1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP TIỀN LƯƠNG của NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

83 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người viết chọn đề tài này với mong muốn làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về tiền lương và việc tuân thủ các quy định đó tại một số doanh nghiệp trong nước hiện nay... Theo Tổ ch

Trang 1

_ _

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 2007 – 2011

TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP

Lớp: Luật Tư Pháp 2 - K33

Cần Thơ, tháng 3/2011

Trang 2

_ _

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA

2007 – 2011

TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP

Lớp: Luật Tư Pháp 2 - K33

Cần Thơ, tháng 3/2011

Trang 3

Trang 4

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Bố cục của đề tài 2

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG 3

1.1 Vài nét về lịch sử phát triển của tiền lương 3

1.1.1 Giai đoạn trước khi Bộ luật lao động 1994 ra đời 3

1.1.2 Giai đoạn từ khi ra đời Bộ luật lao động năm 1994 cho đến nay 6

1.2 Các khái niệm 7

1.2.1 Tiền lương 7

1.2.2 Tiền lương tối thiểu 8

1.2.3 Phụ cấp lương 10

1.3 Bản chất của tiền lương 11

1.4 Vai trò của tiền lương 13

1.5 Chức năng của tiền lương 15

1.5.1 Chức năng thước đo giá trị 15

1.5.2 Tái sản xuất sức lao động 16

1.5.3 Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực 16

1.5.4 Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển 17

1.5.5 Chức năng tích lũy của tiền lương 17

1.5.6 Chức năng xã hội của tiền lương 17

1.6 Một số nguyên tắc cơ bản của tiền lương 18

1.6.1 Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất lao động 18

1.6.2 Chống chủ nghĩa bình quân trong việc trả lương 18

1.6.3 Trả lương bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ 18

1.6.4 Trả lương theo thỏa thuận 19

Trang 6

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương 21

1.7.1 Thị trường lao động 21

1.7.2 Môi trường công ty 22

1.7.3 Bản thân công việc 23

1.7.4 Bản thân người lao động 23

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ TIỀN LƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHỆP 25

Mục 1: Pháp luật về tiền lương cho người lao động 25

2.1.1 Mức lương tối thiểu trong doanh nghiệp 25

2.1.2 Hệ thống thang, bảng lương của người lao động trong doanh nghiệp 30

2.1.3 Hình thức trả lương 32

2.1.4 Trả lương trong một số trường đặc biệt 37

2.1.5 Khấu trừ lương trong doanh nghiệp 45

2.1.6 Tiền thưởng 46

2.1.7 Tiền công, thu nhập ngoài tiền lương 49

2.1.8 Quyền và nghĩa vụ của các bên quan hệ lao động trong việc trả lương 49

Mục 2: Thực trạng và hướng giải quyết đối với việc thực hiện pháp luật về tiền lương tại doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay 51 2.2.1 Thực trạng chính sách tiền lương và việc thực hiện pháp luật về tiền lương tại doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay 51

2.2.2 Hướng giải quyết 61

KẾT LUẬN 67

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết:

Ngày nay, khi đất nước Việt Nam đang từng bước chuyển mình trong thời kỳ hội nhập thì điều tất yếu là phải thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ Song, từ khi thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế của nước ta theo cơ chế thị trường và định hướng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã không ngừng phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Thế nhưng, đứng trước vận hội mới thì cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, do đó buộc chúng ta phải đổi mới nhận thức và thích nghi trong điều kiện của nền kinh tế mới Để góp phần dung hòa mọi điều kiện cần thiết nhằm nâng cao tốc độ phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để công cuộc phát triển kinh tế có thể từng bước đi lên vững chắc Một trong những chính sách được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu đó là chính sách tiền lương Bởi vì đây là một chính sách rất quan trọng

và cấp thiết, có tác động trực tiếp đến người lao động và các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

Đối với người lao động làm công ăn lương thì tiền lương là khoản thu nhập chính, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của họ Thế nên, để tiền lương có thể thực hiện đúng với chức năng và vai trò của mình, thì đòi hỏi tổng mức thu nhập mà người lao động nhận được phải đủ để trang trải cuộc sống ở một mức độ nhất định Có như thế mới tạo được nguồn động lực to lớn để cổ vũ, động viên, khuyến khích người lao động tận tâm với công việc, kích thích nguồn sáng tạo, nghiên cứu khoa học… để làm giàu cho bản thân, cho đất nước Do đó, để có thể bảo

vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động và thực hiện đúng với chức năng, vai trò của mình, vấn đề đặt ra là chính sách tiền lương phải được ban hành và

áp dụng một cách hợp lý Tuy nhiên cho đến nay, chính sách điều chỉnh chế độ tiền lương nước ta vẫn chưa được quy định đồng bộ Bên cạnh đó, việc trả lương tại nhiều doanh nghiệp diễn biến phức tạp, thường gây bất lợi cho người lao động

Nhận thấy từ những vấn đề trên, người viết quyết định chọn đề tài “Tiền lương

của người lao động trong doanh nghiệp” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình

Người viết chọn đề tài này với mong muốn làm sáng tỏ những quy định của pháp luật

về tiền lương và việc tuân thủ các quy định đó tại một số doanh nghiệp trong nước hiện nay

Trang 8

2 Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ luận văn, người viết chỉ nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành có liên quan đến tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp nói chung Song song đó, người viết nghiên cứu thực trạng của chính sách tiền lương và việc áp dụng chính sách tiền lương tại một số doanh nghiệp ở nước ta hiện nay Đồng thời, dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn tìm hiểu được, người viết sẽ nêu lên những mặc tích cực và hạn chế trong việc thực hiện chính sách tiền lương trong giai đoạn hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu:

Để phục vụ tốt cho quá trình nghiên cứu, trong luận văn người viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp là chủ yếu Các phương pháp này được áp dụng đối với các chế độ pháp lý, thực trạng áp dụng… Bên cạnh đó, người viết còn xem xét, đánh giá nhằm làm sáng tỏ vấn đề và đưa ra hướng giải quyết

4 Bố cục của đề tài:

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết tập trung vào hai chương:

+ Chương 1: nêu lên những vấn đề chung về tiền lương

+ Chương 2: nghiên cứu quy định của pháp luật về tiền lương cho người lao động và thực trạng việc áp dụng chính sách tiền lương trong một số doanh nghiệp hiện nay

Mặc dù đã rất nỗ lực và được sự quan tâm tận tình từ cán bộ hướng dẫn luận văn tốt nghiệp, thế nhưng do mới đi vào nghiên cứu tìm hiểu về đề tài này và một phần trình độ còn hạn hẹp nên chắc chắn bài viết không tránh khỏi những vướng mắc, thiếu sót nhất định Do đó, người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

Ngày nay, khi nền kinh tế xã hội không ngừng phát triển thì tiền lương đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, nhất là đối với người lao động Bởi lẽ, kinh tế xã hội phát triển sẽ kéo theo giá cả thị trường tăng cao, nhu cầu sinh hoạt của người dân, đặc biệt là người lao động làm công ăn lương, đòi hỏi cần được đáp ứng ở một hạn mức tối thiểu cần thiết Một khi tiền lương là nguồn thu nhập chính thì đời sống của người lao động sẽ chịu tác động từ nó rất lớn Vì thế, tiền lương đóng vai trò rất quan trọng đối với người lao động và nền kinh tế đất nước

1.1 Vài nét về lịch sử phát triển của tiền lương

1.1.1 Giai đoạn trước khi Bộ luật Lao động 1994 ra đời

Sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời ở miền Bắc, một trang sử mới được mở ra cho một dân tộc vừa giành được tự do, độc lập Giai đoạn này, đất nước ta còn trong tình trạng hai miền Nam – Bắc bị chia cắt, miền Bắc xây dựng và bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa (XHCN), miền Nam vẫn tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Trước tình hình trên, Quốc hội khóa I được thành lập năm 1946 đã đưa nhiều chính sách phát triển nền kinh tế đất nước, trong đó có chính sách tiền lương dành cho công nhân, viên chức, cán bộ

Trong kỳ họp vào ngày 26 và 27-04-1960, Hội đồng Chính phủ đã thảo luận

về tình hình thực hiện chế độ lương năm 1958 và phương án cải tiến chế độ lương và tăng lương năm 1960 Hội đồng Chính phủ nhận định rằng lần cải tiến chế độ lương năm 1958 đã thu được kết quả tốt Thật vậy, chính sách đã cải thiện một phần đời sống của công nhân, viên chức, cán bộ, góp phần khuyến khích mọi người ra sức đẩy mạnh sản xuất và công tác Tiền lương bình quân năm 1958 của công nhân, viên chức, cán bộ đã tăng 11,7% Đi đôi với việc tăng lương, việc lãnh đạo sản xuất, quản

lý thị trường, ổn định vật giá làm tương đối tốt, do đó tiền lương thực tế đã tăng thêm Việc ban hành một số chế độ trợ cấp xã hội, việc xây dựng các sự nghiệp phúc lợi xã hội, thiết bị an toàn lao động đã có tác dụng cải thiện thêm điều kiện sinh hoạt và điều kiện lao động cho công nhân, viên chức, cán bộ ở các xí nghiệp, cơ quan Bên cạnh

đó, chính sách đã căn bản thống nhất chế độ lương, giảm bớt được tính chất bình quân và những điểm bất hợp lý trong chế độ lương cũ Ngoài ra, chính sách đã bước

Trang 10

đầu kế hoạch hóa được công tác tiền lương: lập quỹ lương riêng, quỹ xã hội riêng, và đặt cơ sở bước đầu cho việc quản lý tiền lương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hạch toán kinh tế

Tuy nhiên, trong chế độ lương năm 1958 còn có những điểm chưa hợp lý: trong khu vực sản xuất, thang lương đặt ra quá nhiều, quan hệ giữa lương các ngành công nghiệp nặng và lương các ngành công nghiệp nhẹ, cũng như lương giữa các nghề với nhau chưa được hợp lý Lương của cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý xí nghiệp chưa phản ảnh đúng nguyên tắc phân phối theo lao động; quan hệ giữa lương công nhân và lương cán bộ lãnh đạo trực tiếp cùng một đơn vị chưa được tốt Trong khu vực hành chính, việc dựa vào tiêu chuẩn đức, tài, lịch sử công tác để sắp xếp cán

bộ vào một thang lương có nhiều bậc, đưa đến kết quả là nhiều cấp bậc lương chưa được thỏa đáng đối với chức vụ, trách nhiệm và khả năng công tác của cán bộ, nhân viên Chế độ lương như vậy chưa phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động Lương của một số cán bộ kỹ thuật, khoa học có tài năng tuy có được chú ý nâng lên, nhưng vẫn chưa được thích đáng; trái lại lương của nhân viên kỹ thuật mới ra trường thì có phần cao không hợp lý so với lương của các loại nhân viên, cán bộ chính trị, nghiệp vụ khác Ngoài ra, các chế độ bảo hiểm xã hội và phúc lợi nghiên cứu chậm, ban hành không kịp thời, đã hạn chế một phần việc cải thiện toàn diện đời sống của công nhân, viên chức, cán bộ

Chính sách tiền lương của Nghị quyết cải tiến chế độ lương và tăng lương năm

1960 đã góp phần cải thiện đời sống cán bộ, công nhân viên rất nhiều Nó đã phát huy hơn nữa tác dụng của tiền lương đối với việc nâng cao năng suất lao động, khuyến khích đẩy mạnh sản xuất và công tác Việc xác định tiền lương cho mỗi người đã được cải tiến, không thể chỉ căn cứ vào công lao, thành tích cũ… Vì thế, chế độ công bằng trong việc trả lương phần nào đã được thực hiện, tạo nên động lực rất lớn trong lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân viên Ngoài ra, đi đôi với việc chống chủ nghĩa bình quân, chế độ đãi ngộ công

bằng, hợp lý cũng được từng bước thực hiện tốt

Đến năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên XHCN bỏ qua chế độ Tư bản Chủ nghĩa Lúc bấy giờ, chế độ tiền lương đối với người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước mang nặng tính chất bình quân, theo kiểu chính sách xã hội Chế độ tiền lương theo Nghị quyết năm 1960 không còn

là đòn bẩy thúc đẩy người lao động hăng hái làm việc, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm Trước tình hình đó, năm 1985, Đảng và Nhà nước ta chủ

Trang 11

trương cải cách Chính sách tiền lương của Nghị quyết 160 không còn được áp dụng, Nhà nước đã tiến hành cải cách chính sách tiền lương thông qua Nghị định số 235 của

Hội đồng Bộ Trưởng ngày 19-8-1985 Chính sách tiền lương mới được ban hành với

nhiều mục tiêu tiến bộ: cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang, bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền do quỹ hàng hoá bảo đảm, nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, xoá bỏ bao cấp, bảo đảm tính thống nhất của chế độ tiền lương trong cả nước, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang Mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng Lương tối thiểu dùng để trả công cho những người làm công việc lao động giản đơn nhất và với điều kiện lao động bình thường Nghị định này áp dụng không lâu thì nền kinh tế đất nước chuyển sang cơ chế mới: “Nền kinh tế thị trường” Tuy nhiên, chính sách này cũng không mang lại nhiều khả quan khi áp dụng, vẫn chưa có sự thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế Tiền lương còn phải phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, chỉ thể hiện được một phần quỹ tiêu dùng cá nhân, còn phần lớn khoản chi thuộc phúc lợi xã hội như nhà ở, học tập, chữa bệnh… thì do ngân sách nhà nước cung cấp qua cơ quan, đơn vị

để phân phối lại cho công nhân viên chức vừa tùy tiện, vừa không đủ lại thiếu công bằng

Sau Đại hội VI của Đảng (1986), triển khai Nghị quyết Trung Ương 3 về đổi mới quản lý kinh tế Tháng 11-1987, Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 217/HĐBT, quy định mọi người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước được thu nhập theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và năng suất, hiệu quả lao động của mỗi người Nhưng trên thực tế, một mặt, do chưa có hướng dẫn quy định cụ thể để có

sự thống nhất, mặt khác, Nhà nước cũng chưa có biện pháp kiểm tra, kiểm soát ở tầm

vĩ mô nên chế độ tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước trở nên rối loạn, vì mỗi ngành, mỗi đơn vị hiểu và làm theo cách riêng của mình Thêm vào đó, do lương thấp, các doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp để nâng lương bằng nhiều cách kể cả việc gian dối trong hạch toán thu nhập như: tăng định mức lao động giả tạo, hạch toán chi phí tiền lương không theo các khoản mục quy định trong giá thành Mặt khác, tình trạng lạm phát cao đã làm triệt tiêu tác dụng của cải cách tiền lương Do vậy, năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị số 317/HĐBT để chấn chỉnh lại chế độ tiền lương, tiếp theo là quyết định số 110/QĐLB ngày 03-4-1989 của liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) và Tài chính Theo đó, Nhà nước quản lý tiền lương theo đơn giá sản phẩm được tính toán trên cơ sở thang bảng lương theo Quyết định 235/HĐBT (tháng 9-1985) và được trượt giá 2 lần so với quyết định

Trang 12

202/HĐBT, tức chỉ số tăng giá lương vào khoảng 204,5 lần so với tháng 9-1985 Nhưng trên thực tế, do hậu quả của lạm phát đã làm chỉ số giá tăng hơn rất nhiều lần

Vì vậy, tháng 5-1993, Đảng, Nhà nước tiến hành cải cách tiền lương, ban hành hệ thống lương mới theo hướng thiết lập hệ thống tiền lương theo hệ số với mức lương tối thiểu là 120.000 đồng/tháng Nhưng mức lương tối thiểu này không thể đủ để duy trì được năng lực lao động cho bản thân người lao động chưa nói gì tới nuôi con cái

và học hành

1.1.2 Giai đoạn từ khi ra đời Bộ luật Lao động năm 1994 cho đến nay

Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành là một thành công trong hệ thống lập pháp, mở ra một bước ngoặc mới cho lĩnh vực pháp luật lao động của đất nước

Kể từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, đây là lần đầu tiên quyền lợi của người lao động được bảo vệ bằng một bộ luật riêng – Bộ luật Lao động năm 1994 Chính sách tiền lương của Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành với rất nhiều điểm tiến bộ, là hành lang pháp lý vững chắc nhất để người lao động có thể thu hoạch được những thành quả tạo ra, phấn đấu làm việc, nâng cao năng suất, góp phần xây dựng và bảo vệ nền kinh tế đất nước Qua các năm sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 1994 (năm 2002, 2006 và 2007), chính sách tiền lương của nước ta càng thể hiện được chức năng và vai trò quan trọng trong đời sống xã hội

Bên cạnh việc tăng trưởng của nền kinh tế thị trường, thì tiền lương của người lao động cũng không ngừng tăng lên Từ khi Bộ luật Lao động năm 1994 được ban hành cho đến nay, từ mức lương tối thiểu 120.000 đồng/tháng, đến nay mức lương tối thiểu chung của người lao động là 730.000 đồng/tháng1

Trong từng thời kỳ, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế và xã hội, chính sách tiền lương luôn được điều chỉnh

để kịp thời đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống của người lao động2

Trong thời gian tới, Theo Nghị quyết dự toán ngân sách năm 2011 vừa được

Quốc hội thông qua sáng ngày 10-11-2010, lương tối thiểu sẽ tăng thêm 100.000 đồng/tháng Từ ngày 01/5/2011, Quốc hội đồng ý với Chính phủ việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng/tháng3

Trang 13

http://vietbao.vn/Kinh-te/Tang-luong-toi-1.2 Các khái niệm

1.2.1 Tiền lương

Trong thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới Tiền lương có thể có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động, thu nhập lao động…

Theo Luật tiêu chuẩn Lao động Nhật Bản (1976), “tiền lương nói trong luật này, bất luận gọi đó là tiền lương, lương bổng, tiền được chia lãi hoặc bằng những tên gọi khác, là chỉ thù lao lao động chi trả cho công nhân”4

Ở Pháp, “sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác, được trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền hay bằng hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”5

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, luật pháp quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động bằng văn bản hay bằng miệng, cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”6

Theo C.Mac, “tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá

cả của sức lao động được biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động”7

Như vậy, theo C.Mac thì tiền lương của người lao động sẽ chịu tác động của hai quy luật

đó là quy luật giá trị và quy luật cung cầu, sức lao động của người lao động được xem như là hàng hóa có giá trị, còn tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động Tuy nhiên theo trường phái hiện đại thì “tiền lương là cái giá phải trả cho việc sử dụng lao động Tiền lương phải đảm bảo hai yêu cầu: Sự đánh giá của xã hội đối với mỗi người và sự kích thích lao động”

Ở nước ta, Sắc lệnh 29SL (1947) cho rằng: “Tiền công nói trong tiết này là

tiền lương chính, không kể các khoản phụ cấp, mà chủ đã hứa trả hay đã ghi trong

Trang 14

khế ước Không thể lấy cớ phải trả các khoản phụ cấp như phụ cấp thâm niên, phụ

Cho đến nay, nước ta vẫn có sự phân biệt giữa tiền lương và thu nhập lao động, tiền lương và phụ cấp, tiền lương và tiền thưởng Pháp luật lao động ghi nhận

như sau: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao

Điều 63 đã quy định: “Các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, nâng bậc lương, các chế độ

khuyến khích khác có thể được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể hoặc quy định trong quy chế của doanh nghiệp” Ngoài ra, Điều 42 quy định rằng:

“… người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là mỗi tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có”

Như vậy, có thể hiểu: “Tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao

động trả cho người lao động khi người lao động hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định, hoặc do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động” 10

Tuy nhiên, trong một số trường hợp thường ít phân biệt giữa tiền lương và phụ cấp lương, giữa tiền lương và thu nhập lao động, nhất là khu vực tư nhân trong khu vực ngoài quốc doanh Trong trường hợp này, tiền lương sẽ được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động do số lượng công việc người lao động đã hoàn thành theo hợp đồng lao động, phù hợp với Điều 55 của Bộ luật Lao động

1.2.2 Tiền lương tối thiểu

Tiền lương tối thiểu là số tiền nhất định trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất và trong điều kiện lao động bình thường Bảo đảm cho người lao động bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái

Mức lương tối thiểu là một chế định quan trọng bậc nhất của pháp luật lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, nhất là trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện cung sức lao động lớn hơn cầu Điều 7 Bộ luật Lao động

quy định: “Người lao động được trả lương trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng

Trang 15

lao động, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định và theo năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc…” Điều 55 cũng nói rõ: “mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”

ILO có Công ước số 26 (1928), Điều 3 quy định: “Các mức lương tối thiểu

được ấn định là bắt buộc đối với những người sử dụng lao động và những người lao động hữu quan; những mức đó không thể bị hạ thấp bởi những người sử dụng lao động và những người lao động, cho dù bằng thỏa thuận cá nhân hay bằng thỏa ước tập thể, trừ khi nhà chức trách có thẩm quyền cho phép chung hoặc cho phép đặc biệt”

Một số nước phát triển đã ấn định lương tối thiểu bảo đảm, tức là bảo đảm sức mua Không những thế, nay đã tiến lên áp dụng lương tối thiểu tăng trưởng, tức là tiền lương theo mức tăng trưởng của kinh tế quốc dân Điều 56 của Bộ luật Lao động

Việt Nam quy định: “Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế 12

của người lao động bị giảm sút thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế”

Pháp luật lao động nước ta ghi nhận: “Chính phủ quyết định và công bố mức

lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử

Việc xác định mức lương tối thiểu cụ thể có phương pháp riêng theo Công ước

số 131 (1970), những yếu tố cần xét để xác định mức lương tối thiểu gồm những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, có chú ý tới mức lương trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn xã hội và mức sống so sánh của các nhóm xã hội khác, những nhân tố kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao Ở nước ta năm 1960 đã tính từ 46 mặt hàng thiết yếu nhất Năm 1993 phương pháp ấn định lương tối thiểu đã được hoàn thiện thêm một bước, nhưng phải do tình hình kinh tế xã hội quyết định cuối cùng

12

Tiền lương thực tế: là số lượng tư liệu sinh hoạt mà người lao động có thể mua được bằng tiền lương của mình, sau khi đã đóng các khoản thuế theo quy định của Nhà nước (Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Khoa Luật: Giáo trình luật Lao động Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội – 1999, trang 214).

13

Đoạn 2 Điều 56 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi bổ sung các năm 2002, 2006, 2007)

+ Lương tối thiểu chung: Là mức lương tối thiểu được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước; mọi mức

lương, kể cả các mức lương tối thiểu khác, cũng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung

+ Lương tối thiểu vùng: Là mức lương tối thiểu được áp dụng cho từng vùng lãnh thổ nhất định, căn cứ trên

mức lương tối thiểu chung và có tính đến các yếu tố đặt thù của vùng lãnh thổ đó

+ Lương tối thiểu ngành: Là mức lương tối thiểu được áp dụng cho một ngành nhất định, cũng căn cứ trên cơ

sở mức lương tối thiểu chung và có tính đến các yếu tố lao động đặc thù của từng ngành nghề đó

Trang 16

Nhà nước công bố các mức lương tối thiểu ở mỗi thời kỳ là một yêu cầu hết sức cần thiết Bởi vì, luật hóa mức lương tối thiểu là nhằm hạn chế sự giản cách quá lớn giữa tiền lương danh nghĩa14

và tiền lương thực tế, là một hình thức tác động quan trọng nhất của Nhà nước vào chính sách tiền lương trong điều kiện thừa nhận và phát triển thị trường lao động Đặc biệt đối với các nước trong quá trình công nghiệp hóa, lạm phát luôn thường trực, nguồn nhân lực tăng quá nhanh so với khả năng tạo việc làm của nền kinh tế, sự xâm nhập lớn của chủ nghĩa tư bản nước ngoài để tận dụng thị trường và nguồn nhân lực tại chổ

Tiền lương tối thiểu luôn được xem như là cái ngưỡng cuối cùng để xây dựng lên các mức lương khác, tạo thành hệ thống tiền lương của một ngành nào đó, hoặc

hệ thống tiền lương chung thống nhất của một nước, là căn cứ để xác định chính sách tiền lương

1.2.3 Phụ cấp lương

+ Khái niệm: Phụ cấp lương là tiền trả công lao động ngoài tiền lương để bù

đắp thêm cho những yếu tố không ổn định, hoặc vượt quá điều kiện bình thường

+ Đặc điểm của phụ cấp:

Phụ cấp lương được trả khi một người nào đó phải hao phí sức lao động thêm do giữ một cương vị nào đó, làm việc trong điều kiện không bình thường, giá cả đắt đỏ hơn bình thường… Khi các điều kiện trên thay đổi hay không còn sự chênh lệch trên thì phụ cấp cũng thay đổi hoặc không còn nữa

Phụ cấp lương không phải là trợ cấp và cũng không phải là tiền thưởng vì nó

là khoản tiền ổn định tương đối và không phải ai cũng được hưởng như nhau

Phụ cấp lương có tính linh hoạt cao, không ổn định, thường biến đổi khi người lao động thay đổi vị trí công tác và điều kiện lao động và chỉ chiếm một phần nhỏ so với lương cơ bản

Tùy từng môi trường làm việc, mức độ khó khăn nguy hiểm của công việc mà

có những chế độ phụ cấp nhất định Khi cần khuyến khích động viên những người có trình độ, có mức lương cao vào những nơi cần thu hút thì người ta tính phụ cấp trên

14

Tiền lương danh nghĩa là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động

căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể (Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Khoa Luật: Giáo trình luật Lao động Việt Nam, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội – 1999, trang 213)

15

ThS Diệp Thành Nguyên: Giáo trình luật Lao động Việt Nam, phần 1, trang 56

Trang 17

mức lương cấp bậc, còn khi ảnh hưởng của các yếu tố cần phụ cấp tác động như nhau đến mọi người tham gia thì phụ cấp tính theo lương tối thiểu Pháp luật hiện hành ghi nhận một số chế độ phụ cấp như: phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp trách nhiệm công việc… Các khoản phụ cấp khác nhau được quy định số tiền được hưởng khác nhau

1.3 Bản chất của tiền lương

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền lương là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện bằng tiền mà người lao động nhận được để bù đắp cho lao động

đã bỏ ra tuỳ theo số lượng và chất lượng của người lao động đó Như vậy tiền lương

là một phần giá trị mới sáng tạo ra được phân phối cho người lao động để tái sản xuất sức lao động của mình Vì người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lượng sức lao động nhất định và sau đó phải được bù đắp bằng việc sử dụng

tư liệu tiêu dùng Như vậy, giá trị sức lao động được quy thành giá trị của tổng số tư liệu sinh hoạt nhất định nhằm đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu cần thiết để duy trì cuộc sống của người lao động Nếu như một người lao động chỉ được xem xét đến năng lực làm việc mà không được xem xét đến tư liệu sinh hoạt để nuôi sống sức lao động của người đó thì quá trình sản xuất sẽ không được đảm bảo bền vững

Tiền lương dưới CNXH là một bộ phận của thu nhập quốc dân được Nhà nước phân phối cho người lao động vì thế nó chịu ảnh hưởng của một loạt nhân tố: Trình

độ phát triển sản xuất, quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng trong từng thời kỳ và chính sách của Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế chính trị trong thời kỳ đó Như vậy tiền lương của người lao động còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước Một nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, các phương tiện sản xuất chưa tiên tiến, trình độ lao động chưa cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp thì tiền lương chưa thể cao được Mặt khác, lúc đó thu nhập quốc dân chưa đủ để đáp ứng nhu cầu cao về tiền lương của toàn xã hội Khi đó, thu nhập quốc dân phụ thuộc vào hai yếu tố đó là:

số lượng lao động trong khu vực sản xuất vật chất và năng suất lao động bình quân của khối sản xuất vật chất Vì vậy, tiền lương chỉ được tăng lên trên cơ sở tăng số lượng lao động trong khu vực sản xuất và tăng năng xuất lao động của khối này

Theo quan điểm đổi mới hiện nay, tiền lương ở nước ta đã được coi là giá cả sức lao động, coi sức lao động là hàng hoá là một bước tiến quan trọng trong nhận thức về tiền lương của Đảng và Nhà nước ta và cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của tình hình đất nước Đất nước ta đang trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá

độ lên CNXH, nền kinh tế còn tồn tại nhiều chế độ sở hữu đan xen lẫn nhau, do đó

Trang 18

tiền công hay tiền lương còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau với bản chất khác nhau Trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê thì tiền công là giá cả sức lao động và quan hệ lao động ở đây là quan hệ chủ thợ Trong thành phần kinh tế quốc doanh về mặt sở hữu tập thể mà Nhà nước là người đại diện đứng ra quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh thì quyền quản lý và sử dụng lao động giao cho Giám đốc, mặt khác người lao động được tự do hoàn toàn về thân thể (sự tự do này được pháp luật công nhận và bảo hộ) Vì vậy, đã có đủ điều kiện để coi sức lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng là hàng hoá, nghĩa là tiền lương và giá cả sức lao động Tiền lương ở khu vực này Nhà nước tác động thông qua hệ thống thang - bảng lương Các doanh nghiệp quốc doanh đại diện cho Nhà nước là người sử dụng lao động tiến hành

bố trí lao động cho phù hợp với khả năng và yêu cầu của người lao động trên cơ sở đó phân phối kết quả sản xuất Việc trả lương không chỉ căn cứ vào hợp đồng lao động

mà còn căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh

Tại Điều 55 của Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 có ghi: “Tiền lương của

người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”

Khi nghiên cứu vấn đề tiền lương có ba vấn đề quan trọng đặt ra là: người trả, căn cứ trả và nguồn tri trả

+ Người trả: Trong nền kinh tế thị trường, người sử dụng lao động là người

trực tiếp trả lương cho người lao động chứ không phải Nhà nước

+ Căn cứ trả: Giá trị sức lao động hao phí

Để có căn cứ trả theo giá trị sức lao động hao phí đòi hỏi phải xác định chính xác mức độ hao phí sức lao động cả về số lượng cũng như chất lượng, đồng thời phải tính đến những yếu tố ảnh hưởng tới nó trong từng thời kỳ Đặc biệt, phải xác định được vốn nhân lực để hoàn trả đúng giá trị mà người lao động đã đầu tư trước đây Đây là một trong những vấn đề khó khăn và phức tạp nhất hiện nay

+ Nguồn chi trả: Về nguyên tắc, phải xuất phát từ giá trị sử dụng sức lao động,

nghĩa là người lao động phải có “bản năng” tạo được một giá trị cao hơn giá trị sức lao động của bản thân

Một trong những vấn đề đang được đặt ra không chỉ là ai trả lương, mà quan trọng hơn là trả như thế nào và căn cứ để trả, trả trước hay trả sau trong quá trình lao động, trả theo kết quả lao động (phân phối theo lao động) hay trả theo giá trị sức lao

Trang 19

động tiềm năng (theo đào tạo) hay trả theo sức lao động thực tế hao phí phù hợp với yêu cầu công việc (theo thị trường lao động hay theo giá trị vốn góp) Trong kinh tế

kế hoạch hóa tập trung tiền lương thể hiện quy luật phân phối theo lao động – một quy luật đặc trưng riêng của Chủ nghĩa xã hội Phân phối theo lao động chỉ thích hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa, theo đó Nhà nước đứng ra điều hành trực tiếp toàn bộ nền kinh tế xã hội, kể cả phân phối Tuy nhiên, phân phối theo lao động tỏ ra không

đủ và không hoàn toàn thích hợp trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh phân phối theo lao động còn có phân phối theo giá trị Trong nền kinh tế thị trường, giá trị hàng hóa phải được xác định trước khi đem bán, và sức lao động là hàng hóa nên giá trị của nó phải được xác định trước như các hàng hóa khác, chứ không phải chỉ sau khi

sử dụng xong Hơn nữa, việc tham gia đóng góp tạo nên giá trị mới, đặc biệt là lợi nhuận có ý nghĩa sống còn đối với các hoạt động của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Vì thế, sức lao động nào có “bản năng” tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó càng nhiều càng phải được trả lương cao hơn Tiền lương còn là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động Về nguyên tắc, người bán sức lao động (người lao động) phải đưa ra giá trước và sau đó hai bên mặc cả và đi đến thỏa thuận, sự thỏa thuận đó phải được thể hiện trong hợp đồng lao động làm cơ sở pháp lý để trả lương cũng như giải quyết các tranh chấp lao động vốn rất dễ xảy ra do

sự tách biệt giữa thỏa thuận mua bán với sử dụng, thanh toán

1.4 Vai trò của tiền lương

Người lao động sử dụng sức lao động của mình làm việc cho người sử dụng lao động để có tiền lương Tiền lương là nguồn sống chủ yếu đối với họ, do đó tiền lương đóng vai trò rất quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của người lao động, sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội của quốc gia Vì vậy, đảm bảo cuộc sống cho người lao động phụ thuộc vào tiền lương luôn luôn là mối quan tâm của Nhà nước và toàn xã hội

+ Đối với người lao động: Tiền lương là khoản thu nhập chính và luôn gắn

liền với họ Người lao động tham gia hoạt động sản xuất với mong muốn đóng góp một phần công sức của mình cho việc tạo ra hàng hóa, mang lại ích lợi thiết thực cho

xã hội, cho nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên, họ cũng mong muốn nhận được một lợi ích vật chất từ những hoạt động của đó

Tiền lương giúp người lao động trang trải cuộc sống và nuôi sống gia đình, có được như vậy sức lao động mới được duy trì, quá trình tái sản xuất lao động được đảm bảo bền vững Vì thế, chính sách tiền lương hợp lý sẽ có vai trò rất lớn đối với

Trang 20

người lao động, giúp họ có được cuộc sống bình ổn, ý thức hòa nhập xã hội càng cao, kích thích người lao động nâng cao năng lực làm việc, phát huy mọi khả năng vốn có

để tăng năng suất lao động Có được tiền lương phù hợp, tiềm năng sáng tạo của người lao động sẽ được khơi nguồn, khả năng lao động tầm cao sẽ có khả năng thực hiện, mang lại lợi ích và uy tín cho quốc gia, nền kinh tế đất nước phát triển hơn, thông qua đó tiền lương sẽ được nâng lên, đời sống gia đình người lao động được cải thiện hơn

Thực tế hiện nay, tiền lương còn được coi như một thước đo chủ yếu về trình

độ tay nghề và thâm niên nghề nghiệp Vì thế, người lao động rất tự hào về mức lương cao, nó không những mang lại nguồn thu nhập mà còn góp phần tạo nên vị thế trong xã hội

+ Đối với người sử dụng lao động: Tiền lương không chỉ mang ý nghĩa là sự

trả công cho sức lao động mà người sử dụng lao động đã nhận được mà còn mang ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả của hoạt động lao động Khi người lao động nhận được mức thù lao xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra trong quá trình lao động thì sự hăng say trong công việc của họ sẽ được kích thích và họ cảm thấy phấn khởi và yêu mến công việc của mình Bởi thế, tiền lương hợp lý sẽ giúp người sử dụng lao động thu hút được những lao động làm việc có năng lực, trình độ, nhiệt tình trong công việc, trong sản xuất Chất lượng lao động càng cao thì lợi nhuận người sử dụng lao động hưởng được càng lớn Thông thường, nếu người lao động được trả mức lương cao hơn thì chất lượng lao động sẽ tốt hơn, người sử dụng lao động sẽ được lợi Ngược lại, nếu trả lương thấp dẫn đến hiệu quả sản xuất kém thì người sử dụng lao động sẽ

bị thua thiệt, khó thu được lợi nhuận Ngoài ra, việc trả lương phù hợp với công sức lao động sẽ tạo cho hoạt động lao động mang nền tảng lâu bền, sản xuất có hiệu quả

+ Đối với xã hội: Tiền lương có ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì sức lao động

cho xã hội, đảm bảo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước, duy trì sức lao động tồn tại bền vững Tiền lương hợp lý góp phần rất lớn cho sự bình ổn xã hội, hạn chế tiêu cực trong sản xuất và tiêu cực trong xã hội do tiền lương không đủ sống Nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề đình công liên quan đến tiền lương diễn ra rất rầm rộ Ở Việt Nam những cuộc đình công bắt nguồn từ việc tiền lương không đảm bảo cho điều kiện sống cần thiết cho người lao động cũng đã diễn ra khá nhiều, ảnh hưởng xấu đến xã hội Vì vậy, tiền lương có vai trò rất lớn đối với đời sống xã hội

+ Đối với nền kinh tế đất nước: Tiền lương không chỉ tác động đến đời sống

của người lao động, đến xã hội mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước Khi

Trang 21

tiền lương được nhận hợp lý thì người lao động có thể trang trải cuộc sống một cách bình ổn, tình trạng nghèo đói sẽ dần được khắc phục, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao hơn Tăng tiền lương cũng là tăng năng suất mua đối với hàng hóa, kích thích sản xuất, tăng lợi nhuận cho người sản xuất, góp phần tăng nguồn ngân sách nhà nước Tiền lương còn có tác động tích cực đến việc quản lý tài chính, quản lý lao động, quản lý kinh tế Mặt khác, tiền lương còn cấu thành trong giá cả hàng hóa tạo nên sự cạnh tranh trong thị trường là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước Từ đó, Nhà nước sẽ giảm bớt gánh nặng đối với nạn nghèo đói, mặt bằng kinh tế xã hội được cải thiện, uy thế kinh tế đất nước trên trường quốc tế càng được nâng cao…

Như vậy, tiền lương có vai trò quan trọng đối với cả người lao động, người chủ sử dụng lao động, với xã hội và cả nền kinh tế đất nước Tiền lương có tác dụng

bù đắp lại sức lao động cho người lao động Đồng thời tiền lương cũng có tác dụng to lớn trong việc động viên, khuyến khích người lao động yên tâm làm việc Người lao động chỉ có thể yên tâm dồn hết sức mình cho công việc nếu công việc ấy đem lại cho

họ một khoản đủ để trang trải cuộc sống Đối với chủ sử dụng lao động, tiền lương được coi là một bộ phận của chi phí sản xuất Vì vậy, chi cho tiền lương là chi cho đầu tư phát triển Mặt khác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp công bằng và hợp

lý sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động của mình Tiền lương hợp lý sẽ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động Người lao động

có công ăn việc làm ổn định sẽ hạn chế rất lớn tệ nạn xã hội, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước

1.5 Chức năng của tiền lương

Chính từ vai trò đặc biệt quan trọng của tiền lương, để tiền lương thực sự là thước đo cho mỗi hoạt động của từng cơ sở kinh tế, từng người lao động và là đòn bẩy kinh tế, đòi hỏi tiền lương phải thực hiện được chức năng cơ bản của nó, đảm bảo cho người lao động không những duy trì được cuộc sống thường ngày trong suốt quá trình làm việc, bảo đảm tái sản xuất sức lao động một cách tốt nhất mà còn đủ khả năng để dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi không còn khả năng lao động hoặc trong những trường hợp gặp bất trắc, rủi ro Những chức năng cơ bản của tiền lương sẽ

được thể hiện cụ thể sau đây:

1.5.1 Chức năng thước đo giá trị

Như đã nêu trên, tiền lương là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của sức lao động Vì vậy tiền lương chính

Trang 22

là thước đo giá trị sức lao động, được biểu hiện như giá trị lao động cụ thể của việc làm được trả công Nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh qua thông tiền lương, nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức lương càng lớn

1.5.2 Tái sản xuất sức lao động

Theo Mác, “tiền lương là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của

những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức lao động theo điều kiện kinh tế, xã hội và trình độ văn minh của mỗi nước Giá trị sức lao động bao hàm cả yếu tố lịch sử, vật chất và tinh thần” Như vậy, tiền lương chính là yếu tố

nuôi dưỡng sức lao động, có vai trò quyết định tính bền vững của sức lao động Sức lao động được duy trì và phát triển khi tiền lương đáp ứng được toàn bộ nhu cầu thiết yếu cho người lao động Bên cạnh đó, nhìn nhận từ góc độ rộng hơn, tái sản xuất sức lao động còn có thể hiểu là duy trì và phát triển sức lao động tương lai, tức người lao động phải sinh con (có thể gọi là sức lao động tiềm tàng) Do đó, người lao động hiện tại phải nuôi dưỡng con, cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra sức lao động phải gồm có cả những tư liệu sinh hoạt cho con cái ăn uống, học tập… (tức

là ngoài chi phí sinh hoạt cho người lao động, thì cũng phải cần có khoản chi phí để nuôi dưỡng con cái của họ, vốn là thế hệ lao động tương lai) Theo đó, chức năng cơ bản của tiền lương còn là nhằm duy trì và phát triển được sức lao động

Giá trị sức lao động luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế sản xuất xã hội nói chung và của người sử dụng lao động nói riêng Giá trị sức lao động mang tính khách quan, được quy định và điều tiết không theo ý muốn của một

cá nhân nào, dù là người làm công hay người sử dụng lao động Nó là kết quả của sự mặc cả trên thị trường lao động giữa người có sức lao động “bán” và người sử dụng sức lao động “mua”

1.5.3 Kích thích lao động và phát triển nguồn nhân lực

Tiền lương là bộ phận thu nhập chính đáng của người lao động nhằm thỏa mãn phần lớn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của người lao động Do vậy, mức lương tối thiểu luôn là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và động cơ trong lao động của người lao động Khi chế độ tiền lương tăng hoặc giảm phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất của công ty nói chung và cá nhân người lao động nói riêng thì họ sẽ quan tâm đến việc không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng công việc Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải sử dụng tiền lương một cách có cân nhắc Mỗi đồng lương trả cho công nhân phải được tính toán, phải gắn với kết quả lao động của họ, gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiền

Trang 23

lương có hai mặt đối lập nhau, mặt tích cực và mặt tiêu cực Khi mặt tích cực của tiền lương bị hạn chế thì mặt tiêu cực lập tức trổi lên trở thành yếu tố kiềm hãm sản xuất phát triển

1.5.4 Thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển

Nâng cao hiệu quả lao động, năng suất lao động suy cho cùng là nguồn gốc để tăng thu nhập, tăng nhu cầu của người lao động trong các điều kiện sinh hoạt

Khác với thị trường hàng hóa bình thường, nhu cầu về sức lao động phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ của sản phẩm do lao động tạo ra và mức giá cả của sản phẩm

đó Do vậy, tiền lương phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động luôn luôn dẫn đến sự tái phân bố lao động Theo quy luật thị trường, lao động sẽ tái phân bố vào các khu vực có năng suất lao động cao hơn để nhận được các mức lương cao hơn Có như thế, lực lượng lao động sẽ được phân bố ngày càng hợp

lý hơn, sự chênh lệch nền kinh giữa các khu vực trong nước dần dần được cải thiện

1.5.5 Chức năng tích lũy của tiền lương

Tích lũy là sự cần thiết khách quan đối với mọi người lao động Trên thực tế thì tiền lương của người lao động nói chung không đủ chi dùng, vì thế không có điều kiện để dành Tuy nhiên, nhà nước vẫn buộc người lao động phải để dành thông qua việc tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bắt buộc Ngoài bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế người lao động còn tham gia bảo hiểm thất nghiệp để phòng ngừa những trường hợp rủi ro Việc tiền lương không thực hiện được chức năng tích lũy một cách chủ động đã gây nhiều khó khăn cho những người không may gặp bất trắc

Vì thế, dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động đã tìm cách tự tích lũy, kể cả các biện pháp tiêu cực

1.5.6 Chức năng xã hội của tiền lương

Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương còn là yếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng không ngừng chỉ được thực hiện trên cơ

sở hài hòa các mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Việc gắn liền lương với hiệu quả của người lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của công ty Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ, văn minh

Trang 24

1.6 Một số nguyên tắc cơ bản của tiền lương

1.6.1 Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất lao động

Nguyên tắc này thể hiện ở việc quy định mức lương tối thiểu Mức lương tối thiểu được xây dựng trước hết căn cứ vào mức sống tối thiểu của từng quốc gia, tức

là căn cứ vào mức độ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của người lao động trong một thời

kỳ nhất định Nó thường được biểu hiện qua hai mặt: hiện vật và giá trị

+ Về hiện vật, nó thể hiện qua cơ cấu, chủng loại các tư liệu sinh hoạt và dịch

vụ sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất giản đơn sức lao động như ăn, mặc, ở, đi lại, trang bị đồ dùng sinh hoạt, giao tiếp xã hội, bảo vệ sức khỏe, văn hóa, học tập, bảo hiểm tuổi già, nuôi con…

+ Về giá trị, nó thể hiện qua giá trị của các tư liệu sinh hoạt và của các dịch vụ

sinh hoạt cần thiết

1.6.2 Chống chủ nghĩa bình quân trong việc trả lương

Tiền lương phải được trả căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động và hiệu quả công việc (căn cứ vào hiệu quả đóng góp cụ thể của sức lao động)

Tiền lương được trả theo công việc chứ không theo con người Sự chênh lệch giữa các bậc trong thang - bảng lương phải khuyến khích được người có trình độ cao, tiêu hao năng lượng lớn, trách nhiệm nặng, kích thích mọi người luôn phấn đấu nâng cao kiến thức và nghề nghiệp, đạt hiệu quả và chất lượng cao; người làm tốt, làm giỏi phải được thưởng nhiều, ưu đãi những người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì không coi là phân biệt đối xử về trả công lao động

1.6.3 Trả lương bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ

Công việc của lao động nam và lao động nữ có giá trị như nhau thì phải trả lương ngang nhau, tức là không phân biệt đối xử về giới tính Nguyên tắc này được

ghi nhận trong Hiến pháp 1992 như sau: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau

về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước

Bộ luật Lao động 1994 cũng có quy định tại Điều 111 rằng “Người sử dụng lao động

16

Điều 63 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Trang 25

phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương

và trả công lao động” 17

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất về tiền lương Tổ chức Lao động quốc tế ILO có Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau năm 1951 cũng đã ghi

nhận: “Mỗi nước thành viên, bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp

hiện hành trong việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích, và trong chừng mực phù hợp với các phương pháp ấy, bảo đảm việc áp dụng cho mọi người lao động nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ đối với một công việc có giá trị ngang nhau.”

Xuất phát từ mục đích bảo vệ lao động nữ do một thực tế tồn tại rất lâu trong việc sử dụng lao động là: lao động nữ luôn bị xem nhẹ hơn so với lao động nam nên tiền lương trả cho lao động nữ thường thấp hơn so với lao động nam Do vậy, nguyên tắc này đòi hỏi khi xây dựng chế độ tiền lương cũng như khi thỏa thuận và thực hiện việc trả lương, không được có sự phân biệt về trả lương với lý do giới tính

Ngoài ra nguyên tắc này có liên quan đến một nguyên tắc thuộc về “phân phối

theo lao động” Cốt lõi của nguyên tắc phân phối theo lao động là trả lương dựa trên

năng lực lao động Công việc có giá trị ngang nhau thì phải được trả lương như nhau, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng… Trong điều kiện kinh tế thị trường nguyên tắc này vẫn giữ nguyên giá trị, các nước tư bản phát triển

vẫn đề cao nguyên tắc này

1.6.4 Trả lương theo thỏa thuận

+ Tiền lương phải được trả dựa trên cơ sở thỏa thuận nhưng không trái pháp luật 18

:

Quan hệ lao động được thiết lập giữa người lao động và người sử dụng lao động tuân theo nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng và không trái pháp luật Đây là một nội dung cơ bản trong quan hệ lao động, điều tất yếu tiền lương cũng phải tuân theo nguyên tắc này Tiền lương phải được trả trên cơ sở thỏa thuận và không trái pháp luật Do đó, khi giao kết hợp đồng lao động cũng như giao kết thỏa ước lao động và

cả khi thực hiện việc trả lương, đòi hỏi hai bên giao kết hợp đồng phải có sự bàn bạc,

Trang 26

trao đổi tiến tới thống nhất các vấn đề liên quan đến tiền lương, không bên nào được

áp đặt ý chí cho bên kia và ngược lại

Tuy nhiên, do phải chịu tác động của yếu tố cung - cầu của nền kinh tế thị trường trong điều kiện mà sức ép dôi thừa lao động xã hội luôn lớn, thì trong nhiều trường hợp, nguyên tắc thỏa thuận bình đẳng này khó có thể được thực hiện triệt để

Do đó, bên cạnh việc thỏa thuận, bình đẳng, đòi hỏi việc trả lương không được trái pháp luật, nhất là phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định có tính bắt buộc nhằm bảo vệ cho người lao động như: lương tối thiểu, về việc trả lương khi làm thêm giờ…

+ Không được trả hoặc thỏa thuận mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu do

:

Nguyên tắc này cũng được pháp luật lao động ghi nhận Khi tham gia quan hệ lao động, mục đích quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với người lao động là có thu nhập Đồng thời, khi đã tham gia quan hệ lao động có nghĩa là người lao động đã dung hòa hết thời gian lao động trong khả năng cho phép cho công việc mà mình đảm nhiệm Thu nhập thông qua tiền lương mà họ nhận được từ người sử dụng lao động phải đảm bảo cho họ tái sản xuất sức lao động Do vậy, để người lao động có thể chi tiêu duy trì cuộc sống cho mình và một phần cho gia đình của mình, cũng như một phần tích lũy dành cho cuộc sống khi hết tuổi lao động thì chế độ lương của họ phải lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu được pháp luật quy định Có như thế, người lao động mới có đủ động lực và sức lực để hoàn thành tốt công việc của mình

+ Tiền lương phải được thỏa thuận và trả theo năng suất, chất lượng lao động

và hiệu quả công việc 20

:

Xét về bản chất tiền lương chính là giá cả của sức lao động, biểu hiện giá trị sức lao động dưới sự tác động của quy luật cung - cầu trong nền kinh tế thị trường Việc tiền lương phải được trả theo năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công việc cũng chính là việc tuân thủ và phản ánh bản chất này Nguyên tắc phân phối theo lao động trong cạnh tranh bị hạn chế nhất định về phạm vi áp dụng do tiền lương trong nền kinh tế thị trường không chỉ tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác Song, nguyên tắc tiền lương phải được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc đã khắc phục một cách cơ bản hạn chế này

19

Điều 55 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi bổ sung các năm 2002, 2006, 2007)

20

Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Khoa Luật: Giáo trình luật Lao

động Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội – 1999, trang 216)

Trang 27

1.6.5 Tiền lương phải được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc

Nguyên tắc này được xác định tại Điều 59 Bộ luật Lao động Trong điều kiện thực tế ở nước ta những năm qua, cho thấy có rất nhiều hiện tượng trả lương bị lạm dụng, như: lương trả cho người lao động qua nhiều khâu trung gian, bị cắt xén, khấu trừ sai nguyên tắc, bị thường xuyên trả chậm… những hành vi này gây rất nhiều khó khăn, phiền hà cho người lao động và gia đình họ, nhất là khi tiền lương thực tế lại quá eo hẹp Do vậy, việc tiền lương phải được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn, tại nơi làm việc là một yêu cầu hết sức quan trọng nhằm bảo vệ người lao động Là một nguyên tắc pháp lý quan trọng, nguyên tắc này còn góp phần đảm bảo cho các nguyên tắc khác được tôn trọng và thực hiện

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương

Có thể nói tiền lương là vấn đề khá phức tạp đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung Nó chi phối nhiều mặt hoạt động của cán bộ, công nhân viên trong các doanh nghiệp, nhưng mặt khác nó lại chịu tác động của nhiều yếu tố Sau đây là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tiền lương:

1.7.1 Thị trường lao động

Khi nghiên cứu để ấn định mức lương, công ty cần phải nghiên cứu một yếu tố quan trọng đó là thị trường lao động hiểu theo nghĩa rộng Đó là những yếu tố: lương thưởng trên thị trường, chi phí sinh hoạt, công đoàn, xã hội, nền kinh tế và luật pháp

+ Lương thưởng trên thị trường: Các công ty đều nằm ở vị trí cạnh tranh gay

gắt Do đó cần phải nghiên cứu kỹ mức lương hiện tại trong xã hội hiện nay đối với cùng một ngành nghề đó ra sao Việc nghiên cứu này dựa trên lĩnh vực sau: khu vực địa lý nơi công ty đang kinh doanh, một số công ty nhất định nào đó cần nghiên cứu

và các công việc cần so sánh đối chiếu

+ Chí phí sinh hoạt: Lương thưởng phải phù hợp với chi phí sinh hoạt đó là

quy luật chung của bất kỳ nước nào trên thế giới Tại Việt Nam cũng đã quyết định mức lương tối thiểu để cho nhân viên đủ sống khi làm việc tại các công ty nước ngoài hoặc các công ty liên doanh Lý luận chi phí sinh hoạt rất đơn giản: khi giá cả tăng lên trong một giai đoạn nhất định nào đó, thì tiền lương thưởng hiện thời thực sự bị giảm xuống Do đó, công ty phải tăng lương theo một tỉ lệ nhất định đủ để cho nhân viên duy trì mức lương thực sự trước đây

Trang 28

+ Công đoàn: Công đoàn là một lực lượng rất mạnh mà các cấp quản trị phải

thảo luận với họ trong ba lĩnh vực sau:

 Các tiêu chuẩn được sử dụng để xếp lương thưởng

 Các mức chênh lệch lương

 Các phương pháp trả lương

+ Xã hội: Sức ép của xã hội cũng rất quan trọng Bởi lẽ rằng, lương thưởng

ảnh hưởng đến giá cả của sản phẩm và dịch vụ Xã hội, đại biểu là người tiêu dùng, không bao giờ muốn giá cả sinh hoạt tăng Họ tạo sức ép buộc một số công ty không được tăng lương mà phải theo mức lương công ty khác đang áp dụng

+ Nền kinh tế: Trong một nền kinh tế đang suy thoái, nguồn cung ứng lao động

dĩ diên tăng cao có nghĩa là số người thất nghiệp tăng Do đó, các công ty có khuynh hướng hạ thấp lương hoặc không tăng lương Tuy nhiên, công đoàn, chính phủ và xã hội lại ép công ty tăng lương cho phù hợp với mức chi phí sinh hoạt gia tăng Đây là vấn đề hóc búa đối với nhà quản trị

+ Luật pháp: Chính sách lương thưởng phải tuân theo luật lệ của Nhà nước

Luật lao động của các nước nói chung của Việt Nam nói riêng đều nghiêm cấm phân

biệt đối xử nam, nữ khi trả lương

1.7.2 Môi trường công ty

+ Chính sách của công ty: Tiền lương vừa là một chi phí tốn kém vừa là một

loại tài sản Chi phí tốn kém phản ánh qua chi phí lao động Trong các ngành dịch vụ, chi phí lao động chiếm vào khoảng 50% tổng chi phí Tuy nhiên tiền lương là một loại tài sản vì nó thúc đẩy nhân viên lỗ lực Nó là một tiềm năng ảnh hưởng tới hành

vi làm việc của nhân viên, thúc đẩy nhân viên làm việc có năng suất lao động cao hơn Tiền lương thưởng giúp cho nhân viên cải tiến công tác, gia tăng năng suất, và tỉ

lệ số người bỏ việc sẽ thấp hơn

+ Bầu không khí văn hoá của công ty: Bầu không khí văn hoá của công ty ảnh

hưởng rất lớn tới cách tuyển chọn nhân viên, đến thái độ của cấp trên và cấp dưới, đến hành vi công tác, do đó nó ảnh hưởng đến việc sắp xếp tiền lương và thưởng cho nhân viên

+ Cơ cấu tổ chức của công ty: Trong một công ty lớn có nhiều giai tầng, nhiều

cấp quản trị thì quản trị cấp cao thường quyết định cơ cấu lương thưởng Chính điều này dễ gây bất lợi cho nhân viên bởi vì cấp cao nhất ít đi sâu để quan sát nhân viên

Trang 29

Ngược lại đối với các công ty ít cấp bậc quản trị hay công ty lớn có nhiều cấp bậc quản trị, nếu họ để cho các cấp quản trị trực tiếp quyết định các vấn đề về lương thưởng, công nhân sẽ được hưởng lương hợp lý hơn vì các cấp quản trị này đi sâu đi sát công nhân hơn Do đó lương thưởng cũng tuỳ thuộc vào cơ cấu của công ty

+ Khả năng chi trả của công ty, thế đứng tài chính của công ty và tình hình kinh doanh của công ty: các công ty kinh doanh thành công thường trả lương cao hơn

mức lương trung bình trong xã hội

1.7.3 Bản thân công việc

Công việc là yếu tố quyết định và ảnh hưởng tới lương bổng Hầu hết các công

ty chú ý đến giá trị thực sự của từng công việc cụ thể Có nhiều phương pháp đánh giá công việc, nhưng sử dụng các công cụ như bản mô tả công việc, phân tích công việc để đánh giá công việc là cách làm khoa học và hiệu quả Các yếu tố thuộc về bản thân công việc cần đánh giá:

+ Kỹ năng: yêu cầu lao động trí óc mức độ phức tạp của công việc, các phẩm

chất cá nhân cần thiết, khả năng ra quyết định, kỹ năng quản trị, các kiến thức xã hội cần thiết cho công việc, khả năng hòa đồng, khả năng thực hiện chi tiết công việc, mức độ khéo léo, khả năng sáng tạo, khả năng bẩm sinh, kinh nghiệm

+ Trách nhiệm về các vấn đề: tiền bạc, sự trung thành, ra quyết định, kiểm

soát công việc, quan hệ với cộng đồng, chất lượng công việc, tài sản doanh nghiệp, sự

bí mật về thông tin, xây dựng chính sách…

+ Sự cố gắng trong công việc: yêu cầu về thể lực, yêu cầu về trí óc, áp lực của

công việc, yêu cầu mức độ chi tiết trong công việc đòi hỏi người lao động phải cố gắng nỗ lực

+ Điều kiện làm việc: Trong những điều kiện làm việc khác nhau thì lương

cũng chịu ảnh hưởng rất lớn Tùy thuộc vào môi trường công việc, các rủi ro mà người lao động được hưởng lương phù hợp

1.7.4 Bản thân người lao động

Bản thân người lao động là yếu tố tác động rất lớn đến việc trả lương Mức lương và các khoản phúc lợi khác mà người lao động có thể nhận được tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như: sự hoàn thành công việc của người lao động, trình độ, kinh nghiệm, thâm niên công tác, sự trung thành, tiềm năng… Bên cạnh, đối với những lao

Trang 30

động có trình độ học vấn cao với tay nghề thành thạo, có khả năng học hỏi và tiếp cận khoa học kỹ thuật nhanh nhạy thì sẽ có ảnh hưởng tới mức lương nhiều hơn

+ Hoàn thành công việc: Nhiều doanh nghiệp áp dụng phương pháp đãi ngộ

nhân viên theo năng suất Người nào làm tốt thì thưởng, còn không tốt thì có thể phạt hoặc đuổi việc… không có gì làm nản lòng nhân viên cho bằng việc các công nhân giỏi, xuất sắc lại lãnh lương bằng hoặc thấp hơn nhân viên có năng suất kém Do đó cấp quản trị cần phải áp dụng hệ thống lương dựa vào sự hoàn thành việc

+ Thâm niên: Là một yếu tố được tính đến khi trả lương Người lao động có

thâm niên lâu năm trong nghề cũng được nhận mức lương cao hơn

+ Kinh nghiệm: Đây là yếu tố quan trọng luôn được chú ý đến khi người sử

dụng lao động làm việc với người lao động Lao động có kinh nghiệm sẽ được xem trọng và chế độ đãi ngộ ưu ái hơn so với những người khác

+ Thành viên trung thành: Khi lao động là những người làm việc lâu năm hơn

những người khác trong tổ chức, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn và thăng trầm của tổ chức người lao động đó vẫn luôn đồng cam cộng khổ để vượt khó và giành được thắng lợi Thường cho họ hưởng phúc lợi, nghỉ lâu hơn các thành viên khác

+ Tiềm năng: Khi quy định mức lương cần quan tâm đến tiềm năng của người

lao động và nuôi dưỡng tiềm năng đó Có thể có người lao động chưa có kinh nghiệm hoặc chưa có khả năng làm được những công việc khó ngay nhưng trong tương lai họ

có tiềm năng thực hiện được Do đó, những người trẻ tuổi như những sinh viên tốt nghiệp có thành tích học tập giỏi có thể được trả lương cao bởi vì họ có tiềm năng trở thành người quản lý giỏi trong tương lai

+ Ngoài ra, mức lương còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khác như nhân

viên là bà con thân thuộc hay có thế lực trong xã hội… như thế thì tính công bằng trong việc trả lương sẽ bị hạn chế

Trong phạm vi chương này, người viết chỉ tìm hiểu khái quát những vấn đề chung liên quan đến tiền lương của người lao động Đây là những vấn đề có ý nghĩa rất thiết thực cho việc hiểu biết về tầm quan trọng của tiền lương đối với người lao động, giúp họ có cái nhìn tổng thể hơn trong mối quan hệ lao động ảnh hưởng đến quyền lợi của mình Song, trong chương sau người viết sẽ nghiên cứu những quy định của pháp luật liên quan đến tiền lương

Trang 31

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH VỀ TIỀN LƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRONG DOANH NGHỆP

Trong mỗi một giai đoạn lịch sử, bất kỳ đất nước đang phát triển trong nền kinh tế xã hội nào thì tiền lương vẫn giữ một vai trò quan trọng Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ hội nhập với nhiều vấn đề xã hội mới phát sinh, đặc biệt trong lĩnh vực lao động tiền lương, thì chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường càng trở nên quan trọng hơn, cấp thiết hơn Song, hiện nay vấn đề tiền lương đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của người lao động nói riêng, và của toàn xã hội nói chung Bởi lẽ, trên thực tế chính sách tiền lương và việc các doanh nghiệp trả lương cho người lao động vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế Do đó, bên cạnh việc tìm hiểu những quy định của pháp luật về tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp, người viết sẽ nêu ra thực trạng và một số hướng giải quyết cụ thể đối với chính sách tiền lương và việc tuân thủ pháp luật về tiền lương cho người lao động tại doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

Mục 1: Pháp luật về tiền lương cho người lao động

2.1.1 Mức lương tối thiểu trong doanh nghiệp:

+ Mức lương tối thiểu chung:

Là mức lương tối thiểu được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước; mọi mức lương, kể cả các mức lương tối thiểu khác, cũng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung

Hiện nay nước ta đang áp dụng mức lương tối thiểu chung là 730.000 đồng/tháng21

Mức lương này được áp dụng đối với: Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước và công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

21

Nghị định 28/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25-3-2010 quy định mức lương tối thiểu chung

Trang 32

Mức lương tối thiểu chung được dùng làm cơ sở để tính các mức lương trong

hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật

Mức lương tăng lên theo quy định tại Nghị định 28/2010/NĐ-CP là một sự điều chỉnh cần thiết và kịp thời để đảm bảo thu nhập cho người lao động trong điều kiện giá các mặt hàng tiêu dùng phụ vụ đời sống sinh hoạt đang có sự biến động như hiện nay

+ Mức lương tối thiểu vùng:

Là mức lương tối thiểu được áp dụng cho từng vùng lãnh thổ nhất định, căn

cứ trên mức lương tối thiểu chung và có tính đến các yếu tố đặt thù của vùng lãnh thổ

đó

Lương tối thiểu được phân theo vùng nhằm đảm bảo sức mua của tiền lương tối thiểu trong điều kiện các mức giá khác nhau cho cùng một hàng hoá Vùng nào phát triển hơn sẽ có mức lương tối thiểu cao hơn và ngược lại Với vùng phát triển thì hình thức phân bổ này làm tăng tính cạnh tranh về việc làm, thu hút được lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật Với vùng kém phát triển thì sẽ có cơ hội thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp Vì vậy, hình thức này sẽ đảm bảo được sức mua của tiền lương tối thiểu

Việc xác định vùng thường dựa trên các tiêu chí: chỉ số giá so sánh; GDP bình quân đầu người của địa phương đó so với toàn quốc; tỉ lệ hộ nghèo được xác định là

số hộ nghèo trong tổng số hộ gia đình của từng địa phương; mức tiêu dùng các loại hàng hoá bình quân đầu người của từng địa phương trong năm; tiền lương bình quân của các loại hình doanh nghiệp của địa phương so với toàn quốc; doanh thu bình quân của một doanh nghiệp; tỉ lệ lao động làm công ăn lương Những vùng có tiêu chí gần nhau thì sẽ được xếp vào chung một vùng

Đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước:

Theo Nghị định số 97/2009/NĐ-CP mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động, bao

Trang 33

: công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động

Mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các doanh nghiệp trên được quy định như sau23

địa bàn thuộc vùng IV

Tuy nhiên, theo quy định mới của Chính phủ tại Nghị định 108/2010/NĐ-CP ngày 29-10-2010 thì mức lương tối thiểu vùng đã có sự thay đổi, mức lương tối thiểu vùng tăng lên và thời gian bắt đầu áp dụng mức lương tối thiểu vùng mới sẽ được chia theo hai địa bàn, với hai mốc thời gian khác nhau24 Theo đó, đa số các địa phương bắt đầu thực hiện ngay từ ngày 01-01-2011, trừ một số địa phương sẽ áp dụng mức lương mới theo Nghị định 108/2010/NĐ-CP bắt đầu từ 01-7-2011, hiện tại vẫn áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 97/2009/NĐ-CP25

Mức lương tổi thiểu vùng mới theo Nghị định 108/2010/ NĐ-CP được quy định như sau:

Trang 34

Mức 1.350.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I

bàn thuộc vùng II

bàn thuộc vùng III

địa bàn thuộc vùng IV

 Đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam:

Tương tự như trường hợp người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay cũng hưởng mức lương tối thiểu vùng theo địa bàn và mốc thời gian quy định Đa

số người lao động được hưởng mức lưởng tối thiểu vùng mới theo Nghị định số 107/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29-10-2010, những người lao động tại một số địa bàn còn lại vẫn được áp dụng mức lương tối thiểu vùng cũ theo Nghị định số 98/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30-10-2009 (các địa bàn này đồng thời là các địa bàn chưa được áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định tại Nghị định số108/2010/NĐ-CP ngày 29-10-2010 của Chính phủ)

Theo Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30-10-2009 Quy định mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 theo các vùng như sau26

Trang 35

Mức 1.040.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III

bàn thuộc vùng IV

Sau đây là mức lương tối thiểu vùng được quy định tại Nghị định của Chính phủ số 107/2010/NĐ-CP, áp dụng đối với lao động Việt Nam làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam27

Trước đây, nước ta chỉ áp dụng mức lương tối thiểu chung cho cả nước Tuy nhiên, điều này không đảm bảo tính khách quan vì mỗi địa phương có tốc độ phát triển kinh tế và mức sống khác nhau, thậm chí có sự chênh lệch rất lớn Vì vậy, từ năm 2008 lương tối thiểu được quy định thành bốn vùng địa lý khác nhau dựa trên nghiên cứu về mức sống Các địa phương tự xếp mình vào nhóm thực hiện tiền lương tối thiểu nào và phân vùng trong nội bộ địa phương mình nhằm giúp các địa phương đánh giá sát hơn về tình hình thu nhập, mức sống của từng khu vực nhỏ

27

Nghị định của Chính phủ số 107/2010/NĐ-CP ngày 29-10-2010 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam

Trang 36

Song, trong từng thời kỳ nhất định, kinh tế mỗi vùng sẽ có nhiều thay đổi, do

đó có thể một số địa phương sẽ tăng từ vùng có lương tối thiểu thấp lên vùng cao Thế nên, vấn đề này cũng sẽ có phản ứng từ doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, thực tế điều tra 1.500 doanh nghiệp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội vào năm 2009, dù bị ảnh hưởng của suy giảm kinh tế nhưng 98% doanh nghiệp đều trả lương cho người lao động bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định Vì vậy, việc nâng vùng có thể sẽ không ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp trong khi đó sẽ bảo đảm được mức sống cho người lao động, nhất là những lao động ở những khu vực thị trấn, thị tứ, vùng giáp ranh28

Mức lương tối thiểu vùng nêu trên được áp dụng để tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động, thực hiện các chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật quy định

2.1.2 Hệ thống thang, bảng lương của người lao động trong doanh nghiệp

Thang lương, bảng lương và các chế độ phụ cấp là những nội dung quan trọng của chính sách tiền lương Việc xây dựng hệ thống thang, bảng lương và xác định hợp lý các mức phụ cấp theo lương phải xuất phát từ đặc điểm lao động khác nhau trong từng ngành nghề và trong điều kiện lao động cụ thể Tuy có vai trò khác nhau nhưng đều nhằm mục đích là bù đắp lao động hao phí, đảm bảo cuộc sống cho bản thân người lao động và gia đình họ Xuất phát từ quan điểm tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa người lao động và người

sử dụng lao động Do đó, tiền lương của công nhân được quy định riêng phù hợp với

bản chất của nó Trong doanh nghiệp, hệ thống thang, bảng lương được xây dựng như

sau:

+ Thang lương:

Thang lương bao gồm một số nhất định các bậc và những số tiền lương tương ứng Mỗi bậc trong thang lương thể hiện mức phức tạp và mức tiêu hao lao động của một công việc Công việc ít phức tạp và mức tiêu hao năng lượng ít nhất thì thuộc bậc thấp nhất, gọi là bậc khởi điểm

Pháp luật lao động bắt buộc việc thỏa thuận và trả lương trong mọi trường hợp không được thấp hơn mức lương tối thiểu, còn việc thỏa thuận và trả lương theo các

28

Theo ANTĐ: Lương tối thiểu năm 2011 sẽ có thay đổi về vùng, http://tintuc.xalo.vn/00595522937/Luong_ toi_thieu_nam_2011_Se_co_thay_doi_ve_vung.htm l?id=f81529&o=1150, [truy cập ngày 23-3-2010, theo www.ktdt.com.vn – 6 tháng trước]

Trang 37

bậc trong thang, bảng lương thì về cơ bản theo sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động Tuy vậy, căn cứ vào các tiêu điểm, cấp bậc kỹ thuật, hai bên vẫn phải cùng nhau xác định bậc lương của từng người lao động để làm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lương khi làm thêm giờ, làm đêm, ngừng việc nghỉ việc, nghỉ hàng năm và các trường hợp nghỉ khác của người lao động Đồng thời, đây cũng là cơ sở tính đơn giá tiền lương làm cơ sở hạch toán cho các doanh nghiệp

Hệ thống thang lương doanh nghiệp được xác định theo ngành, (hoặc một nhóm ngành) kinh tế kỹ thuật Trong đó các nghề phải có tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật

rõ ràng Trong một thang lương có một hoặc một số nhóm lương thể hiện điều kiện lao động nặng nhọc độc hại khác nhau của từng ngành nghề Mỗi nhóm lương có hệ

số mức lương bậc một thể hiện yêu cầu đào tạo ban đầu của nghề và hệ số bậc cao nhất thể hiện mức độ phức tạp của công việc trong nghề Số bậc và bội số thang lương phản ánh mức độ phức tạp kỹ thuật của mỗi ngành, nghề và được xác định căn

cứ vào nội dung công việc theo tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật

+ Bảng lương: Đối với công chức và viên chức của các doanh nghiệp, do có

những nghề và công việc không thể phân chia được các chế độ phức tạp, hoặc do đặc điểm của công việc phải bố trí lao động theo cương vị và trách nhiệm nên không thể

áp dụng theo thang lương mà phải áp dụng bảng lương Bảng lương cũng có bậc khởi điểm, có bội số của bảng lương Mỗi chức danh trong bảng lương có tiêu chuẩn nghiệp vụ và chuyên môn để làm căn cứ xếp lương của công chức nhà nước và viên chức doanh nghiệp Trong doanh nghiệp có các bảng lương sau:

những ngành nghề mà tiêu chuẩn cấp bậc không rõ ràng, không phân chia được nhiều mức độ phức tạp rõ rệt hoặc do đặc điểm của công việc phải bố trí công nhân theo cương vị và trách nhiệm công việc Mỗi chức danh trong bảng lương được xác định

theo một trình độ nhất định ứng với nội dung của công việc cụ thể

tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể cao hơn tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật các nghề đã áp dụng

thang lương

Giám đốc, Phó Giám đốc và Kế toán Trưởng và được xác định theo hạng doanh nghiệp Việc phân hạng doanh nghiệp căn cứ vào mức độ phức tạp quản lý và hiệu

Trang 38

quả sản xuất kinh doanh Mức độ phức tạp quản lý được thể hiện qua các chỉ tiêu vốn; trình độ công nghệ; phạm vi hoạt động hoặc các đầu mối quản lý; số lượng lao

động trong doanh nghiệp

các doanh nghiệp: được xác định theo cấp trình độ tương ứng ngạch chuyên môn,

nghiệp vụ hành chính sự nghiệp

Hệ thống thang lương doanh nghiệp do Nhà nước xây dựng được áp dụng trong các doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp khác có quyền lựa chọn áp dụng các thang, bảng lương này hoặc xây dựng thang, bảng lương riêng để áp dụng trong doanh nghiệp mình theo nguyên tắc do Nhà nước quy định

Song song với tiền lương, chế độ phụ cấp có vị trí quan trọng Chế độ này bao gồm những quy định của Nhà nước có tác dụng bổ sung tiền lương nhằm tính đến đầy

đủ những yếu tố không ổn định thường xuyên trong điều kiện lao động và điều kiện sinh hoạt mà khi xác định lương chưa tính hết Pháp luật lao động ghi nhận một số chế độ phụ cấp được áp dụng cho doanh nghiệp29

như: phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút… áp dụng nhằm bù đắp cho những người lao động làm việc trong vùng khí hậu xấu, xa xôi, hẻo lánh đi lại; nhằm khuyến khích đến làm việc ở những vùng kinh tế mới… Tùy vào từng điều kiện làm việc mà doanh nghiệp

áp dụng chế độ phụ cấp tương ứng cho người lao động

2.1.3 Hình thức trả lương

Tiền lương là thu nhập chính của người lao động, do đó phải đảm bảo bù đắp sức lao động của người lao động đã bỏ ra và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của họ Trong các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại lao động khác nhau, tính chất vai trò của từng loại lao động đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh lại khác nhau Vì thế mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức trả lương nào cho người lao động sao cho phù hợp với đặc điểm công nghệ, với trình độ năng lực quản lý của mình Mặt khác việc lựa chọn hình thức trả lương đúng đắn còn có tác dụng thoả mãn lợi ích người lao động, chấp hành tốt kỷ luật lao động nâng cao năng suất lao động giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí nhân công, hạ được giá thành sản phẩm Thường thì có hai hình thức được áp

29

Theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP, ngày 14-12-2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng

lương và chế độ phụ cấp lương trong các công ty nhà nước, có các loại phụ cấp: phụ cấp khu vực, phụ cấp thu

hút, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại, nguy hiểm

Trang 39

dụng là: hình thức trả lương theo thời gian và hình thức trả lương theo sản phẩm, ngoài ra còn có hình thức trả lương theo khoán30

+ Trả lương theo thời gian:

Là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian làm việc thực tế của người lao động 31

Trong các doanh nghiệp, thông thường người ta sử dụng hình thức tiền lương theo thời gian cho những bộ phận mà quá trình sản xuất đã được tự động hóa, những công việc chưa xây dựng được định mức lao động, những công việc mà khối lượng hoàn thành không xác định được hoặc những loại công việc cần thiết phải trả lương thời gian nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm như công việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, công việc sửa chữa thiết bị máy móc…

Hình thức trả lương theo thời gian có thể tính theo tháng, tuần, ngày, giờ Người lao động hưởng lương theo giờ, theo ngày và theo tuần sẽ được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc ấy, hoặc được trả gọp do hai bên thỏa thuận, nhưng ít nhất mười lăm ngày phải được trả gọp một lần Trường hợp người lao động hưởng lương theo tháng được trả lương cả tháng một lần hoặc nữa tháng một lần32

trả lương này được áp dụng khá phổ biến, nhất là đối với công chức, viên chức Trong các chế độ về tiền lương cũng thường quy định về mức lương tháng Trả theo lương tháng thì thu nhập tương đối ổn định, nhưng trong sản xuất kinh doanh có nhược điểm là không khuyến khích sự chuyên cần, không phản ánh năng suất lao động khác nhau giữa những người làm cùng một công việc, cho nên phải áp dụng thêm các loại bổ sung khác như tiền thưởng, phụ cấp…

tuần được xác định bằng cách nhân số giờ trong tuần với mức lương giờ hoặc nhân mức lương ngày với số ngày trong tuần hoặc lấy lương tháng nhân với 12 tháng rồi chia cho 52 tuần

Lương ngày được tính theo bậc lương đã xếp và trả theo số ngày làm việc trên thực

tế Hình thức trả lương theo ngày làm việc được áp dụng phổ biến trong sản xuất kinh

30

Khoản 1 Điều 58 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007)

31

Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Khoa Luật: Giáo trình luật Lao

động Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội – 1999, trang 227)

32

Khoản 2 và khoản 3 Điều 58 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007)

Trang 40

doanh đối với công dân, thường được áp dụng để trả lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập và làm các nghĩa vụ khác hoặc cho người lao động ngắn hạn Trả lương theo ngày khắc phục được một phần nhược điểm của việc trả lương theo tháng Nước ta có chủ trương áp dụng lương ngày từ đầu năm 1995 Lương ngày

ở nước ta được tính từ lương tháng, chia lương tháng cho 26 ngày (lấy lương tháng nhân với 12 tháng rồi chia cho tích của 12 tuần và 6 ngày) Những ngày lễ chưa trừ

ra, nên ngày lễ được nghĩ thì vẫn được hưởng lương

tính từ lương ngày thì chia lương ngày cho số giờ chính thức của doanh nghiệp ấn định cho ngày lao động (ca làm việc) Lương giờ được áp dụng để trả lương cho người lao động trực tiếp trong thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm

Ưu điểm của mức lương giờ là phản ánh tương đối chuẩn xác tiêu hao lao động mỗi đơn vị giờ lao động, tiện áp dụng để tính toán tiền lương giờ làm thêm, số tiền lương những giờ tiếp xúc trực tiếp với những điều kiện lao động không bình thường như nóng, độc hại… số tiền lương phải trừ cho những giờ vắng mặt tại nơi làm việckhông được phép, hoặc để thuê mướn nhân công làm việc trong ngày không theo tổ chức sản xuất và lao động tương ứng

Ngoài ra, ở một số nước phát triển có áp dụng hình thức trả lương theo năm Hình thức này được áp dụng đối với những nhân viên công vụ, đặc biệt là cấp cao Trả lương theo hình thức này ổn định hơn các loại lương tháng, lương ngày… Tuy nhiên, pháp luật nước ta chưa có quy định về hình thức này

Nhìn chung, hình thức trả lương theo thời gian có nhiều tác động tích cực như tiến hành đơn giản, tín toán nhanh… Bên cạnh đó, hình thức này vẫn tồn tại nhiều hạn chế nhất định, hạn chế lớn nhất của hình thức trả lương này là không gắn liền giữa chất lượng và số lượng lao động mà người công nhân đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm Nói cách khác, phần tiền lương mà người lao động được hưởng không gắn liền với kết quả lao động mà họ tạo ra Chính vì lẽ đó, nên hình thức tiền lương theo thời gian đã không mang lại cho người công nhân sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình, không tạo điều kiện thuận lợi để uốn nắn kịp thời những thái độ sai lệch và không khuyến khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tiết kiệm thời gian trong quá trình làm việc Do đó, để khắc phục một phần nhược điểm này, lương theo thời gian có thể được chia theo hai loại như sau: lương theo thời gian giản đơn và lương theo thời gian có thưởng Áp dụng lương theo thời gian có thưởng khuyến khích tốt hơn sự nỗ lực của bản thân người lao động, tăng năng suất, tăng

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w