Do đó, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cần phải có các biện pháp thiết thực mà cụ thể là trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ quyền được lựa chọ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
ThS MẠC GIÁNG CHÂU LÊ THỊ LĂNG
Bộ môn Tư pháp MSSV: 5075194
Lớp: Luật Tư pháp 2 – K33
Cần Thơ, 11/2010
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LỰA CHỌN, THAY ĐỔI, TỪ
CHỐI NGƯỜI BÀO CHỮA 4
1.1 Khái quát chung về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa 4 1.1.1 Khái niệm về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 4
1.1.1.1 Khái niệm về quyền lựa chọn người bào chữa 6
1.1.1.2 Khái niệm về quyền thay đổi người bào chữa 8
1.1.1.3 Khái niệm về quyền từ chối người bào chữa 11
1.1.2 Một số quan niệm về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa .13
1.2 Cơ sở làm phát sinh quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa 16
1.2.1 Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 16
1.2.2 Quyền nhờ người khác bào chữa 18
1.2.3 Sự kết hợp giữa quyền tự bào chữa với quyền nhờ người khác bào chữa .19
CHƯƠNG 2 QUYỀN LỰA CHỌN, THAY ĐỔI, TỪ CHỐI NGƯỜI BÀO CHỮA THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 22
2.1 Chủ thể có quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa theo quy định của BLTTHS 2003 22
2.1.1 Người bị tạm giữ 22
2.1.2 Bị can 24
2.1.3 Bị cáo 25
2.1.4 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 27
2.2 Lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa trong các trường hợp theo quy định của BLTTHS 2003 30
Trang 42.2.1 Lựa chọn người bào chữa trong các trường hợp theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự 30
2.2.2 Thay đổi người bào chữa trong các trường hợp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 34
2.2.2.1 Thay đổi người bào chữa trong trường hợp người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại hợp pháp của họ lựa chọn 35
2.2.2.2 Yêu cầu thay đổi người bào chữa trong trường hợp người bào chữa do được cử theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 36
2.2.3 Từ chối người bào chữa trong các trường hợp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 38
2.2.3.1 Từ chối người bào chữa trong trường hợp người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn 38
2.2.3.2 Từ chối người bào chữa trong trường hợp người bào chữa được cử theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 39
2.3 Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ 43
2.3.1 Trách nhiệm của Cơ quan điều tra 44
2.3.2 Trách nhiệm của Viện kiểm sát 46
2.3.3 Trách nhiệm của Tòa án 48
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 53
3.1 Một số tồn tại về quy định của luật và giải pháp 53
3.1.1 Chủ thể có quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa 53
3.1.2 Vấn đề thay đổi người bào chữa 59
3.1.3 Vấn đề từ chối người bào chữa 61
3.2 Một số tồn tại về thực tiễn và giải pháp 64
3.2.1 Vấn đề lựa chọn người bào chữa 64
3.2.2 Vấn đề thay đổi, từ chối người bào chữa 68
3.2.3 Về thời điểm cử người bào chữa 70
KẾT LUẬN 72
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tôn trọng quyền con người là một xu thế chung của toàn thế giới Do đó, pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam cần phải có các biện pháp thiết thực mà cụ thể là trao cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ quyền được lựa
chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa Đảm bảo thực hiện tốt quyền này cũng có nghĩa
là pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã tạo điều kiện cho người bị tình nghi phạm tội
được bảo vệ một cách tốt nhất thông qua bào chữa, góp phần bảo đảm hơn nữa quyền
con người Trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vẫn còn nhiều
thế lực đang hoạt động để chống phá nhà nước ta Vì vậy, đảm bảo quyền lựa chọn,
thay đổi, từ chối người bào chữa thì pháp luật tố tụng hình sự đã góp phần khẳng định
tính dân chủ của nhà nước ta, thực hiện mục đích nhân đạo trong hoạt động tư pháp xã
hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người
Hòa nhập vào công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng đã đề ra, việc xét xử tại
phiên tòa đang dần chuyển sang hướng tranh tụng Khi đó việc tham gia vào giải quyết
vụ án phụ thuộc phần lớn vào Kiểm sát viên và người bào chữa Chính vì vậy, để bảo
vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người bị tình nghi phạm tội cần phải có
người bào chữa thích hợp khi nhận thấy bản thân không thể không thể bảo vệ cho chính
mình Từ đó có thể thấy rằng quyền lựa chọn người bào chữa là một bảo đảm thiết thực
cho mỗi công dân khi tham gia vào vụ án hình sự và việc thay đổi hay từ chối người
bào chữa cũng là những quyền không thể tách rời, nhằm mục đích là củng cố hơn quyền
lợi của công dân
Xu hướng hiện nay là mỗi người khi tham gia vào tố tụng nói chung và tố tụng
hình sự nói riêng đều cần đến sự trợ giúp pháp lý từ những người có kiến thức về pháp
luật Hầu hết các trường hợp khi tham gia vào vụ án hình sự, những người phạm tội hay
bị tình nghi phạm tội đều mong muốn được sự giúp đỡ Vì lẽ đó, việc lựa chọn, thay đổi
hay từ chối người bào chữa cần có những quy định cụ thể, rõ ràng, bao hàm mọi trường
hợp có thể phát sinh trên thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu cho mỗi công dân khi tham gia
vào quá trình tố tụng hình sự Tuy vậy, pháp luật tố tụng hình sự chưa được quy định
một cách chặt chẽ, vẫn còn nhiều thiếu sót Trên thực tế đã có những trường hợp quyền
và lợi ích hợp pháp của những chủ thể tham gia vào tố tụng hình sự bị xâm phạm Do
vậy, xác định được nội dung, chủ thể của quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào
chữa theo quy định của pháp luật là cần thiết, nhằm đảm bảo cho những đối tượng bị
tình nghi phạm tội được bảo vệ tốt hơn trước sự cáo buộc, đảm bảo cho công tác xử lý
Trang 7hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan
người vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những đối tượng bị tình nghi, hoàn
thành nhiệm vụ mà Đảng đề ra trong quá trình cải cách tư pháp, góp phần vào việc hoàn
thiện những thiếu sót của luật tố tụng hình sự hiện hành, người viết đã chọn nghiên cứu
đề tài: “Quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa – lý luận và thực tiễn”,
góp phần vào việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thể hiện tính dân
chủ xã hội chủ nghĩa
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết đi vào tìm hiểu các vấn đề xoay quanh về quyền lựa
chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của các chủ thể có quyền mà thứ nhất là quyền
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ Đề tài không
nghiên cứu các trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cũng như các vấn đề cụ thể về người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo, người đại diện hợp pháp Thứ hai, người viết đi vào tìm hiểu các trường
hợp về lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa Thứ ba, đề tài nêu ra các trách nhiệm
của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối
người bào chữa được thực hiện Song song đó, người viết chỉ ra các vấn đề bất cập của
luật viết và thực tiễn áp dụng, từ đó, nêu ra hướng hoàn thiện để đảm bảo hơn quyền lựa
chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của chủ thể có quyền nhằm thực hiện mục tiêu
chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố lòng tin của nhân dân
vào nhà nước và pháp luật
3 Mục tiêu nghiên cứu
Việc được lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa đã giúp cho quyền lợi hợp
pháp của người bị tình nghi phạm tội được bảo vệ Qua đó, tạo điều kiện cho cơ quan
tiến hành tố tụng giải quyết đúng đắn vụ án, tránh xét xử oan người vô tội Đồng thời
giúp cho hoạt động tư pháp đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra Trên cơ sở
đó, người viết tìm ra phương pháp nhằm khắc phục và hoàn thiện hơn nữa quyền lựa
chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa, nâng cao hơn nữa hiệu quả tranh tụng theo mục
tiêu của quá trình cải cách tư pháp ở nước ta
4 Phương pháp nghiên cứu
Với mục đích đề ra hướng áp dụng thống nhất cho luật thực định, dựa trên những
quy định cụ thể của pháp luật, người viết đề xuất các phương pháp nhằm đảm bảo cho
Trang 8quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
người đại diện hợp pháp của họ được thực hiện có hiệu quả Trong quá trình nghiên cứu
của mình, người viết đã sử dụng nhiều phương pháp như: phương pháp phân tích luật
viết, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu,
sách, báo… Từ phương pháp phân tích luật viết, cùng với việc phân tích những vụ việc
trong các bản án, bài báo, người viết chỉ ra những hạn chế về mặt pháp lý, những vướng
mắc mà cơ quan tiến hành tố tụng gặp phải Từ đó, bằng phương pháp tổng hợp và
logic, người viết đề ra những cách giải quyết cụ thể cho từng trường hợp, góp phần định
hướng cho việc đề ra những biện pháp để giải quyết những vấn đề có thể xảy ra trong
tương lai về mặt pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật
5 Bố cục của đề tài
Để thuận tiện cho việc theo dõi, nghiên cứu cũng như tránh bỏ sót những vấn đề
quan trọng cần đề cập, người viết phân chia luận văn làm ba Chương, bao gồm:
Chương 1 Lý luận về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
Chương 2 Quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa theo quy định của
BLTTHS hiện hành
Chương 3 Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện
Qua đây người viết xin chân thành cảm ơn tất cả thầy, cô giảng dạy của Khoa
Luật, trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là cô Mạc Giáng Châu – người đã tận tình
hướng dẫn, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu
này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được song do còn
hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu nên đề tài vẫn còn những hạn chế
và thiếu sót nhất định Rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và
các bạn!
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LỰA CHỌN, THAY ĐỔI,
TỪ CHỐI NGƯỜI BÀO CHỮA
Nghiên cứu lý luận là một nền tảng vững chắc, làm cơ sở cho việc nhận định luật
thực định Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học nói chung và
khoa học pháp lý nói riêng thì vấn đề lý luận có vai trò quan trọng, tạo tiền đề cho việc
đưa ra các phương hướng, cách thức giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt
pháp lý cũng như về thực tiễn một cách phù hợp nhất Vì vậy, nắm được khái quát
chung về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa và cơ sở làm phát sinh các
quyền này có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
1.1 Khái quát chung về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
Với mục tiêu đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những đối tượng bị tình
nghi phạm tội thì quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa là một biện pháp
thiết thực Để có cách hiểu và nhìn nhận đúng đắn thì việc tìm hiểu các khái niệm về
quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa có vai trò quan trọng Có làm rõ các
khái niệm nêu trên thì việc áp dụng trên thực tế mới được đảm bảo thực hiện
1.1.1 Khái niệm về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Quyền con người luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm, bao gồm các
quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… Ở nước ta, các quyền con người luôn được
tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp Trong đó,
quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là một quyền quan trọng và cần thiết, là một
nguyên tắc được thể chế từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp1992 Một trong những biện
pháp bảo đảm quyền bào chữa đó chính là quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo Điều 132 Hiến pháp 1992 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo
được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong các quyền để
họ bảo vệ mình trước cơ quan tiến hành tố tụng Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
(sau đây gọi là BLTTHS) quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Bào chữa là việc sử dụng các quyền cụ thể mà
pháp luật quy định để bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước sự buộc tội của
cơ quan tiến hành tố tụng hoặc làm giảm trách nhiệm cho họ Nếu quyền bào chữa được
Trang 10đảm bảo thực hiện tốt thì ảnh hưởng của nó đến người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
không thể phủ nhận được Quyền bào chữa cho phép người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có
thể chỉ ra được các chứng cứ có lợi cho mình Với quyền tự bào chữa, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo được sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm để chống lại,
bác bỏ, phủ nhận lời buộc tội của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc để làm giảm
trách nhiệm pháp lý cho mình trong vụ án hình sự Khi đứng trước sự tình nghi của cơ
quan pháp luật cho rằng một người có hành vi phạm tội, tức là hành động cáo buộc đó
đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của công dân mặc dù cáo buộc đó là có cơ sở,
pháp luật tố tụng hình sự thông qua cái gọi là quyền tự bào chữa cho phép người bị tình
nghi phạm tội bằng các quyền cụ thể, vận dụng có hiệu quả để tự bảo vệ cho mình Khi
đó, nếu pháp luật không cho phép họ bào chữa cho mình thì đó chính là sự bất bình
đẳng Như đã biết, lời khai của bị cáo sẽ trở thành chứng cứ gỡ tội cho họ nếu như nó
phù hợp với các chứng cứ khác1 Vì vậy, khi chủ thể bị nghi vấn phạm tội này có quyền
tự bào chữa, họ khai báo, lý giải về các vấn đề liên quan có thể sẽ đưa ra các chứng cứ
có lợi cho mình Đó là trong trường hợp đối tượng bị tình nghi có khả năng tự bảo vệ
quyền lợi cho mình Đặt trường hợp họ không hiểu biết pháp luật, không có khả năng tự
bào chữa nếu không được nhờ người khác bảo vệ thì quyền bào chữa rất dễ trở thành
quy định mang tính hình thức Chỉ số ít những người phạm tội là người có kiến thức
pháp luật nhưng khả năng vận dụng vào quá trình bảo vệ mình trước cơ quan tiến hành
tố tụng là điều không dễ dàng Do đó, phải cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền
được nhờ người khác bào chữa Bằng khả năng của mình, người bào chữa sẽ chỉ ra các
vấn đề có ý nghĩa đối với quá trình định tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các
trách nhiệm pháp lý khác Với mục tiêu đó, để tìm được người bào chữa phù hợp nhằm
đạt hiệu quả cao nhất, pháp luật tố tụng hình sự đã trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo quyền được lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa (Điều 57)
Bên cạnh đó, trong quá trình xác định sự thật vụ án, cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có thể sẽ bỏ sót một số chứng cứ là cơ sở cho việc xác định
người phạm tội cũng như tội danh Điều này ảnh hưởng rất lớn, có thể dẫn đến oan sai,
làm oan người vô tội Do đó, bằng việc trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền
được tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đã giúp cho cơ quan có thẩm quyền hạn
chế tình trạng trên Từ những chứng cứ mới được cung cấp từ phía người bị tình nghi
và người bào chữa của người bị tình nghi, trên cơ sở đã kiểm tra tính chính xác, cơ quan
tiến hành tố tụng có thể sẽ xác định được ai mới chính là người thực hiện tội phạm, đảm
bảo xét xử đúng người, đúng tội
Trang 11Việc buộc tội và gỡ tội phải song song tồn tại Có như vậy mới đảm bảo tính
chính xác của quá trình tố tụng Nếu pháp luật tố tụng hình sự chỉ quan niệm buộc tội là
chức năng duy nhất mà không cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền gỡ tội thì sẽ
dẫn đến sai lầm Hậu quả của việc không có quyền bào chữa dễ nhận thấy nhất là quyền
lợi của công dân, cụ thể là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị xâm phạm
Xuất phát từ mục đích nhân đạo, pháp luật tố tụng hình sự đã xác định quyền bào chữa
gồm hai quyền là tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Nếu nhận thấy bản thân
không có khả năng tự bảo vệ mình thì quyền nhờ người khác bào chữa là một công cụ
giúp cho quyền lợi của đối tượng bị tình nghi phạm tội được bảo vệ Vì lẽ đó, để có
được người bào chữa có năng lực cũng như kinh nghiệm thì pháp luật đã trao cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền lựa chọn, thay đổi, người bào chữa nhằm tìm được
người bào chữa phù hợp nhất
1.1.1.1 Khái niệm về quyền lựa chọn người bào chữa
Lựa chọn là việc bằng sự suy nghĩ, cân nhắc về đặc điểm, tính chất, tác dụng của
đối tượng để chủ thể chọn ra đối tượng phù hợp với từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể
Lựa chọn người bào chữa là việc chủ thể đã cân nhắc, suy nghĩ và chọn ra người
bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, sao cho người bào chữa được lựa chọn phù hợp với
những điều kiện mà chủ thể lựa chọn đã đưa ra
Như vậy, quyền lựa chọn người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
người đại diện hợp pháp của họ là việc bằng cách vận dụng những quyền pháp luật cho
phép mà những chủ thể này lựa chọn được người bào chữa thích hợp để bào chữa cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Có thể hiểu đây là một biện pháp bảo đảm của quyền bào chữa Một khi nhận
thấy không có khả năng tự bào chữa thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhờ người giúp
đỡ cho mình Chủ thể có quyền có thể sẽ chọn những người trong số đối tượng được
pháp luật cho phép làm người bào chữa để bảo vệ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo2
Xác định được là phải có người bào chữa, khi họ đã lựa chọn người bào chữa phù hợp
thì không một cơ quan hay người tiến hành tố tụng nào được phép bác bỏ hay từ chối
mà không có lý do chính đáng Sự lựa chọn này phải được mọi người tôn trọng vì đó là
sản phẩm của quyền mà pháp luật đã trao cho họ Trên cơ sở đã suy nghĩ, cân nhắc, có
nên nhờ hay không nên nhờ người bào chữa, có nhờ thì nhờ người nào cho phù hợp thì
khi đã chọn được người bào chữa, người có quyền đã đặt quyền lợi của mình vào người
2
Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS 2003 thì người bào chữa có thể là Luật sư; Người đại diện hợp pháp của
Trang 12bào chữa đó Hơn ai hết, người bào chữa này có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tội danh, khung hình phạt được áp dụng cho
những đối tượng này cũng bị phụ thuộc nhiều vào khả năng cũng như kỹ năng nghề
nghiệp của người bào chữa Do đó, quyền lựa chọn người bào chữa phải được tôn trọng
vì nó có ý nghĩa quyết định đến “số phận” của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Nếu
người bào chữa đã được chọn này bị người khác từ chối thì vô tình cơ hội được bảo vệ
của người bị tình nghi phạm tội sẽ không được thực hiện Người bào chữa đã được lựa
chọn có thể đã hoàn toàn phù hợp với người bị tình nghi, với vụ án cụ thể này Có thể
họ là người hiểu rõ và cũng là chỗ dựa tinh thần cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Khi có người bào chữa này, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ yên tâm hơn, có thể sẽ
có thái độ khai báo tốt hơn để được sự khoan hồng của pháp luật, hoặc sẽ được chứng
minh oan sai nếu họ là người vô tội Do đó, nếu quyền lựa chọn người bào chữa không
được tôn trọng thì khả năng quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị xâm phạm
là điều không tránh khỏi
Đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì ngoài họ ra, người đại diện hợp pháp cũng có
quyền lựa chọn người bào chữa tương tự như quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo Tức là họ có quyền lựa chọn người bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho người mà
mình đại diện Tuy nhiên, việc lựa chọn người bào chữa như thế nào không những phụ
thuộc vào ý chí của người có quyền lựa chọn mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như
tác động của người thân, các điều kiện về kinh tế… Có thể người bào chữa được chọn
rất phù hợp với vụ án nhưng cũng không tránh khỏi việc lựa chọn không chính xác
Người bào chữa được chọn trong trường hợp này có thể là người không có kỹ năng và
không chuyên về nghề nghiệp Nếu người bị tình nghi phạm tội không thể tự bảo vệ
mình trước cơ quan tiến hành tố tụng nên đã nhờ người bào chữa nhưng người bào chữa
này không đủ khả năng thì có thể quyền và lợi ích chính đáng của họ sẽ bị xâm phạm
Bản thân đã không có khả năng tự bào chữa nên sự giúp đỡ từ người có kiến thức pháp
luật có vai trò rất lớn Nếu người bào chữa được nhờ thật sự có kỹ năng và nhiệt tình
trong công việc thì quyền lợi của người bị tình nghi phạm tội càng được bảo vệ Ngược
lại nếu người bào chữa được lựa chọn hoàn toàn không có tâm, có tài trong việc bảo vệ
quyền lợi cho thân chủ mình thì quyền lợi của người bị tình nghi phạm tội chắc chắn
không được bảo vệ Mục đích nhờ người bào chữa trong trường hợp này hoàn toàn
không thực hiện được Không những vậy, người bào chữa không có tâm sẽ lợi dụng tư
cách người bào chữa để trục lợi, có thể làm cho gia đình người bị tình nghi phạm tội rơi
vào hoàn cảnh khó khăn, làm ảnh hưởng đến lòng tin của quần chúng nhân dân vào quá
trình cải cách tư pháp mà cụ thể là nâng cao tính tranh tụng trong quá trình xét xử Một
Trang 13thí dụ minh chứng cho việc luật sư lợi dụng tư cách người bào chữa để làm cho gia đình
bị cáo rơi vào hoàn cảnh khó khăn là: Vào cuối năm 2004, Trương Tiến Dũng sinh năm
1968 trú tại thôn 4 xã Ia-Blang-Chư sê-Gia phạm tội hiếp dâm trẻ em Sau khi phiên tòa
sơ thẩm diễn ra, luật sư Tống Đức Ngũ thuộc Đoàn luật sư Gia Lai đã đến nhà của bà
Hầu Thị Hảo vợ của ông Dũng giới thiệu mình là luật sư và gợi ý sẽ bào chữa cho Dũng
với điều kiện là gia đình phải bồi dưỡng 10 triệu đồng Bà Hảo không có tiền phải chạy
vạy cả tuần, đến ngày 5/5/2005 thì giao đủ số tiền cho ông Ngũ Đến ngày 11/5/2005,
ông Ngũ đòi thêm 5.742.000 gọi là tiền bồi thường thiệt hại thay cho Dũng Tuy nhiên,
ngày Dũng ra tòa thì luật sư Ngũ không có mặt để bào chữa cho thân chủ của mình3
Trong vụ án này, người được lựa chọn để bào chữa cho bị cáo Dũng là luật sư
Tống Đức Ngũ Tuy nhiên, không những luật sư này không thực hiện đúng trách nhiệm
của mình mà còn làm cho gia đình bị cáo rơi và hoàn cảnh khó khăn Việc làm này
không những ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với giới luật sư mà còn làm ảnh
hưởng đến mục tiêu cải cách tư pháp theo hướng tranh tụng của quá trình tố tụng
Có thể nói, quyền lựa chọn người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can bị cáo
và quyền lựa chọn người bào chữa của người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần là độc lập nhau Với mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị tình nghi phạm tội trước sự cáo buộc của
cơ quan có thẩm quyền thì quyền được có người bào chữa là một biện pháp bảo đảm
thực hiện Ý chí của chủ thể có quyền trong việc có nên nhờ hay không nên nhờ người
bào chữa, có nhờ thì nhờ người nào cho phù hợp đã giúp cho việc lựa chọn người bào
chữa được chính xác Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được sự giúp đỡ của người bào
chữa phù hợp sẽ có cơ hội được cải thiện về tội danh cũng như khung hình phạt được áp
dụng Ngược lại, nếu không được sự giúp đỡ của người bào chữa phù hợp cũng như
quyền lựa chọn người bào chữa không được tôn trọng thì quyền lợi của những đối
tượng bị tình nghi phạm tội có thể sẽ bị xâm phạm Vì vậy, quyền lựa chọn người bào
chữa càng phải được tôn trọng và đảm bảo thực hiện Có như vậy mới thể hiện được
tính dân chủ của pháp luật tố tụng hình sự, mục đích nhân đạo của pháp luật sẽ được
thực hiện có hiệu quả
1.1.1.2 Khái niệm về quyền thay đổi người bào chữa
Quyền bào chữa được thực hiện bởi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy
định tại Điều 11 BLTTHS là một trong những phương pháp để thực hiện nguyên tắc
3
Việt Báo, Một luật sư chuyên chiếm tiền của thân chủ, Huỳnh Kiên,
Trang 14http://vietbao.vn/Xa-hoi/Mot-luat-su-đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo theo Điều 132 Hiến pháp 1992 Để nguyên tắc này
được thực thi, ngoài quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì quyền
nhờ người khác bào chữa càng củng cố hơn quyền bào chữa đối với những người này
Nhờ người khác bào chữa không những quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo không bị mất đi mà còn nhân đôi khả năng bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình
Để có được người bào chữa thích hợp thì quyền lựa chọn người bào chữa của người bị
tình nghi vẫn chưa có khả năng đáp ứng được một cách trọn vẹn Không phải lúc nào
việc lựa chọn người bào chữa cũng phù hợp nên pháp luật cho phép những người này
có quyền thay đổi người bào chữa đã được họ lựa chọn hoặc yêu cầu thay đổi người bào
chữa được cử theo quy định của pháp luật
Thay đổi là việc chủ thể suy nghĩ, cân nhắc về những đặc điểm, tính chất của đối
tượng mà mình đã có, so sánh với một đối tượng khác mà mình chưa có Cuối cùng chủ
thể đã không giữ lại đối tượng đã có và thay vào đó là đối tượng khác do đối tượng
khác này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của chủ thể
Sự thay đổi người bào chữa xuất phát từ ý chí của chủ thể có quyền Khi nhận
thấy người bào chữa không phù hợp, không nhiệt tình với công việc hoặc không có kỹ
năng thật sự thì thay đổi người bào chữa là điều cần thiết So với trường hợp thay đổi
người bào chữa do người bị tình nghi và người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn, các
trường hợp bắt buộc phải phải thay đổi người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều
56 BLTTHS 2003 do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, bị can, bị cáo và người đại diện
hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi nếu người bào chữa thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
- Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người thân thích của người đã hoặc
đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó
- Người tham gia trong vụ án đó là người làm chứng, người giám định hoặc
người phiên dịch
Để đảm bảo quá trình tố tụng được khách quan thì Điều 56 đã một phần thực
hiện được điều đó Quyền thay đổi người bào chữa nhằm mục đích là tìm người bào
chữa phù hợp, đảm bảo tốt nhất cho quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được
bảo vệ Trong trường hợp người bào chữa được cơ quan có thẩm quyền cử cho bị can,
bị cáo thì họ và người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền yêu cầu thay đổi người
bào chữa ấy nếu thuộc vào một trong các trường hợp nêu trên Đây cũng là một đảm
bảo giúp cho bị can, bị cáo bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua
sự giúp đỡ của người bào chữa
Trang 15Thay đổi người bào chữa là việc chủ thể suy nghĩ, cân nhắc, so sánh các đặc
điểm, tính chất giữa một người bào chữa được chọn hoặc được cử theo quy định của
pháp luật với người có tư cách là người bào chữa khác Do phù hợp với điều kiện, tiêu
chí nên chủ thể đã không giữ lại người bào chữa ban đầu và thay vào đó là người bào
chữa khác phù hợp hơn với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằm bảo vệ tốt nhất quyền
và lợi ích chính đáng của họ
Quyền thay đổi người bào chữa là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
người đại diện hợp pháp thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm thay đổi người
bào chữa do chính họ lựa chọn hoặc người bào chữa được cử và thay vào đó là người
bào chữa khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo
Khi nhận thấy người bào chữa không có kỹ năng, không nhiệt tình hay vì lý do
nào đó mà không khách quan trong công việc của mình thì pháp luật trao cho người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp quyền thay đổi Một khi đã quyết
định thay đổi thì phía cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể khác phải tôn trọng,
không được từ chối nếu không có lý do chính đáng Chính quyền này đã giúp cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo tìm được người bào chữa tốt nhất, phù hợp nhất để bảo vệ
quyền lợi cho mình trước sự cáo buộc của cơ quan có thẩm quyền Bên cạnh đó, khắc
phục được sai lầm của việc lựa chọn người bào chữa không phù hợp cũng như việc cử
người bào chữa mà không xem xét các điều kiện từ phía cơ quan có thẩm quyền Nếu
pháp luật không trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp
của họ quyền được thay đổi người bào chữa thì sẽ là khó để tìm người bào chữa phù
hợp Khi đó, quyền nhờ người khác bào chữa sẽ không phát huy được hiệu quả Được
nhờ người khác bào chữa nhưng người bào chữa không khách quan, không nhiệt tình
bảo vệ mình mà bản thân mình lại không được quyền thay đổi, khi đó, quyền lợi của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ không được bảo vệ, trái lại còn làm cho quá trình tố
tụng bị ảnh hưởng
Có thể nhận thấy rằng, quyền lựa chọn, thay đổi người bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diên hợp pháp của họ là hai quyền có quan hệ chặt
chẽ với nhau Cả hai có cùng mục tiêu là nhằm tìm ra người bào chữa thích hợp để bảo
vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi phạm tội một cách tốt nhất
Quyền lựa chọn người bào chữa làm cơ sở cho quyền thay đổi người bào chữa Nếu
không có người bào chữa do mình lựa chọn thì dĩ nhiên sẽ không phát sinh quyền thay
đổi của chủ thể trừ trường hợp người bào chữa được tổ chức, đoàn thể cử theo quy định
của pháp luật Đây là điểm hoàn toàn đúng đắn, không những họ có quyền thay đổi
Trang 16người bào chữa đã được họ lựa chọn trước đó mà có quyền yêu cầu thay đổi cả người
bào chữa được cử theo quy định của pháp luật do người bào chữa này rơi vào các
trường hợp không được trở thành người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 56
BLTTHS4 Quy định này đã hạn chế được hậu quả của tình trạng cử người bào chữa
nhưng không xem xét các điều cụ thể của cơ quan có thẩm quyền Nếu người có quyền
yêu cầu thay đổi người bào chữa mà cụ thể là bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp
của họ không có yêu cầu để cơ quan có thẩm quyền xem xét thì rất có thể quyền lợi của
bị can, bị cáo bị ảnh hưởng Đồng thời, nếu cơ quan có thẩm quyền do có sai sót trong
việc cử người bào chữa nhưng người bào chữa ấy lại không được thay đổi thì đó cũng
là một trong những trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và cũng là nguyên
nhân dẫn đến oan sai Vì vậy, cần thiết phải trao cho người bị tình nghi phạm tội, người
đại diện hợp pháp của họ được thay đổi người bào chữa đã lựa chọn và trao cho bị can,
bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ được yêu cầu thay đổi người bào chữa được cử,
có như vậy mới đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân, hạn chế xảy ra oan sai, đảm
bảo lòng tin của nhân dân và nhà nước và pháp luật
1.1.1.3 Khái niệm về quyền từ chối người bào chữa
Từ chối là việc bằng sự suy nghĩ, cân nhắc về những đặc điểm, thuộc tính của
đối tượng mà mình đang có mà chủ thể quyết định từ bỏ đối tượng do đối tượng đó
không còn cần thiết, không phù hợp trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định
Từ chối người bào chữa là việc chủ thể quyết định không nhờ người khác bào
chữa bằng cách từ chối người đã được chủ thể nhờ hoặc được cử theo quy định của
pháp luật làm người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Quyền từ chối người bào chữa là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện theo những quy
định của pháp luật nhằm từ chối người bào chữa đã được họ lựa chọn hoặc được cơ
quan có thẩm quyền cử theo quy định của pháp luật
Khi nhận thấy người bào chữa không có khả năng bảo vệ cho quyền lợi của
người bị nghi ngờ là phạm tội, chủ thể có quyền có thể từ chối người bào chữa đó
Cũng có thể vì nhận thức không cần có người bào chữa nên họ đã từ chối người này
4
Khoản 2 Điều 57 quy định:
“Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào
chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử
người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử
người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp
của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.”
Trang 17Cho phép được từ chối người bào chữa là biện pháp mà pháp luật trao cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của những người này để tránh được tình
trạng người bào chữa không có khả năng thực hiện công việc mà còn làm cho họ rơi
vào tình trạng xấu đi Về phương diện nào đó, đối với người bị tình nghi phạm tội có
khả năng tự bào chữa cho mình thì người bào chữa trở nên không cần thiết Mặc dù khi
nhờ người khác bào chữa thì quyền tự bào chữa của người bị tình nghi phạm tội không
mất đi nhưng về khía cạnh nào đó thì khả năng bào chữa để tự bảo vệ quyền lợi cho
mình của người bị tình nghi bị lu mờ, ít nhiều thành công trong việc bảo vệ quyền lợi
cũng có sự đóng góp của người bào chữa Và từ chối người bào chữa cũng là cơ hội để
họ thể hiện được khả năng bào chữa của chính mình, bản thân sẽ vận dụng kiến thức và
kỹ năng để tự bảo vệ quyền lợi, không cần sự giúp đỡ của người khác Vì vậy, một khi
đã quyết định từ chối người bào chữa thì không một cơ quan hay người tiến hành tố
tụng nào được phản bác nếu không có lý do chính đáng trên cơ sở đã giải thích về
quyền lợi cũng như ảnh hưởng của việc làm này Kể cả trường hợp người bào chữa
được cử theo Điều 57 BLTTHS 2003 thì bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của
họ cũng có quyền từ chối người bào chữa đó Không ai được ép buộc họ nhận người
bào chữa mà họ không đồng ý Bởi lẽ, khi người bị tình nghi biết được người bào chữa
không nhiệt tình với công việc mà thậm chí còn có thể làm xấu đi tình trạng của mình
mà bản thân họ lại không có quyền từ chối đó thì đó là điều vô lý Không những quyền
lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được bảo vệ mà tính khách quan của quá
trình tố tụng cũng sẽ bị ảnh hưởng
Quyền từ chối người bào chữa được dành cho hai nhóm đối tượng là người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của những người này Tuy nhiên,
quyền của hai nhóm đối tượng này mang tính độc lập tương đối Mỗi chủ thể đều có
quyền từ chối nhưng chỉ được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận nếu hai nhóm chủ thể
này cùng nhất trí từ chối5 Đây là quy định đúng đắn, hạn chế được tình trạng từ chối
người bào chữa vì lý do nhận thức không đầy đủ của các chủ thể Hạn chế được khả
năng các chủ thể có quyền từ chối người bào chữa nhưng không xuất phát từ chính mục
đích bảo vệ quyền lợi cho người bị tình nghi phạm tội mà vì mục đích riêng tư, muốn
5
Theo quy định tại điểm d2 tiểu mục d mục 3 Phần II của Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định chung của BLTTHS 2003 thì:
“Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà cả bị cáo
và người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối người bào chữa thì cần phải ghi vào biên bản
phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của người bào chữa đã được cử
Nếu chỉ có bị cáo từ chối người bào chữa, còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không từ chối người bào chữa
hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của bị cáo từ chối người bào chữa, còn bị cáo không từ chối người bào chữa,
Trang 18làm bất lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn nhiều
bất cập về mặt pháp lý cũng như thực tiễn Đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì
quyết định từ chối người bào chữa của họ có thể sẽ không chính xác Cũng cần nhấn
mạnh rằng từ chối người bào chữa không có nghĩa là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo từ
bỏ đi quyền bào chữa của mình, bằng khả năng cũng như kiến thức pháp luật những
người này vẫn có thể tự bảo vệ mình trước sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng
1.1.2 Một số quan niệm về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
Bào chữa là một trong những hoạt động đặc trưng của tố tụng hình sự và bảo
đảm quyền bào chữa là nguyên tắc hết sức quan trọng trong tố tụng hình sự xã hội chủ
nghĩa Để đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì ta không thể
không cho họ quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa Việc thực hiện nguyên
tắc đảm bảo quyền bào chữa trong tố tụng hình sự cũng như cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào
chữa không những thể hiện được tính dân chủ mà còn thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ
nghĩa trong hoạt động tư pháp Để xây dựng được một xã hội tiến bộ, công bằng, văn
minh thì yêu cầu đặt ra đối với các nhà lập pháp và các cơ quan tiến hành tố tụng là
phải bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng đặc biệt là
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Về khái niệm quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa trong tố tụng
hình sự hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau, các quan điểm ấy gắn liền với
quyền bào chữa trong tố tụng hình sự ở mỗi chế độ khác nhau, quan điểm giai cấp khác
nhau Do có các quan điểm khác nhau về quyền bào chữa nên việc lựa chọn, thay đổi,
từ chối người bào chữa cũng sẽ có nhiều cách hiểu
BLTTHS Nhật Bản quy định quyền lựa chọn người bào chữa thuộc về bị cáo và
người bị tình nghi cụ thể là “bị cáo hoặc người bị tình nghi có thể lựa chọn luật sư bào
chữa bất kỳ lúc nào6” Có thể thấy chủ thể có quyền lựa chọn người bào chữa theo quy
định này là tương đối rộng Người bị tình nghi trong trường hợp này có thể là người
đang bị tạm giữ, bị can hay bị cáo, những người có dấu hiệu đã thực hiện hành vi phạm
tội Theo quy định tại Điều 57 BLTTHS Việt Nam năm 2003 thì người bào chữa do
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn Xuất phát
từ nhu cầu thực tế, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có
6
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nguyễn Duy Hưng, http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?
option=com_content&view=article&id=462:tc2004so4vsbccnttt&catid=97:ctc20043&Itemid=107, [truy cập ngày
10/7/2010]
Trang 19nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần vẫn xảy ra Bản thân là những đối tượng có năng
lực hành vi dân sự không đầy đủ nên lựa chọn được người bào chữa thích hợp cũng là
điều khó khăn Do đó, BLTTHS Việt Nam cho phép người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền được lựa chọn người bào chữa nhằm bảo vệ tốt nhất
cho quyền lợi của người mình đại diện là đã phù hợp với xu hướng chung của các
nước7, cho phép những đối tượng bị tình nghi phạm tội được sự giúp đỡ của người khác
thông qua việc lựa chọn người bào chữa
Về vấn đề từ chối người bào chữa, thì Bộ luật TTHS Liên bang Nga có quy định
về thủ tục đặc biệt tại Chương 40 (từ Điều 314 đến Điều 317) Thủ tục đặc biệt này cho
phép bị cáo khi đã nhận ra tội lỗi của mình có quyền tự nguyện yêu cầu Tòa án ra bản
án (những bản án phải dưới năm năm tù giam) mà không cần tiến hành xét xử nếu Công
tố viên hay người bị hại không phản đối Và khi Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục
đặc biệt này pháp luật tố tụng hình sự đòi hỏi Tòa án phải mời người bào chữa tham
gia Nhưng nếu bị cáo từ chối thì việc mời này không có tác dụng, nghĩa là Tòa án giải
quyết vụ án mà không cần có sự tham gia của người bào chữa, Tòa án không cần xem
xét lý do bị cáo từ chối người bào chữa8
Theo điểm d2 tiểu mục d mục 3 Phần II Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP ngày
02/10/2004 quy định, khi từ chối người bào chữa, cả bị can, bị cáo và người đại diện
hợp pháp của họ phải cùng nhất trí Nếu một trong hai nhóm chủ thể này không từ chối
thì quá trình tố tụng phải được tiến hành với sự tham gia của người bào chữa đã được
cử Do đó, trong trường hợp bị can, bị cáo do không có suy nghĩ đúng đắn nên đã từ
chối người bào chữa thì với việc không từ chối người bào chữa của người đại diện hợp
pháp đã ngăn chặn được hành động này Có thể nói, về khía cạnh này, BLTTHS Việt
Nam 2003 tiến bộ hơn BLTTHS Liên bang Nga
7
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966,
trong đó, các chuẩn mực quốc tế về quyền bào chữa bao gồm:
1 Quyền được có người bào chữa do mình lựa chọn;
2 Quyền được có thời gian để chuẩn bị cho phiên tòa bao gồm tiếp xúc với người bào chữa;
3 Quyền được giao tiếp với luật sư;
4 Quyền bào chữa thông qua trợ giúp pháp lý;
5 Quyền được tạm hoãn thủ tục tố tụng để tham vấn luật sư;
6 Quyền tự bào chữa;
7 Quyền bào chữa là hành vi bảo vệ quyền lợi của bị cáo;
8 Quyền không phải tiến hành tố tụng với luật sư bào chữa là người không đủ năng lực hoặc thiếu cẩn thận
trong khi bị can, bị cáo đã có luật sư phù hợp;
9 Quyền bào chữa trong tất cả các giai đoạn tố tụng đối với hình phạt án tử hình
8
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo Bộ
option=com_content&view=article&id=462:tc2004so4vsbccnttt&catid=97:ctc20043&Itemid=107, [truy cập ngày
Trang 20Cho đến nay quan niệm về quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
trong tố tụng hình sự được quy trong pháp luật các nước Tùy thuộc vào tình hình thực
tế về trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật, vấn đề tội phạm của mỗi quốc gia mà pháp
luật có quy định cụ thể Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng tỏ ra rất
phù hợp với các nước về vấn đề cho phép những người bị tình nghi phạm tội được sự
giúp đỡ từ người bào chữa do mình lựa chọn
Một người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hay bị bắt khẩn cấp và sau
đó họ bị áp dụng biện pháp tạm giữ cũng có nghĩa là người đó đang bị cơ quan chức
năng buộc tội về hành vi mà khiến họ bị tạm giữ Hơn nữa, khi một người bị bắt và bị
tạm giữ thì họ đã bị hạn chế quyền tự do thân thể nên lúc này rất cần sự giúp đỡ về mặt
pháp lý Mục đích của việc tạm giữ là giúp cơ quan có thẩm quyền bước đầu xác định,
làm rõ hành vi của người bị tạm giữ, nếu không có đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải ra
quyết định trả tự do cho họ Từ đó, BLTTHS 2003 đã có sự đổi mới Điều 11 BLTTHS
2003 đã chỉ ra nguyên tắc quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bằng quy
định: “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào
chữa” Theo đó cũng đã thừa nhận quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
Theo Điều 57 BLTTHS 2003 thì: “Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
và người đại diên hợp pháp của họ lựa chọn” Quy định này trao cho người bị tạm giữ
quyền bào chữa mà cụ thể hơn đó là quyền tự lựa chọn người bào chữa cho mình Sự
đổi mới này là một tất yếu khách quan của quá trình lập pháp Trong một vụ án khi có
đối tượng bị bắt và bị tạm giữ thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã bị xâm phạm
Mặc dù chưa bị khởi tố nhưng người bị tạm giữ đã bị buộc tội dù ở mức độ này hay
mức độ khác, họ đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là bị tạm giữ, một
biện pháp ngăn chặn Chính vì quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm nên
người bị tạm giữ và người đại diện hợp pháp của họ hoàn toàn có tư cách được nhờ
người khác bào chữa theo quy định của pháp luật
Việc điều tra, truy tố, xét xử trên thực tế cho thấy, không phải lúc nào buộc tội
trong tố tụng hình sự cũng chính xác mà vẫn còn nhiều trường hợp buộc tội oan Do
vậy, quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa trao cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ là một yêu cầu khách quan trong hoạt động tư
pháp nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được đúng đắn
Như vậy, quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa là quyền của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp thực hiện theo quy định của pháp
luật để có thể lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa nhằm bác bỏ một phần hoặc
Trang 21toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo
1.2 Cơ sở làm phát sinh quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa
Nghiên cứu về quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa và sự kết hợp giữa
hai quyền này của những đối tượng bị tình nghi phạm tội sẽ lý giải được cơ sở làm phát
sinh quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa Từ đó, thấy được tầm quan trọng
của quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa và giúp cho chủ thể có quyền có
cách nhìn đúng đắn, chú trọng hơn trong việc vận dụng các quyền này của mình một
cách hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
1.2.1 Quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Cho đến nay, chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm khái quát về
quyền tự bào chữa Ta có thể hiểu cụm từ “quyền tự bào chữa” như sau Trước tiên, đây
là một quyền chứ không phải là một nghĩa vụ hay trách nhiệm, người ta có thể thực
hiện mà không bị coi là có tội hay sai phạm Lẽ dĩ nhiên, nếu là quyền thì cần phải được
tôn trọng và bảo vệ Một người hành động xuất phát từ ý chí, từ sự nhận thức của bản
thân để biện minh, biện hộ cho việc làm, hành động nhằm chứng minh sự vô can hoặc
làm giảm trách nhiệm của mình do hành động đã gây ra, nói khác hơn đó là tự bào
chữa Thật bất công nếu việc mình không làm nhưng bị người khác nghi ngờ là do mình
thực hiện mà chính bản thân mình lại không được quyền lý giải, biện minh Chính vì
vậy, quyền tự bào chữa là một tất yếu khách quan cần phải có để bản thân có thể tự bảo
vệ mình Qua phân tích có thể hiểu quyền tự bào chữa đó là chủ thể bằng hành vi của
mình vận dụng điều mà xã hội công nhận, pháp luật cho phép làm để chứng minh, biện
hộ cho bản thân khi chính chủ thể bị đe dọa phải chịu trách nhiệm về một hành động
nào đó nhằm thoát khỏi sự buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm mà chủ thể có thể phải
gánh chịu
Có thể đưa ra khái niệm sơ lược về quyền tự bào chữa trong tố tụng hình sự như
sau: quyền tự bào chữa là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vận dụng các
quyền mà pháp luật cho phép để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm trách nhiệm pháp
lý cho mình
Theo Điều 132 Hiến pháp 1992 thì: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm”
Theo đó, văn bản pháp lý thể hiện tính ưu việt, ngày càng phát triển của nền lập pháp
nước ta về quyền bào chữa là BLTTHS 2003 Điều 11 Bộ luật này quy định: “Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Tính ưu
Trang 22việt thể hiện ở chỗ trao cho người bị tạm giữ quyền bào chữa so với BLTTHS 1988 chỉ
có đối tượng là bị can, bị cáo
Quyền con người là một vấn đề quan trọng luôn được nhà nước quan tâm Có
bảo vệ được quyền con người thì mới thể hiện được tính dân chủ xã hội chủ nghĩa Vì
vậy, khi đứng trước sự tình nghi của cơ quan pháp luật cho rằng một người có hành vi
phạm tội tức là hành động cáo buộc đó đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của công
dân, mặc dù sự cáo buộc này là có cơ sở Với nền lập pháp non trẻ và ngày càng hoàn
thiện thì pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ
quyền con người Pháp luật tố tụng hình sự đã thông qua quyền tự bào chữa cho phép
người bị tình nghi phạm tội vận dụng các quyền cụ thể để tự bảo vệ quyền lợi cho mình
Nếu pháp luật không cho phép họ tự bảo vệ mình thì đó là điều bất bình đẳng, chỉ coi
trọng sự buộc tội mà không coi trọng quyền gỡ tội và hệ quả đó chính là sự xâm phạm
quyền con người, quyền công dân, gây ra oan sai và không đảm bảo tính nghiêm minh
của pháp luật
Khi quyền và lợi ích bị xâm phạm thì chính là lúc người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo phải phát huy quyền làm chủ bằng cách tự bảo vệ mình thông qua các quyền mà
pháp luật cho phép Tự bào chữa cho mình tức là họ đã đưa ra bằng chứng, lập luận
chứng minh cho sự vô tội của mình Không những vậy, thông qua đó họ đã giúp cơ
quan tiến hành tố tụng làm sáng tỏ vụ án, xét xử đúng người, đúng tội, không để lọt tội
phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Như vậy, với quyền tự bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tự bảo
vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình đồng thời giúp cho vụ án được giải quyết
công bằng và chính xác hơn Thông qua đó có thể thấy được vai trò của quyền lựa chọn,
thay đổi, từ chối người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện
hợp pháp của họ Nếu cho rằng bản thân có thể bảo vệ được quyền lợi cho mình thì việc
nhờ người khác bào chữa trở nên không cần thiết Do đó, quyền từ chối người bào chữa
đã được họ lựa chọn hoặc được cử trong các trường hợp theo quy định của pháp luật sẽ
trở nên có ý nghĩa, họ có thể khẳng định được khả năng của bản thân mình thông qua
kiến thức và kỹ năng bào chữa mà họ có được và tránh được tình trạng người bào chữa
không có kỹ năng làm cho quá trình tố tụng thêm phức tạp Tuy nhiên, như đã nói từ
trước, việc nhờ người bào chữa không những quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo không mất đi mà còn tăng thêm khả năng tự bảo vệ quyền lợi cho mình
Lúc này quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa càng trở nên có ý nghĩa
Trang 231.2.2 Quyền nhờ người khác bào chữa
Đảm bảo quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là nguyên tắc chiếm một vị trí
đặc biệt quan trọng trong hệ thống những biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân nói chung và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng Để đảm bảo được
quyền này, pháp luật đã cho họ quyền tự bào chữa nhằm phản bác sự cáo buộc từ phía
cơ quan tiến hành tố tụng hoặc làm rõ những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
nói riêng và trách nhiệm pháp lý nói chung Tuy nhiên, như đã phân tích trước đó, trình
độ dân trí cũng như hiểu biết pháp luật ở nước ta còn thấp, số lượng cán bộ tư pháp có
trình độ chuyên môn còn là một vấn đề nan giải thì huống hồ gì đó là người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo Chỉ số ít trong nhóm người người bị tình nghi phạm tội này có kiến thức
về pháp luật nhưng để vận dụng kiến thức ấy bảo vệ cho mình trước cơ quan tiến hành
tố tụng là điều không dễ dàng Vì vậy, để đảm bảo quyền bào chữa, pháp luật đã trao họ
quyền được nhờ người khác bào chữa
Được quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự là một phần quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và là một đảm bảo quan trọng để họ có thể
thực hiện các quyền tố tụng khác Người bào chữa với trình độ pháp lý cũng như kinh
nghiệm tố tụng sẽ giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bảo vệ được quyền lợi cho
mình Tuy nhiên, không phải bất kỳ cá nhân nào cũng có thể trở thành người bào chữa
Đó phải là người có kiến thức nhất định về pháp luật hoặc là người có mối quan hệ đặc
biệt với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Việc pháp luật đòi hỏi để trở thành một người
bào chữa thì người đó phải đáp ứng các điều kiện nhất định cũng là một điều rất dễ
hiểu Nếu không có kiến thức pháp luật thì không những quyền lợi của người mà mình
bào chữa không được bảo vệ mà trái lại còn gây cản trở cho quá trình điều tra tìm ra sự
thật vụ án
Có thể khái quát về quyền nhờ người khác bào chữa đó là quyền của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ được quyền lựa chọn một
trong những người được pháp luật quy định để bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo
Như đã đề cập trước đó, hiện tại chưa có một văn bản pháp lý nào đưa ra khái
niệm về người bào chữa mà chỉ quy định tại Điều 56 BLTTHS 2003 rằng người bào
chữa có thể là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào
chữa viên nhân dân Tuy nhiên, có thể hiểu người bào chữa là người được người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của những người này mời hoặc được cơ
quan tiến hành tố tụng cử để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằm làm
Trang 24sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho những người
này và giúp đỡ họ về mặt pháp lý9
Như vậy, quyền nhờ người khác bào chữa là một trong những cơ sở làm phát
sinh quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa Nếu không nhờ người khác bào
chữa thì vấn đề lựa chọn, thay đổi hay từ chối người bào chữa sẽ không được đặt ra
Chỉ khi được pháp luật trao cho phương pháp bảo đảm quyền bào chữa là quyền nhờ
người khác bào chữa thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có thể quyết định là nhờ
hay không nhờ người bào chữa, có nhờ thì nhờ người nào phù hợp nhất Vì lẽ đó, quyền
lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa được đặt ra nhằm giúp cho người bị tình
nghi phạm tội tìm được người bào chữa phù hợp nhất giúp đỡ cho mình Đồng thời, nếu
có sự vận dụng các quyền một cách hợp lý thì chắc chắn chủ thể có quyền sẽ tìm được
người bào chữa phù hợp, đảm bảo hơn nữa quyền lợi chính đáng của mình
1.2.3 Sự kết hợp giữa quyền tự bào chữa với quyền nhờ người khác bào
chữa
Để bảo vệ mình trước sự buộc tội từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật đã
trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác
bào chữa Đó là hai biện pháp hữu hiệu để làm sáng tỏ vụ án và đảm bảo quyền bào
chữa của họ Điều 11 BLTTHS 2003 đã trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hai
quyền, tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Hai quyền này có thể được họ vận
dụng đồng thời hoặc riêng lẻ Nó không hề mâu thuẫn hay triệt tiêu nhau mà lại bổ
sung, hỗ trợ cho nhau Một khi đã vận dụng quyền này thì quyền kia không hề mất đi và
tùy vào chủ thể có quyền mà nó được vận dụng thích hợp Việc pháp luật trao cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền này nhằm mục đích cuối cùng là cho họ bảo vệ
quyền lợi chính đáng của mình, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo công bằng xã
hội, hạn chế oan sai xảy ra
Có thể nói, một khi trở thành đối tượng của sự buộc tội từ phía cơ quan tiến hành
tố tụng thì dù có hiểu biết pháp luật, có khả năng bào chữa thì với tâm lý e ngại phải đối
mặt với hình phạt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khó có thể tự bào chữa cho mình So
với người tiến hành tố tụng, những người hiểu biết pháp luật, được đào tạo pháp lý và
thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những đối
tượng đối lập hoàn toàn Người bị tình nghi phạm tội thường là những người có trình độ
hiểu biết pháp luật thấp, không có khả năng tự bào chữa cho mình Chính vì vậy, sự
giúp đỡ về mặt pháp lý cho họ từ người bào chữa là cần thiết Càng nhấn mạnh rằng,
9
Đinh Văn Quế, Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
7 tháng 7/2003, trang 56
Trang 25việc thực hiện quyền tự bào chữa không làm mất đi hay triệt tiêu quyền được nhờ người
bào chữa và ngược lại, sự tham gia của người bào chữa không làm mất đi hay triệt tiêu
quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người hiểu biết pháp luật,
họ có khả năng tự bào chữa cho mình thì việc nhờ người khác bào chữa càng làm tăng
thêm khả năng hạn chế tình trạng xâm phạm có thể xảy ra từ phía cơ quan tiến hành tố
tụng, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo đảm hơn Được sự hỗ trợ từ phía
người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ yên tâm và có thể sẽ tìm được
những tình tiết có lợi cho mình Hơn thế nữa, với các quyền mà pháp luật trao cho, kết
hợp với kỹ năng cũng như kinh nghiệm, người bào chữa sẽ đạt được hiệu quả cao trong
công việc bào chữa của mình
Có thể thấy được vai trò của việc kết hợp quyền tự bào chữa và quyền nhờ người
khác bào chữa trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị áp dụng các
biện pháp ngăn chặn cần thiết để phục vụ cho việc điều tra làm rõ vụ án như tạm giữ,
tạm giam Vì vậy, việc tìm ra các tài liệu, chứng cứ để gỡ tội cho mình trong hoàn cảnh
này là điều khó khăn Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã lựa chọn cho mình người
bào chữa phù hợp thì thay mặt người mình bào chữa, người bào chữa sẽ tìm ra các tài
liệu, chứng cứ theo yêu cầu, từ đó bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo
Đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị can, bị cáo là người không hiểu
biết pháp luật hoặc là những đối tượng có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, hạn chế
năng lực hành vi… thì việc bào chữa tốt cho mình là điều khó có thể thực hiện được
Hơn ai hết, họ cần phải được sự giúp đỡ của người bào chữa Vì vậy, việc pháp luật quy
định một số trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa cũng nhằm mục đích bảo vệ
quyền lợi cho bị can, bị cáo Không hiểu biết pháp luật cũng như không có kỹ năng
trong việc bào chữa thì quyền lợi của họ rất dễ bị xâm phạm Khả năng họ tìm được các
tài liệu, chứng cứ, đưa ra các đồ vật, yêu cầu mà pháp tố tụng hình sự cho phép là điều
khó thực hiện và rất dễ trở thành những quy định mang tính hình thức Do đó, người
bào chữa được nhờ hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu bào chữa cho bị can,
bị cáo sẽ thay mặt họ thực hiện các quyền trên Trong trường hợp này, nếu người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo chỉ có quyền tự bào chữa mà không được nhờ người khác bào chữa
thì họ khó có thể tự bảo vệ mình trước sự cáo buộc từ phía Viện kiểm sát Có được
người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ yên tâm và có thể có thái độ khai
báo tốt hơn và được sự khoan hồng của pháp luật Mặt khác, nếu chỉ có quyền nhờ
người khác bào chữa mà bản thân không được biện minh, biện hộ cho mình là điều
Trang 26không hợp lý Tự bản thân mình có thể biết được các vấn đề liên quan đến vụ án mà
người bào chữa có thể không biết được các cơ sở này Vì vậy, cần phải có sự kết hợp
giữa hai quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa nhằm đạt được hiệu quả tốt
nhất trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Như vậy, không nên hiểu quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa
được quy định tại Điều 11 BLTTHS 2003 “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự
bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” là hai quyền riêng biệt, chỉ được chọn một
trong hai Nếu có sự vận dụng và kết hợp các quyền này với nhau một cách có hiệu quả
thì đó chính là biện pháp hữu hiệu nhất góp phần bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo, giúp cơ quan tiến hành tố tụng sớm tìm ra sự thật vụ án Được như
vậy thì quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa mới có cơ sở để phát huy
Thông qua đó, biết được khả năng của bản thân về việc tự bào chữa và nhờ người khác
bào chữa như thế nào để có sự sáng suốt trong quyết định lựa chọn, thay đổi, từ chối
người bào chữa
Trang 27CHƯƠNG 2 QUYỀN LỰA CHỌN, THAY ĐỔI, TỪ CHỐI NGƯỜI BÀO CHỮA THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
Nắm được nội dung của quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa mà cụ
thể là về chủ thể có quyền, vấn đề lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa trong các
trường hợp và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng sẽ thấy được tầm quan trọng
của quyền này vào quá trình tố tụng Cần nhấn mạnh rằng, có hiểu và thấy rõ ảnh
hưởng của quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa sẽ giúp cho những người
có quyền vận dụng một cách hiệu quả nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho những đối
tượng bị tình nghi phạm tội Thông qua đó, thể hiện được tính dân chủ xã hội chủ
nghĩa
2.1 Chủ thể có quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa theo quy
định của BLTTHS 2003
Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là một nguyên tắc
Hiến định cần được bảo đảm thực hiện Để nguyên tắc này được thực thi, một trong
những biện pháp thiết thực đó là việc cho phép người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền
được tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Như đã phân tích, những hạn chế về
trình độ hiểu biết pháp luật dẫn đến việc không phải bất cứ người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo nào cũng có khả năng thực hiện được và có hiệu quả quyền tự bào chữa của mình
Hạn chế về trình độ pháp luật gây ảnh hưởng đến khả năng vận dụng có hiệu quả các
biện pháp mà luật tố tụng hình sự đã trao để họ tự bảo vệ mình Chính vì vậy, sự giúp
đỡ từ người bào chữa là rất cần thiết Quyền lợi của người bị tình nghi phạm tội được
bảo vệ đến mức độ nào thể hiện qua khả năng của người bào chữa Vì vậy, việc pháp
luật trao cho chủ thể nào có quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa có vai trò
quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người bị tình nghi phạm tội
2.1.1 Người bị tạm giữ
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo gây
khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần
bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm
quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có thể
áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi
nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Có thể hiểu tạm giữ là
biện pháp ngăn chặn do cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm hạn chế quyền tự do thân
thể trong thời hạn nhất định đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội
Trang 28nã nhằm đảm bảo cho cơ quan có thẩm quyền có thời gian tiến hành các hoạt động điều
tra Theo Điều 48 BLTTHS 2003 thì “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường
hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm
tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”
Pháp luật cho phép người bị tạm giữ được quyền lựa chọn, thay đổi người bào
chữa vì các lý do:
Thứ nhất, người bị tạm giữ bị xác định là đối tượng bị tình nghi thực hiện tội
phạm và bản thân cũng đang bị cơ quan có thẩm quyền buộc tội thông qua biện pháp
tạm giữ Người bị tạm giữ chưa bị coi là người có tội nhưng bản thân lại bị hạn chế về
tự do thân thể mặc dù việc tạm giữ đó là có căn cứ nhưng đã làm ảnh hưởng không nhỏ
đến các quyền của họ như tự do thân thể, họ không thể tiếp tục các công việc hàng ngày
của mình Do đó, vấn đề cần thiết là phải trao cho họ quyền để bảo vệ mình trước sự
cáo buộc và quyền được nhờ người bào chữa là một trong những biện pháp hữu hiệu
thông qua vai trò của quyền lựa chọn, thay đổi người bào chữa
Thứ hai, vì biện pháp tạm giữ với mục đích là giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng
bước đầu xác định được ai là người thực hiện tội phạm, ngăn chặn người đó bỏ trốn
hoặc với mục đích là ngăn chặn tội phạm xảy ra Vì vậy, nếu không có căn cứ để tiến
hành các giai đoạn tiếp theo thì phải trả tự do cho họ Do đó, bào chữa trong giai đoạn
này không kém phần quan trọng Nếu tại giai đoạn này người bị tạm giữ không có khả
năng bào chữa, không chỉ ra được các căn cứ có lợi cho mình thì rất có khả năng tình
trạng của họ sẽ bị xấu đi Điều cần thiết là phải trao cho họ quyền được tìm người bào
chữa để giúp đỡ cho mình Tránh các trường hợp vì lý do phía người bị tạm giữ không
có các chứng cứ có giá trị mà dẫn đến việc làm oan người vô tội
Thứ ba, trong quá trình tố tụng không phải lúc nào việc buộc tội cũng diễn ra
chính xác Do đó, yêu cầu khách quan và cần thiết là phải trao cho người bị tạm giữ
quyền được thay đổi, từ chối người bào chữa để họ tìm được người bào chữa phù hợp
nhất Trong quá trình điều tra, một số cán bộ do trình độ nghiệp vụ còn non trẻ cùng với
tâm trạng nôn nóng nên có thể có các hành vi trái pháp luật như ép cung, mớm cung,
dùng nhục hình đối với người bị tạm giữ Nếu người bào chữa đã được lựa chọn phù
hợp tham gia vào quá trình tố tụng này sẽ hạn chế được vi phạm đáng tiếc từ phía người
có thẩm quyền Thông qua đó hạn chế được oan sai xảy ra, đảm bảo xét xử đúng người
đúng tội
Với các lý do đó, cần thiết phải trao cho người bị tạm giữ quyền được lựa chọn,
thay đổi, từ chối người bào chữa để họ tìm người bào chữa thích hợp nhất Nếu trong
giai đoạn tạm giữ này, người bào chữa thuộc các trường hợp được tham gia tố tụng từ
Trang 29khi có quyết định tạm giữ thì có thể người bị tạm giữ sẽ được trả tự do vì người bào
chữa cung cấp được các căn cứ chứng minh thân chủ của mình không thực hiện tội
phạm Cũng có thể nhờ người bào chữa mà người bị tạm giữ nếu bị khởi tố thì có thể bị
can sẽ được xác định với tội danh chính xác hơn Hướng cho các cơ quan tiến hành tố
tụng có phương pháp xác định sự thật vụ án phù hợp nhất Ngược lại, nếu lúc này
quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa không được đặt ra thì người bị tạm
giữ không thể tìm được người bào chữa phù hợp cho mình Do đó, quyền lợi của người
bị tạm giữ có thể sẽ bị vi phạm, gây ra oan sai, làm cho lòng tin của nhân dân vào nhà
nước và pháp luật bị ảnh hưởng
2.1.2 Bị can
Theo quy định tại Điều 49 BLTTHS 2003 thì: “Bị can là người đã bị khởi tố về
hình sự” Như vậy, bị can tham gia vào quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố và
một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm Tư cách này sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra đình
chỉ điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử) đối với bị can, hoặc khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử
Theo Điều 57 BLTTHS 2003 thì bị can, bị cáo có quyền lựa chọn, thay đổi, từ
chối người bào chữa của mình Họ được pháp luật trao cho quyền được có người bào
chữa và cách thức để tìm người bào chữa phù hợp là thông qua các quyền lựa chọn,
thay đổi, từ chối người bào chữa Khi tìm được người bào chữa phù hợp thì quyền lợi
của bị can càng được bảo vệ Mặc dù pháp luật không bắt buộc họ phải đưa ra các
chứng cứ chứng minh cho sự vô tội của mình nhưng nếu cung cấp được các chứng cứ
đó lại là một cơ hội tốt cho việc xác định vô tội hoặc giúp cho việc xác định tội danh
cũng như khung hình phạt được đúng đắn Do đó, trong một số trường hợp bị can phải
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giữ hoặc tạm giam nên để tìm được các chứng
cứ này là điều rất khó khăn Có người bào chữa tốt thông qua quyền lựa chọn, thay đổi
sẽ thay mặt bị cáo tìm và cung cấp các chứng cứ này
Khi bị khởi tố, một người sẽ trở thành đối tượng của tội danh được ghi trong
quyết định khởi tố Tuy nhiên, không phải lúc nào việc khởi tố cũng chính xác Bảo vệ
tốt quyền lợi của bị can là phương pháp hạn chế tình trạng oan sai Nếu bản thân bị can
có khả năng tự bào chữa thì việc có người bào chữa phù hợp càng củng cố hơn khả
năng quyền lợi của họ không bị xâm phạm Trong một số trường hợp người bị tạm giữ
đã là bị can nhưng cũng có trường hợp người bị tạm giữ không phải là bị can Nếu
người bị tạm giữ cần thiết phải có người bào chữa và được trao cho quyền lựa chọn,
thay đổi, từ chối với các lý do được đề cập thì các quyền đó nhất thiết phải trao cho bị
can Bởi lẽ bị can là người đã bị khởi tố trên cơ sở đã được cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 30xem xét các căn cứ cụ thể Nếu không có người bào chữa thì khả năng bị can trở thành
người phạm tội do có một số yếu tố không được cơ quan chức năng chứng minh đầy đủ
rất dễ xảy ra cũng như nó sẽ ảnh hưởng đến tội danh và khung hình phạt được áp dụng
Cũng giống như trường hợp đối với người bị tạm giữ, nếu không có người bào
chữa hoặc tuy có nhưng không được lựa chọn, thay đổi để tìm người bào chữa phù hợp
thì chắc chắn, với tâm lý hoang mang do phải đối mặt với tội danh cũng như khung
hình phạt thì khả năng để họ tự bảo vệ cho mình là điều rất khó khăn Người bào chữa
không phù hợp này cũng không thể bảo vệ được cho thân chủ của mình Rất có khả
năng quyền và lợi ích của bị can sẽ bị xâm phạm và tình trạng vi phạm pháp luật của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ xảy ra
2.1.3 Bị cáo
Bị cáo là người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (Điều 49 BLTTHS 2003) Kể
từ thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tư cách bị can mất đi thay vào đó là tư
cách bị cáo Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Cũng như khái niệm
bị can, bị cáo cũng là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng được
áp dụng đối với người đó Một người sẽ trở thành bị cáo khi bị Tòa án quyết định đưa
ra xét xử Vì vậy, khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội
phạm Trên thực tế bị cáo cũng có thể không phải là chủ thể của tội phạm và ngược lại
Bị cáo cũng không phải là người có tội, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét
xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9
BLTTHS)
Quá trình tố tụng hình sự bao gồm năm giai đoạn đó là khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án nhưng không phải tất cả các vụ án hình sự đều nhất thiết phải trải
qua các giai đoạn này Có vụ án chỉ trải qua một, hai, ba hoặc bốn giai đoạn thì phải
dừng lại do các nguyên nhân như bị can, bị cáo chết… Nói như vậy không có nghĩa là
một vụ án có thể bắt đầu ở bất kỳ một giai đoạn nào và có thể bỏ qua một giai đoạn nào
Quá trình tố tụng hình sự phải đi theo một hướng, chỉ được bắt đầu từ khởi tố và bắt
buộc phải theo trình tự trên mặc dù nó có thể dừng lại ở một giai đoạn nào Có thể nói,
nếu không có giai đoạn trước thì sẽ không có giai đoạn sau Điều đó cũng có nghĩa là
nếu không có bị can (khởi tố bị can) thì sẽ không có bị cáo, và nếu có tư cách bị can thì
cũng không có nghĩa là sẽ xuất hiện tư cách bị cáo
Cũng với các lý lẽ mà pháp luật trao cho người bị tạm giữ, bị can quyền được
lựa chọn, thay đổi người bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho mình thì bị cáo càng phải
được pháp luật trao cho các quyền đó vì chính giai đoạn này tội danh của bị cáo sẽ được
Trang 31xác định cụ thể Để trở thành chủ thể của tội phạm thì một người nhất thiết phải trải qua
giai đoạn bị cáo và phải trải qua quá trình xét xử Tại phiên tòa, nếu có người bào chữa
phù hợp, nhiệt tình thì thay mặt thân chủ, người bào chữa sẽ chỉ ra được các chứng cứ
có giá trị Bên cạnh đó, tại phiên tòa, tất cả các căn cứ gỡ tội và kết tội của bị cáo sẽ
được nêu ra Bằng kỹ năng và trình độ nghiệp vụ của mình, người bào chữa sẽ chỉ ra
được các chứng cứ có lợi cũng như biện minh cho thân chủ Bên cạnh đó, người bào
chữa có thể sẽ nhận thấy được các căn cứ để có thể yêu cầu hoãn phiên tòa, thay đổi
người tiến hành tố tụng… một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến việc xét xử công
bằng và đúng pháp luật Một thí dụ cụ thể trong việc dựa vào khả năng và trình độ hiểu
biết pháp luật của mình mà người bào chữa yêu cầu hoãn phiên tòa và thay đổi người
tiến hành tố tụng là: ngày 9/4/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã khai mạc phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án Nguyễn Lâm Thái cùng bốn mươi lăm đồng phạm bị cáo buộc
phạm tội lừa đảo và chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 139; trốn thuế theo
khoản 3 Điều 161 và lưu hành các giấy tờ có giá giả khác theo khoản 3 Điều 181 Bộ
luật hình sự Trong phiên tòa này, các luật sư bào chữa là Trịnh Anh Dũng, Nguyễn
Đặng Quang thuộc Đoàn luật sư Hà Nội đã thấy rằng thân chủ của mình là Nguyễn
Lâm Thái có biểu hiện lạ về thần kinh và yêu cầu hoãn phiên tòa để giám định tâm thần
cho thân chủ mình Phiên tòa đã được hoãn để kiểm tra về thần kinh cho bị cáo và với
kết luận giám định không bị tâm thần của Thái đã giúp cho vụ án tiếp tục diễn ra10 Nếu
không có sự yêu cầu hoãn phiên tòa để giám định lại về tâm thần cho bị cáo Nguyễn
Lâm Thái thì có thể sau khi vụ án kết thúc, sẽ có nhiều ý kiến xung quanh về những
biểu hiện không bình thường của Thái tại phiên tòa Rất có thể những phần tử xấu sẽ lợi
dụng cơ hội này để có những luận điệu chống phá nhà nước ta Làm ảnh hưởng lòng tin
của nhân dân vào nhà nước và pháp luật
Như vậy, với quyền lựa chọn, thay đổi người bào chữa sẽ giúp cho bị cáo tìm
được người phù hợp nhất để giúp đỡ cho mình Thông qua các quyền mà pháp luật trao
cho, người bào chữa sẽ vận dụng có hiệu quả trên cơ sở kỹ năng cũng như kiến thức của
mình sẽ giúp cho bị cáo giảm nhẹ tội danh cũng như khung hình phạt Nếu không có
quyền lựa chọn, thay đổi thì mặc dù quyền được nhờ người khác bào chữa được đặt ra
nhưng để đạt được hiệu quả là điều khó khăn vì người bào chữa có thể không nhiệt tình
với công việc… Điều đó không những ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bị cáo bị ảnh hưởng mà còn làm cho quá trình tố tụng thêm phức tạp Các
trường hợp vi phạm từ phía cơ quan tiến hành tố tụng có thể sẽ không được phát hiện
và đó cũng là cơ sở cho oan sai xảy ra, không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
10
Báo Công an nhân dân online, Ngày đầu xét xử Nguyễn Lâm Thái và đồng bọn, Anh Huy,
Trang 322.1.4 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Đại diện là chế định có chức năng trợ giúp xã hội, là một trong những thành quả
của trí tuệ pháp lý của loài người, mang tính nhân văn, nhân đạo Nhờ có đại diện mà cá
nhân vì một lý do nào đó không thể tự mình thực hiện được các giao dịch pháp lý nên
nhờ người khác xác lập Trong xã hội hiện đại, vai trò của tư vấn pháp luật để giải
quyết các vấn đề pháp lý cần được sự chuyên môn hóa ngày càng được coi trọng Do
đó, người đại diện có thể hoàn thành tốt công việc hơn so với người được đại diện
Không những vậy, nếu không có chế định đại diện thì người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự, người có có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ không bảo vệ được quyền
và lợi ích chính đáng của mình được Vì vậy, ý nghĩa xã hội pháp lý của chế định đại
diện được thể hiện ở chỗ nhờ có nó mà một người có thể sử dụng tri thức, khả năng,
kinh nghiệm của người đại diện và tiếp nhận kết quả từ hành vi pháp lý của người đó
BLTTHS 2003 không quy định người nào là người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo và cũng không quy định cơ quan tiến hành tố tụng được áp
dụng quy định về người đại diện hợp pháp theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 Dù
vậy, chế định “đại diện” được quy định tại nhiều điều luật, tương đối đầy đủ và chi tiết
trong Bộ luật dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự Theo những quy định này thì người đại
diện hợp pháp bao gồm người đại diện theo pháp luật và theo ủy quyền Tuy nhiên,
quyền và nghĩa vụ của hai người đại diện này không phải trong mọi trường hợp đều như
nhau và giống nhau Khi đặt trong tổng thể chung, có những quy định pháp luật gây
nhầm lẫn hoặc gây tranh luận
Người đại diện theo pháp luật thường là những người thân thích, ruột thịt của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như bố, mẹ, anh, chị, em ruột, vợ, chồng; người giám
hộ đối với người được giám hộ; người được Tòa án cử đối với người bị hạn chế năng
lực hành vi… là những người được quy định tại khoản 4 Điều 141 Bộ luật dân sự 2005
Theo đó, đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định dựa trên các tiêu chí:
- Do quan hệ đặc biệt giữa người đại diện và người được đại diện mà phát sinh
quan hệ đại diện đương nhiên (cha, mẹ và con; vợ và chồng…);
- Quan hệ đại diện phát sinh trên cơ sở một quan hệ pháp lý;
- Đại diện do cơ quan nhà nước quyết định khi sự đại diện là cần thiết đối với
người bị hạn chế năng lực hành vi
Như đã biết, quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa là quyền của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Để thực hiện quyền bào chữa của mình, không một cơ
Trang 33quan hay người tiến hành tố tụng nào được vi phạm quyền đó Cụ thể là khi người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo đã nhờ người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng không được
phép bác bỏ nếu không có lý do chính đáng Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
người đến tuổi thành niên và không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì họ tự
nhờ người bào chữa Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên,
người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì họ và người đại diện hợp pháp của
họ có quyền nhờ người bào chữa Để có được người đại diện theo pháp luật thì nhất
thiết chủ thể được đại diện trong trường hợp này phải là người chưa thành niên, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất Đây là những đối tượng đặc biệt, do đó, hơn
ai hết họ cần được sự đại diện của người thân để có thể giúp đỡ họ khi không thể trực
tiếp thực hiện do đang bị tạm giữ, tạm giam… hoặc nếu có khả năng thực hiện được thì
tự họ có thể hoàn thành tốt đó còn là vấn đề Có thể nói, trong hoàn cảnh này, chỗ dựa
tinh thần lớn nhất của họ là cha mẹ, người thân và cũng hơn ai hết, người nhiệt tình
giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong hoàn cảnh này cũng chính là thân nhân
của họ Do đó, đây là một quy định đúng đắn không chỉ thể hiện tính nhân đạo của pháp
luật nước ta mà còn góp phần cho quá trình tố tụng được diễn ra đầy đủ và chính xác
hơn Dưới đây là một trường hợp cụ thể về vấn đề người đại diện hợp pháp và quyền
được lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa:
Sau khi nhậu cùng bạn, khoảng 15 giờ 30 ngày 13/12/2009, Đỗ Văn Ninh về nhà
ở ấp 1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nằm trên võng chửi vợ là
Châu Thị Thanh Liêm Cùng lúc này, Đỗ Minh Tâm (con của Ninh) làm thuê ở thành
phố Hồ Chí Minh về đến nên Ninh hỏi Tâm: “Đi làm về có tiền không?” Tâm trả lời:
Không có, Ninh chửi luôn Tâm nên Tâm dùng tay đánh vào ngực ông Ninh một cái
Tiếp đó Tâm đến bàn tròn cách võng ông Ninh nằm khoảng 1 mét lấy con dao (loại dao
Thái Lan) cầm tay phải đâm mạnh một nhát làm con dao dính luôn vào ngực của ông
Ninh Ông Ninh ngồi dậy rút con dao ném xuống đất rồi té nằm bất tỉnh và chết ngay
sau đó Tâm lượm con dao ra nhà sau ném xuống ao cá Cơ quan điều tra đã thu giữ con
dao
Trong vụ án này, do Tâm là người chưa thành niên nên cần phải có người đại
diện theo pháp luật Chính vì vậy, chị ruột của Tâm là Đỗ Thị Ngọc Huyền sinh năm
1991 trở thành người đại diện hợp pháp Theo quy định thì bị cáo và người đại diện hợp
pháp của bị cáo đều có quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa Trong trường
hợp này, do bị cáo và người đại diện hợp pháp của mình không mời người bào chữa nên
cơ quan tiến hành tố tụng đã cử luật sư là Ngô Thị Hoàng Khuyên – Đoàn luật sư tỉnh
Trang 34Tiền Giang bào chữa cho bị cáo11 Do đó, Tâm và chị của Tâm đều có quyền yêu cầu
thay đổi hoặc từ chối người bào chữa nếu có lý do chính đáng
Đối với chủ thể là người đại diện theo ủy quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo thì họ cũng có quyền lựa chọn, yêu cầu thay đổi, từ chối người bào chữa cho người
ủy quyền Theo Điều 581 Bộ luật dân sự 2005 thì: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh
bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có
quy định” Vì vậy, dù có được ủy quyền và trong phạm vi ủy quyền nhưng người được
ủy quyền phải nhân danh người ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của chính người
ủy quyền Do đó, không thể nói quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của
người đại diện theo ủy quyền mang tính độc lập so với quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối
người bào chữa của người ủy quyền Như đã phân tích, quyền lựa chọn, thay đổi, từ
chối người bào chữa giữa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại theo pháp luật
của họ mang tính độc lập tương đối Mỗi chủ thể đều có quyền lựa chọn, thay đổi, từ
chối người bào chữa nhưng chỉ được chấp nhận nếu có sự thống nhất ý chí giữa họ Bên
cạnh đó, nếu chủ thể là người đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm
thần khi đang bị tạm giam hoặc tạm giữ thì việc nhờ người bào chữa tâm huyết cho
mình là một điều không dễ dàng Do đó, pháp luật cho phép những người này được ủy
quyền cho người khác nhờ người bào chữa cho mình Đây cũng là một quy định đúng
đắn góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những đối tượng bị tình nghi, lựa chọn,
thay đổi, từ chối người bào chữa
Như vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, không làm oan người vô
tội, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì nhất thiết phải trao cho đối
tượng bị tình nghi phạm tội và người đại diện hợp pháp của họ quyền được lựa chọn,
thay đổi, từ chối người bào chữa để tìm người bào chữa phù hợp nhất Vì đây là quyền
nên họ có thể từ bỏ nó Nếu người bào chữa không nhiệt tình và nhận thấy bản thân có
khả năng tự bảo vệ được quyền lợi của mình thì pháp luật nên tôn trọng quyết định từ
chối của họ Từ chối người bào chữa không hoàn toàn là xấu vì trong một số trường
hợp nhất định như người bào chữa không nhiệt tình, có những lợi ích đi ngược lại với
quyền lợi của thân chủ mà làm cho tình trạng của những đối tượng bị tình nghi xấu đi
thì quyền từ chối càng có ý nghĩa Có thể nói, việc trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo và người đại diện hợp pháp của họ quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào
11
Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2010/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
thụ lý số 16/2010/HSST ngày 22/4/2010 đối với bị cáo Đỗ Minh Tâm sinh ngày 29/7/1993 đã giết cha mình là Đỗ
Văn Ninh sinh năm 1964
Trang 35chữa là một bước ngoặt góp phần to lớn vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân
2.2 Lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa trong các trường hợp theo
quy định của BLTTHS 2003
Với mục tiêu bảo vệ quyền lợi chính đáng của những người bị tình nghi phạm
tội, pháp luật cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền tự bào chữa và nhờ người khác
bào chữa Để vận dụng một cách có hiệu quả các quyền này thì quyền lựa chọn, thay
đổi, từ chối người bào chữa là biện pháp hữu hiệu Vì vậy, nắm được các nguyên nhân
làm phát sinh các quyền lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa cũng như các
trường hợp cụ thể sẽ giúp cho chủ thể có quyền vận dụng một cách tốt nhất để bảo vệ
quyền lợi cho người bi tình nghi phạm tội
2.2.1 Lựa chọn người bào chữa trong các trường hợp theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự
Bằng các quyền cụ thể đã được pháp luật trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo cụ thể như quyền lựa chọn người bào chữa đã đảm bảo cho quyền lợi của họ không
bị xâm phạm trong các vụ án hình sự Qua đó bảo vệ mình tránh khỏi sự vi phạm của cơ
quan tiến hành tố tụng mà sự vi phạm đó có thể dẫn đến việc xét xử oan người vô tội
Do đó, việc được lựa chọn người bào chữa là một đảm bảo có hiệu quả của pháp luật
trao cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để họ có thể thực hiện tốt các quyền tố tụng
khác mà pháp luật đã quy định để bào chữa trước sự cáo buộc hoặc để làm rõ tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Như đã biết, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường
hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của BLTTHS 2003 thì người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ12 Như vậy, quyền lựa chọn người
bào chữa có từ khi tư cách người bị tạm giữ được hình thành Rất ít những trường hợp
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người nắm rõ kiến thức pháp luật mà dù có nắm bắt
được nó thì khả năng vận dụng vào quá trình bảo vệ quyền lợi cho mình cũng là điều rất
khó khăn Do đó, nhu cầu có người bào chữa là cần thiết và càng quan trọng đó là
người bào chữa sẽ do chính người bị tạm giữ, bị can, bị cáo lựa chọn Nói khác hơn,
quyền lựa chọn người bào chữa cũng chính là nhờ người khác bào chữa cho mình Để
có thể nhờ người bào chữa phù hợp thì đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bình
thường, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự cũng là một điều không dễ dàng thì đối với
12
Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2003 thì: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can
Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc
Trang 36người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc
tâm thần càng khó khăn Chính vì vậy, việc pháp luật tố tụng hình sự cho phép người
đại diện hợp pháp của những người này nhờ người bào chữa là điều đúng đắn Xuất
phát từ chính quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà người đại diện hợp pháp
của họ sẽ nhờ người bào chữa phù hợp
Không những vậy, Điều 57 BLTTHS 2003 quy định trong trường hợp bị can, bị
cáo về tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự và
bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần
không lựa chọn được người bào chữa thì được cơ quan có thẩm quyền cử người bào
chữa Điều đó đã hạn chế được tình trạng do không hiểu biết mà cho rằng khi nhờ
người bào chữa thì bị xem là ngoan cố không được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
những đối tượng này Hay vì lý do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần chỉ trông cậy vào người đại diện
hợp pháp của mình trong khi người này vì lý do nào đó mà không tha thiết với trách
nhiệm bảo vệ quyền lợi cho thân nhân mình nên không mời người bào chữa Có thể vì
lý do không hiểu biết pháp luật mà người đại diện làm xấu đi tình trạng của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho công dân và
tránh đi những vi phạm tố tụng đáng tiếc xảy ra, pháp luật tố tụng hình sự quy định Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải nhờ người bào chữa cho bị can, bị cáo thông
qua việc yêu cầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Ủy
ban Mặt trận tổ quốc cử người bào chữa cho họ13
Ngoài ra theo Điều 305 BLTTHS 2003 thì người đại diện hợp pháp của bị cáo
chưa thành niên có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho bị cáo Nếu
cả hai chủ thể người bị tình nghi phạm tội và người đại diện hợp pháp không lựa chọn
được người bào chữa thì Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật
sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức
thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình
Khi những chủ thể được quy định trong các điều khoản trên đây không mời
người bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư hoặc
13
Khoản 2 Điều 57 quy định:
“Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào
người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử
người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
c) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
d) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp
của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.”
Trang 37đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử người bào chữa cho họ Trong lý luận gọi đây là
trường hợp bào chữa bắt buộc, còn trong thực tiễn gọi đây là bào chữa chỉ định Những
trường hợp này liên quan đến các bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có
nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc bị can, bị cáo theo khung hình phạt có mức
cao nhất là tử hình Sự tham gia của người bào chữa lúc này có những khác biệt so với
các trường hợp thông thường ở những điểm sau14:
- Cơ sở pháp lý đầu tiên để người bào chữa tham gia vào vụ án là sự chủ động
thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo từ phía cơ quan tiến
hành tố tụng thông qua hình thức yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền cử
người bào chữa cho bị can, bị cáo
- Quyết định quản lý của cơ quan có thẩm quyền (Đoàn luật sư hoặc Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc) là cơ sở pháp lý tiếp theo để người bào chữa tham gia vào vụ án chứ
không phải sự thỏa thuận giữa bị can, bị cáo với người bào chữa15
- Bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần
vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đã được cử cho họ nhưng
quyền này không có tính tuyệt đối Thí dụ, nếu chỉ có bị cáo vị thành niên từ chối người
bào chữa còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không từ chối thì Tòa án vẫn tiến
hành xét xử với sự tham gia của người bào chữa đã được cử16 Đây là một quy định
đúng đắn và tiến bộ xuất phát trước hết là từ lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo Như
đã nói ở trên, quyền bào chữa là quyền chủ thể của bị can, bị cáo do vậy trong các
trường hợp thông thường thì ý chí của họ có tính quyết định đối với sự tham gia của
người bào chữa vào trong vụ án và các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyết
định đó của chủ thể Nhưng trong các trường hợp quy định ở khoản 2 Điều 57 BLTTHS
2003 thì quyền quyết định của các chủ thể này không còn tính tuyệt đối mà bị phụ
thuộc vào sự xem xét chấp nhận hay không chấp nhận của Tòa án Lý do hạn chế quyền
chủ thể ở đây cũng là lý do về sự tham gia bắt buộc của người bào chữa Các chủ thể
này là những người có khó khăn trong việc thực hiện quyền bào chữa của mình nên cần
có sự can thiệp từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng Thí dụ, khó khăn về tâm lý khi
phải đối mặt với điều luật có hình phạt tử hình, khó khăn về thể chất, tâm thần, và kể cả
khó khăn về vật chất trong việc nhờ người bào chữa hoặc tự bào chữa
Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam nhưng hoàn toàn bị can, bị cáo
và người đại diện hợp pháp của họ không biết trước được người bào chữa được cử sẽ là ai Do đó, rất dễ xảy ra
tình trạng yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa từ người có quyền
16
Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 02/10/2004 hướng dẫn
Trang 38- Chi phí cho người bào chữa do nhà nước chịu
Như vậy, việc quy định quyền lựa chọn người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là đầy đủ Tuy nhiên, theo Điều 301 BLTTHS và hướng dẫn tại Nghị quyết
số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thì những quy định trên chỉ áp dụng đối với bị cáo là người chưa thành niên ở thời
điểm xét xử, còn trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội nhưng khi xét xử đã
đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp được áp dụng các quy định này Vì thời điểm
này, họ hoàn toàn có đầy đủ năng lực hành vi, có khả năng nhận thức được việc làm của
mình nên pháp luật sẽ tôn trọng ý chí không nhờ người bào chữa của họ Nhờ người
khác bào chữa không ngoài mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo Theo đó, trường hợp các cơ quan chức năng cử người bào chữa cho bị
can, bị cáo trong những trường hợp nhất định cũng là đã nhờ người bào chữa cho họ với
mục đích nêu trên Trong những trường hợp nhất định nếu bị can, bị cáo không nhờ
người bào chữa nhưng pháp luật lại không có quy định gì để hạn chế hậu quả của tình
trạng trên thì đó là điều thiếu sót, rất có thể quyền và lợi ích của người bị tình nghi
không được bảo vệ Vì vậy, cử người bào chữa là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã
góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo, đồng thời thể hiện được tính
nhân đạo của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Thông qua đó, chủ thể có quyền lựa
chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa cũng đã thể hiện ý chí lựa chọn người bào chữa
cho người bị tình nghi phạm tội thông qua việc chấp nhận người bào chữa được cử giúp
đỡ cho thân nhân mình
Một thí dụ về trường hợp cơ quan có thẩm quyền không cử người bào chữa cho
bị cáo vì lúc khởi tố thì người bị tình nghi phạm tội đã thành niên mặc dù hành vi phạm
tội diễn ra lúc họ chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự là: Vụ việc xảy ra vào khoảng 21
giờ ngày 27/11/2009 trong lúc uống rượu giữa Thiện và Phạm Văn Thắm đã nảy sinh
mâu thuẫn nhỏ nhưng Thiện lại dùng chén đang ăn đập vào đầu Thắm, Thắm lật tung
bàn nhậu và bỏ chạy về hướng ngã ba An Thái Trung – Cao Lãnh Thiện đuổi theo,
dùng dao xếp mang sẵn trong người đâm một nhát từ phía sau bên vai trái của Thắm
Kết quả làm Thắm chết vào ngày 28/11/2009 sau khi được đưa đến bệnh viện để cấp
cứu
Tại bản cáo trạng số 27/KSĐT ngày 26/7/2010 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền
Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Thiện về tội “giết người” theo điểm n khoản 1 Điều
93 Bộ luật hình sự
Mặc dù khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Hữu Thiện chưa được 18 tuổi nhưng đến
khi khởi tố thì Thiện đã thành niên Do đó, không thuộc trường hợp phải cử người bào
Trang 39chữa Với quyền lựa chọn người bào chữa, bị cáo Thiện đã nhờ luật sư Ngô Thị Hoàng
Khuyên, văn phòng luật sư Hoàng Khuyên, Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang bào chữa cho
mình Nhờ có luật sư, bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét là thuộc thành phần
nhân dân lao động, mới phạm tội lần đầu, có tuổi đời chưa thành niên, có ý thức ra đầu
thú nên được giảm nhẹ hình phạt Nhờ vậy quyền và lợi ích của bị cáo được bảo vệ tốt
hơn, giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện công việc được chính xác17
2.2.2 Thay đổi người bào chữa trong các trường hợp theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự
Xuất phát từ vai trò quan trọng của người bào chữa đối với quyền lợi hợp pháp
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì cần thiết phải cho những đối tượng bị tình nghi
và người đại diện hợp pháp của họ thể hiện ý chí trong việc nhờ người bào chữa Nếu
chỉ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ nhờ người
bào chữa mà không được quyền thay đổi thì thật khó để tìm được người bào chữa thích
hợp Việc pháp luật cho phép thay đổi người bào chữa nếu trong quá trình tham gia tố
tụng họ không làm đúng nhiệm vụ của mình hoặc vì lý do nào đó thì người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ được quyền thay đổi người bào chữa
là rất phù hợp, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hạn chế tối đa vi
phạm tố tụng xảy ra và đồng thời cũng đảm bảo được quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo
Có thể nói, một khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã nhờ người bào chữa thì
quyền và lợi ích của họ đã đặt vào người bào chữa Do đó, hơn ai hết, người bào chữa
có vai trò quan trọng Nếu đã nhờ người bào chữa nhưng kiến thức pháp luật cũng như
kỹ năng bào chữa của người này không tốt thì không những quyền và lợi ích của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được đảm bảo mà còn làm cho quá trình giải quyết
đúng đắn vụ án bị ảnh hưởng Vì vậy, khi nhận thấy người bào chữa của mình không
thực hiện được tốt công việc thì lẽ đương nhiên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
người đại diện hợp pháp của họ có quyền thay người bào chữa đã nhờ bằng người bào
chữa khác Đây là một nguyên nhân cho phép thay đổi người bào chữa
Trường hợp khác không kém phần quan trọng để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
được quyền thay đổi người bào chữa đó là người bào chữa vì lợi ích riêng tư cá nhân
hoặc vì lợi ích của người khác đã không những không bào chữa cho thân chủ của mình
mà còn làm xấu đi tình trạng của họ Chính điều này đã dẫn đến oan sai trong tố tụng
17
Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2010/HSST ngày 31/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử bị cáo là
Nguyễn Hữu Thiện sinh ngày 20/7/1992 thường trú tại ấp 3, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã
Trang 40hình sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của công dân đối với nhà nước và pháp
luật
2.2.2.1 Thay đổi người bào chữa trong trường hợp người bào chữa do người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại hợp pháp của họ lựa chọn
Đây là trường hợp mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp
pháp của họ đã nhờ người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc
người mình đại diện nay muốn thay đổi người bào chữa ấy với những lý do trên Như
đề cập, nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ đã nhờ
người bào chữa nhưng người bào chữa được nhờ lại không khách quan, không nhiệt
tình cho việc bào chữa thì có thể làm xấu đi tình trạng của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo Nếu biết được điều này mà người bị tình nghi và người đại diện hợp pháp của họ
không có quyền thay đổi người bào chữa ấy thì việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật khó có thể thực hiện được Ít nhiều những quyết định, bản án sẽ bị ảnh hưởng
tiêu cực từ nguyên nhân này Cũng có thể xuất phát từ nguyên nhân khả năng của người
bào chữa được nhờ nên người có quyền lựa chọn người bào chữa quyết định thay đổi để
tìm người khác phù hợp với tội danh cũng như tình tiết của vụ án mà mình đang bị cáo
buộc Có được như vậy thì quyền lợi hợp pháp của công dân mới được đảm bảo, lòng
tin vào nhà nước và pháp luật của họ sẽ được củng cố
Tuy nhiên, không phải tất cả trường hợp thay đổi người bào chữa thì người bào
chữa mới sẽ được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận Theo Nghị quyết
03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì sau khi
thụ lý vụ án hình sự cần phải kiểm tra xem xét trong các giai đoạn tố tụng trước đó bị
can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ có mời người bào chữa hay chưa mà thực
hiện như sau:
- Nếu bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ chưa nhờ người bào chữa,
nay mới nhờ người bào chữa hoặc tuy đã có nhờ người bào chữa, nhưng nay nhờ người
khác bào chữa thì cần phải xem xét người được nhờ bào chữa đó có quan hệ thân thích
với người nào đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án hay không Nếu có quan hệ
thân thích với người nào đó đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án thì căn cứ vào
điểm a khoản 2 Điều 56 BLTTHS 2003 từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa
cho người được nhờ bào chữa đó Việc từ chối cấp giấy chứng nhận phải được lập
thành văn bản, trong đó cần nêu rõ lý do của việc từ chối cấp giấy chứng nhận người
bào chữa
- Trong trường hợp các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị cáo, người đại diện
hợp pháp của họ đã có nhờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục nhờ người đó bào chữa