1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP tìm HIỂU về tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG xét xử của tòa án QUỐC tế về LUẬT BIỂN

77 336 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 911,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển nằm trong tổ chức của Tòa án quốc tế về luật biển, được thiết lập bởi điều 186 Công ước năm 1982, tuy không phải là cơ quan của Cơ q

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện:

Lớp: Luật Tư pháp 2 – K35

Cần Thơ, 2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA LUẬT BIỂN VÀ TÒA ÁN QUỐCTẾ VỀ LUẬT BIỂN 4

1.1.Sự hình thành và phát triển của Luật biển 4

1.1.1 Luật biển quốc tế và Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982 4

1.1.2 Nguồn của luật biển quốc tế 5

1.2.Khái quát chung về Tòa án quốc tế về luật biển 7

1.2.1 Lịch sử hình thành về Tòa án quốc tế về luật biển 7

12.2 Vai trò của Tòa án quốc tế về luật biển 9

1.3.Quan hệ của Tòa án với các tổ chức khác 10

1.3.1 Tòa án quốc tế về luật biển với các cơ quan khác của Công ước năm 1982 10 1.3.2 Tòa án quốc tế về luật biển với các Tòa trọng tài 11

1.3.3 Tòa án quốc tế về luật biển với Tòa án công lý quốc tế 13

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN 17

2.1 Thành phần và tổ chức của Tòa án quốc tế về luật biển 17

2.1.1 Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển 17

2.1.2 Thẩm phán ad hoc của Tòa án quốc tế về luật biển 21

2.1.3 Thư ký và các phụ thẩm của Tòa án quốc tế về luật biển 24

2.1.4 Các Tòa án đặc biệt của Tòa án quốc tế về luật biển 25

2.2 Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển 28

2.2.1 Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển 28

2.2.2 Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển 30

Trang 5

2.2.2.2 Thẩm quyền xét xử nội dung tranh chấp 32

2.2.2.3 Thẩm quyền xét xử công bằng 36

2.3 Hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển 38

2.3.1 Thủ tục tố tụng 38

2.3.2 Thủ tục tại các Viện đặc biệt 57

CHƯƠNG 3 THỰC TIẾN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT NHỮNG TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN 59

3.1 Thực tiễn giải quyết một số tranh chấp về biển của Tòa án quốc tế về luật biển 59

3.2 Những tồn tại trong hoạt động giải quyết tranh chấp về luật biển của Tòa án quốc tế về luật biển 68

3.3 Một số đề xuất về hướng giải quyết những tồn tại trong quá trình hoạt động giải quyết tranh chấp về biển của Tòa án quốc tế về luật biển 70

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, do sự cạn kiệt tài nguyên trên đất liền, sự bùng nổ dân số và sự phát

triển của luật pháp, các nước đều có nhu cầu mở rộng quyền lực của mình ra các vùng biển tiếp liền với lãnh thổ Cùng với xu hướng tất yếu mà các quốc gia lựa chọn là hợp tác cùng phát triển dựa trên tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tuy nhiên,

sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế lại tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình chủ thể thiết lập các quan hệ quốc tế Các hoạt động trên biển ngày càng nhiều, nguy cơ tranh chấp trên biển sẽ càng gia tăng Chính vì thế, vấn đề đặt ra là phải giải quyết các tranh chấp phát sinh như thế nào để đảm bảo được lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp nói riêng và không phương hại đến hòa bình, an ninh quốc tế nói chung Các tranh chấp quốc tế được giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau và một (01) trong số các biện pháp đó là việc sử dụng hình thức tài phán quốc tế Về bản chất, tài phán quốc tế là cách thức hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế bằng những biện pháp, thủ tục tư pháp, do các quốc gia lựa chọn Nhìn chung, các cơ quan tài phán quốc tế tồn tại hai dạng là Tòa án và Trọng tài quốc tế Tính chất của mỗi loại hình thức tài phán phụ thuộc vào quốc tế, điều lệ và chức năng đặc thù của từng loại

Trên thế giới hiện nay có nhiều cơ quan Tòa án và Tòa trọng tài hoạt động trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp quốc tế Trong đó có Tòa án công lý quốc tế - tổ chức lớn nhất thế giới cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về biển Tuy nhiên, Tòa

án công lý quốc tế chưa giành tiếng nói của các nước thứ ba (03), chưa đảm bảo được lòng tin của các nước kém phát triển tại Tòa án và Tòa án công lý quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia với nhau Trong khi đó hoạt động trên biển dẫn tới nhiều loại tranh chấp không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các quốc gia với các pháp nhân, thể nhân, tổ chức quốc tế khác Vì vậy, cần thiết lập riêng một (01)Tòa án quốc tế

về luật biển để giải quyết tất cả các tranh chấp và để khắc phục những hạn chế của Tòa án công lý quốc tế, đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện giải quyết tranh chấp trên đa dạng hơn, Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập và đi vào hoạt động

Tòa án quốc tế về luật biển là cơ quan tài phán do Công ước của Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982 quy định và được thành lập năm 1996 Tòa án có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp trong quá trình áp dụng và giải thích Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982 giữa các quốc gia, các tổ chức, các doanh nghiệp hoạt động trên biển và khai thác đại dương Sự hiểu biết về tổ chức quốc tế này là rất cần thiết đối với các quốc

Trang 7

gia ven biển, các tổ chức, các doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu hướng tiến

ra biển làm chủ thiên nhiên, làm chủ đại dương của con người

Trên thực tế, trong những năm tồn tại của mình tuy số lượng vụ việc đưa ra giải quyết tại Tòa án quốc tế về luật biển không lớn nhưng các phán quyết của Tòa cũng góp phần nào vào việc gìn giữ hòa bình, an ninh quốc tế chung của thế giới Qua các hoạt động thực tiễn đã chứng tỏ vai trò không thể thiếu của một (01) cơ quan tài phán riêng của Công ước năm 1982 Từ việc nhận thức được điều này người viết đã chọn đề tài

“Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nhằm hướng tới nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển, bao gồm: những vấn đề lý luận về tổ chức Công ước năm 1982 và Tòa án quốc tế về luật biển – cơ quan tài phán chính của Công ước năm 1982; đánh giá về tổ chức và hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển và những thực tiễn hoạt động; tìm hiểu những tồn tại trong hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án quốc tế về luật biển; từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất giải quyết những tồn tại đó

Thông qua tìm hiếu một cách đầy đủ các vấn đề liên quan đến cơ quan tài phán thường trực này, chúng ta sẽ nhận thức rõ thêm vai trò quan trọng của Tòa án quốc tế về luật biển trong vấn đề gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới Việc giải quyết những tồn tại trong quá trình hoạt động giải quyết tranh chấp sẽ tạo điều kiện cho Tòa án quốc tế về luật biển trở thành giải pháp tối ưu được các bên tranh chấp lựa chọn để giải quyết các tranh chấp trên biển nhằm đạt được lợi ích cần thiết, đồng thời vẫn duy trì được mối quan

hệ hòa bình hữu nghị giữa các nước…

Dựa vào mục trên, đề tài sẽ đi vào nghiên cứu tất cả vấn đề liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển trong khoảng thời gian từ lúc cơ quan tài

phán này xuất hiện cho đến nay

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử,… trên cơ sở hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển để giải các vấn đề đặt ra trong luận văn Luận văn còn đưa ra những ý kiến đề xuất để giải quyết những tồn tại trong hoạt động giải quyết các tranh chấp của Tòa án quốc tế về luật biển

4 Kết cấu của luận văn

Trang 8

Luận văn được chia làm ba phần bao gồm: lời nói đầu, phần nội dung và kết luận Trong đó phần nội dung được chia làm ba chương:

Chương 1: Sơ lược về sự hình thành của Luật biển và Tòa án quốc tế về luật biển

Chương 2: Những quy định về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc

tế về luật biển

Chương 3: Thực tiễn và hướng giải quyết những tồn tại trong quá trình hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển

Kết luận

Trang 9

CHƯƠNG 1

SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA LUẬT BIỂN VÀ TOÀ ÁN

QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN 1.1 Sự hình thành và phát triển của Luật biển

1.1.1 Luật biển quốc tế và Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc 1982

Luật biển được hình thành từ rất sớm trong lịch sử, vào thời cổ đại ở Hy Lạp, Ai Cập và La Mã đã xuất hiện tập quán về biển và tiếp đến và khoảng Thế kỷ XIII đã xuất hiện một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng Biển Bắc Âu, và sau đó đã được phổ biến sang khu vực Địa Trung Hải Mãi cho đến năm 1930, Hội nghị quốc tế đầu tiên về luật biển mới được triệu tập ở Lahay, với mục đích bàn về vấn đề cấp bách lúc đó như quy chế lãnh hải, chống cướp biển, các nguyên tắc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trên biển

Do có nhiều mâu thuẫn nên Hội nghị Lahay không giải quyết được thỏa đáng vấn đề nào Ngày 14/02/1958, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên tại Geneva, Thụy Sỹ Hội nghị đã thông qua được bốn công ước quốc tế đầu tiên về luật biển.1 Các công ước trên đã đặt nền móng cho việc pháp điển hóa luật biển, chúng đã đề cấp đến một số khái niệm mới, và ghi nhận một số tập quán quốc tế về khai thác, sử dụng biển Mặc dù Hội nghị lần này được cho là thành công, nhưng nó vẫn để ngõ vấn đề quan trọng là bề rộng của vùng lãnh hải

Hội nghị lần thứ hai của Liên Hiệp Quốc về luật biển được tổ chức ngày 17/3/1960 tại Geneva, nhưng do những bất đồng và mâu thuẫn giữa các quốc gia nên hội nghị kết thúc mà không đạt thêm một kết quả khả quan nào

Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển sau năm năm trù bị 1972), và chín lần đàm phán thương lượng (1973-1982) với 144 quốc gia và tám cơ quan đại diện đặc biệt, tham gia đã thông qua được công ước mới về Luật biển Văn bản cuối cùng đã được thông qua tại Mongtego-Bay, Giamaica ngày 10/12/1982 với 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ lục, Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993) Ngày

(1967-24 tháng 9 năm 2012, quốc gia Châu phi Swaziland chính thức phê chuẩn và tham gia Công ước năm 1982 trở thành thành viên thứ 164 của Công ước Sau Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan

1

Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực ngày 10 tháng 9 năm 1964, gồm 48 quốc gia thành viên);

Công ước về biển cả (có hiệu lực ngày 30 tháng 9 năm 1962, gồm 59 quốc gia thành viên);

Công ước về Thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10 tháng 6 năm 1964, gồm 54 quốc gia thành viên);

Công ước về dánh ca và bảo tồn các tài nguyên sinh vâtj của biển cả (có hiệu lựa ngày 20 tháng 3 năm 1966,gồm

36 quốc gia thành viên )

Trang 10

trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ đề cập đến tất cả vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học kỹ thuật, môi trường,…mà còn phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các vấn

đề liên quan đến biển và nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý mới hiện đại, công bằng hơn để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường biển và đại dương

1.1.2 Nguồn của Luật biển quốc tế

Nguồn lịch sử: Văn kiện phân chia biển đầu tiên đó là Sắc chỉ ''Inter Coetera'' của Giáo hoàng Alexandre VI ngày 04/5/1493 Đường chia của Giáo hoàng cách phía Tây của đảo Vert 100 liên, phân đại dương thành hai khu vực ảnh hưởng cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Thực chất đó là đường phân chia khu vực truyền đạo của hai quốc gia này đã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh hưởng của họ

Năm 1609, Hugo Grotius viết cuốn ''Mare Liberum'' (Tự do biển cả) để biện minh cho các quyền tự do trên biển Năm 1635, luật gia người Anh - John Selden đáp lại bằng cuốn sách ''Mare Clausum'' (Biển đóng), khẳng định quyền của vua Anh thực hiện chủ quyền trên các vùng biển bao quanh nước Anh Tuy nhiên, nguyên tắc tự do trên biển đã thắng thế

Nguồn hiện đại: Các tuyên bố đơn phương và thực tiễn quốc gia:

Ngày 26 tháng 02 năm 1942 hiệp định Anh – Venezuela phân định Vịnh Paria,

hiệp định đầu tiên phân chia “ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài lãnh hải”;

Ngày 28 tháng 9 năm 1945, Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman mở rộng quyền tài phán của Hoa Kỳ trên các nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản trên thềm lục địa tiếp giáp với biển

Tại phiên họp thứ 22 Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 17 tháng 8 năm 1967, Arvid Pardo, Đại sứ Malte đã đưa ra tư tưởng coi vùng đáy biển nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là di sản chung của nhân loại

Các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc:

Nghị quyết 1803 (XVII) ngày 18 tháng 12 năm 1962 “Tuyên bố về chủ quyền vĩnh cửu trên các tài nguyên thiên nhiên”; 3016 (XXVII) năm 1972 về chủ quyền vĩnh cửu của quốc gia trên các tài nguyên các vùng biển nằm trong ranh giới tài phán quốc gia

và 3171 (XXVIII) ngày 17 tháng 12 năm 1973 “Chủ quyền trên các tài nguyên thiên nhiên” nhắc lại các nguyên tắc của hai Nghị quyết trên

Trang 11

Nghị quyết 2749 (XXV) ngày 17 tháng 12 năm 1970 “Tuyên bố về các nguyên tắc quản lý đáy biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giới quyền tài phán quốc gia”

Các phán quyết của Toà án công lý quốc tế:

Vụ eo biển Corfou ngày 9 tháng 4 năm 1949 (Anh - Albani) Anh kiện Albani ngày 22 tháng 5 năm 1947 trước Toà án công lý quốc tế Toà đã đưa ra một quy chuẩn địa lý: eo biển nối hai phần của biển cả là một eo biển quốc tế Phán quyết này có nhiều đóng góp cho việc pháp điển hoá quy chế của các eo biển quốc tế và quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền

Vụ Ngư trường Anh – Na Uy ngày 18 tháng 12 năm 1951 về đường cơ sở thẳng Toà xử cho Na Uy thắng cuộc, công nhận tính hợp lý của đường cơ sở thẳng Na Uy, áp dụng cho vùng bờ biển bị khoét sâu và lòi lõm, có các chuổi đảo chạy qua, một khi đường này không chạy xa xu thế chung của bờ biển Các phán quyết của Toà đã trở thành các tiêu chuẩn chung được luật pháp quốc tế thừa nhận và được điển chế hoá trong các Công ước của Liên hiệp quốc về luật biển

Các vụ án khác như vụ tàu Lotus ngày 7 tháng 9 năm 1927 giữa Pháp và Thổ Nhĩ

Kỳ, Thềm lục địa Anh – Pháp ngày 30 tháng 6 năm 1977,…

Các hội nghị pháp điển hoá

Hội nghị pháp điển hoá luật quốc tế La Haye 1930 đạt được hai thắng lợi: công nhận các quốc gia có một lãnh hải rộng ít nhất ba hải lý và một vùng tiếp giáp lãnh hải Hội nghị lần thứ nhất của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1958 tại Geneva đã cho ra đời bốn công ước về luật biển:

- Công ước về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải có hiệu lực ngày 10/9/1964;

- Công ước về Thềm lục địa có hiệu lực ngày 10/6/1964;

- Công ước về Đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển có hiệu lực ngày 20/3/1966;

- Công ước về Biển cả có hiệu lực ngày 30/9/1962

Hội nghị lần thứ hai của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1960 về bề rộng Lãnh hải Hội nghị này không mang lại kết quả khả quan nào

Hội nghị lần thứ ba của Liên hiệp quốc về luật biển, họp từ năm 1973 đến năm

1982 phản ánh bước phát triển mới của của Luật biển và đã làm thay đổi cơ bản trật tự pháp lý về biển Cộng đồng quốc tế đã thừa nhận một nguyên tắc mới do Đại sứ Malta

Trang 12

đưa ra tại phiên họp thứ 22 Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 17/8/1967, coi vùng biển nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là di sản chung của nhân loại

1.2 Khái quát chung về Tòa án quốc tế về luật biển

1.2.1 Lịch sử hình thành về Tòa án quốc tế về luật biển

Biển đã, đang và sẽ đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của loài người Với sự bùng nổ về dân số và khoa học kỹ thuật, sự cạn kiệt tài nguyên đất liền, sự phát triển của luật pháp, biển lại càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, cũng như của cộng đồng quốc tế Lịch sử đã chứng minh: muốn trở thành một cường quốc, trước hết phải là một quốc gia có biển Không một quốc gia ven biển nào không có khát vọng tiến ra biển, nhằm mở rộng quyền lực của mình ra các vùng biển tiếp liền với lãnh thổ Cùng với sự mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc nền tảng trong Luật biển là chủ quyền quốc gia và tự do trên biển ngày càng gay gắt Nhằm điều hòa các lợi ích trên biển của các quốc gia và các bên sử dụng biển, thì cần phải xây dựng một trật tự pháp lý công bằng trên biển

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu hướng tiến ra biển làm chủ thiên nhiên, làm chủ đại dương làm cho các quốc gia xích lại gần nhau, hợp tác, bảo vệ và phát triển bền vững Đồng thời với xu hướng này cũng làm nảy sinh các tranh chấp biển do ngày càng

có nhiều hoạt động trên biển đa dạng và phong phú hơn trong quan hệ giữa các nước Do

đó, nguy cơ tranh chấp trên biển sẽ gia tăng đòi hỏi chủ động đưa vụ việc ra một Toà án riêng về luât biển Vấn đề thiết lập một Toà án quốc tế về luật biển đã xuất hiện trong các chương trình nghị sự của các cơ quan quốc tế liên quan đến luật biển từ năm 1969.2 Và trong Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã xuất hiện ý tưởng thành lập một Tòa trọng tài nằm trong Cơ quan quyền lực đáy đại dương để giải quyết các tranh chấp liên quan đến Vùng đáy Biển – di sản chung của nhân loại Các tranh chấp này nảy sinh giữa các quốc gia, thể nhân và pháp nhân trong khi Tòa án công lý quốc tế, cơ quan tài phán chính của Liên Hiệp Quốc chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia Ý tưởng này tồn tại cho đến năm 1977 và được thay thế bằng đề nghị thành lập một hệ thống xét xử độc lập và song song với Tòa án công lý quốc tế trong lĩnh vực biển

Đề nghị này được biện minh bởi các lý do sau:

Hoạt động của Tòa án công lý quốc tế trong những năm 70 chưa giành được lòng

tin của các nước thế giới thứ ba, nhất là sau các vụ Tây Nam Phi năm 1962 và năm 1966,

Bắc Cameroon năm 1963 3 Các nước này ủng hộ việc thành lập Toà án riêng về luật biển

Nguyễn Hồng Thao, “Tìm hiểu về Tòa án quốc tế về luật biển”, Lịch sử hình thành Tòa án quốc tế về luật biển,

NXB Tư pháp Hà Nội năm 2006, Tr.19

Trang 13

với thành phần mở rộng hơn, trong đó họ có thể kiểm soát một cách hiệu quả hơn về quyền lợi của mình Các nước kém phát triển hơn sẽ có cơ hội để đảm bảo tiếng nói của mình tại Toà và sẽ có nhiều đại diện của hệ thống pháp luật của các nước đang phát triển

và các nước xã hội chủ nghĩa

Thủ tục phức tạp, mất nhiều thời gian và chi phí của Tòa án công lý quốc tế cũng

là một ý do để thành lập Tòa án mới về luật biển Mặc dù đã có cải tiến nhưng trung bình phải mất 3 – 5 năm Toà án công lý quốc tế mới giải quyết được một vụ xét xử.4 Với mục đích giảm thời gian và chi phí Toà án quốc tế về luật biển sẽ phải quy định về thủ tục rút gọn để đáp ứng được yêu cầu giải quyết các tranh chấp biển nhanh, gọn, ít ảnh hưởng đến kinh tế

Tòa án công lý quốc tế là một cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc, có mối quan hệ mật thiết với các cơ quan khác như Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Hoạt động của Tòa án

là độc lập nhưng phải phù hợp với hoạt động của các cơ quan khác nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của Liên hiệp quốc Toà án phải cân nhắc để không đưa ra một phán quyết trái với Nghị quyết của Hội đồng bảo an về một vụ tranh chấp hay tình thế nào đó.5 Vì vậy, để vượt qua sự tế nhị này Toà án quốc tế về luật biển cần độc lập trong hoạt động của mình với các cơ quan khác

Tòa án công lý quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia Hoạt động trên biển dẫn đến nhiều loại tranh chấp không chỉ giữa các quốc gia với nhau mà còn giữa quốc gia với các pháp nhân, thể nhân, tổ chức quốc tế khác Toà án quốc tế về luật biển cần có thẩm quyền để giải quyết tất cả các tranh chấp này

Thẩm quyền xét xử của Toà án công lý quốc tế nhiều khi không được thực hiện do các quốc gia tranh chấp không có thỏa thuận Để tránh trường hợp này cần phải có một thủ tục hoà giải và thủ tục bắt buộc sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế Quy chế của Toà án công lý quốc tế là một bộ phận của Hiến chương Liên hiệp quốc nên rất khó thay đổi Toà án mới với quy chế mới sẽ cho phép khắc phục được tình trạng trên

Các lý do này đã đặt nền móng cho việc ra đời một cơ quan tài phán quốc tế do Công ước quy định Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VII Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển (1973-1982) đã quyết định thành lập Tòa án quốc tế về luật biển Quy chế Tòa án là Phụ lục của Công ước năm 1982 nhưng Tòa án là một thiết chế độc lập với các cơ quan khác do Công ước năm 1982 lập

ra như Cơ quan quyền lực đáy đại dương và Ủy ban ranh giới thềm lục địa Tòa án có

4

Nguyễn Hồng Thao, “Tìm hiểu về Tòa án quốc tế về luật biển”, Lịch sử hình thành Tòa án quốc tế về luật biển,

NXB Tư pháp Hà Nội năm 2006, Tr.20

5

Xem Vụ các vấn đề về giải thích và áp dụng Công ước Montreal năm 1971(Vụ Lockeby năm 1992)

Trang 14

ngân sách và Thư ký riêng, được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ cần thiết cho việc thực hiện các chức năng của mình.6

Cuộc bầu cử đầu tiên để thành lập Tòa án quốc tế về luật biển, theo quy định của Công ước phải được diễn ra chậm nhất là sáu (06) tháng sau khi Công ước có hiệu lực, tức là tới ngày 16/5/1995 Tuy nhiên, phải tới ngày 01/8/1996 cuộc bầu cử các thành viên của Tòa án quốc tế về luật biển mới được tổ chức Các cuộc bầu cử được tiến hành trong khuôn khổ Hội nghị hàng năm các quốc gia thành viên Công ước năm 1982.7

Trụ sở chính của Tòa án quốc tế về luật biển đặt tại Hăm Buôc thuộc Cộng Hòa Liên Bang Đức Tại đây Tòa tiến hành các thủ tục tranh tụng giữa các bên trước Tòa và thủ tục nghị án Tuy nhiên, Tòa cũng có thể lựa chọn nơi tiến hành các thủ tục đó và thực hiện chức năng của mình ở nơi khác ngoài Hăm Buôc nếu xét thấy tiện lợi hơn (Điều 1 khoản 2, khoản 3 của Quy chế )

1.2.2 Vai trò của Tòa án quốc tế về luật biển

Công ước năm 1982 khác với các công ước khác là việc Công ước năm 1982 còn

là điều lệ thành lập của ba tổ chức quốc tế mới: Cơ quan quyền lực đáy đại dương, Ủy

ban ranh giới của thềm lục địa và Tòa án quốc tế về luật biển Như vậy, Tòa án quốc tế

về luật biển đóng vai trò là cơ quan tài phán chính trong việc giải thích và áp dụng Công ước năm 1982 Điều này thể hiện trong thẩm quyền, thành phần và tổ chức của Tòa Hoạt động của Tòa mang tính độc lập trong khuôn khổ thống nhất chung đối với các cơ quan khác của Công ước Khác với các cơ quan khác Tòa là cơ quan thường trực quốc tế giải quyết các tranh chấp pháp lý về biển

Tòa án quốc tế về luật biển với thẩm quyền và cơ chế linh hoạt của mình là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tài phán quốc tế Đây không phải là một tổ chức lập pháp mà chỉ là một cơ quan tài phán đưa ra các phán quyết trong chừng mực thẩm quyền cho phép Chức năng chính của Tòa án quốc tế về luật biển là giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước năm 1982 Tòa có thể áp dụng các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế không mâu thuẫn với Công ước và Tòa cũng có thể xét xử công bằng ( ex aequo et bono), nếu các bên có thỏa thuận (Điều 293 Công ước năm 1982)

Ngoài ra, Tòa án quốc tế về luật biển có thể áp dụng các nguồn của Luật quốc tế miễn là chúng phải phù hợp với Công ước năm 1982 Các phán quyết của Tòa có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các bên, phán quyết của Tòa chỉ tác động đến các quyền

và lợi ích của các bên trong vụ tranh chấp được đưa ra trước Tòa án Tòa án quốc tế về

Trang 15

luật biển chứng tỏ mình là Tòa án có cơ chế mềm dẻo nhất trong xử lý các tranh chấp, và vấn đề không phải ở chổ các vụ tranh chấp đưa ra trước Tòa có tầm quan trọng hay không mà chính là thông qua việc giải quyết các tranh chấp, Tòa cùng các cơ quan khác của Công ước năm 1982 thúc đẩy duy trì hòa bình an ninh quốc tế, cũng như việc sử dụng công bằng và hiệu quả nguồn tài nguyên của đại dương, bảo vệ và bảo tồn môi trường biển và hiện thực hóa một trật tự kinh tế công bằng và hợp lý

1.3 Quan hệ của Tòa án với các tổ chức khác

1.3.1 Tòa án quốc tế về luật biển và các cơ quan khác của Công ước năm 1982

Ngoài Tòa án quốc tế về luật biển, Công ước năm 1982 còn là điều lệ thành lập

của hai tổ chức quốc tế : Cơ quan quyền lực đáy đại dương, Ủy ban ranh giới của thềm

lục địa Vì đều do Công ước thành lập nên tất cả các quốc gia thành viên của Công ước

năm 1982 đều là những thành viên đương nhiên (ipso facto) của Tòa án quốc tế về luật biển Với tư cách là một cơ quan tài phán chính trong việc giải thích và áp dụng Công ước, hoạt động của Tòa phải tuân thủ mục tiêu và theo Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển Hoạt động của Tòa là độc lập nhưng phải phù hợp với các cơ quan khác trong một tổng thể chung Tính độc lập trong quan hệ với các cơ quan khác của Công ước không có nghĩa là phá vỡ sự thống nhất chung của tổ chức Điều này thể hiện trong mối quan hệ với các tổ chức quốc tế:

Thứ nhất, quan hệ giữa Tòa án quốc tế về luật biển và Cơ quan quyền lực đáy đại dương 8 là quan hệ độc lập với thẩm quyền, mục đích khác nhau song lại có mối liên hệ hữu cơ với nhau Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển nằm trong tổ chức của Tòa án quốc tế về luật biển, được thiết lập bởi điều 186 Công ước năm 1982, tuy không phải là cơ quan của Cơ quan quyền lực đáy đại dương nhưng lại có mối quan

hệ chặt chẽ với Đại hội đồng của Cơ quan quyền lực Đại hội đồng có thể đưa ra các khuyến nghị nhằm bảo đảm tính đại diện cho các hệ thống pháp luật chủ yếu của thế giới

và phân chia công bằng về địa lý trong việc lựa chọn các thành viên của Viện.9 Tòa án và Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển có quyền xét xử các tranh chấp trong giải thích và áp dụng các quy định của Công ước liên quan đến hoạt động của ở Vùng đáy biển mà Cơ quan quyền lực là một bên Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án và Viện không động chạm đến quyền lực của Cơ quan quyền lực thi hành các quyền tùy ý quyết định của mình.10 Ngược lại, Đại hội đồng Cơ quan quyền lực có quyền hỏi ý kiến tư vấn của Tòa trước khi đưa ra các quyết định của mình

Trang 16

Thứ hai, Với Ủy ban ranh giới ngoài của thềm lục địa là cơ quan chuyên môn được lập ra phù hợp với Điều 76 và Phụ lục II Công ước năm 1982 trên cơ sở đại diện công bằng về địa lý Uỷ ban được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1997 Uỷ ban có nhiệm vụ xem xét và kiến nghị các quốc gia ấn định ranh giới ngoài thềm lục địa của mình Chức năng chuyên môn của Uỷ ban mang tính tư vấn chuyên môn Công ước đã không có quy định rõ ràng về thẩm quyền của Uỷ ban được đưa tranh chấp ra trước Toà

án hoặc hỏi ý kiến tư vấn Tuy nhiên, điều này không loại trừ việc Uỷ ban tham gia vào một tranh chấp liên quan đến phần XI vì Toà án được để ngỏ cho tất cả các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong những trường hợp như vậy.11 Các ranh giới thềm lục địa do một quốc gia ven biển ấn định trên cơ sở các kiến nghị của Uỷ ban là dứt khoát

và có tính bắt buộc, được cộng đồng quốc tế công nhận

1.3.2 Toà án quốc tế về luật biển và các Toà trọng tài

Việc Toà án quốc tế về luật biển là cơ quan tài phán được thành lập bởi Công ước năm 1982 và là cơ quan chính của Công ước năm 1982 không có nghĩa là cơ quan tài phán quốc tế duy nhất Các cơ quan cũng như các quốc gia thành viên của Công ước năm

1982 , thậm chí các quốc gia không phải là thành viên đều có thể thoả thuận thành lập một cơ quan tài phán khác Các bên có thể lựa chọn bất cứ phương pháp hoà bình nào để giải quyết những tranh chấp 12 phù hợp với Khoản 1 Điều 33 của Hiến chương Liên hiệp Quốc Với phương thức trọng tài cho phép giảm bớt thời gian, thủ tục xét xử và các bên

có khả năng được hưởng sự tự do hơn trong việc lựa chọn các Trọng tài viên hơn là bị bắt buộc chấp nhận một thành phần Thẩm phán có sẳn của Toà án Điều 287 Công ước năm

1982 trù định các bên có quyền tự do lựa chọn một Toà trọng tài được thành lập đúng Phụ lục VII và một Toà trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII

Toà trọng tài có thẩm quyền giống như Toà án quốc tế về luật biển: xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước được đưa tới theo đúng thủ tục Các chủ thể có quyền đưa vụ tranh chấp ra Toà trọng tài bao gồm các quốc gia thành viên của Công ước, các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong các trường hợp liên quan đến việc quản lý và khai thác vùng - di sản chung của loài người và các tổ chức quốc tế liên chính phủ là thành viên của Công ước Với điều kiện là phải tuân thủ Phần XV, trong đó quy định bất kỳ bên nào trong một vụ tranh chấp đều có thể đưa

vụ tranh chấp ra Toà trọng tài giải quyết bằng một thông báo viết gửi tới bên kia trong vụ tranh chấp Về thành phần, Toà trọng tài bao gồm các Trọng tài viên được các quốc gia thành viên Công ước chỉ định Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định bốn trọng tài viên là những người có năng lực, kinh nghiệm về luật biển và nổi tiếng về sự công bằng,

Trang 17

liêm chính Dựa trên đề cử này, Tổng thư ký Liên hiệp quốc có trách nhiệm lập một danh sách các trọng tài viên Khi có tranh chấp phát sinh, từ danh sách trọng tài viên của Tổng thư ký Liên hiệp quốc một hội đồng trọng tài sẽ được thành lập bao gồm năm thành viên Mỗi bên tranh chấp có quyền chỉ định một trọng tài viên tham gia hội đồng trọng tài Ba thành viên còn lại được các bên thoả thuận cử ra và Chủ tịch hội đồng trọng tài sẽ được lựa chọn trong số ba thành viên đó Bản án có tính chất tối hậu và không được kháng cáo, trù khi các bên trong vụ tranh chấp đã thoả thuận trước về một thủ tục kháng cáo Tất cả các bên trong vụ tranh chấp phải tuân theo bản án này

Ngoài Toà trọng tài các quốc gia còn có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một Toà trọng tài đặc biệt Toà trọng tài đặc biệt có thẩm quyền hạn chế hơn Toà án chỉ có chức năng tiến hành điều tra và xác lập các sự kiện có nguồn gốc từ vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của Công ước liên quan đến việc đánh bắt hải sản; việc bảo vệ gìn giữ môi trường biển; việc nghiên cứu khoa học biển và hàng hải, kể cả nạn ô nhiễm do các tàu, thuyền gây ra hoặc do bị nhấn chìm Phần XV có quy định mỗi bên tham gia vào một vụ tranh chấp có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết theo đúng thủ tục trọng tài đặc biệt được trù định trong Phụ lục VIII bằng một thông báo gửi tới bên kia trong vụ tranh chấp Nếu các bên trong vụ tranh chấp yêu cầu thì Toà trọng tài đặc biệt có thể thảo ra các khuyến nghị Những khuyến nghị này không có giá trị quyết định mà chỉ là cơ sở để các bên tiến hành xem xét lại những vấn đề làm phát sinh tranh chấp

Các Toà trọng tài này có những sự khác biệt với Toà án quốc tế về luật biển: Các Toà trọng tài này độc lập với Toà án quốc tế về luật biển Các Toà trọng tài được thành lập để giải quyết những vụ việc cụ thể Toà trọng tài mang tính tạm thời, thẩm quyền của Toà trọng tài phát sinh khi các bên đồng ý đưa tranh chấp phát sinh ra trước Toà trọng tài và thẩm quyền này chấm dứt ngay sau khi tranh chấp được giải quyết Ngược lại, Toà án quốc tế về luật biển là một cơ quan tài phán thường trực quốc tế giải quyết các tranh chấp pháp lý về biển Mặt khác, Toà án quốc tế về luật biển để ngõ cho tất cả các quốc gia thành viên cũng như không thành viên của Công ước năm 1982 Các cơ quan trọng tài không thể có được một thực tiển xét xử ổn định Nhưng Toà

án quốc tế về luật biển với sự tồn tại và hoạt động thường trực của mình có thể tạo ra một

hệ thống xét xử, một luật xét xử thống nhất

Quyết định của Toà án có giá trị chung thẩm, bắt buộc Phán quyết của Toà không thể bị xét xử lại Ngược lại, các phán quyết của các Toà trọng tài là cuối cùng không được kháng cáo nhưng nếu các bên tranh chấp có thoả thuận trước thì cũng có thể được đưa ra xem xét lại

Trang 18

Các Toà trọng tài không có chức năng đưa ra các ý kiến tư vấn, trong khi Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển thuộc Toà án quốc tế về luật biển có chức năng đó

Tuy nhiên, không thể phủ nhận thế mạnh của phương thức trọng tài là mất ít thời gian xét xử hơn Toà án quốc tế về luật biển và các bên có khả năng được tự do lựa chọn Trọng tài viên Những năm gần đây nhằm làm tăng vai trò của toà, Toà án quốc tế về luật biển đã kết hợp được thế mạnh của phương thức Toà án và phương thức trọng tài Toà án mang tính kế thừa kinh nghiệm giữa các vụ việc Đồng thời, Thẩm phán của Toà án quốc

tế về luật biển cũng có được các thế mạnh của Trọng tài viên do Toà án có khả năng thành lập các viện rút gọn để giải quyết từng vụ việc cụ thể và các Thẩm phán của Viện rút gọn này sẽ cùng Toà án và các bên tranh chấp thống nhất, lựa chọn từ danh sách các Thẩm phán của Toà án hoặc các bên có thể đề cử Thẩm phán ad hoc của mình

1.3.3 Toà án quốc tế về luật biển và Toà án công lý quốc tế

Để khắc phục những hạn chế của Toà án công lý quốc tế, đơn giản hoá thủ tục và tạo điều kiện giải quyết tranh chấp biển đa dạng hơn (giữa quốc gia với nhau, quốc gia với các pháp nhân, thể nhân, các tổ chức quốc tế khác), Toà án quốc tế về luật biển được thành lập và đi vào hoạt động Hai Toà này có những nét giống nhau: đều là các thiết chế tài phán quốc tế thường trực Các quy định về phẩm chất Thẩm phán thủ tục bầu cử, thời gian nhiệm kỳ, tổ chức và thẩm quyền của Toà án quốc tế về luật biển được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động của Toà án công lý quốc tế Quy chế và Nội quy của hai tổ chức này có nhiều điểm giống nhau Cả hai đều có thẩm quyền như nhau trong xét

xử bất kỳ tranh chấp nào có liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước được đưa

ra cho mình theo đúng thủ tục Tuy nhiên, hai thiết chế tài phán thường trực này có những sự khác biệt cơ bản:

Toà án quốc tế về luật biển Toà án công lý quốc tế

Về

- Là một thiết chế độc lập

- Quy chế của Toà là một Phụ lục

của Công ước năm 1982 và độc

lập với các cơ quan khác do Công

ước lập ra (Cơ quan quyền lực

- Là một cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc

- Quy chế của Toà là một bộ phận của Hiến chương Liên Hiệp Quốc,

do đó thủ tục sữa đổi sẽ rất phức tạp

Trang 19

sửa đổi sẽ dễ dàng, linh hoạt

- Chi phí của Toà do các nước

thành viên quyết định phân bổ và

gánh chịu

- Có thẩm quyền giải quyết mọi

tranh chấp trong việc giải thích và

áp dụng Công ước về luật biển

của Liên Hiệp Quốc năm 1982

giữa các quốc gia, giữa pháp nhân

và thể nhân

- Thành viên của Toà do các quốc

gia thành viên của Công ước bầu

ra và không phải qua hai giai

đoạn bầu cử độc lập bởi các cơ

quan khác

- Có chức năng giải quyết các

tranh chấp trong giải thích và áp

dụng Công ước Liên Hiệp Quốc

- Thành viên do các thành viên của Quy chế bầu ra và phải trải qua hai giai đoạn bầu cử độc lập bởi Đại hội đồng và Hội đồng bảo an

- Có chức năng rộng hơn bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực biển

- Đưa ra các kết luận tư vấn trong chừng mực thẩm quyền cho phép

Về

luật

áp

dụng

- Trong khi giải quyết các vụ tranh

chấp thuộc thẩm quyền của mình,

Toà có thể áp dụng các quy định

của Công ước và các quy tắc khác

của pháp luật quốc tế không mâu

thuẫn với Công ước 13

- Áp dụng các điều ước quốc tế, các quy tắc được các quốc gia thừa nhận; tập quán quốc tế; các nguyên tắc luật chung; phán quyết của Toà án và học thuyết của chuyên gia

Về

các

Toà

- Quy chế của Toà được thành lập

năm (05) loại Toà rút gọn khác

nhau

- Quy chế cho phép Toà lập ba (03) loại Toà rút gọn để giải quyết các vụ tranh chấp theo yêu cầu của các bên

13

Điều 23 Phụ lục VI của Quy chế và Điều 293 Công ước năm 1982

Trang 20

không phải do bất kỳ cơ quan

quyền lực bầu ra mà do các nước

thành viên bầu tại các Hội nghị của

- Toà có 15 thẩm phán và số Thẩm phán cần thiết để tiến hành xét xử (quorum) là 9 thẩm

Toà án quốc tế về luật biển và Toà án công lý quốc tế là hai hệ thống xét xử thường trực, độc lập và song song Các quốc gia có quyền tự do lựa chọn các biện pháp tài phán nêu ở Điều 287, trong đó có Toà án quốc tế về luật biển và Toà án công lý quốc

tế Một quốc gia có thể tuyên bố chấp nhận một thủ tục duy nhất hoặc nhiều thủ tục cùng lúc vào bất kỳ thời điểm nào Họ cũng có thể không tuyên bố chấp nhận một biện pháp nào và có thể thoả thuận lựa chọn một thủ tục sau khi tranh chấp đã nảy sinh

Như vậy, giữa 2 Toà án có vấn đề cạnh tranh về danh nghĩa xét xử Tuy nhiên, hai toà này có quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau Những đóng góp của Toà án công lý quốc tế trong việc làm sáng tỏ các khái niệm của Công uớc năm 1982, đặc biệt trong lĩnh vực phân định biển là rất có giá trị Ngược lại, tuy chỉ mới bắt đầu nhưng Toà án quốc tế

về luật biển đã chứng tỏ vai trò không thể thay thế của mình trong việc giải quyết nhiều tranh chấp biển phức tạp, liên quan đến nhiều nguyên đơn, bị đơn với các chế độ pháp lý khác nhau Hai Toà án bằng các đóng góp của mình thúc đẩy sự tiến bộ của Luật biển quốc tế

Trang 21

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA

TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN 2.1 Thành phần và tổ chức của Tòa án quốc tế về luật biển

2.1.1 Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển

Tòa án là một tập thể gồm 21 Thầm phán độc lập được tuyển chọn trong số các nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm khiết, có năng lực trong lĩnh vực chuyên môn trong lĩnh vực biển.14

Quy chế của Tòa án đảm bảo sao cho không cho một nước nào hay nhóm nước nào có ưu thế đối với nước khác trong khi bầu cử Thẩm phán Và việc lựa chọn được tiến hành trên các nguyên tắc sau:

Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định nhiều nhất là hai người Các thành viên của Tòa án sẽ được tuyển chọn trên danh sách đề cử Tuy nhiên, không thể có quá một thành viên Toà án là công dân của cùng một quốc gia Tòa án áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch hữu hiệu “Nhân vật có thể bị coi là công dân của quá một quốc gia sẽ được coi như là công dân của quốc gia mà nhân vật đó thường thi hành các quyền dân sự và chính trị của mình”.15

Thành phần của Tòa án phải đảm bảo có sự đại diện của các hệ thống pháp lý chủ yếu của thế giới và sự phân chia công bằng về mặt địa lý (Khoản 2 Điều 2 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển) Mỗi nhóm theo địa lý do Đại hội đồng Liên hiệp quốc xác định ít nhất phải có ba thành viên trong Tòa án.16 Kết quả bầu cử theo hệ thống này chứng tỏ các nước đang phát triển có vai trò ngày càng tăng trong hệ thống pháp luật quốc tế Cụ thể xem bảng kết quả bầu cử đầu tiên của Tòa án quốc tế về luật biển năm 1996:17

Trang 22

Nhiệm kỳ của các thành viên Tòa án Khu vực địa lý

Khu vực Châu Phi Engo

(Cameroom), Warioba (Tanzania)

Ndiaye (Senegal) Mensah (Ghana),

Marsit (Tunisi)

Khu vực Châu Á Rao ( Ấn Độ),

Akl (Li băng)

Zhao (Trung Quốc) Yamamoto(Nhật

Bản), Khu vực Đông Âu Kolodkin (Nga) Yankov (Bulgaria) Vukas (Croatia) Khu vực Mỹ la tinh

và vùng biển

Caribê

Marrotta Rangel (Brazil)

Caminos(Achentina), Laing (Belize)

Anderson (Anh)

Các thành viên của Tòa án được bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín, là những ứng cử viên đạt được số phiếu bầu cao nhất và phải được 2/3 số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu Khái niệm “các quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu” được Khoản 1 Điều 56 Quy chế thủ tục của Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước định nghĩa là các quốc gia thành viên có mặt và tham gia bỏ phiếu thuận hoặc chống Các quốc gia thành viên có mặt nhưng bỏ phiếu trắng sẽ không được tính Thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển được bỏ phiếu lựa chọn một lần Điều này khác với Thẩm phán của Tòa án công lý quốc

tế phải được cả Đại hội đồng và Hội đồng bảo an bỏ phiếu lựa chọn

Thủ tục ứng cử và bầu cử được tiến hành theo Điều 4 Quy chế Ít nhất ba tháng trước ngày bầu cử Tổng thư ký Liên hiệp quốc, nếu là cuộc bầu cử đầu tiên hay Thư ký của Tòa án nếu là cuộc bầu cử sau, gửi giấy mời cho các quốc gia thành viên trong một thời hạn là hai tháng, thông báo danh sách các ứng cử viên của họ Tổng thư ký hay Thư

ký của Tòa án lập danh sách theo thứ tự a, b, c, tất cả những ứng viên đã được chỉ định có ghi rõ các quốc gia thành viên đã chỉ định họ và thông báo danh sách này cho tất cả các quốc gia thành viên trước ngày thứ bảy của tháng cuối cùng trước khi bầu cử.18

18

Khoản 2 Điều 4 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển

Trang 23

Các Thẩm phán có nhiệm kỳ là 9 năm và họ có thể được bầu cử lại Tuy nhiên, để duy trì tính liên tục của Tòa án không bị ảnh hưởng khi các thành viên mãn nhiệm kỳ sau

ba năm, 7 người sẽ mãn nhiệm kỳ sau sáu năm và họ được chỉ định rút thăm do Tổng thư

ký Liên hiệp quốc thực hiện sau cuộc bầu cử Như vậy, bầu cử được tiến hành 3 năm một lần nhằm thay đổi một phần ba thành phần của Tòa với mục đích đổi mới sức mạnh của Tòa Năm 2002, thời hạn sáu năm dành cho 7 Thẩm phán bầu lần đầu tiên kết thúc Mười

ba (13) ứng viên đã được đề cử và một người đã xin rút trước khi bầu cử Ngày 19 tháng

4 năm 2002, bầu cử đã được tiến hành, năm thành viên của Tòa án được bầu lại, Thẩm phán Ballah và Cot được bầu mới cho nhiệm kỳ 9 năm Các cuộc bầu cử thường kéo dài

Sau bầu cử, khi đã có đủ 21 Thẩm phán, Tòa tiến hành bỏ phiếu kín bầu Chánh án

và Phó chánh án với nhiệm kỳ là ba năm tính từ ngày bắt đầu nhiệm kỳ mới là ngày họ được bầu Trong ngày bầu cử Chánh án, nếu Chánh án của nhiệm kỳ trước vẫn còn là một thành viên thì vị này sẽ tiếp tục thực hiện chức trách của Chánh án cho đến khi tiến hành bầu cử.21 Trường hợp vị này không còn là một thành viên hoặc không còn khả năng làm việc, việc bầu cử sẽ do một thành viên thực hiện chức năng của Chánh án điều hành Điều kiện bầu cử ở đây cũng là đạt được đa số phiếu sẽ được tuyên bố trúng cử và sẽ nhận nhiệm vụ mới của mình Chánh án mới sẽ bầu Phó chánh án ngay sau đó hoặc tại buổi họp sau (Điều 11 Nội quy của Tòa án quốc tế về luật biển) Chánh án sẽ đại diện cho Tòa án trong mối quan hệ với các quốc gia và các thực thể khác

Danh sách của Tòa bao gồm Chánh án, Phó chánh án và các thành viên khác được sắp xếp theo thứ tự ngày mình bắt đầu nhậm chức và sau đó là tuổi (nếu bắt đầu nhiệm kỳ cùng một ngày) Nếu có các ghế bị khuyết (do từ chức, chết, do không đáp ứng các điều kiện cần thiết) thì Tòa án sẽ tiến hành bầu cử người mới thay thế và Thẩm phán mới được bầu thay cho Thẩm phán chưa hết nhiệm kỳ sẽ đảm nhận trọng trách của người mình thay thế cho đến khi mãn nhiệm kỳ của người đó

Trang 24

Về tính độc lập của các Thẩm phán

Các Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển là các Thẩm phán độc lập Họ không đại diện cho chính phủ mình cũng như không đại diện cho bất kỳ chính phủ, tổ chức quốc tế nào

Để đảm bảo sự độc lập về mặt vật chất, các Thẩm phán của Tòa được lĩnh lương

cả năm, Chánh án của Tòa được lĩnh phụ cấp đặc biệt hàng năm; Phó chánh án lĩnh phụ cấp đặc biệt từng ngày trong thời gian thừa hành chức vụ Chánh án Các khoản lương, phụ cấp, thù lao của Thẩm phán được quy định lại theo từng thời gian trong các cuộc họp của các quốc gia thành viên Công ước năm 1982, trong đó tính đến khối lượng công việc của Tòa án và tất cả đều được miễn mọi thứ thuế.22

Các thành viên của Tòa án quốc tế về luật biển trong khi thực hiện chức năng của mình đều được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao (Điều 10 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển) Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao này được đảm bảo bằng Hiệp định về quyền ưu đãi của Toà án quốc tế về luật biển được thông qua bởi hội nghị thứ 7 của các quốc gia ngày 23 tháng 5 năm 1997, được lưu chiểu cho Tổng thư ký của Liên hiệp quốc

Thẩm phán của Tòa án vào bất kỳ thời điểm nào còn thuộc thành phần của Tòa, khi tạm trú ở bất kỳ nước nào ngoài nước mà họ mang quốc tịch đều được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao trong suốt thời gian tạm trú đó

Các đặc quyền này đòi hỏi các Thẩm phán phải có nghĩa vụ toàn tâm toàn ý phục

vụ cho Tòa Các thành viên của Tòa án hành động không phụ thuộc vào các thông tin nhận được của chính phủ mình, không tự cho mình làm một việc nào trái với phẩm chất nghề nghiệp, không tham gia vào việc giải quyết một vụ kiện nào mà trước đây ông ta đã tham dự với bất kỳ tư cách nào Và theo nguyên tắc độc lập khi xét xử của Thẩm phán,

họ không đảm nhận bất kỳ một chức vụ chính trị hay hành chính nào cũng như chủ động tham gia hay có liên quan về tài chính trong một hoạt động nào của một xí nghiệp đang tiến hành thăm dò hoặc khai thác, sử dụng tài nguyên ở biển hay ở đáy biển nhằm mục đích thương mại khác Thành viên của Tòa án cũng không được làm những chức năng đại diện, cố vấn, luật sư trong bất kỳ vụ kiện nào (Khoản 1, 2 Điều 7, Điều 8 Quy chế của Tòa án) Các Thẩm phán của Tòa không được bỏ nhiệm vụ, không bị bãi miễn Trong trường hợp theo ý kiến nhất trí của các thành viên khác, nếu Thẩm phán đó không còn đáp ứng các điều kiện cần thiết thì Chánh án sẽ tuyên bố ghế của thành viên này trống.23

Trang 25

Để đảm bảo tính độc lập của mình cũng như hiệu lực các phán quyết của Tòa án, trước khi nhậm chức các Thẩm phán phải trịnh trọng tuyên thệ trong phiên họp công khai chung đầu tiên sau ngày được bầu: “Tôi trịnh trọng tuyên bố rằng Tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình và thực hiện quyền năng của Thẩm phán bằng danh dự của mình một cách trung thực, công bằng và tận tâm”.24 Trong vụ việc khi Chánh án Tòa mang quốc tịch của một bên tranh chấp ông ta sẽ nhường lại chức Chánh án của mình cho Phó chánh

án

2.1.2 Thẩm phán ad hoc của Tòa án quốc tế về luật biển

Thẩm phán ad hoc là thẩm phán do một hoặc hai bên tranh chấp không có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của Tòa đề cử Đây có thể coi là hình thức Tòa tiếp thu kinh nghiệm từ phương thức Trọng tài mà lý do chủ yếu là duy trì các Thẩm phán được các bên tranh chấp lựa chọn một cách đặc biệt

Các Thẩm phán của Tòa được lựa chọn không phụ thuộc vào quốc tịch Như vậy,

sẽ có trường hợp một trong các bên tranh chấp có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của Tòa án Để cho các bên được bình đẳng trước Tòa sẽ có hai khả năng: hoặc là loại bỏ Thẩm phán mang quốc tịch của một trong các bên tranh chấp hoặc cho phép bên kia lựa chọn một Thẩm phán ad hoc bổ sung vào thành phần của Tòa án

Điều 17 khoản 1 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển quy định: “1 Thành

viên có quốc tịch của bên nào đó trong số các bên của một vụ tranh chấp có quyền ngồi xử”

Như vậy, chính quy định này đã mở khả năng cho phép lựa chọn Thẩm phán ad hoc trong các trường hợp mà một bên tranh chấp không có trong thành phần của Tòa một Thẩm phán mang quốc tịch nước mình, để cân bằng tình thế trước Tòa giữa các bên tranh chấp Khi xét xử một vụ tranh chấp bất kỳ bên nào khác trong vụ tranh chấp có thể chỉ định một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia xét xử với các thành viên của Tòa

án Nếu trong thành phần có mặt xét xử của Tòa có một Thẩm phán có quốc tịch của một bên thì bên kia có thể cử một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia vào việc xét

xử với tư cách một Thẩm phán Ngoài ra, quy chế của Tòa cũng trù định khả năng thứ hai, đó là trường hợp: khi xét xử một vụ tranh chấp nếu Tòa án không có một thành viên nào có quốc tịch của các bên thì mỗi bên có quyền chỉ định một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia xử án với các thành viên của Tòa

Trong trường hợp một thành viên mang quốc tịch một trong các bên không thể (hoặc không thể tiếp tục) tham gia xét xử bất kỳ giai đoạn nào của vụ án, thì bên đó có quyền chỉ định một Thẩm phán ad hoc trong thời hạn do Tòa án hoặc Chánh án trong

24

Điều 5 Nội quy của Tòa án quốc tế về luật biển

Trang 26

trường hợp Tòa án không hợp ấn định Trong trường hợp chỉ định một Thẩm phán ad hoc trong một vụ việc, các bên sẽ thông báo ý định đó càng sớm càng tốt Thẩm phán ad hoc

có thể không mang quốc tịch của bên đã chỉ định Trong trường hợp Tòa án thấy hai hay nhiều bên có chung quyền lợi và cần phải coi đó chỉ là một bên và không có thành viên nào trong Hội đồng xét xử mang quốc tịch của bất kỳ một bên trong các bên đó Tòa án

sẽ ấn định thời hạn để các bên đó có thể phối hợp chỉ định một Thẩm phán ad hoc

Theo Điều 22 Nội quy của Toà án quốc tế về luật biển quy định: Một thực thể không phải là quốc gia cũng có thể chỉ định một Thẩm phán ad hoc khi: Một trong các bên còn lại là một quốc gia và trong thành phần Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch quốc gia đó hoặc trong trường hợp bên đó là một tổ chức quốc tế và trong thành phần Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch một quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế

đó hoặc bên là quốc gia đã chỉ định một Thẩm phán ad hoc; Trong thành phần Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch quốc gia bảo trợ cho một trong các bên khác

Tuy vậy, tổ chức quốc tế, pháp nhân, một thể nhân hay một doanh nghiệp nhà nước không được quyền chỉ định một Thẩm phán ad hoc trong trường hợp thành phần của Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch của quốc gia thành viên tổ chức quốc tế hoặc có một Thẩm phán mang quốc tịch của quốc gia bảo trợ cho thể nhân, pháp nhân và doanh nghiệp nhà nước đó Khi một tổ chức quốc tế là một bên trong vụ việc và trong thành phần của Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch một quốc gia thành viên của tổ chức đó, thì bên kia có thể chỉ định một Thẩm phán ad hoc Khi trong thành phần Tòa án

có từ hai Thẩm phán trở lên mang quốc tịch các quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế

có liên quan hoặc của các quốc gia bảo trợ cho một bên, sau khi đã tham vấn ý kiến các bên, Chánh án Tòa án có thể yêu cầu một hoặc một số Thẩm phán trong số các Thẩm phán đó rút ra khỏi thành phần Tòa án

Các quy định này cũng đảm bảo sự tuân thủ nguyên tắc các bên bình đẳng trước Tòa Nhưng điều này không loại trừ trường hợp cả hai bên hoặc một bên có thể không sử dụng khả năng cho phép này Việc không sử dụng quyền đề cử một Thẩm phán ad hoc thuộc thẩm quyền của các bên Tòa án chỉ có nghĩa vụ bảo đảm sự bình đẳng của các bên trong quá trình xét xử Tuy nhiên, quá trình xét xử của Tòa án không bị ngăn cản chỉ vì một bên không đề cử một Thẩm phán ad hoc của mình Cũng giống như việc một bên không tình diện trước Tòa, việc không sử dụng quyền lựa chọn Thẩm phán ad hoc không thể ngăn cản hoạt động bình thường của Tòa án trong khi xét xử một vụ việc Trên thực tiễn, trong các trường hợp tranh chấp đưa ra trước Tòa khi không bên nào có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình thì cả hai bên đều rất ít khi sử dụng thẩm quyền tiến cử Thẩm phán ad hoc này Như vậy, trong thực tiễn của Tòa số lượng các Thẩm phán có thể thay đổi trong từng trường hợp cụ thể Các bên tranh chấp có thể có:

Trang 27

Hai Thẩm phán mang quốc tịch của các bên tranh chấp;

Một Thẩm phán có quốc tịch của một bên tranh chấp và một Thẩm phán ad hoc do bên kia đề cử;

Thẩm phán ad hoc được lựa chọn ngoài danh sách các Thẩm phán thường trực của Toà án quốc tế về luật biển Các Thẩm phán được lựa chọn này cũng phải là những nhân vật có phẩm chất đạo đức cao, đáp ứng các yêu cầu đề ra ở nước họ để chỉ định giử chức

vụ cao nhất hoặc những luật gia có uy tín lớn trong lĩnh vực biển quốc tế Trên thực tế, các Thẩm phán này là người mang quốc tịch của các bên tham gia vụ tranh chấp

Với sự tham gia của cơ chế Thẩm phán ad hoc, thành phần của Toà không phải lúc nào cũng là 21 Thẩm phán Toà án có thể ít hơn nếu các Thẩm phán được bầu không ngồi

dự phiên toà Toà án cũng có thể nhiều hơn số lượng 21 Thẩm phán nếu các bên đều sử dụng quyền đề cử Thẩm phán ad hoc của mình và khi các vụ kiện tương tự nhau không được kết hợp lại Thành phần của Toà án cũng có thể thay đổi ngay trong quá trình xử án Toà không nhất thiết có cùng một thành phần khi đưa ra phán quyết xem xét việc bác bỏ trước thẩm quyền của Toà án với khi xét xử về nội dung Nhưng thành phần của Toà không được thay đổi khi bắt đầu thủ tục tranh tụng trước Toà án Trong trường hợp vào đúng thời kỳ đó có tiến hành bầu cử lại Thẩm phán của Toà án thì Thẩm phán hết nhiệm

kỳ vẫn tiếp tục tham gia nghị án cho đến khi kết thúc và Chánh án hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục đảm đương vị trí của mình cho đến khi tuyên án Thẩm phán từ chức hay từ trần không được thay thế trong thời gian tiến hành thủ tục tranh tụng thì số lượng Thẩm phán cần thiết để thủ tục tranh tụng có giá trị là 11, không kể Thẩm phán ad hoc.25

Quy định về Thẩm phán ad hoc không chỉ đảm bảo nguyên tắc cân bằng các hoàn cảnh mà còn tạo điều kiện cho các quốc gia tranh chấp bày tỏ quan điểm của mình trong

25

Khoản 1 Điều 13 Quy chế của Toà án quốc tế về luật biển

Trang 28

quá trình xét xử nó cho phép kết hợp thành công phương thức trọng tài trong hoạt động xét xử của Toà, làm cho Toà thêm hấp dẫn vì kết hợp nhiều ưu điểm của hai hình thức tài phán Các Thẩm phán ad hoc này được tham gia bình đẳng với các đồng sự của họ trong việc tham gia các dự án.26 Với cương vị Thẩm phán độc lập khi nghị án Thẩm phán ad hoc không nhất thiết phải bỏ phiếu bảo vệ quyền lợi của bên tranh chấp đã lựa chọn họ Mặc dù còn có những ý kiến cho rằng quy chế Thẩm phán ad hoc tạo nên mối ngờ vực đối với tính độc lập, vô tư của Toà án nói chung cũng như của Thẩm phán là người mang quốc tịch của nước có tranh chấp, quy chế này vẫn chứng tỏ sự cần thiết của nó khi còn rất nhiều quốc gia do dự trong việc đưa các tranh chấp của mình ra trước Toà án vì các lý do chính trị và pháp lý

2.1.3 Thư ký Toà án

Khoản 1 Điều 32 nội quy của Toà án quốc tế về luật biển quy định Toà án sẽ bầu thư ký bằng bỏ phiếu kín chọn trong số các ứng cử viên do các thành viên đề cử Và có thể áp dụng các biện pháp đề cử những người khác giữ chức vụ như vậy khi thấy cần thiết Ban thư ký của Toà án là một cơ quan hành chính thường trực của Toà án Vai trò của nó được khẳng định trong các điều từ Điều 32 đến 39 của nội quy Toà án Vì Toà án

là cơ quan tài phán của Công ước quốc tế về luật biển nên tính chất của Ban thư ký cũng

có những đặc thù riêng Đây là cơ quan đảm trách các dịch vụ tư pháp, là bên liên lạc giữa Toà án với các quốc gia thành viên và các bên khác Đồng thời, hoạt động của Ban thư ký lại mang tính tư pháp và ngoại giao, đảm nhận các hoạt động hành chính, tài chính, tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị và thông báo, trao đổi tin tức với các cơ quan

tổ chức khác

Tổ chức của Ban thư ký gồm: Chánh thư ký, phó Chánh thư ký và trợ lý Chánh thư ký Theo một nội quy của Toà án năm 1997 Chánh thư ký và phó Chánh thư ký có nhiệm kỳ là 7 năm Chánh thư ký đầu tiên của Toà án quốc tế về luật biển Gritakumar E.Chitty, công dân Srilanka Tuy nhiên, trước ngày kỷ niệm Toà án được thành lập 5 năm ông đã đệ đơn xin từ chức vì quá mệt mỏi do công việc thư ký của Toà án Toà án đã chấp nhận đơn xin từ chức của ông Sau sự kiện này đã đưa đến sửa đổi nội quy ngày 21 tháng 9 năm 2001 trong đó Điều 32 quy định Chánh thư ký và phó Chánh thư ký có nhiệm kỳ 5 năm

Chánh thư ký, phó Chánh thư ký và trợ lý Chánh thư ký đều do Toà án bầu theo phương thức bỏ phiếu kín, trong số các ứng cử viên do các nước thành viên đề cử Họ phải có trình độ học vấn, phẩm chất đạo đức, kiến thức, ngôn ngữ và kinh nghiệm về pháp luật, đặc biệt là về luật biển, luật ngoại giao và hoạt động của các tổ chức quốc tế

Họ chịu trách nhiệm về các hoạt động của Ban thư ký; làm trung gian giữa các quốc gia,

26

Khoản 1 Điều 8 Nội quy của Toà án quốc tế về luật biển

Trang 29

các tổ chức quốc tế với Toà án, làm biên bản các phiên họp của Toà án; chứng thực, chuyển và lưu các quyết định của Toà án; giữ dấu của Toà án Thư ký còn có trách nhiệm

tổ chức xuất bản các ấn phẩm của Toà án như: tuyển tập các phán quyết, các ý kiến tư vấn và quyết định của Toà án; các bị vong lục, phản vong lục và các văn kiện; hoạt động

và các tài liệu liên quan đến tổ chức của Toà án; niên giám và danh mục của Toà án quốc

tế về luật biển Ngoài ra, Ban thư ký còn có nhân viên thư ký trong biên chế hay theo hợp đồng do Toà án hoặc chánh thư ký đề cử, như các thư ký, nhân viên luật và ngôn ngữ, nhân viên thư viện và lưu trữ, nhân viên đánh máy, in ấn, lái xe…

2.1.4 Các Viện đặc biệt của Toà án

Ngoài Toà toàn thể gồm 21 thành viên, Toà án quốc tế về luật biển còn lập các Viện để giải quyết các tranh chấp đặc biệt

 Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển

Thành phần của Viện này gồm 11 thành viên do Toà án lựa chọn trong các thành viên đã được bầu của Toà án theo đa số các thành viên đó.27

Việc lựa chọn phải đảm bảo sự đại diện cho các hệ thống pháp luật chủ yếu trên thế giới và nguyên tắc phân chia công bằng về mặt địa lý Các Thẩm phán sẽ được lựa chọn sau ba (03) năm và có thể được lựa chọn lại một nhiệm kỳ nữa Khi hết nhiệm kỳ ba năm, nếu vụ việc nào vẫn chưa giải quyết xong thì các Thẩm phán của nhiệm kỳ vừa kết thúc của Viện sẽ tiếp tục công việc với vụ việc đó cho tới khi kết thúc Số lượng Thẩm phán tối thiểu cần thiết để Viện có thể họp và ra phán quyết phải là 7, do Toà án lựa chọn trong các thành viên của mình (Điều 35 Quy chế của Toà án quốc tế về luật biển)

Viện giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển có thể lập ra một Toà ad hoc (một lần) gồm ba thành viên của mình để xét xử một vụ tranh chấp nhất định mà Viện có trách nhiệm theo đúng điểm b khoản 1 Điều 188 Công ước năm 1982 Mọi đề nghị thành lập một Toà ad hoc thuộc Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển cần được đưa ra trong vòng 3 tháng kể từ ngày bắt đầu các thủ tục.28 Thành phần của Toà này do Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển quyết định với sự đồng

ý của các bên hữu quan Nếu các bên không thoả thuận được thành phần của Toà ad hoc thì mỗi bên trong vụ tranh chấp chỉ định một thành viên và thành viên thứ ba được chỉ định qua thoả thuận chung giữa các bên hữu quan Nếu các bên không thể thoả thuận hoặc một bên không chỉ định thành viên thì Chánh án Viện giải giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển sẽ tiến hành chỉ định, lựa chọn trong số các thành viên của Viện sau khi tham khảo ý kiến các bên Các thành viên của Toà ad hoc không được làm

Trang 30

việc cho một bên tranh chấp nào, cũng không được là công dân của một quốc gia nào trong số các quốc gia tranh chấp (Khoản 2, 3 Điều 36 Quy chế của Toà án quốc tế về luật biển)

là người thay thế Các thành viên và thành viên dự bị của Toà án sẽ được Toà án bầu theo

đề nghị của Chánh án toà án Trong trường hợp một thành viên của Toà án từ chức hoặc không còn là thành viên thì vị trí của thành viên đó sẽ được thay thế bằng thành viên dự

bị có thứ tứ ưu tiên cao hơn trong số 2 thành viên dự bị Người này sẽ trở thành thành viên đầy đủ của Toà án và một thành viên dự bị khác sẽ được bầu để thay thế Số Thẩm phán tối thiểu để Viện ra phán quyết là 3 Thẩm phán

Mục đích thành lập Viện này nhằm thúc đẩy việc giải quyết các vụ việc Viện này

có thể xem xét và giải quyết các vụ việc theo trình tự xét xử sơ bộ Năm 2000, trong vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama/Yemen),29 Panama đã đệ đơn lên Viện rút gọn trình tự tố tụng xem xét giải quyết

 Viện đặc biệt

Theo Khoản 1 Điều 15 Quy chế của Toà án quốc tế về luật biển, nếu thấy cần thiết Toà án có thể lập ra một hay nhiều viện gồm 3 Thẩm phán hoặc nhiều hơn tuỳ theo sự suy xét của Toà án để xét xử các loại vụ kiện nhất định Toà án cũng có thể lập một Viện

để giải quyết một tranh chấp, một vụ việc theo yêu cầu của các bên Thành phần của Viện này sẽ được Toà án quyết định với sự tham gia của các bên Tháng 12 năm 2000, trong

vụ Bảo tồn và khai thác bền vững trữ lượng cá kiếm vùng biển Nam Thái Bình Dương (Chile/Cộng đồng Châu Âu), theo yêu cầu của Chile và Cộng đồng châu Âu một Viện đặc biệt đã được thành lập với 5 Thẩm phán (một Thẩm phán ad hoc)

Trong cuộc họp ngày 14 tháng 02 năm 1997, Toà án quốc tế về luật biển đã quyết định thành lập 2 Viện đặc biệt thường trực với thành phần lấy từ các thành viên của Toà

án Các Viện này sẽ tiến hành xét xử nếu các bên có yêu cầu Đó là Viện giải quyết các tranh chấp về môi trường biển và Viện giải quyết các tranh chấp về đánh cá

29

Vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama/Yemen) năm 2001, trong các ấn phẩm Ban thư ký Toà án quốc tế về luật biển phát hành số 51, 52

Trang 31

Nghị quyết của Toà án quốc tế về luật biển ngày 28 tháng 4 năm 1997 quy định về hoạt động của Viện giải quyết các tranh chấp về môi trường biển như sau:

- Viện gồm 7 Thẩm phán và hoạt động của Viện chỉ hợp lệ khi có ít nhất 5 Thẩm phán

- Viện giải quyết tranh chấp về môi trường biển có thẩm quyền áp dụng bất cứ điều khoản nào của:

+ Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982 về vấn đề bảo vệ và giữ gìn môi trường biển;

+ Các Công ước và điều ước về vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển được đề cập ở Điều 237 Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982;

+ Bất cứ thoả thuận nào về vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển quy định thẩm quyền giải quyết của Toà án

Nghị quyết của Toà án quốc tế về luật biển ngày 28 tháng 4 năm 1997 quy định về hoạt động của Viện giải quyết các tranh chấp về đánh cá như sau:

- Viện gồm 7 Thẩm phán và hoạt động của Viện chỉ hợp lệ khi có ít nhất 5 Thẩm phán

- Viện giải quyết tranh chấp về đánh cá có thẩm quyền áp dụng bất cứ điều khoản nào của:

+ Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982 về vấn đề giữ gìn và quản

lý các nguồn sinh vật biển;

+ Các Công ước và điều ước quốc tế về vấn đề giữ gìn và quản lý các nguồn sinh vật biển;

+ Bất cứ thoả thuận nào về vấn đề giữ gìn và quản lý các nguồn sinh vật biển quy định thẩm quyền giải quyết của Toà án

Các phán quyết của một trong số các Viện trên đều được coi như phán quyết của Toà án quốc tế về luật biển mà tất cả các bên trong vụ tranh chấp phải tuân theo

2.2 Thẩm quyền của Toà án quốc tế về luật biển

2.2.1 Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền của Toà án quốc tế về luật biển

Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển được quy định trong Mục Phần XI từ điều 186 đến điều 191, Phần XV – Giải quyết các tranh chấp và đặc biệt trong phụ lục VI của Công ước luật biển năm 1982 Phụ lục này có tên gọi là Quy chế của Tòa án bao gồm

5 mục, 41 điều quy định về tổ chức của Tòa án (Thẩm phán, các Viện và các điều kiện để lựa chọn thẩm phán), thẩm quyền của Tòa án (thẩm quyền phán xét, luật áp dụng), trình

Trang 32

tự xét xử (việc hình thành vụ kiện, các thủ tục viết và nói) cũng như của Viện giải quyết các vấn đề liên quan đến đáy biển

Điều 1 Quy chế Tòa án quốc tế về luật biển quy định: “Tòa án quốc tế về luật biển

được thành lập và hoạt động theo đúng các quy định của Công ước và Quy chế này”

Như vậy, Quy chế của Tòa án là một trong những cơ sở pháp lý cho việc xác định thẩm quyền cho Tòa án Việc Quy chế này là một bộ phận của Công ước luật biển năm 1982 thể hiện rõ tính gắn bó của Tòa án với Công ước và chính Tòa án quốc tế về luật biển chứ không phải một Tòa án nào khác là cơ quan tài phán của Công ước luật biển năm 1982 Tòa án được để ngõ cho các quốc gia thành viên, các thực thể không phải là quốc gia thành viên: Cơ quan quyền lực đáy đại dương, xí nghiệp hay các thể nhân, pháp nhân…Các bên tranh chấp đều có thể tiếp cận quyền tài phán của Tòa án hay các Viện của Tòa án trong đó có Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển

Qua trao đổi bằng văn bản Tòa án có thể đưa ra cho tất cả các quốc gia thành viên xem xét các đề nghị sửa đổi đối với Quy chế nếu Tòa án thấy điều đó là cần thiết Tuy nhiên, các sửa đổi này chỉ có thể được thông qua theo thủ tục đơn giản hóa hoặc đồng thuận (consenus) tại một hội nghị các quốc gia thành viên được triệu tập theo đúng công ước Đối với các đề nghị sửa đổi liên quan đến các hoạt động tiến hành trong Vùng đáy biển phải theo các quy định của Điều 314 Công ước

Theo Điều 16 Quy chế Tòa án quốc tế về luật biển, Tòa án có thẩm quyền xác định qua một bản Nội quy cách thức thi hành các chức năng cũng như nguyên tắc, thủ tục xét xử của mình

Nội quy của Tòa án gồm 3 phần, 8 mục, 138 điều quy định cụ thể về các nguyên tắc thi hành chức năng cũng như nguyên tắc, thủ tục xét xử của Tòa án và các Viện của Tòa án, Nội quy được thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1997 Nội quy của Tòa án quốc tế

về luật biển chứa đựng các điều khoản làm rõ thêm nghĩa vụ của các quy định của Công ước năm 1982 Nội quy đã qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào ngày 15 tháng 3 và ngày 21 tháng 9 năm 2001 Hai lần sửa đổi Nội quy của Tòa án quốc tế về luật biển được tiến hành có tính đến kinh nghiệm xét xử thực tế Nội quy của Tòa án đã làm rõ thêm về thời hạn và thủ tục thực hiện Trong Nội quy Tòa án quốc tế về luật biển năm 1997 của Tòa

án, Khoản 4 Điều 111 quy định quốc gia đã bắt giữ tàu hay thủy thủ đoàn phải đưa ra một tường trình phúc đáp đáp lại đơn kiện của quốc gia bị hại trong thời hạn không quá 24 giờ trước khi bắt đầu thủ tục viết Và Điều 112 quy định mỗi bên có thời hạn không quá

10 ngày để chuẩn bị các bằng chứng và lý lẽ kể từ ngày nhận đơn kiện và Tòa án phải đưa ra phán quyết của mình không quá 10 ngày sau khi đã kết thúc thủ tục tranh tụng nói Trong thực tế, 24 giờ là một thời hạn khó có thể thực hiện Trong vụ M/V Saiga, Guinea

đã phải xin gia hạn một tháng để chuẩn bị trả lời đơn kiện của Saint Vincent và

Trang 33

Grenadines và Tòa án chỉ chấp nhận cho thời hạn là 1 tuần Tòa án nhận thấy Điều 111

và Điều 112 cần phải sửa đổi tính đến kinh nghiệm giải quyết các vụ việc giải phóng ngay tàu và thủy thủ đoàn Trong Nội quy sửa đổi ngày 15 tháng 3 năm 2001, Tòa án đã quy định lại các điều này Thời hạn không chậm hơn 24 giờ được thay bằng không chậm hơn 96 giờ (Khoản 4 Điều 111) và thời hạn 15 ngày được thay thế thời hạn 10 ngày (Khoản 3 Điều 112) Trong Nội quy ngày 21 tháng 9 năm 2001, Tòa án cũng sửa lại các quy định về bầu cử, tái cử, nhiệm kỳ, đa số phiếu cần thiết đối với Thư ký của Tòa án Nhiệm kỳ của Thư ký Tòa án từ 7 năm đã được điều chỉnh thành 5 năm cho phù hợp thực

tế

Nội quy và Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển cùng với những điều khoản liên quan của Công ước Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982 đã tạo thành cơ sở pháp lý cho việc thành lập tổ chức và hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển

2.2.2 Thẩm quyền của Toà án quốc tế về luật biển

Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển do các quốc gia thành viên thỏa thuận xác nhận trong Công ước, trong Quy chế và được cụ thể hóa trong Nội quy của Tòa án

Về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án dựa trên sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp

và được xác định theo đúng thủ tục Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề Tòa án

có thẩm quyền hay không thì vấn đề này sẽ do Tòa án quyết định (Điều 288 Công ước năm 1982 và Điều 58 Nội quy Toà án quốc tế về luật biển) Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết các tranh chấp sẽ bao gồm thẩm quyền xét quyền được đưa vấn đề ra Tòa án của các bên (thẩm quyền về thủ tục), thẩm quyền xét xử nội dung tranh chấp được đưa ra theo đúng thủ tục và thẩm quyền xét xử công bằng (ex aequo et bono) Ngoài ra, Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Tòa án quốc tế về luật biển còn có thẩm quyền đưa ra các ý kiến tư vấn trong một số trường hợp nhất định

2.2.2.1 Thẩm quyền xét quyền được đưa vấn đề ra Toà án của các bên

Trong khi Tòa án Công lý quốc tế chỉ chấp nhận giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia, thì Điều 20 Quy chế Tòa án quốc tế về luật biển quy định:

“1 Tòa án để ngõ cho các quốc gia thành viên;

2 Tòa án để ngõ cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong tất cả các trường hợp đã được quy định rõ trong phần XI hay cho mọi tranh chấp được đưa ra theo mọi thỏa thuận khác, giao cho Tòa án một thẩm quyền được tất cả các bên tranh chấp chấp nhận”

Như vậy, các bên được quyền đưa tranh chấp ra trước Tòa án gồm: các quốc gia thành viên, các quốc gia không phải thành viên, các thể nhân, pháp nhân, tổ chức quốc tế

Trang 34

Thẩm quyền này được xác lập chỉ khi có sự đồng rõ ràng của các bên tranh chấp Và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án được thiết lập theo ba phương thức sau:

- Chấp nhận thẩm quyền của Tòa án theo từng vụ việc

Trong trường hợp các quốc gia thành viên Công ước chưa ra tuyên bố chấp nhận trước thẩm quyền của Toà án khi ký, phê chuẩn hay tham gia Công ước, nếu xãy ra tranh chấp giữa họ hay giữa một bên là quốc gia thành viên và một bên không là quốc gia thành viên thì thẩm quyền của Toà án chỉ được hình thành bằng thoả thuận của hai bên đồng ý đưa vụ việc ra trước Toà án Thoả thuận phải ghi rõ các bên liên quan, vấn đề tranh chấp, các lập luận viện dẫn, yêu cầu đối với Toà án, chỉ định Thẩm phán ad hoc Trong thoả thuận, các bên liên quan cũng có thể đề nghị áp dụng thủ tục xét xử rút gọn phù hợp với Điều 28 Nội quy của Tòa án quốc tế về luật biển

- Chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án trong các điều ước quốc tế

Theo Khoản 2 Điều 288 Công ước, Toà án có thẩm quyến xét xử bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng một điều ước quốc tế có liên quan đến mục đích của Công ước và

đã được đưa ra cho Toà án theo đúng quy định của điều ước này Thẩm quyền của Toà án còn được xác lập hoặc thông qua các điều khoản đặc biệt trong các điều ước quốc tế thừa nhận trước thẩm quyền của Toà án Thông thường trong các điều ước, hiệp ước quốc tế

đa phương và song phương có những điều khoản đặc biệt trù bị cho khả năng xảy ra tranh chấp trong việc giải thích và thực hiện các điều ước quốc tế, trong đó quy định việc các bên thống nhất sẽ đưa tranh chấp ra trước Toà án Khi tranh chấp xảy ra, các bên có thể đơn phương kiện ra Toà án, cũng có thể cùng ký một thoả thuận đưa vụ việc ra Toà án để

Đến nay đã có 7 điều ước quốc tế quy định thẩm quyền xét xử của Toà án quốc tế về luật biển

- Chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án bằng một tuyên bố đơn phương

Theo cơ chế này, khi tranh chấp xảy ra giữa hai quốc gia thành viên đều có tuyên

bố đơn phương chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án thì một bên có quyền đơn phương đưa đơn kiện về vụ việc ra trước Tòa án Trong đơn cần phải trình bày rõ vụ việc, lập luận của các bên và yêu cầu Tòa án xét xử nội dung gì Theo đó, Công ước cũng

mở rộng khả năng tự lựa chọn các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc Khi

ký kết, phê chuẩn, tham gia Công ước hoặc dưới bất kỳ hình thức nào sau đó, một quốc gia dưới hình thức tuyên bố bằng văn bản được quyền tự do lựa chọn một hay nhiều biện pháp để giải quyết các tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng Công ước như: Tòa án quốc tế về luật biển; Tòa án Công lý quốc tế; Một Tòa trọng tài được thành lập theo đúng

Trang 35

phụ lục VII của Công ước; Một Tòa trọng tài đặc biệt để giải quyết các tranh chấp trong từng lĩnh vực riêng biệt như nghiên cứu khoa học biển, nghề cá, giao thông vận tải biển, được thành lập theo đúng phụ lục VIII.30 Tuy nhiên, quyền tự do lựa chọn cũng có thể hàm ý tồn tại tình huống không lựa chọn một biện pháp nào Khi đó, theo Khoản 3 Điều 287 Công ước, một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn hiệu lực bảo vệ thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trù định ở phụ lục VII Ngược lại, quyền tự do lựa chọn cũng dẫn tới tình huống một quốc gia có thể tuyên bố chấp nhận một thủ tục duy nhất hoặc nhiều thủ tục cùng một lúc

Các tranh chấp liên quan đến đáy biển giữa các quốc gia thành viên đều có thể được đưa ra trước: Một viện đặc biệt của Toà án quốc tế về luật biển được lập ra như quy định tại Điều 15 và Điều 17 Phụ lục VI, theo yêu cầu của các bên tranh chấp; Một Toà ad hoc của Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển được lập ra như quy định tại Điều 36 phụ lục VI, theo yêu cầu của bất kỳ bên tranh chấp nào.31Đối với các tranh chấp liên quan đến đáy biển giữa các quốc gia thành viên và các bên khác (tổ chức quốc tế, thể nhân và pháp nhân), Công ước quy định: Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Toà án quốc tế về luật biển có thẩm quyền xét xử các loại tranh chấp về những hoạt động tiến hành trong vùng đáy biển giữa một quốc gia

là thành viên và cơ quan quyền lực, giữa các bên ký kết hợp đồng (dù các bên này là các quốc gia thành viên, là Cơ quan quyền lực, xí nghiệp tư nhân, xí nghiệp của Nhà nước hoặc các thể nhân, pháp nhân) Đối với tranh chấp có tổ chức quốc tế là một bên, Toà án

có thể, theo đòi hỏi của bên kia hoặc theo chủ ý của mình, yêu cầu tổ chức quốc tế phải cung cấp trong một thời hạn thích hợp các thông tin về tổ chức, về các quốc gia thành viên và thẩm quyền của tổ chức quốc tế để xem tổ chức quốc tế đó có đủ tư cách đưa vụ việc ra trước Tòa án hay không

Các thể nhân hay pháp nhân tham gia vào một vụ tranh chấp liên quan đến đáy biển phải được một quốc gia thành viên bảo trợ mới được đệ đơn kiện một quốc gia thành viên khác Trong trường hợp này, quốc gia bị đơn có thể yêu cầu quốc gia bảo trợ ra trước Tòa án nhân danh bên nguyên Nếu quốc gia bảo trợ cho bên nguyên đơn không ra trước Tòa án được thì quốc gia bị đơn có thể ủy quyền cho một pháp nhân mang quốc tịch của mình thay mặt

2.2.2.2 Thẩm quyền xét xử nội dung tranh chấp

Theo Điều 21 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển, Tòa án có thẩm quyền đối

với: “Tất cả các vụ tranh chấp và các yêu cầu được đưa ra Tòa án theo đúng Công ước

Trang 36

và đối với tất cả các trường hợp được trù định rõ trong mọi thỏa thuận khác, giao thẩm quyền cho Tòa án”

Thẩm quyền của Tòa án đối với các tranh chấp giữa các quốc gia (thành viên và không phải thành viên Công ước luật biển năm 1982) được giới hạn trong Điều 297 Công ước luật biển năm 1982 Theo Điều này Tòa án có thẩm quyền đối với:

- Các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước về việc thi hành các quyền hay quyền tài phán của quốc gia ven biển như đã được trù định trong Công ước được xét theo các thủ tục giải quyết đã được trù định ở Mục 2 (các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc) trong các trường hợp sau:

+ Khi thấy rằng các quốc gia ven biển đã không tuân thủ theo Công ước liên quan đến tự do và quyền hàng hải, hàng không hoặc tự do về quyền đặt các dây cáp, ống dẫn ngầm cũng như liên quan đến sử dụng biển vào các mục đích khác được quốc tế thừa nhận là chính đáng như ở Điều 58 (Các quyền và nghĩa vụ của những quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế);

+ Khi thấy rằng trong việc thi hành và sử dụng các quyền này, một quốc gia đã không tuân theo Công ước, luật hoặc các quy định của quốc gia ven biển đề ra là phù hợp với quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế không trái với Công ước;

+ Khi thấy rằng quốc gia ven biển không tuân thủ các quy tắc, quy phạm quốc tế được xác định nhằm bảo vệ và gìn giữ môi trường biển có thể áp dụng cho quốc gia này

mà đã được Công ước đặt ra hoặc được đặt ra thông qua một tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay một hội nghị ngoại giao phù hợp với Công ước

- Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng các quy định của Công ước về nghiên cứu khoa học biển được giải quyết theo mục 2, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận theo cách giải quyết như thế đối với một vụ tranh chấp phát sinh từ:

+ Việc quốc gia này thi hành quyền của mình (trong đó có quyền tùy ý quyết định) theo đúng Điều 246 (Việc nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) Theo Điều này, công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc trên thềm lục địa được tiến hành với sự thỏa thuận của quốc gia ven biển Quốc gia này có quyền từ chối không cho phép thực hiện một dự án nghiên cứu khoa học biển do một quốc gia, tổ chức quốc tế có thẩm quyền đề nghị trong vùng đặc quyền kinh

tế và thềm lục địa của mình trong một số trường hợp theo quy định của Công ước: dự án

có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thăm dò và khai thác tài nguyên; dự án có dự kiến khoan trong thềm lục địa, sử dụng chất nổ hoặc chất độc hại vào trong môi trường biển; dự án

Trang 37

dự kiến xây dựng, khai thác, sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị hay công trình; thông tin cung cấp về dự án không đúng hoặc tác giả của dự án không làm tròn các nghĩa vụ cam kết với quốc gia ven biển trong một dự án nghiên cứu trước đó;

+ Quyết định của quốc gia này ra lệnh đình chỉ hoặc chấm dứt tiến hành một dự án nghiên cứu theo đúng Điều 253, Theo Điều này, quốc gia ven biển có quyền yêu cầu đình chỉ các công việc nghiên cứu khoa học biển đang tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế

và trên trên thềm lục địa của mình nếu công việc này không được tiến hành theo đúng các thông tin đã được thông báo mà quốc gia ven biển đã dựa vào để đồng ý cho phép; hoặc nếu quốc gia, tổ chức quốc tế có thẩm quyền khi tiến hành công việc này không tôn trọng các quy định của Điều 249 liên quan đến các quyền của quốc gia ven biển đối với dự án nghiên cứu khoa học biển

- Các vụ tranh chấp vụ tranh chấp phát sinh từ một luận cứ của quốc gia nghiên cứu cho rằng trong trường hợp của một dự án riêng biệt, quốc gia ven biển không sử dụng các quyền mà Điều 246 và Điều 253 Công ước luật biển năm 1982 đã dành cho mình một cách phù hợp với Công ước, thì theo yêu cầu của một bên hay của bên khác được đưa ra hòa giải theo thủ tục đã trù định ở Mục 2 của Phụ lục V, dĩ nhiên là Ủy ban hòa giải không được xét việc thi hành quyền tùy ý quyết định của quốc gia ven biển trong việc đình chỉ các khu vực đặc biệt như đã được trù định ở Khoản 6 Điều 246, cũng như việc thi hành quyền tùy ý không cho phép theo đúng Khoản 5 của cùng Điều này

- Các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng các quy định của Công ước về việc đánh bắt hải sản được giải quyết theo đúng Mục 2, trừ khi quốc gia ven biển không chịu chấp nhận cách giải quyết như vậy về một vụ tranh chấp liên quan đến quyền thuộc chủ quyền của mình đối với các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình, hay liên quan đến việc thực hành các quyền này kể cả quyền tùy ý quy định khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được, khả năng đánh bắt của mình, phân phối số lượng ra cho các quốc gia khác, quyết định các thể thức, điều kiện đặt ra trong các luật và quy định của mình về bảo vệ và quản lý;

- Nếu việc vận dụng Mục 1 (thủ tục hòa giải) không cho phép đi đến một cách giải quyết thì theo yêu cầu của một bên nào đó trong số các bên tranh chấp, vụ tranh chấp được đưa ra hòa giải theo thủ tục được trù định ở Mục 2 của Phụ lục V khi chứng minh được rằng quốc gia ven biển đã:

+ Rõ ràng không thực hiện nghĩa vụ phải dùng các biện pháp bảo vệ và quản lý thích hợp để đảm bảo rằng việc duy trì các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh

tế không bị ảnh hưởng nghiêm trọng;

Trang 38

+ Độc đoán từ chối việc quy định theo yêu cầu của một quốc gia khác khối lượng đánh bắt có thể chấp nhận được và khả năng khai thác tài nguyên sinh vật của mình đối với các đàn hải sản mà việc khai thác có liên quan đến quốc gia khác;

+ Độc đoán từ chối việc chia sẽ cho một quốc gia nào đó toàn bộ hoặc một phần

số dư mà mình xác nhận như đã trù định ở các Điều 62, 69, 72 theo các thể thức, điều kiện mà bản thân mình đã quy định và phù hợp với Công ước

- Ủy ban hòa giải không được phép dùng quyền tùy ý quyết định của mình thay cho quyền tùy ý quyết của quốc gia ven biển;

Song khi ký kết, phê chuẩn, tham gia Công ước hoặc ở bất kỳ thời điểm nào sau

đó với điều kiện không phương hại đến các nghĩa vụ phải giải quyết tranh chấp bằng bất

kỳ phương pháp hòa bình nào do các bên lựa chọn, một quốc gia có thể tuyên bố bằng văn bản rằng mình không chấp nhận thẩm quyền của Tòa án giải quyết các loại tranh chấp sau:

- Các vụ tranh chấp về việc giải thích hay áp dụng các Điều 15, 74 và 83 liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển, các vụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử miễn là một tranh chấp như thế xảy ra sau khi Công ước có hiệu lực;

- Các vụ tranh chấp liên quan đến hoạt động quân sự, kể cả hoạt động quân sự của tàu thuyền, phương tiện bay của Nhà nước được sử dụng cho một dịch vụ không có tính thương mại và các vụ tranh chấp liên quan đến các hành động bắt buộc chấp hành đã được thực hiện trong việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán mà Khoản 2 và 3 Điều 297 đã loại trừ khỏi thẩm quyền của Tòa án;

- Các vụ tranh chấp mà Hội đồng bảo an trong khi thi hành các chức năng của mình do Hiến chương Liên hiệp quốc giao phó trách nhiệm giải quyết, trừ khi Hội đồng bảo an quyết định xóa vấn đề trong chương trình nghị sự của mình yêu cầu các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp của họ bằng những phương pháp đã quy định trong Công ước (Điều 298 Công ước năm 1982)

Tòa án cũng có thẩm quyền đối với các tranh chấp bị loại trừ này khi quốc gia thành viên ra một tuyên bố như trên thông báo rút lui tuyên bố đó hoặc thỏa thuận với quốc gia thành viên đang tranh chấp với mình đưa vụ tranh chấp mà mình tuyên bố này

đã loại trừ ra trước Tòa án Các tuyên bố hay thông báo rút lui tuyên bố đề cập ở trên phải gửi cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc để lưu chiểu Tổng Thư ký Liên hiệp quốc chuyển bản sao các văn kiện đó cho các quốc gia thành viên

Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển có thẩm quyền đối với những tranh chấp liên quan đến các hoạt động ở Vùng như được liệt kê trong Điều 187, từ điểm

a đến f Công ước năm 1982 Các bên của tranh chấp có thể là Cơ quan quyền lực Vùng

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w