đơn giản và ngắn gọn với ựịnh nghĩa tại điều 188 Bộ luật Dân sự năm 1995: "Quyền tài sản là quyền trị giá ựược bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu t
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS Nguyễn Ngọc ðiện Hồng Thanh Bạch MSSV: 5031983
Lớp: Luật Tư Pháp 01
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GV HƯỚNG DẪN
Trang 3
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Nhận xét GV hướng dẫn
Nhận xét GV phản biện
Lời cảm ơn
Mở ñầu 1
Dẫn nhập: Tổng quan luật về tài sản 4
1 Khái niệm tài sản 4
2 Cơ sở học thuyết của luật tài sản 8
3 Chức năng của luật tài sản hiện ñại 9
4 Phân loại tài sản 10
Nội dung 13
Chương 1 Quyền tài sản dưới góc nhìn của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành 13
1 Quan niệm về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 13
1.1 Khái niệm 13
1.2 Hệ quả của khái niệm 14
1.2.1 Không có khái niệm quyền ñối vật 14
1.2.2 Không có khái niệm bất ñộng sản vô hình 15
1.3 ðặc ñiểm 17
2 Một số quyền tài sản dưới góc nhìn của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành 18
2.1 Quyền sở hữu trí tuệ 18
2.1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ 18
2.1.2 Những yếu tố khác biệt cơ bản giữa quyền sở hữu trí tuệ so
với quyền sở hữu ñối với các tài sản hữu hình khác 19
2.1.3 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 21
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.3.1 Tính tất yếu và ý nghĩa của việc bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ 21
2.1.3.2 Thực trạng pháp luật dân sự về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam 22
2.1.4 Hoạt ñộng thực tiễn của Tòa án nhân dân trong việc bảo ñảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ 24
2.1.5 Một số kiến nghị chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ 26
2.2 Quyền ñòi nợ
2.2.1 Khái niệm và các yếu tố của quyền ñòi nợ 27
2.2.2 Tính chất 29
2.2.3 ðặc ñiểm 30
2.2.4 Những vướng mắc trong thực thi quyền ñòi nợ ở Việt Nam 31
2.2.5 Giải pháp nào cho pháp luật Việt Nam 33
Chương 2: Xác ñịnh lại quan niệm về quyền tài sản trong khoa học luật Việt Nam 36
1 Tiếp cận quan niệm về quyền tài sản trong luật nước ngoài 36
1.1 Quyền tài sản 36
1.1.1 Khái quát chung 36
1.1.2 Nhận ñịnh 37
1.2 Các loại quyền tài sản 38
1.2.1 Quyền ñối vật 40
1.2.1.1 Quyền ñối vật trong hệ thống La-tinh 40
1.2.1.2 Luật Việt Nam và quyền ñối vật 42
1.2.2 Quyền ñối nhân 46
1.2.2.1 Trong luật La-tinh 46
1.2.2.2 Trong luật Việt Nam 48
2 Vấn ñề ñặt ra trong khoa học luật Việt Nam và hướng xây dựng lại khái niệm quyền tài sản 50
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3 Một số quyền tài sản theo quan ñiểm mới ñược xây dựng 53
3.1 Quyền tài sản có thể lưu thông ñược 53
3.1.1 Quyền sử dụng ñất 53
3.1.1.1 ðất ñai – tài nguyên hay tài sản ? 53
3.1.1.2 Về quyền sử dụng ñất của người sử dụng ñất 54
3.1.1.3 Mối quan hệ tài sản giữa Nhà nước với người sử dụng ñất 55
3.1.1.4 Những yêu cầu ñặt ra trong mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng ñất 58
3.1.1.5 Bảo vệ quyền sở hữu toàn dân ñối với ñất ñai và quyền sử dụng ñất của người sử dụng ñất 60
3.1.2 Quyền về lối ñi qua bất ñộng sản liền kề 64
3.1.2.1 Khái quát chung 64
3.1.2.2 Vây bọc giả tạo 67
3.1.2.3 Lối ñi qua bất ñộng sản liền kề 68
3.1.2.4 Quyền về lối ñi qua bất ñộng sản liền kề trong trường hợp phân chia bất ñộng sản 70
3.1.2.5 Vấn ñề thay ñổi lối ñi qua bất ñộng sản liền kề 73
3.2 Quyền tài sản không ñược phép lưu thông 74
3.2.1 Quyền ñược cấp dưỡng 74
3.2.1.1 Những vấn ñề chung về quyền ñược cấp dưỡng 74
3.2.1.2 Một số vấn ñề về cấp dưỡng nuôi con trong thi hành án 81
3.2.2 Quyền ñược hưởng trợ cấp hưu trí 85
3.2.2.1 Khái niệm 85
3.2.2.2 Một số vấn ñề về trợ cấp hưu trí 86
3.2.2.3 Thực trạng hưu trí ở Việt Nam nói chung và vấn ñề về chế ñộ hưu trí liên quan ñến lao ñộng nữ - một số kiến nghị 92
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Kết luận 98 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỞ đẦU
1 Lý do chọn ựề tài
Con người - với tắnh cách là một thực thể xã hội, ngoài những quyền về nhân thân chỉ có thể tồn tại và phát triển hoàn thiện nhất với những cơ sở vật chất nhất ựịnh Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, ý thức về xã hội, về cộng ựồng còn hạn chế nhưng người nguyên thủy ựã biết chiếm giữ hoa quả tự nhiên, chim thú săn bắt ựược, những công cụ lao ựộng giản ựơn ựể phục vụ nhu cầu của mình Chiến tranh, cướp bóc suy cho cùng ựều là những giải pháp bằng vũ lực nhằm chiếm ựoạt hoặc bảo vệ tài sản Trải qua các giai ựoạn, cùng với sự phát triển của văn minh xã hội loài người, khái niệm tài sản ngày càng mở rộng Không chỉ có ựất ựai, nhà cửa, hay những gì mà con người có thể nắm giữ ựược mới ựược coi là tài sản mà ngày càng hình thành nhiều dạng khác của tài sản từ tài sản vô hình cho ựến các quyền
Ở Việt Nam hiện nay, tranh luận khoa học về quyền tài sản còn khá hiếm Người ta quan tâm nhiều ựến bất ựộng sản, nói chung là tài sản hữu hình - những thứ có có thể cầm, nắm và thấy ựược Pháp luật lẫn con người Việt Nam còn thờ ơ với cái gọi là quyền tài sản, dù rằng xã hội càng văn minh, kinh tế càng phát triển, giao dịch dân sự ngày càng mở rộng thì tài sản của một người không chỉ gói gọn là những tài sản hữu hình Chắnh vì thiếu sự quan tâm thắch ựáng ấy mà quyền tài sản trong luật dân sự Việt Nam là một khái niệm rất hẹp và cũng chẳng ựược mấy ai quan tâm đơn giản và ngắn gọn với ựịnh nghĩa tại điều 188 Bộ luật Dân sự năm 1995: "Quyền tài sản là quyền trị giá ựược bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trắ tuệ quy ựịnh tại Phần thứ sáu của Bộ luật này" (Bộ luật Dân sự năm 2005 điều 181 gần như không có sửa ựổi so với Bộ luật năm 1995) Giải thắch cũng thật ngắn gọn: "Quyền tài sản là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền ựó chủ sở hữu sẽ có ựược một tài sản đó là quyền ựòi nợ, quyền ựối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa Các quyền này ựáp ứng ựược yêu cầu trị giá ựược bằng tiền và có thể
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chuyển giao ñược trong giao lưu dân sự"1, và cũng không có văn bản hướng dẫn cụ thể Quyền tài sản ra ñời muộn nhưng sớm bị lãng quên giữa quá nhiều những quy ñịnh ñiều chỉnh các vấn ñề cơ bản trong xã hội Vì thế, nó luôn là một cái gì ñó mới
mẻ, xa lạ dù rằng hàng ngày, hàng giờ, trong cuộc sống của mỗi người quyền tài sản vẫn ñược xác lập và có nguy cơ bị xâm phạm mà nguyên nhân chính là do chưa ñược quan tâm, tìm hiểu xác ñáng Xuất phát từ tính cấp thiết ñó mà người viết chọn ñề tài "Quyền tài sản trong luật dân sự Việt Nam - lý luận và thực tiễn"
2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Các nghiên cứu về tài sản của TS Nguyễn Ngọc ðiện là cơ sở lý luận chính cho những nghiên cứu này Cơ sở pháp lý là Bộ luật Dân sự năm 2005 cùng với một
số văn bản pháp luật có liên quan ñến từng lĩnh vực nghiên cứu (như Luật ðất ñai, Luật hôn nhân và gia ñình, Luật bảo hiểm xã hội )
Vận dụng phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết ñã qua học tập phối hợp với các phương pháp ñiển hình khác như: tổng hợp, chọn lọc, phân tích, so sánh ñể có thể làm sáng tỏ vấn ñề cũng như nêu bật chủ ñề của luận văn
Xét từ góc ñộ nghiên cứu, luận văn chịu ảnh hưởng từ lối tư duy và quan ñiểm nhạy bén, sâu sắc của giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Ngọc ðiện, kết hợp cùng với kiến giải và nhận ñịnh của của cá nhân người viết hy vọng có thể làm sáng
tỏ vấn ñề, làm cho mọi người có các nhìn ñúng và tổng quát về quyền tài sản Xét ở góc ñộ pháp lý, luận văn cố gắng chỉ ra những bất cập trong pháp luật dân sự Việt Nam về quyền tài sản trong mối liên hệ so sánh với luật học nước ngoài, ñề xuất ý kiến thay ñổi quan niệm và cách tiếp cận quyền tài sản - như là kiến nghị ñóng góp nhằm sửa ñổi, hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam - nói riêng về quyền tài sản
3 Mục ñích và ý nghĩa
Luận văn tốt nghiệp nhằm chuyển tải thông tin, ý tưởng của người viết ñến người ñọc, thông qua ñó giúp cho người viết vận dụng những kiến thức ñã học, nâng cao khả năng phân tích, trình bày ý kiến, rèn luyện kỹ năng tự hoàn thành một báo cáo khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu và học tập sau này
Mặc dù ñã có nhiều cố gắng, song, việc tìm kiếm tài liệu cho ngiên cứu gặp nhiều khó khăn, nhất là ñối với vấn ñề ít ñược ngiên cứu trước ñây, cộng với kiến thức, kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế khi tiếp cận với nghiên cứu khoa
1 Bộ Tư Pháp - Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bình luận khoa học một số vấn ñề cơ bản của Bộ luật Dân
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
học nên không tránh khỏi những ñiểm thiếu sót Rất mong sự ñóng góp ý kiến của
quý thầy, cô và các bạn ñể nghiên cứu ñược sâu hơn, hoàn chỉnh hơn
7 Kết cấu
Nội dung luận văn ñược chia thành 4 phần như sau:
- Mở ñầu
- Dẫn nhập: Tổng quan luật về tài sản
- Nội dung: gồm có 2 chương với các nội dung chính là:
Chương 1 Quyền tài sản dưới góc nhìn của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành
1 Quan niệm về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
2 Quyền tài sản dưới góc nhìn của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành Chương 2 Xác ñịnh lại quan niệm về quyền tài sản trong khoa học luật Việt Nam
1 Tiếp cận quan niệm quyền tài sản trong luật nước ngoài
2 Vấn ñề ñặt ra trong khoa học luật Việt Nam và hướng xây dựng lại khái niệm quyền tài sản
3 Một số quyền tài sản tiêu biểu theo quan ñiểm mới ñược xây dựng
- Kết luận
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DẪN NHẬP TỔNG QUAN LUẬT VỀ TÀI SẢN
Trong các hệ thống pháp luật, những nhà lập pháp thường mượn các khái niệm và các giải pháp của Luật La Mã ñể giải quyết các mối quan hệ về dân sự - có liên quan tới con người, tới hành vi của con người và quan hệ của con người ñối với nhau và tới tài sản Quan hệ giữa mọi người liên quan tới vật ñược ñiều tiết bởi luật gọi là luật tài sản Tuy nhiên về kỹ thuật pháp ñiển hóa hay ứng dụng cụ thể, các hệ thống pháp luật có thể có những cách lựa chọn khác nhau Về phần mình các nhà lập pháp Việt Nam ñưa những quy ñịnh pháp luật về tài sản vào trong Bộ luật Dân
sự1, ngành luật nền tảng ñiều chỉnh cho cách ứng xử của các chủ thể trong các quan
hệ dân sự về nhân thân và tài sản
1 Khái niệm tài sản
Khái niệm tài sản chắc ñã cổ xưa như chính lịch sử loài người Chiến tranh, cướp bóc suy cho cùng ñều là những giải pháp bằng vũ lực nhằm chiếm ñoạt hoặc bảo vệ tài sản Từ hàng nghìn năm nay, pháp luật về tài sản của các quốc gia ñã hình thành dựa trên các tập quán, lối suy nghĩ và hành ñộng khác nhau Tài sản có thể ñược hiểu là bất cứ những gì có giá trị, một khái niệm rộng và không có giới hạn, luôn ñược bồi ñắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra
Thuật ngữ tài sản có thể ñược hiểu theo hai cách:
- Trong ngôn ngữ thông dụng: tài sản là một vật ñược con người sử dụng, một vật cụ thể, nhận biết ñược bằng cách tiếp xúc (chẳng hạn: quần áo, giày dép, nhà cửa…) Trong chừng mực nào ñó, có thể nói rằng tất cả các tài sản ñều hữu hình hoặc sẽ hữu hình, một khi ñược thực hiện và có giá trị tiền tệ Tuy nhiên không phải vật hữu hình nào cũng là tài sản Tất cả mọi người ñều sử dụng không khí,
1 Vấn ñề tài sản ñược quy ñịnh tại ðiều 163 và chương XI từ ðiều 174 ñến ðiều 181 Bộ luật Dân sự năm
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhưng cho ựến nay không khắ chưa bao giờ ựược coi là tài sản theo nghĩa của luật dân sự, kể cả theo nghĩa thông dụng
- Về phương diện pháp lý: tài sản là của cải ựược con người sử dụng và chúng có thể ựược sở hữu, tức là có thể thuộc về riêng một người nào ựó, một chủ thể nào ựó của quan hệ pháp luật dân sự Của cải lại là một khái niệm luôn biến ựổi
Xa xưa, của cải chỉ khiến người ta liên tưởng ựến ruộng ựất, gia súc, nô lệẦ Từ khi
xã hội chuyển sang văn minh nông nghiệp thì ựất ựai trở thành chủ ựề chắnh yếu nhất trong pháp luật tài sản ở phương đông cũng như phương Tây Còn trong xã hội hiện ựại ta lại thấy xuất hiện nhiều của cải ựặc biệt, như sóng vô tuyến, năng lượng hạt nhânẦ
1.1 Khái niệm tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Theo quy ựịnh tại điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005: ỘTài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sảnỢ
và tinh thần của con người;
- Vật ựó là vật ựược phép lưu thông dân sự và mang giá trị tài sản, có thể trao ựổi ựược cho nhau dưới dạng vật chất hay quy ựổi ựược bằng tiền
Như vậy, vật ựược hiểu theo khắa cạnh vật lý thì khác về ý nghĩa so với vật ựược hiểu theo góc ựộ pháp lý Vật ựược hiểu theo góc ựộ vật lý, là vật tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người Nhưng vật ựược hiểu theo góc ựộ pháp lý là vật ựược dùng trong quan hệ pháp luật cụ thể, ựồng thời vật là ựối tượng của quan hệ ựó Từ nhận ựịnh này thì tài sản bao gồm vật nhưng không phải mọi vật của thế giới vật chất ựều ựược coi là tài sản trong quan hệ về quyền sở hữu
và trong các quan hệ pháp luật dân sự khác, như giao dịch dân sự
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Việc xác ñịnh vật khi nào là tài sản, khi nào vật không phải là tài sản có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản Khi xác ñịnh một vật là tài sản, ta có căn cứ pháp lý xác ñịnh các quyền và nghĩa vụ về tài sản của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Vật ñược xác ñịnh là tài sản cũng ñồng thời là căn cứ ñể xác ñịnh quyền sở hữu ñối với tài sản ñó của chủ thể nhất ñịnh
1.1.2 Tiền và giấy tờ có giá
ðược xác ñịnh là những loại tài sản Thuật ngữ “giấy tờ trị giá ñược bằng tiền” trong Bộ luật Dân sự năm 1995 ñã ñược thay thế bằng “giấy tờ có giá” trong
Bộ luật Dân sự năm 2005 Như vậy, các loại giấy tờ ñược coi là tài sản ñược chuẩn hóa về tên gọi cũng như về tính chất: các loại giấy tờ nào là giấy tờ có giá và tính chất của mỗi loại giấy tờ này ñược quy ñịnh cụ thể trong văn bản về giấy tờ có giá Các loại giấy tờ này trị giá ñược bằng tiền và ñưa ñược vào giao dịch dân sự1 Quy ñịnh như trên của Bộ luật Dân sự có ý nghĩa quan trọng trong ñiều kiện của nền kinh tế thị trường, ñáp ứng ñược yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, góp phần làm cho giao lưu dân sự ña dạng, phong phú và sống ñộng hơn
1.2 Khảo sát các quan niệm về tài sản của một số hệ thống pháp luật
Bộ luật Dân sự năm 1804 của Pháp – một công trình pháp ñiển hóa hiện ñại ñầu tiên trên thế giới – ñã không ñưa ra một ñịnh nghĩa cụ thể nào về tài sản Song theo những ñặc tính căn bản của pháp luật La Mã – ðức về việc giải thích các quy tắc pháp lý hay khái niệm pháp lý, người ta có thể hiểu ñược rằng, tài sản nói trong
Bộ luật này bao gồm hai loại là bất ñộng sản và ñộng sản, mà trong ñó bất ñộng sản ñược chia thành bất ñộng sản do tính chất, bất ñộng sản do mục ñích sử dụng và bất
1 Giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, công trái, séc,…
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñộng sản do có ñối tượng gắn liền với nó; và ñộng sản bao gồm ñộng sản do tính chất và ñộng sản do luật ñịnh Cả quyển thứ hai của Bộ luật này ñã toát lên rằng, tài sản bao gồm vật, các vật quyền (quyền ñối vật) và các tố quyền nhằm ñòi lại tài sản Tuy nhiên trong luật dân sự của Pháp có sự phân biệt tài sản và sản nghiệp Nhưng khái niệm sản nghiệp không ñược nhắc ñến trong luật thực ñịnh mà chỉ ñược nói ñến trong các học thuyết1
Dựa vào hình mẫu Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804, Bộ luật Dân sự của Québec2 xác ñịnh: “Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, ñược chia thành bất ñộng sản và ñộng sản” (ðiều 889) Căn cứ vào các quy ñịnh này, tài sản bao gồm bốn phân loại chính: bất ñộng sản hữu hình, ñộng sản hữu hình; và bất ñộng sản vô hình, ñộng sản vô hình Các luật gia Canada cho rằng quyển thứ hai của Bộ luật Dân sự này nói về luật tài sản mà chủ yếu là các quyền ñối với vật chất liệu (vật), tức là các quyền ñối vật
Bộ luật Dân sự ðức năm 1900 bằng một kỹ thuật pháp ñiển hóa khác với hình mẫu của Pháp ñã tách những vấn ñề pháp lý chung nhất của luật dân sự ñể tập hợp trong quyển I của Bộ luật này mang tên Phần chung, bao gồm 240 ñiều mà trong ñó có một chương nói về vật Tiếp ñó Bộ luật này còn chứa ñựng quyển III về luật tài sản quy ñịnh chi tiết các quyền ñối vật Tuy không có ñịnh nghĩa cụ thể về tài sản trong Bộ luật này, nhưng người ta có thể hiểu rằng, tài sản theo nghĩa pháp
lý không chỉ là vật, mà chủ yếu là các quyền
Theo hình mẫu này Nhật Bản ñã cấu tạo một chương riêng trong quyển I của
Bộ luật Dân sự năm 1896 nói về vật, và dành quyển II nói về các quyền ñối vật
Qua các khảo sát ñó chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, các nước thuộc
Họ pháp luật La Mã – ðức có quan niệm: vật chất không phải là tiêu chuẩn tối cao của luật tài sản, mà nói tới luật tài sản là nói tới các quyền ñối vật Vậy quyền ñối vật là một bộ phận quan trọng của khái niệm tài sản
Những nhận thức trên của Họ pháp luật La Mã – ðức không khác quá xa so với nhận thức của Họ pháp luật Anh – Mỹ Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là các quyền giữa mọi người có liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm một hệ thống các quyền ñược thừa nhận về mặt pháp lý của một ai ñó trong mối liên hệ với những người khác mà liên quan tới vật Tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu lực chống lại những người khác Sự chống lại hay quyền loại trừ ñược các luật
1 Nó là một tập hợp các tài sản có và tài sản nợ, có nghĩa là một hệ thống các quan hệ về tài sản thuộc một ai
ñó
2 Canada
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
gia Hoa Kỳ xem là xương sống của tập hợp các quyền và diễn ñạt ý tưởng về sự ñộc quyền của chủ sở hữu ñối với tài sản Tuy nhiên không phải chỉ các luật gia này nói
về quyền loại trừ, mà Bộ luật Dân sự ðức năm 1900 ñã nhấn mạnh tới quyền này tại ðiều 903 khi nói về các quyền của chủ sở hữu tài sản
Nhìn lại Bộ luật Dân sự Việt Nam có thể thấy chúng ta còn quá nhiều thiếu sót Có lẽ nguyên nhân chính của những thiếu sót này là do chưa có ñược một học thuyết về tài sản cũng như chưa có quan niệm rõ ràng về tài sản và luật tài sản
2 Cơ sở học thuyết của luật tài sản
Có nhiều học thuyết khác nhau chi phối luật tài sản như: học thuyết chiếm hữu ñầu tiên, học thuyết giá trị lao ñộng, học thuyết vị lợi, học thuyết tự do… Nhưng có lẽ trường phái luật tự nhiên và trường phái thực chứng pháp lý là hai trường phái lớn nhất chi phối luật tài sản của các nước
Luật tài sản của Hoa Kỳ và Canada theo trường phái thực chứng pháp lý ðiều ñó có nghĩa là các quyền ñối với tài sản chỉ xuất hiện thông qua chính quyền
“Tài sản và pháp luật sinh ra và chết ñi cùng nhau, trước khi luật ñược làm ra thì không có tài sản; loại bỏ pháp luật và tài sản chấm dứt”1 Tuy nhiên, luật tài sản của Hoa Kỳ còn là sự pha trộn tinh tế của các học thuyết khác nhau và trong một chừng mực nào ñó có sự xung ñột2
Trong khi ñó trường phái luật tự nhiên ngấm sâu vào luật tài sản của Họ pháp luật La Mã – ðức Học thuyết này cho rằng, các quyền xuất hiện trong tự nhiên như là một vấn ñề pháp lý căn bản và ñộc lập với chính quyền Luật tự nhiên
là một thứ quy tắc bất diệt ñối với con người, ñối với nhà lập pháp, cũng như những
kẻ khác3 Do ñó chính quyền chỉ có vai trò thi hành luật tự nhiên chứ không sáng tạo ra luật mới ðiều ñó có nghĩa là các Bộ luật Dân sự có nhiệm vụ truyền ñạt ñầy
ñủ các quyền ñối vật luôn luôn thuộc về con người cùng các quyền tài sản khác
Ở Việt Nam, trong khi bình luận hay giới thiệu Bộ luật Dân sự không học giả nào nói tới học thuyết ẩn sâu trong các quy ñịnh ñó Mặc dù có một ñiều chắc chắn là một số quy ñịnh trong luật thực ñịnh không chỉ là sự kế thừa và phát huy các giá trị của luật học cổ Việt Nam4 Luật học nước ngoài ñược vận dụng trong quá
1 Jeremy Bentham viết trong cuốn “The Theory of Legislation”
2 Nhận ñịnh của John G Sprankling
3
Quan niệm của John Locke trong cuốn “Two Treatises of Government”
4 Có một thời gian, những người nghiên cứu và thực hành luật ñã thử xây dựng hệ thống pháp luật về tài sản
ở Việt Nam trên cơ sở lý thuyết sản nghiệp của luật học Pháp Tuy nhiên, do tính chất và ñặc ñiểm của trình
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trình xây dựng pháp luật dân sự và có thể nói rằng luật Việt Nam là sự pha trộn của các quan niệm
3 Chức năng của luật tài sản hiện ñại
Có hàng loạt câu hỏi ñược ñặt ra ñối với những nhà làm luật và những người nghiên cứu khoa học pháp lý như: Luật xem xét cái gì là tài sản? Luật phân loại vật như thế nào?
Bản thân tài sản là một khái niệm ñộng Hiện nay có nhiều tranh luận về các dạng mới của tài sản là ñộng sản như giọng hát của ca sĩ, tinh dịch ñông lạnh, bào thai người, tế bào ñược tách ra từ các bộ phận cơ thể,… Nhìn từ góc ñộ khác, chúng
ta thấy tài sản là công cụ của ñời sống xã hội Khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần túy có tính cách học thuật mà là một khái niệm có tính mục ñích rất cao Khái niệm này phải ñáp ứng ñược các nhu cầu cần thiết của xã hội Tài sản không thể ñược xem xét tách rời các giá trị xã hội Trải qua các giai ñoạn, vật nào ñược xem là tài sản như nô lệ, ñất ñai, cây cối, các sản phẩm của tư tưởng, của trí tuệ thể hiện sự phát triển văn minh của xã hội loài người
Ngoài việc xác ñịnh các ñối tượng của quyền sở hữu, luật tài sản còn cho phép và tạo ra nội dung mà các quyền có thể ñược trao ñổi Các quy ñịnh về việc bên thế chấp có thể nhượng bán tài sản thế chấp và trách nhiệm của của người mua tài sản thế chấp ñối với bên nhận thế chấp và việc bên nhận thế chấp có thể chuyển nhượng thế chấp là những sự thể hiện ñiển hình của các chức năng này Song những quy ñịnh về thế chấp trong Bộ luật Dân sự Việt Nam dường như lại ñi theo một hướng khác
Luật dân sự còn luôn phải nhằm tới việc thực hiện chức năng ñiều hòa xung ñột của các chủ tài sản
ðể mọi người thường xuyên quan tâm tới sự phát triển tài sản của mình và ñóng góp cho xã hội, một trong những chức năng nữa của luật tài sản là bảo vệ chống lại những hành ñộng xâm phạm tài sản
Vấn ñề ở ñây là phải tạo ra ñược một cơ chế cho việc bảo vệ này Tất nhiên việc bảo vệ còn là sự quan tâm của nhiều ngành luật khác, song luật dân sự phải tạo
ra ñược các nguyên tắc cơ bản cho việc thiết lập một cơ chế bảo vệ có hiệu quả
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Một chức năng rất quan trọng nữa của luật tài sản là thúc ñẩy hiệu quả kinh
tế thông qua việc làm giảm chi phí giao dịch trong việc thu thập thông tin, giải quyết tranh chấp… Chi phí thấp có nghĩa là giao dịch thị trường ñược tạo ñiều kiện thuận lợi ðiều này thực chất “bảo ñảm sự bình ñẳng và an toàn pháp lý trong quan
hệ dân sự, góp phần tạo ñiều kiện ñáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc ñẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”1 Một trong những cách thức làm giảm chi phí giao dịch là phải tạo ra ñược các quy ñịnh về quyền sở hữu rõ ràng Hơn nữa
hệ thống ñăng ký tài sản phải chặt chẽ, mạch lạc và công khai Nhưng thật ñáng tiếc rằng hệ thống ñăng ký tài sản ở Việt Nam theo pháp luật cũng như trong thực tế ñều rất phiền phức, làm tốn kém rất nhiều thời gian, sức lực và tiền bạc của nhân dân
4 Phân loại tài sản
4.1 Bất ñộng sản và ñộng sản
Tài sản là một chế ñịnh quan trọng của luật dân sự mà trong ñó việc phân loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của ñời sống xã hội Người ta có nhiều cách phân loại tài sản khác nhau như: vật tiêu hao và vật không tiêu hao; vật chia ñược và vật không chia ñược; vật cùng loại và vật ñặc ñịnh; vật chính và vật phụ… Nhưng quan trọng nhất và trên hết tất cả là cách phân loại truyền thống chia tài sản thành bất ñộng sản và ñộng sản
Cách phân loại cơ bản này còn ñược giữ ñến ngày nay và ñược ghi nhận vào các hệ thống pháp luật Người ta thường ñưa ra các quy ñịnh chi tiết hơn ñối với bất ñộng sản so với ñộng sản Có ba lý do chính:
- Lý do về mặt vật lý: bất ñộng sản thường gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ quốc gia, trong khi ñó ñộng sản di chuyển tự do, dễ bị mất mát, phá hủy, nhầm lẫn
- Lý do về mặt kinh tế: trong lịch sử xã hội loài người cho tới thời kỳ công nghiệp hóa, ñất ñai là nguồn của cải thiết yếu cho cuộc sống và nó ñược chuyển từ thế hệ nay sang thế hệ khác
- Lý do về mặt tâm lý: ñất ñai, nhà cửa thường gắn bó chặt chẽ lâu dài với ñời sống của con người, do ñó họ thường có tình cảm và chú ý hơn so với ñộng sản
Sự ảnh hưởng của cách phân loại tài sản này là rất lớn, ví dụ sự liên quan giữa việc phân loại tài sản (thành bất ñộng sản và ñộng sản) với tư pháp quốc tế Trong tư pháp quốc tế việc ñưa ra một số quy ñịnh phụ thuộc vào bất ñộng sản và ñộng sản Chẳng hạn khoản 3, ðiều 766 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 có quy
Trang 17
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñịnh: “Việc phân biệt tài sản là ñộng sản hoặc bất ñộng sản ñược xác ñịnh theo pháp luật của nước nơi có tài sản”
Các Bộ luật Dân sự theo hình mẫu của Pháp, chia bất ñộng sản thành bốn dạng:
- Thứ nhất, bất ñộng sản do bản chất Dạng bất ñộng sản này ñược phân biệt xuất phát từ ñặc tính vật lý thực tế của vật, bao gồm: ñất ñai, nhà cửa, công trình, cây cối và các ñồ vật mà trở thành một phần không thể tách rời của các dạng bất ñộng sản này như dây ñiện, ống dẫn nước, hơi, khí… Ở ñây cần phải thêm các dạng tài nguyên thuộc ñất nếu chưa ñược tách rời khỏi ñất, vẫn ñược coi là bất ñộng sản
do bản chất
- Thứ hai, bất ñộng sản do mục ñích sử dụng Các bất ñộng sản này không phải là bất ñộng sản do bản chất Sự gắn liền với ñất ñai của chúng rất yếu ớt Thực chất các tài sản này là ñộng sản, nhưng do chúng ñược gắn với bất ñộng sản do bản chất một cách có ý thức của con người nên ñược xem là bất ñộng sản Trường hợp thứ nhất là các ñồ vật có chung mục ñích kinh tế (ví dụ như trang trại và các dụng
cụ khai thác trang trại ñó) ñược coi là bất ñộng sản bởi pháp luật áp dụng nguyên tắc phụ tòng chính Trong trường hợp này thì việc gắn bó vật lý giữa các ñồ vật này với bất ñộng sản do bản chất không phải là một ñiều kiện cần thiết Trường hợp thứ hai là các ñồ vật gắn với bất ñộng sản ñể hoàn thiện cho bất bất ñộng sản như nhằm mục ñích trang trí nhà cửa, nhưng sự gắn bó hời hợt chưa ñủ ñể biến các ñồ vật này thành bất ñộng sản do bản chất Có một ñiều kiện là các ñồ vật chỉ ñược xem là bất ñộng sản do mục ñích sử dụng khi các ñồ vật và các bất ñộng sản do bản chất của
nó gắn hoặc hòa nhập vào thuộc cùng một chủ sở hữu
- Thứ ba, bất ñộng sản bởi lý do có ñối tượng trên bất ñộng sản Bất ñộng sản này bao gồm các quyền ñối vật có liên quan ñặc biệt tới bất ñộng sản và các tố quyền trước Tòa án ñể ñòi các quyền ñó và các tố quyền ñòi chiếm hữu bất ñộng sản Chúng ñược coi là các bất ñộng sản vô hình
- Thứ tư, bất ñộng sản do luật ñịnh Việc ñịnh dạng bất ñộng sản này chỉ có tính cách bổ sung
Sau khi xác ñịnh rõ về bất ñộng sản, các Bộ luật Dân sự thường quy tất cả tài sản còn lại là ñộng sản Về mặt học thuật người ta có thể chia ñộng sản do bản chất
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
(là các tài sản có thể di dời ñược mà không phải là bất ñộng sản) và các ñộng sản do pháp luật quy ñịnh
4.2 Bất ñộng sản và ñộng sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Việt Nam cũng phân loại tài sản dựa theo thông lệ và tập quán quốc tế mà rất nhiều nước ñã sử dụng ðiều 174 Bộ luật Dân sự năm 2005 liệt kê các tài sản là bất ñộng sản (khoản 1), sau ñó dùng phương pháp loại trừ ñể xác ñịnh tài sản là ñộng sản
So với Bộ luật Dân sự năm 1995, khi quy ñịnh về bất ñộng sản, khoản 1 ðiều này ñã bỏ cụm từ “không di, dời ñược” Việc bỏ cụm từ này là ñể phù hợp với thực tiễn hiện nay Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, có những bất ñộng sản ñược di, dời nhưng ta vẫn có thể coi là bất ñộng sản do tính chất của bất ñộng sản
ñó Ví dụ, ñối với nhà: thực tiễn ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới có kỹ thuật dời nhà Toàn bộ căn nhà ñược tách ra khỏi nền ñất mà trên ñó nhà ñược xây dựng, sau ñó ñược di chuyển và gắn vào một nền ñất khác Như vậy, nhà ñược dời như trên vẫn ñược pháp luật coi là bất ñộng sản
Ngoài ra, tại ñiểm b khoản 1 ðiều 174 Bộ luật Dân sự năm 2005 cụm từ “nhà ở” (ñiểm b khoản 1 ðiều 181 Bộ luật Dân sự năm 1995) ñã ñược thay thế bằng cụm
từ “nhà” vì nhà có thể ñược sử dụng vào các mục ñích khác nhau; cách quy ñịnh như vậy khái quát hơn, rộng hơn
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUYỀN TÀI SẢN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
1 Quan niệm về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
1.1 Khái niệm
Theo ðiều 181 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá ñược bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”
Bộ luật Dân sự Việt Nam không coi quyền và vật như là những cách quan niệm khác nhau, cách hình dung khác nhau về tài sản như luật La-tinh mà coi ñó là các loại tài sản khác nhau ðiều 163 Luật này quy ñịnh rằng quyền tài sản là một loại tài sản, ñược ñặt bên cạnh tiền, giấy tờ có giá và phân biệt với vật (còn ñược hiểu là vật hữu hình)
Với ñịnh nghĩa ñó ta có thể thấy rằng quyền tài sản trong luật dân sự hiện hành ñược xây dựng như một khái niệm ñối lập với vật trong cách phân loại tài sản Theo ñó, quyền tài sản là những tài sản không phải vật Bởi vì, vật, với tư cách là một tài sản, ñược hiểu là vật hữu hình, nghĩa là có thể nhận biết bằng giác quan tiếp xúc Ngay cả khi sửa ñổi Bộ luật Dân sự năm 1995, việc bỏ cụm từ “vật có thực” thay bằng “vật” cũng chỉ là nhằm mở rộng ñối tượng vật (hữu hình) sẽ ñược hình thành trong tương lai Do vậy mà trong vị trí ñối lập với vật hữu hình, quyền tài sản chỉ ñược hiểu như là các vật vô hình
Vật hữu hình chỉ ñược coi là tài sản nếu nó có thể ñược sở hữu Vì vậy, khi ñặt vật ñối lập với quyền, vật hữu hình và quyền sở hữu dường như ñã ñược xem là những cụm từ ñồng nghĩa Kéo theo ñó, quyền sở hữu – một quyền ñối vật quan trọng nhất, bị tách khỏi quyền tài sản Hay nói một cách khác quyền tài sản trong luật thực ñịnh Việt Nam ñược hiểu là một quan hệ pháp luật khác với quan hệ sở
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hữu mà trên cơ sở ựó, một lợi ắch ựịnh giá ựược bằng tiền hình thành và thuộc về một chủ thể của quan hệ ựó
1.2 Hệ quả của khái niệm 1.2.1 Không có khái niệm quyền ựối vật
Do ựặt quyền tài sản trong vị trắ ựối lập với vật mà luật Việt Nam không hay nói chắnh xác là không thể tiếp nhận và vận dụng các khái niệm quyền ựối vật và quyền ựối nhân trong luật La-tinh Nếu hiểu theo logic câu chữ từ điều 163 ựến điều 279 thì quyền sở hữu, một trong những quyền ựối vật quan trọng ựã bị tách ra khỏi quyền tài sản và nằm cùng vị trắ với vật Nói rõ hơn, Việt Nam không xây dựng khái niệm quyền thực hiện trực tiếp trên vật: quyền trong luật Việt Nam ựược hiểu là một mối quan hệ giữa một chủ thể với một hoặc nhiều chủ thể khác mà trong
ựó một chủ thể ựược hưởng một lợi ắch (có hoặc không có tắnh chất tài sản) và các chủ thể khác phải tôn trọng sự thụ hưởng ựó
Mặc dù không công khai công nhận các quyền ựối vật, một số quyền ựối vật không thể thiếu trong ựời sống xã hội vẫn ựược ựề cập tới trong Bộ luật này
đôi lúc, luật ghi nhận một quyền nào ựó mà trong luật của các nước mang tắnh chất ựối vật (ựược thực hiện trực tiếp trên một vật mà không cần thông qua sự
hỗ trợ của người khác), nhưng rồi lại xây dựng quyền theo khuôn mẫu quan hệ nghĩa vụ giữa hai con người điển hình là quyền về lối ựi qua bất ựộng sản liền kề1
Quyền ựối với di sản thờ cúng là một quyền ựặc biệt ựược thực hiện trực tiếp trên một loại tài sản ựặc biệt, cũng mang ựầy ựủ tắnh chất quyền ựối vật, nhưng cũng bị xem như loại quan hệ nghĩa vụ trong khung cảnh của luật thực ựịnh Thậm chắ có những quyền ựáng lý phải ựược xác ựịnh theo logic của khoa học luật, nhưng
do cách giải quyết vấn ựề của người làm luật không ựi theo logic mà cuối cùng quyền ựã không thể ra ựời, thay vào ựó là các quan hệ pháp lý khá phức tạp Vắ dụ như quyền của chủ nợ nhận thế chấp ựối với bất ựộng sản2
Trong luật các nước, người thế chấp không phải là người có trách nhiệm trả
nợ do tư cách người thế chấp của mình Tình trạng thế chấp gắn với tài sản chứ không gắn với con người Cho nên, biện pháp thế chấp có tác dụng thiết lập một
1 điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quyền ựối vật của chủ nợ ựối với tài sản Quyền ựối vật ấy cho phép chủ nợ nhận thế chấp có quyền ưu tiên bán tài sản ựể trừ nợ, bất kể tài sản ựang thuộc về ai Cũng vì việc thay ựổi chủ sở hữu không làm ảnh hưởng ựến quyền của chủ nợ nhận thế chấp mà tài sản ựang thế chấp vẫn ựược chuyển nhượng tự do
Các quy ựịnh về thế chấp trong luật Việt Nam không theo logic ựó mà ựi theo một hướng khác Cuối cùng việc thế chấp trong luật Việt Nam hiện hành xác lập quan hệ giữa người thế chấp và người nhận thế chấp
Việc hoàn thiện các quyền vừa nêu trong ựiều kiện quyền ựối vật không tồn tại trong luật Việt Nam ựã ựược thực hiện theo một cách riêng và do ựó cách này rất khó tiếp cận so với các phương pháp kinh ựiển
Cũng có quan ựiểm cho rằng, quyền tài sản nói tại Bộ luật này là quyền ựối vật Nhận ựịnh ựó dường như không xác ựáng, vì:
- định nghĩa về quyền tài sản tại điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 không
có sự khác biệt so với điều 188 Bộ luật Dân sự năm 1995, chỉ thay cụm từ Ộgiao lưuỢ bằng Ộgiao dịchỢ Cho nên ta có thể tạm sử dụng lại cách giải thắch về quyền tài sản trong quyển Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 1995 Trong quyển này, những người soạn thảo ựiều luật ựã dẫn giải thắch rằng: ỘQuyền tài sản là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền ựó chủ sở hữu sẽ có ựược một tài sản đó là quyền ựòi nợ, quyền sở hữu ựối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóaẦ Các quyền này ựáp ứng ựược yêu cầu trị giá ựược bằng tiền và có thể chuyển giao ựược trong giao lưu dân sựỢ điều ựó cho thấy quyền tài sản nói tại ựây không phải là quyền ựối vật
- Về học thuật, quyền ựối vật là loại quyền có tắnh cách hạn ựịnh, có nghĩa là phải do pháp luật quy ựịnh Vậy luật không nói cụ thể về chúng tức là chúng không tồn tại
1.2.2 Không có khái niệm bất ựộng sản vô hình
Khi kết hợp cách phân loại giữa vật và quyền với cách phân loại giữa ựộng sản và bất ựộng sản thì luật Việt Nam lại không tạo ra khái niệm quyền tài sản mang tắnh chất bất ựộng sản Nếu ta thừa nhận rằng việc phân loại giữa ựộng sản và bất ựộng sản áp dụng ựối với tất cả các loại tài sản, thì quyền tài sản trong luật Việt Nam ựều là ựộng sản, do không có quyền tài sản nào ựược ghi nhận trong danh sách bất ựộng sản
định nghĩa về bất ựộng sản, điều 174 quy ựịnh:
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
“1 Bất ñộng sản là các tài sản bao gồm:
a) ðất ñai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với ñất ñai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng ñó;
c) Các tài sản gắn liền với ñất ñai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy ñịnh
2 ðộng sản là những tài sản không phải là bất ñộng sản.”
Xem các quy ñịnh của khoản 1, ta thấy không có quy ñịnh về các quyền trên bất ñộng sản mà việc liệt kê ñược mở rộng vô cùng bởi ñiểm d của khoản này Khác với các Bộ luật Dân sự khác, người ta xác ñịnh và liệt kê rõ về bất ñộng sản theo cách phân loại khoa học1 Qua ñó, có thể nói rằng, ở Việt Nam các quyền dù ñược thiết lập trên bất ñộng sản vẫn ñược coi là ñộng sản bởi khoản 2 có nội dung cho rằng những gì chưa ñược liệt kê ở khoản 1 thì ñều là ñộng sản Có lẽ trong quan niệm của những người soạn thảo ñiều luật này, chỉ có vật mới là ñộng sản hay bất ñộng sản; quyền không phải là vật, bởi vậy, không thể ñặt vấn ñề xem xét quyền là ñộng sản hay bất ñộng sản
Theo các quy ñịnh này thì khó có thể giải thích cho vấn ñề quyền sử dụng ñất Vì rõ ràng quyền sử dụng ñất mang tính chất bất ñộng sản nhưng luật hiện hành lại không ghi nhận quyền này trong danh sách bất ñộng sản
Các quy ñịnh của pháp luật Việt Nam xây dựng dựa trên quyền sử dụng ñất chứ không phải quyền sở hữu ñất Nhà nước là người ñại diện thực hiện quyền sở hữu toàn dân về ñất ñai, thông qua việc Nhà nước thống nhất quản lý ñất ñai theo quy hoạch và pháp luật và bảo ñảm sử dụng ñất ñai có hiệu quả; Nhà nước giao ñất cho tổ chức, cá nhân, hộ gia ñình sử dụng ổn ñịnh và lâu dài Người sử dụng ñất thực hiện quyền của mình trên phần ñất ñã ñược giao, cho thuê hoặc nhận chuyển nhượng Mặc dù không có quyền sở hữu về ñất nhưng những quyền năng luật ñịnh như quyền chiếm hữu (ñược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất, ñược pháp luật bảo vệ khi bị xâm phạm), quyền sử dụng (khai thác lợi ích của ñất) và một số quyền ñịnh ñoạt hạn chế (chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp ) cho thấy quyền sử dụng ñất mang tính chất của quyền sở hữu Tính chất này càng rõ hơn khi thấy rằng trong mối quan hệ với người sử dụng bất ñộng sản liền kề luật dân sự Việt Nam ñối xử với người sử dụng ñất theo cùng một cách như luật dân sự Pháp ñối xử
Trang 23
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
với người sở hữu ñất Cụ thể, quyền sử dụng ñất trong luật Việt Nam cũng ñược giới hạn bằng kỹ thuật cắm cọc mốc, xây tường hoặc dựng hàng rào1; người có quyền sử dụng ñất có các quyền và nghĩa vụ ñối với bất ñộng sản liền kề như quyền thoát nước mưa, nước thải, quyền về lối ñi qua ; phần ñất - ñối tượng của quyền sử dụng ñất có thể phải chấp nhận quyền sử dụng hạn chế bất ñộng sản liền kề ñược thừa nhận cho phần ñất lân cận trong những trường hợp do pháp luật quy ñịnh ðất ñai là tài sản quốc gia, bản thân ñất ñai không thể ñược chuyển nhượng với bất kỳ hình thức nào nhưng người sử dụng có thể chuyển nhượng quyền sử dụng của mình miễn là thỏa mãn các ñiều kiện do pháp luật quy ñịnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng ñất không ñịnh giá ñược bằng tiền nhưng phần ñất ñối tượng của quyền sử dụng ñất này có thể xác ñịnh ñược thành một giá trị tiền tệ Nói rõ hơn, người có quyền sử dụng ñất là người có quyền chiếm hữu, sử dụng, ñịnh ñoạt (hạn chế) ñối với ñất và quyền này có thể trị giá ñược bằng tiền Qua ñó cho thấy quyền sử dụng ñất ñã hội ñủ hai yếu tố của một quyền tài sản, trị giá ñược bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự Bản thân quyền sử dụng ñất ñã là một trong những quyền tài sản quan trọng nhất của nhiều chủ thể dù những quy ñịnh của luật thực ñịnh chưa hay nói ñúng hơn là không thể công nhận ñiều này
Quyền trị giá ñược bằng tiền là tài sản, ðiều 181 Bộ luật Dân sự chỉ quy ñịnh
về các quyền tài sản ñược coi như tài sản tự do lưu thông
Tóm lại, có thể thừa nhận rằng trong quan niệm của những người soạn thảo khái niệm quyền tài sản thì quyền tài sản là một khái niệm ñối lập với tài sản hữu hình và là một yếu tố có tác dụng ñặt cơ sở cho việc xây dựng một hệ thống phân loại tài sản ñặc thù, bên cạnh các hệ thống phân loại truyền thống – ñộng sản và bất
1 ðiều 266 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ñộng sản, vật chính và vật phụ… Với hệ thống phân loại ñó, ta có một bên là các tài sản hữu hình (ñộng sản hữu hình và bất ñộng sản hữu hình), bên kia là các quyền tài sản, tức là các ñộng sản vô hình (quyền ñòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ ,…)
2 Một số quyền tài sản dưới góc nhìn của Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành 2.1 Quyền sở hữu trí tuệ
2.1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ ñược hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả từ hoạt ñộng tư duy sáng tạo của con người ðối tượng của loại hình sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ñược ký tại Stockholm vào ngày 14 tháng 7 năm 1967 (ðiều 2 (viii)) quy ñịnh rằng “sở hữu trí tuệ sẽ bao gồm các quyền liên quan tới:
- các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học,
- chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình,
- sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt ñộng của con người,
- các phát minh khoa học,
- kiểu dáng công nghiệp,
- nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại,
- bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh,
và tất cả những quyền khác là kết quả của hoạt ñộng trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”
Sự khác biệt ñáng chú ý nhất giữa tài sản trí tuệ và các loại tài sản khác là thuộc tính vô hình của nó, tức là tài sản trí tuệ không thể ñược xác ñịnh bằng các ñặc ñiểm vật chất của chính nó mà nó cần ñược thể hiện ra theo một cách thức nào
ñó bằng một hình thức cụ thể ñể có thể nhận biết ñược
Tài sản trí tuệ có khả năng chia sẻ và mang tính xã hội rất cao Có nghĩa là mỗi thành quả ñược tạo ra từ hoạt ñộng trí tuệ của con người sẽ ñem ñến cho toàn
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
xã hội, toàn nhân loại những giá trị mới về tinh thần, về tri thức ðồng thời, nó cũng
có thể ñược thụ hưởng bởi tất cả mọi người vì khác với những tài sản thông thường khác, thuộc tính vô hình của loại tài sản này khiến cho việc sử dụng, khai thác sản phẩm trí tuệ từ người này không làm hao giảm hoặc ảnh huởng ñến việc sử dụng của người khác cũng như của những người sáng tạo ra chúng Vì vậy tài sản trí tuệ
sẽ ñem lại sẽ ñem lại lợi ích hoặc về khía cạnh tinh thần và tri thức, hoặc khía cạnh kinh tế cho mọi người và toàn xã hội ðiều này khiến cho hoạt ñộng sáng tạo cần ñược trân trọng và khuyến khích
Tuy nhiên cũng xuất phát từ tính vô hình của tài sản trí tuệ nên nó không thể
bị chiếm hữu về mặt thực tế và có khả năng lan truyền rất nhanh cũng như rất khó
ñể kiểm soát Mặt khác khi ñã ñược công bố, nó cũng dễ dàng bị sao chép, sử dụng
và khai thác một cách rộng rãi ở bất kỳ nơi nào, bởi bất kỳ ai mà có thể không cần xét ñến ý kiến cũng như lợi ích của những người tạo ra chúng
Chính vì thế mà từ cách ñây rất lâu, ở các quốc gia văn minh, người ta ñã tìm cách ñể khuyến khích các hoạt ñộng sáng tạo bằng cách bảo hộ quyền của những người có công trong việc sáng tạo ñối với thành quả của họ thông qua các quyền về nhân thân và tài sản Những quyền này ñem lại cho người sáng tạo những lợi ích nhất ñịnh và khả năng ñộc quyền kiểm soát việc người khác sử dụng thành quả của mình giống như quyền của người chủ sở hữu ñối với tài sản thuộc sở hữu của anh ta nhằm tôn vinh các giá trị sáng tạo cũng như bù ñắp một cách xứng ñáng công sức
và trí tuệ mà những người sáng tạo ñã bỏ ra
Như vậy quyền sở hữu trí tuệ ñược hiểu một cách khái quát và ñơn giản nhất
là quyền của cá nhân, pháp nhân ñối với những tài sản rất ñặc biệt – những sản phẩm trí tuệ Những sản phẩm trí tuệ này có thể mua bán, chuyển giao quyền sử dụng, cho phép sử dụng, tặng cho, ñể lại thừa kế tương tự như bất kỳ loại tài sản hữu hình nào khác Còn theo nghĩa hẹp, ñó là ñộc quyền ñược công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ ñược sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo ñồng thời có quyền ngăn cấm việc sử dụng hoặc mua bán trái phép tài sản của mình
Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền tài sản ñược pháp luật quy ñịnh và bảo vệ Bằng việc khai thác nó, người khai thác sẽ thu ñược các lợi ích vật chất, một cách trực tiếp hoặc thông qua người sử dụng Tác giả ñược hưởng nhuận bút khi tác phẩm của mình ñược xuất bản, biểu diễn,… hoặc ñược trả thù lao một khi sáng chế của mình ñược ứng dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội,…
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1.2 Những yếu tố khác biệt cơ bản giữa quyền sở hữu trí tuệ so với quyền sở hữu ñối với các tài sản hữu hình khác
- Về chủ thể:
Chủ thể quyền sở hữu tài sản là các cá nhân, pháp nhân, hộ gia ñình, tổ hợp tác, Nhà nước và các chủ thể khác có quyền sở hữu tài sản mà phần lớn không phụ thuộc vào việc tài sản ñó có ñăng ký quyền sở hữu hay không Chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ là những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình và ñược thừa nhận là tác giả1
- Về khách thể:
Khách thể của quyền sở hữu tài sản là vật chất hữu hình còn khách thể của quyền sở hữu trí tuệ là những sản phẩm vô hình, chúng chỉ ñược vật chất hóa khi con người áp dụng vào sản xuất, kinh doanh hoặc làm dịch vụ
- Về thời hạn:
ðối với quyền sở hữu tài sản, ngoài các ñối tượng sở hữu trí tuệ, pháp luật bảo vệ vô thời hạn và chỉ khi có các căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản thì quyền sở hữu của một chủ thể ñối với tài sản chấm dứt ðối với quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật chỉ bảo hộ trong một thời hạn nhất ñịnh mà không bảo hộ quyền ñó vĩnh viễn2
- Về nội dung:
Nội dung quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu các tài sản khác cũng bao gồm ba quyền năng gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền ñịnh ñoạt Tuy nhiên, chủ sở hữu tài sản hữu hình thực hiện các quyền năng trên không giống như chủ văn bằng bảo hộ thực hiện quyền năng của mình ñối với các sản phẩm trí tuệ3 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản không thuộc ñối tượng sở hữu trí tuệ cũng
có sự khác biệt so với các căn cứ xác lập quyền sở hữu ñối với các sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ4
Một yếu tố khác biệt rất ñặc thù khác nữa là, tài sản thuộc sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, do vậy nguy cơ bị xâm phạm là rất lớn và việc xác ñịnh thiệt hại cũng
1 Xem ðiều 736 Bộ luật Dân sự năm 2005
2 Xem các ðiều 27, 93, 169 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005
3 Trong quyền sở hữu, thì quyền chiếm hữu ñóng vai trò quan trọng, nhưng ñối với quyền sở hữu trí tuệ, việc chiếm giữ trực tiếp các ñối tượng sở hữu không mang ý nghĩa phổ biến, vì ñặc tính vô hình của các ñối tượng này và vì ý nghĩa thực tế của việc chiếm giữ thông qua không sử dụng hoặc không công bố sản phẩm trí tuệ
ñó
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
rất phức tạp Quyền sở hữu trí tuệ luôn bị ñe dọa xâm phạm, có nguy cơ bị xâm phạm rất lớn và thường tập trung vào mặt thương mại của các sản phẩm sở hữu trí tuệ Những hành vi xâm phạm ñến quyền sở hữu trí tuệ thường diễn ra, ñặc biệt ñối với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học
2.1.3 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 2.1.3.1 Tính tất yếu và ý nghĩa của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là việc pháp luật bảo ñảm các ñiều kiện ñể chủ
sở hữu quyền có thể thực thi các quyền của mình, ñồng thời ngăn chặn, xử lý mọi hành vi sử dụng quyền nói trên do một người thứ ba thực hiện mà không ñược phép của chủ sở hữu quyền Việc bảo hộ một cách hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ sẽ góp phần khuyến khích hoạt ñộng sáng tạo, nâng cao hơn nữa giá trị cuộc sống Sở dĩ như vậy vì tài sản trí tuệ ñược tạo ra không dễ dàng, phải tốn nhiều thời gian, của cải và trí lực nhưng lại rất dễ bị vi phạm dưới nhiều hình thức ñể ñưa vào khai thác nhằm mục ñích sinh lợi ðiều này không chỉ gây ảnh hưởng nghiêm trọng ñến quyền, lợi ích của chủ sở hữu, sử dụng tài sản mà còn ảnh hưởng ñến quyền lợi của người tiêu dùng, lợi ích xã hội và sâu xa hơn, ảnh hưởng tới quá trình ñầu tư, hội nhập Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nước phải cạnh tranh ñể thu hút ñầu tư nước ngoài Các yếu tố thuận lợi của một số nước ñang phát triển như vị trí ñịa lý, nguồn nhân lực rẻ… ñang mất dần tầm quan trọng, thay vào ñó là các chính sách tạo môi trường ñầu tư hấp dẫn Một trong những yếu tố quan trọng nhất ñể tạo môi trường ñầu tư tin cậy là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Nhà ñầu tư sẽ không ñầu
tư nếu họ không ñược bảo hộ Hơn nữa, nước vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể phải ñối mặt với các biện pháp trả ñũa, ñóng cửa thị trường của các bên ñối tác
Các nước có luật pháp bảo hộ sở hữu trí tuệ vì hai lý do chính:
- Thứ nhất là ñưa ra khái niệm luật ñịnh về quyền nhân thân và quyền tài sản của những người sáng tạo trong hoạt ñộng sáng tạo của họ và các quyền của công chúng ñược tiếp cận những sáng tạo ñó
- Thứ hai là ñể thúc ñẩy hoạt ñộng sáng tạo, và phổ biến cũng như áp dụng các kết quả của hoạt ñộng sáng tạo và khuyến khích kinh doanh lành mạnh góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nói chung, luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ người sáng tạo và những người sản xuất hàng hóa và dịch vụ trí tuệ khác bằng cách trao cho họ những quyền bị khống chế về thời hạn ñể kiểm soát việc sử dụng các sản phẩm ñó Những quyền này không áp dụng cho các vật thể vật chất cụ thể mà sáng tạo có thể ñược mang chứa trong nó hay áp dụng, thực hiện trên nó mà chỉ áp dụng cho chính kết quả của sáng tạo trí tuệ
2.1.3.2 Thực trạng pháp luật dân sự về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ñã và ñang là mối quan tâm hàng ñầu của nhà nước Việt Nam, do sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện ñại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Pháp luật Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của cá nhân, tổ chức Việt Nam mà còn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các cá nhân,
tổ chức nước ngoài trên nguyên tắc ñối xử quốc gia, theo pháp luật Việt Nam và ñiều ước quốc tế mà Việt Nam ñã ký kết và gia nhập Trong số các ñiều ước quốc tế
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà Việt Nam ñã gia nhập phải kể ñến:
- Công ước Stockholm (1967);
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1883);
- Thỏa ước Madrit về ñăng ký quốc tế các nhãn hiệu hàng hóa (1891);
- Hiệp ước hợp tác bằng sáng chế (1970);
- Hiệp ñịnh về sở hữu trí tuệ Việt Nam – Thụy Sỹ (1999);
- Hiệp ñịnh về thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (2000);
- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886);
- Công ước Geneva về bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép trái phép không ñược phép bản ghi âm của họ (29/10/1971);…
Còn trong các văn bản pháp luật hiện hành của nhà nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ñược quy ñịnh chủ yếu như sau:
- Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005;
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Nghị ñịnh số 106/2006/Nð-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 9 năm 2006 quy ñịnh xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệp;
- Nghị ñịnh số 100/2006/Nð-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy ñịnh chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số ñiều của Bộ luật Dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả;
- Nghị ñịnh số 103/2006/Nð-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy ñịnh chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số ñiều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
- Nghị ñịnh số 104/2006/Nð-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006 quy ñịnh chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số ñiều của Luật sở hữu trí tuệ về quyền ñối với cây trồng;
- Nghị ñịnh số 105/2006/Nð-CP ngày 29 tháng 9 năm 2006 quy ñịnh chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số ñiều của Luật sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về
sở hữu công nghiệp
- Tạo cơ sở pháp lý ñể các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành bảo
hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ
- Tạo cơ sở pháp lý ñể Nhà nước ta thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp
Bên cạnh mặt tích cực vừa nêu phải thừa nhận rằng pháp luật dân sự về bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam vẫn còn những bất cập, yếu kém như: các quy ñịnh còn mâu thuẫn, chồng chéo hoặc chưa cụ thể gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc áp dụng pháp luật Những khiếm khuyết nêu trên của pháp luật dân sự là do một số nguyên nhân sau:
- Ở nước ta, lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực mới, lại là một lĩnh vực khá phức tạp Chúng ta chưa có ñiều kiện cũng như thời gian ñể tiếp cận vấn ñề một cách sâu sắc nên nhìn chung hiểu biết của chúng ta về vấn ñề này cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn nhiều hạn chế so với thế giới
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Chúng ta chưa tham gia ñầy ñủ vào những công ước quốc tế quan trọng nên trong các quy ñịnh về quyền sở hữu trí tuệ còn có nhiều ñiểm chưa phù hựp với các ñiều ước quốc tế
- Hệ thống pháp luật dân sự về quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta nhìn chung khá phức tạp, bao gồm nhiều văn bản do nhiều cấp ban hành
- Sở hữu công nghiệp là một lĩnh vực mang tính chuyên ngành, phạm vi ñối tượng bảo hộ mang tính biến ñộng theo sự phát triển của khoa học công nghệ nên ñòi hỏi có sự ngày càng mở rộng ñối tượng quyền sở hữu trí tuệ ñể ñáp ứng nhu cầu phát triển công nghệ cũng như ñáp ứng yêu cầu các ñiều ước quốc tế như là một nhu cầu tất yếu
- Khi tiến hành xây dựng các quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta chưa quan tâm ñúng mức ñến các quy ñịnh về bảo ñảm thực thi ðiều này chính là nguyên nhân ñẫn ñến việc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền gặp phải nhiều khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
2.1.4 Hoạt ñộng thực tiễn của Tòa án nhân dân trong việc bảo ñảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ
- Xét xử những vụ khiếu kiện tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp theo thủ tục dân sự
Theo số liệu thống kê chưa ñầy ñủ của Tòa án nhân dân tối cao thì trong ba năm từ 1995 ñến 1997, Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
ñã thụ lý giải quyết 20 vụ tranh chấp vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong ñó có 2 vụ
về bản quyền, 16 vụ về kiểu dáng công nghiệp và 2 vụ về nhãn hiệu hàng hóa Trong số các vụ việc ñã giải quyết có 13 vụ hòa giải thành, 5 vụ có quyết ñịnh ñình chỉ vụ án
Số liệu các vụ án dân sự liên quan ñến quyền sở hữu công nghiệp ñược Tòa
án nhân dân các tỉnh, thành phố thụ lý giải quyết từ năm 1998 ñến 2001 như sau: năm 1998 có 12 vụ, năm 1999 có 5 vụ, năm 2000 có 7 vụ, năm 2001 có 1 vụ
- Xét xử các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo thủ tục tố tụng hình sự
Cho ñến nay không có số liệu thống kê cụ thể về số vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ñược ñưa ra xét xử tại Tòa án theo thủ tục tố tụng hình sự Các vụ xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thường ñược ghép vào tội làm hàng giả và buôn bán hàng giả Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, trong 5 năm từ 1995
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ựến 1999, Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố ựã thụ lý giải quyết 387 vụ án hình
sự về tội làm hàng giả và buôn bán hàng giả trong ựó có hàng giả về nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp đã áp dụng các hình phạt sau: từ 10 năm ựến 15 năm tù: 1 bị cáo; từ 7 ựến 10 năm tù có 7 bị cáo; từ 7 năm tù trở xuống có 211 bị cáo; cải tạo không giam giữ có 1 bị cáo; án treo có 126 bị cáo; cảnh cáo có 1 bị cáo Ngoài hình phạt chắnh như trên, các tòa án còn áp dụng nhiều hình thức phạt bổ sung như: phạt tiền, tịch thu tài sản, tiêu hủy sản phẩm là hàng giảẦ
Số lượng vụ án mà Tòa án xét xử giải quyết trong thời gian qua tập trung nhiều nhất vào tranh chấp và vi phạm quyền sở hữu công nghiệp Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật hoặc do thông tin về lĩnh vực này của các cơ quan chức năng còn chưa sâu rộng, thông báo việc bảo hộ ựối tượng
sở hữu công nghiệp chưa rộng khắp nên khi sử dụng một kiểu dáng cho một sản phẩm hay một bảng hiệu, nhãn hiệu hàng hóa họ không biết rằng kiểu dáng hay bảng hiệu, nhãn hiệu ựó ựã ựược Nhà nước bảo hộ và hành vi của họ ựã vi phạm ựến quyền lợi của người khác
Một khó khăn lớn khác là xác ựịnh thiệt hại của chủ sở hữu ựối tượng sở hữu công nghiệp sao cho có cơ sở pháp lý Về nguyên tắc nguyên ựơn có nghĩa vụ phải chứng minh trước Tòa mức ựộ thiệt hại thực tế và tiềm ẩn (nếu có) của mình do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của bên kia
Thực tế nhiều nguyên ựơn không chứng minh ựược ựầy ựủ do nhiều nguyên nhân: không ựủ các chứng cứ sổ sách kế toán, không phản ánh các số liệu thựcẦ
Do vậy, yêu cầu ựòi bồi thường thiệt hại của họ không ựược Tòa án chấp nhận toàn
bộ
Ở Việt Nam, nhiều người dân còn e ngại khi yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự Nhiều tổ chức, cá nhân không thắch ựưa vấn ựề tranh chấp liên quan ựến sở hữu trắ tuệ ra Tòa một phần là do phải nộp án phắ, nhưng ựiều quan trọng hơn là vì lý do thời gian giải quyết lâu, phức tạp, nhiều phiền toái Nhất là hiện nay vấn ựề sở hữu trắ tuệ liên quan ựến kinh tế, thương mại, cần kiến thức chuyên môn, việc giải quyết lâu sẽ gây trở ngại, làm ảnh hưởng ựến kết quả kinh doanh, ựến bắ mật hoạt ựộng trên thương trường
Các yếu tố ảnh hưởng ựến số lượng vụ việc vi phạm quyền sở hữu trắ tuệ ựưa
ra Tòa dân sự giải quyết bao gồm:
- Quá lâu về thời gian giải quyết vụ việc;
- Ngại ựưa vấn ựề ra công khai;
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Ngại bị coi là phải ra Tòa;
- Không có khả năng trả lệ phí hoặc do lệ phí ñắt hơn cách giải quyết khác;
- Bảo vệ bí mật thương trường và kinh doanh;
- Có thể sử dụng các hình thức khác thích hợp và hiệu quả hơn
Nguyên nhân của tình trạng tranh chấp, vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
là do các biện pháp thực thi pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua có nhiều thiếu sót nghiêm trọng, thể hiện ở các mặt sau ñây:
- Ý thức chấp hành luật pháp của các cơ quan, ñơn vị và mọi người dân còn hạn chế: một số thủ trưởng các ñơn vị, chủ doanh nghiệp còn thờ ơ ñối với việc bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như sẵn sàng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của người khác
- Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương cũng như ở ñịa phương chưa chặt chẽ và ñồng bộ
- Hình thức và mức ñộ xử phạt hành chính quá nhẹ
- Việt Nam ñã có Luật cạnh tranh (có hiệu lực từ ngày 01/07/2005), tuy nhiên vấn ñề xử lý cạnh tranh không lành mạnh liên quan ñến sở hữu công nghiệp lại chưa rõ ràng, chưa có quy ñịnh về mức phạt, thực thi quyền chống cạnh tranh không lành mạnh còn là vấn ñề mới mẻ
- Các phương tiện thông tin ñại chúng, các cơ quan tuyên truyền còn ít phê phán các hiện tượng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này hoặc ñề cập còn chung chung
2.1.5 Một số kiến nghị chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ
- Thứ nhất, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước về sở hữu công nghiệp nhằm bảo ñảm hiệu quả và sự nhanh nhạy của hệ thống thực thi quyền
sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, diễn ra dưới nhiều hình thức ña dạng trên mọi lĩnh vực của ñời sống xã hội Vấn ñề hiện nay là phải tạo ra ñược sự phối hợp giữa các lực lượng nhằm tránh sự chồng chéo trong việc thực thi pháp luật, ñồng thời bảo ñảm không bỏ sót các vi phạm Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần hoàn chỉnh quy chế phối hợp, ñồng thời có chương trình và mục tiêu phối hợp cho từng giai ñoạn
- Thứ hai, tăng cường nhận thức của người dân về quyền sở hữu trí tuệ
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Mặc dù việc áp dụng những chế tài hình sự ñối với việc quy phạm quyền sở hữu trí tuệ là cần thiết nhưng về lâu dài nhận thức của người dân quan trọng hơn Tăng cường nhận thức của người dân về quyền sở hữu trí tuệ, về hàng giả, từ ñó nâng cao ý thức của người dân trong việc nắm bắt thông tin, kịp thời tố giác với các
cơ quan chức năng khi phát hiện hoặc mua phải hàng giả, không buôn bán hàng giả ðiều này có thể thực hiện bằng cách tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền dưới nhiều hình thức, ñặc biệt là trên các phương tiện thông tin ñại chúng
- Thứ ba, các doanh nghiệp chủ ñộng tăng cường biện pháp chủ ñộng tự bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ
+ Xác lập quyền sở hữu về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa…
+ Quản lý tốt doanh nghiệp và hệ thống bán hàng
+ Theo dõi tình hình mua bán những sản phẩm cùng loại trên thị trường, kịp thời phát hiện và thông báo cho cơ quan chức năng biết khi thấy có dấu hiệu vi phạm
- Thứ tư, áp dụng một số biện pháp kinh tế trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ + ðộng viên người tiêu dùng không sử dụng các hàng hóa có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
+ Áp dụng mức phạt tiền thật cao ñối với vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
+ Thưởng tiền theo tỷ lệ % trên giá trị vi phạm cho những người có công phát hiện và thông báo cho các cơ quan chức năng về việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
2.2 Quyền ñòi nợ 2.2.1 Khái niệm và các yếu tố của quyền ñòi nợ
Quyền ñòi nợ không tồn tại như là một quy tắc viết trong luật Việt Nam hiện hành Tuy nhiên dựa vào khái niệm quyền chủ nợ (trái quyền) trong luật La-tinh ta
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
có thể rút ra kết luận: quyền ñòi nợ là quyền của người chủ nợ ñòi người mắc nợ thi hành nghĩa vụ trả nợ
Theo cách ñịnh nghĩa này thì quyền ñòi nợ bao gồm 3 yếu tố:
- Chủ nợ (trái chủ), ñây là chủ thể tích cực của quyền ñòi nợ Họ nắm giữ trong tay quyền mà trên cơ sở ñó mang lại cho họ một lợi ích vật chất Họ là ai? Cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu ñối với nợ là chủ nợ, ngay cả Nhà nước cũng có thể xuất hiện với vai trò này
- Người mắc nợ (người thụ trái)1, tức là chủ thể tiêu cực của quyền ñòi nợ Tương ứng với quyền của chủ nợ, người mắc nợ buộc phải thi hành nghĩa vụ của mình là trả nợ Người mắc nợ có thể là cá nhân, tổ chức, thậm chí cũng có thể là Nhà nước (phát hành trái phiếu vay vốn trong nhân dân)
- Nghĩa vụ trả nợ (hiểu theo nghĩa thông dụng là món nợ hay nợ) là ñối tượng của quyền ñòi nợ
Nợ, theo Dự thảo Nghị ñịnh kinh doanh dịch vụ ñòi nợ (Bộ Tài chính ñưa ra lấy ý kiến ngày 01 tháng 3 năm 2006), ñược giải thích: “là nghĩa vụ phải trả tiền hoặc tài sản cho người hoặc tổ chức khác”2 Từ ñó có thể thấy rằng, nợ, trong quan niệm của những người soạn thảo ñiều luật này chỉ là nghĩa vụ phải chuyển giao vật hoặc trả tiền Nghĩa vụ chuyển giao quyền, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc không ñược xem là món nợ ðiều này thật khó lý giải bởi, nghĩa vụ trả nợ suy cho cùng là nhằm mang lại cho người chủ nợ một lợi ích trị giá ñược bằng tiền trong khi ñó việc chuyển giao quyền, thực hiện hoặc không thực hiện công việc cũng có ñược khả năng này Nghĩa vụ thực hiện hoặc không thực hiện công việc một khi ñã cam kết thì người có nghĩa vụ phải thực hiện ñúng, tức là phải thực hiện hoặc không ñược phép thực hiện một công việc nhất ñịnh, nếu cam kết không ñược thi hành ñúng thì nghĩa vụ ñó có thể trở thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, sau cùng cũng mang lại cho người có quyền quyền ñược trả một số tiền Trong trường hợp nghĩa vụ có liên quan ñến việc chuyển giao quyền mà không ñược người có nghĩa vụ nghiêm túc thực hiện thì người có quyền có thể tự mình thực hiện ñến cùng nhằm xác lập quyền của mình ñối với tài sản ðể làm rõ hơn ta lấy ví dụ như sau: nếu hợp ñồng chuyển quyền sở hữu có ñối tượng là một bất ñộng sản phải ñăng ký quyền sở hữu thì thời ñiểm chuyển quyền sở hữu là thời ñiểm ñăng ký
1 Dự thảo Nghị ñịnh kinh doanh dịch vụ ñòi nợ mà Bộ tài chính ñưa ra ngày 01 tháng 3 năm 2006 (ñang lấy ý kiến) sử dụng khái niệm “khách nợ”
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quyền sở hữu cho người ñược chuyển nhượng1 Trong khoảng thời gian giữa giao kết hợp ñồng và ñăng ký quyền sở hữu, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu sẽ tồn tại trong khối tài sản nợ của người chuyển nhượng, song song ñó quyền yêu cầu chuyển quyền sở hữu cũng nằm trong khối tài sản có của người ñược chuyển nhượng Bên cạnh ñó, luật dân sự Việt Nam cũng thừa nhận rằng quyền yêu cầu chuyển quyền sở hữu là một quyền tài sản có thể ñược cầm cố hoặc thế chấp ñể ñảm bảo thực hiện nghĩa vụ tài sản2
2.2.2 Tính chất
- Quyền ñòi nợ, dĩ nhiên mang tính chất của một quyền tài sản, tức là trị giá ñược bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự
Tương ứng với quyền của chủ nợ, người mắc nợ phải thi hành nghĩa vụ trả
nợ - nghĩa vụ này mang về cho chủ nợ một lợi ích có giá trị tiền tệ Nếu nghĩa vụ trả
nợ này không ñược người mắc nợ tự giác thực hiện thì một nghĩa vụ bồi thường thiệt hại có thể ñược hình thành, cũng ñồng nghĩa với việc chủ nợ sẽ thu ñược một
số tiền
Quyền ñòi nợ cũng có thể ñược mua bán thông qua hợp ñồng mua bán (khoản 2 ðiều 449 Bộ luật Dân sự năm 2005) với ñiều kiện phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng chứng minh quyền ñó thuộc sở hữu bên bán
Mua bán quyền ñòi nợ là trường hợp ñặc biệt của việc chuyển giao quyền yêu cầu mà trong ñó, ñối tượng mua bán là quyền ñòi nợ và việc chuyển giao mang ñầy ñủ tính chất của một hợp ñồng mua bán, nghĩa là bên bán chuyển giao quyền ñòi nợ còn bên mua trả cho bên bán một số tiền
Luật không có quy ñịnh ñặc biệt về các ñiều kiện giao kết hợp ñồng mua bán quyền ñòi nợ Từ ñó có thể suy ra rằng các quy ñịnh chung về hợp ñồng mua bán ñược áp dụng: hợp ñồng có thể ñược lập bằng miệng hoặc bằng văn bản, có thể phải ñược chứng nhận, chứng thực, ñăng ký nếu pháp luật có quy ñịnh Tuy nhiên trong trường hợp này thiết nghĩ hợp ñồng nên ñược lập bằng văn bản ñể tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cả người mua lẫn người bán quyền ñòi nợ này ðiểm khác biệt là khi mua bán quyền ñòi nợ các bên không cần làm thủ tục thông báo cho người mắc nợ như khi chuyển giao quyền yêu cầu nhưng bên bán phải cam kết ñảm bảo khả năng trả nợ của người mắc nợ (nếu nợ ñến hạn mà người mắc nợ không trả thì bên bán
1 Khoản 1 ðiều 168 Bộ luật Dân sự năm 2005
2 Khoản 1 ðiều 322 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phải liên ñới chịu trách nhiệm) vì người bán quyền ñòi nợ chỉ ñảm bảo về sự tồn tại của quyền ñòi nợ chứ không thể ñảm bảo về khả năng thanh toán của người mắc nợ
Hợp ñồng mua bán quyền ñòi nợ có tác dụng chuyển quyền sở hữu ñối với quyền ñòi nợ cho người mua Người bán phải có ñầy ñủ các giấy tờ chứng cứ chứng minh khoản nợ ñó là thuộc quyền sở hữu của mình Thời ñiểm chuyển quyền sở hữu
là thời ñiểm bên mua nhận ñược giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu ñối với quyền ñòi nợ ñó hoặc từ thời ñiểm ñăng ký quyền sở hữu nếu pháp luật có quy ñịnh (khoản 3 ðiều 449 Bộ luật Dân sự năm 2005)
- Luật Việt Nam chưa có quy tắc viết nào ghi nhận vấn ñề về tính chất của nghĩa vụ tài sản ðể tìm hiểu vấn ñề này trước tiên ta tham khảo các giải pháp trong luật của Pháp Theo ñó nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc luôn có tính chất ñộng sản, ngay cả trong trường hợp nghĩa vụ ñó có liên quan ñến một bất ñộng sản, còn nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu có thể có tính chất bất ñộng sản, một khi quyền
sở hữu ñược chuyển có ñối tượng là một bất ñộng sản Tuy nhiên ñó là trên lý thuyết, thực tiễn cho thấy rằng ở Pháp rất hiếm có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu
mà có tính chất bất ñộng sản Vì luật của Pháp quy ñịnh rằng: nếu hợp ñồng chuyển quyền sở hữu có ñối tượng là một vật ñặc ñịnh thì quyền sở hữu sẽ ñược chuyển giao ngay lập tức, hay nói cách khác nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu ñược phát sinh, thực hiện và chấm dứt cùng một lúc Chỉ trong trường hợp ñối tượng của nghĩa vụ
là một bất ñộng sản cùng loại thì nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu mới có tính chất bất ñộng sản
Quay trở lại luật Việt Nam, có thể nhận thấy rằng cách giải quyết vấn ñề trong luật thực ñịnh có nhiều ñiểm tương ñồng với luật của Pháp Nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho dù không ñược thực hiện nghiêm túc cũng trở thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (trả bằng một số tiền), là ñộng sản; nếu nghĩa vụ ñó có ñối tượng là việc chuyển quyền sở hữu mà bên có nghĩa vụ không chấp hành thì bên có quyền có thể thực hiện, và tùy theo tài sản chuyển quyền sở hữu ñó là ñộng sản hay bất ñộng sản mà ta có tính chất của nghĩa vụ tương ứng So với luật của Pháp, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu có tính chất bất ñộng sản trong luật Việt Nam tồn tại rõ nét hơn Thực tiễn chỉ ra rằng trong khoảng thời gian giữa giao kết hợp ñồng và ñăng
ký quyền sở hữu, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu sẽ tồn tại trong khối tài sản nợ của người chuyển nhượng, tương ứng với nó khối tài sản có của người ñược chuyển nhượng cũng xuất hiện quyền yêu cầu chuyển quyền sở hữu
2.2.3 ðặc ñiểm
Trang 37Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Về phương diện phạm vi của quyền Quyền ñòi nợ chỉ là một quyền tương ñối, nghĩa là chủ nợ chỉ có thể thực hiện quyền của mình với người mắc nợ mà không thể ñòi hỏi bất kỳ ai khác phải tôn trọng quyền ñó của mình Quyền của người chủ nợ chỉ có hiệu lực ñối với người mắc nợ và cũng chỉ có người này mới phải tôn trọng và thực hiện quyền ñó
- Về phương diện hiệu lực Quyền ñòi nợ chỉ cho phép chủ nợ thực hiện quyền ñối với người thiếu nợ
mà không cho phép chủ nợ có quyền ñeo ñuổi ñồ vật Tài sản của người mắc nợ dù
là ñể ñảm bảo việc trả nợ cho chủ nợ nhưng khi tài sản ñó ñã ñược chuyển nhượng cho người thứ ba thì chủ nợ không có quyền ñòi lại tài sản từ người thứ ba vì không
có quyền ñeo ñuổi Lúc này, chủ nợ có hai giải pháp ñể lựa chọn: một là, chấp nhận quyền của bên thứ ba ñối với tài sản và tiếp tục ñòi người thiếu nợ; hai là, yêu cầu người mắc nợ bồi thường thiệt hại cho mình1
Quyền ñòi nợ cũng không cho phép chủ nợ có quyền ưu tiên ñối với tài sản
nợ hoặc số tiền bán tài sản nợ Nếu chủ nợ không phải là chủ nợ có ñảm bảo thì khi
số tài sản của người mắc nợ bị kê biên và bán ñấu giá thì chủ nợ này cùng với các chủ nợ không có ñảm bảo khác sẽ nhận nợ theo tỷ lệ số nợ của mình trên tổng số tài sản nợ
- Về phương diện ñối tượng Quyền ñòi nợ không nhất thiết phải ñược thi hành trên một vật nhất ñịnh mà chỉ yêu cầu người mắc nợ hoàn trả số nợ mà thôi Thử hình dung A thiếu nợ B một chiếc xe máy, nếu không trả bằng xe này thì A có quyền giao xe khác cùng loại hoặc trả món tiền bằng trị giá của xe Nếu B vẫn không ñồng ý với một trong hai cách giải quyết ñó thì có thể yêu cầu A bồi thường thiệt hại cho mình
2.2.4 Những vướng mắc trong thực thi quyền ñòi nợ ở Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, giao dịch dân sự ngày càng ña dạng và phức tạp, các hoạt ñộng vay vốn, ñầu tư, mua bán,… diễn ra hàng ngày Các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào những hoạt ñộng ñó có thể trở thành chủ nợ mà cũng
có nguy cơ trở thành người mắc nợ Quyền ñòi nợ, nghĩa vụ trả nợ, các món nợ xuất hiện như là một tất yếu khách quan của thị trường Quyền ñòi nợ là quyền tài sản của chủ nợ, có khả năng mang về cho người sở hữu nó một lợi ích kinh tế Tuy
1 Khoản 2 ðiều 330 và khoản 3 ðiều 348 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 38Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhiên, ñể thực hiện ñược quyền ñòi nợ của mình, tức là ñòi ñược nợ lại không hẳn
là một chuyện dễ dàng gì
Lấy ví dụ về hoạt ñộng cho vay vốn của ngân hàng Trong những năm qua, nhiều người ñược ngân hàng cho vay vốn ñể phát triển sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng ñã không trả ñược nợ ñến hạn Có nhiều nguyên nhân dẫn ñến khách hàng không trả ñược nợ ñến hạn, trong ñó có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Khi ngân hàng yêu cầu trả nợ ñến hạn, một số khách hàng ñã cố gắng tìm mọi nguồn vốn và áp dụng các biện pháp cần thiết ñể trả nợ cho ngân hàng nhằm giảm dư nợ xuống mức thấp nhất có thể Song bên cạnh ñó, cũng có không ít khách hàng có khả năng và ñiều kiện trả nợ ñã cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ ñến hạn cho ngân hàng Do ñó, ngân hàng ñã phải cử cán bộ ñến làm việc, ñôn ñốc và yêu cầu khách hàng trả nợ theo ñúng cam kết và thỏa thuận trong hợp ñồng tín dụng Tuy nhiên do những cán bộ ngân hàng này chưa ñược ñào tạo về nghiệp vụ ñòi nợ và thường kiêm nhiệm (không chuyên trách), nên ngân hàng tốn khá nhiều thời gian và chi phí ñể ñòi nợ mà vẫn không mang lại hiệu quả thu nợ cao Dĩ nhiên ngân hàng ñã nắm trong tay các tài sản mà khách hàng cầm cố hoặc thế chấp (thường là thế chấp) ñể ñảm bảo thực hiện nghĩa vụ nhưng việc kê biên và bán ñấu giá những tài sản này ñể thu nợ là giải pháp sau cùng và cũng phải sau một thời gian khá dài
Không riêng gì bên ngân hàng, hiện nay có quá nhiều chủ nợ trong quan hệ kinh tế và dân sự không thu hồi ñược nợ Những năm qua ở nước ta luôn có tình trạng nhiều doanh nghiệp có các món nợ phát sinh trong kinh doanh thương mại ñã quá hạn thanh toán nhưng không trả, mặc dù doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng trả ñược món nợ ñó ðây cũng là một mảng lớn làm phát sinh nhu cầu ñòi nợ trên thực tế Chúng ta sẽ xử lý như thế nào trong giai ñoạn mà chủ nợ chưa nộp ñơn yêu cầu tuyên bố phá sản ñối với doanh nghiệp mắc nợ và chủ nợ cũng chưa khởi kiện
ñể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài tuyên buộc con nợ phải thanh toán nợ?
Những vấn ñề nêu trên làm xấu ñi môi trường kinh doanh, làm cho nhiều chủ
nợ lâm vào cảnh khó khăn chính bản thân chủ nợ này có khi lại trở thành con nợ của một chủ nợ khác, nhiều khi dẫn ñến phá sản, giải thể (doanh nghiệp) hoặc bỏ xứ trốn nợ (cá nhân)… ðiều này cũng làm cho môi trường xã hội rối ren, mất trật tự khi một số chủ nợ vì muốn thu hồi nợ ñã tìm ñủ mọi cách ñể ñòi nợ thậm chí là sử dụng các biện pháp trái pháp luật như gây sức ép, thuê xã hội ñen… gây không ít phiền toái và cả những vụ phạm tội xảy ra trong các quá trình ñòi nợ này
Việc không ñòi ñược nợ quá hạn thường là do những nguyên nhân sau:
Trang 39Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Về phắa chủ nợ: quá tin tưởng vào người mắc nợ (chấp nhận thanh toán trả sau khi nhận hàng và dịch vụ nhưng không có xác nhận nợ), chưa hiểu rõ về luật pháp nên có nhiều khoản nợ cũng như những khoản phát sinh nợ không ựủ bằng chứngẦ
- Về phắa người mắc nợ: lợi dụng quan hệ thân quen với chủ nợ, coi thường pháp luật, lừa ựảo, chiếm ựoạt tài sảnẦ
- Về phắa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: còn thờ ơ với những khó khăn của các chủ nợ khi không ựòi ựược nợ Nhiều cán bộ cho rằng việc ựòi nợ là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức là chủ nợ, cơ quan pháp luật không can thiệp
Thực tế thời gian qua ở Việt Nam, các phương tiện truyền thông liên tục phản ánh về khó khăn mà nhiều cá nhân, tổ chức ựang gặp phải trong việc xử lý nợ khó ựòi Bên xuất khẩu hàng may mặc nợ bên may mặc, bên may mặc nợ bên dệt, bên dệt nợ bên sợi, và bên sợi lại nợ bên ngân hàngẦ Lại nói về ngân hàng, hiện nay ngân hàng cho các cá nhân vay rất nhiều như cho hộ nông dân, cán bộ công nhân viên, sinh viên vay tiền nhưng chưa ựược sự bảo hộ của Nhà nước trong vấn
ựề ựòi nợ cá nhân ựó Các công ty bảo hiểm nhân thọ có hàng trăm ựại lý bảo hiểm nhưng cũng không ắt số ựại lý thu phắ bảo hiểm rồi biển thủ1, khi báo với cơ quan Công an thì cũng chẳng nhận ựược sự hỗ trợ nào ựể ựòi nợ Ngay cả án kinh tế, Tòa kinh tế không giải quyết những vụ giá trị dưới 50 triệu ựồng hoặc có giải quyết thì chủ yếu là hòa giải làm nhiều ựợt kéo dài thời gian xét xử và phán quyết thì chưa chắc gì ựã ựược thi hành
Hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi của chủ nợ hiện nay còn quá ắt, quá lỏng lẻo, chưa ựược quan tâm ựúng mức Chắnh vì vậy chủ nợ phải tìm ựến Ộdịch vụ ựòi
nợ thuêỢ Những người ựòi nợ thuê có những luật riêng của họ, có thể dùng cả vũ lực ựể ựòi ựược nợ đã có không ắt trường hợp người mắc nợ bị xâm phạm ựến tài sản, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, thậm chắ là tắnh mạng bởi cách ựòi nợ kiểu Ộxã hội ựenỢ mà chủ nợ lựa chọn
2.2.5 Giải pháp nào cho pháp luật Việt Nam?
Với thực trạng nêu trên, Việt Nam cần có giải pháp ựể giải quyết vấn ựề nợ khó ựòi và vấn ựề ựòi nợ kiểu Ộxã hội ựenỢ, ựể làm sao vẫn ựòi ựược nợ mà không
vi phạm luật cấm, tạo môi trường giao dịch dân sự lành mạnh và bền vững
1 Bộ luật hình sự không dùng thuật ngữ biển thủ mà quy ựịnh là tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm ựoạt tài sản
Trang 40Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
để làm ựược ựiều này trước tiên cần thấy rõ ý thức của chủ nợ và người mắc
nợ có vai trò quan trọng và quyết ựịnh Cần tăng cường công tác tuyên truyền trong nhân dân, giúp nhân dân nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực chẳng còn gì là mới mẻ này Chắnh bản thân hai chủ thể này hơn ai hết phải có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trong sự thỏa thuận trong mối quan hệ với nhau Người mắc nợ khi ựến hạn thanh toán thì nhanh chóng thi hành nghĩa vụ của mình, trường hợp bất khả kháng không thể thực hiện ựúng hạn nghĩa vụ thì phải báo trước cho chủ nợ và nhanh chóng tìm mọi biện pháp khắc phục Chủ nợ không lạm dụng quyền của mình gây sức ép, thuê mướn băng ựảng sử dụng các biện pháp trái pháp luật ựể ựòi nợ (mặc dù thực tiễn cho thấy rằng nó là phương pháp hữu hiệu nhất ựể
xử lý nợ khó ựòi) Việc làm này không chỉ là trái pháp luật, trái ựạo ựức, gây mất trật tự xã hội, gây phiền toái cho người mắc nợ mà ựôi lúc chắnh chủ nợ cũng gặp không ắt phiền hà
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Công an, Tòa ánẦ) phải coi việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ như nghĩa vụ, trách nhiệm của mình Ờ bởi ựó cũng là tài sản của nhân dân, bảo vệ quyền này cũng coi như là bảo vệ tài sản của dân
Dịch vụ ựòi nợ là một nhu cầu thực tế gắn liền với sự phát triển của nền kinh
tế thị trường và ựang trở thành một nhu cầu thường xuyên của các tổ chức và cá nhân, nhất là các doanh nghiệp đã làm doanh nghiệp, nợ nần là chuyện bình thường Bình thường hơn nữa là tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau, nợ nần dây dưa, thậm chắ là không trả Giấy tờ ựầy ựủ, lẽ phải thuộc về mình, nhưng ựể ựòi ựược nợ là cả quá trình gian khổ, nhiều khi vô vọng Dịch vụ ựòi nợ thuê ra ựời từ nhu cầu ựó và ựã xuất hiện ở nước ta từ rất sớm nhưng chủ yếu là do một số cá nhân, băng ựảng xã hội ựen tiến hành Bên cạnh ựòi nợ kiểu xã hội ựen, nhiều văn phòng luật, công ty luật ựang thực hiện chức năng này theo hình thức khách hàng
uỷ quyền Kinh doanh dịch vụ thu nợ trở thành một nghề mới ựầy mạo hiểm bởi pháp luật ựiều chỉnh vấn ựề này còn ựang bỏ ngỏ
Trong những năm gần ựây, tình hình kinh tế có nhiều biến ựộng ựã dẫn ựến nhu cầu ựòi nợ phát sinh trên thực tế ngày càng gia tăng Nếu không cho chủ nợ sử dụng dịch vụ ựòi nợ trong giai ựoạn hiện nay có vẻ như chúng ta ựã tước mất của họ một cơ hội ựể có thể sớm ựòi ựược nợ với chi phắ thấp nhất, ựồng thời việc làm này cũng dồn gánh nặng cho các cơ quan tư pháp vốn ựã quá tải ở nước ta