phạm sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Chương IV và các hành vi xâm phạm sở hữu của công dân quy định tại Chương VI Điều này xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong thời

kỳ lịch sử cụ thể đó đặc biệt chú trọng phát triển nền kinh tế quốc doanh cho nên pháp luật ưu tiên bảo vệ tài sản chung của xã hội chủ nghĩa

Dựa vào tình hình thực tế cụ thể, trên cơ sở Hiến pháp 1992 và chủ trương của Nhà nước ta đã có sự điều chỉnh trong quan hệ xây dựng nền kinh tế trong thời

kỳ quá độ đó là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần Bộ luật hình sự nhà nước ta thừa nhận 7 hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, và đều được nhà nước bảo hộ, các hình thức sở hữu đan xen nhau Cho nên rất khó thậm chí là không thể phân biệt tách bạch được đối tượng xâm hại thuộc đối tượng nào khi xử ký tội phạm nếu như trong bộ luật hình sự vẫn duy trì hai chương với hai hình thức sở hữu là (Nhà nước và tập thể)

Xuất phát từ những yêu cầu trên, Bộ luật hình sự 1999 đã nhập hai chương này thành một chương với tên gọi “ Các tội xâm phạm quyền sở hữu” việc nhập hai chương này không có ý nghĩa là Bộ luật hình sự 1999 đã đánh đồng các hình thức

Trang 9

sở hữu, bỏ qua định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quy định của Bộ luật hình sự trong đấu tranh phòng chống tội phạm Việc xâm phạm tài sản của nhà nước bị coi

là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điểm i khoản 1 Điều 48)

Qua mười năm đưa Bộ luật hình sự 1999 vào thực thi, xã hội đã có nhiều thay đổi, chuyển biến, nhiều loại tội phạm mới được hình thành đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, kinh doanh chứng khoán… nhưng chưa được quy định trong Bộ luật Song song đó, nhiều quy định khác không còn phù hợp với thực tiễn

xã hội như mức tiền vi phạm tối thiểu trong một số điều luật, mức hình phạt tử hình trong một số điều luật Cho nên, Bộ luật hình sự 1999 lần đầu tiên được sửa đổi , bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế một số cụm từ, khoản, điều của Bộ luật hình sự

Tuy thế, các tội phạm về xâm phạm sở hữu vẫn thuộc quy định tại Chương XIV Một số điều thuộc chương này được sửa đổi về hình thức Song bản chất của các tội phạm xâm phạm sở hữu có thể được hiểu như sau:

Các tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, của tổ chức, của cá nhân

1.1.2 Đặc điểm chung về các tội xâm phạm sở hữu

Tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại chương XIV trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến chế độ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân1

Khái niệm tội xâm phạm sở hữu cũng bao gồm các dấu hiệu chung về tội xâm phạm sở hữu Gồm có:

Thứ nhất, các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội Đây

là đặc điểm cơ bản về dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm Nó giúp phân biệt giữa hành vi phạm tội và hành vi khác Tính nguy hiểm cho xã hội ở đây thể hiện ở việc gây ra thiệt hại hoặc tạo khả năng gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội mà Luật hình sự bảo vệ Và cụ thể ở đây là quyền sở hữu tài sản Quan hệ xã hội này được Luật hình sự bảo vệ thông qua việc quy định tội phạm và các hình phạt được

áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác

Thứ hai, hành vi xâm phạm đó phải được quy định trong Bộ luật hình sự

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự thì “Chỉ người nào phạm một tội đã được

Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Do vậy, các hành vi

nào được xem là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản thì chúng phải được quy định tại Chương XIV “ Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự như: cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; chiếm giữ trái phép tài sản; sử dụng trái phép tài sản; hủy hoại

1 Ths Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2010, tr.32

Trang 10

hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước; vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Thứ ba, tội xâm phạm sở hữu là hành vi do người có năng lực trách nhiệm

hình sự thực hiện Năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức hành

vi nguy hiểm cho xã hội của mình, khả năng điều khiển hành vi đó và khả năng gánh lấy hậu quả pháp lý là trách nhiệm hình sự từ hành vi nguy hiểm do mình gây

ra Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự được hợp thành từ hai yếu tố là năng lực nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự Theo quy định của Bộ luật hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình

sự về mọi tội phạm Tuy nhiên người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm các tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng do

cố ý

Thứ tư, tội xâm phạm sở hữu là hành vi có yếu tố lỗi Lỗi là thái độ bên

trong con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả

do hành vi đó gây ra Một người chịu trách nhiệm hình sự không chỉ đơn thuần là đã thực hiện hành vi nguy hiểm gây thiệt hại cho xã hội mà còn phải đã có lỗi khi thực hiện hành vi đó Lỗi được thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý

Một người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ bị coi là cố ý phạm tội khi nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi

đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả nó xảy ra

Còn vô ý phạm tội là người thực hiện hành vi phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Người phạm tội đã gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù điều kiện khác quan buộc họ phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

Đa số các tội xâm phạm sở hữu đều được thực hiện với lỗi cố ý Ngoại lệ,

có hai hành vi được thực hiện với lỗi vô ý như tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Thứ năm, tội xâm phạm sở hữu là hành vi phải chịu hình phạt Các hình

phạt được quy đinh tại Chương XIV Bộ luật hình sự hiện hành là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình Đối với hình phạt chính,

có 13 điều luật với 46 khoản quy định về tội phạm và 62 lượt hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu Trong đó có 8 lượt hình phạt cải tạo không giam giữ; 45 lượt hình phạt tù có thời hạn; 6 lượt hình phạt tù chung thân và 2 lượt hình phạt tử hình2

Còn đối với hình phạt bổ sung, thì trong 13 điều chỉ hai điều không quy định hình phạt bổ sung Đó là Điều 141 quy định về tội chiếm giữ trái phép tài sản

2

Ths Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2010, tr.31.

Trang 11

và Điều 145 về tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Với 11 điều luật quy định tại Chương XIV của Bộ luật hiện hành thì có 23 lượt hình phạt bổ sung có thể

áp dụng đối với người phạm tội Trong đó có 5 lượt hình phạt cấm đảm nhiệm chức

vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; 2 lượt hình phạt cấm cư trú; 2 lượt hình phạt quản chế; 4 lượt hình phạt tịch thu tài sản; 10 lượt hình phạt tiền3

Nhìn chung, đa số các tội xâm phạm sở hữu đều mang tính chất chiếm đoạt Trong số 13 hành vi thuộc nhóm này thì đã có 8 hành vi mang tính chất chiếm đoạt

So với Bộ luật hình sự 1999 thì những quy định mới về sửa đổi bổ sung 2009 của

Bộ luật này, về cơ bản không thay đổi về dấu hiệu phạm tội và các yếu tố cấu thành Trong 13 điều thì có 6 điều đã được sửa đổi, bổ sung chủ yếu về mức tiền vi phạm

và khung hình phạt

Cụ thể như các tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được sửa đổi mức định

lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 các điều này từ “năm

trăm nghìn đồng” thành “hai triệu đồng” Riêng đối với tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản thì cũng được sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành “bốn triệu

đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” năm mươi triệu đồng tại điểm d khoản 2 cùng

điều Còn đối với tội chiếm giữ trái phép tài sản cũng được nâng mức định lượng tối

thiểu từ “năm triệu đồng” lên “mười triệu đồng” Về khung hình phạt, chỉ duy nhất

đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu được bỏ hình

phạt tử hình tại khoản 4 và chỉ còn “hai mươi năm hoặc tù chung thân”

Các tội xâm phạm sở hữu đều thực hiện với lỗi cố ý ngoại trừ vài hành vi phạm tội được thực hiện với lỗi vô ý Hậu quả của tội phạm chủ yếu là gây thiệt hại

về tài sản Vì vậy, mức độ thiệt hại về tài sản là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thuộc nhóm này Cá biệt, có vài hành vi phạm tội không những gây thiệt hại về tài sản mà còn gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tự do và nhân phẩm của chủ sở hữu

1.1.3 Các yếu tố cấu thành của các tội xâm phạm sở hữu

Các yếu tố cấu thành tội phạm là dấu hiệu đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Luật hình sự4 Đây cũng chính là mô hình pháp lý của tội phạm

Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm, tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi

là tội phạm

Cũng giống như những tội phạm khác, các tội xâm phạm sở hữu cũng được cấu thành từ bốn yếu tố: khách thể, khách quan, chủ quan và chủ thể

1.1.3.1 Mặt khách thể của các tội xâm phạm sở hữu

Khách thể của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội, bị tội phạm xâm hại, trực hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích và sự tồn tại của giai cấp thống trị

3

Ths Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2010, tr.32.

4 Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 1, 2007, tr.66

Trang 12

được Nhà nước (đại diện cho giai cấp thống trị) bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự5 Còn khách thể của các tội xâm phạm sở hữu là các quan hệ sở hữu về tài sản được Luật hình sự bảo vệ Quan hệ sở hữu này bao gồm các quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền chiếm hữu tài sản của chủ sở hữu Trong đó, theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì quyền chiếm hữu là quyền chiếm giữ, nắm lấy tài sản Còn quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu hoặc từ bỏ quyền đó Quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản được gọi là quyền sử dụng

Các quan hệ xã hội nằm trong Chương xâm phạm sở hữu là những quan hệ

có cùng tính chất với nhau được một nhóm quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi

sự xâm hại Nhóm quan hệ đó, được gọi chung là khách thể loại của tội xâm phạm

sở hữu Bất cứ tội phạm nào cũng đều xâm phạm đến khách thể loại, cũng đều xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội trong một nhóm quan hệ xã hội nhất định Khách thể loại có vai trò rất quan trọng về mặt pháp lý, nó là cơ sở để Bộ luật hình

sự xây dựng các chương trong phần các tội phạm

Để bảo vệ quan hệ sở hữu này, Nhà nước quy định nhiều biện pháp khác nhau như: biện pháp hành chính, biện pháp dân sự và biện pháp hình sự Trong đó, biện pháp hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất, với biện pháp này Nhà nước quy định tội phạm và hình phạt đối với người có hành vi xâm phạm sở hữu của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức và của công dân

Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là tài sản bao gồm vật thể nhất định như vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản Tất cả các hành vi làm biến đổi tài sản một cách bất bình thường của tài sản một cách trái pháp luật đều là những hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu Sự làm biến đổi tình trạng này có thể do hành vi khác nhau như chiếm đoạt, sử dụng, hủy hoại hoặc làm hư hỏng… Tuy nhiên, tác động đến các đối tượng vật chất không phải lúc nào hành vi phạm tội cũng gây ra hậu quả tiêu cực đối với vật chất đó mà có đôi khi tạo biến đổi tích cực Chẳng hạn, hành vi trộm cắp tài sản, kẻ trộm thường không gây hư hỏng cho đối tượng tác động mà còn muốn làm tăng giá trị của vật chất đó lên.6

Tuy thế, không phải loại tài sản nào cũng thuộc đối tượng của tội xâm phạm

sở hữu mà là đối tượng của một số loại tội phạm khác Ví dụ: hành vi trộm cắp dây điện thoại đang sử dụng vừa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, vừa gây thiệt hại cho

an toàn thông tin liên lạc, vì đối tượng tác động ở đây là tài sản nhưng đồng thời cũng là phương tiện thông tin liên lạc Trong hai thiệt hại này, rõ ràng thiệt hại về

an toàn thông tin liên lạc quan trọng hơn, mang tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn

Do đó, nó đã được tách ra khỏi phạm vi các tội xâm phạm sở hữu và được xếp vào chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng với tội danh là phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231 Bộ luật hình sự)

Trang 13

Song song đó, các công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc khác, các loại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thật quân sự, tài nguyên… cũng được xếp vào nhóm tội phạm khác mà không phải là nhóm tội xâm phạm sở hữu

1.1.3.2 Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu

Mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp những gì biểu hiện ra bên ngoài của thế giới khách quan Đối với các tội xâm phạm sở hữu thì hành vi thể hiện ra bên ngoài dưới những hình thức sau đây: cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lừa đảo, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm

để chiếm đoạt tài sản, sử dung trái phép, hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Trong số các hành vi nêu trên, có một số hành vi được quy định là tội phạm

mà không cần các điều kiện khác Chẳng hạn, hành vi cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản Đây là những tội phạm có cấu thành hình thức, nghĩa là về hành vi khách quan, các tội này chỉ bao gồm một yếu tố có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không cần có hậu quả xảy ra và mối quan hệ giữa hậu quả

và hành vi phạm tội do tội phạm gây ra Còn lại các hành vi xâm phạm sở hữu khác chỉ bị coi là tội phạm khi có một trong các dấu hiệu sau đây:

Tài sản phải có giá trị nhất định Chẳng hạn, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); tội trộm cắp tài sản (Điều 138); tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); tội hủy hoại hoặc làm cố ý hư hỏng tài sản (Điều 143) thì chỉ bị coi là tội phạm khi xâm phạm đến tài sản có giá trị từ hai triệu trở lên Đối với tội lạm dụng tín nhiệm tài sản (Điều 140) thì tài sản xâm phạm phải có giá trị từ bốn triệu trở lên

và tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141) là mười triệu trở lên Tuy nhiên, đối với những tội danh thực hiện với lỗi vô ý thì tài sản xâm phạm có giá trị cao, năm mươi triệu trở lên mới xem là phạm tội điển hình như: tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144); tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145)

Bên cạnh đó, gây hậu quả nghiêm trọng cũng là một trong những dấu hiệu bắt buộc của một số loại tội phạm Trong cấu thành tội phạm, không phải lúc nào hậu quả cũng được phản ánh mà chỉ có cấu thành tội phạm vật chất mới được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản, như các tội: công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Đây là trường hợp, người phạm tội thực hiện hành vi làm biến đổi tình trạng bất thường của tài sản thông qua những hành động như là: chiếm đoạt, hủy hoại, trộm cắp, lừa đảo, làm hư hỏng tài sản có giá trị dưới mức truy cứu hình sự nhưng xác định được hậu quả do các hành vi này gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Tương tự, đối với một số tội phạm trên có cấu thành tội phạm vật chất thì hành vi đó đã bị xử phạt hành chính mà còn phạm tội thì cũng được xem là dấu hiệu thuộc về mặt khách quan Có hai loại xử phạt hành chính mà còn vi phạm

Trang 14

Thứ nhất, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm Nghĩa

là, trước đó đã có lần vi phạm và đã bị xử phạt hành chính, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm Trong số 13 tội xâm phạm

sở hữu thì có hai tội trực tiếp quy định dấu hiệu phạm tội là “đã bị xử phạt hành

chính về hành vi này mà còn vi phạm” Đó là tội sử dụng trái phép tài sản và tội hủy

hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Chẳng hạn, theo của khoản 1 Điều 142 quy định

“ Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm

mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì

bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ hai tháng đến ba năm”

Bên cạnh đó, có bốn tội gián tiếp quy định “đã bị xử phạt hành chính về

hành vi này mà còn vi phạm” là dấu hiệu định tội thông qua việc quy định dấu hiệu

“đã bị xử phạt hành chính về chiếm đoạt mà còn vi phạm” Đó là các tội: công

nhiên chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản7 Ví dụ như theo khoản 1 Điều 139 quy định “người nào dùng

thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” Hành vi chiếm đoạt tài sản của người

khác được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như vay, mượn, thuê hoặc nhận tài sản từ người khác một cách hợp pháp rồi dùng thủ đoạn để gian dối, lừa đảo hay bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó

Thứ hai, đã bị kết về tội khác, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Tức

là người phạm tội đã bị kết án với một tội danh nhưng chưa hết thời hạn xóa án tích thì lại tiếp tục phạm thêm một tội mới Trong trường hợp này, tội danh bị truy cứu

là tội danh theo hành vi mới Ví dụ như trường hợp người này đã bị kết án về tội cướp giật tài sản nhưng chưa hết thời hạn bị coi là phạm tội thì lại có hành vi trộm cắp tài sản, thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và sẽ xét xử theo tội trộm cắp tài sản

Đối với các trường hợp xử lý mà chưa có quy định về thời hạn để hết thời hạn đó, người bị xử lý bị coi là chưa bị xử lý có thời hạn là một năm Theo quy định

của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì trong trường hợp “cá nhân,

tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu qua một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”8 Còn đối với trường hợp xóa án tích phải căn cứ theo từng trường hợp theo quy định tại Chương IX của Bộ luật hình sự hiện hành

7 Ths Nguyễn Mai Bộ, Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2010, tr.38

8 Điều 11, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm

2008, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2009

Trang 15

Nhìn chung, việc đánh giá về mặt khách quan, như thế nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội phải căn cứ vào tình hình phát tiển xã hội thực tế và yêu cầu đấu tranh về phòng ngừa tội phạm Chẳng hạn, trước đây nếu người nào lừa đảo tài sản dưới hai triệu đồng được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên hiện nay hành vi này

có thể không bị coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu không gây ra hậu quả nghiêm trọng

Bên cạnh đó, có hành vi trước đây chưa được coi là hành vi nguy hiểm cho

xã hội nhưng nay lại coi là nguy hiểm cho xã hội và được coi là tội phạm9 Điển hình như hành vi sử dụng trái phép tài sản của công dân

1.1.3.3 Mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu

Hành vi của con người bao giờ cũng là sự thống nhất giữa những biểu hiện bên ngoài thế giới khách quan và những nội dung tâm lý bên trong của chủ thể khi thực hiện hành vi đó Hoạt động định tội phải là sự kết hợp khách quan và chủ quan, giữa hành vi biểu hiện và thái độ bên trong của người thực hiện hành vi Mặt chủ quan của tội xâm phạm sở hữu là thái độ tâm lý bên trong phản ánh trạng thái tâm

lý của chủ thể đối với hành vi xâm phạm sở hữu thực hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội Mỗi yếu tố có ý nghĩa khác nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội Nhưng không phải tất cả các tội xâm phạm sở hữu đều có dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan là các dấu hiệu nêu trên

Lỗi là thái độ tâm lý bên trong người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như khả năng gây ra hậu quả từ hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Trong đó, lỗi cố ý có thể được hiểu là “người phạm tội nhận thức rõ hành

vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra” hay “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”.10

Còn đối với lỗi vô ý là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

“Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra nguy hại

cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó có thể hoặc không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được;

Người phạm tội có thể thấy trước hành vi của mình có thể gây nguy hại cho

xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó”11

Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu không có lỗi thì không bị coi là hành vi tội phạm Bộ luật hình sự có quy định một số trường hợp mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là không có lỗi thì không phải là tội phạm Điển hình như do sự kiện bất ngờ hay tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng Ngoài ra, Bộ luật hình sự không quy định, nhưng về lý luận cũng như thực tiễn xét xử có một số trường hợp tuy có hành vi gây thiệt hại cho lợi ích xã hội,

9 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa hoc Bộ luật hình sự, phần các tội phạm, tập 2, 2006, tr.10

10 Điều 9 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

11 Điều 10 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Trang 16

hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của công dân, nhưng cũng không bị coi là tội phạm vì người thực hiện hành vi không có lỗi, như: tình trạng không thể khắc phục được hậu quả, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh, rủi ro trong nghề nghiệp hoặc trong sản xuất.12

Tuy nhiên, đối với các tội xâm phạm sở hữu thì trường hợp không có lỗi rất ít xảy ra Trong 13 tội thuộc chương này thì đã có 11 điều với lỗi cố ý, chỉ có hai tội được thực hiện với lỗi vô ý là tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước và tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Tất cả những hành động của con người không phải bộc phát một cách tự nhiên mà luôn có những động cơ thúc đẩy Tương tự, đối với người thực hiện hành

vi phạm tội thì động lực bên trong thúc đẩy con người thực hiện hành vi phạm tội

có thể hiểu là động cơ tinh thần của tội phạm được gọi là động cơ phạm tội Chẳng hạn, đối với tội trộm cắp tài sản có thể động cơ phạm tội là vì nghèo, thù ghét người

bị hại, hoặc lấy tài sản chia cho người nghèo khác mà có hành vi trộm cắp

Động cơ phạm tội là dấu hiệu về mặt chủ quan vì nó là nguyên nhân tinh thần của người phạm tội Trong một số trường hợp thì động cơ phạm tội có ý nghĩa xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, là căn cứ để phân biệt phạm tội hay không phạm tội hay tội phạm này với tội phạm khác Chẳng hạn, trong số mười một tội xâm phạm sở hữu với lỗi cố ý thì chỉ có tội sử dụng trái phép tài sản đòi hỏi dấu hiệu động cơ vì vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của tội phạm Nếu hành vi sử dụng trái phép tài sản vì mục đích mang lại lợi ích cho Nhà nước hay xã hội thì không cấu thành tội phạm

Bên cạnh đó, động cơ phạm tội có thể được phản ánh trong cấu thành tăng nặng hoặc giảm nhẹ là dấu hiệu định khung Điển hình, như tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, dấu hiệu động cơ được phản ánh trong cấu thành tăng nặng

trách nhiệm hình sự Động cơ cá nhân ở đây “vì lý do công vụ của người bị hại”,

người phạm tội muốn trả thù nạn nhân

Mọi hành vi phạm tội của con người đều nhằm tới mục đích nhất định Và mục đích phạm tội là điểm cuối cùng mà người phạm tội đặt ra cho hành vi phạm tội phải đạt tới hay là kết quả mà kẻ phạm tội mong muốn đạt được Và mục đích chỉ đặt ra đối với những tội xâm phạm sở hữu thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Tuy nhiên, dấu hiệu mục đích “chiếm đoạt tài sản” chỉ là yếu tố bắt buộc đối với tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản Ngoài ra,

nó còn được phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự như tội hủy hoại tài sản với mục đích là “che giấu tội phạm khác” (điểm d khoản 2 Điều 143 Bộ luật hình sự)

1.1.3.4 Mặt chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu

Luật hình sự Việt Nam xác định chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân con người Và cá nhân này đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là tội phạm, mà chỉ

12 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa hoc Bộ luật hình sự, phần các tội phạm, tập 2, 2006, tr.24

Trang 17

người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thì mới trở thành chủ thể của tội phạm

Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người phải có đủ khả năng nhận thức được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình và

có khả năng điều chỉnh theo hướng có lợi hay không có lợi về hành vi nguy hiểm đó đối với xã hội Tuy nhiên, luật không quy định như thế nào là người có khả năng nhận thức và có khả năng điều khiển hành vi mà chỉ quy định trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự

Theo Điều 13 Bộ luật hình sự hiện hành quy định như sau:

“Người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc

bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”

Tuy nhiên, căn cứ vào lý luận cũng như thực tiễn xét xử đã thừa nhận người không có năng lực trách nhiệm hình sự khi mắc một trong các bệnh sau: bệnh tâm thần kinh niên, bệnh loạn thần, bệnh suy ngốc và các bệnh gây rối loạn tinh thần tạm thời Như vậy, có thể loại trừ người ở trong tình trạng không đủ năng lực trách nhiệm hình sự, còn lại là những người đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

Song song đó, năng lực nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi và khả năng điều khiển hành vi của con người sẽ được hoàn thiện ở một giai đoạn nhất định, tức là đạt được độ tuổi nhất định

Ở nước ta, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và tham khảo luật hình sự của một số nước trên thế giới Vì vậy, tại Điều 12 Bộ luật hình sự quy định

“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội

Xét về độ tuổi, thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự

về mọi tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định từ Điều 133 đến Điều 145 Bộ luật hình sự hiện hành

Ngoài ra, dấu hiệu chủ thể đặc biệt còn được phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự điển hình trong các tội lứa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tải sản, tội sử dụng trái phép tài sản Dấu hiệu chủ thể đặc biệt được quy định trong các điểu này đều là các dấu hiệu liên quan đến chức vụ

và quyền hạn như lợi dụng chức vụ và quyền hạn để chiếm đoạt, để lừa đảo hay sử dụng trái phép

1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển những quy định về tội cướp tài sản trong Luật hình sự Việt Nam

Trang 18

Dân tộc Việt Nam qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước đã để lại nhiều di sản quý báu Trong đó những kinh nghiệm về lập pháp hình sự là một trong những di sản quý báu nhất, đầy tính sáng tạo và tính đa dạng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của dân tộc Việt Nam

Các triều đại của Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đã không ngừng ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ và duy trì chế độ độc lập, tự chủ và chống các chế độ thù địch Điều này làm cơ sở khách quan khiến pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng không ngừng được hoàn thiện

1.2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về tội cướp tài sản từ thời kỳ phong kiến đến trước Cách mạng tháng Tám 1945

* Từ thời lập quốc đến thời nhà Hồ

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, lịch sử dựng nước ta bắt đầu từ khi Kinh Dương Vương xuất hiện kèm theo sự ra đời của nhà nước Văn Lang với chế độ phong kiến sơ sài Và đến khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc lập nên triều đại mới cũng đã ban hành luật mới để xác định quyền hành đặc thù của mình Một nhà nước không thể không có pháp luật dù dưới bất kỳ hình thức nào Như vậy, nhà nước ta từ thời Hồng Bàng đến nhà Thục cũng phải có pháp luật Tuy nhiên, việc nghiên cứu Nhà nước thời kỳ này còn gặp nhiều khó khăn bởi sự thiếu thốn các nguồn sử liệu Vì thế, pháp luật hình sự thời kỳ này vẫn còn mập mờ đối với chúng ta Và có thể khẳng định rằng: thời Hùng Vương chưa có luật thành văn Một số mặt của xã hội liên quan đến hình sự ở thời kỳ này có thể được điều chỉnh bằng tục lệ

Và đến khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc lập nên triều đại mới cũng đã ban hành luật mới để xác định quyền hành đặc thù của mình Một Nhà nước không thể không

có pháp luật dù dưới bất kỳ hình thức nào Như vậy, Nhà nước ta từ thời Hồng Bàng đến nhà Thục cũng phải có pháp luật Tuy nhiên, pháp luật như thế nào thì sử liệu không có một tia hé mở

Đến khi Âu Lạc rơi vào ách thống trị của phong kiến Trung Hoa Theo sử liệu, sau khi lên ngôi Triệu Đà đem pháp luật nhà Tần áp dụng ở nước ta Tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật của triều đại phương Bắc không thâm nhập vào được nếp sống của dân Lạc Việt ta Sau khi nước Nam Việt bị nhà hán thôn tính, đất Âu Lạc lại tiếp tục lệ thuộc Trung Quốc Và Bộ luật nhà Hán được áp dụng cho dân Lạc Việt Bộ luật này có 9 chương còn gọi là Cửu chương luật Trong đó, có Chương Tặc pháp nói về cướp

Đến thời kỳ Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán, xưng vương lập nên nhà Ngô năm 939 rồi đến nhà Đinh và Tiền Lê vẫn chưa có sự đầu tư cho pháp luật

do phải đối phó với thế lực thù địch phương Bắc, và chủ yếu áp dụng pháp luật nhà Đường

Thời nhà Lý (1010-1225) bắt đầu từ thời Lý Công Uẩn lên ngôi đến khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh Theo sử liệu, Lý Thái Tông đã ban hành

bộ Hình thư, gồm 3 quyển nhằm tránh sự tùy tiện của các quan trong xét xử Tránh cho dân chúng bị xét xử oan Hình thư do nhà Lý ban hành là Bộ luật đầu tiên trong lịch sử dân tộc, là cái mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam và chế

Trang 19

định “Thập ác tội” cũng được công nhận trong bộ luật này Trước và sau khi ban hành Hình thư, nhà Lý cũng ban hành các văn bản luật lệ khác về hình sự Điển hình như:

Dưới đời vua Lý Thái Tông ban hành Lệnh xử phạt binh lính cướp của dân: Tháng 4 năm Mậu Thìn (1028), khi cầm quân dẹp loạn ở Trường An, vua ra lệnh:

“Ai cướp bóc của dân thì chém” Quân sĩ tuân theo nghiêm ngặt, dân tình một lòng

ủng hộ13

Ngoài ra, tháng chạp năm Quý Mùi (1043), vua còn xuống chiếu rằng kẻ nào ăn cướp lúa mạ và tài vật của dân, nếu đã lấy được rồi thì xử phạt 100 trượng; nếu chưa lấy được mà có gây thương tích cho người thì bị xử tội lưu14

So với các triều đại trước đây về mặt pháp luật thì dưới triều đại nhà Lý pháp luật phát triển tột bật, với lòng nhân đạo và khoan dung bao la nhằm mục đích cải tạo phạm nhân Pháp luật thành văn lần đầu tiên được áp dụng thống nhất cả nước và có phạm vi điều chỉnh rộng rãi tới nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội

Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ XII, triều Lý bắt đầu đi vào con đường suy vong Đến năm 1226 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh và lập

ra triều đại mới Khi vua Trần Thái Tông lên ngôi đã nghĩ ngay đến việc lập pháp

và cho khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật, lễ nghi Tiếp đó, Bộ luật thứ hai được biên soạn dưới đời vua Trần Dụ Tông có tên gôi Hình thư luật

Lúc bây giờ, ngoài những tội thập ác theo truyền thống có thể bị xử tử, thì tội cướp tài sản cũng có thể bị tử hình Nhìn chung, pháp luật nhà Trần tương phản với pháp luật nhà Lý giữa tính khoan dung bao la nhân đạo của nhà Lý và tính khắc nghiệt, tàn bạo của pháp luật nhà Trần Dưới triều đại nhà Trần đã xây dựng được 5

bộ luật quan trọng, trong đó có Hình thư luật và nhiều văn bản pháp luật có liên quan khác điều chỉnh về hình sự

Đến thời nhà Hồ chỉ tồn tại vỏn vẹn bảy năm kể từ khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần Xét về mặt lập pháp thời này nghiêm khắc hơn thời trước rất nhiều với nhiều hình phạt đa dạng

Nhìn chung, pháp luật hình sự nước ta thời kỳ nay đã từng bước hình thành

và phát triển Dù bị giặc phương Bắc đô hộ trong một thời gian dài, nhưng luật hình

sự Việt nam vẫn giữ được bản sắc riêng của mình

Thời nhà Lê sơ (Tiền Lê)

Nhà Lê trị vì gần bốn thế kỷ kể từ khi Lê Lợi dưới sự giúp sức của Nguyễn Trãi đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi năm 1428 Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ rất coi trọng việc xây dựng pháp luật vì không có pháp luật thì sẽ loạn Tuy nhiên, đến thời vua Lê Thánh Tông thì hoạt động lập pháp nói chung và hình sự nói riêng được xem là đỉnh cao nhât từ trước cho đến thời điểm lúc bấy giờ, minh chứng cho điều này là sự ra đời của Quốc triều hình luật (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) vào năm 1483 và Hồng Đức thiện chính thư (văn bản có chứa một số quy phạm pháp luật hình sự)

Trang 20

Trong số 673 điều luật quy định về tội phạm của bộ Quốc triều hình luật, có

144 điều quy định về hành vi phạm tội có chế tài tử hình (chiếm khoảng 21%)15

Ngoài các hành vi phạm tội có thể bị xử tử như liên quan đến sự an nguy của xã tắc, đến nhà vua và hoàng tộc thì một số hành vi phạm tội khác như giết người, hiếp dâm, cướp tài sản… cũng có thể bị tử hình Điển hình như Điều 426 của Quốc triều hình luật quy định như sau:

“Những kẻ cướp thường (ban đêm cầm khí giới giết người lấy của) thủ

phạm xử chém, tòng phạm xử giảo, đền tang vật lấy cướp, điền sản bị sung công Cướp của còn giết người thì bị chiếm bêu đầu, tòng phạm xử chém, phải nộp bồi thường nhân mạng và đền tiền tang vật gấp đôi trả, cho khổ chủ Ai chứa chấp cướp lâu ngày thì xử đồng tội”16

Hình phạt về tội cướp thời này rất nghiêm khắc, cướp có khí giới thì bị chém, cướp của mà còn giết người hay hiếm dâm thì đều bị chém bêu đầu Ăn trộm

mà có cầm khí giới thì bị xử là tội ăn cướp Nếu ai chứa chấp kẻ ăn cướp lâu ngày thì cũng bị xử đồng tội cướp Lúc bấy giờ, biết kẻ phạm tội cướp mà không tố giác thì cũng người không tố giác bị xử đồ làm chủng binh điền

Bên cạnh đó, luật Hồng Đức còn quy định điều khoản riêng cho những người dân tộc thiểu số như Hán, Mường Thái, Thổ còn được gọi chung là người Man Liêu về hành vi cướp tài sản Chẳng hạn, như Điều 451 cụ thể như sau:

“Người Man liêu cướp giết lẫn nhau thì xử nhẹ hơn tội cướp, giết người

thường một bực Cho phép họ được hòa giải nhau”

Cùng thực hiện một hành vi phạm tội cướp tài sản nhưng người Man Liêu

và người thường có sự khác biệt nhau về chế tài áp dụng Tuy nhiên, người Man Liêu ở các trấn mà cướp bóc dân chúng dọc biên giới thì vẫn xử theo tội cướp Quản giám biết mà dung túng thì vẫn xử đồng tội

Vấn đề đồng phạm được đề cập trong tội cướp Tuy nhiên, Bộ luật không quy định về khái niệm đồng phạm mà chỉ nêu lên nguyên tắc trừng trị

“Những kẻ cùng lập mưu đi cướp, nhưng khi đi thì không cướp được của

đem về chia nhau, người không đi này cũng lấy phần đi xử tội như cùng đi bị ăn cướp, nếu không lấy phần chia thì xử lưu châu gần Trước kia đã từng ăn cướp nhưng khi đó không đi, thì dù không nhận thì vẫn xử như có đi ăn cướp”17

Bộ luật Hồng Đức được chia làm 6 quyển với 722 điều luật Tong đó, Chương Đạo tặc được nằm ở quyển IV của Lê Triều Hình luật gồm 54 điều Tội cướp tài sản được xếp vào trong Chương Đạo tặc, quy định khá cụ thể và chặt chẽ

về tội này Trong 54 điều quy định trong Chương Đạo tặc thì có gần 18 điều quy định liên quan đến tội cướp Nhìn chung, hình luật dưới thời nhà Lê thể hiện tính nghiêm khắc nhằm khiến mọi người phải triệt để tuân theo pháp luật nhưng vẫn đảm bảo tính khoan dung nhân đạo và mang lại hiệu quả cao Nét đặc sắc đó cũng tạo nên nét riêng so với các triều đại phong kiến lúc bấy giờ

15 TS.Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nhà xuất bản chính trị quốc

gia, 2010, tr.14

16

Lê triều hình luật, Nhà xuất bản văn hóa, tr.233

17 Lê triều hình luật, Nhà xuất bản văn hóa, tr.233

Trang 21

Từ thế kỷ XVI, XVII, XVIII đến thời kỳ nhà Nguyễn

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đất nước ngày càng hỗn loạn, chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài, tiếp theo nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy Năm 1788, Quang Trung chủ trương xây dựng bộ luật cho triều đại mới còn gọi là Bộ hình thư Tuy nhiên, Bộ hình thư này không còn nữa nhưng theo sử liệu thì Bộ luật này chủ yếu dựa trên Bộ luật Hồng Đức triều Lê và luật nhà Thanh

Đến thời kỳ nhà Nguyễn bắt đầu kể từ khi Nguyễn Ánh dẹp xong quân Tây Sơn Nguyễn Huệ, lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long vào năm 1802 Sau đó, vua cho soạn bộ luật với tên gọi là Hoàng Việt luật lệ áp dụng rộng rãi trên toàn quốc Thế nhưng, do thời gian gấp rút dù có tham khảo luật cũ, nhất là luật Hồng Đức, Bộ Hoàng Việt luật lệ gần như là bản sao của bộ “Đại Thanh luật lệ” của Trung Quốc

từ nội dung đến hình thức

Bộ Hoàng Việt luật lệ gồm 398 điều chia làm 22 quyển Trong đó, phần Mưu nghịch gồm có 28 điều gồm đạo tặc thượng và đạo tặc trung Tội cướp thuộc loại đạo tặc trung, và gồm cướp tù nhân và cướp đoạt giữa ban ngày Tội cướp được quy định tại Điều 237 có tên gọi là bạch trú sang đoạt hay có thể hiểu là sang đoạt giữa ban ngày Tại điều này định hai tội, nếu người hung hăng lấy của người khác gọi là sang đoạt, nhưng nếu nhiều người cùng có thái độ hung hăng lấy tài sản của một người thì gọi là cướp

“Phàm giữa ban ngày mà đi sang đoạt tiền của người ta, không kể tang vật

thì bị phạt 100 trượng, đồ ba năm Tính số tang vật mà luận tội, hễ nặng thì phạt thêm tội trộm cắp hai bực Mút tội là 100 trượng, lưu 3000 dặm làm người bị thương, thủ lãnh thì bị chém giam chờ, kẻ a tùng, mỗi đứa giảm một bực so với thủ lãnh, và bên cánh tay mặt xăm hai chữ SANG ĐOẠT

Chờ người ta vô ý cướp lấy thì gọi là sang, dùng sức giằng co nhau lấy thì gọi là đoạt Tội sang đoạt ở gần lĩnh vực bạo trộm”18

Hay Điều 263 quy định như sau “…Cướp lấy của cải thì buộc theo luật

cướp của ban ngày, miễn xâm chữ, xử tội gian dối theo điều nặng Mưu đồ kiếm lợi thì xử theo đồ lại gian dối cướp đoạt thì xử theo gian dối cướp đoạt”

Tiêu chí dùng để phân biệt giữa sang đoạt và cướp ở đây chính là chủ thể thực hiện ít hay nhiều người, hung hăng hay không hung hăng Nhưng cũng không hẳn là vậy trong mọi trường hợp, có khi ít người mà hung hăng thì vẫn gọi là cướp Ngược lại, có khi nhiều người mà ít hung hăng thì gọi là sang đoạt Cho nên, căn cứ vào tình hình thực tế phạm tội mà xác định hành vi đó là sang đoạt hay cướp bạo chứ không phải căn cứ vào số lượng chủ thể

Còn về hình phạt đối với hành vi cướp có thể đến mức phạt là tử hình, tội cướp định hình phạt theo từng chủ thể, kẻ chủ mưu thủ lãnh cầm đầu thì bị giam chờ chém, còn những kẻ theo sau kẻ chủ mưu cầm đầu được giảm một bực so với thủ lãnh, căn cứ theo số tang vật đoạt được mà định tội

Nhìn chung, so với luật triều Lê thì luật triều Nguyễn có phần nghiêm khắc hơn Điều này xuất phát từ việc luật nhà Nguyễn đã sao chép phần lớn nội dung luật

18 Nguyễn Quang Thắng, Lược khảo Hoàng Việt luật lệ, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2002,

tr.73

Trang 22

nhà Thanh trong khi đó luật nhà Thanh thì rất khắc nghiệt, tàn khốc Trong số 353 điều quy định về tội phạm cụ thể, có 122 điều quy định hình phạt cao nhất là tử hình Đối với tội cướp tài sản cũng không ngoại lệ, hành vi cướp dựa vào mức độ lỗi mà áp dụng hình phạt, với mức phạt cao nhất là tử hình dưới hình thức chém

1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về tội cướp tài sản từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối diện với bao khó khăn chồng chất Thế nhưng, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc trấn an tội phạm

Việc bảo vệ tài sản, an ninh và xã hội đã được chính phủ đặc biệt chú trọng đến Cho nên, ngay từ khi mới thành lập chính quyền nhân dân, Chính phủ ra sắc lệnh tạm thời cho phép áp dụng các luật lệ cũ trừ những quy định trái với tinh thần độc lập và dân tộc Tuy nhiên, về mặt bảo vệ tài sản của quốc gia, tính mạng và tài sản của công dân thì luật cũ có nhiều khoản không thích hợp nên Chính phủ ban hành một số sắc lệnh như trừng trị tội tham ô, tội tống tiền, bắt cóc, ám sát, tội đánh bạc như Sắc lệnh số 27/SL, ngày 28-2-1946, Sắc lệnh số 223/SL ngày 27-11-1946, Sắc lệnh số 168/SL ngày 14-4-1948 Bên cạnh đó, Chính phủ lại ra quyết nghị trừng trị nặng bọn lưu manh chuyên sống bằng nghề trộm cướp Theo Thông tư của Thủ tướng chính phủ số 442/TTCP ngày 19/1/1955 về việc trừng trị một số tội phạm thông thường Trong đó quy định hành vi cướp cụ thể như sau:

“Cướp đường hay trộm có tổ chức, có vũ lực có dùng vũ khí để dọa nạt thì

bị phạt từ ba năm đến mười năm tù

Cướp của mà có giết người thì có thể phạt đến tử hình.”19

Tuy nhiên, hình phạt áp dụng đối với tội này có thể tùy thuộc vào từng nơi từng lúc có chủ trương trừng phạt cho đúng theo quy định Hành vi cướp được xem như một quy định nằm trong trộm cắp và thuộc về nhóm tội thông thường

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Ở miền bắc, Nhà nước tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật hình sự, nhằm khẳng định việc chấm dứt việc áp dụng luật lệ của chế độ cũ và hoàn thiện các quy định về tội phạm và hình phạt để có cơ sở xử lý các hành vi phạm tội

Để bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế và quốc phòng, bảo vệ nền văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống của nhân dân, bảo đảm giành thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Song song đó, nhằm phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội và toàn thể nhân dân, đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa và ý thức tôn trọng và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, động viên mọi người ra sức đấu tranh chống những hành động xâm phạm tài sản đó Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa

Pháp lệnh này được ban hành vào ngày 21/10/1970 gồm 25 điều Trong đó, quy định 16 loại tội phạm Và tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định đầu tiên tại chương tội phạm và hình phạt trong pháp lệnh này

19 Thông tư của Thủ tướng Chính phủ Số 442/TTg, ngày 19/1/1955, về trừng trị một số tội phạm

Trang 23

“Kẻ nào dùng bạo lực để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù

từ năm năm đến mười lăm năm

Phạm tội trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình:

- Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;

- Có tổ chức;

- Dùng vũ khí hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác;

- Gây thương tích nặng hoặc làm chết người;

- Cướp một số lớn tài sản hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác.”20

Bên cạnh đó để bảo hộ tài sản riêng của công dân, giữ gìn trật tự, trị an, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhằm đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, chống những hành động xâm phạm tài sản riêng của công dân Nhà nước cũng đã ban hành pháp lệnh trừng trị những tội xâm phạm đến tài sản riêng của công dân

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân gồm 21 điều quy định 13 loại tội phạm Giống như tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội cướp tài sản riêng của công dân được quy định đầu tiên tại chương tội phạm và hình phạt của pháp lệnh cụ thể như sau:

“Kẻ nào dùng bạo lực để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì bị phạt

tù từ hai năm đến mười hai năm

Phạm tội trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình:

- Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm;

- Có tổ chức;

- Dùng vũ khí hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác;

- Gây thương tích nặng hoặc làm chết người;

- Cướp một số lớn tài sản hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác.” 21

Hành vi cướp trong hai pháp lệnh này được hiểu là hành vi dùng bạo lực nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Chế tài được áp dụng đối với tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa nặng hơn so với chế tài của tội cướp tài sản riêng của công dân vì tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng, tuyệt đối không ai được xâm phạm Tất cả mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản đó Tuy nhiên, hình phạt cao nhất được áp dụng đối với hai tội này đều là tử hình

Nguyên tắc trừng trị các tội xâm phạm tài sản là nghiêm trị bọn lưu manh

chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, bọn gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại;

xử nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những kẻ tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồng bọn

hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra

Tóm lại, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản chủ nghĩa xã hội ngày 21/10/1970 và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày

20 Điều 4, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, ngày 21/10/1970

21 Điều 3, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản tài sản riêng của công dân, ngày

21/10/1970

Trang 24

21/10/1970 thể hiện sự tiến bộ về mặt lập pháp hình sự của nước ta Cùng với pháp lệnh được ban hành vào năm 1967, một hệ thống các tội phạm với đầy đủ các tên gọi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định22, hàng loạt những quy định

về các tội phạm cụ thể được quy định một cách rõ ràng và chặt chẽ Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Nhà nước ta nhằm trấn áp kẻ thù của chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

cơ sở vật chất của Nhà nước và của nhân dân Bên cạnh đó, những quy định có tính nguyên tắc trong các pháp lệnh là những cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam sau này

1.2.3 Quy định về tội cướp tài sản từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ra đời Bộ luật hình sự 1999

Bộ luật hình sự năm 1985 là Bộ luật đầu tiên được pháp điển hóa kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Trước đó, phần lớn các văn bản để điều chỉnh quan hệ pháp luật hình sự chủ yếu được ban hành dưới hình thức như sắc lệnh, nghị định, nghị quyết của Hội đồng bộ trưởng và các văn bản này được bổ sung bằng các quyết định, thông tư của Tòa án nhân dân tối cao

Bộ luật này gồm 280 điều dựa trên khuôn mẫu pháp luật hình sự Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác tồn tại lúc bấy giờ Bộ luật nổi bật với tính nghiêm khắc: 13 trong 18 điều về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia bị áp dụng hình phạt tử hình Trong đó, có tội phản bội tổ quốc, tội phá hoại, tội cướp máy bay, tội cướp và các tội khác nhằm lật đổ hoặc phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa

Ngoài ra, còn có 16 điều quyết định hình phạt tử hình như các tội xâm phạm cuộc sống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người điển hình tội giết người, tội hiếp dâm và cướp có vũ khí Các tội xâm phạm đến sở hữu của nhà nước trong đó có tội ăn cắp, tham ô tài sản Nhà nước, các tội xâm phạm sở hữu của công dân

Trong đó, tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa đuợc quy định tại Điều 129 Bộ luật hình sự năm 1985 như sau:

“Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi

khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự đuợc nhằm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

Có tổ chức, hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

Dùng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác;

Gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khoẻ hoặc gây chết người; Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiên trọng khác; Tái phạm nguy hiểm.”

Đây là một trong những tội phạm nguy hiểm nhất trong các loại tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa Cho nên, đuợc nêu ở ngay đầu chương Tội này

22 TS.Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nhà xuất bản chính trị quốc

gia, 2010, tr.31

Trang 25

cùng lúc xâm phạm đến hai khách thể quan trọng của xã hội là quan hệ nhân thân (tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công) và quan hệ sở hữu

Còn đối với tội cướp tài sản của công dân theo Điều 151 Bộ luật hình sự

1985 được quy định như sau:

“Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực hoặc có hành vi

khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự đuợc nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm;

Có tổ chức, hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

Sử dụng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khác;

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác;

Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiên trọng khác; Phạm tội trong các trừơng hợp gây thương tích nặng, gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác, gây chết người, tái phạm nguy hiểm hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm,

tù chung thân hoặc tử hình.”

Cũng giống như tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội này cũng đồng thời xâm hại hai khách thể quan trọng của xã hội Thông qua đó, tác động xấu đến trật tự

an toàn xã hội và trên thực tế lúc bấy giờ tội cướp tài sản của công dân đã xảy ra nhiều hơn so với tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa

Xét về các yếu tố cấu thành tội phạm, thì hai tội này tương đồng nhau về khách thể, chủ quan, chủ thể và khách thể Đều là những hành vi dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp

Tuy nhiên, về hình phạt tội cướp tài sản của công dân có 3 khung hình phạt

và nhẹ hơn so với tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, nhưng vẫn có mức hình phạt cao nhất là tử hình như tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa vì đều xâm phạm nhân thân

Khung 1 phạt tù từ ba năm đến bảy năm đối với trường hợp phạm tội cướp thông thường

Khung 2 phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm đối với các trường hợp phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp hoặc sử dụng vũ khí, phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm hay gây thương tích, tổn hại sức khoẻ cho người khác hay là chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, gây hậu quả nguy hiểm

Còn khung 3 phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp gây thương tích nặng, chết người, tái phạm nguy hiểm hoặc trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm khác23

Kể từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật này đã trãi qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Chỉ sau 7 năm khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đã có 3 lần sửa đổi, bổ sung (ngày 28/12/1989, ngày 12/8/1991, ngày 22/12/1992) bởi vì Bộ luật hình sự ra đời trong điều kiện đất

23 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Nhà xuất bản chính trị

quốc gia, 1997, tr.237

Trang 26

nước có những đặc trưng là cần bảo vệ nền kinh tế bao cấp Vì thế khi bước vào thời kỳ đổi mới do Đại hội Đảng VI đề ra, Bộ luật hình sự đã dần gặp những bất cập Ngày 10/5/1997 Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung lần thứ tư Một số tội phạm đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới và nguyện vọng của nhân nhân Tuy nhiên, những quy định về tội cướp về cơ bản vẫn không thay đổi

Nói chung, Bộ luật hình sự 1985 ra đời đã đánh dấu bước ngoặc rất quan trọng trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta, do được kế thừa những đặc sắc và phát huy những mặt tiến bộ trong lịch sử pháp luật hình sự, đặc biệt là sau cách mạng tháng Tám Và đây cũng là lần đầu tiên, các chế định của phần chung pháp luật hình sự được quy định và được định nghĩa một cách khái quát trong luật

1.2.4 Quy định về tội cướp tài sản từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm

1999 đến giai đoạn hiện nay

Bộ luật hình sự năm 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21-12-1999 có hiệu lực từ ngày 01-7-2000

Bộ luật hình sự này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự nước ta, nhất là của Bộ luật hình sự năm 1985, cũng như những bài học kinh nghiệm được đút kết từ thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua

Bộ luật hình sự năm 1999 gồm có 24 chương và được chia thành 344 điều Trong đó, chương XIV dành 15 điều (Điều 133- Điều 145) quy định về nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu

Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực làm cho người

bị tấn công lâm vào tình thế không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 là tội phạm được hợp nhất từ tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 129

Bộ luật hình sự 1985 và tội cướp tài sản của công dân quy định tại điều 151 Bộ luật hình sự 1985 So với Bộ luật hình sự 1985 thì Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 có nhiều sửa đổi bổ sung, quy định cụ thể hơn và dễ áp dụng hơn, nhất là đối với các tình tiết quyết định khung hình phạt Tuy nhiên, đối với khung hình phạt theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 thì nặng hơn so với tội cướp tài sản của công dân và nhẹ hơn so với tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Bộ luật hình sự 1985

Xét về cơ cấu, tội cướp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 được chia thành 5 khoản Đối với, Điều 129 Bộ luật hình sự 1985 chỉ có 2 khoản và Điều

151 có 3 khoản

Về giá trị tài sản là tình tiết định khung hình phạt được quy định bằng một

số tiền nhất định thay cho việc quy định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị lớn như Bộ luật hình sự 1985

Về thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân là tình tiết định khung hình phạt cũng được quy định cụ thể bằng tỷ lệ thương tật thay cho việc quy định thương tích nặng đến sức khỏe như Bộ luật hình sự 1985 Hình phạt bổ sung được quy định ngay trong điều luật

Trang 27

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phát triển xã hội cũng như yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong tình hình mới Sau 10 năm thực thi, lần đầu tiên Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm

2010

Riêng trong chương xâm phạm sở hữu có 6 tội được sửa đổi bổ sung trên

13 tội Tuy nhiên, những quy định về tội cướp tài sản vẫn không thay đổi

1.3 Khái quát về tội cướp tài sản

Cướp hay cướp tài sản trong luật hình sự là một tội danh chỉ người nào sử dụng vũ lực, hoặc đe dọa sử dụng ngay tức khắc vũ lực đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác

Thủ phạm gây ra vụ cướp gọi là tên cướp Bạo lực là dấu hiệu phổ biến nhất của bọn cướp, trong trường hợp xảy ra giết người thì tội danh biến thành cướp của giết người24

Dấu hiệu dùng để phân biệt tội cướp với những tội phạm xâm phạm đến sở hữu khác là hành vi phạm tội Người phạm tội cướp là người có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay thủ đoạn khác

Hay có thể nói một cách khác, người nào dùng vũ lực hay mọi thủ đoạn nào

đó khiến người bị tấn công lâm vào tình thế không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản được gọi là cướp tài sản

1.3.1 Đặc điểm của cướp tài sản

Tình hình tội phạm hình sự trong giai đoạn hiện nay, ngày càng diễn biến phức tạp Đặc biệt, các loại tội phạm có tổ chức, sử dụng hung khí nguy hiểm gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng con người và tài sản ngày càng gia tăng Điển hình, là tội cướp tài sản

Tội cướp tài sản là một loại tội phạm gây nguy hiểm cao cho xã hội Bởi vì

nó được thực hiện bởi các hành vi sau

- Hành vi dùng vũ lực, đây là nét đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản Vũ lực ở đây, có thể được hiểu là hành động đánh, đá, bóp cổ, bắn, đâm, chém… nhằm tác động vào người đang nắm giữ tài sản Và có thể không gây ra thương tích hoặc gây thương tích nặng thậm chí có thể dẫn đến chết người

- Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hay hành động rằng nếu người đang quản lý tài sản không giao nộp tài sản thì người phạm tội này sẽ dùng hành vi vũ lực (như đã nói trên) ngay lập tức

- Hành vi khác, hành vi này không phải là hành vi dùng vũ lực hay sẽ đe dọa là sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc mà có thể là hành vi dùng thuốc mê, hay thuốc ngủ… nhằm làm cho nạn nhân không thể chống cự được

Cả ba dạng hành vi trên đều nhằm một mục đích chính là chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp từ tay của người khác Mục đích chiếm đoạt tài sản là nục đích bắt buộc của loại tội phạm này

24 http://vi.wikipedia.org

Trang 28

Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho hành vi dùng vũ lực, bọn tội phạm thường mang theo nhiều “vũ khí nóng” để hỗ trợ như: dao, súng, cây, đá, nón bảo hiểm… để tăng cường sức mạnh vũ lực nhằm khống chế nạn nhân

1.3.2 Phương thức, thủ đoạn của bọn cướp tài sản

Cướp thường xảy ra ở nơi có nhiều tài sản, hay tài sản có giá trị mà dễ bị tấn công như vùng đô thị thành phố Nhiều nhất ở những nơi tối tăm, nhiều người ở

lễ hội, công viên, siêu thị, bến xe buýt

Điển hình, việc bọn cướp thường lợi dụng những đôi tình nhân đang mải tâm sự, nhóm thanh niên xông đến dùng kim chích có dính máu hay dao tông, tuýp nước khống chế để cướp đồ

Ví dụ minh chứng cho điều này là ngày 10/7/2010, công an thị xã Từ Sơn (Bắc Ninh) đã khởi tố 7 nam thanh niên đều thuộc thế hệ 9X về hành vi cướp tài sản Một trong hai kẻ cầm đầu là Đỗ Văn Tiệp sinh viên năm thứ 2 một trường Cao đẳng

Băng cướp này đã gây ra hàng loạt vụ cướp nhằm vào các đôi tình nhân đang tâm sự tại khu công nghiệp Tiên Sơn

Bọn chúng một nhóm thanh niên dùng hung khí trấn áp cướp điện thoại di động và tiền Nạn nhân của chúng đều là những đôi tình nhân

Bên cạnh đó, bọn cướp thường lợi dụng những đoạn đường vắng vẻ nhằm vào phụ nữ để cướp tài sản như nữ trang, xe máy Bọn chúng thường mang theo bình xịt hơi cay, có khi cả dao Chẳng hạn, ở Hà Nội cô gái vừa dừng chiếc Liberty

ở lề đường, rút điện thoại ra gọi, lập tức bị một thanh niên giật ngược tóc, xịt hơi cay vào mặt Hắn cướp chiếc xe tay ga hơn 80 triệu đồng và một túi xách

Một vụ khác, trên đường Hoa Lư, Trang dừng xe để gọi điện thoại cho người thân Trong lúc lúi húi lấy "chú dế" xịn trong chiếc túi xách trị giá hơn 1.000 USD treo ở chỗ để chân, cô bất ngờ bị một thanh niên đi bộ từ phía sau túm tóc và giật ngược lại Tên này xịt hơi cay vào mặt Trang Quyết lấy bằng được tài sản, tên này đạp ngã cô rồi cướp túi cùng chiếc xe tay ga đắt tiền25

Không những thế, bọn chúng còn dùng cả roi điện cướp xe máy của người

đi đường, hay lợi dụng trời tối với đoạn đường vắng vẻ cướp xe máy của những công nhân làm khuya về Không dừng lại ở đấy, bọn chúng còn tạo điều kiện những hoàn cảnh để khống chế nạn nhân cướp tài sản như giả vờ là khách đi đường đón taxi chở đi những đoạn đường xa, vắng vẻ rồi lợi dụng hoàn cảnh mà “ra tay”

Điển hình như, ngày 7/11/2010, Công an Q.7 Thành phố Hồ Chí Minh điều tra, triệt phá băng nhóm chuyên dùng mũ bảo hiểm tấn công người đi đường để cướp tài sản lúc nửa đêm về sáng, bắt giữ được 5 tên

Hằng đêm, nhóm này đi trên 3 chiếc xe máy, khi đã “chấm” được “con mồi” liền cho xe chặn đầu khóa đuôi rồi dùng mũ bảo hiểm đánh phủ đầu nạn nhân, cướp tiền, điện thoại di động và xe máy Với thủ đoạn tương tự, bọn chúng đã gây ra hàng loạt vụ án tại các quận ở Thành phố Hồ Chí Minh

25 Hà Anh, Những chiêu cướp nhằm vào phái đẹp,

http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/08/3BA1EFEE/, [truy cập ngày 10/8/2010]

Trang 29

Phương thức thủ đoạn của bọn cướp không chỉ dừng lại ở đấy, bọn chúng thường nhằm vào tiệm vàng, nơi mua bán sầm uất để tấn công và khống chế Cho nên, có thể nói thủ đoạn của bọn cướp ngày càng phức tạp và tinh vi Chúng ta cần phải nâng cao nhận thức và cảnh giác

- Khóa cửa nhà ra vào cẩn thận, các cánh cửa sổ lại hết

- Trẻ nhỏ hay ông bà không được ở nhà một mình

- Không mở cửa cho người lạ vào mà không có sự giám sát của người lớn

- Bóp ví, tiền bạc, túi xách phải giữ sát bên mình

- Không nên về nhà vào buổi tối quá khuya

- Nên chọn đường đi có nhiều ánh sáng đèn vào buổi tối

- Không mang nhiều tiền trang sức bên mình

- Đi chung với nhiều người thân và bạn bè

Không có biện pháp nào phòng tránh cướp hiệu quả hơn việc chính bản thân người chủ sở hữu tài sản nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản của mình Trên, là một số lời khuyên cũng như biện pháp đề phòng tội cướp nói riêng và tội phạm nói chung

Ngoài những thủ đoạn được nêu trên, một thủ đoạn khá phổ biến ở nước ngoài và ợ Việt Nam cũng đã từng đối mặt với thủ đoạn này Đó là cướp được thực hiện bằng kỹ thuật thôi miên

Nếu nhìn từ quan điểm tâm lý học hay tội phạm học đều không có bằng chứng cho thấy cướp bằng thôi miên đã xảy ra trên thực tế Tuy nhiên, đối với lực lượng cảnh sát Nga, đặc biệt là ở Moscow, nơi mỗi năm, số đơn trình báo cướp bằng thôi miên lên đến 300 - 400 thì thủ đoạn này hoàn toàn có thật, và cũng không phải cao siêu hay hiếm gặp26

Một số chuyên gia về lừa đảo cho rằng giới tội phạm đã áp dụng lý thuyết lập trình ngôn ngữ thần kinh khi thực hiện những phi vụ kiểu này Chúng dùng những cách nói chuyện đặc biệt khiến người nghe rơi vào trạng thái bán thôi miên ngay trong các tình huống thường ngày

Alexei Skrypnikov, một đại tá công an nghỉ hưu và là cựu chuyên gia tâm

lý thuộc Viện Nghiên cứu khoa học của cảnh sát Liên bang Nga cho biết, giữa những năm 1990, những vụ cướp bằng thôi miên nở rộ nên Viện đã cùng cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm để xác định đây là sự thật hay chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng

Nạn nhân được các nhà tâm lý của Viện thôi miên để quay về thời điểm xảy

ra vụ việc và mô tả những gì mà họ đã trải qua Vị đại tá này khẳng định, nạn nhân đều là những người trí óc lành mạnh và không bị bỏ thuốc mê như nhiều thông tin

Trang 30

đồn đại Họ chỉ bị bọn tội phạm làm cho rối trí đến mức sẵn sàng giao tài sản, tiền bạc cho chúng

Cũng theo đại tá Skrypnikov, điểm cốt lõi của kỹ thuật mà giới tội phạm sử dụng là hình thức thay thế nội dung Bộ não chúng ta chỉ có khả năng xử lý một lượng thông tin nhất định trong một khoảng thời gian

Nếu lượng thông tin dồn đến quá mạnh và quá nhanh (ví dụ khi nghe một người thao thao bất tuyệt) hoặc ngược lại quá chậm (người nói diễn đạt chậm, lặp đi lặp lại), thì hoạt động của não sẽ chùng xuống, chúng ta trở nên lơ đãng, mất tập trung và mức độ cảnh giác giảm đi Khi đó, chúng ta rơi vào một trạng thái bị thôi miên Kỹ thuật này tuy đơn giản, nhưng rất hiệu quả

Phá bẫy thôi miên

Theo kinh nghiệm của các chuyên gia tâm lý và điều tra viên ở Nga, tuy không phải ai cũng chống lại được bẫy thôi miên của giới tội phạm, nhưng nhìn chung, vẫn có cách tự bảo vệ mình trước thủ đoạn này

Ví dụ, nếu có cảm giác nghi ngờ hoặc không thoải mái khi có người lạ đến bắt chuyện thì nên chấm dứt ngay cuộc trò chuyện và bỏ đi Để làm sao lãng và thoát ra khỏi sự kiểm soát của người thôi miên, đôi khi chỉ cần quay đi phía khác, xem đồng hồ hoặc chỉnh lại quần áo

1.3.3 Nguyên nhân – điều kiện của tội cướp tài sản

Nguyên nhân điều kiện của tội cướp tài sản là những dấu hiệu, đặc điểm, tính chất của nhân thân và những tình huống, hoàn cảnh khách quan bên ngoài trong

sự tác động qua lại dẫn đến việc thực hiên hành vi phạm tội

Thông thường, mỗi loại tội phạm cụ thể xảy ra không phải do một nguyên nhân gây ra mà là kết quả tập hợp các tình huống tác động đến con người trong những khoảng không gian và thời gian khác nhau

Nội dung của sự tác động qua lại với nhau giữa cá nhân và môi trường xã hội dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội đó rất phức tạp và luôn thay đổi

Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cá nhân đã được nhận thức về các chuẩn mực đạo đức, tôn giáo, pháp luật… Từ đó, có thêm những yêu cầu mới, những dự định mới Và trong một hoàn cảnh nhất định tại một thời điểm nào đó, con người sẽ hành động phù hợp với quan điểm của mình

Và tất nhiên, những đặc điểm tính chất nhân thân không phải do di truyền

mà kết quả của quá trình xã hội hóa Chẳng hạn, người cha trước đây đã từng phạm tội cướp nhưng chưa hẳn người con sau này cũng phạm tội cướp nếu được giáo dục trong một môi trường lành mạnh

Từ những điều kiện sống, điều kiện giáo dục không lành mạnh và những điều kiện khác không thuận lợi là những nguyên nhân cơ bản đẩy con người đến hành vi phạm tội

Hiện nay, nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng nhanh chóng, bên cạnh tạo ra bộ mặt mới cho đất nước cũng phát sinh nhiều tiêu cực Trước hết, phải

kể đến những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường với sự tăng trưởng của nền kinh

tế, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, sự lưu nhập lối sống phương Tây… đã tác động làm thay đổi nhiều quan niệm đạo đức truyền thống tốt đẹp, hình thành tâm lý

Trang 31

tham lam hám lợi, muốn làm giàu bằng mọi cách, kể cả bằng các việc làm phi pháp trong một bộ phận dân cư

Nền kinh tế thị trường đã giải phóng một lực lượng sản xuất, tạo điều kiện cho con người làm giàu chính đáng Một lớp người nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ đã giàu lên một cách nhanh chóng, có cuộc sống đàng hoàng Bên cạnh đó có một số

bộ phận khác thèm muốn cuộc sống giàu sang, nhưng lại không chiụ làm ăn chính đáng, thậm chí còn lười lao động chỉ muốn nhanh chóng và bằng mọi cách có tiền

để phục vụ cho cuộc sống cá nhân, ăn chơi trác táng Những người này, sẵn sàng làm những việc bất chính để kiếm tiền như trộm cắp, lừa đảo, cướp giật, thậm chí cướp tài sản, giết người… Chính điều này làm cho một số nhóm tội xâm phạm sở hữu gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là tội cướp tài sản

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra ngày càng mạnh mẽ, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, sự chênh lệch giàu và nghèo ngày càng diễn ra một cách nhanh chóng ở thành thị và cả nông thôn Bên cạnh đó các loại hình dịch vụ phát triển như nhà hàng, khách sạn, nhà trọ, vũ trường… là môi trường thuận lợi cho các

tệ nạn xã hội phát triển như nghiện hút ma túy, mại dâm… Do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường làm cho giá trị đạo đức, văn hóa của con người bị suy giảm,

đề cao giá trị vật chất, coi trọng đồng tiền Dân số tăng nhanh trong khi đó mức sống của người dân còn thấp Thậm chí một số vùng còn xảy ra nạn đói Tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn và thất nghiệp ở thành phố còn cao Thiếu việc làm, dẫn đến thiếu thốn về kinh tế và từ đó dẫn đến việc phát sinh tội phạm

Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường cũng tác động không nhỏ đến các gia đình Một số gia đình vì cha mẹ chỉ lo mãi mê với công việc mà thiếu sự quan tâm không chăm lo, giáo dục con cái, buông lỏng sự giáo dục, quản lý con cái

Trong khi đó trình độ văn hóa và nhận thức về còn hạn chế hoặc điều kiện kinh tế khó khăn khiến trẻ em ít được quan tâm, chăm sóc, một số trẻ em phải tự lang thang kiếm sống, có gia đình chính bố mẹ vi phạm pháp luật, buông thả trong lối sống, phương pháp giáo dục con em không phù hợp, quá nuông chiều hoặc quá nghiêm khắc… là một trong những yếu tố chủ yếu dẫn đến con đường phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên

Tình trạng buông lỏng quản lý, công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên chưa được quan tâm đúng mức và chưa có nội dung, hình thức phù hợp, giáo viên chưa nắm bắt được hoàn cảnh gia đình, tâm lý của các em, giữa nhà trường và gia đình chưa thường xuyên phối hợp trao đổi thông tin về tình hình học tập, hạnh kiểm của học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt, lười học, điểm học tập và rèn luyện yếu để có biện pháp quản lý, giáo dục

Song song đó, với ưu thế là một loại hình giải trí hiện đại, dễ chơi, rõ ràng hiện nay ngoài tác dụng giải trí, game online cũng tiềm ẩn nhiều tác hại Trò chơi này dễ gây nguy hiểm đối với người thiếu bản lĩnh, nghị lực kém và nhân cách chưa định hình

Trong khi đó công tác tuyên truyền pháp luật chưa được chú trọng Nhiều địa phương chưa xây dựng được các mô hình quản lý, giáo dục trẻ em hư hoặc trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, giúp đỡ thanh thiếu niên hoàn lương

Trang 32

Cơ chế phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các đoàn thể, chính quyền địa phương không chặt chẽ Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự, tệ nạn

xã hội có lúc, có nơi còn bộc lộ những hạn chế nhất định, có nhóm đối tượng trong lứa tuổi phạm tội tồn tại trong một thời gian dài, gây ra nhiều vụ mới được phát hiện và xử lý

Bên cạnh đó, công tác quản lý trên lĩnh vực văn hóa, ở một số mặt còn lỏng lẻo Tình trạng văn hóa phẩm, băng đĩa hình mang nội dung kích động bạo lực, đồi trụy còn lưu hành trôi nổi ngoài xã hội, một số địa phương chưa chú ý quy hoạch xây dựng các khu vui chơi giải trí cho thanh thiếu niên trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hàng năm, bên cạnh đó, các tụ điểm giải trí không lành mạnh như game online xuất hiện ngày càng nhiều, các tiệm Internet không được kiểm tra, giám sát thường xuyên…

Các đối tượng phạm tội, đa số đều có nhu cầu không lành mạnh như thích hút thuốc lá, ăn chơi, nhậu nhẹt, đua đòi, có tính hiếu kỳ, tìm hiểu, thử nghiệm cảm giác mạnh, cảm giác lạ, muốn được mọi người chú ý, tôn sùng, lười học tập và rèn luyện, nhận thức kém Có người phạm tội do bị xúi giục, ép buộc, lôi kéo của những phần tử xấu dẫn đến vi phạm pháp luật

Với những điều kiện trên, khi rơi vào một hoàn cảnh, tình huống cụ thể thì những nhu cầu tồn tại từ lâu nay trở thành động lực cá nhân đó tìm tòi và xác định kết quả đạt được Sau khi xác định được động cơ, mục đích phạm tội thì chủ thể lập

kế hoạch thực hiện hành vi phạm tội của mình

Ở đây, người thực hiện hành vi cướp lựa chọn công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm để thực hiện hành vi phạm tội của mình Vấn đề này, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kinh nghiệm sống, năng lực, tri thức của từng cá nhân cũng như hoàn cảnh khách quan bên ngoài

1.3.4 Hậu quả của tội cướp tài sản

Hậu quả của tội phạm là một vấn đề đặc biệt quan trọng Đây là những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

Cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu khác, hậu quả mà tội cướp gây ra

là thiệt hại về tài sản Song ngoài thiệt hại về tài sản, tội cướp tài sản còn gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm của con người

Tùy theo phạm vi, cách thức, cơ chế, cường độ xâm hại đến các yếu tố cấu thành các quan hệ xã hội mà tội cướp tài sản có thể gây ra nhiều loại hậu quả khác nhau dưới dạng các thiệt hại như:

Thiệt hại về vật chất: các loại tài sản bị chiếm đoạt

Thiệt hại về thể chất: tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm của con người

Các dạng thiệt hại này, chúng ta có thể định tính định lượng được bằng các chỉ số ước định trong từng thời gian và hoàn cảnh lịch sử cụ thể Chẳng hạn, giá trị tài sản bị chiếm đoạt có thể định lượng là bao nhiêu? Hay gây thương tích tổn hại sức khỏe có thể xác định được tỷ lệ thương tật là bao nhiêu?

Trang 33

Tuy nhiên, những biến đổi vô hình xung quanh như tác động đến xấu đến tình trạng quân bình đời sống con người, tình hình an ninh trật tự xã hội, lòng tin về pháp luật của người dân có thể định lượng được hay không?

Điều đó vẫn là câu hỏi Hậu quả của tội phạm chính là những kết quả xấu

mà xã hội phải gánh chịu từ việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định đó là hành vi phạm tội

Tội cướp tài sản nằm trong chương các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản Cho nên, khách thể quan trọng ở đây chính là tài sản Nhưng thực chất tài sản chỉ là mục đích chính cho hành vi phạm tội Muốn thực hiện được hành vi cướp tài sản, người phạm tội trước hết đã tác động đến nạn nhân

Theo người viết, quan hệ nhân thân rất quan trọng Và những hậu quả vô hình phía sau quan hệ nhân thân cũng rất quan trọng Người phạm tội muốn đạt được hành vi phạm tội của mình, phải bằng mọi cách và mọi thủ đoạn tác động, khống chế nạn nhân

Đặc trưng của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, hệ quả tất yếu của hành vi này có thể xảy ra là thương tích, thậm chí có thể dẫn đến tính mạng người Nhưng nếu nạn nhân là lao động chính trong gia đình nhưng nhưng phải gánh chịu hậu quả từ hành vi người phạm tội gây ra làm mất khả năng lao động, hay thiệt hại đến tính mạng Như vậy, những hậu quả vô hình nối tiếp đằng sau hậu quả hữu hình này, ai sẽ là nạn nhân gánh chịu?

Chắc rằng, câu trả lời đã lóe ra trong mỗi người nhưng tin rằng hậu quả của hành vi cướp tài sản là không nhỏ Nó không những ảnh hưởng đến bản thân và gia đình nạn nhân mà còn ảnh hưởng đến bản thân và gia đình người phạm tội và rộng hơn nữa là toàn xã hội

1.3.5 Ý nghĩa của việc quy định về tội cướp tài sản trong Bộ luật hình

sự hiện hành

Pháp Luật Hình sự là một công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hộ chủ nghĩa, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, đảm bảo giữ vững thành quả của cách mạng, duy trì trật tự, an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi công dân được sống trong môi trường xã hội và sinh thái lành mạnh, mang tính nhân văn cao

Pháp Luật Hình sự góp phần loại bỏ mọi trở ngại cản trở tiến trình đổi mới

và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Việc quy định tội cướp tài sản trong bộ luật hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng Là một chế tài răn đe những hành vi có tính chất vũ lực để chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp từ người khác

Đồng thời, giáo dục về tư tưởng, hành vi, lối sống, nhân cách con người, hướng đến cái thiện, xoá bỏ cái ác Tội cướp tài sản diễn ra ngày càng tinh vi, xảo quyệt Việc ghi nhận cướp tài sản còn có ý nghĩa giáo dục mọi tầng lớp nhân dân và răn đe đối với người có ý định phạm tội này

Trang 34

Việc định tội một người với tội danh cướp tài sản là việc chuyển hoá nội dung quy định về tội phạm của Bộ luật hình sự vào đời sống xã hội thông qua việc xét xử những vụ án cụ thể của Toà án

Một người được Toà án xác định là vô tội có nghĩa là họ được khôi phục lại toàn bộ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, kể cả những quyền đã bị hạn chế trong quá trình xét xử Trong trường hợp này, Nhà nước có trách nhiệm phải bồi thường cho họ do xét xử oan sai Ngược lại, một người bị Toà án xác định là có tội

có nghĩa là họ sẽ phải gánh chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ đã thực hiện

Như vậy về mặt chính trị, xã hội, những quy định về tội cướp tài sản là biểu hiện của thực hiện đúng chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, loại trừ khả năng kết oan người

vô tội

Áp dụng những quy định về tội cướp tương ứng với hành vi phạm tội cụ thể góp phần xuyên tạc bức tranh thực tế của tình hình tội phạm, tác động tiêu cực đến việc soạn thảo và và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm

Trong đó, định tội đúng là một bảo đảm cho việc làm sáng tỏ một cách có căn cứ khách quan tình trạng, mức độ và khuynh hướng của tình hình tội phạm cũng như tình hình các loại tội phạm cụ thể trên các vùng lãnh thổ cũng như trên phạm vi toàn quốc Về mặt pháp lý, định tội đúng là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, là một bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Việc quy định tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự hiện hành sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc quyết định hình phạt cũng như áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự khác chính xác, công bằng

1.4 Những quy định về tội cướp tài sản trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới

Gắn với chủ quyền quốc gia, mỗi hệ thống luật là của riêng quốc gia ấy Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế xã hội, sự khác biệt về chế độ chính trị và

sự dị biệt văn hóa là những nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt của hệ thống pháp luật

Sự khác biệt có thể được nhìn nhận trong phạm vi toàn hệ thống, dẫn đến sự phân biệt giữa hệ thống này với hệ thống khác

Gắn với chủ quyền quốc gia, mỗi hệ thống luật là của riêng quốc gia ấy Bởi vậy, có thể thừa nhận rằng có bao nhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu hệ thống luật Thậm chí, trong trường hợp Nhà nước được tổ chức theo mô hình liên bang, mỗi bang thành viên còn có cả hệ thống luật của bang mình

Tuy nhiên, mỗi hệ thống pháp luật cũng như mọi ngành luật của quốc gia đều mang bản sắc riêng của nó Riêng đối với những quy định về chế tài hình sự thì chắc có lẽ rằng các quốc gia đều cùng nục đích chung là giáo dục, răn đe và cải tạo người có hành vi nguy hiểm cho xã hội

Dưới đây, ta có thể tìm hiểu sơ lược về những quy định về tội cướp tài sản của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc

Trang 35

1.4.1 Những quy định của pháp luật hình sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

về tội cướp tài sản

Bộ tổng luật của Hợp chủng quốc Hoa kỳ trong chương 103 quy định về các tội trộm và cướp Theo Điều 2111 của Bộ tổng luật quy định

“Người nào trong phạm vi thuộc thẩm quyền tài phán của Hợp chủng quốc

mà dùng vũ lực hoặc dọa nạn để chiếm đoạt một vật có giá trị từ người khác thì bị phạt tù đến mười lăm năm”

Bộ tổng luật quy định người nào trong khi cướp của người khác, đã chiếm đoạt bất động sản thuộc Hợp chủng quốc, thì phạt tù đến mười lăm năm

Như vậy, theo bộ tổng luật Hoa kỳ, cướp là hành vi chiếm đoạt thông qua việc dùng vũ lực hoặc là dọa nạn So với Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam thì đây cũng là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, đối với Bộ luật hình sự Việt Nam, nghiêm khắc về hình phạt hơn, thấp nhât là ba năm tù và cao nhất là tử hình Nghiêm khắc hơn nhiều so với tổng luật Hoa kỳ cao nhất là mười lăm năm tù đối với hành vi chiếm đoạt bất động sản Hành vi chiếm đoạt mang tính chất nguy hiểm cao độ hơn so với hành vi chiếm đoạt bất động sản đó là tội cướp nhà băng được quy định tại Điều 2113:

“Người nào dùng vũ lực hoặc dọa nạt để chiếm đoạt tài sản, tiền bạc hoặc

một vật có giá trị của người khác đang được bảo quản, kiểm tra, quản lí hoặc đang được giữ tại nhà băng, quỹ tín dụng, quỹ tiết kiệm cũng như đột nhập vào nhà băng, quỹ tín dụng, quỹ tiết kiệm hoặc đột nhập vào địa điểm được sử dung toàn bộ hoặc một phần làm nhà băng, quỹ tín dụng, quỹ tiết kiệm nhằm thực hiện tại đó một trọng tội vi phạm luật của Hợp chủng quốc hoặc nhằm trộm cắp thì bị phạt đến 5000 đôla hoặc bị phạt tù đến hai mươi năm, hoặc bị hai hình phạt đó”

Trường hợp cướp nhà băng có dùng vũ khí hoặc công cụ nguy hiểm để tấn công hoặc đe dọa tính mạng của người khác thì bị phạt đến 10000 đôla hoặc bị phạt

tù đến hai mươi lăm năm, hoặc cả hai hình phạt đó Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi phạm tội chạy trốn sau khi thực hiện hành vi đó, cũng như trong khi tự giải thoát mình khỏi nơi giam giữ mà đã giết người hoặc cưỡng bức người khác thì bị phạt tù không dưới mười năm tù hoặc bị xử tử hình nếu bội thẩm đoàn quyết định như vậy

Đối với những người tiếp nhận, cất giấu, đổi chác, bán hoặc định đoạt tài sản, tiền hoặc vật có giá trị, mà biệt rõ nguồn gốc những vật đó do đâu mà kẻ phạm tội có được thì bị phạt đến 5000 đôla hoặc bị phạt tù đến mười năm hoặc cả hai hình phạt đó

Trên là những quy định hành vi cướp trên lãnh thổ Hoa Kỳ

1.4.2 Những quy định của pháp luật hình sự Nhật về tội cướp tài sản

Bộ luật hình sự của Nhật quy định về phần tội phạm chia thành 27 chương tương ứng với 27 nhóm tội phạm

Tội cướp tài sản được quy định tại chương XXXVI cùng với các tội trộm cắp Theo Hình sự nước Nhật thì cướp được hiểu như sau:

Trang 36

“Người nào tước đoạt tài sản của người khác bằng cách dùng vũ lực hoặc

áp đảo tinh thần là phạm tội cướp và bị phạt tù có lao động bắt buộc từ năm năm trở lên;

Tương tự như vậy áp dụng đối với người có được món lợi kinh tế bật hợp pháp hoặc buộc người khác phải có được món lợi kinh tế bất hợp pháp”

Bộ luật hình sự Nhật quy định rất cụ thể về các giai đoạn của tội cướp Điển hình như, việc chuẩn bị cướp

“Người nào vì mục đích thực hiện cướp mà chuẩn bị cho việc cướp đó thì bị

phạt tù có lao động bắt buộc đến hai năm”

Trường hợp kẻ phạm tội mà chưa đạt được mục đích thì vẫn bị xử lý theo các quy định các tội phạm tương ứng

Còn đối với những trường hợp trộm cắp mà kẻ trộm khi bị phát hiện lại có những hành vi giống như là cướp như dùng vũ lực hoặc áp đảo tinh thần để ngăn chặn việc phát hiện tài sản lấy cắp mà trốn khỏi bị bắt hoặc để xóa dấu vết thì cũng xem giống như là cướp và cũng kẻ trộm đó cũng bị xử lý giống như là kẻ cướp Bên cạnh đó, nếu kẻ trộm gây cho nạn nhân bất tỉnh để trốn thoát thì cũng được xem như là kẻ cướp và bị xử lý theo điều 239 của Bộ luật

Ngoài ra, trong quá trình cướp, kẻ cướp gây tổn hại sức khỏe cho người khác thì bị phạt tù chung thân có lao động bắt buộc hoặc bị phạt tù có lao động bắt buộc từ bảy năm trở lên, nếu kẻ cướp đó gây chết người thì bị tử hình hoặc bị phạt

tù chung thân có lao động bắt buộc Nếu kẻ cướp đó hiếp dâm phụ nữ thì bị phạt tù chung thân có lao động bắt buộc hoặc bị phạt tù có lao động bắt buộc tù bảy năm trở lên

1.4.3 Những quy định của pháp luật hình sự Trung Hoa về tội cướp tài sản

Bộ luật hình sự Trung Hoa quy định về phần tội phạm gồm 5 chương Trong đó, chương V gồm 8 chương nhỏ bao gồm chương các tội phạm xâm phạm

sở hữu

Tại chương này các tội xâm phạm sở hữu bao gồm bảy loại tội phạm: trộm cắp, cướp đoạt, lừa đảo, cưỡng đoạt, tham ô, cố ý phá hủy tài sản, chiếm đoạt tài sản

và cướp giật

Tội cướp được quy định tại điều 150 Bộ luật

“Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác hoặc

các biện pháp khác để cướp đoạt tài sản thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm

Phạm tội trong khoản trên với tình tiết nghiêm trọng hoặc gây thương tích nặng đối với người khác thì bị phạt tù từ mười năm trở lên, tù chung thân, tử hình Ngoài ra, còn có thể tịch thu tài sản”

Đối với những trường hợp phạm tội trộm cắp, lừa đảo, cướp giật mà dùng

vũ lực hoặc các biện pháp nguy hiểm khác nhằm che giấu tang vật hay chống lại việc bặt giữ khi bị phát hiện hoặc là thủ tiêu đi tang vật thì vẫn bị xử phạt theo tội cướp

Xét về bản chất, quy định về tội cướp tài sản trong Bộ luật Việt Nam và Bộ luật Trung Hoa tương tự nhau

Trang 37

Hành vi cướp đều được xem là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình thế không thể chống cự tài sản nhằm chiếm lấy tài sản

Trang 38

CHƯƠNG II TỘI CƯỚP TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH

2.1 Định nghĩa về tội cướp tài sản

Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 là công cụ sắc bén của Nhà nước, của nhân dân, đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Kể từ năm 2000 đến nay, Bộ luật hình sự năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật hình sự năm 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải sớm khắc phục

Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự Ngày 29 tháng 6 năm 2009 Chủ tịch nước ký Lệnh

công bố Luật này (Lệnh số 13/2009/L- CTN) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng

01 năm 2010

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự là một bước kế thừa

và phát triển mới nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan và hết sức bức xúc của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 33/2009/QH12 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành

vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

Trang 39

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú

từ một một năm đến năm năm.”

Như vậy, cướp tài sản có thể được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng

vũ lực ngay tức khắc hoặc có bất kỳ hành vi nào khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình thế không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản

Các cấu thành tội cướp tài sản nói riêng và các tội phạm nói chung là các dấu hiệu pháp lý về khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc Các dấu hiệu pháp lý này phải được quy định trong pháp luật hình sự thực định

Đây là tổng hợp những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

Chỉ có trên cơ sở tổng hợp đầy đủ các dấu hiệu pháp lý này, thì mới có căn

cứ để khẳng định một hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó bị luật hình sự cấm và

đã thực hiện trên thực tế chính là một tội phạm

2.2.1 Khách thể của tội phạm

Hành vi cướp tài sản làm cho người bị tấn công lâm vào tình thế không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Người bị tấn công là người đang nắm giữ hay đang trông coi tài sản Có thể hiểu, tài sản thuộc sở hữu của người bị tấn công hoặc có thể của người khác Nhưng người bị tấn công phải là người trực tiếp quản

lý hay trực tiếp trông coi tài sản đó Như vậy, khách thể đầu tiên mà tội cướp tài sản xâm hại đến là quan hệ nhân thân

Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, tự do cá nhân của con người, làm cho người này lâm vào tình thế không thể chống cự được và thông qua đó xâm phạm đến quyền sở hữu

Trang 40

Một tội phạm có thể xâm phạm đến nhiều khách thể và tội cướp tài sản cũng thế Ngoài xâm phạm trực tiếp đến quan hệ nhân thân Người phạm tội cướp tài sản còn xâm phạm đến quan hệ sở hữu

Do tội cướp tài sản cùng lúc xâm hại đến hai khách thể Tuy nhiên, trong hai khách thể đó thì quan hệ nhân thân là quan hệ bị xâm hại đầu tiên và quan trọng hơn quan hệ sở hữu Cho nên, có ý kiến cho rằng không nên xếp tội cướp tài sản trong Chương “Các tội xâm phạm sở hữu” mà nên xếp vào Chương “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” Việc các nhà làm luật xếp tội cướp tài sản vào chương xâm phạm sở hữu là căn cứ vào mục đích cuối cùng của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản, còn việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người chỉ là phương tiện để đạt mục đích

Trên thế giới hiện nay, có nhiều nước xếp tội cướp tài sản trong chương

“Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”, nhưng cũng có nước xếp vào chương xâm phạm sở hữu như nước ta Việc các nhà làm luật xếp tội cướp tài sản vào chương này hay chương khác chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu khoa học lập pháp chứ không có ý nghĩa trong việc xác định các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội cướp tài sản

Nét đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản là cùng một lúc người phạm tội xâm phạm đến hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Nếu tội phạm xâm hại đến quan hệ sở hữu thì phải xâm hại quan hệ nhân thân trước, còn không xâm phạm được quan hệ nhân thân thì càng không xâm phạm được quan hệ sở hữu Nhưng nếu

sự xâm hại này chỉ xảy ra một trong hai quan hệ xã hội thì chưa thể hiện được bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cướp Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội cướp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu và các tội khác mà người dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị tấn công lâm vào không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Do tội cướp tài sản xâm phạm đồng thời hai quan hệ xã hội Cho nên, trong cùng một vụ án có thể có một người bị hại, nhưng cũng thể có nhiều người bị hại

Và những người bị hại này có thể bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, nhưng người bị hại cũng có thể vừa xâm hại về tài sản và vừa xâm hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự

2.2.2 Khách quan của tội phạm

Theo quy định của điều luật người phạm tội có hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác” khiến người bị tấn công lâm vào tình thế không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Như vậy, hành vi cướp tài sản được thể hiện dưới ba loại sau đây:

- Hành vi dùng vũ lực: được hiểu là hành vi hay hành động mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, đâm, chém, trói, nhét giẻ vào miệng…Hay có thể nói một cách khái quát đấy là hành vi dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động vào người khác làm tê liệt sự chống cự của người này nhằm chiếm đoạt tài sản

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w