1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUYỀN THỪA kế KHÔNG PHỤ THUỘC vào nội DUNG DI CHÚC LUẬT THỰC ĐỊNH và NHỮNG vấn đề còn lại

69 312 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 706,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuLỜI NÓI ðẦU Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một quy ñịnh ñặc biệt của pháp luật về thừa kế, có tác d

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN TƯ PHÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 29 (2003 – 2007)

QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC: LUẬT THỰC ðỊNH VÀ NHỮNG VẤN ðỀ CÒN LẠI

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

T.s Nguyễn Ngọc ðiện Lê Thị Thảo

MSSV: 5032087 LỚP: Luật Tư pháp 02-k29

1 Caàn Thô,

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

  

Giảng viên hướng dẫn

Nguyễn Ngọc ðiện

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

  

Giảng viên phản biện

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

4 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HðTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội ñồng thẩm phán

Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia ñình

5 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HðTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội ñồng Thẩm

phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy ñịnh của

6 Pháp lệnh thừa kế năm 1990

6 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000

7 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa ñổi bổ sung năm

2001

 Sách

1 Dương Bạch Long – Nguyễn xuân Anh – Tìm hiểu các quy ñịnh của pháp luật về

thừa kế – Hà Nội – chính trị quốc gia – 2005

2 Giáo trình luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam – Hà Nội – 1994

3 Lê Kim Quế - 108 câu hỏi ñáp pháp luật về thừa kế theo Bộ luật dân sự của năm

2005 – Hà Nội – chính trị quốc gia – 2006

4 Nguyễn Ngọc ðiện – Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam – 1st

9 Nguyễn Xuân Việt Bình – tìm hiểu một số vấn ñề về quyền thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc – Luận văn

 Báo, tạp chí

1 Tạp chí luật học số 4/2003

2 Tạp chí luật học số 6/2004

3 Tạp chí luật học số 2/2005 (số 3)

4 Tạp chí Toà án nhân dân tháng 12/2005 (số 24)

5 Tạp chí Toà án nhân dân tháng 7/2006 (số 13)

6 Tạp chí Toà án nhân dân tháng 10/2006 (số 19)

7 Tuyển tập công trình nghiên cứa ðại học Cần Thơ 1999

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

8 Lý luận Nhà nước và pháp luật số 6/2003

9 Tạp chí nghiên cứu lập pháp 11/2005 số 11

10 Tạp chí dân chủ và pháp luật 7/2005

11.Báo pháp luật, báo tuổi trẻ, báo Hậu Giang

 Website

1 Báo tuổi trẻ (http://www.tuoitre.com.vn)

2 Báo nhân dân (http://www nhandan.org.vn)

3 Báo thanh niên (http://www thanhnien.com.vn)

4 Báo ñiện tử Việt Namnet (http://www.Vietnamnet.com.vn)

5 ðảng cộng sản Việt Nam (http://www cpv.org.vn)

6 Luật Việt Nam (http://www luatvietnam.com vn)

 Ngoài ra còn có:

+ Tòa án nhân dân tối cao - Báo cáo tổng kết của ngành Tòa án năm 2006

+ Tòa án nhân dân Tỉnh An Giang – Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2006

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI NÓI ðẦU 7

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT 9

PHẦN MỞ ðẦU 10

1 SỰ HÌNH THÀNH QUYỀN SỞ HỮU KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC 10

2 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNGDICHÚC 11

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 13

XÁC LẬP QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC NỘI DUNG DI CHÚC 13

1.CHỦ THỂ CỦA QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤC THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC 13

1.1 ðiều kiện chung ñối với quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 13

1.2 ðiều kiện riêng ñối với quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 25

2 CƠ CHẾ PHÁP LÝ CỦA QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤC THUỘC VÀO NỘI DUNGDICHÚC 35

2.1 Khái niệm “hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật” 35

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.2 Cấu tạo suất thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 36

CHƯƠNG 2 45

THỰC HIỆN QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC 45

2.1.THANHTOÁNTÀISẢN 45

1.1 Yêu cầu cắt giảm 45

1.2 Xác ñịnh các thừa kế có thể bị cắt giảm 48

2.2.PHÂNCHIADISẢNVÀHỆQUẢCỦAVIỆCPHÂNCHIA 54

2.1 Thực hiện việc phân chia 54

2.2 Thời ñiểm xác lập quyền sở hữu 61

PHẦN KẾT LUẬN 68

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI ðẦU

Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một quy ñịnh ñặc biệt của

pháp luật về thừa kế, có tác dụng làm hạn chế quyền tự do ý chí của người ñể lại di sản

trong việc quyết ñịnh phân phối tài sản cho những người thụ hưởng Thoạt trông, quy

ñịnh này có vẻ trái với nguyên tắc tự do ý chí của người có di sản tạo ra sự bất bình ñẳng

Tuy nhiên, nếu xem xét trong mối quan hệ với các giá trị chuẩn mực ñạo ñức xã hội, thì

dừng như sự giới hạn nhất ñịnh ñặt ra ñối với quyền tự do ý chí, chính tình trạng bất bình

ñẳng ấy lại là biểu hiện bề ngoài của sự bình ñẳng bên trong theo nghĩa rộng∗ Tạo ra mối

quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong gia ñình ðồng thời nó thể hiện những giá trị

ñạo ñức mang tính truyền thống của dân tộc

Vấn ñề thừa kế nói chung và quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

nói riêng trong thực tế xảy ra tranh chấp rất phổ biến Tuy nhiên, việc tiến hành các công

trình nghiên cứu về vấn ñề này chưa ñược quan tâm ñúng mức và phần lớn các cồng trình

nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức ñộ hỏi ñáp hoặc chỉ là những bài viết ngắn, sơ lược về một

số nội dung, riêng lẻ không có tính hệ thống Người viết lựa chọn ñề tài “Quyền thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc: Luật thực ñịnh và vấn ñề còn lại” trước hết là

nhằm mục ñích khái quát những vấn ñề của luật thực ñịnh, ñặt chúng vào trong mối quan

hệ với thực tiễn, qua ñó hình thành các kiến thức chính xác về chế ñịnh này, giúp cho việc

tìm ra những vấn ñề còn tồn tại và tìm ra giải pháp vận dụng nó trở lại thực tiễn dễ dàng

và ñúng ñắn hơn

Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng các phương pháp suy luận khoa

học và phương pháp nghiên cứu luật viết ñể tìm hiểu và nắm bắt nội dung của ñề tài

ðồng thời, vận dụng những nội dung những quy ñịnh ñó vào những trường hợp, giả

thuyết khác nhau ñể tìm hiểu vấn ñề và phối hợp vận dụng các quy ñịnh pháp luật có liên

hệ ñể giải quyết những vần ñề phức tạp mà nếu như chỉ bám sát vào câu chữ của luật thì

không thể ñạt ñược kết quả thoả ñáng Tuy nhiên, do ñề tài ít thu hút ñược sự quan tâm

của các nhà làm luật nên người viết gặp rất nhiều khó khăn trong việc sưu tầm các nguồn

tài liệu liên quan ñể tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu trước, ñồng thời ñề tài ñược

làm trong lúc Bộ luật dân sự mới vừa ñược ban hành mà các vụ án xảy ra lại trước khi Bộ

luật mới có hiệu lực nên việc áp dụng giải quyết vấn ñề gặp không ít khó khăn và cũng do

∗ Ts Nguyễn Ngọc ðiện – Quyền chủ thể ñặc quyền và quyền ưu tiên

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sự hạn chế của chính người thực hiện ñề tài vẫn chưa có khả năng khái quát ñược nhiều

mặt khác nhau của vần ñề vì vậy không tránh khỏi bài viết còn những thiếu sót và chưa

hoàn thiện, rất mong ñược sự thông cảm của quý thầy cô Em xin chân thành cảm ơn quý

thầy cô ñã tận tình giúp ñỡ em trong quá trình thực hiện ñề tài này Theo hướng dẫn của

giảng viên thì ñề tài ñược trình bày thành những nội dung lớn như sau:

Phần mở ñầu

Phần nội dung

Chương 1: Xác lập quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Chương 2: Thực hiện quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Phần kết luận

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

  

BLDS: Bộ luật dân sự 2005

Luật HN-Gð: Luật hôn nhân và gia ñình 2000

R: phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, gồm:

P: phần di sản không ñược ñịnh ñoạt trong di chúc

D: phần di sản người thừa kế ñược hưởng theo di chúc

C: phần cắt giảm các thừa kế theo di chúc khác

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

PHẦN MỞ ðẦU

1 SỰ HÌNH THÀNH QUYỀN SỞ HỮU KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI

DUNG DI CHÚC

Không ai có thể sống mãi mãi, ñến một lúc nào ñó khả năng sở hữu gắn liền với cá

nhân cũng chấm dứt cùng với sự tồn tại của cá nhân ñó Và ñược xem như biện pháp tối

thiểu ñể bảo vệ quyền lợi người chết, ngành luật dân sự ñã giữ gìn quyền lợi này bằng

cách mà theo ñó ý nguyện của người chết mà có ñể lại tài sản ñể lại sẽ ñược những người

còn sống tôn trọng và thực hiện ñầy ñủ, theo ñó tài sản của người này sẽ ñược sử dụng

hoặc chuyển ñi theo ñúng ý chí của họ mà không ai có quyền can thiệp Thoạt trông có vẻ

như quy tắc này hoàn toàn không có vấn ñề gì do ñã bảo ñảm tốt nhất quyền lợi của người

có tài sản ñể lại Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể mà ý chí của người có quyền

ñược xem xét mối quan hệ với các giá trị chuẩn mực ñạo ñức xã hội, thì dường như cần

thiết phải có một giới hạn nhất ñịnh, cần phải ñặc ra ñối với quyền tự do ý chí này ñảm

bảo cho các mối quan hệ ñó ñược cân bằng

Con người một khi ñã tồn tại, nhất thiết phải nằm trong mối quan hệ huyết thống và

nhân thân gần gũi với một người hoặc một nhóm người, những mối quan hệ này theo

truyền thống của dân tộc ta thì lúc nào cũng ñược xem là ñiều thiêng liêng ràng buộc các

chủ thể với nhau bảo vệ nhau Quá trình phát triển của xã hội cho thấy những yêu cầu ñối

với người lập di chúc phải chỉ ñịnh những người thân là người thừa kế là ñiều cần thiết

Giả sử người chết có ñể lại tài sản ñã không quan tâm việc thực hiện nghĩa vụ của mình

ñối với những người có mối quan hệ như vừa nêu trên Khi ñó một mặt người này ñược

xã hội tôn trọng và bảo vệ song ngược lại họ ñã vi phạm nghĩa vụ mang tính ñạo lý,

không tôn trọng các chuẩn mực chung của xã hội và sự công bằng ñã không ñược ñảm

bảo Chính vì thế, trong những trường hợp cụ thể cần phải chịu sự chi phối của một số

ñiều kiện ràng buộc, nếu như những ñiều kiện ñó không ñược tôn trọng thì ý chí của

người ñể lại di sản không ñược thực hiện, hoặc thực hiện không ñầy ñủ Lý luận này là

tiền ñề cho sự ra ñời của chế ñịnh quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc,

là cơ sở ñể bảo vệ những giá trị ñạo ñức mà tưởng xã hội nói chung cho rằng cần thiết

phải bảo vệ và duy trì ñể ñảm bảo sự ổn ñịnh gia ñình công bằng cho xã hội

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC

VÀO NỘI DUNG DI CHÚC

Chế ñịnh quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc xuất hiện ñầu tiên

trong pháp lệnh thừa kế ngày 30-08-1990 và ñược lấy lại trong Bộ luật dân sự 1995 và Bộ

luật dân sự 2006, và thực tiễn cho thấy hầu như có rất ít công trình nghiên cứu về ñề tài

này Trong phạm vi ñề tài này, người viết chỉ cố gắng khái quát các khía cạnh cơ bản của

chế ñịnh này dựa trên quy ñịnh tại ðiều 669 Bộ luật dân sự 2005 và có hiệu lực ngày 01-01-2006

ðiều 669 quy ñịnh “những người sau ñây vẫn ñược hưởng phần di sản bằng hai

phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản ñược chia theo pháp luật,

trong trường hợp họ không ñược người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng

phần di sản ít hơn hai phần ba suất ñó, trừ khi họ là những người không có quyền hưởng

di sản theo quy ñịnh tại ðiều 642 hoặc quy ñịnh tại khoản 1 ðiều 643 của Bộ luật này;

Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

Con ñã thành niên mà không có khả năng lao ñộng.”

Trong gia Việt Nam, thường thì tài sản thuộc về gia chủ, và tài sản thường do các

thành viên trong gia ñình cùng tạo ra và nếu người chủ gia ñình ñịnh ñoạt tài sản cho một

người hoặc cho người không phải là thành viên trong gia ñình thì những thành viên trong

gia ñình sẽ không ñược hưởng một chút tài sản nào do chính mình tạo ra Pháp luật ñã

quy ñịnh và bảo vệ quyền lợi của một số người thừa kế theo pháp luật khi mà thuần phong

mỹ tục, ñạo ñức con người bị xuống cấp, tình cảm gia ñình không còn ñược thực hiện tự

nguyện

Nếu trong cùng một lúc có ñồng thời tất cả các chủ thể nêu trên ñều tham gia vào

việc nhận di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc, thì cần phải hiểu rằng các chủ thể

này có quyền yêu cầu ngang nhau, và ñược gọi ñể nhận di sản cùng một lúc Mỗi người

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc sẽ hưởng quyền của mình một cách ñộc lập

so với những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc khác, có bao nhiêu chủ

thể ñủ ñiều kiện hưởng ñược quyền lợi này thì có bấy nhiêu phần di sản ñược hưởng

không phụ thuộc vào nội dung di chúc phần của người nào ñược hưởng thì dành riêng cho

người ñó

Bên cạnh ñó quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cũng không tồn

tại ở tất cả các cá nhân mà nói chỉ ñược thừa nhận ở một số ñối tượng nhất ñịnh mà theo

quan niệm xã hội có mối quan hệ gần gũi, với người ñể lại di sản ðặc ñiểm về nhân thân

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

này tạo ra sự khác biệt với quyền thừa kế của cá nhân và làm cho quyền thừa kế không

phụ thuộc vào nội dung di chúc trở thành một quyền nhân thân ñặc biệt

Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ xuất hiện trong việc thừa

kế theo di chúc, người ñể lại di sản thể hiện ý chí của mình bằng một di chúc có hiệu lực

pháp luật Quyền ñược hình thành trong nổ lực tìm kiếm giải pháp bảo vệ hợp lý cho một

số chủ thể khi người ñể lại di sản lạm dụng quyền tự do ñịnh ñoạt của mình trong việc ñể

lại di sản Tuy nhiên không hoàn toan giống như quyền thừa kế của cá nhân có thể bị phủ

nhận bởi người ñể lại di sản bằng cánh lập di chúc, quyền lợi mà các chủ thể mang quyền

ñược hưởng là do pháp luật phủ nhận ñối với ý chí của cá nhân người ñể lại di sản, do ñó

quyền thừa kế này có tính chất như một nghĩa vụ tài sản ñặc biệt của người ñể lại di sản

và nghĩa vụ ñó gắn liền với một bộ phận nào ñó trong khối di sản Vì vậy nếu như cần

phải xác ñịnh giá trị của quyền lợi ñặc biệt này thì nó phải ñược xác ñịnh trên toàn bộ giá

trị của khối di sản của người thừa kế

ðồng thời chỉ xuất hiện nếu quyền lợi của chủ thể mang quyền không ñược ñảm

bảo Tuy nhiên, mặc dù ñiều kiện ñược ñặc ra là các chủ thể của quyền thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc phải ñược bảo ñảm quyền lợi hợp lý nhưng họ không thể tự

ñưa ra các tiêu chuẩn về các giá trị hợp lý, mà chỉ có thể nhận một phần nhỏ (theo quy

ñịnh thì chỉ có hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản ñược

chia theo pháp luật) trong khối di sản, nếu không nó sẽ là một nghịch lý: ðặc quyền của

một người không phải là chủ sở hữu lại lớn hơn quyền sở hữu của người chủ sở hữu

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

XÁC LẬP QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC

VÀO NỘI DUNG DI CHÚC

1 CHỦ THỂ CỦA QUYỀN THỪA KẾ KHÔNG PHỤC THUỘC VÀO NỘI DUNG

DI CHÚC

1.1 điều kiện chung ựối với quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

1.1.1 Sự tồn tại của chủ thể mang quyền

Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ựược ghi nhận như ngoại lệ

của nguyên tắc tự do ý chắ của người ựể lại di sản cho người thừa hưởng Chắnh vì vậy,

quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ có thể giới hạn trong những ựối

tượng mà xã hội cho là có quan hệ thân thuộc và huyết thống gần gũi với người ựể lại di

sản

Trong điều 669 Bộ luật dân sự ựã xác ựịnh cụ thể những ựối tượng mà người có di

sản phải có nghĩa vụ ựể lại một phần đó là: cha, mẹ, vợ, chồng và con chưa thành niên

hoặc con ựã thành niên nhưng không có khả năng lao ựộng, ta có thể thấy điều 669 ựã

quy ựịnh rất rõ ràng.Vì vậy xác ựịnh như vậy là phù hợp với truyền thống ựạo ựức xã hội,

không có gì ựể bàn trong việc xác ựịnh nhóm chủ thể của quyền đó là những ựối tượng

có quan hệ huyết thống và hôn nhân trực tiếp ựối với người ựể lại di sản theo truyền thống

người Việt Nam thì không có lý do gì mà người có tài sản lại ựem lợi ắch của mình cho

những ựối tượng khác và không mang lại quyền lợi cho những người ựược xem là gần gũi

với mình Tuy nhiên, vấn ựề xác ựịnh tư cách của chủ thể mang quyền không mấy dễ

dàng, theo khoản 1 điều 635 quy ựịnh Ộngười thừa kế là cá nhân phải là người còn sống

vào thời ựiểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời ựiểm mở thừa kế nhưng ựã

thành thai trước khi người ựể lại di sản chếtỢ, ựiều luật chưa quy ựịnh cụ thể về trường

hợp nào trẻ ựược xem là Ộsinh ra và còn sốngỢ tôi thấy nên phân tắch vấn ựề này vì nó có

ảnh hưởng trực tiếp ựến quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc

Vắ dụ: A có vợ là B sau ựó bị Tòa án tuyên hủy hôn nhân trái pháp luật, trước khi

chết A lập di chúc ựịnh ựọat toàn bộ tài sản cho anh trai, khi ựó nếu con của A và B sinh

ra chết ngay không ựược khai sinh thì toàn bộ di sản của A sẽ thuộc về anh trai A, B

không có quyền yêu cầu ựược nhận phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

và con của B cũng không Trong trường hợp ngược lại, con A ựược khai sinh thì B có thể

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đại diện cho con mình viện dẫn quyền yêu cầu được nhận phần thừa kế khơng phụ thuộc

vào nội dung di chúc và nhận 2/3 khối di sản và cuối cùng thì phần di sản đĩ được giao

cho B (B là người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất của con mình) Giả định hơn

nhân của A và B hợp pháp khi A giao tồn bộ di sản cho anh trai con A được khai sinh thì

phần của B nhận là 1/2*2/3cộng thêm 1/2*2/3 phần của con mình, vẫn là 2/3 khối di sản

Như vậy, việc cĩ khai sinh cho trẻ hay khơng cĩ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của chủ

thể mang quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc Chính vì vậy theo tơi, nên

vận dụng quy định ðiều 23 của nghị định 158/2005 Nð-CP ngày 27/12/2005 của chính

phủ về đăng ký hộ tịch “trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết thì phải

đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử”, từ đĩ ta cĩ thể xác định được trong thời gian được

coi là sinh ra và cịn sống của đứa trẻ là 24 giờ trở lên

Như vậy, nếu người đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế hoặc thành thai trước

thời điểm mở thừa kế thì mặc nhiên người này được coi là con cháu của người đã chết

ðiều 63 Luật hơn nhân và gia đình 2000 quy định “con sinh ra trong thời kỳ hơn nhân

hoặc do người vợ cĩ thai trong thời kỳ đĩ là con chung của vợ chồng” Mặt khác, Nghị

định 70 Nð-CP của Chính phủ quy định: Muốn xác định người con sinh ra sau khi bố

chết đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế hay chưa thì trong thực tiễn người ta dùng

phương pháp suy đốn pháp lý là thai nhi đã tồn tại tối đa là 300 ngày kể từ thời điểm mở

thừa kế ðứa trẻ sinh ra trước thời điểm mở thừa kế thì đứa trẻ đĩ được hưởng thừa kế

Ngược lại nếu đứa trẻ sinh ra sau thời điểm mở thừa kế thì phải trong vịng 300 ngày kể

từ thời điểm mở thừa kế mới được hưởng di sản Vì theo ý chí của nhà làm luật “đứa trẻ

đang là thai nhi hưởng di sản” cho nên sau 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế mà đứa

trẻ mới sinh ra thì cĩ nghĩa là khi mở thừa kế chưa cĩ thai nhi do vậy, đứa trẻ đĩ khơng

được hưởng thừa kế

Như vậy, pháp luật đã dự liệu trường hợp người thừa kế là thai nhi mặc dù chưa

sinh ra ở thời điểm mở thừa kế nhưng được hưởng di sản nếu sinh ra sau thời điểm mở

thừa kế khơng quá 300 ngày và cịn sống ðây là nguyên tắc tơn trọng đạo đức và truyền

thống tốt đẹp của luật dân sự Việt Nam thể hiện tính nhân văn của pháp luật nước ta

Song, cần lưu ý rằng vấn đề xác định con sinh ra trong thời kỳ hơn nhân trong

trường hợp sinh con ra theo phương pháp khoa học như sau:

Hiện nay, theo quy định của pháp luật nếu người gửi tinh trùng bị chết thì cở sở lưu

giữ tinh trùng của người đĩ phải hủy số tinh trùng của người đĩ (khoản 2 ðiều 18 Nghị

định của chính phủ) Việc lưu giữ tinh trùng thực hiện trong quá trình cặp vợ chồng vơ

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sinh thực hiên kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Khoản 1 ðiều 20 “ trẻ ra đời do thực hiện kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản phải được sinh ra từ người mẹ trong cặp vợ chồng vơ sinh hoặc người phụ

nữ độc thân” Nếu trong quá trình tiến hành đã ra được tạo phơi nhưng chưa đưa vào tử

cung của người vợ thì người chồng chết đồng thời mở thừa kế, nếu xét thuần tuý về mặt

pháp lý thì người vợ đang khơng mang thai1 Vì vậy nếu người chồng khơng mai chết mà

cơ sở lưu giữ tinh trùng vẫn cịn giữ số tinh trùng của người chồng đĩ, liệu cĩ phù hợp

khơng khi cĩ sự bày tỏ ý chí của người vợ vẫn muốn tiếp tục việc sinh con Theo tơi, nếu

hai vợ chồng đã thể hiện sự đồng ý sinh con nhờ biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng văn bản

thì khi người chồng chết, người vợ vẫn cĩ quyền đề nghị việc tiếp tục sinh con, người vợ

phải cĩ quyền đối với số tinh trùng đang được lưu giữ Và để bảo vệ quyền thừa kế khơng

phụ thuộc vào nội dung di chúc của đứa con thì phải quy định một biệt lệ khi áp dụng thời

gian sinh con tối đa trong trường hợp chấm dứt hơn nhân trên Như đã đề cập, thơng

thường là khơng quá 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế Nhưng trong trường hợp con

sinh ra bằng phương pháp khoa học thì thời gian này cĩ thể kéo dài hơn phụ thuộc vào

biện pháp hỗ trợ sinh sản

Như vậy, Trong hai trường hợp đã nêu thì đừa trẻ ra đời vẫn được xác định là con

chung của vợ chồng và quyền thừa kế nĩi chung hay quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào

nội dung di chúc nĩi riêng của đứa trẻ được bảo đảm

Bên cạnh đĩ hiểu như thế nào về “người cịn sống vào thời điểm mở thừa kế” đặc

biệt là trong trường hợp những người thừa kế chết mà khơng xác định được ai chết trước

ai chết sau, thực tế cho thấy việc xác định thời điểm chết của từng người rất khĩ khăn, vì

thời gian họ chết cách nhau rất ngắn và sau thời gian dài mới xảy ra tranh chấp, trong các

trường hợp này căn cứ đáng tin là giấy chứng tử, nhưng trong nhiều trường hợp giấy

chứng tử khơng ghi cụ thể giờ phút chết ðiều 641 quy định trong trường hợp những

người cĩ quyền thừa kế di sản của nhau mà chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi

là chết trong cùng một thời điểm do khơng xác định được người nào chết trước, thì họ

khơng được hưởng di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người

đĩ hưởng

Nếu như việc xác định con trong thời kỳ hơn nhân được suy đốn là 300 ngày thì

theo tơi ở quy định này chúng ta nên tham khảo nguyên tắc suy đốn pháp lý trong luật

của Pháp “đối với những người dưới 15 tuổi thì người nhiều tuổi hơn được suy đốn là

1 Theo tạp chí luật học số tháng 03 năm 2006

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chết sau, trên 60 tuổi thì người ít tuổi hơn được suy đốn là chết sau, nếu đàn ơng và đàn

bà khơng chênh nhau quá 3 tuổi thì đàn ơng được suy đốn là chết sau đàn bà” Tơi cho

rằng đây là một nguyên tắc phù hợp với cách xác định tuổi thọ của người Việt Nam

Bên cạnh đĩ, theo tơi vấn đề xác định về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế cũng

ảnh hưởng đến việc xác định “ai chết trước ai chết sau” để xác định chủ thể cĩ quyền thừa

kế khơng phụ thuộc vào nội dụng di chúc Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu

chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác

là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Trong thực tiễn, khi áp dụng cĩ nhiều cách hiểu

khác nhau về vấn đề này

Theo quy định ðiều 156 Bộ luật dân sự “thời hiệu được tính kể từ ngày bắt đầu

ngày đầu tiền và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu”

Ví dụ: Ơng A chết vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 01/01/1997 cĩ hai cách xác định

thời hiệu khởi kiện như sau:

Cách 1: Thời hiệu được xác định từ 0 giờ 00 phút ngày 02/01/1997 và kết thúc vào

24 giờ 00 phút ngày 02/01/2007 (ngày 02/01/1997 là ngày đầu tiên tiếp sau ngày xảy ra

sự kiện ơng A chết)

Như vậy, thời điểm mở thừa kế được tính lùi là 0 giờ 00 phút ngày 02/01/1997 Nếu

vậy, những người thừa kế của ơng A chết sau 15 giờ 00 phút ngày 01/01/1997 đến trước 0

giờ 00 phút ngày 02/01/1997 đều khơng cĩ quyền hưởng phần di sản khơng phụ thuộc

vào nội dung di chúc của ơng A vì bị coi là chết trong cùng một thời điểm với ơng A

Cách 2: Thời hiệu của quyền thừa kế được xác định theo giờ người để lại di sản

chết

Ví dụ: Ơng A chết lúc 15 giờ 00 phút ngày 1997 thời hiệu khởi kiện được xác định

bắt đầu từ 15 giờ 00 phút ngày 01/01/1997 và kết thúc vào 24 giờ 00 phút ngày

01/01/2007 cách xác định này dẫn đến hệ quả: Những người chết trước 15 giờ 00 phút

ngày 01/01/1997, hoặc chết cùng thời điểm đĩ khơng phải là người thừa kế của người để

lại di sản, nếu chết sau 15 giờ 00 phút ngày 01/01/1997, thậm chí chết sau chỉ một thời

gian ngắn vẫn là người thừa kế của người để lại di sản Cách xác định phù hợp với quy

định tại ðiều 645, bảo vệ quyền lợi của người chết sau người để lại di sản

Như vậy, theo tơi cần phải dung hịa hai cách hiểu này: Thời hiệu khởi kiện về

quyền thừa kế sẽ được tính bắt đầu từ thời điểm của ngày tiếp theo ngày xảy ra sự kện

người để lại di sản chết và do đĩ thời điểm kết thúc là thời điểm kết thúc ngày tương ứng

10 năm sau (như cách 1) Tuy nhiên, phải hiểu thời điểm mở thừa kế là thời điểm được

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

xác ñịnh bằng giờ người ñể lại di sản chết, tại thời ñiểm ñó xác ñịnh ngày thừa kế di sản

của người chết, có như thế mới bảo vệ ñược quyền lợi của người thừa kế nói chung và

quyền lợi của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nói riêng

1.1.2 Không ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản

Ngoài những ñiều kiện trên ñồng thời các chủ thể mang quyền nêu trên họ cũng

phải ñáp ứng ñược những yêu cầu ñược ghi nhận ở ðiều 643 “người không ñược quyền

hưởng di sản” Nếu họ có một trong các hành vi sau thì không ñược quyền hưởng phần di

sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc Những trường hợp người thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc không ñược quyền hưởng di sản

- Những người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về

hành vi ngược ñãi nghiêm trọng hành hạ người ñể lại di sản, xâm phạm nghiệm trọng ñến

danh dự nhân phẩm của người ñó Cần chú ý rằng trong trường hợp này phải có bản án có

hiệu lực của tòa án, việc không cho hưởng di sản không phụ thuộc vào mức hình phạt mà

họ phải gánh chịu

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người ñể lại di sản

ðể xác ñịnh như thế nào là nghĩa vụ nuôi dưỡng cần phải dựa vào quy ñịnh của

Luật hôn nhân và gia ñình gồm: cha, mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên và

con ñã thành niên không có khả năng lao ñộng; con có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ; ông

bà có nghĩa vụ nuôi cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ; cháu

có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà nếu ông bà không còn con; anh chị em có nghĩa vụ ñùm

bọc lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ Và trường hợp cha hoặc mẹ bị hạn chế

quyền làm cha làm mẹ ñối với con chưa thành niên, thì không ñược hưởng phần thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc của con Tuy nhiên người bị hạn chế quyền làm

cha làm mẹ ñối với con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con, ñồng nghĩa với việc

con vẫn ñược thừa kế phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của cha mẹ

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm ñến tính mạng của người thừa kế khác

nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản mà người thừa kế ñó có quyền hưởng

Người bị tước quyền hưởng thừa kế trong trường hợp này phải là người phạm tội

giết người thừa kế khác với ñộng cơ chiếm ñoạt phần di sản mà ñúng ra người thừa kế ñó

ñược hưởng Trong trường hợp này cần có một bản án có hiệu lực pháp luật liên quan ñến

việc phạm tội Ngoài ra, việc ñưa ra áp dụng quy tắc này còn tuỳ thuộc vào việc có chứng

minh ñược hay không ñộng cơ phạm tội, kẻ giết người phải là người có quyền thừa kế của

người bị giết với ñộng cơ làm tăng thêm phần di sản mà mình ñược hưởng

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người ñể lại di sản trong việc

lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di

chúc trái với ý chí của người ñể lại di sản

Luật chỉ quy ñịnh bốn trường hợp người thừa kế không có quyền hưởng di sản nêu

trên Vì vậy nếu họ vi phạm những quy ñịnh khác của bộ luật hình sự thì vẫn không ảnh

hưởng ñến quyền hưởng di sản nói chung và quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung

di chúc nói riêng Có thể nhận thấy rằng các ñiều kiện ñược nêu trong khoản 1 ðiều 643,

ñược các nhà làm luật xây dựng dựa trên những giá trị ñạo ñức ñược xem như là yêu cầu

tối thiểu mà người thừa kế phải có và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc cũng không ngoại lệ Vì nền tảng cho quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung

di chúc chính là mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, chặt chẽ với người

ñể lại di sản

ðiều 669 ñã ñặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết này bằng việc quy ñịnh rõ chủ thể

mang quyền sẽ không ñược hưởng phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc nếu

là những người không có quyền hưởng di sản theo quy ñịnh tại khoản 1 ðiều 643

Ví dụ: A có vợ là B, A lập di chúc quyết ñịnh giao toàn bộ di sản cho C (người tình

của A) B giận xé bỏ di chúc Nếu áp dụng khoản 1 ðiều 643, thì B không có quyền

hưởng phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc, C sẽ nhận trọn di sản Thật ra,

quyết ñịnh của người chồng phi ñạo ñức hơn hành vi của người vợ, ta vẫn phải tôn trọng

quy ñịnh của pháp luật vì thật ra nhà làm luật chỉ muốn bảo vệ truyền thống ñạo ñức của

chung là tôn trọng quyền tự do ñịnh ñoạt di sản người ñể lại di sản

Như vậy, người không có quyền hưởng di sản không có quan hệ thừa kế với người

có di sản Quy ñịnh này của luật thực ñịnh là hoàn toàn hợp lý nó ñược xem như là một

biện pháp chế tài ñối với các bên có quan hệ tình cảm gia ñình diễn biến theo chiều hướng

xấu

1.1.3 Trường hợp bị truất quyền hưởng di sản

Khái niệm bị truất quyền hưởng di sản theo nghĩa của khoản 1 ðiều 648 Bộ luật

dân sự, một người thừa kế sẽ không thể trở thành người ñược nhận di sản do ý chí của

người ñể lại di sản Việc truất quyền hưởng di sản có thể thực hiện một cách gián tiếp

hoặc trực tiếp trong di chúc Có nghĩa là người ñể lại di sản có thể truất quyền hưởng di

sản của một người thừa kế một cách trực tiếp bằng cách ghi rõ trong di chúc việc không

cho người này hưởng di sản hoặc gián tiếp qua việc hoàn toàn không ñề cập ñến quyền lợi

của người ñó trong di chúc

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Từ ñó ta có thể kết luận: Người ñể lại di sản dù bằng hình thực trực tiếp hoặc gián

tiếp cũng chỉ có thể thực hiện việc truất quyền hưởng di sản của một người thừa kế nào ñó

bằng cách lập di chúc Do ñó, hiệu lực của việc truất quyền hưởng di sản này một cách tất

nhiên sẽ chỉ bó gọn trong phần di sản nào ñược phân chia theo di chúc ðối với những

phần di sản không ñược ñề cập trong di chúc, người bị truất quyền hưởng di sản theo di

chúc nếu ñáp ứng ñủ những ñiều kiện xác ñịnh tư cách người thừa kế của hình thức thừa

kế ñó thì vẫn ñược nhận phần di sản mà mình có quyền ñược hưởng

Chúng ta ñiều biết rằng quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc trước

hết là một quyền pháp lý ñặc biệt, chỉ xuất hiện nếu như quyền lợi của các chủ thể không

ñược quan tâm ñúng mức, quyền lợi mà các chủ thể mang quyền ñược hưởng là do pháp

luật thể chế hoá sự phủ nhận quyền lực nhà nước ñối với ý chí của cá nhân người ñể lại di

sản Và quyền lợi này tồn tại một cách ñương nhiên do ñặc ñiểm tạo ra khả năng cho chủ

thể mang quyền có thể ñược nhận một phần giá trị tài sản trong khối di sản của một người

ñã qua ñời, ñồng thời có tính chất “phủ ñịnh” ñối với sự tồn tại của di chúc ðoạn ñầu

ðiều 669 “những người thừa kế sau ñây vẫn ñược hưởng một phần di sản nếu như không

ñược người lập di chúc cho cho hưởng di sản hoặc cho hưởng ít hơn 2/3 một suất thừa kế

theo pháp luật, nếu di sản ñược chia theo pháp luật” Do ñó nội dung của di chúc không

thể ảnh hưởng ñến tư cách chủ thể của người ñược hưởng quyền thừa kế không phụ thuộc

vào nội dung di chúc Mặt khác, phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là

phần thừa kế không có tính chất của phần thừa kế theo di chúc2 Do ñó, tất nhiên nó sẽ

ñược thanh toán theo những thủ tục nằm ngoài hiệu lực của quyền truất quyền hưởng di

sản của người ñể lại di sản Như vậy, không hoàn toàn giống như quyền thừa kế của cá

nhân có thể bị phủ nhận bởi người ñể lại di sản bằng cách lập di chúc, quyền thừa kế ñặc

biệt này một khi ñã ñược “yêu cầu” thì không thể bị phủ nhận bằng bất kỳ công cụ nào,

người ñược hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc vẫn có thể nhận thừa kế

do viện dẫn quyền của mình mặc dù có thể bị truất quyền hưởng di sản bởi di chúc Ngoài

ra, do việc truất quyền chỉ làm mất ñi tư cách người thừa kế theo di chúc, cho nên người

ñược hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc vẫn có thể tham gia vào cộng

2 Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một chế ñịnh ñược xếp nằm trong phần thừa kế theo di

chúc Song những ñặc ñiểm của tính chất quyền này là quyền thừa kế theo pháp luật, hoàn toàn không liên quan ñế

di chúc, chủ thể của quyền không thể tự do viện dẫn nó trong bất kỳ trường hợp nào theo ý chí của mình ñể chống

lại quyên tự do ñịnh ñoạt của người ñể lại di sản Mặt khác, giá trị của quyền lợi hợp lý cũng không tthể ñược xác

ñịnh theo ý chí của bất kỳ chủ thể nào mà ñược ấn ñịnh bằng pháp luật

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ñồng những người thừa kế theo pháp luật ñối với phần di sản chưa ñược ñịnh ñoạt bởi di

chúc

1.1.4 Từ chối hưởng di sản

Theo quy ñịnh của pháp luật, kể từ thời ñiểm mở thừa kế người thừa kế có các

quyền tài sản do người chết ñể lại Các quyền này có trở thành quyền của người thừa kế

hay không, ñiều phụ thuộc vào hành vi nhận di sản của người thừa kế Người thừa kế có

quyền nhận hay từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế, khi

từ chối nhận di sản người thừa kế không cần phải nêu lý do Như vậy, người thừa kế có

thể nhận di sản ngay sau khi mở thừa kế hoặc trong vòng sáu tháng kế từ thời ñiểm mở

thừa kế, người thừa kế có quyền nhận di sản vào bất cứ thời ñiểm nào Nếu sau sáu tháng

ñó người thừa kế không từ chối nhận di sản thì xem như là mặc nhiên nhận di sản, ñồng

nghĩa với việc người thừa kế ñã xác lập quyền sở hữu ñối với phần di sản mà mình ñã

không từ chối Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cũng là một chủ thể

của quan hệ thừa kế nên cũng có quyền lợi tương tự Tuy nhiên, việc từ chối nhận di sản

của người thừa kế nói chung và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nói

riêng phải tuân theo các ñiều kiện về chủ thể, ý chí, nội dung và hình thức

Vấn ñề ñặt ra ñối với quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

Về chủ thể: Trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là

người chưa thành niên, người không có khả năng lao ñộng (ví dụ người không có năng

lực hành vi, người mất năng lực hành vi mà không có khả năng tạo thu nhập ñể tự nuôi

sống mình) có ñược tự do ý chí là tự mình từ chối hay không? Theo tôi những người có

ñầy ñủ năng lực hành vi dân sự có quyền từ chối nhận di sản, người dưới mười tám tuổi

có năng lực hành vi dân sự một phần, vì vậy họ không thể thực hiện các giao dịch có giá

trị lớn, ñặc biệt là các giao dịch mà pháp luật quy ñịnh những người từ ñủ mười tám tuổi

trở lên mới có quyền thực hiện, (ví dụ : Trong thực tế di sản thừa kế chủ yếu là quyền sử

dụng ñất, nhà ở và các loại bất ñộng sản khác) Hơn nữa, những người chưa thành niên

thường ñược chung sống với cha mẹ hoặc người giám hộ, cho nên việc từ chối nhận di

sản của người chưa thành niên có thể ảnh hưởng ñến quyền lợi của người ñại diện Mặt

khác, người ñại diện không thể thay mặt người thừa kế từ chối nhận di sản vì việc từ chối

này sẽ gây thiệt hại cho người ñược ñại diện

Về ý chí: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc có quyền từ chối

nhận di sản trong thời hạn pháp luật quy ñịnh Tuy nhiên, trong trường hợp người thừa kế

bị ép buộc hoặc bị lừa dối, bị nhầm lẫn, dẫn ñến từ chối nhận di sản thì giao dịch này sẽ

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

vô hiệu Và “thời hạn sáu tháng kể từ thời ñiểm mở thừa kế” sẽ ñược xác ñịnh lại Ví dụ

A nhận di sản theo di chúc biết ñược nếu có sự tham gia của em mình, A là em của B,

(em A là người chưa thành niên) thì phần di sản của mình sẽ giảm sút nên A ñã lừa dối B,

làm cho B tưởng sai về số lượng di sản mà cha mình ñã ñể lại không nhiều và phần thừa

kế không phụ vào nội dung di chúc rất ít do ñó ñã từ chối nhận di sản

Vấn ñề tiếp theo ñặc ra là: Người thừa kế từ chối quyền thừa kế của minh bằng

cách nhường lại quyền thừa kế của mình cho người thừa kế khác hưởng một phần hay

toàn bộ phần ñược hưởng, ñiều này không thực hiên ñược Bởi vì, quyền thừa kế không

phụ thuộc vào nội dung di chúc là quyền nhân thân gắn với cá nhân của chủ thể mang

quyền Nó gắn liền với sự tồn tại của cá nhân và ñược ñặc trưng bằng những ñặc ñiểm

riêng của cá nhân ñó, là quuyền nhân thân, trước hết bản thân của quyền pháp lý này

không có giá trị của một loại tài sản, nó không thể ñựơc ñưa vào các giao dịch tài sản, mà

chỉ tạo ra cho chủ thể mang quyền tìm kiếm những giá trị vật chất trong trường hợp pháp

luật dự liệu Chính vì vậy, mà chủ thể mang quyền cũng không thể chuyển quyền này cho

chủ thể khác sử dụng một cách có hiệu lực, do ñó nó hoàn toàn không tồn tại một khi tách

rời với các ñặc ñiểm nhân thân của chủ thể mang quyền3

1.1.5 Thừa kế thế vị

ðiều 667 Bộ luật dân sự Việt Nam quy ñịnh “trong trường hợp con của người ñể

lại di sản chết trước hoặc cùng thời ñiểm với người ñể lại di sản thì cháu ñược hưởng

phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu ñược hưởng nếu còn sống, nếu cháu cũng chết

trước hoặc cùng thời ñiểm với người ñể lại di sản thì chắt ñược hưởng phần di sản mà cha

hoặc mẹ chắt ñược hưởng nếu còn sống”

Khi xem xét ñến chế ñịnh thừa kế thế vị cần chú ý vấn ñề cụ thể như sau: Phần

thừa kế ñược trao là phần thừa kế ñược hưởng bởi quyền của một người không còn sống

Người thế vị nhận phần thừa kế ñó với tư cách là người thay thế người ñược thế vị chứ

không phải là người có quyền tự hưởng Như vậy, chế ñịnh thừa kế thế vị ñã tạo cho chủ

thể của nó khả năng tiếp nhận tư cách chủ thể của một người khác ñể nhận phần di sản

của người ñược thế vị Song chắc chắn rằng các ñặc ñiểm nhân thân của người ñã chết sẽ

3 Nếu lý giải ở góc ñộ pháp luật dân sự thì ta thấy từ chối nhận di sản là giao dịch (hành vi pháp lý ñơn phương)

thực tế nhường quyền thừa kế chính là chuyển quyền tài sản của mình cho người khác Trước hết muốn chuyển

ñược thì người chuyển phải có quyền mới chuyển ñược Nếu người thừa kế từ chối sẽ không có quyền nhận di sản,

do vậy không thể chuyển ñược Chuyển quyền trong trường hợp này ñược hiểu là giữa những người thừa kế thực

hiên giao dịch tặng cho mà ñối tượng là quyền tài sản, việc nhương quyền không thể hiểu là chuyển quyền yêu cầu

Chuyển quyền yêu cầu có nghĩa là chủ thể mang quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ cho mình nhưng họ

không yêu cầu mà cho phép người thứ ba yêu cầu người có nghiã vụ, thực hiện nghĩa vụ cho chính họ

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không thể nào ñược người này tiếp nhận như là một phần của tư cách người thừa kế ðặc

ñiểm này khi ñược xem xét trong việc xác ñịnh tư cách chủ thể của quyền thừa kế không

phụ thuộc vào nội dung di chúc ñã mang ñến hệ quả bất lợi cho người thừa kế thế vị làm

cho người này không thể nhận ñược phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

của người ñược thế vị

Như vậy, về nguyên tắc vấn ñề thừa kế thế vị không ñược ñặt ra ñối với quyền thừa

kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, vì chế ñịnh thừa kế thế vị ñã tạo cho chủ thể

của nó khả năng tiếp nhận tư cách chủ thể của một người khác ñể nhận phần di sản của

người sau này và chắc chắn rằng các ñặc ñiểm nhân thân của người ñã chết sẽ không thể

nào ñược người này tiếp nhận như là một phần của tư cách người thừa kế Tuy nhên, việc

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không thể di chuyển bằng con ñường thừa

kế thế vị lại trở nên khó thuyết phục trong những trường hợp sau:

Ví dụ 1: Ông A chết năm 2005 có vợ là bà B, trước khi chết A ñã ñịnh ñoạt toàn bộ

di sản cho nhân tình, lúc còn sống A phải nuôi cháu N bị tật nguyền chỉ mới 5 tuổi vì con

của A là M không có khả năng lao ñộng ñã chết vào năm 2004

Giả ñịnh M còn sống thì M có quyền yêu cầu ñược hưởng suất thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc Nhắc lại rằng quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc là hình thức tượng trưng cho nghĩa vụ nuôi dưỡng của người sau này ñối với chủ thể

mang quyền nếu như họ hội ñủ những ñiều kiện do pháp luật dự kiến Phân tích theo

hướng khác ta thấy theo quy ñịnh của luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 khoản 1 ðiều

59 ông bà nội, ông bà ngoại, có nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cháu chưa thành

niên, cháu không có khả năng lao ñộng nếu cháu không còn cha, mẹ Trong khung cảnh

của luật thực ñịnh thì việc ông của N giành một phần di sản của mình cho cháu là hoàn

toàn hợp lý vì theo như truyền thống ñạo ñức của dân tộc ta thì nghĩa vụ nuôi dưỡng ấy

không chấm dứt do người có nghĩa vụ chết4 Như vậy, ñể bảo ñảm thi hành ñúng ý nghĩa

của ðiều 669 Bộ luật dân sự và ðiều 59 Luật hôn nhân và gia ñình, thì N phải ñược một

phần di sản “tượng trưng cho nghĩa vụ nuôi dưỡng”của ông A ñối với cháu Do ñó dù luật

không quy ñịnh ta có căn cứ5 ñể thừa nhận rằng ông bà của N, dành một phần tài sản cho

N là hoàn toàn phù hợp với luật ñịnh và truyền thống gia ñình của người Việt Nam Trong

4 Ts Nguyễn Ngọc ðiện - một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam

5 Trong trường hợp này hoàn toàn không gặp trở ngại gì về khả năng tiếp nhận tư cách chủ thể của người ñã chết M

ñược ñiều 669 bảo vệ, ta áp dụng biện pháp suy lý mạnh sẽ thấy N càng xứng ñáng ñược bảo vệ hơn trong trường

hợp này

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trường hợp này N thế vị M ñể nhận suất thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là

hoàn toàn phù hợp, ñúng với ý nghĩa của ðiều 669

Ví dụ 2: Ông A chết năm 2007 có vợ là bà B, trước khi chết bằng di chúc A ñã ñịnh

ñoạt toàn bộ di sản cho nhân tình, lúc còn sống A phải nuôi cháu N bị tật nguyền 1 tuổi vì

con của A là M 17 tuổi ñám cưới sinh con rồi chết năm 2001 Trong trường hợp này thì

N lại không ñược nhận thừa kế thế vị như lập luận trên vì ñến khi ông A chết thì mẹ ñứa

trẻ ñã là người thành niên rồi nên không ñược ðiều 669 bảo vệ hay không ñược viện dẫn

quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Giả ñịnh ông A chết vào năm 2001

thì ñứa bé ñược thừa kế thế vị mẹ, ñiều này lại trở nên vô lý khi số phận của ñứa bé lại

phụ thuộc vào người ông không có trách nhiệm với gia ñình Theo quy ñịnh chung của

pháp luật về thừa kế thì ñể ñược thế vị thì ñiều kiện là người ñược thế vị nếu còn sống ở

thời ñiểm mở thừa kế, phải có quyền hưởng phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di

chúc ñối với người ñể lại di sản ðứa trẻ trong trường hợp này xứng ñáng ñược hưởng

quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ vì người ñược thế vị không ñủ

ñiều kiện ñể nhận phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên N không ñược

thế vị

Ví dụ 3: Ông A chết năm 2005 có vợ là bà B, trước khi chết A ñã ñịnh ñoạt toàn bộ

di sản cho vợ, con của A là M không có khả năng lao ñộng ñã chết vào năm 2004 Cháu

A là người ñã thành niên 19 tuổi và hoàn toàn có khả năng lao ñộng tìm ra thu nhập nuôi

sống bản thân và gia ñình Trong trường hợp này M ñã ñủ ñiều kiện ñể nhận thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc; Tuy nhiên, nếu thừa nhận rằng cháu, chắt ñược

thừa kế thế vị như lập luận ví dụ 1 thì N ñược thế vị cha ñể nhận phần thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc mà cha mình ñược nhận, thì sẽ không ñúng với quy ñịnh về

chủ thể của ðiều 669 vì suy cho cùng người nhận phần thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc trong trường hợp này là N chứ không phải là M

Tóm lại từ các ví du trên khiến ta phải suy nghĩ về cách hoàn thiện và tìm ra giải

pháp hợp lý cho vấn ñề có nên thừa nhận cho người thừa kế ñược thế vị người thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc? Theo tôi quan ñiểm không thừa nhận thừa kế thế

vị cho trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là rất khó thuyết phục

Tuy nhiên, ñể có thể tìm ra giải pháp hợp lý cho vấn ñề trên ta nên lưu ý, cần phải tham

khảo quan ñiểm trong luật của Pháp ñồng thời phải vận dụng quy ñịnh của luật hôn nhân

và gia ñình Việt Nam về nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng của ông bà ñối với

cháu chưa thành niên hoặc cháu ñã thành niên không có khả năng lao ñộng mà không còn

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cha, mẹ như trong ví dụ 1 Theo nội dung của ðiều 669 thì quyền thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc là hình thức tượng trưng cho nghĩa vụ nuôi dưỡng của người

có di sản ñối với chủ thể mang quyền nếu như chủ thể của quyền ñã hội ñủ những ñiều

kiện do pháp luật dự kiến Bên cạnh ñó ta có thể căn cứ vào lập luận, nghĩa vụ nuôi dưỡng

sẽ không chấm dứt do người có nghĩa vụ chết Ta có giải pháp như sau:

Theo quy ñịnh của ðiều 676 Bộ luật dân sự Việt Nam thì cháu, chắt là người thừa

kế ở hàng thừa kế thứ hai, thứ ba của người có di sản, giả ñịnh nếu không áp dụng chế

ñịnh thừa kế thế vị trong trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì

phần di sản của chủ thể mang quyền sẽ ñược di chuyển cho người thừa kế của người ñó

dẫn ñến trường hợp, phần di sản do ñược thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

sẽ có thể rơi vào tay của những người không ñủ ñiều kiện hưởng thừa kế không phụ thuộc

vào nội dung di chúc (không phù hợp với ý nghĩa của ðiều 669) Do ñó theo tôi trong

trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc chết trước hoặc cùng

thời ñiểm với người có di sản thì ta nên căn cứ vào quy ñịnh về nghĩa vụ nuôi dưỡng của

ông, bà ñối với cháu chưa thành niên, cháu ñã thành niên mà không có khả năng lao ñộng

của luật hôn nhân và gia ñình mà thành lập nên cơ chế di chuyển cho phần thừa kế nói

trên Khi người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (cha, mẹ) ñã chết thì nghĩa

vụ nuôi dưỡng sẽ thuộc về người có di sản (nếu ông, bà còn sống) và nghĩa vụ ñó sẽ

không chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết nếu cháu hội ñủ những ñiều kiện mà pháp

luật ñã dự liệu cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Luật La Mã cổ

ñại không quy ñịnh cháu vào hàng thừa kế thứ hai6, mà cháu là người thế chân bố hoặc

mẹ ñể hưởng di sản thừa kế của ông Như vậy, theo lập luận căn cứ vào luật hôn nhân và

gia ñình thì người thừa kế sẽ nhận di sản trực tiếp từ người có nghĩa vụ nuôi dưỡng ñối

với mình chứ không nhận phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc từ người

chết trước Vì vậy, theo tôi pháp luật nên có chế ñịnh quy ñịnh rõ về chủ thể của quyền

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc bao gồm: “Cha, mẹ, con chưa thành niên

hoặc con ñã thành niên mà không có khả năng lao ñộng, cháu chưa thành niên hoặc ñã

thành niên mà không có khả năng lao ñộng” Nếu con chết trước hoặc cùng thời ñiểm với

người ñể lại di sản thì những người cháu chưa thành niên hoặc ñã thành niên mà không có

khả năng lao ñộng mỗi người sẽ ñược nhận một phần thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc của riêng mình Có quy ñịnh như thế mới có thể hạn chế ñược tình trạng là

6 ðiều 676 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 thừa nhận cho cháu, chắc là người thừa kế ở hàng thừa kế thứ hai

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

người mang quyền vì giận bố ñã trao tất cả di sản cho người ngoài gia ñình mà không

quan tâm ñến người không có khả năng lao ñộng như mình, khi còn sống ñã từ chối nhận

phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay trường hợp khác người mang

quyền ñã có hành vi xăm phạm ñến người có di sản theo quy ñịnh tại ðiều 643 Dẫn ñến

“người thừa kế thế vị” không ñược nhận phần di sản mà người ñã chết từ chối hay không

có quyền hưởng di sản, ñiều ñó trở nên vô lý vì thật ra hành vi của người chết trước

không liên quan gì ñến người sau này (theo nguyên tắc lỗi của ai người ñó chịu) Tuy

nhiên ñể có ñược tư cách thừa kế ñối với phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di

chúc thì cháu phải chịu những ñiều kiện khắc khe hơn so với trường hợp người thừa kế

người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là con, mới có thể nhận ñược phần

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của mình Trong giải pháp này thì người

thừa kế thế vị là những người cháu chỉ có thể nhận phần thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc khi hội ñủ ñiều kiện mà pháp luật dư liệu Trước hết người thế vị phải hội ñủ

các ñiều kiện về của chế ñịnh thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, ñồng thời

phải thõa mãn ñiều kiện của một người mang tư cách là người thế vị như:

Người thế vị: Chưa thành niên hoặc ñã thành niên mà không có khả năng lao ñộng,

phải có quan hệ trực hệ với người có di sản vì quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc chỉ ñược hình thành trên cơ sở mối quan hệ nhân thân gần gũi của người

mang quyền ñối với người ñể lại di sản Không có mối quan hệ ñó thì không thể có ñược

quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc trong bất kỳ trường hợp nào và vấn

ñề thừa kế thế vị vì thế cũng không thể ñặt ra Người thế vị phải có ñầy ñủ năng lực thừa

kế ñối với người có di sản, nhất là không ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản

của người có di sản và người ñược thế vị

Tuy nhiên, ñể tránh tình trạng người thế vị có thể “từ chối nhận di sản của cha chết

trước hay nghiêm trọng hơn là con có hành vi xâm hại tình mạng của cha vẫn có thể thế vị

cha ñể nhận di sản của ông”, nên theo tôi trong tình huống này thì cần phải tôn trọng quy

ñịnh chung về ñiều kiện về chủ thể ñối với người thừa kế thế vị nói chung mà pháp luật

Việt Nam ñã quy ñịnh vì giả ñịnh người thế vị không ñủ tư cách hưởng thừa kế nói chung

của chủ thể mang quyền, suy lý mạnh ta có ñược lý lẽ người thế vị không xứng ñáng ñược

ðiều 669 bảo vệ

1.2 ðiều kiện riêng ñối với quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Chủ thể của quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là thành viên của

gia ñình, trong quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, ta có nhận ñịnh tất cả người

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

yêu cầu ñều là thành viên trong gia ñình Tuy nhiên không phải thành viên nào của gia

ñình ñều có quyền yêu cầu mà còn phải thoả những ñiều kiện nhất ñịnh về tình trạng pháp

lý, tuổi, tình trạng nhân thân, tài sản, khả năng lao ñộng,…Như vậy, về nguyên tắc thì vợ

chồng phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp, con chưa thành niên luôn ñược hưởng quyền

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, nếu căn cứ theo quy ñịnh về không có khả

năng lao ñộng như trong trường hợp ñược ñược cấp dưỡng theo quy ñịnh tại ðiều 56 Luật

hôn nhân và gia ñình Việt Nam 2000 thì con ñã thành niên thì phải “bị tàn tật, mất năng

lực hành vi dân sự, không có khả năng lao ñộng”

1.2.1 ðiều kiện ñối với quyền thừa kế của vợ, chồng

Quy ñịnh của pháp luật ñể vợ chồng có quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc của nhau thì buộc phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp cho ñến thời ñiểm mở

thừa kế, mọi nghi thức kế hôn ñiều không có giá trị pháp lý

Theo quy ñịnh tại khoản 6 ðiều 8 Luật hôn nhân gia ñình 2000 thì: “hôn nhân là

quan hệ giữa vợ và chồng sau khi ñã kết hôn Nếu vi phạm hoặc là ñiều kiện kết hôn hoặc

là nghi thức kết hôn hay thẩm quyền ñăng ký kết hôn thì hôn nhân ñó không có giá trị

pháp lý Vậy việc kết hôn phải tuân thủ theo nghi thức và ñăng ký tại Uỷ ban nhân dân

phường xã, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn Pháp luật quy ñịnh việc ñăng

ký kết hôn là cơ sở ñể phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ ñối với nhau và ñược Nhà nước

bảo hộ bằng pháp luật khi một trong hai bên không còn tồn tại thì quyền và nghĩa vụ giữa

vợ chồng và các con sẽ ñược xác ñịnh

Những người cùng giới tính kết hôn với nhau không ñược công nhận là hôn nhân

hợp pháp Trong trường hợp một trong hai người có sự chuyển ñổi giới tính qua phẩu

thuật trước khi ñăng ký kết hôn về mặt sinh học họ là một người nam và một người nữ,

trên giấy tờ họ là hai người nam hoặc hai người nữ liệu các bên có thể kết hôn hợp pháp

Cần lưu ý rằng việc xác ñịnh lại giới tính không trên giấy khai sinh không ñược phép

trong luật hiện hành7 Cũng ñúng thôi theo tôi quan hệ hôn nhân theo quy luật tự nhiên

vốn có của nó là quan hệ ñặc biệt giữa hai người khác giới, tức là quan hệ hôn nhân phải

là quan hệ giữa một người ñàn ông và một người ñàn bà, theo tôi quy ñịnh tại khoản 1

7 Giới tính trong chứng thư khai sinh là không thể xác ñịnh lại cải chính hay thay ñổi, nghĩa là giới tính trên giấy

khai sinh là tuyệt ñối

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ðiều 36 Nghị ñịnh 68/cp8 nên sửa lại là “vợ chồng là những người khác giới tính tự nhiên

có quan hệ hôn nhân hợp pháp”

Khái niêm vợ chồng còn ñược hiểu ở góc ñộ thứ hai ñó là hôn nhân thực tế cần

khẳng ñịnh rằng quan hệ chung sống như vợ chồng giữa một người nam và một người nữ

không ñương nhiên ñược công nhận là hôn nhân hợp pháp và lẽ ñó nên trong quan hệ

thừa kế cũng không ñương nhiên phát sinh giữa hai bên sống chung, chỉ khi việc chung

sống ñó ñược cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là hôn nhân thực tế thì mới

phát sinh quyền và nghĩa vụ thừa kế giữa những người thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc Khi ñó hôn nhân thực tế ñược công nhận có giá trị như hôn nhân hợp pháp

Việc nam nữ chung sống như vợ chồng và hệ quả của nó ñối với việc thừa kế ñược

phân biệt qua các thời ñiểm cụ thể như sau:

Khoản 1 Luật hôn nhân gia ñình 2000 quy ñịnh “nam nữ không ñăng ký kết hôn

mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không ñược công nhận là vợ chồng” Như vậy,

tất cả những trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở ñi, mặc

dù không vi phạm bất cứ ñiều kiện kết hôn nào mà không ñăng ký kết hôn thì ñều không

công nhận là có quan hệ vợ chồng Trong trường hợp này người sống không thể ñòi

quyền thừa kế của mình với tư cách là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc

ðối với những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng xảy ra trước khi Luật

hôn nhân và gia ñình năm 2000 có hiệu lực thì có thể ñược công nhận là vợ chồng hoặc

không có quan hệ là vợ chồng, căn cứ vào quy ñịnh tại Nghị quyết số 35/2000/QH10,

Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC, VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001, Nghị ñịnh số

77/2001/Nð-CP ngày 22/10/2001 ta có:

- Trường hợp nam nữ không ñăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ

chồng với nhau từ trước ngày 03/01/1987 thì ñược khuyến khích ñăng ký kết hôn (không

bị ràng buộc về thời hạn xác lập việc chung sống)

- Trường hợp nam nữ không ñăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ

chồng với nhau từ ngày 03/01/1987 ñến trước ngày 01/01/2001 thì:

* Nếu ñăng ký kết hôn trong thời gian luật ñịnh trước ngày 01/01/2003 quan hệ vợ

chồng xác lập từ thời ñiểm bắt ñầu chung sống, hoặc từ ngày cưới

8 Nghị ñịnh số 68/2002/Nð-CP ngày 10/07/2002 của chính phủ quy ñịnh chi tiết thi hành một số ñiều của luật hôn

nhân và gia ñình có yếu tố nước ngoài

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

* Nếu ñăng ký kết hôn sau thời gian luật ñịnh hai bên nam nữ có thể ñăng ký kết

hôn vào bất cứ thời ñiểm nào việc kết hôn thực hiện theo Nghị quyết số 83/CP thì quan hệ

vợ chồng ñược xác ñịnh từ thời ñiểm ñăng ký kết hôn

Nghị quyết số 02/2004/NQ-HðTP ngày 10/8/2004 của HðTPTANDTC hướng dẫn

áp dụng luật trong trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia ñình, ñều thừa

nhận “ hôn nhân thực tế là việc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, họ có ñủ ñiều

kiện kết hôn nhưng họ không ñăng ký kết hôn” Như vậy, một quan hệ nào ñó ñược thừa

nhận là hôn nhân thực tế phải là hôn nhân thỏa mãn tất cả các ñiều kiện kết hôn mà Luật

hôn nhân và gia ñình ñã quy ñịnh chỉ vì vi phạm về hình thức không tiến hành làm thủ tục

ñăng ký kết hôn ở cơ quan có thẩm quyền mà thôi

Ví dụ: A có ñăng ký kết hôn với B vợ chồng có hai con chung 1980 do mâu thuẫn,

nên bà B bỏ vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống lập gia ñình với người khác (ñã có

con chung, cuộc sống ổn ñịnh) năm 2006 ông B chết bằng di chúc ông ñịnh ñoạt toàn bộ

di sản cho hai con chung với A Sau 20 năm chung sống bà C không ñược thừa nhận là vợ

của ông B vì ông B vi phạm chế ñộ hôn nhận một vợ một chồng Như vậy trong trường

hợp này bà C không thể viện dẫn quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và

trở thành người trắng tay

ðối với những trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng sau khi Luật hôn nhân

và gia ñình 2000 có hiệu lực mà không ñăng ký kết hôn “sống thử” không ñược pháp luật

công nhận là vợ chồng và hoàn toàn không có quan hệ về thừa kế ñối với người có di sản

Tuy nhiên, xét ở góc ñộ ý nghĩa của của việc thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc ñối với trường hợp vợ chồng “hợp pháp” về mặt pháp lý nhưng thực tế họ hoàn toàn

không có ý ñịnh chung sống “hôn nhân trắng” thường thì họ kết hôn ñể ñược ñi nước

ngoài, có hộ khẩu ở thành phố,…

Ví dụ: A ngoại tình với C, B là chồng A biết ñược không còn ý ñịnh chung sống

ñang làm thủ tục ly hôn thì ít lâu sau A chết bằng di chúc A ñịnh ñoạt toàn bộ di sản cho

con B ñược hưởng phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Tuy nhiên cần phải lưu ý các trường hợp sau:

- Trường hợp vợ chồng ñã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau ñó

một người chết, thì người còn sống vẫn ñược viện dẫn quyền thừa kế không phụ thuộc

vào nội dung di chúc Trong thực tế những cặp vợ chồng có khuynh hướng sống trái

ngược nhau nên họ có thể chia tài sản chung trong lúc hôn nhân còn tồn tại, hoặc có

những cặp vợ chồng ñã lớn tuổi, có nhiều mâu thuẩn họ không muốn ly hôn mà muốn

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sống riêng…nên họ có thể thỏa thuận chia tài sản chung hoặc theo quyết ñịnh của Tòa án

Vì vậy, mặc dù họ ñã chia tài sản chung nhưng họ vẫn là vợ chồng vẫn có quyền thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc của người ñể lại di sản

- Trường hợp vợ chồng xin ly hôn mà chưa ñược Tòa án hoặc quyết ñịnh ñã có hiệu

lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn ñược thừa kế di sản của người

ñã chết

- Người ñang là vợ hoặc chồng của một người tại thời diểm người ñó chết, thì dù

sau ñó kết hôn với người khác vẫn ñược yêu cầu quyền thừa kế di sản Việc quy ñịnh như

thế là phù hợp theo quy ñịnh của ðiều 27 Luật hôn nhân gia ñình: “khi một bên chết

trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia ñôi Phần tài sản của người chết

ñược chia theo quy ñịnh của pháp luật về thừa kế Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của

nhau”

- Hậu quả của việc hủy hôn nhân trái pháp luật, hôn nhân bị hủy coi như chưa bao

giờ tồn tại và các bên ñương sự không bao giờ có tư cách vợ chồng Bởi vậy, không cần

phải xem xét tình trạng của người còn sống ở góc ñộ thừa kế

- Ở nước ta, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ñược ghi nhận và áp dụng ở

Miền Bắc từ ngày 13/01/1960 và ở Miền Nam 02/01/1959 vì vậy, về nguyên tắc những

trường hợp quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/01/1960 và ở Miền

Nam trước 02/01/1959 nước ta trước ñây, không bị coi là trái pháp luật Quan hệ hôn

nhân theo chế ñộ “ña thê”, “ña phu” này vẫn ñược pháp luật thừa nhận và bảo hộ Người

chồng ñược hưởng phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của tất cả các

người vợ, từng người vợ sẽ ñược nhận phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc9

1.2.2 Quan hệ thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc giữa cha - mẹ, con

1.2.2.1 Quan hệ thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc giữa con và cha mẹ

Con là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của cha, mẹ ñẻ Người

thừa kế là con bao gồm, cả con trai và con gái không kể con trong giá thú hay con ngoài

giá thú, thậm chí con loạn luân vẫn có quyền yêu cầu như con từ hôn nhân hợp pháp

Quan hệ cha mẹ con cũng có thể có nguồn gốc từ việc nhận con nuôi nên người

thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc có thể con nuôi thừa kế của cha mẹ nuôi

9 Trước ñây trong pháp lệnh thừa kế 30/8/1990 ngoài con chưa thành niên, chỉ những người thừa kế nào thuộc hàng

thừ nhất mà không có khả năng lao ñộng và túng thiếu mới có quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di

chúc ðối với người ña thê phải túng thiếu và không có khả năng lao ñộng mới ñược viên dẫn quyền thừa kế không

phụ thuộc vào nội dung di chúc

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

như trường hợp thừa kế của cha mẹ ruột Trong trường hợp cha mẹ nuôi kết hôn với

người khác thì người con nuôi không ñương nhiên trở thành con nuôi của người cha hoặc

mẹ nuôi kết hôn, vì thế họ không phải là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc của nhau Cần lưu ý là ngoài việc con nuôi ñược thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi thì

con nuôi vẫn có quyền thừa kế ñối với cha ñẻ, mẹ ñẻ Và chỉ có con chưa thành niên và

con không có khả năng lao ñộng mới ñược thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

của cha mẹ

Thế nào là có con ñã thành niên mà không có khả năng lao ñộng khi viện dẫn quyền

kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc? Khi xác ñịnh con ñã thành niên mà không có

khả năng lao ñộng pháp luật có tính ñến các ñiều kiện về thể chất của người thụ hưởng

Khái niệm không có khả nămg lao ñộng phải ñược Thẩm phán xác ñịnh về khả năng lao

ñộng tại thời ñiểm mở thừa kế Tuy nhiên thực tế cho thấy các Thẩm phán chỉ xác ñịnh

khả năng lao ñộng dựa trên quyết ñịnh của Toà xem người ñó có mất năng lực hành dân

sự hay không hoặc theo pháp luật lao ñộng ñể xác không có khả năng lao ñộng thì phải có

giấy chứng nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền, khi ñó ñương sự mới có quyền nhận

ñược phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Như vậy theo tôi cần phải có văn bản cụ thể hướng dẫn về không có khả năng lao

ñộng của người ñã thành niên Vì theo tôi ở góc ñộ Luật dân sự về thừa kế thì không có

khả năng lao ñộng, phải ñược xác ñịnh tại thời ñiểm mở thừa kế Về nguyên tắc cha mẹ

không có nghĩa vụ nuôi dưỡng con ñã thành niên Tuy nhiên, như ñã ñề cập quyền thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc ñược cấp cho người thụ hưởng do có tính ñến tình

cảnh sống khó khăn của người ñó

Ví dụ: Trước khi chết thì người ñể lại di sản ñã có thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

cho người này và hiện tại họ vẫn ñang khó khăn, có thể nói khó khăn lại tiếp tục phát sinh

từ cái chết của người mà lúc còn sống ñã bảo ñảm việc nuôi dưỡng hay cấp duỡng cho họ

Người ñó ñã ñược nhận cấp dưỡng từ người chết, ta có thể nói vào thời ñiểm mở thừa kế

một người ñang là sinh viên (ñã thành niên) từ nhỏ ñến lớn chỉ lo việc học sống bằng tiền

chu cấp của gia ñình là không có không có khả năng lao ñộng, cũng có thể coi một người

chấp nhận làm tất cả mọi việc trong khuôn khổ luật ñịnh ñể có thu nhập nhưng không ai

thuê, ñồng thời ta cũng có thể nói một người không có khả năng lao ñộng khi bệnh nằm

liệt giường thường xuyên vì khi bệnh nằm ở nhà không ai ñi xin giấy chứng nhận là mình

không có khả năng lao ñộng bao giờ Không thể nói một người không có khả năng lao

ñộng khi “vai năm tất rộng thân mười thước cao” mà không chịu lao ñộng chỉ ngồi mơ

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

những cơng việc ngồi khả năng để rồi sống bám gia đình, một người tàn tật vẫn khơng

thể xem là khơng cĩ khả năng lao động khi họ tạo ra thu nhập hợp pháp bằng cách gì đĩ

mà khơng phải sống bám người thân

Như vậy, ta cĩ thể hiểu khả năng lao động là khả năng lao động thực tế cho phép

đương sự lao động nhằm tạo ra thu nhập Bên cạnh đĩ ta thấy ðiều 669 đã giữ nguyên

quy định tại ðiều 672 trong Bộ luật dân sự về “con đã thành niên mà khơng cĩ khả năng

lao động” khơng cĩ đề cập thêm cĩ hay khơng cĩ tài sản để tự nuơi mình như điều kiện để

được cấp dưỡng đối với người đã thành niên trong ðiều 50 Luật hơn nhân và gia đình, và

tơi nghĩ rằng quy định ðiều 669 là phù hợp, vì quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội

dung di chúc là sự biểu đạt vật chất của tình đồn kết giữa các thành viên trong gia đình,

là nghĩa vụ mà pháp luật áp đặt đối với một thành viên trong gia đình, theo đĩ thành viên

này phải cĩ nghĩa vụ giúp đỡ thành viên khác, về phương diện vật chất, trong điều kiện

thành viên khác sống trong tình trạng túng quẩn và khơng thể tự nuơi mình giải quyết ổn

định điều kiện vật chất của mình Quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc là

hình thức thực hiện nghĩa vụ của người chết đối với người cịn lại và hình thức này xuất

hiện khi mà các bên trong quan hệ nuơi dưỡng cĩ quan hệ tình cảm diễn biến theo chiều

hướng xấu đến mức việc thực hiện nghĩa vụ khơng cịn cĩ thể dựa vào ý chí tự giác Và

khơng cĩ lý do gì mà người cĩ di sản lại đem tài sản của mình giao cho người khác mà

khơng quan tâm đến quyền lợi của những người thân thuộc trong gia đình đang khĩ khăn

Tuy nhiên cần lưu ý rằng vấn đề cơng nhận người thừa kế khơng mấy dễ dàng trong

khung cảnh của luật thực định cần lưu ý các vấn đề sau:

Khi người phụ nữ cĩ hơn nhân hợp pháp, việc xác định quan hệ cha mẹ và con

được thực hiện qua nguyên tắc suy đốn pháp lý tại ðiều 63 Luật hơn nhân và gia đình

2000 “con sinh ra trong thời kỳ hơn nhân hoặc do người vợ cĩ thai trong thời ký đĩ là con

chung của vợ chồng Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hơn và được cha mẹ thừa nhận

cũng là con chung của vợ chồng” Theo nguyên tắc suy đốn pháp lý này, được xem là

con chính thức và được hưởng phần thừa kế khơng phụ thuộc của cha mẹ Tuy nhiên,

cũng khơng ít trường hợp sau khi người vợ sinh con người chồng đã khơng thừa nhận đứa

trẻ là con của mình và họ đã yêu cầu xác định quan hệ cha con do nghi ngờ sự chung thủy

của người vợ Trong trường hợp này, người yêu cầu phải cĩ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

nếu người chồng khơng xuất trình được chứng cứ chứng minh thì pháp luật vẫn mặc

nhiên thừa nhận người chồng là cha đứa bé Trường hợp nếu người mẹ, khơng thừa nhận

đứa trẻ là con thì người mẹ cũng phải cung cấp chứng cứ Vì thực tế do vơ ý hoặc cố ý

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dẫn ñến việc ñứa trẻ bị ñánh tráo hay lẫn lộn Tuy nhiên hiện nay trong các văn bản pháp

luật có liên quan không có hướng dẫn cụ thể nào về vấn ñề này ðiều ñó cũng làm ảnh

hưởng ñến quyền lợi của chủ thể trong vấn ñề thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di

chúc

Trường hợp khác nếu vợ chồng vô sinh ñã ñồng ý bằng văn bản là nhận tinh trùng

của người khác ñể người vợ sinh con thì sau này người chồng ñương nhiên là cha của ñứa

trẻ mà không ñược quyền yêu cầu xác ñịnh lại là ñứa trẻ không phải là con của mình

Trong trường hợp này pháp luật quan tâm ñến một người cha mẹ về mặt pháp lý hơn về

mặt sinh học

Trường hợp người phụ nữ sinh con không có quan hệ hôn nhân con không ñược

thừa nhận vẫn ñược quyền thừa hưởng di sản của mẹ bởi lẽ, ñứa trẻ trong trường hợp này

mang họ mẹ và ñược ñặt dưới thẩm quyền của người mẹ Cũng tương tự như vậy khi

người phụ nữ ñộc thân áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản theo phương pháp khoa học

trong trường hợp này chỉ có quan hệ mẹ con duy nhất

1.2.2.2 Quan hệ thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc giữa cha, mẹ và con

Cha, mẹ là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của con ñẻ, và con

nuôi Khi xác lập quyền kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của cha mẹ ñối với con

thì không lệ thuộc vào tính chất chung sống giữa cha và mẹ, cha mẹ chưa từng kết hôn,

ñang là vợ chồng hợp pháp, ly hôn, hôn nhân thực tế, thậm chí chưa bao giờ chung sống

với nhau như vợ chồng, thì ñều có quyền thừa kế như nhau, nói chung thì cha mẹ dù ở

chung hay ở riêng thì ñều có thể viện dẫn quyền pháp lý ñặc biệt này

Tại ðiều 679 Bộ luật dân sự quy ñịnh “con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan

hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì ñược thừa kế di sản theo quy ñịnh

tại ðiều 676 và 677 của Bộ luật này”

Ví dụ: A có vợ là B, trước ñó B ñã có con riêng là M 10 tuổi với người khác, dù

không quan tâm ñến B nhưng vẫn ñối xử với M như con ruột vẫn quan tâm chăm sóc nuôi

dưỡng Giả sử A không lập di chúc thì M ñược hưởng thừa kế theo pháp luật ðiều 679 Vì

vậy, ñể có quan hệ cha mẹ con trong trường hợp này thì tất cả ñiều phụ thuộc vào thái ñộ

tâm lý của A, khi A lập di chúc mà không ñề cập ñến quyền lợi của M thì ta có thể nói

rằng giữa A và M không có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng, không có quan hệ thừa kế theo

pháp luật ðiều 679 thì không thể nào ñược thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

theo ðiều 669 Trong trường hợp này thì B chỉ có thể viện dẫn quyền thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc mà mình ñược hưởng, không thể ñại diện yêu cầu cho M

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Theo tơi dự đốn ý chí của nhà làm luật, con được xếp vào hàng thứ nhất, nhưng

những người được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất theo ðiều 676 Bộ luật dân sự chỉ bao

gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuơi, mẹ nuơi, con đẻ, con nuơi, của người chết”

Như vậy rõ ràng con riêng khơng được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất, và các hàng thừa

kế cịn lại Nếu người để lại di sản đã khơng quan tâm đến người con riêng hoặc mẹ kế bố

dượng thì, khi phát sinh quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc, cần lưu ý

rằng cho dù con riêng bố dượng mẹ kế cĩ quan hệ chăm sĩc nuơi dưỡng như cha mẹ con

thì vẫn khơng được quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc của nhau Bởi vì

theo tơi việc xây dựng các tiêu chí thời gian chăm sĩc, độ tuổi, để xác định cha mẹ, con

là khơng thể được trong trường hợp này, pháp luật khơng buộc một người phải thương

yêu chăm sĩc con của người khác, do vậy ta chỉ cĩ thể căn cứ vào tiêu chí của người để

lại di sản là người này cĩ cho hay khơng cho người cịn lại được thừa kế Chứng cứ để

xác định giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế đã chăm sĩc đối với nhau như cha mẹ đẻ là

họ vẫn dành cho nhau những khoản tiền hoặc lượng vật chất để đảm bảo cuộc sống cho

nhau với một tình cảm chân thực, và khơng lý do gì mà người để lại di sản khơng đề cập

đến quyền lợi của người đã đối xử chân thành đối với mình

Qua đĩ ta thấy được những điều kiện của chủ thể của quyền thừa kế khơng phụ

thuộc vào nội dung di chúc cĩ phần chặt chẽ hơn so với chủ thể của quyền thừa kế nĩi

chung Và điều này là cần thiết vì quy định như vậy thuận tiện cho việc áp dụng các quy

phạm pháp luật để giải quyết các tranh chấp về thừa kế trong các trường hợp cụ thể

1.2.3 ðiều kiện liên quan đến di chúc

1.2.3.1 Phải tồn tại di chúc cĩ hiệu lực

Quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc là một cơng cụ của pháp luật

cĩ tính chất bảo vệ, chủ thể mang quyền chỉ cĩ thể viện dẫn quyền thừa kế đặc biệt này

nếu chứng minh được rằng quyền lợi hợp pháp của mình đã khơng được bảo đảm, đều

này chỉ xảy ra khi người để lại di sản đã khơng quan tâm đến quyền lợi của chủ thể mang

quyền thơng qua di chúc Bởi vì thơng qua di chúc ý chí của người để lại di sản mới cĩ

thể được nhận biết, đồng thời di chúc cũng là cơ sở để xác định xem quyền lợi của chủ thể

mang quyền cĩ đảm bảo hay khơng

Ta biết rằng quyền thừa kế khơng phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ cĩ thể xuất

hiện nếu ý chí của người để lại di sản được thể hiện bằng việc để lại di chúc, và một khi di

chúc đạt được các điều kiện luật định thì mới cĩ giá trị, khi đĩ thì ý chí của người cĩ di

sản mới được thực thi Giả sử di chúc khơng đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật thì

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

quyền lợi của các chủ thể của quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không

thể bị ñe dọa bởi người ñể lại di sản

1.2.3.2 Trường hợp ngoại lệ

Ta có trường hợp “người từ ñủ 15 tuổi ñến chưa ñủ 18 tuổi có thể lập di chúc, nếu

ñược cha, mẹ hoặc người giám hộ ñồng ý”

Như ñã ñề cập, quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một công

cụ có tính bảo vệ, chủ thể mang quyền không thể sử dụng nó một cách tự do ñể ñòi hỏi

những phần di sản theo ý muốn riêng của mình Chủ thể mang quyền chỉ có thể viện dẫn

quyền thừa kế ñặc biệt này ñể bảo vệ cho quyền lợi của mình một khi họ có ñược những

chứng cứ rõ ràng về việc nó ñã không ñược tôn trọng ðiều này làm cho quyền thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc chỉ có thể xuất hiện nếu có sự tồn tại của di chúc

có hiệu lực Vì vậy, ñối với trường hợp “người từ ñủ 15 tuổi ñến chưa ñủ 18 tuổi có thể

lập di chúc, nếu ñược cha mẹ hoặc người giám hộ ñồng ý” Cha mẹ là người thừa kế theo

pháp luật hàng thứ nhất, cũng như là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

của con chưa thành niên, nên nếu ñể cha mẹ có ý kiến trong việc lập di chúc liệu nguyên

tắc tự do ý chí trong việc lập di chúc có ñược bảo ñảm

Thực tế cho thấy vấn ñề còn có nhiều quan ñiểm khác nhau:

Cha mẹ ñồng ý về việc lập di chúc hay là ñồng ý về nội dung di chúc? Theo tôi chỉ

là việc “ñồng ý” về việc lập di chúc, vì nếu hiểu là ñồng ý với nội dung di chúc thì vô

hình chung pháp luật ñã can thiệp ñến quyền tự do ý chí của người lập di chúc Trong khi

ý chí tự nguyện là một trong những ñiều kiện ñể di chúc ñược coi là hợp pháp ðồng thời

cha mẹ là người thừa kế hàng thứ nhất và cũng là người thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc của con chưa thành niên ñể ñảm bảo ñược tính khách quan trong việc “ñồng

ý” hay không “ñồng ý” của cha mẹ thì phải ñể cho cha mẹ có ý kiến sau khi di chúc ñã

ñược lập Vì giả sử như di chúc có lợi người cha hoặc những người khác thì ñể người mẹ

ñồng ý cho việc lập di chúc ñó là một việc khó (chỉ cần mẹ không ñồng ý thì di chúc

ñương nhiên không có hiệu lực pháp luật) Ngược lại, di chúc có lợi người mẹ hoặc

những người khác thì ñể người cha ñồng ý cho việc lập di chúc ñó là một việc khó Như

vậy ý chí của người cha hoặc người mẹ có thể thay ñổi phụ thuộc vào việc họ ñược hay

không ñược hưởng thừa kế theo di chúc Như vậy, việc ñồng ý của cha mẹ phải có trước

di chúc, phải thể hiện sự ñồng ý bằng văn bản riêng và nếu ñã ñồng ý rồi thì không có

quyền thay ñổi nữa

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w