1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA vợ CHỒNG TRONG PHÂN CHIA tài sản THEO PHÁP LUẬT hôn NHÂN GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

77 307 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 411,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình sau đây viết tắt là HN&GĐ, nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng, đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập

Trang 1

HÔN NHÂN GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

Lớp: Luật Tư Pháp 2-K32

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

š¯›

Kính gửi quý Thầy Cô Khoa Luật – Trường Đại Học Cần Thơ

Quý Thầy Cô Khoa Luật kính mến! Mới ngày nào em cùng các bạn bước vào giảng đường Đại Học Cần Thơ với biết bao hoài bảo ấp ủ và những mơ ước trong tương lai Thế mà giờ đây, em đang chuẩn bị hoàn thành thử thách cuối cùng – Luận văn tốt nghiệp để hoàn thành khóa học Chính lúc này đây

em mới thấu hiểu được những kiến thức vô giá mà quý thầy cô đã tận tâm truyền đạt cho chúng em trong gần bốn năm qua trên giảng đường và ngoài cuộc sống Nó chẳng những là vốn kiến thức giúp chúng em hoàn thành tốt khóa học và đề tài luận văn này, mà còn là hành trang quý báo để chúng em vững bước đi tiếp vào đời trong tương lai.

Có lẽ em sẽ chẳng thể nào diễn đạt hết được những công lao to lớn của quý Thầy Cô qua lời cảm ơn này Nhưng để tỏ lòng biết ơn chân thành của mình, người viết gửi những dòng chữ này đến quý Thầy Cô Khoa Luật - những người trong suốt thời gian qua đã dạy dỗ, chỉ bảo để chúng em có được những kiến thức cơ bản về khoa học pháp lý như ngày hôm nay.

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn – cô Nguyễn Thị Mỹ Linh, người đã nhiệt tình chỉ bảo và tận tâm hướng dẫn để em

có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn này.

Cuối lời em kính chúc quý Thầy Cô thật dồi dào sức khỏe và luôn hoàn thành tốt công tác của mình.

Cần Thơ, ngày 14 tháng 4 năm 2010

Người viết ! Nguyễn Thanh Tòng

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình

BLDS: Bộ luật dân sự

Trang 6

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 10

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN 10

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG 10

1.1.1 Khái niệm về giới và bình đẳng giới 10

1.1.1.1 khái niệm về giới 10

1.1.1.2 Khái niệm về giới tính 11

1.1.1.3 Khái nệm vể bình đẳng giới 12

1.1.2 Khái niệm về thời kỳ hôn nhân 13

1.1.3 Khái niệm tài sản, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, chia tài sản của vợ chồng 14

1.1.3.1 Khái niệm tài sản 14

1.1.3.2 Khái niệm quyển sở hữu tài sản của vợ chồng 15

1.1.3.3 Khái niệm chia tài sản vợ chồng 17

1.2 Ý NGHĨA QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÂN CHIA TÀI SẢN 18

1.2.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý 18

1.2.2 Ý nghĩa về xã hội 18

1.3 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG VIỆC PHÂN CHIA TÀI SẢN 19

1.3.1 Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ phong kiến 19

1.3.2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ pháp thuộc 20

1.3.3 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ từ Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay 21

1.3.3.1 Giai đoạn 1945 – 1954 21

1.3.3.2 Giai đoạn 1954 – 1975 22

1.3.3.3 Giai đoạn 1975 – 2000 24

1.3.3.4 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay 25

CHƯƠNG 2 27

QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ VÀ CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 27

2.1 NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG 27

2.1.1 Nguyên tắc hiến định 27

2.1.1.1 Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật 27

2.1.1.2 Nam nữ bình đẳng trong mọi lĩnh vực xã hội 28

2.1.1.3 Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật 29

2.1.2 Nguyên tắc chung của Bộ Luật Dân Sư 29

Trang 7

2.1.2.1 Nguyên tắc bình đẳng 29

2.1.2.2 Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng 29

2.1.3 Nguyên tắc bình đẳng theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2000 30

2.2 QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN33 2.2.1 Quyền bình đẳng của vợ và chồng khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân 33

2.2.1.1 Căn cứ chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân 33

2.2.1.2 Đặc điểm của phân chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 35

2.2.1.3 Thể thức phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 37

2.2.1.4 Nội dung của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 39

2.2.1.5 Thời điểm có hiệu lực của phân chia tài sản chung 41

2.2.1.6 Hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 42

2.2.1.7 Khôi phục chế độ tài sản vợ chồng 48

2.2.2 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong phân chia tài sản khi ly hôn 49

2.2.2.1 Chuẩn bị phân chia 50

2.2.2.2 Nguyên tắc phân chia 50

2.2.2.3 Phương thức phân chia 51

2.2.2.4 Phân chia đối với một số loại tài sản đặc biệt 53

2.2.3 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong trường hợp chia tài sản khi một trong hai bên vợ chồng chết 57

2.2.3.1 Phương thức chia tài sản 57

2.2.3.2 Điều kiện tạm hoãn phân chia di sản thừa kế 61

CHƯƠNG 3 64

THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 64

3.1 THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN 64

3.1.1 Nhận xét chung 64

3.1.2 Một số vụ việc cụ thể về bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản 64

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN 69

3.2.1 Đối với việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 69

3.2.2 Đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng chết 71

3.2.3 Đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 71

3.2.4 Về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 72

KẾT LUẬN 74

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trang 8

Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam là một trong những quốc gia luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và coi đó chính là mục tiêu mang tính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nói chung và quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình nói riêng Đặc biệt

là sự bình đẳng giữa vợ và chồng Chính vì vậy, trong các văn kiện của Đảng và trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng luôn được quan tâm sâu sắc Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (sau đây viết tắt là HN&GĐ), nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng, đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập khá cụ thể và chi tiết trong các quy định của pháp luật và ngày càng có xu hướng hoàn thiện hơn Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và của toàn xã hội đến vấn đề này đồng thời góp phần vào mục tiêu chung là bình đẳng giới của toàn thế giới Song các quy định đó vẫn còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện trong từng trường hợp cụ thể khi chia tài sản của vợ chồng dẫn đến việc chia tài sản còn nhiều sai sót và chưa đảm bảo quyền bình đẳng cho các bên

Hơn thế nữa, trong điều kiện kinh tế đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay, khi khối lượng tài sản của công dân tăng lên, nhu cầu riêng cũng nhiều hơn, ý thức, tâm lý tài sản riêng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, nghề nghiệp, sinh hoạt cá nhân được chủ động hình thành và phù hợp với tâm lý dân tộc, mong muốn tạo lập cho mình một khoản tài sản độc lập không bị phụ thuộc bất cứ ai kể cả giữa vợ và chồng cùng với tình trạng ly hôn ngày một gia tăng thì việc chia tài sản giữa vợ chồng là một yêu cầu hợp lý Và vấn đề phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng là một nhiệm vụ cần thực hiện

Trước tình hình thực tế về chia tài sản giữa vợ chồng trong những năm qua mặc dù đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi cho cả đôi bên thì còn có không ít những trường hợp xảy ra mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ chồng sau khi chia tài sản Một điều dễ thấy trong các vụ án về chia tài sản giữa vợ chồng, người vợ thường là người phải chịu thiệt thòi hơn Đó là do phong tục tập quán và tư tưởng lạc hậu luôn bảo vệ quyền lợi của người chồng vốn dĩ đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi tầng lớp trong

xã hội Người phụ nữ còn có thái độ tự ti an phận không muốn tự đòi quyền lợi cho mình Bên cạnh đó là công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưa sâu rộng dẫn đến sự hiểu biết về pháp luật còn quá ít Chính vì thế vẫn tồn tại sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản

Trang 9

Tuân thủ và thực hiện nguyên tắc quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng là yêu cầu bắt buộc với tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân trong xã hội Làm được điều đó sẽ góp phần xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu đồng thời củng cố và xây dựng chế độ HN&GĐ Xã Hội chủ nghĩa đặc biệt là bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ, giải phóng họ khỏi thân phận lệ thuộc và bất bình đẳng trong gia đình cũng như trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nghiên cứu về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là việc làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa Xuất phát từ lý do đó người viết đã chọn

đề tài “Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật

Hôn nhân gia đình hiện hành” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã

có nhiều bài viết về tài sản vợ chồng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân… đề cập đến những khía cạnh khác nhau của

tài sản vợ chồng: Ví như “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật Hôn nhân và

gia đình 2000” (Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí Luật học số 4/2000 Tr 3); “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” (Nguyễn Phương

Lan, Tạp chí Luật học số 6/2002)… Ngoài ra cũng đã có những luận văn tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về vấn đề tài sản vợ chồng như luận văn tốt nghiệp cao học luật và gần đây nhất là công trình khoa

học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” được

ông Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005 Đây thực sự là những công trình có giá trị về khoa học và thực tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu tập trung đi vào phân tích những khía cạnh chế độ tài sản của vợ chồng theo luật HN&GĐ hiện hành chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ

bình đẳng giới Chính vì vậy vấn đề “Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc

chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành” mặc dù đã được

nghiên cứu và trình bày trong giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam của Trường Đại Học Cần Thơ,Đại Học Luật Hà Nội và trong các giáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta, nhưng việc trình bày đó chỉ dừng lại

ở một số vấn đề mang tính nguyên tắc mà không đi sâu vào giải quyết toàn diện vấn đề liên quan, đặc biệt là dưới khía cạnh bình đẳng giới

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong các trường hợp chia tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ Việt

Trang 10

Nam và đưa ra những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo cho quyền bình đẳng đó được triệt để tuân thủ trong thực tế.

Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề chia tài sản của vợ chồng dưới góc độ bình đẳng giới theo pháp luật Việt Nam

Đề tài không bao gồm việc nghiên cứu những vấn đề chia tài sản của vợ chồng

có yếu tố nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn nhất quán dựa trên

cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh…

5 Cơ cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn còn

có phần nội dung được cơ cấu thành 3 chương:

Chương I: Khái quát chung về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản.

Chương II: Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành.

Chương III: Thực tiễn bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG

TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN1.1 KHÁI NIỆM CHUNG

1.1.1 Khái niệm về giới và bình đẳng giới

1.1.1.1 khái niệm về giới

Theo khoản 1, 2, điều 5 của Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa

XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29-10-2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 thì:

1 Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ

Trang 11

2 Giới là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất

cả các mối quan hệ xã hội

Theo đó ta có thể hiểu nó là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan

hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được

Giới là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội nên có những đặc điểm sau:

- Một phần còn bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính (Ví dụ chúng ta thường nói: Cháu là gái nên rất ngoan, ăn nói nhẹ nhàng)

- Không mang tính di truyền, bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm (tức là

bị quy định bởi điều kiện sống của cá nhân và xã hội, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị )

- Mang tính đa dạng, phong phú cả về nội dung, hình thức và tính chất (Chúng ta thấy các đặc điểm giới bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân, nhóm.)

1.1.1.2 Khái niệm về giới tính

Giới tính là để chỉ khái niệm về kiểu hình của một cá thể nào đó (cái này thường dựa vào đặc điểm sinh học của cá thể đó mà không dựa vào đặc điểm xã hội) Người ta chia ra hai giới tính:

a Nam

Bên ngoài có kiểu hình nam

Bên trong có kiểu gen XY

b Nữ

Bên ngoài có kiểu hình nữ

Bên trong có kiểu gen XX

Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được

Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ nên khái niệm này có những đặc điểm:

w Bị quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền từ mẹ sang con cái

w Mang tính bẩm sinh (sinh ra đã là nam hay nữ)

Trang 12

wCác đặc điểm giới tính hầu như không phụ thuộc vào không gian, thời gian (từ xưa cho tới nay, ở bất kỳ nơi nào trên trái đất, về mặt đặc điểm sinh học thì phụ nữ vẫn là phụ nữ và nam giới vẫn là nam giới).

wCác đặc điểm sinh học có những biểu hiện thể chất có thể quan sát được trong cấu tạo, giải phẫu sinh lý người (nam và nữ có những đặc điểm sinh học khác nhau về gen, cơ quan nội tiết, hoóc môn, cơ quan sinh dục )

wGắn liền với một số chức năng sinh học (ví dụ phụ nữ có khả năng mang thai và sinh con)

wSinh thành, biến đổi tuân theo quy luật sinh học, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân (tuổi dậy thì, lão hóa )

1.1.1.3 Khái nệm vể bình đẳng giới

Quan điểm “nam nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ đã được xác định

từ Cương lĩnh năm 1930, là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của Cách mạng Việt nam, tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết của Đảng trong các nhiệm

kỳ, được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp và nhiều văn bản Luật

“Bình đẳng giới” là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại, về thực chất không

ra khỏi nội dung của vấn đề bình đẳng nam nữ, là mục tiêu và thước đo trình độ phát triển của xã hội

Theo quy định tại khoản 3 điều 5 của Luật Bình đẳng giới 2006 thì:

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó

Ta có thể hiểu nó như sau: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới

Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng:

+ Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình

+ Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội

và thành quả phát triển

+ Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng, tạo điều kiện cho cả nam và

nữ cùng phát triển, cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân Hình thành nhận thức xã hội đúng đắn về khái niệm bình

Trang 13

đẳng giới sẽ là một trong những điều kiện để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống.

Khái niệm "bình đẳng giới" phải được hiểu như thế nào? Theo Luật Bình đẳng giới, thì mọi người, dù là nam giới hay phụ nữ, với tư cách là các cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sẳn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung như:

- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ hội )

- Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn lực

- Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

- Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển

Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ.Và vì thế, bình đẳng giới đòi hỏi các chương trình phát triển, các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội phải được thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên khác nhau của phụ nữ và nam giới Nếu làm được việc này thì sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả và mở ra cơ hội như nhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy các tiềm năng của cá nhân họ

Bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng, tạo điều kiện cho cả nam và

nữ cùng phát triển, cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân Hình thành nhận thức xã hội đúng đắn về khái niệm bình đẳng giới

1.1.2 Khái niệm về thời kỳ hôn nhân

Theo Khoản 1 điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000 thì “Thời kỳ hôn nhân là

khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng kí kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”.(1)

Thời kì hôn nhân bắt đầu từ khi vợ chồng kết hôn và kết thúc khi hôn nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn, do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là

đã chết Trong trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là

1 Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2002 Tr.13.

Trang 14

đã chết thì hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Việc xác định thời kỳ hôn nhân trong trường hợp đặc biệt: Nam nữ chung sống như vợ chồng thì theo Nghị Quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Luật HN&GĐ và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và

Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 35/2000 đã quy định như sau:

Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 sau đó họ mới đăng

kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày

họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng mà không phải từ ngày đăng kí kết hôn

Nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 1/1/2003 mà không đăng

kí kết hôn thì họ không được công nhận là vợ chồng và không được xác lập thời

kỳ hôn nhân

Nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 1/1/2003 họ mới đăng kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày

họ đăng kí kết hôn Vì thời kỳ hôn nhân được bắt đầu kể từ ngày đăng kí kết hôn

Nam nữ chung sống như vợ chồng bắt đầu từ ngày 1/1/2001 trở đi mà không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng và thời kỳ hôn nhân không được xác lập

Như vậy việc xác định thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ kiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, đặc biệt là trong việc chia tài sản Là một trong những cơ sở đảm bảo quyền bình đẳng và quyền lợi chính đáng cho cả hai bên

1.1.3 Khái niệm tài sản, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, chia tài sản của

vợ chồng

1.1.3.1 Khái niệm tài sản

Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tài sản

là công cụ của đời sống con người phân loại tài sản có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý

Theo quy định tại điều 163, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 giải nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”

Trang 15

Theo từ điển luật học: “tài sản là tất cả những gì có thể chiếm hữu đuợc”,

ở đây có sự phân biệt giữa tài sản là động sản và tài sản là bất động sản, giữa tài sản hữu hình và tài sản vô hình

Bên cạnh đó tài sản còn là một trong những lĩnh vực quan trọng đuợc quy định tại phần thứ 2 các chuơng X, XI của Bộ Luật Dân Sự hiện hành, tài sản đuợc phân loại như sau;

§ Bất động sản: là tài sản không thể di dời đuợc (đất đai, nhà ở)

§ Động sản: là những tài sản không phải là bất động sản

§ Hoa lợi: là những sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại

§ Lợi tức: là những khoảng lợi thu đuợc từ khai thác tài sản

§ Vật chính: là vật độc lập có thể khai thác đuợc theo tính năng

§ Vật phụ: là vật trực tiếp phục vụ cho công dụng của vật chính và là mộ

bộ phận của vật chính

Ngoài ra vật còn đuợc chia làm: vật chia đuợc, vật không chia được, vật cùng loại, vật đặt định, vật đồng bộ……

1.1.3.2 Khái niệm quyển sở hữu tài sản của vợ chồng

Dưới góc độ pháp lý, tài sản của vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, căn cứ thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của

vợ chồng

Dưới góc độ pháp luật HN&GĐ thì quyền sở hữu tài sản của vợ chồng được hiểu là quyền sở hữu đối với tài sản chung và quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng

Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng: Tài sản chung của vợ

chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tài sản được tặng cho chung, được thừa kế chung hoặc tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất

mà vợ chồng có sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng (Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000)

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc sở hữu tài sản chung đó Như vậy, bình thường

Trang 16

chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào là của chồng mà chỉ khi cần phải chia tài sản chung vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung ấy Trong gia đình, vợ

chồng là “đồng sở hữu chủ” đối với tài sản chung nên “vợ chồng đều có quyền

và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”

(Điều 28 Luật HN&GĐ 2000), nhằm đảm bảo nhu cầu đời sống chung của gia đình

Sự “ngang nhau” trong việc sử dụng tài sản chung nhưng không có nghĩa

là tài sản chung đó phải do cả hai vợ chồng cùng chiếm giữ, quản lý Tài sản chung của vợ chồng có thể do một bên chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theo những điều kiện mà pháp luật cho phép

Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc sử dụng tài sản chung Đó là sự khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung nhưng phải vì lợi ích của vợ chồng và các thành viên trong gia đình Vợ chồng phải có nghĩa vụ sử dụng tài sản chung đúng mục đích luật định Nếu có sự gian dối trong việc sử dụng tài sản chung làm ảnh hưởng đến lợi ích của vợ, chồng và gia đình đều bị coi là trái pháp luật

Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản chung Mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh, hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình thì về nguyên tắc phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng Đó chính là sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung

Quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng: Tài sản riêng của vợ,

chồng bao gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân, đồ dùng tư trang cá nhân… (Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000) Vợ, chồng

có toàn quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của mình phù hợp với quy định của pháp luật Vợ, chồng có quyền tặng, cho, mua bán, trao đổi tài sản riêng của mình với bất cứ chủ thể nào một cách độc lập và bình đẳng

“Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”(2)

Quyền “tự định đoạt” của vợ, chồng đối với tài sản riêng của mình chính

là sự bình đẳng mà pháp luật đã thừa nhận và bảo đảm thực hiện Nó cho phép người có tài sản riêng nhập hay không nhập tài sản đó vào khối tài sản chung mà

2 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 Khoản 2 Điều 32 Nxb Chính tri quốc gia Hà Nội 2002 Tr 23.

Trang 17

không bên nào có quyền ép buộc bên nào Mặc dù “Tài sản riêng của vợ, chồng

cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ đáp ứng” (Khoản 4 Điều 33 luật HN&GĐ 2000) thực chất

đã hạn chế quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng, nhưng quy định đó không làm ảnh hưởng đến quyền bình đẳng của vợ chồng trong sở hữu tài sản riêng vì

nó nhằm đảm bảo nhu cầu đời sồng chung của gia đình

1.1.3.3 Khái niệm chia tài sản vợ chồng

Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết)

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản

lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…)

Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục qui định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30), các qui định này được hướng dẫn

từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (gọi chung là Nghị định

số 70)

Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý

do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi Đây chính là điểm khác biệt

cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và theo Điều 8 Nghị định số 70 ngày 3/10/2001 của Chính phủ, phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác

Trang 18

1.2 Ý NGHĨA QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG PHÂN CHIA TÀI SẢN

1.2.1 Ý nghĩa về mặt pháp lý

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ vợ chồng như: giải quyết tranh chấp tài sản, giải quyết ly hôn… Một trong những nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân là độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, nên khi giải quyết các

án kiện về HN&GĐ thì Tòa án phải xét xử trên cơ sở các quy định của Luật HN&GĐ

Ví dụ: Luật HN&GĐ năm 2000 dựa trên nguyên tắc vợ chồng bình đẳng đã

quy định ra nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Hơn nữa đây còn là

cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyết tranh chấp về HN&GĐ được khách quan, thống nhất, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các bên

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản trong gia đình Họ được hưởng những quyền ngang nhau, thực hiện nghĩa vụ như nhau về tài sản Đó là các quyền mà

họ được Nhà nước trao cho và bảo đảm thực hiện

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi của người phụ nữ nhằm đảm bảo tính khả thi các quyền của phụ nữ được thực hiện trên thực tế đời sống, làm ổn định quan hệ HN&GĐ Đó chính là cơ sở để đảm bảo một gia đình dân chủ, hòa thuận và hạnh phúc

Quy định về quyền bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa theo xu hướng bình đẳng thực sự từ trong gia đình đến cả

xã hội, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trên toàn thế giới

1.2.2 Ý nghĩa về xã hội

Từ thực tế cuộc sống cho thấy, do bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng lạc hậu, phong kiến nên vẫn tồn tại trong xã hội sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng Sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệ thuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của mình Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản được khẳng định và thể hiện là một nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của người vợ, đẩy lùi tư tưởng lạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bình đẳng ở nước ta

Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề tài sản của vợ chồng Đó là, khi họ muốn kinh doanh riêng cần phải sử dụng một phần tài

Trang 19

sản chung mà không muốn ly hôn hay vì một lý do nào khác thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản giữa vợ chồng là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn.

Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản là một trong những cơ

sở góp phần triển khai các chương trình bình đẳng về giới, tránh bạo lực trong gia đình như: Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam đã phát động phong trào “Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, “Vì sự tiến bộ của phụ nữ” Tất cả những ý nghĩa xã hội đó đều hướng tới sự bình đẳng giữa vợ chồng, sự bình đẳng trong xã hội – cái mà xã hội ta đang vươn tới

1.3 SƠ LƯỢC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG VIỆC PHÂN CHIA TÀI SẢN

1.3.1 Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ phong kiến

Trong cổ luật Việt Nam – ngay từ thời Lý – Trần (Thế kỉ XI – Thế kỉ XIV) đã có quy định liên quan đến HN&GĐ nhưng sử liệu ghi chép không toàn diện nên rất khó cho việc tìm hiểu và nghiên cứu Vì vậy, Bộ Quốc Triều Hình Luật (thường gọi là Bộ Luật Hồng Đức) ban hành dưới thời Lê (thế kỉ XV) và Hoàng Việt Luật Lệ (thường gọi là Bộ Luật Gia Long) ban hành dưới thời Nguyễn (năm 1815) ra đời được coi là hai bộ luật tiêu biểu nhất cho chế độ HN&GĐ phong kiến Việt Nam

Chế độ tài sản được thể hiện trong hai bộ luật này là chế độ tài sản cộng đồng toàn sản Bao gồm:

- Tài sản người chồng có trước khi kết hôn gọi là phu điền sản

- Tài sản người vợ mang từ nhà mẹ đẻ về nhà chồng khi kết hôn gọi là thê điền sản

- Tài sản vợ chồng cùng nhau tạo ra trong thời gian chung sống gọi là tần tảo điền sản

Như vậy tài sản chung của vợ chồng trong thời kì này gọi là tần tảo điền sản Trong một số quy định của Bộ Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật

Lệ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung khi một bên chết hoặc khi vợ chồng ly hôn: Trường hợp vợ chồng ly dị nếu có con chung thì tài sản sẽ để lại nuôi con, người vợ không có con thì có thể được mang tài sản về nhưng nếu là thời gian sống dài mà không sinh con Nhưng nếu phạm vào thất suất sẽ không được mang thê điền sản về nhà mình

Trang 20

Đó là sự bất bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng Yếu tố lỗi của người vợ là yếu tố quyết định phần tài sản mà người vợ được mang về khi ly hôn, thể hiện sự coi trọng quyền lợi của người chồng mà coi nhẹ vị trí của người

vợ Người vợ luôn phải chịu thiệt thòi khi chia tài sản chung với chồng

Trong pháp luật phong kiến, sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là không tránh khỏi bởi ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, người

chồng được coi là chủ gia đình (gia trưởng) còn người vợ thì phải “tứ đức” và tuân theo thuyết“tam tòng” Vì vậy, vai trò của người phụ nữ rất mờ nhạt, họ

hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng nên người chồng có toàn quyền trong việc quản lý, sử dụng tài sản trong gia đình, kể cả khi tài sản đó là cộng đồng tài sản

Tuy nhiên, bên cạnh sự bất bình đẳng ấy thì chúng ta còn tìm thấy một số quy định tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ trong việc chia tài sản giữa vợ chồng Về nguyên tắc, chỉ vợ chồng được xác định

là những chủ thể trong việc chia tài sản chung Việc phân định thê điền sản, phu điên sản và cho phép người vợ khi ly hôn có thể lấy lại thê điên sản được coi là một bước tiến bộ đặc biệt của pháp luật thời kỳ này, quyền sở hữu tài sản của người vợ đã được thừa nhận

Điều 375 Bộ Quốc Triều Hình Luật quy định: “Tài sản của vợ chồng làm

ra thì chia làm hai, vợ chồng mỗi người được một phần nếu một trong hai người chết mà chưa có con”, và khi ly hôn thì người vợ giữ lại tài sản của mình, kể cả

những gì trước đây đã được chồng tặng… Đó là một quan điểm tiến bộ ghi nhận

sự bình đẳng tương đối trong hai bộ luật mang sắc thái Việt Nam thuần túy Đó cũng là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hướng nho và phong tục tập quán dân tộc bản địa Sự tiến bộ ấy là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nên quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được quy định trong pháp luật hiện hành

1.3.2 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ pháp thuộc

Trước Cách Mạng tháng 8 năm 1945 Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến Với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến thì nền kinh tế, xã hội của đất nước luôn ở trình độ lạc hậu đi liền với những hủ tục đã ăn sâu từ nhiều thế kỷ trước Thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến đã lợi dụng chế độ HN&GĐ phong kiến đang tồn tại ở nước ta để củng cố nền thống trị của chúng

Sau khi đề ra chính sách “chia để trị” thực dân Pháp đã tiến hành chia

nước ta làm ba miền với ba sự cai quản riêng: Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ bảo hộ

Trang 21

của Pháp, Nam kỳ là thuộc địa của Pháp, bên cạnh đó thực dân Pháp đã cho ban hành ba bộ dân luật ở ba miền:

- Ở Bắc kỳ theo Bộ Dân Luật 1931

- Ở Trung kỳ theo Bộ Dân Luật 1936

- Ở Nam kỳ theo Tập Giản Yếu 1883

Mặc dù mỗi bộ luật được ban hành để áp dụng riêng cho từng miền nhưng nội dung của ba bộ luật trên đều toát lên những điểm chung của chế độ HN&GĐ Việt Nam thời bấy giờ Một trong những điểm chung đó là sự bảo vệ quyền lợi

của người chồng “thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ với chồng với

quan niệm “thuyền theo lái, gái theo chồng”, “phu xướng phụ tùy”(3)

Tại Điều 112 Dân Luật Bắc Kỳ quy định:

“Khi nào vì sự ly hôn mà thành ra tiêu việc giá thú, nếu người vợ bị ly hôn đã có con thì được một phần trong tài sản chung, phần ấy sẽ tùy theo kỷ phần của người vợ đã góp vào hoặc đã tăng thêm cho của chung Nếu người vợ

vì sự gian thông mà bị ly hôn thì cái phần ấy sẽ bị bớt đi một nửa”.

Đây là trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng quy định đó không đảm bảo được quyền lợi của người vợ Vì khi ly hôn nếu người vợ đã có con thì được một phần trong tài sản chung và phần ấy được nhiều hay ít tùy thuộc vào công sức đóng góp trước đó của người vợ là bao nhiêu vào khối tài sản chung của vợ chồng mà không phải là sự chia đôi, ngang bằng Mặt khác, yếu tố

lỗi của người vợ là một yếu tố quan trọng để quyết định “kỷ phần” mà người vợ được mang theo hay không khi ly hôn, đó là trường hợp nếu người vợ “gian

thông” Mặc nhiên quy định này hoàn toàn không đề cập đến lỗi của người

chồng và điều đó cũng chính là sự bất bình đẳng mà pháp luật thừa nhận giữa vợ với chồng khi chia tài sản Song do điều kiện kinh tế, xã hội còn quá nghèo nàn, dưới ách thống trị của chế độ thực dân nửa phong kiến và ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo luôn bảo vệ quyền lợi của người người chồng và giai cấp thống trị thì sự bất bình đẳng với người vợ là điều khó tránh khỏi

1.3.3 Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật thời kỳ từ Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay

Trang 22

luật cơ bản tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong xã hội, trong đó có các quan hệ

về HN&GĐ

Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông

về mọi phương diện” nhưng vào thời điểm đất nước đang gặp khó khăn trong

tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” với ba thứ giặc tràn lan thì chúng ta chưa xây

dựng ngay được một văn bản Luật HN&GĐ để thể chế hóa quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 1946

Đến năm 1950, Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh quan hệ HN&GĐ, đó là Sắc lệnh 97- SL ngày 22/2/1950 về sửa đổi một số quy

lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159- SL ngày 17/11/1950 quy định

về vấn đề ly hôn Một trong những nội dung của hai sắc lệnh này là phản ánh

nguyên tắc “nam nữ bình đẳng” và nguyên tắc “ người chồng và người vợ có địa

vị bình đẳng trong gia đình”.

Rõ ràng đây là những quy định mới và tiến bộ trong pháp luật về HN&GĐ

đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ khỏi chế độ đó, thúc đẩy sự phát triển của

xã hội Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Tuy nhiên

cả hai sắc lệnh này vẫn chưa thể hiện đầy đủ và chặt chẽ về chế độ tài sản cũng như vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng nên quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản cũng chưa được thể hiện một cách rõ nét

1.3.3.2 Giai đoạn 1954 – 1975

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã thắng lợi (năm 1954) nhưng đất nước ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt Miền bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội Miền nam tiếp tục cuộc Cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất nước nhà Chính sự khác biệt đó làm cho hệ thống pháp luật điều chỉnh hai miền cũng khác nhau

Ở miền Bắc, chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống nhân dân nên cần phải xóa bỏ triệt để những tàn tích đó, xây dựng chế độ HN&GĐ xã hội chủ nghĩa Cùng với việc ban hành Hiến pháp năm

1959 vào 31/12/1959 Quốc hội khóa I đã chính thức thông qua dự luật HN&GĐ ngày 29/12/1959 Một trong những nguyên tắc cơ bản được đề ra đó là nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình

Trang 23

Vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 1959 đã có sự quy định cụ thể hơn so với các văn bản pháp luật về HN&GĐ trước đó Ví dụ

“Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp công sức vào của mỗi

bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người

vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất” (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 1959)

Nhưng luật không quy định chi tiết về cách chia tài sản giữa vợ chồng như thế nào và sự bình đẳng ở đây còn mờ nhạt, không rõ ràng Tuy nhiên đó vẫn là công

cụ pháp lý của Nhà nước ta phục vụ lợi ích của nhân dân lao động, là cơ sở mới

để từng bước xây dựng quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong hệ thống pháp luật HN&GĐ nước ta Việc căn cứ vào công sức đóng góp mà luật HN&GĐ năm

1959 đề cập đến cũng chưa thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản khi ly hôn Và không hề đề cập đến nguyên tắc chia đôi tài sản của vợ chồng khi ly hôn Luật HN&GĐ năm 1959 quy định tài sản chung của vợ chồng

là tài sản có trước và sau khi cưới nên khi ly hôn phải chia theo công sức đóng góp để đảm bảo quyền và lợi ích của mỗi bên vợ chồng, phần nào tránh được việc kết hôn vì mục đích kinh tế Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy việc quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm 1959 là chưa hoàn toàn phù hợp, chưa thể hiện được triệt để nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, đặc biệt là bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng

Ở miền Nam, sau năm 1954 Đế Quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới Các văn bản pháp luật HN&GĐ do Nhà nước tay sai phản động của ngụy quyền Sài Gòn ban hành như:

- Luật Gia đình ngày 2/1/1959 (Luật số 1-59) dưới chế độ Ngô Đình Diệm

- Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 về Giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng

- Bộ dân luật 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu

Cả ba văn bản pháp luật này tuy đã hủy bỏ chế độ đa thê song vẫn duy trì quyền gia trưởng của người chồng Những quy định về chế độ tài sản cũng chỉ nghiêng về bảo vệ quyền lợi cho người chồng Người vợ có toàn quyền quản lý tài sản khi người chồng không thể bày tỏ ý chí được vì thất tung hoặc đi xa vắng Tuy về mặt quản lý tài sản thì người vợ không được bình đẳng như người chồng nhưng khi ly hôn hoặc ly thân thì người vợ sẽ được nhận lại phần tài sản riêng của họ (Điều 204, Dân Luật Sài Gòn) Và ngay cả trong khi hôn nhân đang tồn tại thì cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chế độ biệt sản,

Trang 24

nhưng đều phải có lý do theo luật định và phải được Tòa án công nhận bằng một

án biệt sản (Điều 165 - Dân Luật Sài Gòn)

Như vậy, vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập đến trong những văn bản pháp luật này nhưng cũng còn rất khái quát, mờ nhạt, chưa thể hiện được quyền bình đẳng giữa vợ chồng thậm chí vẫn là sự bất bình đẳng vốn

đã tồn tại lâu đời ở nước ta

1.3.3.3 Giai đoạn 1975 – 2000

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi (30/4/1975), cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Với tình hình mới đó thì việc áp dụng Luật HN&GĐ năm 1959 có một số điều không phù hợp nữa Vì vậy ngày 29/12/1986 Dự Luật HN&GĐ mới đã được Quốc hội Khóa VII kỳ họp thứ 12 thông qua Luật HN&GĐ năm 1986 được xây dựng và thực hiện trên các nguyên tắc tiến bộ Và một trong những sự tiến bộ đó là nguyên tắc vợ chồng bình đẳng

mà nhất là bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng

Theo luật này, việc chia tài sản giữa vợ chồng được quy định tại các điều

17, 18, 42 mà nội dung là sự ghi nhận việc thanh toán tài sản chung của vợ chồng trong các trường hợp luật định, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản

đó Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại là quy định mới của Luật HN&GD năm 1986 so với Luật HN&GĐ năm 1959 Điều 18 Luật

HN&GĐ năm 1986 đã quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu

và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng …”

Như vậy phải có yêu cầu của một bên vợ, chồng và có lý do chính đáng thì Tòa án mới giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại Khi nhận được đơn của vợ, chồng, Tòa án phải xem xét xem lý do

chia tài sản chung của vợ chồng đã là “lý do chính đáng” chưa Nếu là lý do

chính đáng thì Tòa án phải xác minh xem thực tế có đúng như vậy không hoặc đó chỉ là hình thức để vợ chồng trốn tránh nghĩa vụ về tài sản …

Nghị quyết 01/NQ- HĐTP 20/1/1988 hướng dẫn:

“Lý do chính đáng: vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng, do đó một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chia như khi xử về ly hôn”.

Việc quy định về chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại là rất “cô

đọng” Hướng dẫn của Nghị quyết 01 chưa đầy đủ, mới chỉ đưa ra một lý do

chính đáng Điều ấy không tránh khỏi sự vân dụng tùy tiện của các cơ quan Tòa

án gây sai sót và không đảm bảo quyền lợi cho các bên

Trang 25

Tuy nhiên so với Luật HN&GĐ năm 1959 thì Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định chi tiết và rõ ràng hơn về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc

chia tài sản Thể hiện ở quy định sự “chia đôi” tài sản của vợ chồng khi ly hôn

và việc chia tài sản, sử dụng, quản lý tài sản khi một bên vợ chồng chết Điều đó

đã khẳng định đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giải phóng người phụ

nữ, là cơ sở pháp lý để Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục kế thừa, phát triển và đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được thực hiện trong thực tế đời sống hiện nay

1.3.3.4 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Sau hơn 10 năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1986, bước đầu quyền bình đẳng giữa vợ chồng đã được khẳng định và thực thi Tuy nhiên thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ năm 1986 cho thấy những quy định còn mang tính khái quát, định khung, chưa cụ thể Việc áp dụng luật để giải quyết các tranh chấp từ các quan hệ HN&GĐ đặc biệt là vấn đề chia tài sản vợ chồng gặp nhiều vướng mắc Tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta phải sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 1986 một cách toàn diện Theo đó, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 chính thức thông qua dự luật HN&GĐ năm 2000 vào ngày 9/6/2000

Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật

HN&GĐ, nguyên tắc “vợ chồng bình đẳng” tiếp tục được khẳng định là nguyên

tắc cơ bản của Luật Theo Luật này, việc chia tài sản của vợ chồng được quy định ở các Điều 29, 30, 31, 32, 95 Ngoài sự ghi nhận việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì Luật còn quy định cả việc chia tài sản vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại cũng như khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố

là đã chết Hơn thế cách chia mà Luật HN&GĐ năm 1986 áp dụng còn quá chung chung, chưa cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản cũng như phương thức chia tài sản khi một bên vợ, chồng chết và khi vợ chồng ly hôn Bởi vậy, quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo Luật HN&GĐ năm 2000 quy định là phù hợp với thực tế, đáp ứng được nhu cầu, tâm lý của mỗi cá nhân trong

xã hội Đã góp phần xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến Việt Nam, xóa bỏ quyền gia trưởng, bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ cũng như bảo vệ quyền bình đẳng cho cả hai vợ chồng khi chia tài sản trong thời đại kinh tế hội nhập như ngày nay

Tóm lại, theo từng giai đoạn lịch sử, để phù hợp với sự nghiệp Cách mạng của đất nước, phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế và thực tiễn các quan hệ HN&GĐ, Nhà nước ta đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về HN&GĐ, đặc biệt là các quy định bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong

Trang 26

việc chia tài sản Đó là công cụ pháp lý của Nhà nước ta nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân lao động trong xã hội nói chung và bảo vệ quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng nói riêng Góp phần xây dựng đất nước vững mạnh, phát triển phồn vinh và những gia đình ấm no, bình đẳng

và hạnh phúc

Trang 27

CHƯƠNG 2 QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ VÀ CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI

SẢN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 2.1 NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG 2.1.1 Nguyên tắc hiến định

2.1.1.1 Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

Tính chất của các quyền công dân dược ghi nhận trong Hiến pháp:

- Tính đầy đủ: Mọi công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam đều có các quyền, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

- Tính rộng rãi và công bằng: Mọi công dân không phân biệt về trình độ

chính trị, kinh tế, văn hóa, giới tính đều được hưởng các quyền cơ bản mà Hiến pháp quy định Việc thực hiện các quyền này dựa trên nguyên tắc "mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" (Điều 52)4

Tuân thủ nguyên tắc này trong thực hiện quyền của mỗi công dân là bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh

Bình đẳng trước pháp luật ở đây chúng ta có thể hiểu là, mọi công dân trong hoạt động thực hiện pháp luật có quyền đòi hỏi được đối xử giống nhau như những công dân khác trong những hoàn cảnh, điều kiên như nhau

Bất cứ công dân nào, không phân biệt họ là ai, thành phần xã hội thế nào, nắm giữ chức vụ gì trong bộ máy nhà nước, theo tín ngưỡng, tôn giáo nào… đều có quyền nghĩa vụ như nhau Luật pháp Nhà nước ta không quy định thừa nhận bất cứ một sự đặc quyền, đặc lợi của bất kỳ đối tượng nào, tần lớp nào

Bình đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là mọi công dân phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật Bất kỳ một công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật, bất luận người đó là ai Trước pháp luật mọi công dân đều có tư cách giống nhau: công dân nhà nước Pháp luật không thừa nhận việc chia công dân thành những loại khác nhau và được hưởng sự đối xử khác nhau, sự bình đẳng trước pháp luật không phải là mọi công dân đều được đối xử như nhau một cách mái móc Trong hoạt động áp dụng pháp luật các đặc điểm chủ quan, khách quan của mỗi người đều được chú ý, cân nhắc một cách kỷ càng đầy đủ Sự áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, đầy đủ đỏi hỏi phải chú ý một cách thích đáng đầy đủ sự khác biệt của mỗi cá nhân về tuổi tác, sứ khỏe, hoàn cảnh xã hội,

4 Điều 52 hiến pháp 1992

Trang 28

điều kiện làm việc, kinh nghiệm làm việc, trình độ học vấn, trách nhiệm được giao, hoàn cảnh gia đình v.v Bình đẳng trước pháp luật không hoàn toàn không phải là sự áp dụng áp dụng pháp luật một cách giống nhau hình thức đối với mọi công dân mà không chú ý đến các điều kiện xã hội và cá nhân cụ thể Bình đẳng trươc pháp luật bao hàm cả nội dung quyền bình đẳng dân tộc được quy định tại điều 5 hiến pháp 1992.

Quyền bình đẳng trước pháp luật còn bao hàm cả quyền bình đẳng nam

nữ, quyền bình đẳng nam nữ đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của hiến pháp từ khi bắt đầu lịch sử lập hiến của nước ta và là nội dung xuyên suốt trong quá trình lập hiến

Một trong những nguyên tắc tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự tiến bộ của một xã hội đó là mức độ giải phóng phụ nữ

Ở nước ta từ ngày chính quyền nhà nước cách mạng được thành lập, sự bất bình đẳng nam nữ đã dần dần bị thủ tiêu và nghiêm cấm Hiến pháp 1946,

1959, 1980, 1992 đều ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ là một trong những nguyên tắc cơ bản hiến pháp 1992 quy định “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.” (điều 63) Mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ điều bị nghiêm cấm Nhà nước tạo mọi điều kiện để cho phụ nữ có thể thực hiện quyền bình đẳng của mình

2.1.1.2 Nam nữ bình đẳng trong mọi lĩnh vực xã hội

Điều 63 Hiến Pháp 1992 quy định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ

Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà

hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.”

Trang 29

2.1.1.3 Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật

Xuất phát từ Điều 57 Hiến Pháp năm 1992 công nhận: “Công dân có

quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Cụ thể hóa quyền này, Bộ

Luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp và một số văn bản pháp luật khác đã quy định cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh có các quyền như:

“thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, hình thức đầu tư, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Nền kinh tế thị trường mở ra nhiều

cơ hội làm giàu cho nhiều người, nhưng với sự vận động và những quy luật riêng thì kinh tế thị trường đòi hỏi những người tham gia phải nắm bắt các cơ hội, nhạy bén với thị trường và phải chủ động về vốn, có như vậy mới tồn tại được Do vậy, việc quy định của pháp luật HN&GĐ về quyền bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng để vợ chồng chủ động hơn trong việc tham gia hoạt động đầu

tư, kinh doanh là hoàn toàn phù hợp với những quy định của Hiến pháp, làm cho

các quyền của công dân được thùc thi trong cuộc sống

2.1.2 Nguyên tắc chung của Bộ Luật Dân Sư

2.1.2.1 Nguyên tắc bình đẳng

Tại Điều 5 Bộ Luật Dân Sự năm 2005 đã ghi nhận trong quan hệ dân sự các chủ thể đều bình đẳng, không được lấy bất cứ lý do nào về sự khác biệt để đối xử không bình đẳng Các chủ thể bình đẳng về năng lực pháp luật, về hình thức sở hữu khi giao kết hợp đồng dân sự, đều được hưởng các quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ như nhau Điều 8 Bộ luật này cũng quy định, trong quan hệ vợ chồng, vợ, chồng là những chủ thể độc lập khi tham gia bất kỳ một giao dịch hợp pháp mà bên kia không có quyền ngăn cản, các bên luôn phải tôn trọng quyền bình đẳng đó Có như vậy, thì gia đình mới hạnh phúc và xã hội mới phát triển được Mặt khác, các chủ thể phải luôn tôn trọng lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 10 Bộ Luật Dân Sự năm 2005) Có nghĩa rằng, quyền bình đẳng luôn nằm trong khuôn khổ pháp luật Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản luôn được tôn trọng phát huy, luôn hướng tới sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, và trong một chừng mực có thể, bảo vệ lợi ích chung của gia đình và xã hội

2.1.2.2 Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng

Điều 40 Bộ Luật Dân Sự năm 2005 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với

nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan

hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” Quy định đó đã thể hiện sự bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng

Trang 30

trong gia đình, cũng như phải có sự bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng Có như vậy thì mới xây dựng được một gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Đồng thời hạn chế được các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống vợ chồng và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên.

2.1.3 Nguyên tắc bình đẳng theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2000

Ngyên tắc của Luật HN&GĐ 2000 thể hiện quan điễm pháp luật của đảng và nhà nước ta đối với nhiệm vụ chức năng của các thành viên trong gia đình, nguyên tắc này bao gồm

+ Hôn nhân tiến bộ, tự nguyện

sự có nghĩa là hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính giữa nam và nữ

Nguyên tắc hôn nhân bình đẳng giữa vợ và chồng là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật HN&GĐ 2000 trên cơ sở bình đẳng nam nữ mà Hiến Pháp 1992 đả quy định

Chế định phong kiến thừa nhận chế độ bất bình đằng, đặt người phụ nữ vào địa vị thấp kém, phụ thuộc Hồ chủ tịch đã nói “ luật lấy vợ lấy chồng tức tiến hành giải phóng phụ nữ giải phóng một nữa xã hội, giải phóng người đàn bà đồng thời tiêu diệt tư tưởng phong kiến tư tưởng tư sản trong người đàn ông”, “

sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nếu không giải phóng phụ nữ thì chỉ xây dụng chủ nghĩa xã hội mới một nửa”5, sự bất bình đẳng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nhân loại chính là bất bình đẳng nam nữ, nếu trong thời kỳ công xã nguyên thũy công việc nội trợ của người phụ nữ được xem như công việc xã hội và như vậy người đàn bà được xem là bình đẳng với người đàn ông thì thời kỳ tiếp theo hoàn toàn khác hẳn, với

sự xuất hiện của của cải dư thừa do đó xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện gia đình cá thể mà trong đó người đàn ông giữ vai trò là người chủ gia đình người đàn bà trở thành nô lệ thành tài sản của người đàn ông, công việc tề gia nội trợ trở thành công việc trong gia đình không còn là công việc xã hội nữa nó chỉ hạn chế trong từng gia đình phục vụ cho người chồng cho người chủ gia đình phục

vụ cho việc duy trì chế độ tư hữu nguồn gốc của sự bất công bất công bất bình

5 Giáo trình Luật Hôn Nhân Gia Đình Đại Học Luật Hà Nội

Trang 31

đẳng trong xã hội và trong gia đình Ănghen đã chỉ ra rằng “ với gia đình gia trưởng và hơn nữa đối với gia đình cá thể một vợ một chồng thì… công việc tề gia nội trợ mất tính chất xã hội của nó đi, nó không còn liên quan gì đến xã hội nữa nó trở thành công việc cá nhân, người vợ trở thành người đầy tớ chính và bị gạt ra khỏi việc tham gia sản xuất xã hội …tiêu điểm đầu tiên giải phóng phụ nữ

là làm cho toàn bộ phụ nữ trở lại tham gia sản xuất xã hội, điều kiện đó đòi hỏi phải làm cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa chỉ khi nào các tư liệu sản xuất biến thành tài sản chung thì gia đình cá thể mới không cón là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa, nền kinh tế gia đình tư nhân biến thành một ngành lao động xã hội”

Như vậy chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội đã xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xác lập chế độ sở hữu toàn dân thì mới có nói đến vấn đề bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ một cách toàn diện triệt để

Vấn đề không chỉ là ở chổ “ người phụ nữ có thể tham gia vào sản xuất trên một quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm công việc trong nhà rất ít thôi”,

đó mới chỉ là tiền đề để giải phóng phụ nữ cần phải bảo đảm cho người phụ nữ một địa vị trong xã hội vững vàng ngang với nam giới về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và gia đình và như vậy phải xã hội hóa mọi công việc tề gia nội trợ coi đó là một lĩnh vực hoạt động trong hệ thống sản xuất xã hội Hiến pháp 1992

đả thể hiện đường lối của Đảng ta, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –

Lê nin khẳng định nếu không có tự do và bình đẳng trong gia đình thì sẽ không

có tự do bình đẳng trong xã hội và ngược lại không có tự do bình đẳng trong xã hội sẽ không có tự do bình đẳng trong gia đình điều 63 hiến pháp 1992 quy định:

“Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội và gia đình

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ

Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà

hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh

Trang 32

nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.”

Còn trong gia đình điều 64 Hiến Pháp 1992 quy định

“Gia đình là tế bào của xã hội

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình

Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ

Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.”

Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được cụ thể trong luật hơn nhân và gia đình năm 2000 tại điều 2 điều 19 và các điều khoản khác, điều 2 khoản 1,2 luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định

“1) Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

2) Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, thuộc các tôn giáo, giữa những người có tôn giáo và những người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”

Điều 19 luật hôn nhân và gia đình quy định:

“Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”

Điều 23 Luật HN&GD đình quy định:

“Vợ chồng cùng bàn bạc, giúp đở, tạo điều kiện cho nhau chọn nghề nghiệp, học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mọi người.”

Đặc biệt nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong luật HN&GĐ

2000 là một bước phát triển so với luật hôn nhân gia đình 1986 khi xác định chế

độ tài sản giữa vợ và công và chế độ sở hữu, và chia tài sản khi ly hôn, cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ và chồng Sự phát triển của luật hôn nhân gia đình 2000

Trang 33

còn thể hiện ở việc xác định bình đẳng nam nữ trong hôn nhân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, quốc tịch.

Trong mấy mươi năm qua cùng với sư thắng lợi của của cuôc cách mạng dân tộc, dân chủ trong thời kỳ quá độ xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở nước ta đã hình thành và xác định quan hệ bình đẳng nam nữ bình đẳng vợ chồng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, địa vị xã hội của nam nữ, cùng với bình đẳng giới

2.2 QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN

2.2.1 Quyền bình đẳng của vợ và chồng khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân

2.2.1.1 Căn cứ chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân

 Đầu tư kinh doanh riêng

Việc quy định chia tài sản chung trong trừơng hợp đầu tư kinh doanh riêng thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của vợ chồng trên thuơng truờng tránh đuợc những quy tắc thuộc chế độ tài sản chung làm ảnh huởng đến quá trình kinh doanh và tạo điều kiện cho các giao dịch mà vợ và chồng đứng ra xác lập đó có thể là việc thành lập một doanh nghiệp tư nhân hay là góp vốn thành lập một công ty trên danh nghĩa thành viên sáng lập hoặc tham gia vào một

kế hoạch sản xuất kinh doanh Đồng thời vần giữ nguyên chế độ tài sản chung, nguời đầu tư kinh doanh sẽ độc quyền khai thác công dụng của tài sản, do nguyên tắc đó nên vợ chồng có quyền ngang nhau trong quản lý tài sản chung Nền kinh tế nuớc ta đang trên đà phát triển nên việc đầu tư kinh doanh bao gồm nhiều ngành nghề nhiều phương thức đầu tư nói chung là rất đa dạng, điểm cần lưu ý trong truờng hợp này việc đầu tư kinh doanh vẫn đuợc chấp thuận ở giai đoạn chuẩn bị Điều này có nghĩa là vợ chổng cần chứng minh mình đang chuẩn

bị đầu tư kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó sấp đuợc thực hiện thì đó cũng là căn cứ để chia tài sản chung Việc chia tài sản chung trong việc đầu tư kinh doanh riêng sẽ tạo điều kiện cho vợ và chồng trong định đọat tài sản chung ( bán, tặng, cho), hoặc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản (cầm cố, thế chấp)

 Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của vợ chồng, trong khung cảnh luật thực định chưa đuợc xây dụng một cách hoàn hảo, tuy nhiên các nghĩa vụ đuợc xác lập truớc khi kết hôn cũng như các nghĩa vụ gắn liền với tài sản riêng, như chúng ta đã biết trong một chừng mực nào đó đuợc xem là thực hiện nghĩa vụ

Trang 34

riêng Mặc khác việc chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ cho phép ta nghĩ rằng nghĩa vụ đó là nghĩa vụ riêng và được thực hiện bằng tài sản riêng Nghĩa

vụ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cá nhân vợ hoặc chồng mà người còn lại không bị ràng buộc bởi trách nhiệm liên đới Nghĩa vụ trả nợ vay, nghĩa vụ bảo lãnh cho người khác cũng là nghĩa vụ riêng nếu xác lập mà không có sự đồng ý của vợ (chồng) bên cạnh đó các nghĩa

vụ xác lập trước khi kết hôn cũng là nghĩa vụ riêng gắn liền với các tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng

Mặc khác chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng cho thấy rằng nghĩa vụ đó là nghĩa vụ mà khối tài sản riêng có nghĩa vụ đóng góp toàn bộ cho việc thanh toán, đây có thể là nghĩa vụ riêng mà việc thực hiện có thể dẫn đến chia tài sản chung, nghĩa vụ phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân vợ hoặc chồng như tiển bồi dưỡng thiệt hại hay nghĩa vụ về nhân thân đạo đức của vợ và chồng

 Lý do chính đáng khác

Được hiểu là chia tài sản chung chỉ được xem là cần thiết để ổn định đời sống của mỗi bên vợ và chồng hoặc theo quy định của pháp luật là “vợ chồng không hợp nhau nhưng do con cái đã lớn nên không muốn xin ly hôn” Hay là do

vợ hoặc chồng có hành vi vi phạm pháp luật phải bồi thường thiệt hại nhưng do

vợ hoặc chồng không thỏa thuận được với nhau về việc lấy tài sản chung của vợ

và chồng để bồi thường thì có thể theo đơn yêu cầu của một bên hoặc hai bên có thể dùng phần tài sản đó của mình để bồi thường thiệt hại cho người khác Kế thừa và phát triển những quy định về phần tài sản chung trong luật HN&GĐ

2000 điều 29 khoản 1 quy định

“ Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thận chia tài sản chung, việc chia tài sản phải lập bằng văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết”, ngay trong thời kỳ hôn nhân vợ, chồng hoặc cả hai có nhu cầu cũng cố khối tài sản riêng tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống hoặc cho nhu cầu giao dịch của mỗi người Với tư cách là một công dân vợ hoặc chồng có thể thực hiện các giao dịch dân sự hợp pháp của mình và có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong những trường hơp nhất định luật HN&GĐ 2000 đả quy định cụ thể các lý do cần thiết để tòa án giải quyết chia tài sản chung và việc chia tài sản

do vợ chồng thoả thuận mà không cần sự can thiệp của tòa án

Trang 35

Ngoài ra việc vợ chồng chia tài sản chung mà việc chia tài sản ảnh hưởng đến lợi ích con cái như viêc sinh hoạt, học tập…hoặc việc vợ chồng không chấp nhận các quy tắc về chế độ tài sản chung, họ cho rằng các quy tắc đó ảnh hưởng đến đời sống và tiến hành chia tài sản chung như vậy trường hợp này

có hơp pháp hay không câu hỏi này dành cho những nhà lập pháp trả lời!

Nói chung, tính chất chính đáng hay không chính đáng của việc chia tài sản chung chỉ được đánh giá khi có tranh chấp và sự việc đưa ra tòa án giải quyết nhưng trong khung cảnh luật hiện hành một khi vợ hoặc chồng thống nhất ý kiến

về việc chia tài sản chung và cả về cách chia, thì trong quan hệ của vợ và chồng, vấn đề chính đáng hay không chính đáng của lý do chia tài sản không được đặt

ra Bởi vậy như ta sẽ thấy sự thỏa thận của vợ chồng trong việc chia tài sản chung của vợ chồng không chịu sự giám sát của tòa án, trừ trường hơp một người thứ ba nào đó có đơn yêu cầu tòa án ngăn chặn hoặc chế tài các trường hợp chia tài sản chung nhầm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản của bản thân hay của vợ chồng Nói cách khác dù có hay không có sự nhất trí đồng thuận trong việc phân chia hay không phân chia tài sản chung

Nếu vậy, trong trường hợp vợ hoặc chồng có sự thỏa thuận trong việc chia tài sản chung, quy định về một ly do hiện hữu chính đáng trở nên thừa không chắc đó là phương pháp phù hơp của nhà làm luật, nếu đúng là vợ chồng

có thỏa thuận chia tài sản chung mà không có lý do chính đáng thì toàn bộ chế định về tài sản sẽ mang tính chất của luật bổ khuyết nghĩa là sẽ được áp dụng nếu không có thỏa thuận ngược lại

2.2.1.2 Đặc điểm của phân chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

a Cơ chế thanh toán đặc biệt

Tài sản chung được phân chia không phải là tài sản thuộc sở hữu chung theo phần mà là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Ta biết rằng sở hữu chung của vợ chồng trong khung cảnh của luật thực định là sở hữu chung hợp nhất, tức

là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với khối tài sản chung Trong chừng mực nào đó, phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được coi là biện pháp khôi phục và tăng cường khối tài sản riêng của vợ và chồng mà liều lượng của việc khôi phục và tăng cường đó được xác định tùy theo mục đích của việc phân chia được đặt ra

 Chia tài sản chung như trong một vụ ly hôn

Nếu phân chia tài sản chung trong điều kiện hôn nhân đã đổ vỡ trên thực

tế nhưng chưa chấm dứt về mặt pháp lý thì vợ và chồng có thể tính toán với nhau

Trang 36

một cách sòng phẳng trong việc xác định phần quyền của mỗi người trong khối tài sản chung, như khi ly hôn Đặc biệt, họ có thể dựa vào các quy định có liên quan đến công sức đóng góp của người này hay người kia vào sự phát triển của khối tài sản trước đó khi tiến hành phân chia Việc chia tài sản chung của vợ chồng, khi đó được thực hiện theo đúng các quy định trong luật chung về chia tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, cũng như theo các quy định về chia tài sản sau khi ly hôn, đặc biệt là các quy định về phân chia nhà ở, quyền sử dụng đất nông nghiệp.

Chia tài sản chung như một biện pháp hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của vợ hoặc chồng.

Trái lại, nếu chỉ tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng thực hiện một nghĩa vụ riêng hoặc cả một dự án kinh doanh riêng, thì vợ chồng có thể thỏa thuận về việc dành cho người có tài sản riêng một phần lớn tài sản nhằm đáp ứng đến mức có thể được nhu cầu huy động tài sản để trả nợ hoặc để kinh doanh cho người này,

mà không quan tâm đến tham số về công sức đóng góp của người này hay người kia trong việc tạo lập, phát triển vào khối tài sản chung Trong trường hợp sau này, việc xác định phần quyền của vợ chồng trong khối tài sản chung được phân chia thường chỉ được thực hiện sau khi đã chia xong khối tài sản đó

Ví dụ Vợ và chồng đã thỏa thuận rằng người này nhận một hoặc nhiều

tài sản, người kia nhận một hoặc nhiều tài sản khác, và vợ chồng nói rằng giá trị phần quyền của mỗi người trong khối tài sản chung được phân chia cũng chính là giá trị của tài sản chung được chia cho mỗi người Thậm chí, ta có thể nó rằng khi đó, vợ và chồng đã thỏa thuận tiến hành chia tài sản chung mà không thanh toán trước phần quyền của mỗi người

b Phân chia tài sản chung không phải là thay đổi chế độ tài sản

Vợ chồng không thỏa thuận ngược lại với các quy tắc thuộc chế độ chung Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một biện pháp giúp cho vợ chồng chuyển các tài sản chung cụ thể đã được tạo ra và hiện hữu trong khối tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng Vợ chồng tuyệt đối không thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung sẽ có trong tương lai Việc chia tài sản chung sẽ

có trong tương lai, trong chừng mực nào đó, có thể được đồng hóa với việc thay đổi cơ sở pháp lý của sự hình thành của các khối tài sản chung của vợ chồng

Ví dụ: Nếu vợ chồng thỏa thuận rằng từ nay về sau tiền lương, thu nhập

khác của mỗi người và nói chung các tài sản được vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của mỗi người Theo đó, coi như vợ chồng đã từ chối áp

Trang 37

dụng quy tắc của chế độ chung là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung Việc thay thế một cách có hệ thống các quy tắc về thành phần cấu tạo của các khối tài sản đặc, bằng các thỏa thuận đặc thù không được luật dự kiến Và điều đó cũng có nghĩa bằng con đường thỏa thuận vợ chồng có thể lọai bỏ hoàn toàn các quy tắc thuộc chế độ chung về tài sản và đặt các quan hệ tài sản giữa họ ngoài vòng pháp luật một cách hợp pháp.

Vấn đề chia tài sản chung trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng sẽ tỏ ra hợp lý trong trường hợp khối tài sản riêng của vợ chồng không đủ thanh toán các khoản nợ (hoặc một người đồng ý trả nợ, người còn lại thì không) Trường hợp này sẽ làm xuất hiện quyền yêu cầu chia tài sản chung của chủ các khoản nợ riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Và cũng giống như trường hợp đầu tư kinh doanh riêng, luật không quy định nghĩa vụ dân sự riêng hiện tại và ở tương lai, điều này cho phép chúng ta suy nghĩ rằng nghĩa vụ dân sự riêng được chấp nhận ở giai đoạn chuẩn bị Ta có thể hình dung trường hợp vợ chồng muốn thành lập một doanh nghiệp tư nhân riêng và do đó cần một khoản tiền nhất định trong khi khối tài sản riêng không đủ đảm bảo cho việc vay

và cũng không được sự đồng ý của người còn lại đối với việc thành lập doanh nghiệp đó Giải pháp cho trường hợp này là vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung để tự mình đứng vay khoản tiền đó nhằm phục vụ cho mục đích thành lập doanh nghiệp của mình

2.2.1.3 Thể thức phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Phân chia theo thỏa thuận

Theo Luật HN&GĐ năm 2000, Điều 29 – Khoản 1 việc chia tài sản chung của vợ chồng phải được thỏa thuận và lập thành văn bản “việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản” Điều luật chắc chắn chỉ áp dụng trong trường hợp

vợ và chồng có sự thỏa thuận về cách chia Nếu vợ và chồng không đồng ý với nhau về cách chia thì không có chuyện vợ hoặc chồng ký vào văn bản chia một cách tự nguyện Cần nhận mạnh rằng Luật chỉ đòi hỏi việc thỏa thuận chia tài sản chung phải lập thành văn bản chứ không yêu cầu lập văn bản trước cơ quan công, chứng chứng thực

Ngoài ra, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/01/2001 của chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ, tại Điều 6 quy định về nội dung thỏa thuận việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm các vấn

đề sau:

Trang 38

- Lý do chia tài sản;

- Phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản) trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;

- Phần tài sản còn lại không chia (nếu có);

- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung ;

- Các nội dung khác (nếu có);

Tất nhiên, văn bản cần ghi rõ các thỏa thuận của vợ chồng về cách chia tài sản nào thuộc về ai Trong khung cảnh của chế độ hiện hành về chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng không nhất thiết phải ghi nhận việc xác định phần quyền của người đó bởi vợ chồng có thể thỏa thuận phân chia tài sản chung mà không cần tiến hành thanh toán

Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập thành văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung thì cả hai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Phân chia bằng con đường tư pháp

Việc phân chia bằng con đường Tư pháp được luật dự kiến cho trường hợp giữa vợ chồng không có sự thỏa thuận cần thiết bao hàm cả trường hợp không thể thỏa thuận do vợ hoặc chồng vắng mặt, mất tích hoặc trong tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình mà người giám hộ người giám hộ ở đây không rơi vào quy định tại Khoản 1-Điều 66, Bộ Luật Dân sự 2005) Trong trường hợp vợ chồng ở trong tình trạng hạn chế năng lực hành vi thì phải có người đại diện theo pháp luật để tham gia vào việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng, nếu vợ bị hạn chế năng lực hành vi thì chồng là người giám

hộ và ngược lại chồng bị mất năng lưc hành vi dân sự thì vợ sẽ là người giám hộ

Ta không biết chắc trong khung cảnh của luật thực định việc chia tài sản chung

có thể được chia bằng con đường thỏa thuận của vợ chồng nhưng trong trường hợp vợ và chồng không nhận thức được hành vi của mình thì Luật chưa có quy định rõ ràng Trong trường hợp này vợ hoặc chồng không thể là người giám hộ cho người còn lại bởi cả hai người đều là đương sự trong việc yêu cầu phân chia tài sản chung nếu theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 thì sẽ không công bằng

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w