Bị cáo là một trong những người tham gia tố tụng, họ tham gia phiên tòa ở trong tình thế bị động “bị đưa ra xét xử” nhưng nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 tại Điều 5 quy định
Trang 1Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHÓA 2006 - 2010
Đề tài:
QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT
ThS Mạc Giáng Châu Mai Thị Mỹ Trang
MSSV: 5062512 Lớp: Tư pháp 3 - K32
Cần Thơ, 4/2010
Trang 2Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU .1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM 4
1.1 Khái quát chung về bị cáo 4
1.1.1 Khái niệm bị cáo trong luật tố tụng hình sự 4
1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong luật tố tụng hình sự 6
1.1.2.1 Quyền của bị cáo 7
1.1.2.2 Nghĩa vụ của bị cáo 15
1.2 Tư cách của bị cáo trong tố tụng hình sự 16
1.2.1 Sự xuất hiện tư cách bị cáo 16
1.2.2 Chấm dứt tư cách bị cáo 17
1.3 Vị trí pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự 19
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 22
2.1 Quyền của bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 22
2.1.1 Quyền của bị cáo đối với bản thân 22
2.1.2 Quyền của bị cáo đối với vụ án hình sự 25
2.1.2.1 Quyền được biết thông tin về bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quyết định
đưa ra xét xử của Tòa án 25
2.1.2.2 Quyền yêu cầu có người bào chữa, lựa chọn, thay đổi người bào chữa 27
2.2 Quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử 31
2.2.1 Quyền của bị cáo khi bắt đầu phiên tòa 31
2.2.1.1 Tham gia phiên tòa và được giải thích về quyền và nghĩa vụ 31
2.2.1.2 Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch 33
2.2.1.3 Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 35
2.2.2 Quyền của bị cáo khi xét hỏi tại phiên tòa 35
2.2.3 Quyền của bị cáo khi tranh luận 36
2.2.3.1 Quyền được bảo vệ 37
2.2.3.2 Nói lời sau cùng trước khi nghị án 39
2.3 Quyền của bị cáo sau xét xử 40
2.3.1 Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án 40
2.3.2 Tham gia phiên tòa phúc thẩm 42
2.3.3 Các quyền khác của bị cáo 42
Trang 5Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
2.3.3.1 Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng 42
2.3.3.2 Quyền được nhận bản án trong thời hạn luật định 43
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN CỦA BỊ CÁO VÀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT 44
3.1 Về mặt lý luận 44
3.1.1 Xác định tư cách bị cáo trong tố tụng hình sự 45
3.1.1.1 Tồn tại 45
3.1.1.2 Hướng đề xuất 47
3.1.2 Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo 48
3.1.2.1 Tồn tại 48
3.1.2.2 Hướng đề xuất 48
3.1.3 Quyền đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu của bị cáo 49
3.1.3.1 Tồn tại 49
3.1.3.2 Hướng đề xuất 49
3.2 Về mặt pháp lý 50
3.2.1 Người bào chữa thay cho bị cáo 50
3.2.1.1 Tồn tại 50
3.2.1.2 Hướng đề xuất 52
3.2.2 Quyền từ chối người bào chữa của bị cáo 52
3.2.2.1 Tồn tại 52
3.2.2.2 Hướng đề xuất 53
3.2.3 Quyền được đặt câu hỏi với những người tham gia tố tụng khác 53
3.2.3.1 Tồn tại 53
3.2.3.2 Hướng đề xuất 54
3.2.4 Quyền được giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo 54
3.2.4.1 Tồn tại 54
3.2.4.2 Hướng đề xuất 55
3.3 Về mặt thực tiễn thực hiện quyền của bị cáo 55
3.3.1 Sự hạn chế của bị cáo khi tham gia tố tụng 55
3.3.1.1 Tồn tại 55
3.3.1.2 Hướng đề xuất 56
3.3.2 Người tiến hành tố tụng chưa tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền của họ 57
3.3.2.1 Tồn tại 57
3.3.2.2 Hướng đề xuất 59
3.3.3 Thực trạng của người bào chữa được cử 60
Trang 6Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
3.3.3.1 Tồn tại 60 3.3.3.2 Hướng đề xuất 62
KẾT LUẬN 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang từng bước xây dựng cuộc sống hòa bình ổn định, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của bị cáo nói riêng là vấn đề bức thiết luôn được đặt lên hàng đầu Sự ra đời
của “Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền” vào năm 1948 đã minh chứng cho việc bảo vệ quyền của bị cáo (người bị đưa ra xét xử) được quy định tại Điều 10: “Mọi
công dân đều được hưởng quyền bình đẳng, được xem xét công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của
họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” Công ước quốc tế về quyền dân sự
và chính trị ngày 16/12/1966 tiếp tục khẳng định việc bảo vệ quyền của người bị đưa
ra xét xử được quy định tại Điều 14: “Được có mặt khi xét xử và được tự bào chữa
hoặc nhờ sự giúp đỡ về mặt pháp lý do mình lựa chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi, phải bố trí cho một người giúp đỡ về pháp lý mà không phải trả tiền nếu người đó không đủ điều kiện trả”
Ở Việt Nam, việc bảo vệ quyền của bị cáo luôn được quan tâm trong quá trình đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp Trải qua các quá trình phát triển, quyền của bị cáo luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp và được quy định cụ thể trong các nhiều văn bản luật khác nhau và trong đó có văn bản tố tụng hình sự Lĩnh vực tố tụng hình sự là lĩnh vực nhạy cảm, xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, đặc biệt khi tiến hành hoạt động xét xử vụ án hình sự Bởi vì, trong các giai đoạn tố tụng hình sự thì giai đoạn xét xử tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng, là quá trình định tội và quyết định hình phạt đối với người bị tình nghi thực hiện tội phạm hay tuyên bố họ vô tội Tuy nhiên, pháp luật tố tụng quy định về quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự mà tập trung chủ yếu ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, nhiều quy định của luật còn bỏ ngỏ, ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quyền của bị cáo và uy tín của Nhà nước đối với công dân
Do đó, việc nhận thức đầy đủ và hoàn thiện các quy định về quyền của bị cáo
và các hoạt động để bảo vệ quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự và việc thực thi các quy định về quyền của bị cáo trên thực tế, kiên quyết xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành
tố tụng là yêu cầu cần thiết, góp phần giữ gìn uy tín của Nhà nước, tạo lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công bằng và tiến bộ
Trang 8Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự nhưng vấn đề này lại chưa được sự quan tâm đầy đủ của những người làm công tác thực tiễn Vì vậy, việc tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử mà chủ yếu tập trung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, cũng như việc áp dụng những quy định của luật về quyền của bị cáo trong thực tiễn là cấp thiết và mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao Đó cũng là lý do người
viết chọn đề tài: “Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề tồn tại và
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi đề tài người viết tập trung các vấn đề liên quan đến quyền của
bị cáo trong tố tụng hình sự và chủ yếu ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: khái niệm bị cáo, tư cách của bị cáo trong tố tụng hình sự, vị trí pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự và các quyền cơ bản của bị cáo từ giai đoạn chuẩn bị xét xử cho đến khi xét xử và sau khi xét xử đến khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Qua đó tìm hiểu một số tồn tại của việc thực hiện quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử, giải thích những hạn chế và tồn tại của việc thực hiện quyền của bị cáo Đồng thời, từ đó người viết đưa ra một số đề xuất và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hơn nữa việc thực hiện quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với mục tiêu khái quát lại các vấn đề liên quan đến bị cáo và quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự, những khó khăn, tồn tại của việc thực hiện quyền của bị cáo Đồng thời, người viết có một số đề xuất cho những khó khăn và tồn tại trên Qua bài viết này, hy vọng người đọc có thể biết thêm về bị cáo (người bị đưa ra xét xử), về quyền của họ trong tố tụng hình sự, những tồn tại trong việc thực hiện quyền của bị cáo và những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của bị cáo nói riêng
và trong tố tụng hình sự nói chung, nhằm đảm bảo mục đích và hiệu quả của hoạt động xét xử vụ án hình sự
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận và làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu của đề tài, người viết
đã sử dụng một số phương pháp như: sưu tầm tài liệu, đọc và phân tích tài liệu, liệt kê,
so sánh, thống kê, tổng hợp và xử lý tài liệu Bên cạnh đó nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 9Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Chương 2: Những quy định của pháp luật quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự
Chương 3: Một số tồn tại trong việc thực hiện quyền của bị cáo và hướng
đề xuất
Do còn hạn chế về trình độ nghiên cứu cũng như về kinh nghiệm thực tiễn, người viết không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô, bạn bè để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Mạc Giáng Châu
đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trang 10
Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, có nhiều chủ thể tham gia hoạt động xét
xử như: người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, sự tham gia của những chủ này đều nhằm làm rõ tính chất của vụ án Bị cáo là một trong những chủ thể tham gia
tố tụng Tìm hiểu lý luận chung về bị cáo trong giai đoạn xét xử nhằm làm rõ khái niệm, quyền và nghĩa vụ của họ trong tố tụng sự, tư cách của bị cáo và vị trí pháp lý của họ khi tham gia tố tụng
1.1 Khái quát chung về bị cáo
1.1.1 Khái niệm bị cáo trong Luật tố tụng hình sự
Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, thì xét xử tại phiên tòa là giai đoạn quan
trọng Bởi vì, các giai đoạn trước đó từ khởi tố, điều tra, truy tố chỉ là giai đoạn xác định, tìm kiếm thông tin chứng minh sự việc phạm tội xảy ra một cách toàn diện nhưng chưa phải là quá trình định tội và suy cho cùng việc xử lý một người phạm tội được thể hiện tập trung nhất ở hoạt động xét xử của Tòa án Theo khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Đó là những cơ quan tiến hành tố tụng cho tất cả các giai đoạn từ khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ gồm có: Tòa án và Viện kiểm sát Cũng tại phiên tòa, với sự tham gia đầy đủ của bên tiến hành tố tụng đại diện cho quyền lực Nhà nước và người tham gia tố tụng là những người có quyền và lợi ích cần được bảo vệ trước pháp luật Ngoài những chủ thể trên, tại phiên toà còn có những người có nghĩa vụ pháp lý phải tham gia tố tụng để
hỗ trợ pháp lý cho những người tham gia tố tụng khác(1)
Người tiến hành tố tụng là những người đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng, được Nhà giao cho quyền thực hiện nhiệm vụ nhân danh cơ quan quyền lực Nhà nước, được quyền áp dụng các biện pháp hợp pháp do pháp luật quy định nhằm giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Theo khoản 2 Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó chánh án Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án Còn người tham gia tố tụng là những người
có quyền và nghĩa vụ cần được bảo vệ trước pháp luật, không mang quyền lực Nhà nước, họ tham gia tố tụng nhằm xác định sự thật của vụ án, đồng thời nhằm bảo vệ
1 Xem: Mạc Giáng Châu, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường đại học Cần Thơ năm 2006
Trang 11Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
quyền và lợi ích hợp pháp của họ liên quan đến hành vi phạm tội Theo quy định tại Chương IV Bộ luật tố tụng hình sự thì những người tham gia tố tụng gồm có: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa Như vậy,
bị cáo là một trong những chủ thể tham gia tố tụng Bị cáo tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của chính họ
Thuật ngữ “bị cáo” đã được sử dụng trong nhiều Sắc lệnh về tổ chức của các
cơ quan tư pháp do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký từ năm 1945 Tuy nhiên, chỉ đến năm 1974 trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối
cao) mới đưa ra định nghĩa pháp lý về khái niệm bị cáo: “Bị cáo là người bị truy cứu
trách nhiệm hình sự trước Tòa án nhân dân”(2) Trước khi Bộ luật tố tụng hình sự ra đời, khái niệm bị cáo chỉ một người bị truy cứu trước Tòa án tức là người chưa bị Tòa
án quyết định đưa ra xét xử Truy cứu trách nhiệm hình sự là những hoạt động khởi tố của Cơ quan điều tra, truy tố của Viện kiểm sát, xét xử của Tòa án Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cho đến giai đoạn điều tra, truy tố
và xét xử Tư cách bị cáo xuất hiện xuyên suốt từ khi bắt đầu giải quyết vụ án hình sự cho đến khi vụ án được giải quyết xong theo tất cả các thủ tục tố tụng, thời gian bị cáo tham gia tố tụng là thời gian từ khi có căn cứ khởi tố vụ án cho đến khi vụ án được đưa
ra xét xử Đồng thời, bị cáo sẽ chịu sự tình nghi là người đã thực hiện hành vi tội phạm trong suốt thời gian vụ án được giải quyết theo tất cả các thủ tục tố tụng Như vậy, tư cách bị cáo xuất hiện từ khi bắt đầu quá trình tố tụng cho đến khi kết thúc quá trình giải quyết vụ án, không có sự chuyển biến của bất kỳ tư cách chủ thể nào khác sang tư cách bị cáo
Khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ban hành, khái niệm bị cáo được quy
định tại Điều 34: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Kế thừa
quy những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, khái niệm bị cáo được quy
định tại Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Bị cáo là người đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử” Từ khi Bộ luật tố tụng hình sự được ban hành, khái niệm bị
cáo được hiểu trong phạm vi hẹp hơn nhưng tập trung hơn so với trước đó Một người tuy đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay bị truy tố thì chưa thể gọi là bị cáo, những chủ thể này sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị can(3) Khi Tòa án có quyết định đưa vụ
án ra xét xử thì những người bị đưa ra xét xử không còn là bị can nữa mà tư cách tham gia tố tụng của họ lúc này được chuyển thành bị cáo Chỉ những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử mới gọi là bị cáo Bị cáo tham gia tố tụng trong giai đoạn xét
2
Từ Điển Luật học, Nhà xuất bản Tư Pháp năm 2006
3 Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.”
Trang 12Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
xử và khi đó họ mới có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một bị cáo mà luật đã quy định cho họ Do đó, trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, cần phải xác định rõ tư cách bị cáo để tránh nhầm lẫn với những người tham gia tố tụng khác
Khái niệm bị cáo là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng áp dụng với người đó Bị cáo là người bị đưa ra xét xử, là người bị tình nghi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự trong vụ án nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc xác định bị cáo là người có tội vì theo Điều 72 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi,
bổ sung năm 2001) quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi
chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Điều này cũng được
khẳng định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003(4) Mặc dù, bị tình nghi là người đã thực hiện tội phạm dẫn đến hậu quả bị cáo phải bị đưa ra xét xử nhưng khi chưa có bản án kết tội của Tòa án, thậm chí đã có bản án kết tội họ mà bản án đó chưa
có hiệu lực pháp luật thì cũng không thể xem bị cáo là người có tội Vì vậy, khái niệm
bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm
Bị cáo là một trong những người tham gia tố tụng, họ tham gia phiên tòa ở
trong tình thế bị động “bị đưa ra xét xử” nhưng nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự
2003 tại Điều 5 quy định đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật(5) và Điều 19 quy định bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án(6).Vì thế, mặc dù tham gia tố tụng ở tình thế bị động nhưng bị cáo vẫn bình đẳng với những người tham gia tố tụng khác và bình đẳng với người tiến hành tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Tòa án
Như vậy, bị cáo là người tham gia tố tụng, người đã bị Tòa án quyết định đưa xét xử Chỉ những người đã bị đưa ra xét xử mới gọi là bị cáo và khái niệm bị cáo cũng không đồng nghĩa với khái niệm người có tội Và không được xem bị cáo là người có tội khi bản án kết tội của họ chưa có hiệu lực pháp luật Đồng thời khi tham gia tố tụng
bị cáo có quyền và nghĩa vụ được pháp luật tố tụng hình sự quy định
1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong luật tố tụng hình
Bị cáo là một trong những chủ thể tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân họ Để bị cáo có thể bảo vệ được quyền lợi của họ, luật đã quy định cho bị cáo những quyền năng nhất định khi tham gia tố tụng Đồng
4 Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án
kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”
5
Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.”
6 Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án.Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.”
Trang 13Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
thời, để thực hiện được quyền mà luật định cho họ thì bị cáo cũng phải thực hiện nghĩa
vụ theo quy định của luật Quyền của bị cáo luôn đi cùng với nghĩa vụ của họ
1.1.2.1 Quyền của bị cáo
Bị cáo tham gia tố tụng là người bị tình nghi đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bị Viện kiểm sát truy tố và bị Tòa án đưa ra xét xử và họ tham gia tố tụng ở tình thế bị động để bảo vệ quyền và lợi ích của chính họ Do đó, bị cáo cần được bảo vệ và đảm bảo các quyền cơ bản của công dân Quyền được bảo vệ và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân có ý nghĩa thiết thực đối với bị cáo khi bị đưa ra
xét xử
a) Quyền được bảo vệ
Như đã trình bày, những người tham gia tố tụng gồm có: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa Trong số những người nói trên, có người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ,
có người tham gia tố tụng để giúp đỡ người có quyền và lợi ích hợp pháp và có người tham gia tố tụng chỉ nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án.Với những chủ thể tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ như: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những chủ thể bị tình nghi trong vụ án Do đó, quyền được bảo vệ
có ý nghĩa rất quan trọng đối với họ Nếu cơ quan tiến hành tố tụng giúp bị cáo thực hiện quyền được bảo vệ của họ sẽ tránh được tình trạng làm oan người vô tội, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội và thông qua đó góp phần giữ gìn uy tín của Nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân Đối với người bị tạm giữ, mặc dù chưa bị khởi
tố về hình sự nhưng họ đã bị tình nghi(7) và vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan tiến hành tố tụng Và khi có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì những người bị nghi thực hiện tội phạm tham gia tố tụng với tư cách bị can(8) Bị can sẽ tiếp tục chịu
sự tình nghi từ người bị tạm giữ chuyển sang và đồng thời, bị can trở thành đối tượng
bị khởi tố trong vụ án nên tất cả sự tình nghi của người tiến hành tố tụng đều dồn về phía bị can Bị can tham gia tố tụng ở giai đoạn điều tra, truy tố và trong giai đoạn xét
xử tư cách bị can chấm dứt và thay vào đó là bị cáo(9) Khi đã bị Tòa án đưa ra xét xử thì sự tình nghi của người tiến hành tố tụng đối với bị cáo là rất lớn, bị cáo sẽ là đối tượng bị xét xử tại phiên tòa Họ bị hạn chế một số quyền tự do và bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp tố tụng nhất định đối với họ để xác định sự thật của vụ án Do đó, bị cáo cần được bảo vệ bởi cơ quan tiến hành tố tụng, bởi người bào chữa và xã hội
7
Điều 71 bộ luật tố tụng hình sư: “Người bị bắt, bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị
nghi thực hiện tội phạm.”
8
Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự: “ Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự.”
9 Khoản 1 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự: “ Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.”
Trang 14Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
a1) Quyền được bảo vệ bởi cơ quan tiến hành tố tụng
Bị cáo tham gia tố tụng ở tình thế bị động, bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi phạm tội, bị đưa ra xét xử nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc xác định bị cáo là người có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Đây cũng là
nguyên tắc đã được khẳng định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự: “Không ai bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nguyên tắc này được thể hiện: người bị Viện kiểm sát truy tố và Tòa án
quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa bị coi là có tội, họ tham gia tố tụng với tư cách bị cáo; bị cáo vẫn còn đầy đủ các quyền của công dân.Vì vậy, bị cáo cần được cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng không được đối xử với bị cáo như một người có tội
Khi cần thiết, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc khám xét thu giữ, kê biên tài sản của bị cáo nhưng cần phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy
bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không cần thiết nữa Do đó, bị cáo cần được các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm tính hợp pháp khi bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân của họ và những người tiến hành tố tụng là những người có nghĩa vụ trực tiếp tôn trọng và bảo vệ bị cáo Điều này đã được quy định tại Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự:
“Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên,
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa” Để bảo vệ được các quyền cơ bản của bị cáo, đảm bảo cho bị cáo không bị xâm
phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bị cáo cần được đảm bảo quyền bình đẳng
trước pháp luật Điều này đã được khẳng định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự: “Tố
tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội Bất cứ người phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật” Mọi công dân tham gia tố
tụng đều có quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ như nhau do pháp luật tố tụng hình sự quy định không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần
và địa vị xã hội của bị can, bị cáo Bị cáo cần được cơ quan tố tụng bảo vệ và đảm bảo cùng là những bị cáo có vai trò và vị trí pháp lý như nhau khi tham gia tố tụng thì những bị cáo này phải thực hiện quyền và có nghĩa vụ như nhau do pháp luật quy định
Trang 15Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Và bị cáo cần được bình đẳng với những người tham gia tố tụng khác và người tiến hành tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Tòa án (Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự) Quyền bình đẳng trước Tòa án của bị
cáo là bình đẳng trong việc “đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận” chứ
không phải bình đẳng trong mọi lĩnh vực Khi tham gia tranh luận, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên, họ có thể đồng ý hoặc không đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên Nếu không đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên về vấn đề nào đó thì bị cáo
có quyền đưa ra quan điểm, đề nghị của họ, điều này đã được quy định tại Điều 218
Bộ luật tố tụng hình sự: “Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng
khác có quyền trình bày ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình” Việc bị cáo có thể bình đẳng với những người tham gia tố tụng khác và bên
buộc tội (Kiểm sát viên) hay không đòi hỏi Tòa án phải tôn trọng và bảo vệ bị cáo, Hội đồng xét xử phải có thái độ khách quan, đồng thời giúp bị cáo thực hiện quyền bình đẳng của họ trước Tòa án
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, việc xác định thật khách quan của
vụ án không chỉ là mục đích của hoạt động tố tụng mà còn thể hiện toàn bộ nội dung, bản chất của quá trình chứng minh tội phạm, xác định sự thật của vụ án Yêu cầu này
đã được quy định tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” Như đã phân tích, bị cáo bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội,
bị đưa ra xét xử nhưng không vì vậy mà những người tiến hành tố tụng xem bị cáo là người có tội (Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự), những người tiến hành tố tụng không được có thái độ định kiến cho rằng bị cáo là người có tội Vì vậy, bị cáo cần được các
cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ Điều đó thể hiện ở việc trong quá trình xác định sự thật của vụ án, ngoài việc thu thập những chứng cứ buộc tội bị cáo, cơ quan tiến hành
tố tụng còn có trách nhiệm chứng minh sự vô tội hoặc thu thập những chứng cứ gỡ tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
Quyền bào chữa là quyền của bị cáo Bị cáo có thể tự họ thực hiện quyền bào chữa nhằm chống lại lời buộc tội hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Khi bị cáo gặp khó khăn về thể chất hoặc tâm thần hay tâm lý hoang man khi bị truy tố về tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình thì không thể tự thực hiện quyền bào chữa hay không có điều kiện vật chất để mời người bào chữa Do đó, bị cáo cần được giúp đỡ và cần được bảo vệ từ phía cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện quyền bào chữa của họ
Trang 16Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Để đảm bảo quyền được bảo vệ bởi cơ quan tiến hành tố tụng của bị cáo, nâng cao tính chính xác trong việc xét xử và đảm bảo quyền giám sát của nhân dân, khoản 2 Điều 57
Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị
cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật
sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình”
Đồng thời, Điều 129 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:
“Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội
thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” Nguyên tắc cũng được ghi nhận tại Điều 15 của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 Nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia đảm bảo quyền của công dân được tham gia vào công việc của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp của công dân nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo nói riêng Sự tham gia của Hội thẩm vào công tác xét xử của Tòa án nhằm nâng cao tính chính xác trong việc xét xử và giúp việc giải quyết vụ án được khách quan phù hợp với thực tiễn của đời sống - xã hội, tránh làm oan người vô tội góp phần đảm bảo quyền được bảo
vệ của bị cáo bởi cơ quan tiến hành tố tụng Việc tham gia xét xử của Hội thẩm là quy định cần thiết mang tính chất bắt buộc và không mang tính hình thức Luật quy định:
“Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều
16 Bộ luật tố tụng hình sự) Khi xét xử, Hội thẩm có quyền và nghĩa vụ như Thẩm phán trong việc quyết định mọi vấn đề của vụ án như: bị cáo có phạm tội hay không, xác định những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo… Thẩm phán và Hội thẩm giải quyết vụ án trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cung cấp và các tài liệu, yêu cầu của những người tham gia tố tụng, không định kiến sẵn bị cáo có tội, xét xử theo hướng buộc tội bị cáo Hội đồng xét xử phải căn cứ vào các quy định của luật và phải tuân theo pháp luật chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan mà buộc tội bị cáo
Quyền được bảo vệ bởi cơ quan tiến hành tố tụng của bị cáo còn được đảm bảo bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi khi bị oan do người có thẩm quyền gây ra và trách nhiệm của những người có thẩm quyền phải bồi thường thiệt hại
khi gây ra oan cho bị cáo Điều 29 Bộ luật tố tụng quy định: “Người bị oan do người
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan”
Trang 17Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
a2) Quyền được bảo vệ bởi người bào chữa
Khi tham gia tố tụng, bị cáo có quyền bào chữa cho họ nhưng không phải bất
kì bị cáo nào cũng có khả năng để tự bào chữa hoặc bị cáo có khả năng tự bào chữa nhưng do bị cáo đang bị tạm giam nên không thể thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ
vụ án Do đó, bị cáo có quyền được bảo vệ bởi người bào chữa Bị cáo có thể nhờ người khác bào chữa cho họ (luật sư, bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của bị cáo)(10) Người bào chữa được tham gia vào quá trình tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, góp phần làm sáng tỏ các tình tiết gỡ tội hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đồng thời giúp đỡ, tư vấn cho bị cáo về những vấn đề cần thiết Mặc dù, người bào chữa có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp của bị cáo nhưng người bào chữa còn có trách nhiệm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật Đây là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Bảo vệ quyền và lợi ích hợp của bị cáo sẽ tạo tiền đề cho việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật; ngược lại bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự thật sẽ tạo điều kiện cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo được thuận lợi Nếu người bào chữa chỉ coi trọng bảo vệ quyền lợi của bị cáo mà coi nhẹ bảo vệ pháp chế, bảo vệ sự thật, thì dễ đi đến chỗ ngụy biện, thậm chí xuyên tạc sự thật; ngược lại, nếu chỉ coi trọng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thì người bào chữa sẽ trở thành công tố viên thứ hai, điều này không còn phù hợp với quyền được bảo vệ bởi người bào chữa của bị cáo Quyền được bảo vệ bởi người bào chữa của bị cáo đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, toàn diện, đầy đủ, tránh được sự chủ quan, phiến diện từ phía người tiến hành tố tụng(11)
Quyền được bảo vệ bởi người bào chữa của bị cáo được quy định tại Điều 132
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Quyền bào chữa của bị cáo được
bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” Điều này đã được Bộ
luật tố tụng hình sự quy định tại Điều 11: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền
tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” và điểm e khoản 2 Điều 50 Bộ luật
tố tụng hình sự Khi bản án kết tội của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật, bị cáo được coi là người chưa có tội(12) Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan
10
Xem: Khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
11
Xem: TS Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia năm 2004, trang 11
12 Xem: Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 18Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
tiến hành tố tụng, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là họ vô tội(13) Pháp luật dành cho bị cáo quyền được bảo vệ bởi người bào chữa là cần thiết để chứng minh sự vô tội của họ và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề xuất những yêu cầu, xuất trình chứng cứ v.v… khi bị cáo không có khả năng hay không thể thu thập chứng cứ, đưa ra những yêu cầu có lợi cho họ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa
án phải tạo mọi điều kiện cần thiết để người bào chữa được nghiên cứu hồ sơ, được xuất trình những đề xuất, chứng cứ có lợi cho bị cáo, phải xem những người bào chữa
là những người góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chống oan, sai; không được xem người bào chữa là người gây khó khăn cho hoạt động tố tụng
a3) Quyền được bảo vệ bởi xã hội
Bị cáo là người bị tình nghi thực hiện hành vi vi phạm Bộ luật tố tụng hình sự
sẽ bị đưa ra xét xử, bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Vì vậy, bị cáo cần được xã hội quan tâm, bảo vệ trước những hành vi, quyết định vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Để bảo vệ quyền được bảo vệ bởi chính xã hội của bị cáo, Điều 18 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 quy định: “Việc tiến hành xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi
người được tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định
Trong trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai” Quy định xét xử công khai ngoài việc tạo điều
kiện để các tầng lớp nhân dân tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan xét xử, còn
có tác dụng nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, đảm bảo không bỏ loạt tội phạm và không làm oan người vô tội Công khai các hoạt động tố tụng hình sự cũng là một trong các phương tiện hữu hiệu bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của bị cáo nói riêng(14) Thông qua việc xét xử công khai đảm bảo được việc giám sát của công dân và công dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng, điều này đã được quy
định tại Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự: “Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu
nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan đó” Quyền khiếu nại, quyền tố cáo đối với các hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là quyền của công
13
Xem: Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
14
Xem: TS Trần Quang Tiệp, Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà
xuất bản chính trị quốc gia năm 2004, trang 116
Trang 19Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
dân, cơ quan, tổ chức Trong tố tụng hình sự, những người tham gia tố tụng như bị can, bị cáo cần được dư luận bảo vệ như: đứng ra làm chứng bảo vệ bị cáo hay cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu và thông tin cho người tiến hành tố tụng, người bào chữa,
bị cáo… Đồng thời, bị cáo cần được công dân, cơ quan, tổ chức khiếu nại, tố cáo những quyết định, những việc làm trái pháp luật có thể làm oan người vô tội Các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử cần tăng cường sự giám sát những hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng(15) Theo đó, cơ quan Nhà nước khi giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đối với bị cáo thì cơ quan Nhà nước, đại diện dân cử có quyền yêu cầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng
Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và trả lời yêu cầu và
kiến nghị đó theo quy định của pháp luật
b) Quyền được đảm bảo các quyền cơ bản của công dân
Bị cáo là người bị đưa ra xét xử nhưng không vì thế mà xem bị cáo là người có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Do đó, bị cáo có quyền được đảm bảo các quyền cơ bản của công dân như: quyền được bình đẳng khi tham gia
tố tụng, quyền được đảm bảo bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự và nhân phẩm, quyền được đảm bảo bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín
b1) Quyền được bình đẳng
Khi tham gia tố tụng, mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng có một số chứng
cứ nhất định là căn cứ pháp lý cho việc quyết định đưa vụ án ra xét xử và truy tố bị cáo trước Tòa án bằng bản cáo trạng nhưng những chứng cứ đó vẫn chưa phải là những chứng cứ cần và đủ để ra bản án kết tội bị cáo Bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ chứng minh họ vô tội Bị cáo có quyền bình đẳng với người tiến hành tố tụng trong việc đưa
ra tài liệu, chứng cứ Vì vậy, những chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được chưa đủ để Tòa án ra bản án kết tội bị cáo mà cần phải xem xét đến những chứng
cứ do bị cáo hoặc người bào chữa cung cấp Trong trường hợp, bị cáo không đưa ra được chứng cứ chứng minh họ vô tội thì không phải vì thế mà xem bị cáo có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Do đó, bị cáo còn đầy đủ các quyền của một công dân và họ có quyền được bình đẳng trước pháp luật Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng không được đối xử với bị cáo như một người có tội
15 Điều 32 Bộ luật tố tụng hình sự: “… Nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật của các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng thì cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.”
Trang 20Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) theo
đó, mọi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội Đồng thời, quyền được đảm bảo bình đẳng của mọi công dân trước Tòa
án được quy định cụ thể tại Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự Việc tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với tất cả các vụ án đều phải theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định, không có ngoại lệ vì lý
do dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… Tuy nhiên, đối với một số đối tượng đặc biệt như khi bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần…, ngoài những quy định chung Bộ luật tố tụng hình sự còn có những quy định đặc biệt nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của họ
Ngoài ra, Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự quy định, khi tham gia tố tụng những người tham gia tố tụng trong đó có bị cáo được quyền bình đẳng với bên buộc tội Như vậy, bị cáo có quyền bình đẳng với bên buộc tội (Kiểm sát viên) trong việc đưa ra chứng cứ để chứng minh sự thật của vụ án, trong việc đưa ra các yêu cầu đối với Tòa án Trách nhiệm của Tòa án phải tạo điều kiện để Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa… thực hiện quyền bình đẳng của họ trước Tòa án Đặc biệt, trong thủ tục tranh luận trước Tòa án, Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho các bên tham gia tranh tụng đưa ra chứng cứ, yêu cầu giúp Hội đồng xét xử
b2) Quyền được bảo đảm bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự và nhân phẩm
Trong bất kì một Nhà nước pháp quyền nào, các quy định của luật đều có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng là nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân với tư cách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận của nền văn minh nhân loại nhằm tránh khỏi không chỉ sự xâm hại có tính chất tội phạm của công dân khác mà còn tránh khỏi sự tùy tiện của một số quan chức trong bộ máy công quyền lợi dụng chức vụ vi phạm thô bạo pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các quy định của luật Và các quy định của Hiến pháp và luật tố tụng hình sự cũng nhằm mục đích đó
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một trong những quyền
cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001): “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ
về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật
Trang 21Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một quyền cơ bản của công dân và đây cũng là một quyền cơ bản của bị cáo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã ghi nhận quyền được bảo đảm bất khả xâm phạm về thân thể là một nguyên tắc trong tố tụng hình sự(16) Những biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, đến quyền tự do đi lại, tự do cư trú trong nước cũng như danh dự, nhân phẩm của con người nói chung và của bị cáo nói riêng Việc tạm giữ, tạm giam bị cáo phải tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền ra lệnh, đối tượng áp dụng, thời hạn, chế độ tạm giữ, tạm giam Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình như: bức cung, bắt bị cáo nhịn đói buộc họ phải khai nhận… Người có hành vi truy bức, nhục hình tùy theo mức độ sẽ bị xử lý theo pháp luật
b3) Quyền được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn
và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
Trong hoạt động tố tụng hình sự, nhằm phát hiện công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án, người đang bị truy nã, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền khám xét chỗ ở, địa điểm,
đồ vật, thư tín, bưu phẩm Song việc tiến hành các biện pháp này phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tránh việc tùy tiện, xâm phạm đến quyền tự do của con người nói chung và của bị cáo nói riêng
Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín là những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận Điều 73
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền bất
được Bộ luật tố tụng hình sự quy định tại Điều 8 và cũng là nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Bị cáo chưa phải là người có tội nên họ có quyền được bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín như một công dân
1.1.2.2 Nghĩa vụ của bị cáo
Nghĩa vụ của bị cáo được quy định tại khoản 3 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình
sự Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trong trường hợp vắng mặt
16 Xem: Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 22Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã Khi bị cáo
bỏ trốn có thể xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự
Như vậy, tham gia phiên tòa vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của bị cáo, bị cáo có nghĩa vụ phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và khi tham gia phiên tòa bị cáo mới có thể thực hiện đầy đủ quyền của họ
Ngoài ra bị cáo còn có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nhằm giúp cho việc xét xử được khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo
1.2 Tư cách của bị cáo trong tố tụng hình sự
Xác định tư cách bị cáo khi tham gia tố tụng hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đảm bảo quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình giải quyết vụ án Xác định đúng tư cách bị cáo giúp cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của họ vì trên thực tế có nhiều trường hợp người tiến hành tố tụng không xác định đúng tư cách bị cáo dẫn đến vi phạm thủ tục tố tụng Đồng thời xác định đúng tư cách bị cáo sẽ giúp bị cáo thực hiện quyền của họ Vì quyền và nghĩa vụ của bị cáo gắn liền với tư cách tham gia tố tụng của họ Do vậy, để đảm bảo quyền lợi của bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải xác định chính xác tư cách bị cáo trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự
1.2.1 Sự xuất hiện tư cách bị cáo
Khi có đủ căn cứ xác định người nào đó đã thực hiện hành vi tội phạm, Cơ quan điều tra trong phạm vi và quyền hạn của họ sẽ ra quyết định khởi tố bị can(17) Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự(18) và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi
tố bị can Tư cách bị can xuất hiện từ khi có quyết định khởi tố bị can Theo đó, một người bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi tội phạm Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng biện pháp
tố tụng đối với bị can, đồng thời, nó cũng là sự đảm bảo của Nhà nước đối với công dân để không một ai có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế và tiến hành điều tra nếu chưa bị khởi tố bị can Kết thúc giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra khẳng định đã có
đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và người thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can Dựa trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ và bản kết luận điều tra, khi đã có đủ căn cứ để truy tố bị can, Viện kiểm sát ra quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng buộc
17
Xem: Khoản 1 Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
18 Xem: Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 23Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
tội bị can về những hành vi cụ thể vi phạm những quy định trong Bộ luật hình sự(19) Trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Tòa án xem xét để đưa vụ án ra xét xử bằng quyết định đưa vụ án ra xét xử Như vậy, bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố, và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm Tư cách tố tụng của bị can chấm dứt khi
Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử); hoặc khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi xác định đã có đủ căn cứ để đưa bị can ra xét xử, Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử nhằm thay đổi địa vị pháp lý của người bị truy tố (bị can) sang địa vị pháp lý của người bị đưa ra xét xử (bị cáo) Từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, chúng ta không gọi người bị tình nghi đã thực hiện tội phạm là bị can nữa mà thay vào đó là bị cáo Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết đưa ra xét xử(20) Quyết định đưa vụ án ra xét
xử là cở sở pháp lý đánh dấu sự xuất hiện của tư cách bị cáo, đồng thời, nó cũng là sự đảm bảo của Nhà nước đối với công dân vì không ai bị Tòa án đưa ra xét xử với tư cách bị cáo khi không có quyết định đưa vụ án ra xét xử Chỉ những người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử mới gọi là bị cáo, còn những người tuy có hành vi phạm tội,
đã bị Viện kiểm sát truy tố nhưng chưa bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử thì cũng không gọi họ là bị cáo Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét
xử và tư cách bị cáo cũng bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn xét xử
Như vậy, dựa trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự,
ta có thể khẳng định tư cách bị cáo của một người xuất hiện khi người đó đã bị Tòa án quyết định đưa vụ án xét xử và không thể xem một người có tư cách bị cáo khi người
đó chưa bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Đồng thời, khi một người tham gia tố tụng
với tư cách bị cáo thì họ có quyền và nghĩa vụ của bị cáo mà luật đã dành cho họ
ra xét xử là khoảng thời gian từ khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến khi
vụ án được giải quyết xong theo tất cả các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm(21)
Xem: Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm
và tái thẩm), Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, trang 87
Trang 24Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Ý kiến thứ hai cho rằng tư cách bị cáo chấm dứt khi vụ án được giải quyết xong theo tất cả các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm là chưa chính xác Vì ý kiến này chưa giải thích được trường hợp nếu vụ án có nhiều đồng phạm trong đó có bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng Tòa án thấy cần thiết triệu tập họ tham gia phiên tòa phúc thẩm để làm sáng tỏ nội dung kháng cáo, kháng nghị thì tư cách của những người này như thế nào khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật và họ đã trở thành người bị kết án Chẳng lẽ, tư cách bị cáo lại được khôi phục khi Tòa án triệu tập, đồng thời khi những người này tham gia phiên tòa Thẩm phán sẽ giải thích cho họ quyền và nghĩa vụ của một bị cáo là chưa hợp lý cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Không phải vụ án nào cũng trải qua hai cấp xét
xử sơ thẩm và phúc thẩm Và giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là cấp xét xử mà chỉ
là hình thức xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nên những người đã bị kết án không bị Tòa án đưa ra xét xử nên không thể gọi những chủ thể này là bị cáo và bản án kết tội họ đã có hiệu lực pháp luật vì thế họ trở thành người bị kết án Vì vậy, ý kiến này chưa hợp lý khi cho rằng tư cách bị cáo chấm dứt khi vụ án được giải quyết xong theo tất cả các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm Do đó, tư cách bị cáo của một người chấm dứt khi bản án kết tội họ đã có hiệu lực pháp luật, sau khi bản án kết tội có hiệu lực thì họ trở thành người bị kết án là hợp lý Và điều này cũng đã được khẳng định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự Sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì bị cáo trở thành người bị kết án
Ngoài ra, tư cách bị cáo chấm dứt khi Tòa án tuyên bố bị cáo vô tội và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Vì bị cáo là chủ thể bị tình nghi thực hiện hành
vi tội phạm Qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã chứng minh bị cáo không thực hiện hành vi tội phạm thì Tòa án ra quyết định tuyên bố họ vô tội, đồng nghĩa với việc
tư cách bị cáo cũng chấm dứt Như đã phân tích, khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với chủ thể của tội phạm Vì vậy, khi Tòa án tuyên bố bị cáo vô tội thì tư cách tố tụng của bị cáo cũng chấm dứt và họ không còn là những người tham gia tố tụng hay không còn là bị cáo nữa
Như vậy, tư cách bị cáo chấm dứt khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật hay khi Tòa án tuyên bố bị cáo vô tội và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Việc xác định tư cách bị cáo chấm dứt khi nào, hiện nay vẫn chưa có một văn bản hướng dẫn đầy đủ dẫn đến cách hiểu và áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng còn khác nhau ở nhiều nơi Do đó, để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật
và bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo khi tham gia tố tụng cần có sự thống nhất của các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 25Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
1.3 Vị trí pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta bắt gặp nhiều thuật ngữ với nhiều cách hiểu khác nhau Việc tìm hiểu bản chất và ý nghĩa của chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, xây dựng các vấn đề và các chế định có liên quan Việc tìm hiểu
“Vị trí pháp lý của bị cáo trong tố tụng hình sự” cũng nhằm mục đích trên
Theo Từ điển Tiếng Việt(22) “vị trí” có nghĩa là chỗ dành riêng cho một người
hoặc vật hay còn có nghĩa là địa vị, vai trò trong tổ chức Từ đó, ta có thể rút ra định nghĩa vị trí pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật Vị trí pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập quyền cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của họ Thông qua
vị trí pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp luật Như vậy, vị trí pháp lý của bị cáo là tổng thể quyền và nghĩa vụ mà pháp luật tố tụng hình sự quy định cho bị cáo có tư cách chủ thể để tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nói riêng và địa vị, vai trò của họ khi tham gia phiên tòa Khi tham gia tố tụng thì bị cáo được hưởng quyền và thực hiện quyền của họ theo quy định của pháp luật, đồng thời khi tham gia
tố tụng bị cáo có vị trí và vai trò của một người bị đưa ra xét xử trong quá trình giải quyết vụ án Thông qua vị trí pháp lý của bị cáo có thể phân biệt bị cáo với những người tham gia tố tụng khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí của bị cáo trong tố tụng hình sự Khi tham gia tố tụng bị cáo có một vị trí bất lợi hơn những người tham gia tố tụng khác và gánh chịu sự tình nghi rất lớn của cơ quan tiến hành tố tụng Từ khi
là đối tượng bị tình nghi, người bị tạm giữ ở giai đoạn điều tra(23) và đến khi trở thành
bị can thì sự tình nghi càng tăng dần và bị cáo là chủ thể cuối cùng gánh chịu tất cả
mọi sự tình nghi, mặc dù theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự “không ai bị coi
là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”(24)
Khi có quyết định khởi tố bị can, mọi sự tình nghi từ Cơ quan điều tra đều dồn
về phía bị can Bởi vì, không ai lại khởi tố người không có tội và Cơ quan điều tra có
xu hướng tìm chứng cứ chứng minh tội phạm hơn là tìm chứng cứ gỡ tội cho họ Và khi có căn cứ cho rằng bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố hoặc tiếp tục phạm tội thì Cơ quan điều tra hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự áp dụng các biện pháp ngăn chặn như: tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi
22
Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1998, trang 1075
23
Điều 71 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Người bị bắt, bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên quan đến
việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.”
24 Xem: Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 26Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm(25) Như vậy, khi bị can
bị Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì vị trí của bị can càng bất lợi
và họ bị mất một số quyền công dân cơ bản như: quyền tự do đi lại, cư trú… Dư luận
xã hội bắt đầu có cái nhìn không thiện cảm đối với bị can vì “không có tội thì tại sao
lại bị Cơ quan điều tra bắt giam” Khi bị can bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản cáo
trạng với tội danh cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng xem bị can như là người có tội mặc dù họ chỉ mới là người bị tình nghi Dư luận
xã hội gần như xem bị can là người có tội, họ bị mất việc làm và gánh chịu sự lên án của xã hội
Khi có đủ căn cứ để đưa vụ án ra xét xử, tư cách bị can chấm dứt, họ sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị cáo và họ lại tiếp tục gánh chịu vị trí bất lợi từ bị can chuyển sang Đồng thời khi tham gia tố tụng với tư cách bị cáo, họ lại có một vị trí pháp lý mới, vị trí mới này sẽ tiếp tục tạo ra những bất lợi lớn hơn đối với họ Nguy cơ gánh chịu bản án bất lợi là rất lớn từ những chứng cứ buộc tội do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cung cấp cho Tòa án, cùng với bản cáo trạng của Viện kiểm truy tố bị can với tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự Và một vấn đề đáng chú ý nữa là pháp luật tố tụng hiện hành đòi hỏi Thẩm phán và Hội Thẩm có trách nhiệm nghiên cứu kỹ
hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển sang, nắm chắc các chứng cứ, tài liệu trước khi đưa ra xét xử nên dù muốn hay không các thành viên Hội đồng xét xử đều đã hình dung, định sẵn về tội trạng của bị cáo nên quá trình xét hỏi tại phiên tòa thường bị chi phối thiên
về hướng buộc tội, khó bị thuyết phục về độ tin cậy, chân thực của các tài liệu, đồ vật
do phía bị buộc tội đưa ra(26) Khi bị can bị Cơ quan điều tra tạm giam thì đến giai đoạn xét xử họ sẽ tiếp tục bị tạm giam vì không lý gì trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đã bị tạm giam thì đến giai đoạn xét xử họ lại được Tòa án hủy bỏ biện pháp tạm giam Và tạm giam cũng là một nguyên nhân dẫn đến Tòa án ngại tuyên vô tội dù
Xem: ThS Nguyễn Văn Trượng, Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự và việc nâng cao chất lượng
tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp,Tạp chí Tòa án nhân dân số 13
27
Xem: Lại Văn Trình, Luận văn thạc sĩ luật học- Bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân trong xét xử vụ án
hình sự Tp HCM năm 2006, trang 49,50
Trang 27Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
cơ quan tiến hành tố tụng lại có xu hướng tìm chứng cứ chứng minh bị cáo có tội hơn
là gỡ tội
Trong quan hệ tố tụng hình sự, bị cáo có một vị trí bất lợi đã gây không ít khó khăn cho bị cáo trong công việc Bị cáo chưa bị Tòa án kết tội nhưng nhiều người tiếp xúc với bị cáo trong các mối quan hệ xã hội như: lao động, kinh doanh… đã cho rằng
bị cáo là người có tội Bị cáo bị mất việc làm và bị mọi người lên án, xa lánh, ảnh hưởng lớn đến uy tín của bị cáo trong quan hệ kinh doanh buôn bán Đặc biệt, đối với những bị cáo là cán bộ công chức thì bị đình chỉ công tác là điều không thể tránh khỏi Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của bị cáo và gia đình bị cáo
Trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, bị cáo có một vị trí bất lợi nhưng trong quan hệ xã hội bị cáo lại gánh chịu sự lên án, kết tội và kì thị của dư luận Ngay
cả chính những người thân, gia đình bị cáo cũng cho rằng họ có tội Theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền phán quyết bị cáo có tội hay không Hầu hết mọi người đều suy nghĩ, người bị Tòa án đưa ra xét xử chắc chắn
là người có tội, không vô cớ khi cơ quan tố tụng lại bắt giam bị cáo và đưa bị cáo ra xét xử Và hầu hết mọi người đều gọi bị cáo là người phạm tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án nhưng dư luận đã phán quyết bị cáo có tội
Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng với một vị trí pháp lý bất lợi gây không ít những khó khăn cho bị cáo về mặt pháp lý và về mặt xã hội Bị cáo tham gia tố tụng với một vị trí của người bị đưa ra xét xử, người bị kết tội Đồng thời, trong các quan hệ
xã hội bị cáo bị dư luận xem là người có tội, bị lên án, xa lánh ảnh hưởng đến cả công việc và uy tín của họ
Tóm lại, bị cáo là một trong những chủ thể tham gia tố tụng, bị cáo là người đã
bị Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Nhưng khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm Vì vậy, khi tham gia tố tụng bị cáo có đầy đủ các quyền cơ bản của một công dân Tư cách của bị cáo xuất hiện từ khi có quyết định đưa
vụ án ra xét xử và chấm dứt khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật hay khi Tòa án tuyên bố bị cáo vô tội và quyết định tuyên bố vô tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Đồng thời, bị cáo là đối tượng bị đưa ra xét xử, bị tình nghi thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật nên khi tham gia tố tụng bị cáo có một vị trí pháp lý bất lợi hơn những chủ thể tham gia tố tụng khác
Trang 28Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Ở mỗi giai đoạn tố tụng, bị can, bị cáo có quyền và nghĩa vụ khác nhau Bị can tham gia tố tụng từ khi khởi tố vụ án hình sự nên quyền và nghĩa vụ của bị can gắn với giai đoạn điều tra và truy tố Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vì vậy quyền và nghĩa vụ của bị cáo khi tham gia tố tụng gắn từng thủ tục của quá trình xét xử, bao gồm quyền của bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, quyền của
bị cáo trong giai đoạn xét xử và giai đoạn sau xét xử
2.1 Quyền của bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến khi bản án kết tội hoặc quyết định tuyên bố họ vô tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Quyền của bị cáo cũng bắt đầu có cùng với tư cách của bị cáo Chuẩn bị xét xử là thủ tục bắt buộc của quá trình xét xử đảm bảo cho việc xét xử được diễn ra thuận lợi và đạt được mục đích của hoạt động xét xử Do đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo có quyền được biết thông tin liên quan đến họ đối với bản thân và đối với vụ án hình sự
2.1.1 Quyền của bị cáo đối với bản thân
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm là một trong những quyền tự do cá nhân quan trọng của công dân được khẳng định tại Điều 71 Hiến pháp
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Và cũng là một nguyên tắc được quy định tại Điều
6 và Điều 7 của Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo chưa phải là người có tội nên bị cáo có quyền được đối xử như một công dân Bị cáo có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm và tài sản
Khi cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo như: tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo… Các cơ quan tiến hành
tố tụng và người tiến hành tố tụng cần bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm và tài sản của bị cáo Quy định về áp dụng những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự không chỉ đơn thuần là tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt nhiệm vụ theo chức năng của họ mà còn nhằm đảm bảo sự tôn trọng và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung và của bị cáo nói riêng đã được quy định trong Hiến pháp Điều này thể hiện ở chỗ việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp ngăn chặn nào đó trong đấu tranh phòng chống tội phạm không xuất phát từ ý chí chủ quan, bởi sự áp đặt từ phía
Trang 29Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
các cơ quan tiến hành tố tụng mà là từ các quy định của luật và đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn(28)
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất đối với bị cáo, bởi lẽ, người bị tạm giam phải cách ly xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền công dân, xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể cũng như danh dự của bị cáo Chính vì vậy, việc tạm giam chỉ có thể áp dụng đối với bị can,
bị cáo nhưng không phải mọi trường hợp thỏa mãn căn cứ quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đều áp dụng tạm giam(29),
mà chỉ áp dụng biện pháp này trong trường hợp không có căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn khác(30) Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam, được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo có nhân thân, lai lịch rõ ràng nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm sự có mặt của bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng(31) Và bảo lĩnh cũng là một quyền của bị cáo nếu họ có nhân thân tốt, lai lịch rõ ràng thì họ có quyền được bảo lĩnh để không bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn như tạm giam, để đảm bảo cho bị cáo có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án Bị cáo có quyền được nhận bảo lĩnh tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mà Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh Bị cáo được bảo lĩnh không
bị hạn chế các quyền công dân mà được thực hiện tất cả các quyền này miễn sao việc thực hiện các quyền đó không gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử(32) Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng hình sự, cá nhân nhận bảo lĩnh cho
bị cáo phải là người có tư cách, nhân phẩm tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, phải là người thân thích của bị cáo và phải có ít nhất hai người Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị cáo là thành viên của tổ chức của họ
Như vậy, để áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo phải có hai điều kiện:
Về tính chất của hành vi, tội phạm mà bị cáo đã thực hiện phải là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm;
28
Xem: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam , Trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản công an nhân dân
Hà Nội năm 2007, trang 200
29
Khoản 1 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “1 Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo
trong những trường hợp sau đây:
a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.”
Xem: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản công an nhân dân
Hà Nội năm 2007, trang 230
Trang 30Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Có căn cứ để cho rằng bị cáo có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội
Căn cứ cho rằng bị cáo có thể trốn không được quy định trong luật Tuy vậy, thực tiễn đấu tranh chống tội phạm đã đúc kết những căn cứ chủ yếu để xem xét là: Tình trạng cư trú của bị cáo; Tình trạng nghề nghiệp; Tính chất hành vi đã thực hiện; Nhân thân; Sự ràng buộc với gia đình, quê quán, cơ sở làm việc; Mối tương quan
về lợi ích giữa việc bỏ trốn với việc chấp nhận bị xử lý trước pháp luật; Những biểu hiện cụ thể của bị cáo như: liên hệ với người thân ở xa, mua vé đi xa
Căn cứ cho rằng bị cáo cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử
Cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tiêu hủy chứng cứ, làm giả hiện trường, thông đồng với nhau về những lời khai gian dối, mua chuộc, khống chế người làm chứng, người bị hại hoặc các hình
thức khác Cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử là trường hợp “gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử” nhưng ở mức độ cao hơn mang tính đối phó lại việc tiến hành
các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Việc xác định bị cáo cản trở việc điều tra, truy
tố, xét xử phải dựa trên những căn cứ khách quan và phải xuất phát từ yêu cầu của việc điều tra, truy tố, xét xử chứ không phải sự suy đoán chủ quan tùy tiện của người tiến hành tố tụng(33)
Để bảo vệ quyền của bị cáo cần đảm bảo thời hạn tạm giam theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự Đồng thời khi bị tạm giam, địa vị pháp lý của bị cáo là người chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khác về bản chất so với địa
vị pháp lý của người đang chấp hành hình phạt tù là người đã có bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo, người tiến hành tố tụng không được xem bị cáo là người có tội Khi bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cáo có quyền được biết quyết định tạm giam, thời hạn tạm giam Bị cáo có quyền được bảo vệ thân thể, danh dự, nhân phẩm Người tiến hành tố tụng không được lợi dụng biện pháp tạm giam để gây bất lợi cho bị cáo về thân thể, danh dự, nhân phẩm: như bức cung, bỏ đói, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm…hoặc để buộc bị cáo phải nhận tội Khi bị tạm giam bị cáo được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, chữa bệnh của người
bị tạm giam Cơ quan quản lý trại tạm giam phải thực hiện đúng chế độ tạm giam đã được quy định dành cho bị cáo
Ngoài ra, khi bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam hoặc phải đặt tiền hoặc tài sản có giá trị thì bị cáo có quyền được bảo đảm bất khả xâm phạm về tài sản Khi bị cáo bị tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom, bảo quản thì
cơ quan ra quyết định tạm giam phải có nghĩa vụ bảo quản, trông nom tài sản của bị cáo thích đáng như: thuê người trông nom, bảo quản hoặc giao nhà và tài sản cho
33 Xem: ThS Phạm Khắc Vực, Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam , Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2004
Trang 31Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
chính quyền địa phương nơi có nhà hoặc tài sản trông nom, bảo quản… Không ai được
sử dụng, chiếm giữ khi chưa được sự đồng ý của bị cáo Khi bị cáo đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thì sau khi bị cáo đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đã cam đoan,
cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho bị cáo số tiền hoặc tài sản đã dùng
để bảo đảm
Như vậy, khi tham gia tố tụng bị cáo có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản
2.1.2 Quyền của bị cáo đối với vụ án hình sự
Bị cáo là đối tượng bị tình nghi cao nhất trong quá trình giải quyết vụ án và là người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Do đó, quyền được biết thông tin liên quan đến bị cáo về vụ án có ý nghĩa rất thiết thực đối với bị cáo, giúp bị cáo chuẩn bị nội dung bào chữa, lựa chọn người bào chữa sẽ giúp bị cáo chủ động bảo vệ quyền lợi của
họ khi tham gia tố tụng Bị cáo có quyền được biết thông tin về vụ án liên quan đến bị cáo như: bản cáo trạng của Viện kiểm sát và quyết định đưa ra xét xử của Tòa án Đồng thời, bị cáo có quyền yêu cầu có người bào chữa để giúp đỡ bị cáo về mặt pháp
lý và tham gia tranh luận tại phiên tòa, bị cáo có quyền được lựa chọn thay đổi người
bào chữa được “cử” cho họ
2.1.2.1 Quyền được biết thông tin về bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quyết định đưa ra xét xử của Tòa án
Trong thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, có nhiều việc Tòa án phải thực hiện, trong đó có việc nhằm tạo điều kiện để việc xét xử đạt kết quả tốt như: áp dụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn, gửi giấy triệu tập những người cần được xét hỏi đến phiên tòa, tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử… Tất cả các hoạt động này đều phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và thực hiện bằng một quyết định dưới hình thức văn bản Các quyết định này của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phải được gửi cho bị cáo trong thời hạn luật định
Khi thấy đủ căn cứ đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định đưa vụ án ra xét xử là văn bản pháp lý của Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử tại Tòa án, đồng thời nó là văn bản
có tính chất thông báo cho người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, cũng như cơ quan, tổ chức và mọi công dân biết sẽ có một phiên tòa xét xử một vụ án hình
sự vào ngày, tháng, năm, địa điểm xét xử Theo quy định tại điều 178 Bộ luật tố tụng hình sự, thì nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ: họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú, của bị cáo; tội danh và Điều khoản Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát áp dụng đối với hành vi của bị cáo; ngày giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa; xử công khai hay xử kín; họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết nếu có; họ tên người phiên dịch
Trang 32Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
nếu có; họ tên những người cần được xét hỏi được triệu tập đến phiên tòa, vật chứng cần được đưa ra xem xét tại phiên tòa Như vậy, căn cứ vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng biết được những người tham gia phiên tòa, biết được người tiến hành tố tụng và phiên tòa diễn ra
ở đâu vào ngày giờ nào; giúp bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của họ
có thể đề xuất thêm những người làm chứng cần triệu tập để xét hỏi tại phiên tòa hoặc vật chứng cần đưa ra xem xét Đồng thời, giúp bị cáo thực hiện quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, chuẩn bị nội dung bào chữa và đảm bảo cho việc xét xử được khách quan, minh bạch
Theo quy định tại khoản 1 Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định đưa
vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa và gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo, quyết định đưa vụ án ra xét xử
và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo Và theo hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2004/NQ- HĐTH ngày 05/11/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: Trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án
ra xét xử hoặc đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử từ chín ngày trở xuống trước khi mở phiên tòa, thì phải hỏi bị cáo có đồng ý để Tòa án xét xử vụ án hay không Nếu bị cáo đồng ý thì ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung Nếu bị cáo không đồng ý thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Ngay sau khi hoãn phiên tòa, nếu bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng, thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát tiến hành việc giao bản cáo trạng cho bị cáo; nếu bị cáo chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử thì Tòa án tiến hành việc giao quyết định đưa
vụ án ra xét xử cho bị cáo
Bị cáo có quyền được biết thông tin về bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án trước khi phiên tòa xét xử được diễn ra Đồng thời nắm được nội dung của bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo Trên cơ sở nghiên cứu các thông tin về quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng, các vật chứng liên quan đến vụ án sẽ giúp bị cáo chuẩn bị nội dung bào chữa khi tham gia phiên tòa Tòa án, Viện kiểm sát cần phối hợp với nhau để thông tin quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng cho bị cáo Thực tiễn xét xử không ít trường hợp, bản cáo trạng mà bị cáo nhận được với bản cáo trạng Viện kiểm sát đọc tại phiên tòa khác nhau về nội dung, thậm chí khác nhau rất cơ bản Ví dụ, bản cáo trạng tống đạt cho bị cáo về tội cố
Trang 33Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
ý gây thương tích theo Điều 104 Bộ luật hình sự nhưng bản cáo trạng do Kiểm sát viên đọc tại phiên tòa lại truy tố bị cáo về tội giết người theo Điều 93 Bộ luật hình sự Kiểm tra mới biết, sau khi tống đạt cáo trạng cho bị cáo và chuyển hồ sơ cho Tòa án để chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố lại về tội giết người, Viện kiểm sát cũng đồng ý với quan điểm của Tòa án nên
đã thay đổi cáo trạng nhưng không tống đạt bản cáo trạng đã thay đổi cho bị cáo Trong trường hợp này xem như bị cáo chưa được tống đạt bản cáo trạng và nếu bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa(34)
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng hình sự, thì sau khi nhận
hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trừ việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó chánh án quyết định Và theo quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giam, tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Đồng thời cũng theo quy định tại khoản 4 Điều 182 Bộ luật tố tụng hình sự thì: “Quyết
định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn phải được gửi ngay cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, trại tạm giam nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam” Như vậy bị cáo có quyền nhận quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn của Tòa án
2.1.2.2 Quyền yêu cầu có người bào chữa, lựa chọn, thay đổi người bào chữa
Khi tham gia tố tụng, nếu không có khả năng tự bào chữa thì bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa cho họ(35) Khoản 1 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự quy định người bào chữa thay cho bị cáo là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của bị cáo; Bào chữa viên nhân dân
Theo quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự: “Người bào chữa
do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn” Bị
cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền lựa chọn người bào chữa để tham gia tố tụng, thay bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Như vậy, cơ sở pháp
lý để người bào chữa tham gia tố tụng sẽ phụ thuộc vào ý chí của bị cáo, bị cáo có quyền lựa chọn, thay đổi người bào chữa theo ý chí của bị cáo Để hướng dẫn thực hiện quyền lựa chọn, thay đổi người bào chữa của bị can, bị cáo, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 hướng dẫn thi hành một số vấn đề về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Theo khoản 1 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn, với bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần
34
Xem: Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm
và tái thẩm), Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, trang 172, 173
35 Xem: Điểm đ khoản 2 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 34Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
hoặc thể chất thì bị cáo và người đại diện hợp pháp hoặc người thân thích của bị cáo đều có quyền lựa chọn người bào chữa Đối với những bị cáo là người đủ 18 tuổi trở lên, không có nhược điểm tâm thần hoặc thể chất thì chỉ có bị cáo mới có quyền lựa chọn người bào chữa Do đó, trong những trường hợp, người đại diện lựa hoặc người thân thích chọn người bào chữa cho bị cáo thì cần phải có sự đồng ý (hoặc ủy quyền) của bị cáo thì Tòa án sẽ xem xét cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa Nếu việc lựa chọn người bào chữa chưa có sự đồng ý (hoặc không có sự ủy quyền) của bị cáo thì Tòa án yêu cầu đại diện hợp hoặc người thân của bị cáo thực việc lựa chọn người bào chữa phải hỏi ý kiến của bị cáo Tòa án cũng có thể thông báo cho bị cáo đang bị tạm giam biết việc người đại diện hợp pháp hoặc người thân thích của bị cáo đã lựa chọn người bào cho bị cáo và hỏi bị cáo có đồng ý hay không Nếu bị cáo đồng ý thì Tòa án xem xét cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa
Tuy nhiên, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không có quyền tự do lựa chọn người bào chữa mà phải tuân theo các quy định của luật Trong một số trường hợp đặc biệt sự tham gia của người bào không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo Đó là
những chủ thể được quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự: “Trong
những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất” Như vậy, sự tham gia của người bào chữa lúc này có những điểm khác
biệt so với các trường hợp thông thường như:
Cơ sở pháp lý để người bào chữa tham gia vào vụ án là sự chủ động thực hiện nghĩa vụ bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua hình thức yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền cử người bào chữa cho bị cáo
Quyết định quản lý của cơ quan có thẩm quyền (Đoàn Luật sư hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc) là cơ sở pháp lý tiếp theo để người bào chữa tham gia vào vụ
án, không phải là sự thỏa thuận giữa bị cáo với người bào chữa
Bị cáo chưa thành niên có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đã được cử cho họ nhưng quyền này không có tính tuyệt đối Vì nếu chỉ có bị cáo vị thanh niên từ chối người bào chữa còn người đại diện hợp pháp không từ chối thì Tòa án vẫn xét xử với sự tham gia của người bào chữa đã được cử Đây là một quy định đúng đắn và tiến bộ xuất phát trước
Trang 35Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
hết vì lợi ích của chính bị cáo Như đã phân tích, quyền bào chữa là quyền của bị cáo,
do vậy trong các trường hợp thông thường thì ý chí của họ có tính quyết định tuyệt đối với sự tham gia của người bào chữa trong quá trình tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyết định đó của các chủ thể Nhưng trong các trường hợp quy định ở khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì quyết định của các chủ thể này không còn tính tuyệt đối mà phụ thuộc vào sự xem xét chấp nhận hay không chấp nhận của Tòa án Lý do hạn chế quyền của bị cáo xuất phát từ những trường hợp: các chủ thể là những người có khó khăn so với các trường hợp bình thường khác trong việc thực hiện quyền bào chữa của họ nên cần có sự can thiệp từ phía cơ quan tiến hành tố tụng Bị cáo gặp khó khăn về tâm lý khi phải đối mặt với khung hình phạt cao nhất là
tử hình, khó khăn về thể chất, về tâm thần và cả khó khăn về vật chất trong việc mời người bào chữa hoặc tự bào chữa
Chi phí cho người bào chữa do Nhà nước chi trả
Bộ luật tố tụng hình sự quy định những trường hợp bắt buộc phải cử người bào chữa là quy định đầy tính nhân đạo, quy định về sự tham gia của người bào chữa không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo như là sự nhân đôi đảm bảo quyền bào chữa của
bị cáo(36)
Theo Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ban hành ngày 2/10/2004 hướng dẫn thi hành một số hướng dẫn về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Việc lựa chọn, thay đổi người bào chữa của những bị cáo được quy định tại điểm a và điểm
b khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự được quy định:
Các cơ quan tố tụng yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên Điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố hình sự quy định, khi bị cáo là người chưa thành niên, trong trường hợp bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình Vì vậy, trường hợp khi phạm tội, người phạm tội là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57
Trường hợp bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không mời người bào chữa và theo yêu cầu của Tòa án, Văn phòng luật sư đã cử người bào chữa cho bị cáo hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận đã cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho thành viên của tổ chức của họ thì Tòa án phải thong
36
Xem: TS Nguyễn Thái Phúc, Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa
học pháp lý số 4/2007
Trang 36Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
báo cho bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo biết Việc thông báo có thể bằng văn bản riêng, có thể được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử
Trước khi mở phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn bản trong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa Trường hợp
họ trực tiếp đến Tòa án yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải lập biên bản ghi rõ lý do của yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa và người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản
Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải ghi vào biên bản phiên tòa Về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa được giải quyết như sau:
Trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa, thì Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án Căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự, hướng dẫn tại Mục 1 để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận Nếu không chấp nhận thì thông báo cho người yêu cầu biết và nói rõ căn cứ của việc không chấp nhận Nếu chấp nhận thì phải hoãn phiên tòa và Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người khác bào chữa cho bị cáo hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân khác bào chữa cho thành viên của tổ chức của họ Quyết định của Hội đồng xét xử về chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa không phải lập thành văn bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa Trường hợp yêu cầu từ chối người bào chữa (kể cả trường hợp đã có yêu cầu từ chối người bào chữa trước khi
mở phiên tòa), thì Hội đồng xét xử cần phải giải thích cho họ biết người bào chữa sẽ giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị cáo Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối người bào chữa thì cần phải ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của người bào chữa đã được cử Nếu chỉ
có bị cáo từ chối người bào chữa, còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không từ chối người bào chữa hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của bị cáo từ chối người bào chữa, còn bị cáo không từ chối người bào chữa, thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung, có sự tham gia của người bào chữa đã cử
Như vậy, khi tham gia tố tụng bị cáo có quyền yêu cầu có người bào chữa, mặc dù các giai đoạn tố tụng trước đó họ không có người bào chữa thì đến giai đoạn xét xử họ có quyền yêu cầu có người bào chữa Đồng thời, bị cáo hoặc người đại diện của họ có quyền yêu cầu lựa chọn, yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
Trang 37Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự - Một số tồn tại và hướng đề xuất
Quyền yêu cầu thay đổi người bào chữa có thể được hiện trước hoặc khi phiên tòa đang diễn ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quyền từ lựa chọn, thay đổi, từ chối người bào chữa của bị bị cáo không có tính tuyệt đối mà phải tuân theo quy định của pháp luật
2.2 Quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử
Xét xử là giai đoạn quan trọng của quá trình giải quyết vụ án Tại phiên tòa, các vật chứng, tình tiết của vụ án sẽ được đưa ra xem xét một cách công khai, minh bạch Đồng thời trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết bị cáo có tội hoặc vô tội Do đó, quyền của bị cáo tập trung nhất ở trong giai đoạn xét xử và gắn với từng thủ tục từ khi bắt đầu phiên tòa, đến thủ tụ xét hỏi và tranh luận
2.2.1 Quyền của bị cáo khi bắt đầu phiên tòa
Thủ tục bắt đầu phiên tòa là phần mở đầu của thực tiễn xét xử Trong giai đoạn này, Hội đồng xét xử có nghĩa vụ phải đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, giải thích cho những chủ thể tham gia tố tụng biết quyền và nghĩa vụ của họ, giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt… Nghĩa
vụ của Hội đồng xét xử, của những người tiến hành tố tụng trong quá trình xét xử cũng chính là quyền của người tham gia tố tụng nói chung và của bị cáo nói riêng Bị cáo là người bị đưa ra xét xử, do đó, bị cáo có quyền được tham gia phiên tòa để bảo vệ bản thân họ, có quyền được Hội đồng xét xử giải thích quyền và nghĩa vụ khi tham gia phiên tòa, có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ cho rằng những chủ thể không vô tư khi làm nhiệm vụ và bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
2.2.1.1 Tham gia phiên tòa và được giải thích về quyền và nghĩa vụ
a) Tham gia phiên tòa
Trong vụ án hình sự, phiên tòa xét xử là “nút gỡ” quan trọng, tại đây Hội đồng
xét xử phán quyết bị cáo có tội hay không có tội Do đó việc có mặt tại phiên tòa của
bị cáo là rất quan trọng Trong tất cả các quyền của bị cáo, thì tham gia phiên tòa vừa
là quyền vừa là nghĩa vụ của bị cáo vì bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn có quyền bào chữa cho họ Do vậy, Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 quy định: “Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa
1 Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải theo thủ tục quy định tại Điều 130 của Bộ luật này; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa
Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì Hội đồng xét
xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh
Nếu bị cáo trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo