1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUYỀN KHỞI KIỆN vụ án dân sự lý LUẬN và THỰC TIỄN

61 661 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 833,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi bổsung năm 2001 trong Chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã quy định hệ thống các quyền cơ bản của công dân V

Trang 1

Trương Thanh Hùng Lai Thị Ngọc Thúy

Luật Tư Pháp 2 - K34

Cần Thơ, tháng 5/2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn tốt nghiệp là nhiệm vụ quan trọng của mỗi sinh viêntrước khi rời khỏi giảng đường Đại học Đồng thời, luận văn tốt nghiệp cũng thểhiện tâm huyết của mỗi sinh viên với đề tài nghiên cứu của mình Đạt được kết quảhôm nay, trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến quý thầy côKhoa Luật Trường Đại Học Cần Thơ đã giảng dạy tận tình trong thời gian em theohọc tại trường Đặc biệt là thầy Trương Thanh Hùng người đã giúp đỡ hướng dẫntận tình em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp Và em cũng xin chân thànhcảm ơn các bạn tập thể lớp Luật Tư Pháp 2 - K34 động viên em trong học tập vàtrong cuộc sống, và em cũng chân thành cảm ơn đến gia đình đã tạo điều kiện tốtnhất cho em theo học tại Trường Đại Học Cần Thơ để đạt được kết quả như ngàyhôm nay

Mặt dù đã cố gắng vận dụng kiến thức đã học ở trường, cộng với thời giantìm hiểu các sách, báo, tạp chí và thực tiễn cũng không tránh khỏi những thiếu sót

Vì vậy, mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn đượchoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

SVTH: Lai Thị Ngọc Thúy

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

……… …

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU ……1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ……… 4

1.1 Khái quát chung về quyền khởi kiện vụ án dân sự 4

1.1.1 Khái niệm quyền khởi kiện vụ án dân sự……….………… 4

1.1.2 Ý nghĩa của quyền khởi kiện vụ án dân sự 6

1.2 Lược sử hình thành quyền khởi kiện vụ án dân sự 7

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 7

1.2.2 Giai đoạn năm 1954 đến năm 2004 8

1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 10

1.3 Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự 11

1.3.1 Cơ sở pháp lý về quyền khởi kiện vụ án dân sự 11

1.3.2 Nội dung về quyền khởi kiện vụ án dân sự 12

1.3.3 Cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền khởi kiện vụ án dân sự 15

1.3.4 Sự cần thiết khi nghiên cứu quyền khởi kiện vụ án dân sự 16

CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ ĐẢM BẢO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ ……… 19

2.1 Cơ chế đảm bảo quyền khởi kiện vụ án dân sự 19

2.1.1 Chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng Dân Sự hiện hành 19

Trang 6

2.1.1.1 Đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự 19

2.1.1.2 Quyền khởi kiện vụ án dân sự của các chủ thể có quyền bảo vệ lợi ích

công cộng, lợi ích của người khác, lợi ích của Nhà nước 30

2.1.2 Chủ thể đảm bảo quyền khởi kiện vụ án dân sự theo bộ Luật Tố

tụng Dân sự hiện hành 32

2.1.2.1 Cơ quan tiến hành tố tụng 33 2.1.2.2 Người tiến hành tố tụng 36

2.1.2.3 Mối quan hệ giữa chủ thể hưởng quyền khởi kiện và chủ thể đảm bảo

quyền khởi kiện vụ án dân sự 38

2.1.3 Điều kiện để khởi kiện một vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng

Dân sự hiện hành 38

2.1.3.1 Người khởi kiện vụ án phải có quyền khởi kiện 39

2.1.3.2 Vụ án khởi kiện phải còn thời hiệu khởi kiện……….40

2.1.3.3 Vụ án khởi kiện chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết

định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật ………….42

KẾT LUẬN……… 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển kéotheo những quan hệ xã hội nảy sinh và ngày càng phức tạp Đó cũng là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến các phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra ngày càngtăng dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng phổ biến trong xã hội Các chủthể tham gia vào các quan hệ pháp luật thực hiện đúng, hoặc không đúng quyền vànghĩa vụ của mình dẫn đến xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểkhác từ đó dẫn đến các phát sinh tranh chấp trong lĩnh vực như: Tranh chấp về dân

sự, tranh chấp kinh doanh thương mại, lao động

Để duy trì trật tự xã hội, nhằm ngăn chặn các phát sinh tranh chấp mà cácchủ thể không tự thỏa thuận giải quyết được, Nhà nước ta đã ban hành các đạo luật

và văn bản hướng dẫn thi hành quy định rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của các chủthể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật đặc biệt là trong các quan hệ pháp luậtdân sự Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi bổsung năm 2001 trong Chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã quy định

hệ thống các quyền cơ bản của công dân Việt Nam: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”1

Quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân luôn được Nhà nước đảm bảo, kếthừa Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 Quốc hội ban hành Bộ luật Tốtụng Dân sự (viết tắt là BLTTDS) hiện hành, được quy định rõ và chi tiết hơn vềquyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi bị xâm phạm, khi quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân bị xâm phạm pháp luật tố tụng dân sự quy định công dân đó có quyềnkhởi kiện vụ án ra Tòa án để giải quyết, trình tự thủ tục Tòa án nhận đơn khởi kiệncủa các chủ thể Khi đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào các quan hệ phápluật dân sự mà quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, thì theo quy định của phápluật tố tụng dân sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân đểgiải quyết tranh chấp Ngoài việc được pháp luật tố tụng dân sự quy định quyềnkhởi kiện vụ án dân sự của các chủ thể thì Tòa án nhân dân tối cao cũng ban hànhcác văn bản để hướng dẫn một cách thống nhất cho các Tòa án các cấp áp dụng xét

xử được thống nhất, nhưng hiện nay các vụ án dân sự được xét xử tại Tòa án cấp sơ

1

Điều 50 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001

Trang 8

thẩm điều bị đương sự kháng cáo lên Tòa án nhân dân phúc thẩm BLTTDS hiệnhành quy định các chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án khi được ápdụng xét xử tại Tòa án, thì các chủ thể này có quyền được khởi kiện tất cả các vụ ándân sự như BLTTDS hiện hành quy định, hoặc Tòa án có quyền từ chối các vụ án

do đương sự khởi kiện và Tòa án có đảm bảo được tất cả các vụ án mà đương sựkhởi kiện tại Tòa án được đưa ra xét xử như đúng luật đã quy định Chính vì lẽ đó

người viết chọn đề tài “Quyền khởi kiện vụ án dân sự - lý luận và thực tiễn” để

làm luận văn tốt nghiệp Qua đề tài này người viết mong muốn tìm hiểu và làm rõthêm về quyền khởi kiện vụ án dân sự của các đương sự tại Tòa án nhân dân, từ đó

để tìm ra những bất cập và vướng mắc trong quá trình xét xử vụ án để tìm ra giảipháp đề xuất nâng cao chất lượng xét xử vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân hiện nay

2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật tốtụng dân sự hiện nay về quyền khởi kiện vụ án dân sự - lý luận và thực tiễn áp dụngtại Tòa án Cụ thể người viết sẽ nghiên cứu quyền khởi kiện vụ án dân sự theoBLTTDS hiện hành Đồng thời người viết cũng so sánh với các quy định pháp luật

có liên quan về quyền khởi kiện vụ án dân sự

3 Mục tiêu nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này người viết mong muốn làm rõ thêm những quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về quyền khởi kiện vụ án dân sự - lýluận và thực tiễn được áp dụng tại Tòa án nhân dân hiện nay Đồng thời, người viếtphân tích đánh giá các khái niệm cơ bản về quyền khởi kiện vụ án dân sự, cơ sởpháp lý của pháp luật quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự từ đó đưa ra đánhgiá quy định pháp luật tố tụng dân sự có phù hợp với thực tế khi áp dụng tại Tòa ánnhân dân, chủ thể có quyền khởi kiện và những chủ thể đảm bảo quyền khởi kiện vụ

án, thực tiễn áp dụng tại Tòa án qua đó để trang bị kiến thức và vận dụng kiến thứcnày cho việc giải quyết vụ án dân sự trong thực tiễn, giúp bản thân và những ngườikhác nắm được những quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự,nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi bị xâm phạm

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào những kiến thức đã học trong trường người viết vận dụng thu thập

và tổng hợp các tài liệu có liên quan của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự

để chứng minh, phân tích làm rõ những vấn đề có liên quan đến quyền khởi kiện vụ

án dân sự Mặc khác khi viết luận văn này thì người viết còn sử dụng một số

Trang 9

phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích luật viết, phương pháp phântích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê.

5 Bố cục của đề tài: Gồm có 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền khởi kiện vụ án dân sự hiện nay

Chương 2: Cơ chế đảm bảo và thực tiễn áp dụng quyền khởi kiện vụ án dânsự

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền cơ bản của côngdân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, có vị trí quan trọng trong đời sống xãhội hiện nay, quyền khởi kiện vụ án dân sự được xem là phương tiện cho nhân dân

sử dụng để khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị chủ thể khácxâm phạm Trong chương này người viết tập chung giới thiệu khái quát chung vềkhái niệm quyền khởi kiện vụ án dân sự, cũng như lược sử hình thành và những quyđịnh của pháp luật hiện hành về quyền khởi kiện vụ án dân sự theo BLTTDS năm

2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

1.1 Khái quát chung về quyền khởi kiện vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm quyền khởi kiện vụ án dân sự

Bảo đảm quyền công dân trong đó quyền khởi kiện vụ án dân sự là mộtquyền tố tụng quan trọng được khẳng định là trách nhiệm và mục đích của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhànước điều được thiết kế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Quyềnkhởi kiện vụ án dân sự là cơ chế pháp lý để mọi chủ thể có quyền yêu cầu cơ quancông lý để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình thông qua quyền lực Nhà nước.Đều đó thể hiện mối liên hệ mật thiết trong quan hệ trách nhiệm giữa Nhà nước vớicông dân của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Các quyền cơ bản củacông dân được thừa nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật Ở nước ta, cácquyền về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Nhànước thừa nhận một cách tương đối đầy đủ Hiến pháp năm 1992 của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôntrọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong hiến pháp”2 Trong cácquyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận thì quyền dân sự bao gồm các quyềnsau: Dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình, những quyềnnày có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta hiện nay Khi đó, chủ thể có quyền tự

do kinh doanh, có quyền thực hiện các giao dịch dân sự hoặc chủ thể có quyền yêucầu hủy kết hôn trái pháp luật… Nếu không thực hiện đúng hoặc xâm phạm đếnquyền và lợi ích của người khác thì chủ thể bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có

2

Điều 50 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001

Trang 11

thẩm quyền giải quyết vụ án tại Tòa án, khi đó Tòa án có thể áp dụng các biện pháp

mà pháp luật quy định bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể

Quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đượcquy định trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 luôn được đảm bảobằng sự cưỡng chế của Nhà nước Vì vậy, Nhà nước ta luôn đảm bảo để các cá nhâncác chủ thể khác sử dụng quyền dân sự của mình để tham gia vào các quan hệ dân

sự trong xã hội như giao kết hợp đồng mua bán với các cá nhân trong nước, với cácnước trên thế giới để tạo ra của cải, tài sản có giá trị và thu nhập hợp pháp khác đểđáp ứng tốt hơn các lợi ích vật chất và văn hóa tinh thần ngày càng cao của mỗingười góp phần đem lại sự phát triển cho nền kinh tế xã hội hiện nay, Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền dân sự chính đáng ấy Bộ luậtDân sự (viết tắt là BLDS) năm 2005 quy định tại Điều 9 chính thức ghi nhận quyềnnày và cho phép cá nhân và các chủ thể khác được chủ động thực hiện các biệnpháp để tự bảo vệ mình như: Quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền côngnhận quyền dân sự của mình, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc bồi thường thiệthại… Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định bằngnhiều biện pháp, cách thức bảo vệ khác nhau bảo vệ bằng biện pháp hình sự, bảo vệbằng biện pháp hành chính… Nhưng đặc biệt hơn trong số các biện pháp bảo vệquyền dân sự là biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự thủ tục tố tụng dân

sự tại Tòa án nhân dân

Khi đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có quyền dân sự bịxâm phạm có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộcngười có hành vi xâm phạm phải chấm dứt các hành vi trái pháp luật, phải bồithường thiệt hại hoặc phải chịu chế tài khi bị phạt vi phạm Trong các biện pháp bảo

hộ của Nhà nước đối với công dân thì quyền khởi kiện vụ án dân sự là một biệnpháp hữu hiệu quan trọng và có hiệu quả cao đối với các chủ thể Vì trong trườnghợp các chủ thể không tự thỏa thuận giải quyết được khi xảy ra tranh chấp thì cóquyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp để giải quyết vụ án Vì vậy, kháiniệm quyền khởi kiện vụ án dân sự được quy định trong BLTTDS năm 2004 sửa

đổi bổ sung năm 2011 cụ thể như sau: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình

hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung

là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của mình” 3 Theo đó, quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân

được bảo hộ bình đẳng cho mọi chủ thể không phân biệt tôn giáo, dân tộc, thành

3

Điều 161 BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

Trang 12

phần địa vị trong xã hội Mọi cá nhân, kể cả người nước ngoài, người không quốctịch, các cơ quan tổ chức của Việt Nam, của nước ngoài, khi cho rằng quyền lợi íchhợp pháp của mình trong các quan hệ như dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh,thương mại, lao động bị vi phạm hoặc có tranh chấp điều có quyền gửi đơn khởikiện yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp củamình theo trình tự tố tụng dân sự So với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự trước đây thì quyền khởi kiện vụ án dân sự trong BLTTDS hiện hành quy địnhđầy đủ hơn, nhưng có điểm mới là không quy định về quyền khởi tố của Viện kiểmsát nhân dân điều này cho thấy Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo phápluật

Ngoài các chủ thể có quyền khởi kiện vụ án nêu trên thì cơ quan dân số giađình và trẻ em trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ

án hôn nhân gia đình do luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm

2010 quy định, Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ ánlao động trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người laođộng, cơ quan tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có quyền khởikiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nướcthuộc lĩnh vực mình phụ trách Điều 162 BLTTDS hiện hành Với quy định đó Nhànước chính thức xác nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự của cá nhân, cơ quan, tổchức trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của

xã hội

Có thể khẳng định rằng quyền khởi kiện vụ án dân sự trong BLTTDS hiệnhành do Nhà nước thừa nhận mang tính khách quan Quyền khởi kiện vụ án dân sự

là cơ sở pháp lý để cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện hành vi khởi kiện vụ án khi

có nhu cầu Nó cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác bảo vệquyền lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Việc thực hiện các quyền này củacác chủ thể được gọi là quyền khởi kiện vụ án dân sự

1.1.2 Ý nghĩa của quyền khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện vụ án dân sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng khi đó cánhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụngdân sự được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bảo vệ quyền lợi íchhợp pháp của đương sự và các chủ thể khác khi bị xâm phạm theo quy định củapháp luật Theo đó, quyền khởi kiện là phương thức trao cho các đương sự quyền tự

do hành động, cùng với quyền tự định đoạt trong phạn vi pháp luật cho phép nhưkhởi kiện để đòi lại tài sản đã bị mất, khởi kiện để yêu cầu đòi bồi thường thiệt

Trang 13

hại… Với hành vi khởi kiện như vậy các cơ quan tố tụng sẽ có hoạt động can thiệpkịp thời tránh được những thiệt hại đáng tiết có thể xảy ra giữa các chủ thể, cácquyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể được bảo vệ một cách tốt nhất từ phía cơ cácquan Nhà nước, thiệt hại sớm được ngăn chặn khắc phục, khôi phục lại mối quan hệthiện chí, cởi mở giao hòa giữa các bên trong đời sống đương sự, làm cho cuộc sốngcủa người dân được an tâm tin tưởng vào cơ quan Nhà nước.

Với việc yêu cầu giải quyết vụ án dân sự của các đương sự, Tòa án là cơquan có thẩm quyền xét xử để góp phần cũng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa nângcao được hiệu quả xét xử, Tòa án có trách nhiệm giải quyết để bảo vệ quyền lợi củađương sự Khi hoạt động xét xử kết thúc một bản án được tuyên thì mọi người phảitôn trọng nghiêm chỉnh chấp hành Vì vậy, quyền khởi kiện vụ án dân sự làm chođương sự và các chủ thể khác có thể hiểu biết pháp luật một cách chặt chẽ, từ đómỗi người tự nâng cao ý thức của bản thân mình để tuân theo quy định pháp luật,tránh được tình trạng xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người khác Khinhân dân đã tin tưởng vào cơ quan xét xử, thì cơ quan xét xử cũng là chỗ dựa chonhân dân để họ đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật

1.2 Lược sử hình thành quyền khởi kiện vụ án dân sự

Trước Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta bị nô lệ, bị đàn áp dưới áchthống trị của thực dân Pháp, mục tiêu của cách mạng là quyền của dân tộc, quyềncủa cộng đồng tức là quyền độc lập tự do của dân tộc Dựa vào lịch sử và sự pháttriển của pháp luật nước ta về quyền khởi kiện vụ án dân sự thì người viết có thểchia thành các giai đoạn hình thành lược sử về quyền khởi kiện vụ án dân sự nhưsau:

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945 đến năm 1954

Năm 1945 Cách mạng Tháng Tám thành công, bản tuyên ngôn độc lập đãkhai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, vừa mới ra đời những người làm nênthắng lợi Cách mạng Tháng Tám và nhân dân phải lo lắng trăm công nghìn việc,phải đối mặt với nhiều thế lực thù trong giặt ngoài, nền kinh tế nước ta lúc này kémphát triển, việc giao lưu mua bán của nước ta trong lúc này còn nhiều khó khăn, đờisống của người dân còn nhiều gian nan cực khổ, trước tình hình khó khăn của đấtnước để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp trong nhân dân Ngày 10/10/1945 Chính phủlâm thời ra Sắc lệnh về việc tạm thời sử dụng một số luật lệ của chế độ củ để lại vềkinh tế, xã hội, dân sự, hôn nhân gia đình Các quy định về việc kiện cáo để giảiquyết tranh chấp của nhân dân trong giai đoạn này thì rất hạn chế, trong lúc này

Trang 14

nước ta bị thực dân Pháp xâm lược nên quyền tự do dân chủ của nhân dân ta thìkhông có, các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân nằm rải ráctrong pháp luật củ để lại như: Bộ luật dân sự của pháp, Bộ luật Hồng Đức, Bộ luậtGia Long, Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ hình luật Trung kỳ Quyền kiện cáo trong dântrong khoản thời gian này cũng hạn chế trong Bộ dân luật Bắc kỳ có quy định vàiđiều để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể về tiêu hôn và ly hôn thì trong Bộ dân luậtBắc kỳ có quy định để bảo vệ quyền lợi của người dân trong hôn nhân gia đình thìđương sự có quyền xin Tòa án cho tiêu hôn khi một bên kết hôn bị nhầm lẫn, ly hônlại quy định vợ hoặc chồng một trong hai người có thể xin Tòa án cho ly hôn.

Về quan hệ cha mẹ con cái cũng được Bộ dân luật Bắc kỳ quy định như concháu không được kiện ông bà cha mẹ trước Tòa án Như vậy trong thời gian từtrước năm 1945 đến năm 1954 nước ta áp dụng quyền khởi kiện vụ án trong cácpháp luật củ để lại chưa có văn bản mới nào quy định cụ thể hơn quyền khởi kiện

vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nhân dân

1.2.2 Giai đoạn năm 1954 đến năm 2004

Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta đang phát triển, đời sống nhân dânngày càng được nâng cao, việc tham gia của người dân vào các quan hệ dân sự ngàycàng nhiều, từ đó dẫn đến xảy ra tranh chấp giữa các chủ thể là điều không tránhkhỏi, trong lúc này Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản lý xã hộibảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân Ngày 29/11/1989 Quốc hội thông quaPháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, trong pháp lệnh này thìquyền lợi của công dân được Nhà nước bảo vệ bằng cách trao cho công dân cóquyền khởi kiện vụ án dân sự, quyền khởi kiện vụ án dân sự này được ghi nhận đầutiên trong lịch sử của nước ta về quyền khởi kiện vụ án dân sự, được quy định mộtcách tương đối đầy đủ những trường hợp nào được quyền khởi kiện vụ án, chủ thể

có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích khi bị xâm phạm cụ thể tại Điều 1

của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định như sau: “Công dân,

pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án nhân dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình” Ngoài các chủ thể

nêu trên thì Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 còn quy địnhnếu không có người khởi kiện thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các thành viên của Mặttrận Tổ quốc trong phạm vi nhiệm vụ chức năng của mình có quyền khởi kiện hoặc

đề nghị Viện kiểm sát xem xét để khởi tố vụ án

Ngày 19/10/1990 Nghị quyết 03/HĐTP (Hội đồng thẩm phán) được banhành hướng dẫn Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định cụ thể về

Trang 15

quyền khởi kiện vụ án dân sự, trong đó có quy định những trường hợp về người đạidiện cho đương sự không có quyền khởi kiện vụ án dân sự Với sự ra đời của Pháplệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đã tạo điều kiện cho công dânthực hiện quyền khởi kiện của mình trước cơ quan có thẩm quyền Hiến pháp năm

1992 được ban hành cũng ghi nhận quyền dân sự của nhân dân tại Điều 50 và năm

1995 thì Quốc hội đã ban hành BLDS cũng có quy định quyền và lợi ích của chủ thểkhi bị xâm phạm được pháp luật bảo vệ tại Điều 12 để bảo vệ quyền dân sự.4

Về kinh tế thì sự giao lưu mua bán hàng hoá diễn ra tương đối ngày càngnhiều với các nước trên thế giới Năm 1989 Quốc hội cũng ban hành Pháp lệnh hợpđồng kinh tế quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân khi bị xâm phạm cụ thể

tại Điều 1 quy định: “Cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định, có

quyền khởi kiện vụ án kinh tế để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Trong lĩnh vực lao động thì Nhà nước cũng ban hành Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 để bảo vệ quyền và lợi ích của ngườilao động khi bị xâm phạm và được quy định cụ thể tại Điều 1 quyền yêu cầu Tòa án

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cụ thể: “Người lao động, tập thể lao động, người

sử dụng lao động theo thủ tục do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án lao

động để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động thì công đoàn cấp trên công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện”.

Trong lịch sử trải dài Nhà nước ta điều quy định quyền khởi kiện để bảo vệquyền và lợi ích của công dân những quyền khởi kiện do các pháp lệnh quy địnhchưa thật sự phù hợp khi áp dụng còn gặp nhiều vướng mắc và khó khăn, cho nênnăm 2004 thì Quốc hội nước ta đã ban hành BLTTDS quy định bảo vệ quyền lợihợp pháp của công dân một cách tốt nhất không chỉ trong lĩnh vực dân sự mà cònđiều chỉnh trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và trong lĩnhvực lao động Cụ thể bằng quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền giải quyết quy định tại Điều 161 và Điều 162 BLTTDS hiện hành Với

sự ra đời của BLTTDS năm 2004 đã giải quyết được những khó khăn vướng mắc

mà các pháp lệnh trước đây không được quy định cụ thể, sự ra đời BLTTDS năm

2004 đã quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự một cách tương đối đầy đủ, tạo điềukiện cho người dân thực hiện quyền tự bảo vệ mình khi quyền lợi ích hợp pháp bịxâm phạm, có quyền khởi kiện vụ án ra Tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi

4

Điều 12 BLDS năm 1995

Trang 16

ích hợp pháp Như vậy trong giai đoạn này quyền khởi kiện vụ án dân sự được quyđịnh một cách tương đối đầy đủ để bảo vệ quyền lợi của công dân khi bị các chủ thểkhác xâm phạm.

1.2.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Từ năm 2005 đến nay thì Nhà nước luôn đảm bảo quyền khởi kiện vụ ándân sự của công dân theo quy định của BLTTDS năm 2004 và còn ban hành thêmmột số văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cho Tòa án cáccấp để khởi kiện vụ án được hoàn thiện hơn về quyền khởi kiện vụ án dân sự cụ thểlà: Nghị quyết 02/2006 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ban hành để hướng dẫnthi hành các quy định trong phần thứ hai thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơthẩm Nghị quyết quy định chi tiết những trường hợp nào thì người đại diện đượcquyền khởi kiện vụ án dân sự Năm 2007 Tòa án nhân dân tối cao ban hành côngvăn số 38/KHXX ngày 29/03/2007 hướng dẫn việc pháp nhân khởi kiện vụ án và ủyquyền khởi kiện vụ án dân sự, trong công văn này thì Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn cụ thể về người đại diện hợp pháp của pháp nhân, những trường hợpngười đại diện theo pháp luật của pháp nhân thực hiện việc khởi kiện vụ án cũngđược hướng dẫn chi tiết, trong công văn còn hướng dẫn trường hợp người đại diệnhợp pháp của pháp nhân ủy quyền cho người khác thực hiện việc khởi kiện vụ án

Để đáp ứng và quản lý xã hội tốt hơn BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm

2011 quy định thêm một số vấn đề mà BLTTDS năm 2004 chưa được điều chỉnh.Năm 2011 Tòa án nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn về một số vấn đềliên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự của cơ quan bảo hiểm xã hội, cụ thểtrong Công văn 143/KHXX ngày 21/9/2011 của Tòa án nhân dân tối cao quy định

cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền khởi kiện vụ án dân sự Như vậy trách nhiệm của

cơ quan Nhà nước đối với nhân dân luôn được Nhà nước xem trọng luôn được Nhànước bảo vệ

Tóm lại, quyền khởi kiện vụ án dân sự ở nước ta hiện nay được nhân dân sửdụng để khởi kiện vụ án tại Tòa án nhân dân để bảo vệ quyền lợi hợp pháp diễn rangày càng nhiều, khởi kiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau diễn ra ngày càng phứctạp nhưng pháp luật nước ta được quy định ngày càng chặt chẽ và hoàn thiện hơn đểkịp thời bảo vệ người bị xâm phạm Được pháp luật quy định quyền khởi kiện vụ ándân sự một cách tương đối đầy đủ và cụ thể về mặt nội dung lẫn hình thức đáp ứngđược nhu cầu tốt nhất cho nhân dân trong giai đoạn hiện nay khi mà quyền lợi íchhợp pháp của nhân dân ngày càng bị xâm phạm

Trang 17

1.3 Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự

1.3.1 Cơ sở pháp lý về quyền khởi kiện vụ án dân sự

Những năm gần đây tranh chấp, xung đột trong lĩnh vực dân sự ở nước tanổi lên ngày càng nhiều, khiến cho người dân hết sức quan tâm lo lắng, đặc biệtnhững vụ tranh chấp trong lĩnh vực dân sự gây ra cụ thể trong các lĩnh vực tranhchấp như vi phạm hợp đồng, các tranh chấp quyền sử dụng đất, kinh doanh, thươngmại, lao động… diễn ra ngày càng gay gắt Các phương pháp mà các chủ thể lựachọn để giải quyết tranh chấp này thường là các bên tự thỏa thuận với nhau giải đểquyết Tuy nhiên, có một số tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại đương sự không tựthỏa thuận giải quyết được nên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp để giảiquyết Điều dễ nhận thấy các phương thức thỏa thuận hòa giải để giải quyết tranhchấp còn thụ động chưa tháo gỡ dứt điểm những vướng mắc nảy sinh, chưa có cơchế giải quyết phù hợp thỏa đáng là do sự hiểu biết và nhận thức pháp luật của cácđương sự còn hạn chế, sự điều chỉnh pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự còngặp nhiều khó khăn chưa phù hợp với sự phát triển của xã hội

Hiện nay, việc bảo vệ quyền lợi của công dân được pháp luật quy định cụthể trong Hiến pháp và các bộ luật có liên quan, quyền lợi ích của công dân đượcquy định cụ thể trong đó có các quyền như chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xãhội được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Cụ thể hóa các quyền trong Hiến phápnêu trên thì BLTTDS năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 đã quy định cụ thểđiều chỉnh về quyền lợi ích của công dân, khi có tranh chấp thì công dân có quyềnkhởi kiện vụ án dân sự ra Tòa án cho rằng quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm cầnđược bảo vệ từ phía cơ quan có thẩm quyền, quyền lợi ích của đương sự được quyđịnh cụ thể trong các nguyên tắc của BLTTDS hiện hành những nguyên tắc cơ bản

là những qui tắc chung mà mọi người phải tuân theo, trong các nguyên tắc cơ bảncủa BLTTDS hiện hành quy định thì việc bảo vệ quyền lợi ích của đương sự đượcđiều chỉnh một cách cụ thể và được Tòa án đảm bảo quyền lợi ích đó Hai nguyêntắc được điều chỉnh trong quá trình bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dânđược quy định tại Điều 4 BLTTDS hiện hành quy định quyền yêu cầu Tòa án bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Điều 5 BLTTDS hiện hành quy định quyền quyếtđịnh và tự định đoạt của đương sự Khi đương sự bị xâm phạm có tranh chấp thì cóquyền yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu trong quá trình giải quyết vụ án có bất kỳhành vi nào, do bất kỳ chủ thể nào thực hiện trong bất kỳ trường hợp nào bị xử lýgiải quyết công bằng như nhau Nếu không thực hiện đúng theo quy định pháp luật

là căn cứ để hủy bản án, quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc

Trang 18

Như vậy, pháp luật luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các đương sự khi có quyền và lợiích hợp pháp bị xâm phạm thì đương sự có quyền khởi kiện vụ án yêu cầu cơ quan

có thẩm quyền can thiệp giải quyết

1.3.2 Nội dung về quyền khởi kiện vụ án dân sự

Nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Theo

quy định BLTTDS hiện hành tại Điều 4 quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp:“Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi

kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác” Tòa

án nhân dân theo chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước thành lập nhằm bảo vệ phápchế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhândân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tài sản, tính mạng, tự do, danh

dự và nhân phẩm của công dân Trong tố tụng dân sự, khi cá nhân, cơ quan, tổ chức

có quyền lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại vàlao động cần được bảo vệ bằng quyền lực của Nhà nước thì đương sự có quyền gửiđơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng Tòa án nhậnđơn có trách nhiệm xem xét giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền, trình tự thời hạn tốtụng để bảo vệ lợi ích hợp pháp thông qua hoạt động tố tụng BLTTDS hiện hànhquy định cơ chế thuận lợi bảo đảm công dân có quyền tiếp cận Tòa án, tiếp cậncông lý của mọi cá nhân, cơ quan tổ chức cho phép các chủ thể gửi đơn khởi kiệnđến Tòa án một cách trực tiếp hoặc có thể gửi qua đường bưu điện đến Tòa án Tòa

án có trách nhiệm nhận đơn khởi kiện của các chủ thể gửi đến và chỉ được trả lạiđơn cho đương sự sau khi đã xem xét và có căn cứ sai theo quy định pháp luật Nếukhông có căn cứ trả lại đơn khởi kiện thì Tòa án có trách nhiệm thụ lý vụ án đó, vàtiến hành giải quyết vụ án theo trình tự tố tụng do pháp luật quy định bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức, một cách kịp thời đúng thờihạn mà pháp luật tố tụng quy định

Nhà nước đại diện cho lợi ích các giai cấp trong xã hội nên các quyền, lợiích chính đáng của các chủ thể được Nhà nước bảo hộ Trong vụ án dân sự nếu cácđương sự có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệtheo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Điều này cho thấy khi đương sự trong

vụ án nếu thấy quyền lợi bị xâm phạm thì tự mình hoặc thông qua người đại diệnđến cơ quan có thẩm quyền để khởi kiện vụ án, trong trường hợp quyền lợi ích củacác chủ thể khác bị xâm phạm mà người bị xâm phạm không khởi kiện được vụ ánthì chủ thể khác theo quy định cũng có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ, Tòa án là cơ

Trang 19

quan có thẩm quyền có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của các đương

sự, Tòa án có nhiệm vụ xem xét giải quyết các yêu cầu của đương sự để bảo vệquyền lợi ích hợp pháp cho đương sự, Tòa án xét xử buộc người chấm dứt hành vi

vi phạm, bồi thường thiệt hại là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các đương sự Không chỉ trong vụ án dân sự mà trong việc dân sựthì theo nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích cũng được Tòa ánbảo vệ kịp thời

Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Nguyên tắc này được pháp luật bảo đảm khi quyền lợi ích hợp

pháp của đương sự bị xâm phạm có quyền quyết định và tự định đoạt có khởi kiện

vụ án hay không khởi kiện vụ án được quy định như sau: “Đương sự có quyền quyết

định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án

chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự

và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo

đức xã hội”5 Điều 5 BLTTDS hiện hành quyền quyết định và tự định đoạt của

đương sự trước hết thể hiện ở quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theonghĩa rộng (bao gồm vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhângia đình) Tuy nhiên quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụngdân sự Việt Nam phải thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép và theo thủ tục tốtụng dân sự thì mới được Tòa án chấp nhận thụ lý giải quyết

Ngoài ra, trong tố tụng dân sự Việt Nam quyền quyết định và tự định đoạtcủa đương sự luôn đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước thông qua vai tròcủa Tòa án và Viện kiểm sát Mọi hành vi định đoạt trong tố tụng chỉ có giá trị pháp

lý khi được Tòa án chấp nhận và hơn thế nữa sự chấp nhận của Tòa án lại tiếp tụcđược giám sát bởi vai trò của Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát trong quá trình tốtụng để đảm bảo vụ án được giải quyết đúng theo quy định của pháp luật Đối vớiquyền quyết định và tự định đoạt thì việc dân sự được một cá nhân, cơ quan, tổchức có thể yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý là căn

cứ để phát sinh quyền nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại,lao động của mình hoặc của người khác thì trong việc dân sự lại không có nguyênđơn và bị đơn chỉ có người yêu cầu, (ví dụ như người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự,

5

Điều 5 BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011

Trang 20

mất tích hoặc đã chết theo quy định của BLDS hiện hành…) Đối với vụ án dân sự,nguyên tắc chung nguyên đơn (chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, cơquan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ

án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộclĩnh vực mình phụ trách) mới có quyền quyết định việc khởi kiện hay không khởikiện vụ án dân sự Ngoại lệ, trong trường hợp cần bảo vệ quyền lợi ích hợp phápcủa người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước, thì Cơ quan dân số, giađình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình do luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định; Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở

có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ lợi ích hợp phápcủa tập thể người lao động do pháp luật quy định Nhưng cũng cần lưu ý tuy cóquyền khởi kiện vụ án dân sự nhưng theo quy định tại Điều 73 của BLTTDS hiệnhành thì Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ và Công đoàncấp trên của công đoàn cơ sở không phải là nguyên đơn mà là người đại diện theopháp luật cho đương sự trong tố tụng dân sự

Theo Điều 161 BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 nguyên đơn

là cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là người khởi kiện) có quyền tựmình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩmquyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Để khởi kiện được vụ án dân sựthì nguyên đơn phải có đơn khởi kiện vụ án Trong đơn khởi kiện phải trình bàydưới dạng văn bản và phải được nguyên đơn ký tên và điểm chỉ, nếu nguyên đơn là

cá nhân; nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơquan, tổ chức đó ký tên đóng dấu ở cuối đơn Dựa trên nguyên tắc quyền quyết định

và tự định đoạt của đương sự trong việc khởi kiện vụ án thì nguyên đơn tự mình xácđịnh ba nội dung chính của đơn kiện: Khởi kiện một hoặc nhiều bị đơn (một hoặcnhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác) về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệpháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án; đối tượng khởikiện (những vấn đề cụ thể mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); căn cứ khởi kiện (tài liệu, chứng cứ đểchứng minh cho yêu cầu khởi kiện có căn cứ và hợp pháp)

Trong nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự bao hàmtất cả các nội dung quyền như: Quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút các yêu cầu; quyềnhòa giải, thương lượng; quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh; quyền kháng cáocủa đương sự Người khởi kiện vụ án dân sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu

Trang 21

của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật đạođức xã hội và điều này cho thấy tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo quy định Điều 218BLTTDS hiện hành, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉđược hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi bổ sung yêu cầu đó không vượtquá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu Ví dụ tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơthẩm nếu thấy bị đơn không có khả năng hoàn trả tài sản đã vay, nguyên đơn có thểthay đổi yêu cầu đề nghị Tòa án buộc bị đơn thanh toán bằng tiền theo giá trị tài sản

đã vay Trường hợp các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tụcgiải quyết vụ án (Điểm d khoản 1 Điều 192 BLTTDS hiện hành), thì Tòa án raquyết định đình chỉ giải quyết vụ án Các đương sự không có quyền khởi kiện yêucầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó Trừ một số trường hợp do pháp luật quyđịnh Điều 193 khoản 1 BLTTDS hiện hành thì đương sự có quyền khởi kiện lại vụ

án Như vậy quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự luôn được các cơ quan

có thẩm quyền bảo vệ giải quyết kịp thời cho đương sự Quyền quyết định và tựđịnh đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc thể hiện tính chất đặc thù đểbảo vệ lợi ích chung của Nhà nước và của xã hội

1.3.3 Cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền khởi kiện vụ án dân sự

Muốn bảo vệ được quyền và nghĩa vụ của công dân khi bị chủ thể khácxâm phạm thì cần có những quy định của pháp luật về nội dung lẫn hình thức chặtchẽ, từ đó quyền lợi ích hợp pháp của công dân mới được bảo vệ một cách kịp thời,hiện nay trong các bộ luật được ban hành thì mổi ngành luật điều có các nguyền tắcđược đảm bảo riêng BLTTDS hiện hành quy định các nguyên tắc chung mọi ngườiphải tuân theo các chủ thể phải nghiêm chỉnh chấp hành khi xét xử các vụ án dân

sự, các nguyên tắc này phải được đảm bảo xuyên suốt trong quá trình xét xử vụ án,trong đó có hai nguyên tắc được quy định trong BLTTDS hiện hành và luôn đượcđảm bảo khi quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm

Nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp theo quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự, việc đảm bảo quyền này được cơ quan xét xử bảođảm cho đương sự khi có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đương sự là người

có mâu thuẫn, phát sinh tranh chấp, bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án có thẩmquyền giải quyết bằng bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật được mọi người tuânthủ chấp hành Tuy nhiên, khi áp dụng quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp khi giải quyết vụ án tại Tòa án còn gặp nhiều khó khăn vướng mắcxảy ra, thực tế cho thấy khi quyền lợi bị xâm phạm người bị xâm phạm có quyềnkhởi kiện hay không khởi kiện vụ án đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết là

Trang 22

quyền của đương sự bị thiệt hại, nhưng pháp luật quy định trường hợp quyền lợi íchcủa các chủ thể khác bị xâm phạm thì một chủ thể khác đứng ra khởi kiện vụ án tạiTòa án hiện nay là rất ít, vì việc khởi kiện vụ án không liên quan đến quyền lợi íchhợp pháp của họ nên họ không muốn tham gia khởi kiện vụ án đó, việc khởi kiệnbảo vệ quyền lợi cho một chủ thể khác thì người khởi kiện cũng có tâm lý lo sợ khiphải đối mặt với cơ quan xét xử, mất nhiều thời gian mà không đem lại được mộtlợi ích vật chất cho người đứng ra khởi kiện cho chủ thể khác, đây là một hạn chế

mà một số Tòa án gặp phải từ đó dẫn đến những vụ án được khởi kiện tại Tòa ánbảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khác tại Tòa án hiện nay là rất ít

Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong BLTTDS hiện hành

đã đáp ứng được nhu cầu của công dân hiện nay, trong khi các tranh chấp trong xãhội ngày càng nhiều điều đó cho thấy nếu đương sự tự định đoạt yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền giải quyết khi bị xâm phạm thì được cơ quan có thẩm quyền thụ lý xemxét giải quyết, sự phát triển xã hội phát triển kinh tế thì đương sự tham gia vào quan

hệ pháp luật bị xâm phạm diễn ra ngày càng nhiều cho nên quyền quyết định và tựđịnh đoạt khởi kiện vụ án hiện nay luôn được Tòa án đảm bảo giải quyết khi quyềnlợi của công dân bị xâm phạm Tuy nhiên, quyền quyết định và tự định đoạt củađương sự còn gặp khó khăn vướng mắc khi được áp dụng tại Tòa án như: Nhà nướctrao cho đương sự có quyền quyết định và tự định đoạt khởi kiện hay không khởikiện vụ án dân sự, cho nên khi đương sự khởi kiện vụ án mà Tòa án đã thụ lý vàđược đưa ra xét xử mà người khởi kiện lại thay đổi không khởi kiện vụ án nửa làmcho những người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn phải mấtnhiều thời gian để xem xét lại người khởi kiện đó không khởi kiện vụ án tự nguyệnhay do người khác ép buộc không cho khởi kiện

1.3.4 Sự cần thiết khi nghiên cứu quyền khởi kiện vụ án dân sự

Trong giai đoạn hiện nay sự phát triển kinh tế kéo theo các quan hệ xã hộidiễn ra ngày càng phức tạp, mâu thuẫn tranh chấp giữa những chủ thể trong cácquan hệ pháp luật diễn ra ngày càng quyết liệt, vì vậy việc nghiên cứu về quyềnkhởi kiện vụ án dân sự là phương tiện cần thiết để giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền được

Nhà nước trao cho công dân khi có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Đứng vềgóc độ phát triển kinh tế xã hội hiện nay sự tham gia các đương sự vào các quan hệpháp luật ngày càng nhiều, từ đó xảy ra các mâu thuẫn là điều không tránh khỏimâu thuẫn tranh chấp xảy ra xâm phạm đến quyền lợi ích là do các đương sự họ cốtình không thực hiện quyền nghĩa vụ của mình, trong quan hệ pháp luật thì quan hệ

Trang 23

pháp luật dân sự là do các đương sự tự thỏa thuận với nhau để đạt được những lợiích mà họ mong muốn, có những trường hợp đương sự không thực hiện đúng những

gì đã thỏa thuận để đạt được những lợi ích vật chất nhiều hơn xâm phạm đến quyềnlợi của người khác Đương sự có quyền lợi ích bị xâm phạm bị thiệt hại thì cầnđược bồi thường những tổn thất thiệt hại trên thực tế đáng lẽ ra họ được hưởng, khi

bị chủ thể khác xâm phạm quyền lợi các đương sự cần được giải quyết một cáchnhanh chóng ổn thỏa bồi thường theo quy định của pháp luật, pháp luật quy địnhbiện pháp phạt chế tài khác nhau nhưng mục đích là bảo vệ quyền lợi cho công dânkhi bị xâm phạm Những nhu cầu cần thiết đó đã được pháp luật quy định cụ thểbằng việc trao cho đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự ra Tòa án Quyềnkhởi kiện vụ án dân sự là phương tiện cần thiết quan trọng mà Nhà nước đã trao chođương sự có quyền khởi kiện hay không khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi ích bịxâm phạm, việc quy định quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm hạn chế được mộtphần các chủ thể khác ngang nhiên xâm phạm đến quyền lợi của người khác, cònngười bị xâm phạm thì được Nhà nước bảo vệ một cách kịp thời

Thứ hai, người xâm phạm quyền lợi người khác có tôn trọng pháp luật, tôn

trọng quyền lợi của người bị xâm phạm mà những người bị xâm phạm luôn đượcNhà nước bảo vệ Thực tiễn trong xã hội hiện nay xâm phạm đến quyền lợi ngườikhác là vấn đề diễn ra ngày càng gay gắt, nhiều hình thức xâm phạm khác nhau nhưchiếm hữu sử dụng tài sản của người khác đang sử dụng, vi phạm các hợp đồngkhông thực hiện nghĩa vụ dân sự… Những người xâm phạm quyền lợi của ngườikhác có thể biết hoặc không biết những quy định của pháp luật khi vi phạm sẽ bị xử

lý thế nào hoặc biết pháp luật quy định mà vẫn có tình xâm phạm, hiện nay phápluật quy định nhiều biện pháp chế tài nhưng vẫn có nhiều chủ thể vẫn không tuânthủ chấp hành mà ngang nhiên xâm phạm đến quyền lợi của người khác, xemthường những quy định của pháp luật Vì vậy pháp luật cần quy định những biệnpháp phạt vi phạm mạnh hơn để răn đe, xử lý những người không tôn trọng quyềnlợi người khác, những người xem thường những quy định của pháp luật Quyềnkhởi kiện là một trong những phương thức giúp người khác khi bị xâm phạm được

cơ quan có thẩm quyền nhân danh Nhà nước để bảo vệ kịp thời cho các chủ thểtránh những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra Ngoài ra khi khởi kiện bằng bản án cóhiệu lực pháp luật buộc các chủ thể xâm phạm đến quyền lợi của người khácnghiêm chỉnh chấp hành, vì vậy khi nghiên cứu về quyền khởi kiện vụ án dân sự làcần thiết để biết những quy định của pháp luật từ đó có thể tránh xâm phạm đếnquyền lợi của người khác

Trang 24

Thứ ba, quyền khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền được Nhà

nước quy định để quản lý xã hội hiện nay Xã hội hiện nay các tệ nạn cờ bạc, ma tý,mại dâm trong xã hội diễn ra phức tạp, tình trạng xâm phạm trong lĩnh vực dân sựnhư: Tranh chấp đất đai, vấn đề vi phạm điều kiện kết hôn, vi phạm nghĩa vụ hợpđồng… Trước những thực tế đó thì cần có những quy định bắt buộc để quản lý xãhội quản lý công dân, buộc công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành, Nhà nước quyđịnh nhiều biện pháp quản lý xã hội khác nhau bằng các biện pháp pháp luật hình

sự, dân sự, hành chính, các quy định của pháp luật này được áp dụng nhằm hướngtới là bảo vệ quyền lợi ích của công dân, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, nhằm ổnđịnh xã hội Những quy định của pháp luật này còn nhiều hạn chế từ đó các cơ quanban hành có những quy định mới bằng việc sửa đổi bổ sung các văn bản để đáp ứngtốt hơn nhu cầu của công dân Những quy định của pháp luật được áp dụng khi có

vi phạm xảy ra, người bị thiệt hại có yêu cầu thì những quy định này được áp dụngvào để bảo vệ quyền lợi ích cho các chủ thể Ngoài ra Nhà nước muốn quản lý xãhội bằng pháp luật được tốt thì cần quy định phù hợp với thực tế, một trong nhữngbiện pháp quản lý xã hội là trao cho đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự raTòa án Quy định đó bắt buộc đương sự nghiêm chỉnh chấp hành những gì mà phápluật quy định, có như vậy thì xã hội mới ổn định người dân mới an tâm làm việc tạo

ra những vật chất để nuôi sống họ

Tóm lại, từ những quy định của pháp luật nêu trên thì quyền khởi kiện vụ

án dân sự hiện nay luôn được đảm bảo, khi quyền lợi ích hợp pháp của công dân bịxâm phạm, công dân có quyền khởi kiện vụ án và được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền bảo vệ theo trình tự thủ tục tố tụng, quyền khởi kiện vụ án dân sự được sựđồng tình của đương sự và được mọi người nghiêm chỉnh chấp hành Khi chủ thể bịxâm phạm thì được Nhà nước bảo vệ kịp thời thiệt hại sớm được khắc phục Bên viphạm sẽ bị trừng trị theo quy định của pháp luật Vì vậy quyền khởi kiện vụ án dân

sự có vai trò quan trọng bảo vệ quyền và lợi ích của công dân hiện nay

Trang 25

sự như thế nào, từ đó tìm ra những vướng mắc khó khăn đưa ra những đề xuất đểhoàn thiện pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi cho nhândân trong giai đoạn hiện nay.

2.1 Cơ chế đảm bảo quyền khởi kiện vụ án dân sự

2.1.1 Chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện hành

2.1.1.1 Đương sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự

Đương sự không phải là một khái niệm mới trong tố tụng, đương sự đượchiểu là người tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyềnlợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án Các pháp lệnh về tố tụng dân sự trước đây quyđịnh đương sự một cách cụ thể là cá nhân hoặc pháp nhân (trong pháp lệnh tố tụngdân sự, kinh tế), hoặc là người lao động, tập thể người lao động, người sử dụng laođộng (trong tố tụng lao động) Việc quy định cụ thể như trên dễ hiểu nhưng khôngmang tính khái quát, bị thiếu đối tượng như nhóm đối tượng tổ chức không phải làpháp nhân như doanh nghiệp tư nhân, tổ hợp tác cũng có thể trở thành đương sựtrong vụ án dân sự Để khắc phục khuyết điểm này, đồng thời thể hiện tính khái

Trang 26

quát cao trong các quy định BLTTDS năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy

định cụ thể đương sự trong vụ án dân sự: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức, bao gồm

nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyên đơn trong vụ

án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do bộ luật

này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng

quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn” Điều 56

khoản 1 và khoản 2 BLTTDS hiện hành Như vậy quyền khởi kiện vụ án dân sự củachủ thể được quy định trong BLTTDS hiện hành là:

Quyền khởi kiện vụ án dân sự của cá nhân: Cá nhân là nguyên đơn có

quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án khi cho rằng quyền lợi ích của mình bị xâmphạm Tất cả các cá nhân không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, thành phần địa vịtrong xã hội điều được thừa nhận có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cóthẩm quyền Quyền khởi kiện vụ án dân sự không phụ thuộc vào việc cá nhân đó cónăng lực hành vi tố tụng hay không Quyền khởi kiện của cá nhân được thừa nhậntrong các lĩnh vực tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại

và lao động điều này có nghĩa nếu cá nhân đó có đầy đủ năng lực hành vi tố tụngnhưng cá nhân đó khởi kiện vụ án không phải trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân giađình, kinh doanh, thương mại và lao động thì cá nhân đó cũng không được khởikiện vụ án dân sự Tuy nhiên, để tự mình định đoạt và tiến hành khởi kiện vụ án thì

cá nhân đó là người có năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 57BLTTDS hiện hành, đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ nănglực hành vi tố tụng dân sự, trừ những người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vidân sự hoặc pháp luật có quy định khác thì pháp luật đã thừa nhận cá nhân đó cóquyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhằm yêu cầu giải quyết tranh chấp về dân

sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình, của người khác

Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân

sự thì cá nhân đó không có năng lực hành vi tố tụng dân sự Việc bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họthực hiện Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đãtham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêngcủa mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ laođộng hoặc quan hệ dân sự đó Đối với những việc khác việc bảo vệ quyền và lợi ích

Trang 27

hợp pháp cho họ tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.Như vậy, những người chưa đủ sáu tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,người mất năng lực hành vi dân sự thì những người này không có năng lực hành vi

tố tụng dân sự việc bảo vệ quyền và lợi ích của những người này do người đại diện

hợp pháp của họ thực hiện Theo Điều 161 BLTTDS hiện hành: “Cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án

(sau đây gọi là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình” Người đại diện hợp pháp của đương sự là người

tham gia tố tụng dân sự, thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng

để bảo vệ quyền lợi ích của đương sự Việc tham gia của người đại diện hợp pháptrong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự,người đại diện hợp pháp bao gồm: Đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủyquyền

Quyền khởi kiện vụ án dân sự của người đại diện theo pháp luật: Theo quy

định BLDS năm 2005 người đại diện theo pháp luật6 có quyền khởi kiện vụ án dân

sự để bảo vệ người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi, mất nănglực hành vi dân sự Người đại diện theo pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chứcđương nhiên có quyền khởi kiện vụ án dân sự, có quyền đứng tên trong đơn khởikiện vụ án dân sự, người đại diện theo pháp luật của cá nhân tham gia tố tụng đểbảo vệ cho người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chếnăng lực hành vi tố tụng dân sự những người không thể tự mình tham gia tố tụng đểbảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm Theo tiểu mục 1.3 mục 1Nghị quyết 02/2006/NQ - HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của hội đồng thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành phần thứ hai “Thủ tục giải quyếtcác vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS (Nghị quyết 02/2006/NQ - HĐTP)thì: 1.3 Đối với cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì người đại diện hợp pháp của họ cóthể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉngười khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ của người đại diện hợp pháp của

cá nhân đó Đồng thời ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tênhoặc điểm chỉ Đối với cơ quan, tổ chức, mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức kể cảkhi tham gia tố tụng dân sự được tiến hành thông qua người đại diện của cơ quan, tổchức đó Đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đương nhiên có quyền khởikiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức mình như:

6

Điều 141 BLDS năm 2005

Trang 28

“Đối với cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có

thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án dân sự Tại mục tên,

địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức và họ tên, chức vụ

của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó Đồng thời phần cuối đơn,

người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan,

tổ chức đó” (tiểu mục 1.4 mục 1 Nghị quyết 02/2006/NQ - HĐTP).

Về mặt pháp lý thì pháp luật quy định muốn khởi kiện vụ án dân sự ngườikhởi kiện phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng được quy định tạiĐiều 57 BLTTDS hiện hành, nhưng khi áp dụng Điều 57 BLTTDS hiện hành vàothực tiễn để xét xử các vụ án tại Tòa án thì những người bị thiệt hại là người chưathành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vidân sự thì còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc xảy ra Ví dụ: Trong thực tiễn xét xử

vụ án mà có người bị hạn chế năng lực hành vi, mất năng lực hành vi, người bị cụthai tay hai chân… các đương sự này có người đại diện hợp pháp đứng ra khởi kiệnbảo vệ quyền lợi ích cho họ thì không có gì quan tâm, nhưng trường hợp ngược lạinhững người chưa thành niên, người bị hạn chế, người mất năng lực hành vi dân sự,người bị cụt hai tay hai chân những người này có quyền lợi ích bị xâm phạm không

có người thân thích hoặc không có người đại diện hợp pháp khởi kiện thì những chủthể này bị hạn chế quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án Vì theo Điều 57 BLTTDS hiệnhành những người chưa thành niên, người bị hạn chế, người mất năng lực hành vidân sự khi bị người khác xâm phạm việc bảo vệ quyền lợi cho những người này dongười đại diện hợp pháp của họ thực hiện, nhưng những người này đã bị hạn chếnăng lực hành vi tố tụng lại không có người thân thích, không có người đại diện hợppháp việc bảo vệ quyền lợi cho những người này ai sẽ đứng ra khởi kiện vụ án tạiTòa án, đơn khởi kiện vụ án của họ có được Tòa án chấp nhận hay không, nếu chấpnhận đơn khởi kiện của các chủ thể này thì vi phạm theo quy định của pháp luật,còn không chấp nhận đơn khởi kiện vụ án của các chủ thể này thì quyền lợi ích hợppháp của họ bị người khác xâm phạm không được bảo vệ, đây là hạn chế mà phápluật chưa được quy định bảo vệ cho những người chưa thành niên, người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự… mà không có người đạidiện để khởi kiện vụ án Điều này tạo nên không công bằng đối với các cá nhân vớinhau, công dân thì pháp luật quy định có quyền ngang nhau (trừ một số trường hợppháp luật hạn chế quyền của công dân đó), nhưng pháp luật quy định chưa phù hợpmột chủ thể thì được bảo vệ còn một chủ thể khác thì chưa được bảo vệ Vì vậypháp luật cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp những người chưa thành niên, người bị

Trang 29

mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không có người đạidiện hợp pháp giúp họ khởi kiện, để cho những người này có điều kiện được tự bảo

vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình thì pháp luật cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp

Vì vậy, theo ý kiến người viết đề xuất cần sửa đổi bổ sung quyền khởi kiện vụ án dân sự của người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi, người bị mất

năng lực hành vi mà không có người đại diện hợp pháp hoặc không có người thân

thích giúp họ khởi kiện vụ án thì cần quy định như sau: “Viện kiểm sát có quyền khởi kiện vụ án dân sự trong trường hợp cần bảo vệ lợi ích Nhà nước hoặc lợi ích của cá nhân nếu họ không có khả năng khởi kiện hoặc không có ai giúp họ khởi kiện”.

Thực tiễn cho thấy có những trường hợp chủ thể có quyền lợi ích bị xâmphạm họ cần được bảo vệ, nhưng vì lý do bị hạn chế năng lực hành vi tố tụng dân

sự nên đơn khởi kiện vụ án của họ không đượcTòa án chấp nhận, nhưng pháp luậtnước ta thì chưa điều chỉnh trong trường hợp này, do đó cần có một cơ quan mangquyền lực Nhà nước đứng ra khởi kiện vụ án thay họ để bảo vệ quyền lợi ích chonhững chủ thể này, theo ý kiến đề xuất của người viết thì Viện kiểm sát có quyềnkhởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ cho những người chưa thành niên, người bị hạnchế năng lực, người mất năng lực hành vi dân sự không có ai bảo vệ quyền lợi íchhợp pháp khi bị xâm phạm hiện nay là phù hợp

Viện kiểm sát là cơ quan Nhà nước chuyên trách trong lĩnh vực tố tụng cótính chuyên nghiệp cao thông qua bộ máy và cán bộ chuyên môn trong hệ thống cơquan Kiểm sát từ trung ương đến địa phương, Viện kiểm sát có ưu thế hơn các cơquan, tổ chức khác những người làm việc trong các cơ quan Viện kiểm sát điều hiểu

và nắm rõ những quy định của pháp luật, việc hiểu pháp luật quy định từ đó vậndụng vào để khởi kiện vụ án tại Tòa án cũng dễ dàng Ngoài ra, những người không

có khả năng khởi kiện vụ án tại Tòa án khi Viện kiểm sát khởi kiện vụ án thay chonhững người này thì Viện kiểm sát không có một lợi ích vật chất nào liên quan tới

vụ việc cũng như không bị ràng buộc chỉ vì lợi ích từ phía các đương sự, sự thamgia của Viện kiểm sát trong hoạt động khởi kiện vụ án là xuất phát từ nhu cầu bảo

vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng và đảm bảo công bằng xã hội, việc tham giabảo vệ cho những người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực, mất năng lựchành vi dân sự những người không có khả năng khởi kiện vụ án thì Viện kiểm sáttham gia tố tụng cũng không nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân cho họ mà trước hết bởibản chất vụ việc dân sự này có tính chất công và mang ý nghĩa xã hội Vì vậy Việnkiểm sát giúp họ khởi kiện vụ án là phù hợp nhất

Trang 30

Sự cần thiết quy định Viện kiểm sát khởi kiện bảo vệ cho những ngườikhông có khả năng khởi kiện như người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lựchành vi, người bị mất năng lực hành vi dân sự hiện nay là phù hợp, hiện nay việckhởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án thì đương sự phải đóng tiền tạm ứng án phí thìTòa án mới đưa vụ án ra xét xử, tiền tạm ứng án phí là một vấn đề cần quan tâmkhông phải một cá nhân nào cũng có mà đối với những người không có khả năngkhởi kiện vụ án thì càng khó khăn hơn Vì vậy theo ý kiến người viết đề xuất nênquy định Viện kiểm sát có quyền khởi kiện vụ án dân sự trong trường hợp cần phảibảo vệ lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích của cá nhân nếu họ không có khả năngkhởi kiện hoặc không có ai giúp họ khởi kiện, việc đề xuất Viện kiểm sát có quyềnkhởi kiện vụ án dân sự nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể bị mất năng lực hành vi,hạn chế năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên bảo vệ quyền lợi ích củamình khi bị xâm phạm.

Quyền khởi kiện vụ án dân sự của người đại diện theo ủy quyền: Người đại

diện theo ủy quyền là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chođương sự theo sự ủy quyền của đương sự Người đại diện theo ủy quyền có toàn bộcác quyền và nghĩa vụ của đương sự trong phạm vi ủy quyền Vấn đề quyền khởikiện vụ án dân sự của người đại diện theo ủy quyền hiện nay gặp một số vướng mắc

và cần làm rõ hai vấn đề sau: Thứ nhất, về hình thức nội dung văn bản ủy quyền củangười tham gia tố tụng Thứ hai, về quyền khởi kiện của người đại diện theo ủyquyền có được quyền khởi kiện vụ án dân sự như pháp luật quy định

Thứ nhất, về hình thức, nội dung văn bản ủy quyền tham gia tố tụng Hiện

nay, trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự đặt ra những vấn đề cần bàn liênquan đến hình thức ủy quyền, hình thức của văn bản uỷ quyền tham gia tố tụng dân

sự phải lập hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền hoặc giấy giới thiệu (đối với cơquan, tổ chức)? Văn bản ủy quyền có công chứng, chứng thực hay không TheoĐiều 74 BLTTDS hiện hành người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thựchiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền Chính vìvậy việc xác định nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền trong văn bản ủy quyềnđược thiết lập giữa đương sự và người được ủy quyền có ý nghĩa rất quan trọng khiTòa án xem xét giải quyết vụ án dân sự Nếu trong văn bản ủy quyền tham gia tốtụng không rõ ràng thì Tòa án không chấp nhận văn bản ủy quyền đó và yêu cầuđương sự phải thực hiện lại việc ủy quyền trong đó xác định rõ nội dung, phạm vi

ủy quyền tham gia tố tụng Thực tiễn giải quyết vụ án dân sự có trường hợp về mặthình thức đương sự lập văn bản ủy quyền, nhưng không có nội dung ủy quyền cho

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w