1.2 Sự cần thiết ban hành các quy ựịnh về quyền bình ựẳng giữa vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia ựình Việt Nam năm 2000 1.2.1 Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, ựường lối của đảng và
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
ðÌNH VIỆT NAM HIỆN HÀNH
MSSV: 5044015 Lớp: Luật Tư pháp - K30
Cần thơ, tháng 5/2008
Trang 2Trang
Lời nói ñầu .1
Chương 1: Những vấn ñề chung về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng 3
1.1 Sơ lược quan hệ vợ chồng qua các thời kỳ 3
1.1.1 Chế ñộ Cộng sản nguyên thủy 3
1.1.2 Chế ñộ Chiếm hữu nô lệ 4
1.1.3 Chế ñộ Phong kiến 5
1.1.4 Chế ñộ Xã hội chủ nghĩa 7
1.2 Sự cần thiết ban hành các quy ñịnh về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam năm 2000 9
1.2.1 Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, ñường lối của ðảng và Nhà nước 9
1.2.2 Khắc phục tình trạng phân biệt ñối xử với phụ nữ và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia ñình 10
1.2.3 Tiếp tục khẳng ñịnh quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu bình ñẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế 14
Chương 2: Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam hiện hành 16
2.1 Khái niệm về nghĩa vụ và quyền của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam 17
2.2 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 20
2.2.1 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong quan hệ nhân than 20
2.2.1.1 Tình nghĩa vợ chồng 20
2.2.1.2 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc thực hiện quyền cha mẹ ñối với con 22
2.2.1.3 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc yêu cầu ly hôn 24
2.2.1.4 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc ñại diện cho nhau trước pháp luật 25
Trang 32.2.1.6 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc lựa chọn nghề nghiệp,
học tập và tham gia các hoạt ñộng kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội 27
2.2.1.7 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau 28
2.2.1.8 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau .29
2.2.2 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng xét ở khía cạnh quan hệ tài sản 31
2.2.2.1 Tài sản chung 31
2.2.2.2 Tài sản riêng 35
2.3 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng khi hôn nhân chấm dứt do ly hôn 36
2.3.1 Thanh toán tài sản khi ly hôn 37
2.3.2 Quyền bình ñẳng trong vai trò ñối với con 40
Chương 3: Những tồn tại vướng mắt trong thực tế và hướng hoàn thiện về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng 42
3.1 Thực trạng 42
3.1.1 Vấn ñề tài sản 43
3.1.2 Vấn ñề nhân thân 44
3.2 Hướng hoàn thiện 50
Kết luận 54 Tài liệu tham khảo
Trang 4LỜI NÓI ðẦU Trong ñời sống, sinh hoạt vợ chồng ít nhiều gì cũng bị các phong tục, tập quán chi phối và ăn sâu, bám rễ vào trong nhận thức Bên cạnh những phong tục, tập quán tốt ñẹp, tồn tại không ít những hủ tục lạc hậu, cản trở tiến bộ xã hội Sinh thời Hồ Chủ Tịch rất chú trọng ñến lĩnh vực hôn nhân và gia ñình ðể khẳng ñịnh quyết tâm, tại Sắc Lệnh số 97 năm 1950 Bác ghi nhận việc xóa bỏ tập tục phong kiến lỗi thời, nâng cao quyền bình ñẳng giữa vợ chồng Mặc khác ñể giải quyết vấn ñề nan giải này, Luật hôn nhân và gia ñình năm 1959, Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986, Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 lần lượt ra ñời nhằm hướng con người nhận thức ñúng ñắn về vị thế của mình trong gia ñình Tuy nhiên, cho ñến nay vấn ñề này vẫn chưa giành ñược sự quan tâm ñúng mức của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, kể cả những người ñã và ñang nghiên cứu về gia ñình
Gần ñây, vấn ñề bất bình ñẳng giữa vợ chồng thường ñược ñề cập rải rác trong một số bài báo, một số phóng sự ñăng tải trên các phương tiện thông tin ñại chúng và thường nhấn mạnh ñến các khía cạnh bạo hành gia ñình, nạn nhân thông thường là những người cam chịu, nhẫn nhục ñể tránh tiếng xấu về ñạo ñức cho người bạn ñời
Vợ chồng có vị trí rất quan trọng, là môi trường bảo tồn nền văn hóa truyền thống, là cái noi hình thành nhân cách con người, giúp cho thế hệ tương lai của ñất nước phát triển và hoàn thiện về thể chất, trí tuệ tinh thần chuẩn bị hành trang hòa nhập vào cộng ñồng xã hội Nhìn về góc ñộ pháp lý, ñảm bảo tốt quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong xã hội Việt Nam là muốn nhấn mạnh rằng Việt Nam ñang trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới
Trong bối cảnh hiện nay, nghiên cứu về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng không chỉ là một ñòi hỏi thực tế mà còn có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhập Và dĩ nhiên, nghiên cứu về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng không phải chỉ nhằm phê phán, chỉ trích hay lên án mà còn mong muốn phơi bày bức tranh tổng quát về gia ñình trong xã hội Việt Nam Mặt khác, thông qua việc phản ánh ý kiến và thăm dò dư luận, bức tranh quyền bình ñẳng giữa vợ chồng còn nhấn mạnh thêm một ý nghĩa khác
là việc cũng cố và bảo vệ ñộ bền vững của gia ñình ñòi hỏi phải có sự nhất quán về quyền bình ñẳng trong lý thuyết và trên thực tế Với mong muốn góp phần tìm ra giải pháp hoàn thiện nhằm triệt tiêu xã hội ñầy dẫy bất công ñã thoi thúc tác giả tìm ñến
“quyền bình ñẳng giữa vợ chồng theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam hiện hành”
Trang 5Do nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên tác giả chỉ tập trung xoay quanh nghiên cứu những quy ñịnh cơ bản về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng ñể thiết lập nên quyền bình ñẳng giữa vợ chồng theo quy ñịnh của luật Trên cơ sở ñó luận văn ñưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 trong toàn
xã hội Việt Nam
ðề tài ñược xây dựng dựa trên phương pháp duy vật biện chứng cùng với sự tìm tòi, thống kê, phân tích, so sánh và ñặc biệt là sự thâm nhập thực tế của tác giả Mặc dù ñược sự chỉ dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn nhưng do ñây là một ñề tài mới nên khó có thể tránh khỏi những thiếu sót nhất ñịnh, tác giả mong nhận ñược sự ñóng góp của quý thầy cô cùng bạn bè ñể luận văn ñược hoàn thiện hơn
Bố cục của luận văn chia là 3 chương:
Chương 1: Những vấn ñề chung về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng
Chương 2: Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam hiện hành
Chương 3: Những tồn tại vướng mắc trong thực tế và hướng hoàn thiện về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng
Trang 6
1.1.1 Chế ñộ Cộng sản nguyên thủy
ðể tiện nghiên cứu hôn nhân, chúng ta hãy nhìn từ hình thái thấp nhất, cổ xưa nhất của lịch sử xã hội loài người Khi con người mới chỉ bắt ñầu tách ra khỏi thiên nhiên, chưa sản xuất ra một thứ gì cả mà chỉ hái lượm những thức ăn sẵn có của thiên nhiên và vì thế chưa có sự phân công lao ñộng trong xã hội Lúc bấy giờ không có hôn nhân, không có gia ñình và bộ lạc như là một ñơn vị duy nhất không tách rời của xã hội nguyên thủy ðặc ñiểm của giai ñoạn này là quan hệ tính giao bừa bãi, nghĩa là quan hệ mà trong ñó mỗi một người ñàn bà là của mọi người ñàn ông và mỗi người ñàn ông là của mọi người ñàn bà
Từ trạng thái nguyên thủy ñó trong bước tiếp theo của lịch sử ñã phát triển những hình thái hôn nhân và gia ñình ñầu tiên, hôn nhân và gia ñình không như bây giờ chúng ta thấy mà là chế ñộ quần hôn Ở ñây các ông chồng không sống với các bà
vợ Họ sống và làm việc trong gia ñình mẹ ñẻ và không có quyền gì ñối với tài sản trong gia ñình của các bà vợ Rõ ràng trong chế ñộ quần hôn không thể xác ñịnh ñược người cha Vì thế con sinh ra chỉ theo họ mẹ mà không theo họ cha
Việc tồn tại hình thức quần hôn không thể xem như một hiện tượng ngẫu nhiên trong lịch sử mà nó có cơ sở kinh tế vững vàng trong hiện thực xã hội
Chúng ta biết rằng, cơ sở kinh tế của chế ñộ quần hôn là kinh tế gia ñình tập thể Trong nền kinh tế ấy người phụ nữ chiếm một ñịa vị quan trọng quyết ñịnh, bởi vì lúc ñó người ñàn ông chỉ săn bắn, hái lượm và thu nhập ñược rất ít Hơn nữa, là lao ñộng chính trong nền kinh tế tương ñối ổn ñịnh xung quanh khu vực gia ñình, người phụ nữ lại có vị trí vinh dự trong thị tộc, là thành viên của những người ñứng ñầu thị tộc, ñịa vị của người phụ nữ trong thị tộc lúc ñó là ñộc lập và vững vàng, tính chất thị tộc lúc này là thị tộc mẫu quyền
Do ý thức xã hội của con người về hôn nhân phát triển, người phụ nữ lúc này nhận thức sự gắn bó với người chồng và muốn chỉ phụ thuộc một người ñàn ông mà
Trang 7thôi Vì vậy các cặp vợ chồng tách ra thành những ñôi riêng rẽ và hình thành một hình thái hôn nhân mới ñược gọi là hôn nhân cặp ñôi hay hôn nhân ñối ngẫu
Tuy vậy, hôn nhân ñối ngẫu trong ñiều kiện chế ñộ thị tộc không thể vững bền ñược, nó rất dễ bị người vợ hoặc người chồng phá vỡ do không có cơ sở pháp lý và những cơ sở tình cảm ràng buộc Con cái do hôn nhân ñó vẫn thuộc về thị tộc mẹ như trước Sỡ dĩ như vậy là do kinh tế vẫn thuộc về thị tộc cũ mà không thuộc về gia ñình ñối ngẫu Nói cách khác, gia ñình ñối ngẫu hiện tại vẫn chưa phải là một ñơn vị kinh tế ñộc lập với thị tộc Nó chỉ là một ñơn vị hôn phối, một cặp vợ chồng, còn thị tộc vẫn là một ñơn vị kinh tế toàn bộ.1
1.1.2 Chế ñộ Chiếm hữu nô lệ
Hôn nhân một vợ một chồng là hình thức hôn nhân cao hơn, mới hơn và bền vững hơn hôn nhân ñối ngẫu, nó phát sinh trong xã hội khi ñạt ñược những ñiều kiện kinh tế xã hội cần thiết
Về lao ñộng, mức ñộ phân công lao ñộng và chuyên môn hoá cao, làm cho năng suất lao ñộng phát triển tới mức có của cải dư thừa ñể riêng cho mình
Với việc chiếm giữ tài sản dư thừa làm của riêng, gia ñình ñối ngẫu dần dần ñối lập mình với thị tộc, trở thành ñơn vị kinh tế ñộc lập - gia ñình một vợ một chồng ra ñời
Trong gia ñình này người chồng bắt ñầu nắm vị trí thống trị, vợ và các con của
họ ở vào thế bị trị và thực tế ñó là tài sản của người chồng Có ñược vị trí ñó là do lúc này người chồng làm những nghề nghiệp ñưa lại hiệu suất và thu nhập cao hơn như: chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công, săn bắn…còn người vợ chỉ làm những công việc nội trợ, nuôi con trong nhà, không làm ra của cải vật chất cho gia ñình nên bị phụ thuộc
Chế ñộ hôn nhân một vợ một chồng cho phép xác ñịnh ñược người cha ñẻ của các con trong gia ñình mà trong các hình thức hôn nhân trước ñó chưa xác ñịnh ñược Người chồng nảy ra xu hướng lợi dụng ñịa vị vững vàng hơn ấy ñể thay ñổi trật tự thừa kế cổ truyền ñặng làm lợi cho con cháu mình Vì vậy cần xóa bỏ chế ñộ huyết tộc theo mẫu quyền, xây dựng huyết tộc theo họ cha và quyền thừa kế theo cha ñược xác lập
Giai ñoạn này thị tộc bắt ñầu tan rã trước tư tưởng tư hữu ñang phát triển, thị tộc phải nhường chỗ cho gia ñình cá thể
1 Giáo trình Luật hôn nhân và gia ñình, Trường ðại học Luật Hà Nội, NXB-CAND, 2002, tr 10
Trang 8Chế ựộ thị tộc không giai cấp với sự xuất hiện của gia ựình một vợ một chồng
ựã chuyển sang chế ựộ tư hữu và có giai cấp Cuộc cách mạng này ựã xảy ra ngay từ trong gia ựình
Kết quả của việc ựánh chiếm các bộ lạc láng giềng dẫn ựến xuất hiện nô lệ Những tù binh nô lệ ựã rất có lợi cho lao ựộng Ngay từ ựầu, nô lệ ựã làm cho chế ựộ một vợ một chồng chỉ ựối với ựàn bà chứ không phải ựối với ựàn ông Sự xuất hiện của phụ nữ nô lệ thuộc về người ựàn ông cả thể xác lẫn tâm hồn, chế ựộ một vợ một chồng mang một sắc thái giả tạo và bất công Thậm chắ trong nhà, người ựàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người ựàn bà thì bị mất cái vị trắ vinh dự của họ, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ ựể giải trắ cho ựàn ông, thành một công cụ sinh ựẻ ựơn thuần
Trong tất cả các giai cấp chủ ựộng trong lịch sử, nghĩa là trong tất cả các giai cấp thống trị thì việc kết hôn vẫn như trước, kể từ khi có hôn nhân ựối ngẫu, nghĩa là một việc có tắnh toán lợi nhuận, do cha mẹ thu xếp Dù là hôn nhân theo các nước ựạo thiên chúa, hay tin lành, dù là ở Pháp, hay ở đức thì hôn nhân ựều dựa trên ựịa vị giai cấp của ựôi bên, và vì vậy hôn nhân bao giờ cũng vẫn là hôn nhân có tắnh toán.2 Chắnh
vì không xuất phát từ tình yêu nên hôn nhân ở ựây thường không mang lại hạnh phúc, ựặc biệt thân phận của người vợ chẳng khác nào những hạn gái mua vui, nếu có khác chăng cũng chỉ là người vợ ở ựây không ựem thân mình ra bán mỗi lần như người nữ công nhân làm thuê bán lao ựộng của mình mà là bán mãi mãi như người nô lệ Rõ ràng, hôn nhân và gia ựình cá thể và các biến thể của nó trong các xã hội có giai cấp ựối kháng không phải là sự liên kết tình cảm mà là sự liên kết dựa trên cơ sở tài sản Mọi sự bất bình thường của chế ựộ hôn nhân ựó là người bạn ựường mãi mãi của nó
Hôn nhân thực hiện theo nguyên tắc Ộkhông tự nguyện, một chồng nhiều vợ, vợ chồng không bình ựẳngỢ đó là áp dụng ựường lối theo mẫu chung Nho giáo của phong kiến phương ựông Do quan niệm Ộchồng chúa vợ tôiỢ mà nghĩa vụ của người
2 Giáo trình Luật hôn nhân và gia ựình Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB-CAND, 2002, tr 17
Trang 9vợ nhiều hơn chồng, trong khi ựó quyền thì chẳng ựược bao nhiêu điều này ựược ghi nhận một cách cụ thể trong Quốc triều hình luật
- Vợ phải chung thủy với chồng
- Vợ phải phục tùng chồng và chịu sự dạy dỗ của chồng Vợ không ựược tố cáo chồng, ông bà, cha mẹ chồng
- Vợ phải ựể tang chồng như ựể tang cha mẹ
Trong quan hệ vợ chồng, từ thái ựộ coi rẻ phụ nữ (xếp ựàn bà và hạn tiểu nhân vào cùng hạn người khó dạy), Nho giáo chủ trương người phụ nữ phải theo cái ựạo lý tam tòng: ở nhà theo cha, có chồng theo chồng, chồng chết theo con trai; do ựó người ựàn bà suốt ựời bị lệ thuộc vào người ựàn ông Và như vậy cũng không thể tự do, chủ ựộng trong việc hôn nhân của mình Cô con gái, ngay trước lúc về nhà chồng, ựã ựược
mẹ dặn: Ộcon về nhà của con (tức về nhà chồng) thì nên kắnh nhường, giữ mình cho khéo, ựừng trái ý chồng (vãng nhi nhữ gia, tất kắnh, tất giới, vô vi phu tử - Mạnh Tử)Ợ
và cũng từ quan ựiểm bất bình ựẳng nam nữ, Nho giáo chủ trương người ựàn ông có thể có nhiều vợ, còn người ựàn bà thì không thể có hai chồng Chồng chết cũng phải ở vậy đi lấy chồng khác là thất tiết (ựánh mất tiết hạnh của mình) Những người ựàn bà góa, nghèo khổ, không nơi nương tựa, cũng không nên ựi bước nữa vì ựói chết là việc rất nhỏ, thất tiết mới là việc lớn.3
Riêng về quan hệ tài sản, cổ luật Việt Nam ắt có ựiều luật quy ựịnh Tình hình này cũng giống pháp luật Trung Quốc, Nhật Bản, Cao ly lúc bấy giờ Bởi vì quyền, nghĩa vụ khác gần như ựã ựược xếp ựặt sẵn trong lễ nghĩa Nho giáo, người chồng là chủ gia ựình, có quyền quản lý toàn bộ tài sản của gia ựình coi như một khối tài sản chung, không phân biệt là do vợ chồng cùng làm ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc của riêng bên nhà chồng hay của riêng bên nhà vợ ựem về Tuy nhiên, theo Quốc triều thư khế thể thức, trong các mẫu văn khế bán ựất, cầm cố, chuyển ựổi ruộng ựất ựều phải có chồng, vợ cùng ựiểm chỉ Và thực tế trong các văn tự bán ruộng ựất làm dưới triều Lê còn di lưu lại, ta thường thấy hai vợ chồng cùng ựứng tên bán Trong thời gian giá thú, tất cả các tài sản, không phân biệt nguồn gốc và bản chất, ựều hợp thành một khối do người chồng quản trị và sử dụng theo nhu cầu của gia ựình và trong thực tế với sự cộng tác của người vợ.4
Nhìn chung, qua các chế ựịnh về hôn nhân, người phụ nữ Việt Nam cũng như người phụ nữ phương đông, luôn luôn phải chịu khép mình trong khuôn khổ gò bó
3
&4 Pháp luật hôn nhân và gia ựình Việt Nam xưa và nay, NXB Trẻ, 2000, Tr 81 Ờ 96
Trang 10của quan ựiểm và lễ nghĩa phong kiến khắc khe Song, trong luật nhà Lê, có một số ựiều luật sáng tạo nhằm tạo ựiều kiện cho người phụ nữ ựược chủ ựộng ắt nhiều trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống với chồng và trong việc ly hôn; về mặt nhân thân cũng như về tài sản Luật nhà Lê nâng ựỡ người vợ ựể họ có ựiều kiện vươn ựến
sự bình ựẳng với chồng, trong cái khuôn mẫu chung của xã hội Ộtrọng nam khinh nữỢ
đến thời nhà Nguyễn, vì pháp luật nhà Nguyễn không có ựiều nào quy ựịnh về tài sản vợ chồng nên phải theo ựường lối lễ nghĩa chung, nghĩa là vợ và các con không
có tài sản riêng và không có quyền tham gia ựịnh ựoạt ựối với tài sản gia ựình Án lệ từ cuối thế kỷ XIX cho ựến năm 1945 thường chấp nhận quan niệm này
Thực tế lịch sử thế giới ựã chững minh rằng dù ở phương đông hay phương Tây thì hôn nhân và gia ựình xây dựng trên nền tảng ựạo ựức phong kiến ựều là trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng, hôn nhân theo ựẳng cấp ựòi hỏi phải môn ựăng hộ ựối, bảo vệ và duy trì tông tộc phong kiến
1.1.4 Chế ựộ xã hội chủ nghĩa
Ph.Ăngghen phê phán gay gắt gia ựình tư sản Mặt khác ông bâng khuâng về gia ựình tương lai tức là xã hội chủ nghĩa sẽ như thế nào khi mà ựã mất ựi những nguyên nhân kinh tế, cái mà ựã ựẻ ra gia ựình ấy (chế ựộ tư hữu, một xã hội nhuốm ựầy màu sắc tiền bạc và tài sản) Liệu gia ựình một vợ một chồng có mất ựi không, khi không còn những nguyên nhân kinh tế ấy nữa, nghĩa là sau cách mạng xã hội chủ nghĩa Chế ựộ ựó chẳng những sẽ không mất ựi mà trái lại chỉ ựến lúc bấy giờ nó mới thực sự ựược thực hiện toàn vẹn Với việc các tư liệu sản xuất biến thành tài sản xã hội, thì chế ựộ lao ựộng làm thuê của giai cấp vô sản cũng sẽ mất ựi, và tình trạng một
số phụ nữ - con số này có thể thống kê ựược - cần phải bán mình vì ựồng tiền, cũng theo ựó mà mất ựi Tệ nạn mãi dâm sẽ mất ựi, và chế ựộ một vợ một chồng không những không bị suy tàn, mà cuối cùng lại trở thành hiện thực, ngay cả ựối với ựàn ông nữa Lúc nào một thế hệ ựàn ông không bao giờ phải dùng tiền hoặc dùng những phương tiện quyền lực xã hội nào khác ựể mua người ựàn bà, và thế hệ một người ựàn
bà không bao giờ phải hiến mình cho ựàn ông vì một lý do nào khác ngoài tình yêu chân chắnh, hoặc phải từ chối không dám hiến mình cho người yêu vì sợ những hậu quả kinh tế của sự hiến thân ựó
Dưới chủ nghĩa xã hội, hôn nhân phải dựa trên cơ sở tình yêu chân chắnh Hôn nhân là bước phát triển tất yếu của tình yêu, sự luyến ái giữa ựôi nam, nữ Hôn nhân dựa trên tình yêu là hôn nhân một vợ một chồng Ăngghen ựã nêu rõ: Bản chất của tình yêu là không thể chia sẽ ựược - mặc dù trong thời ựại chúng ta, cái tắnh không chia sẽ ựược ấy chỉ ựược thực hiện triệt ựể về phắa người ựàn bà mà thôi Cho nên hôn
Trang 11nhân dựa trên tình yêu giữa nam, nữ; do ngay bản chất của nó là hôn nhân một vợ một chồng
Hôn nhân phải ựược tự do thực hiện trên cơ sở tự nguyện bình ựẳng Ăngghen
ựã viết: Bất cứ cuộc cuộc hôn nhân nào không dựa trên tình thương yêu lẫn nhau và trên thỏa thuận thật sự tự do giữa hai vợ chồng ựều là vô ựạo ựức cả Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là hợp ựạo ựức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong tình yêu ựược duy trì mới là hợp ựạo ựức mà thôi Nếu tình yêu ựã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu say ựắm mới át ựi, thì ly hôn sẽ là ựiều hay cho cả ựôi bên cũng như cho xã hội ỘMột trong những quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chắ Minh trong
sự nghiệp ựấu tranh cho tự do, hạnh phúc của con người là xây dựng và củng cố mối quan hệ hôn nhân - gia ựình tiến bộ Người nói Ộthuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạnỢ Muốn thuận vợ thuận chồng thì lấy nhau phải thực sự yêu thương nhau Người rất quan tâm ựến quyền bình ựẳng giữa vợ chồng và việc thực hiện nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia ựình Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chắ Minh luôn luôn trực tiếp chỉ ựạo việc xây dựng các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia ựình Người cũng rất quan tâm ựến việc bảo ựảm cho pháp luật ựược nghiêm chỉnh tuân theo Người ựã viết trên báo nhân dân: Nói chung thì ựồng bào ta ựều làm theo ựúng pháp luật, nhưng vẫn còn một số người làm sai Thắ dụ: Khinh rẻ phụ nữ và dã man nhất là thói ựánh vợ vẫn còn trong một số cán bộ và nhân dânỢ.5
Như vậy, dưới chế ựộ chủ nghĩa xã hội Nhà nước tạo những ựiều kiện kinh tế,
xã hội, văn hóa và pháp luật ựể thực hiện chế ựộ hôn nhân một vợ một chồng Vì ựây
là mục tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, vị trắ của người phụ nữ ựược tôn trọng, họ có những quyền ngang với nam giới, không còn ở ựịa vị phụ thuộc, nên trong quan hệ hôn nhân, họ ựược tự do ựể quyết ựịnh, không ai có quyền ép buộc
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa hôn nhân và gia ựình ựã trở thành mối quan tâm của xã hội Nhà nước dùng luật pháp ựiều chỉnh các quan hệ về hôn nhân phát triển theo hướng phù hợp với lợi ắch của mỗi công dân, Nhà nước sử dụng Luật hôn nhân và gia ựình như một phương tiện ựể xây dựng các quan hệ xã hội mới, nền văn hoá mới
và con người mới phù hợp với bản chất xã hôi chủ nghĩa
5 Pháp luật hôn nhân và gia ựình Việt Nam xưa và nay, NXB Trẻ, 2000, Tr 159
Trang 121.2 Sự cần thiết ban hành các quy ựịnh về quyền bình ựẳng giữa vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia ựình Việt Nam năm 2000
1.2.1 Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, ựường lối của đảng và Nhà nước Bình ựẳng giới nói chung, bình ựẳng giữa vợ chồng nói riêng là một trong những mục tiêu lớn của đảng và Nhà nước ta, luôn ựược khẳng ựịnh trong các văn kiện của đảng và Hiến pháp qua các thời kỳ Quan ựiểm này ựã ựược xác ựịnh ngay trong cương lĩnh ựầu tiên của đảng
Sau khi đảng cộng sản Việt Nam ra ựời (3/2/1930), trong chương trình hành ựộng của đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 6 năm 1932 ựã ựề ra yêu cầu ựấu tranh ựòi ựào thảy hết các pháp luật và tục lệ hũ bại làm cho ựàn bà không ựược bình ựẳng với ựàn ông, bỏ chế ựộ áp bức của chồng ựối với vợ, cấm tục lấy nhiều vợ Quyền ựàn
bà ựược giữ con mình khi ly dị
Như vậy, nhiệm vụ cấp bách trong giai ựoạn này là xóa bỏ chế ựộ hôn nhân phong kiến lạc hậu
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ngày 10 tháng 10 năm 1945 Chủ Tịch Hồ Chắ Minh ựã ký Sắc lệnh cho phép tạm thời áp dụng luật pháp của chế ựộ cũ ở
3 miền ựất nước trong khi chờ ban hành luật pháp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, với ựiều kiện không ựược trái với nguyên tắc dân chủ và chắnh thể dân chủ cộng hòa Do ựó, ựương nhiên luật pháp hôn nhân và gia ựình của chế ựộ cũ cũng ựược tạm thời áp dụng Tuy nhiên, do giặc Pháp tái chiếm ựất nước ta, nên toàn dân ựã lao vào cuộc chiến ựấu bảo vệ tổ quốc ựánh ựuổi ngoại xâm nên cũng ắt quan tâm ựến việc ban hành Luật hôn nhân và gia ựình mới
Năm 1946 Hiến pháp ựầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra ựời ựã ghi nhận quyền bình ựẳng giữa nam và nữ về mọi mặt (điều 9 Hiến pháp 1946) Sự ra ựời của Hiến pháp là cơ sở pháp lý ựể ựấu tranh xóa bỏ chế ựộ hôn nhân gia ựình phong kiến, xây dựng một chế ựộ hôn nhân gia ựình mới dân chủ và tiến bộ hơn Nhưng mãi ựến 1950 Nhà nước ta mới ban hành 2 Sắc lệnh ựầu tiên sửa ựổi một
số quy ựịnh về hôn nhân và gia ựình của chế ựộ cũ đó là Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 Trong ựó có ghi nhận việc xóa bỏ
sự bất bình ựẳng trong gia ựình, quy ựịnh người ựàn bà có chồng có ựủ năng lực thực hiện mọi hành vi dân sự, không cần phải ựược chồng cho phép như trước nữa
đồng thời bảo vệ quyền lợi của phụ nữ ựang mang thai bằng quy ựịnh: nếu người vợ ựang mang thai thì có thể yêu cầu Tòa án hoãn ựến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn
Trang 13Có thể nói, sự ra ñời của hai Sắc lệnh nêu trên ñã góp phần ñáng kể vào việc xóa bỏ chế ñộ hôn nhân và gia ñình phong kiến, giải phóng phụ nữ, tạo ñiều kiện cho phụ nữ ñược ngang hàng với nam giới, thống nhất áp dụng các quy ñịnh về hôn nhân
và gia ñình trong cả nước Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, hai Sắc lệnh trên ñã thể hiện nhiều hạn chế như chưa xóa bỏ tận gốc và toàn diện chế ñộ hôn nhân và gia ñình phong kiến (chưa thể hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, cấm người vợ góa ñược tái giá hay người vợ sau khi ly hôn phải ñợi 300 ngày mới có quyền kết hôn với người khác) Chính những hạn chế nêu trên ñã ñặt ra yêu cầu phải xây dựng pháp luật hôn nhân và gia ñình mới phù hợp với tình hình phát triển của xã hội lúc bấy giờ
ðể tổ chức thực hiện các chủ trương của ðảng và Nhà nước, Quốc hội ñã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy ñịnh về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng Với sự quan tâm sâu sắc ñó ba Luật hôn nhân và gia ñình năm 1959, Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986, Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 lần lượt ñược ban hành Sự ra ñời của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là bước ngoặc quan trọng của ðảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chế ñộ hôn nhân bình ñẳng, tiến bộ
1.2.2 Khắc phục tình trạng phân biệt ñối xử với phụ nữ và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia ñình
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc ñịa nửa phong kiến, nên chế ñộ hôn nhân và gia ñình là công cụ pháp lý của Nhà nước thực dân phong kiến ñược ban hành dựa trên những phong tục, tập quán lạc hậu của xã hội phong kiến nhằm mục ñích cũng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp ñịa chủ, phong kiến Chế ñộ hôn nhân lúc bấy giờ vẫn là tục cho phép lấy nhiều vợ, duy trì mối quan hệ bất bình ñẳng giữa vợ và chồng và dĩ nhiên lúc này cũng chẳng có Hiến pháp hay Luật hôn nhân và gia ñình ñể bênh vực thân phận người vợ
Luật hôn nhân và gia ñình năm 1959
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhưng ñất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền
Ở miền Bắc ñược giải phóng nên bắt ñầu bước vào thời kỳ quá ñộ tiến lên chủ nghĩa xã hội ðể ñáp ứng tình hình phát triển của miền Bắc lúc bấy giờ, dựa trên sự ra ñời của Hiến pháp 1959 ðiều 24 Hiến pháp 1959 quy ñịnh “phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình ñẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội và gia ñình Luật hôn nhân và gia ñình ñầu tiên ñược Quốc hội thông qua ngày 29/12/1959 và ñược Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 13/01/60 Trong ñó chương I ghi nhận nguyên tắc chung:
Trang 14- Nhà nước bảo ựảm việc thực hiện ựầy ựủ chế ựộ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình ựẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia ựình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận, mọi người thương yêu ựoàn kết giúp ựỡ nhau tiến bộ (điều 1 LHN & Gđ 1959)
- Xóa bỏ những tàn tắch còn lại của chế ựộ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẽ quyền lợi của con cái (điều 2 LHN & Gđ 1959)
- Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, ựánh ựập hoặc ngược ựãi vợ Cấm lấy vợ lẽ (điều 3 LHN & Gđ 1959)
Ngoài ra, Luật hôn nhân và gia ựình còn dành riêng 5 ựiều ựể quy ựịnh cụ thể quyền và nghĩa vụ của vợ chồng:
- Trong gia ựình, vợ chồng ựều bình ựẳng về mọi mặt (điều 12 LHN & Gđ 1959)
- Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp ựỡ nhau tiến
bộ, nuôi dạy con cái, lao ựộng sản xuất, xây dựng gia ựình hòa thuận, hạnh phúc (điều
Như vậy, Luật hôn nhân và gia ựình năm 1959 ựã khẳng ựịnh bản chất của pháp luật nước ta phục vụ lợi ắch của nhân dân lao ựộng, xóa bỏ ựược những quan niệm, phong tục, tập quán cũ do ảnh hưởng của chế ựộ phong kiến
Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia ựình năm 1959 chỉ ựược thực thi ở miền Bắc, còn ở miền Nam do vẫn dưới sự cai trị của chế ựộ Mỹ - Ngụy Sài Gòn và sự thống trị của Ngô đình Diệm Dưới thời Ngô đình Diệm có Luật gia ựình ngày 2/1/1959, Sắc lệnh 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 của chắnh quyền Ngụy Sài Gòn Cả ba văn bản pháp luật này ựều ựã quy ựịnh bãi bỏ chế ựộ ựa thê Song, vẫn bảo
vệ quyền gia trưởng, thực hiện nguyên tắc bất bình ựẳng giữa vợ chồng, người vợ hoàn
Trang 15toàn phụ thuộc chồng, người vợ chỉ ựược hành xử nghề nghiệp riêng biệt trừ khi chồng phản kháng (điều 142 Bộ Dân luật 1972)
Do ựó, chế ựộ hôn nhân và gia ựình ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng
là chế ựộ hôn nhân gia ựình phong kiến, tư sản nên những quy ựịnh của nó chỉ nhằm bảo vệ lợi ắch của giai cấp ựịa chủ phong kiến, tư sản
Luật hôn nhân và gia ựình 1986
Sau thắng lợi lịch sử 30/4/1975 giải phóng miềm Nam, nước ta chuyển sang một giai ựoạn mới, giai ựoạn cả nước ựộc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước thống nhất ựòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật thống nhất ựể áp dụng trong cả nước Chắnh việc yêu cầu này, ngày 2/7/1976 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kỳ họp thứ nhất ựã ra Nghị quyết về tổ chức và hoạt ựộng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong khi chưa có Hiến pháp mới, phải hoạt ựộng trên cơ sở Hiến pháp 1959 Thi hành Nghị quyết của Quốc hội, ngày 25/3/1977 Hội ựồng Chắnh phủ ựã ra Nghị quyết 76/CP quy ựịnh về việc thực hiện pháp luật thống nhất trên cả nước, trong ựó có Luật hôn nhân và gia ựình 1959 Ngày 18/12/1980 Quốc hội ựã thông qua bản Hiến pháp mới của Nhà nước ta, là nền tảng cho bước phát triển mới của Luật hôn nhân và gia ựình Việt Nam Hiến pháp lần này
ựã dành 4 ựiều ựể quy ựịnh về các nguyên tắc của chế ựộ hôn nhân và gia ựình mới
Sự ra ựời của Luật hôn nhân và gia ựình 1959 ựã ựạt ựược những thành tựu to lớn, góp phần ựáng kể trong việc xóa bỏ những tàn tắch lạc hậu của chế ựộ hôn nhân
và gia ựình phong kiến, những ảnh hưởng phóng ựãng, lãng mạn của chế ựộ tư bản Tuy nhiên do tình hình kinh tế, chắnh trị và xã hội nước ta có nhiều thay ựổi; hơn nữa Luật hôn nhân và gia ựình 1959 chưa thể hiện ựược ựầy ựủ phong tục tập quán của miền Nam, nên Luật hôn nhân và gia ựình 1959 cần ựược sửa ựổi sao cho phù hợp với
cả nước đó là những ựộng lực thúc ựẩy sự ra ựời của Luật hôn nhân và gia ựình 1986 thông qua ngày 29/12/1986 Trong ựó có dành riêng một chương ựể ựề cập ựến quyền
- Vợ, chồng có quyền tự do chọn nghề nghiệp chắnh ựáng, tham gia các công tác chắnh trị, kinh tế, văn hóa và xã hội (điều 12 LHN & Gđ 1986)
Trang 16- Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán (ðiều 13 LHN & Gð 1986)
- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản
mà vợ chồng ñược thừa kế chung hoặc ñược tặng cho chung (ðiều 14 LHN & Gð 1986)
- Tài sản chung ñược sử dụng ñể bảo ñảm những nhu cầu chung của gia ñình
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau ñối với tài sản chung Việc mua bán, ñổi, cho, vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ ñến tài sản mà có giá trị lớn thì phải ñược sự thỏa thuận của vợ, chồng (ðiều 15 LHN & Gð 1986)
So với Luật hôn nhân và gia ñình 1959, Luật hôn nhân và gia ñình 1986 ñã quy ñịnh chi tiết thêm và cụ thể hóa hơn chế ñộ hôn nhân và gia ñình Xóa bỏ hoàn toàn những tàn dư lạc hậu của chế ñộ hôn nhân thời phong kiến, ảnh hưởng của chế ñộ tư bản, góp phần giải phóng phụ nữ
Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000
Mặc dù Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 ñược ñánh giá cao, vì ñã khẳng ñịnh ñược vị trí của người vợ trong gia ñình Tuy nhiên nó chưa thật sự vững vàng, chỉ mới là bước khởi ñầu cho sự nghiệp thống nhất ñất nước và giải phóng phụ nữ Cho nên ñể ñáp ứng với tình hình thực tế về kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị mới Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ra ñời
So với Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986, Luật hôn nhân và gia ñình năm
2000 ñã quy ñịnh cụ thể thêm nhiều vấn ñề mà trong Luật hôn nhân và gia ñình 1986 không ghi hoặc chưa ñược cụ thể hóa
Vợ chồng bình ñẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia ñình (ðiều 19 LHN & Gð 2000)
Như vậy, cụm từ “vợ chồng bình ñẳng” là quy ñịnh tiến bộ vượt trội mà Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 chưa ñề cập ñến
Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy ñịnh tiến bộ của Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986, khẳng ñịnh vai trò của người vợ trong ñời sống sinh hoạt vợ chồng, xây dựng gia ñình bình ñẳng, tránh ảnh hưởng tiêu cực theo lối sống thực dụng là mặt trái của nền kinh tế thị trường ñối với quan hệ vợ chồng Các quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 bảo ñảm bình ñẳng vợ chồng, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt (ðiều 19 LHN & Gð
Trang 172000), bình ñẳng ñối với tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi người (ðiều 27 - ðiều 33 LHN & Gð 2000), bình ñẳng về các quyền nhân thân (ðiều 18 LHN & Gð 2000) Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ñã góp phần xây dựng, cũng
cố gia ñình Việt Nam, phát huy những giá trị ñạo ñức truyền thống tốt ñẹp của dân tộc, từng bước xoá bỏ những tập tục lạc hậu, chống những ảnh hưởng xấu, tàn tích của chế
ñộ hôn nhân và gia ñình phong kiến
1.2.3 Tiếp tục khẳng ñịnh quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu bình ñẳng giới, hội nhập khu vực và quốc tế
Như chúng ta biết, vừa qua Việt Nam ñã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, ñồng thời là thành viên không thường trực của Hội ñồng bảo an Liên Hợp Quốc Những thách thức ñó ñòi hỏi Việt Nam phải ñẩy mạnh ñể theo kịp tiến trình hội nhập Và dĩ nhiên không chỉ riêng lĩnh vực chính trị mà còn phát triển cả khía cạnh hôn nhân gia ñình Vì hiện nay Việt Nam ñã tham gia một số công ước của Liên Hợp Quốc, ñặc biệt là công uớc của Liên Hợp Quốc và pháp luật Việt Nam về xoá bỏ phân biệt ñối xử với phụ nữ (CEDAW) ñược toàn thể xã hội nổ lực thực hiện Cho nên vấn ñề bình ñẳng vợ chồng càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta ñang bước vào giai ñoạn mới của tiến trình ñổi mới, khi chúng ta thực hiện mục tiêu
mở rộng giao lưu, hợp tác trên nhiều lĩnh vực
Công ước CEDAW ñã dành ðiều 16 ñể ñề cập quyền bình ñẳng của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân gia ñình với mục ñích xoá bỏ mọi sự phân biệt ñối xử với phụ
nữ Ngoài ra công ước CEDAW khuyến nghị các nước thành viên ñưa ra và thực hiện các biện pháp nhằm ñẩy mạnh trên thực tế sự bình ñẳng nam nữ, xoá bỏ sự phân biệt ñối xử với phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực và ðiều 16 ñặc biệt chú trọng ñến quan hệ hôn nhân và gia ñình Tuy nhiên, nhiều quốc gia thành viên ñã bảo lưu ðiều 16 vì coi quan hệ hôn nhân và gia ñình là vùng riêng tư mà Nhà nước không nên hoặc cũng chưa ñiều chỉnh ñược, ñó chính là các quốc gia chịu sự tác ñộng mạnh mẽ nhất của hệ
tư tưởng truyền thống, hệ thống tôn giáo hay các phong tục, tập quán mang nặng ñịnh kiến giới và bất bình ñẳng vợ chồng Trong lĩnh vực này Việt Nam ñã ñưa ra một số biện pháp có tính chất chiến lược cũng như những biện pháp ñặc biệt tạm thời nhằm chống lại ñịnh kiến giới ñối với người vợ và bảo vệ họ Quy ñịnh quyền bình ñẳng vợ chồng thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc xoá bỏ mọi hình thức ñối xử tệ bạc ñối với thân phận của người vợ, là câu trả lời ñầy ñủ nhất về các khuyến nghị của Uỷ ban CEDAW với Việt Nam trong việc thực hiện công ước CEDAW.6
6
Công ước của Liên Hiệp Quốc và Pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt ñối xử với phụ nữ, NXB Chính trị QGHN, 2004, Tr 356
Trang 18Việc xây dựng các quy ñịnh về quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 góp phần khẳng ñịnh với thế giới là vấn ñề quyền con người ở Việt Nam ñược tôn trọng ñầy ñủ, ñặc biệt trong lúc Việt Nam là nước chủ nhà ñăng cai hội nghị APEC vào năm 2006 mà vấn ñề bình ñẳng cũng là một vấn ñề ñược APEC quan tâm
Tóm lại, việc ban hành chế ñịnh quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là cần thiết, khẳng ñịnh tính ưu việt của chế ñộ xã hội chủ nghĩa, sự quan tâm của ðảng và Nhà nước trong tiến trình hội nhập ðồng thời khẳng ñịnh quyết tâm của Việt Nam trong vấn ñề hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 19CHƯƠNG 2
QUYỀN BÌNH ðẲNG GIỮA VỢ CHỒNG THEO QUY ðỊNH CỦA LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ðÌNH VIỆT NAM HIỆN HÀNH
ðể khởi ñầu cho hành trình hôn nhân, trước tiên nam và nữ phải trải qua một nghi thức mà pháp luật về hôn nhân và gia ñình gọi là ñăng ký kết hôn ðể thỏa mãn ñiều kiện kết hôn, tại ðiều 9 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ñã quy ñịnh cụ thể Trong ñó tại ðiều 9 khoản 2 ghi nhận “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết ñịnh, không bên nào ñược ép buộc, lừa dối bên nào; không ai ñược cưỡng ép hoặc cản trở” Theo ñó, cả nam lẫn nữ ñều có ñược quyền tự lựa chọn người ñể bước vào hôn nhân, tự do quyết ñịnh chuyện hôn nhân và hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện và ñây cũng là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của Luật hôn nhân và gia ñình năm 1959, Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 nhằm xóa bỏ hoàn toàn chế ñộ hôn nhân cưỡng ép dưới thời phong kiến và xây dựng chế ñộ hôn nhân gia ñình mới xã hội chủ nghĩa “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng,
vợ chồng bình ñẳng” (ðiều 2 Luật hôn nhân gia ñình năm 2000)
Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện và cuộc sống gia ñình chỉ thật
sự hạnh phúc khi ñược xây dựng trên cơ sở hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam nữ
Sự cưỡng ép, cản trở từ phía gia ñình, xã hội ñều không thể mang lại hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng Các ñiều luật ñều thể hiện sự tôn trọng tình yêu nam nữ, coi sự tự nguyện, bình ñẳng trong tình yêu nam nữ là nền tảng của hôn nhân
Nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân ñược ghi nhận trong rất nhiều văn bản chứ không chỉ trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000
- Xử lý dân sự: Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn trong trường hợp hôn nhân
vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc ñề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Xử lý hành chính: Theo ñiểm a và ñiểm c ðiều 7 Nghị ñịnh số 87/2001/Nð -
CP “phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50000 ñồng ñến 200000 ñồng ñối với các hành vi sau ñây: cưỡng ép hoặc cản trở người khác kết hôn, ly hôn bằng cách hành hạ, ngược ñãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ ñoạn khác; cản trở người khác kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược ñãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ ñoạn khác
- Xử lý hình sự: ðiều 146 BLHS năm 1999 quy ñịnh “người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược ñãi, uy hiếp tinh
Trang 20thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ ñoạn khác ñã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ ñến 3 năm hoặc phạt
tù từ 3 tháng ñến 3 năm”
Ngoài ra ðiều 12 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 chỉ ñịnh nơi ñăng ký kết hôn là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn Nếu trước kia quan hệ vợ chồng chỉ ñược thiết lập từ tiệc cưới thì nay thủ tục ñăng ký kết hôn ñược bổ sung trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ðây là ñiểm tiến bộ của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 so với Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 Trong khung cảnh của luật thực ñịnh, việc ñăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là ñiều kiện ñể quan hệ hôn nhân ñược pháp luật thừa nhận Do ñó, bằng chứng duy nhất về hôn nhân là giấy chứng nhận ñăng ký kết hôn do cơ quan có thẩm quyền cấp “Nam, nữ không ñăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không ñược pháp luật công nhận là vợ chồng” (ðiều 11 khoản 1 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000) Như vậy, giấy chứng nhận kết hôn là căn cứ ñể vợ hoặc chồng có ñược quyền tranh tụng trước pháp luật ñể chống lại hành vi mà Luật hôn nhân và gia ñình cho là xấu xa của người bạn ñời Rõ ràng tư tưởng lạc hậu “trai năm thê bảy thiếp” không còn hiện hữu mà thay vào ñó là gia ñình một vợ một chồng, vợ chồng bình ñẳng, yêu thương và tiến bộ
2.1 Khái niệm về nghĩa vụ và quyền của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam7
Sự kiện kết hôn ñã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân
và các nghĩa vụ và quyền về tài sản, trong ñó có nghĩa vụ và quyền về nhân thân là nội dung chủ yếu trong quan hệ vợ chồng Các nghĩa vụ và quyền này ñược pháp luật bảo
hộ
Xuất phát từ mục ñích của việc xác lập quan hệ hôn nhân (Vợ chồng) dưới chế
ñộ ta là nhằm xây dựng gia ñình no ấm, bình ñẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững
Do ñó, Luật hôn nhân và gia ñình khi ñiều chỉnh các quan hệ vợ chồng ñã dựa trên các nguyên tắc tiến bộ - bình ñẳng Các nguyên tắc ñó thể hiện rõ nét trong các nghĩa vụ
và quyền về nhân thân và về tài sản giữa vợ chồng ðây là ñiểm khác biệt cơ bản nhất, thể hiện sự tiến bộ của chế ñộ hôn nhân và gia ñình mới xã hội chủ nghĩa
Ở nước ta trước cách mạng tháng Tám (1945), pháp luật của Nhà nước thực dân phong kiến ñiều chỉnh quan hệ giữa vợ và chồng thể hiện sự bất bình ñẳng Pháp
7 Giáo trình Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam, Trường ðại học Luật Hà Nội, NXB-CAND, 2006, Tr 127
Trang 21luật thời kỳ ựó quan tâm bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng mà không quan tâm bảo vệ quyền lợi của người vợ Trong gia ựình, người vợ luôn phải phụ thuộc vào chồng và phục tùng chồng Thuyết Ộtam tòng, tứ ựứcỢ và quan niệm Ộthuyền theo lái, gái theo chồngỢ ựã phản ánh một cách ựầy ựủ và rõ nét sự bất bình ựẳng ựó Người ựàn bà khi lấy chồng phải có bổn phận ở chung với chồng, muốn làm nghề gì phải ựược chồng cho phép, nếu chồng không cho phép thì phải ựược Chánh tòa sở tại giải trừ sự phản ựối của chồng
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra ựời Hiến pháp ựầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) ựã khẳng ựịnh quyền bình ựẳng giữa nam và nữ điều 9 Hiến pháp quy ựịnh: đàn bà ngang quyền với ựàn ông về mọi phương diện đây là cơ sở pháp lý ựầu tiên khẳng ựịnh quyền bình ựẳng giữa nam và nữ và cũng chắnh là cơ sở pháp lý xác nhận quyền bình ựẳng giữa vợ chồng Trong quá trình phát triển của xã hội và sự lớn mạnh của ựất nước, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta ngày càng hoàn thiện nhằm xây dựng và cũng cố chế ựộ xã hội văn minh, hiện ựại và phục vụ lợi ắch của quần chúng nhân dân lao ựộng
Nghĩa vụ và quyền của vợ chồng ựược pháp luật hôn nhân và gia ựình quy ựịnh xuất phát từ những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ựã ựược ghi nhận trong Hiến pháp - ựạo luật cơ bản của Nhà nước ta Với tư cách là công dân, vợ chồng có ựầy ựủ các quyền và nghĩa vụ này Bên cạnh ựó, vợ chồng còn có các quyền và nghĩa
vụ với nhau, với gia ựình và xã hội
Nghĩa vụ và quyền của vợ chồng bao gồm nghĩa vụ và quyền về nhân thân và nghĩa vụ và quyền về tài sản Thực hiện những quyền và nghĩa vụ ựó là nhằm bảo ựảm thỏa mãn những nhu cầu tình cảm và vật chất trong ựời sống vợ chồng, bảo ựảm lợi ắch chung của gia ựình và xã hội Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng mang yếu tố tình cảm, là lợi ắch tinh thần giữa vợ và chồng gắn liền với bản thân vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân Những nghĩa vụ và quyền này xuất phát từ những chuẩn mực ựạo ựức, cách ứng xử mang tắnh tự nhiên và truyền thống giữa vợ và chồng Như vậy, các nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng vốn ựã nảy sinh
từ trước, ựược coi như nghĩa vụ về ựạo ựức và sau này ựược pháp luật quy ựịnh nên trở thành nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng gắn liền với nhân thân của vợ chồng mà không thể chuyển giao cho người khác Chỉ với tư cách là vợ chồng của nhau thì họ mới có các quyền và nghĩa vụ ựó mà thôi
Nội dung của nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng là những lợi ắch tinh thần, tình cảm, không mang nội dung kinh tế và cũng không phụ thuộc vào yếu tố tài sản Các nghĩa vụ và quyền ựó bao gồm cả tình yêu, sự hòa thuận, sự tôn trọng lẫn
Trang 22nhau, việc xử sự trong gia ñình, quan hệ ñối với cha mẹ, các con và những thành viên trong gia ñình Việc thực hiện các nghĩa vụ và quyền về nhân thân giữa vợ chồng nhằm bảo ñảm thỏa mãn nhu cầu tình cảm trong ñời sống vợ chồng Vì vậy, khi ñiều chỉnh những quan hệ ñó phải kết hợp giữa các quy ñịnh của pháp luật với những quy tắc ñạo ñức và lẽ sống trong xã hội Các quy ñịnh của pháp luật về nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng chỉ là những nghĩa vụ và quyền cơ bản Trong thực tế, vợ chồng thực hiện các nghĩa vụ và quyền nhân thân với nhau ña dạng và phong phú hơn nhiều ðiều ñó hoàn toàn phù hợp bởi pháp luật không thể ñiều chỉnh toàn diện hết mọi mối quan hệ trong xã hội
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân còn có các quyền và nghĩa vụ về tài sản
Quyền và nghĩa vụ về tài sản vợ chồng ñóng vai trò hết sức quan trọng trong ñời sống gia ñình, mang những nét ñặc trưng gắn liền với nhân thân của vợ chồng Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng bao gồm quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế tài sản Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng là cơ sở kinh tế bảo ñảm cho gia ñình thực hiện tốt các chức năng xã hội Các quyền và nghĩa vụ ñó còn nhằm ñáp ứng nhu cầu vật chất của vợ chồng, bảo ñảm cho
vợ chồng thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân với nhau và thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ ñối với con cái
Quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng ñược quy ñịnh tại chương III ðiều 18 ñến ðiều 33 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 Thông qua các ñiều luật ñó cho thấy hệ thống pháp luật của Nhà nước ta ñã khẳng ñịnh quyền bình ñẳng của vợ chồng về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Nhưng “bình ñẳng về mặt pháp luật vẫn chưa phải là bình ñẳng trong thực tế ñời sống” Vì vậy, khi Nhà nước ta ñã thừa nhận quyền bình ñẳng của vợ chồng thì tất yếu cũng ñặt ra nhiều biện pháp ñể tạo ñiều kiện cho quyền bình ñẳng ñó trở thành hiện thực Hiện nay, Nhà nước ta ñã có nhiều chính sách
và biện pháp bảo ñảm cho phụ nữ ñược tham gia vào các công việc xã hội, tham gia vào các nhà máy, công sở và tham gia vào hoạt ñộng quản lý nhà nước như: tăng cường mạng lưới dịch vụ, mở rộng hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo, quy ñịnh cụ thể về chế
ñộ lao ñộng nữ… Tất cả các biện pháp trên có vai trò rất lớn trong việc tạo ñiều kiện thuận lợi cho phụ nữ ñược bình ñẳng với nam giới Bởi vì, muốn triệt ñể giải phóng phụ nữ, muốn cho họ thật sự bình ñẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải ñể cho phụ nữ tham gia lao ñộng sản xuất chung ðồng thời, các biện pháp ñó có vai trò quan trọng trong việc tạo ñiều kiện cho cả vợ và chồng sử dụng ñầy
Trang 23ñủ nhất các quyền của họ, bảo ñảm quyền bình ñẳng thực sự trong quan hệ hôn nhân
và gia ñình
2.2 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
2.2.1 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong quan hệ nhân thân
Trước cách mạng tháng Tám (1945), luật pháp phong kiến và chế ñộ thực dân
ñề cao quyền gia trưởng của người chồng, duy trì sự bất bình ñẳng và coi rẻ người phụ
nữ Khi lấy chồng, người phụ nữ phụ thuộc hoàn toàn vào chồng “Thuyền theo lái, gái theo chồng”, toàn tâm, toàn ý theo mệnh lệnh của người chồng, thậm chí là cả con trai
ñể tuân thủ theo ñức tam tòng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu và phu tử tòng tử” Người phụ nữ thời ñó khi ñã lấy chồng muốn ñi ñâu, làm gì phải xin ý kiến chồng
Ngay khi Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, ðảng và Nhà nước ta ñã chú trọng tới vấn ñề bình ñẳng giới cũng như bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ Bình ñẳng các quyền về nhân thân là vấn ñề quan trọng cần ñề cập
ðiều 19 LHN & Gð 2000 quy ñịnh: “vợ chồng bình ñẳng với nhau, có nghĩa
vụ và quyền hạn ngang nhau về mọi mặt trong gia ñình” Trên cơ sở quy ñịnh về quyền bình ñẳng giữa nam và nữ, Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 khẳng ñịnh quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong gia ñình Quyền bình ñẳng ñó thể hiện trong việc vợ chồng cùng nhau bàn bạc và quyết ñịnh về các vấn ñề liên quan ñến ñời sống, sinh hoạt chung của gia ñình Quy ñịnh này cũng hoàn toàn phù hợp với ðiều 40 BLDSVN 2005 ðể góp phần hoàn thiện tinh thần này của luật, Nghị ñịnh số 32/2002/Nð - CP của Chính phủ cũng ghi nhận vấn ñề bình ñẳng vợ chồng ñối với các dân tộc thiểu số Trong gia ñình, vợ và chồng bình ñẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt ðồng thời, các dân tộc có quan hệ gia ñình theo chế
ñộ phụ hệ hay mẫu hệ với các phong tục tập quán không ñảm bảo quyền bình ñẳng vợ chồng, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Mặt trận tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản, các vị Chức sắc tôn giáo vận ñộng, thuyết phục người dân từng bước xóa bỏ sự bất bình ñẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ gia ñình, bảo ñảm vợ, chồng có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ðiều này khẳng ñịnh ðảng và Nhà nước cũng như Chính phủ rất chú trọng ñến quyền bình ñẳng vợ chồng, áp dụng thống nhất Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 trên tất cả các vùng miền ñất nước
2.2.1.1 Tình nghĩa vợ chồng
Tư tưởng “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng” vẫn còn len lõi vào suy nghĩ của một số người Cho nên trong quan hệ vợ chồng, hành vi ngoại
Trang 24tình rất dễ xảy ra ở phắa người chồng Song, ở khắa cạnh khác lại cần thấy tâm lý và cách xử sự nhún nhường, nhẫn nhục ựã trói buộc chắnh người vợ, làm cho người chồng thiếu hoặc không tôn trọng vợ, dẫn ựến việc người chồng có thể vẫn tiếp tục hành vi ngoại tình để triệt tiêu tận gốc tàn tắch phong kiến lỗi thời bất công với người
vợ, Luật hôn nhân và gia ựình năm 2000 quy ựịnh Ộvợ chồng chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp ựỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia ựình no ấm, bình ựẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vữngỢ đây là ựiểm tiến bộ so với Luật hôn nhân và gia ựình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia ựình năm 1986 đồng thời khẳng ựịnh truyền thống ựạo ựức tốt ựẹp của dân tộc ta về quan hệ hôn nhân
Mục ựắch của hôn nhân dưới chế ựộ xã hội chủ nghĩa là xây dựng gia ựình no
ấm, bình ựẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững để hôn nhân ựạt ựược mục ựắch ựó thì ựiều cơ bản là hai người trong quan hệ hôn nhân phải yêu thương nhau, chung thủy với nhau, quý trọng, chăm sóc giúp ựỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
Vắ dụ: Khi A và B kết hôn với nhau, dù trước kia A là một chàng trai hào hoa, bay bướm nhưng khi ựã xác lập mối quan hệ vợ chồng với B thì A phải có bổn phận chung thủy và thương yêu B Và về phắa B cũng vậy, cả hai vợ chồng ựều phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau
Cơ sở xác lập quan hệ vợ chồng là tình yêu thương giữa nam và nữ Khi nam
nữ yêu thương nhau, hiểu nhau, thông cảm cho nhauẦ thì họ quyết ựịnh xác lập quan
hệ hôn nhân và trở thành vợ chồng của nhau Khi ựã trở thành vợ chồng, tình cảm yêu thương ựó vẫn ựược duy trì trong suốt thời kỳ hôn nhân đó không chỉ ựòi hỏi về pháp luật mà còn là yêu cầu về ựạo ựức Bởi vì, Ộnếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới là hợp ựạo ựức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong ựó tình yêu ựược duy trì mới là hợp ựạo ựức mà thôiỢ Và cũng xuất phát từ tình yêu thương ấy mà vợ chồng giữ lòng chung thủy với nhau, tình cảm của họ trước sau như một Chắnh hai yếu tố ựó
ựã giúp cho vợ chồng chung sống hạnh phúc và là cơ sở ựể duy trì quan hệ hôn nhân bền vững
Sự quý trọng chăm sóc, giúp ựỡ nhau giữa vợ và chồng thể hiện ở hành vi, cách
xử sự và thái ựộ của họ ựối với nhau đó là sự yêu mến, tôn trọng nhau, giữ gìn danh
dự, uy tắn, nhân phẩm, lắng nghe ý kiến của nhau, quan tâm, ựộng viên lẫn nhau, tạo ựiều kiện thuận lợi ựể vợ và chồng phát huy khả năng của bản thân, thực hiện tốt hoạt ựộng nghề nghiệp và nhiệm vụ ựối với gia ựình và xã hội Vợ chồng phải tạo ựiều kiện cho nhau trong việc học tập, nâng cao trình ựộ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ Cấm mọi hành vi ngược ựãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, uy tắn, nhân phẩm của vợ, chồng
Trang 25ðặc biệt, vợ chồng cùng phải có ý thức chăm lo cho gia ñình, ñảm bảo cho gia ñình tồn tại và phát triển theo ñúng mục tiêu mà ðảng và Nhà nước ta ñã ñề ra và ñã ñược thể chế hóa trong ðiều 18 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là gia ñình “no
ấm, bình ñẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”
Hôn nhân là cơ sở của gia ñình, gia ñình là tế bào của xã hội Sự tồn tại hôn nhân hạnh phúc, bền vững tạo ñiều kiện cho sự phát triển hưng thịnh của xã hội ðể hôn nhân bền vững thì ñiều cơ bản nhất là vợ chồng phải thương yêu nhau, chung thủy với nhau, quý trọng, chăm sóc giúp ñỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Vợ chồng phải cùng nhau lao ñộng, cùng chăm lo, vun vén cho hạnh phúc gia ñình Tình yêu thương, lòng chung thủy giữa vợ và chồng là yếu tố quan trọng ñể ñảm bảo sự tồn tại bền vững của hôn nhân
Vợ, chồng quý trọng nhau, chăm sóc giúp ñỡ nhau, cùng xây dựng gia ñình không chỉ là nghĩa vụ về pháp lý mà còn là nghĩa vụ ñạo ñức Quy ñịnh trên một mặt khẳng ñịnh quyền bình ñẳng của vợ chồng, mặt khác là ngăn chặn hành vi ñánh ñập, xâm phạm thân thể nhân phẩm của nhau giữa vợ và chồng, hành vi quan hệ ngoài hôn nhân giữa những người có vợ, có chồng ðây là những hiện tượng còn xảy ra gây ảnh hưởng xấu tới quyền lợi của vợ chồng, của gia ñình và xã hội và là nguyên nhân chủ yếu dẫn ñến ly hôn hiện nay
Vợ chồng chung thủy, yêu thương, quý trọng lẫn nhau, cùng nhau ra sức chăm
lo xây dựng gia ñình no ấm, bình ñẳng là mục tiêu của cuộc hôn nhân chân chính mà ñôi bên nam nữ mong muốn ñạt ñến khi kết hôn với nhau
2.2.1.2 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc thực hiện quyền cha mẹ ñối với con
Quyền ñược làm cha mẹ
Quyền ñược làm cha mẹ là một quyền nhân thân quan trọng của con người, gắn liền với từng người và ñược pháp luật tôn trọng, bảo vệ và tạo ñiều kiện ñể vợ chồng cùng thực hiện quyền ñó Quyền làm cha mẹ gắn liền với những thiên chức tự nhiên của vợ và chồng, ñặc biệt là quyền mang thai, sinh con, nuôi con bằng sữa mẹ là một chức năng không thể thay thế ñược của người phụ nữ Thiên chức ñó của người mẹ luôn ñược pháp luật thừa nhận và bảo vệ vì nó ảnh hưởng ñến nòi giống của dân tộc
và nhân loại.8 Bên cạnh ñó, quyền làm cha của người chồng cũng có ý nghĩa quan trọng không kém Quyền bình ñẳng trong vai trò làm cha mẹ tại ðiều 11 khoản 2 của
dự thảo Luật nêu rõ về bình ñẳng giới có ñề cập “vợ ñẻ, chồng ñược nghĩ, nếu cặp vợ
8 Tạp chí Luật học số 3/2006, tr 56
Trang 26chồng ñó sinh một ñến hai con, ñúng với chính sách dân số của Nhà nước” ðiều này cũng rất hợp lý vì người phụ nữ khi mang thai ñến sinh con ñã phải hao tổn rất nhiều sức lực nên cần phải có sự chia sẽ giúp ñỡ của người chồng Việc sinh con, lựa chọn thời ñiểm sinh con, quyết ñịnh số con cũng như lựa chọn và thực hiện các biện pháp tránh thai… là quyền của vợ chồng, vợ chồng có quyền thỏa thuận với nhau về các biện pháp ñó Vợ chồng không ñược ép buộc nhau trong việc sinh con, sử dụng hay không sử dụng các biện pháp tránh thai
Ngoài ra, vợ chồng còn bình ñẳng với nhau về nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia ñình (ðiều 2 Khoản 3 LHN & Gð 2000) Hiện nay, Nhà nuớc ta ñang thực hiện cuộc vận ñộng “dân số và kế hoạch hóa gia ñình” Cho nên, vợ chồng phải cùng nhau tạo ñiều kiện cho nhau thực hiện tốt nghĩa vụ này Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia ñình còn ñược quy ñinh rải rác trong rất nhiều văn bản luật ðiều 17 Khoản 1 Nghị ñịnh 104 /2003/Nð - CP của Chính phủ ghi nhận “quyền
và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân không thể tách rời nhau trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia ñình Mỗi cặp vợ chồng, cá nhân có trách nhiệm thực hiện quyền và phải làm tròn nghĩa vụ của mình ñối với Nhà nước và xã hội” Luật bình ñẳng giới vừa ñược ban hành gần ñây cũng dành ðiều 18 khoản 3 ñể ñề cập ñến quyền bình ñẳng vợ chồng trong vấn ñề kế hoạch hóa gia ñình
Như vậy, quyền có con gắn liền với nghĩa vụ của vợ chồng trong việc thực hiện
kế hoạch hóa gia ñình Vợ chồng có nghĩa vụ như nhau trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia ñình Vợ chồng có quyền quyết ñịnh số con, khoảng cách giữa các lần sinh, có quyền lựa chọn, sử dụng các biện pháp tránh thai, ñồng thời có nghĩa vụ thực hiện quy
mô gia ñình ít con Vợ chồng có nghĩa vụ như nhau trong việc bảo vệ sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng cho bản thân cũng như cho vợ hoặc chồng mình
Ví dụ: Chồng không ñược vì lợi ích của bản thân ham muốn con trai ñể nối giõi nên
cứ ép buộc vợ phải sinh con
Mặc khác, quyền bình ñẳng giữa vợ chồng còn ñược thiết lập trên cơ sở nhận nuôi con nuôi Quyền ñược nuôi con nuôi là một quyền nhân thân của cá nhân và bình ñẳng ñối với cả nam giới và phụ nữ
ðiều có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận nuôi con nuôi là nó tạo ra khả năng thực hiện quyền làm cha làm mẹ của người nhận nuôi ñồng thời ñảm bảo ñược lợi ích của trẻ em ñược nhận làm con nuôi Quyền dược làm cha mẹ luôn luôn là một quyền quan trọng không chỉ ñối với người phụ nữ mà còn cả ñối với người nam giới Việc nhận nuôi con nuôi chứng minh khả năng làm cha của người ñàn ông, khả năng làm
mẹ của người phụ nữ
Trang 27Quyền và bổn phận của cha mẹ trong việc nuôi dạy con
Khi ñứa trẻ chào ñời, niềm vui của các bậc cha mẹ là ñược ñi ñăng ký khai sinh cho con ðiều 3 Nghị ñịnh 374/ HðBT ngày 11 tháng 11 năm 1991 cho phép vợ chồng cùng nhau thỏa thuận ñặt tên cho con “ trẻ em ñược quyền khai sinh theo họ cha hoặc mẹ”
Ví dụ: Chị Hà và anh Tuấn sinh ñược một ñứa con trai ñầu lòng, khi ñi ñăng ký khai sinh cho con, anh Tuấn phải thỏa thuận với chị Hà về cái tên của ñứa nhỏ
Tiếp ñó cha mẹ có nghĩa vụ nuôi con thành công dân có ích cho xã hội (ðiều 2 Khoản 4 LHN & Gð 2000) Do ñó, vợ chồng ñều bình ñẳng với nhau trong việc trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, tạo ñiều kiện cho con ñược sống trong môi trường gia ñình lành mạnh Cha mẹ phải yêu thương con, tôn trọng ý kiến của con, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, quan tâm cho sự phát triển của con về thể chất, trí tuệ và ñạo ñức ñể con trở thành người con hiếu thảo của gia ñình và là công dân có ích cho xã hội Nuôi dạy con không chỉ là nghĩa vụ của vợ chồng ñối với con
mà còn là nghĩa vụ của họ trước Nhà nước và xã hội trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ - tương lai của ñất nước ðồng thời, khi con cái có hành vi trái pháp luật mà gây ra thiệt hại thì cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra, nếu cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng của con ñể bồi thường; con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình ñối với các thiệt hại
do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường Vì vậy, vợ chồng phải cùng chịu trước pháp luật khi họ không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.9
2.2.1.3 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc yêu cầu ly hôn
Dưới thời phong kiến, dù người chồng có ngược ñãi ñến ñâu thì người vợ cũng vẫn phụ thuộc vào người chồng Nếu người phụ nữ bỏ chồng thì phải chịu áp lực nặng
nề, bị dư luận xã hội lên án mà có khi ngay cả chính gia ñình, họ hàng xa lánh Dưới chế ñộ xã hội chủ nghĩa, vợ chồng bình ñẳng nhau về mọi mặt kể cả quyền ly hôn
Quyền ly hôn là quyền nhân thân của vợ và chồng, chỉ có vợ, chồng, hoặc cả hai vợ chồng quyết ñịnh mà không ai có quyền ép buộc, cưỡng ép hoặc cản trở Tình yêu giữa nam và nữ là cơ sở là nền tảng ñể ñi ñến hôn nhân Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống, nếu tình yêu giữa vợ chồng không còn, dẫn ñến vợ chồng không thể tiếp tục chung sống thì cả vợ và chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ
9 Giáo trình Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam, Trường ðại học Luật Hà Nội, NXB-CAND, 2006, tr 134
Trang 28ñược ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật (ðiều 55 Khoản1 LHN
& Gð 2000)
Tuy nhiên xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, pháp luật quy ñịnh hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ ñang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (ðiều 85 Khoản 2 LHN & Gð 2000) Việc hạn chế này không phụ thuộc vào việc “Người vợ có thai với ai hoặc bố của ñứa trẻ dưới
12 tháng tuổi là ai” ðiều hạn chế này chỉ ñặt ra ñối với người chồng, không áp dụng ñối với yêu cầu ly hôn của người vợ
ðảm bảo quyền yêu cầu ly hôn của người vợ, chồng, pháp luật quy ñịnh hai trường hợp ly hôn: ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu và ly hôn do thuận tình Trong cả hai trường hợp ñó, việc giải quyết ly hôn ñều phải dựa trên cơ sở căn cứ ly hôn ñược quy ñịnh tại ðiều 89 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 Chỉ khi có căn cứ
ly hôn mới phản ánh ñúng sự thật khách quan của quan hệ vợ chồng, do ñó việc giải quyết ly hôn mới chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích chính ñáng của vợ, chồng, ngoài
ra còn hạn chế sự tan vở của gia ñình khi chưa xứng ñáng xảy ra ðây là một trong những quy ñịnh thể hiện sâu sắc tính nhân bản và tiến bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung pháp luật về hôn nhân gia ñình nước ta
2.2.1.4 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc ñại diện cho nhau trước pháp luật
ðại diện cho nhau giữa vợ và chồng là quy ñịnh mới trong Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 mà trước ñây Luật hôn nhân và gia ñình năm 1986 chưa ñề cập Trong giao lưu dân sự, phần lớn các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch Tuy nhiên, cũng có trường hợp vì nhiều lý do như bệnh tật, ốm ñau, ñiều kiện công tác
mà một người cần người khác thay mình thực hiện công việc, ta gọi quan hệ ñó là quan hệ ñại diện Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 quy ñịnh vấn ñề ñại diện cho nhau giữa vợ và chồng trên cơ sở phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2005
Quy ñịnh tại ðiều 24 khoản 1 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 “vợ chồng
có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy ñịnh của pháp luật phải có sự ñồng ý của cả vợ chồng; việc ủy quyền phải ñược lập thành văn bản” là quan hệ ñại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng Vợ chồng có thể ñại diện cho nhau ñể xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch mà theo quy ñịnh của pháp luật phải có sự ñồng ý của cả vợ chồng Quy ñịnh này thể hiện mối quan hệ bình ñẳng giữa vợ và chồng trong các giao dịch mà pháp luật quy ñịnh phải có sự ñồng ý của cả vợ chồng, nếu như trước kia trong gia ñình chỉ có người chồng mới có quyền xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự, thì ngày nay người vợ hoàn toàn
Trang 29có quyền ñại diện cho chồng thực hiện các giao dịch dân sự ñó ðịa vị pháp lý của vợ chồng là hoàn toàn bình ñẳng Tuy nhiên, ñại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng phải ñược lập thành văn bản Những giao dịch dân sự mà pháp luật quy ñịnh phải có
sự ñồng ý của cả vợ và chồng thường là những giao dịch liên quan ñến tài sản chung của vợ chồng, có giá trị lớn như ñất ñai, nhà ở tác ñộng nhiều ñến ñời sống chung của gia ñình Do vậy, khi vợ chồng ủy quyền cho nhau thực hiện các giao dịch ñó cần thiết hai bên phải lập văn bản ủy quyền, có chữ ký của người ủy quyền và người ñược ủy quyền, nhằm xác nhận sự tự nguyện của hai bên, ñồng thời, ghi nhận trách nhiệm của người ñại diện trong phạm vi công việc ñược ủy quyền
Vấn ñề ñại diện theo pháp luật giữa vợ và chồng cũng ñược ñặt ra tại ðiều 24 khoản 2: Vợ, chồng ñại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có ñủ ñiều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự mà bên kia ñược Tòa án chỉ ñịnh làm người ñại diện theo pháp luật cho người ñó Khi vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, thì người kia nếu có ñiều kiện sẽ ñương nhiên trở thành người giám hộ cho người ñó, hoặc khi một người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà người kia ñược Tòa án chỉ ñịnh làm người ñại diện thì sẽ làm người ñại diện cho vợ hoặc chồng mình
Ví dụ: Anh Hải bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nên mọi giao dịch liên quan ñến gia ñình và anh Hải ñều do Chị Hạnh (vợ anh) quyết ñịnh
Việc quy ñịnh vợ, chồng có thể ñại diện cho nhau cho thấy một lần nữa Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 khẳng ñịnh vai trò, vị trí như nhau của người chồng và người vợ trong gia ñình, cũng như ngoài xã hội Người chồng không còn là người gia trưởng trong gia ñình, ñại diện và chỉ huy mọi hoạt ñộng của vợ mà người vợ có quyền ñại diện cho chồng làm người giám hộ khi chồng mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm người ñại diện theo pháp luật cho chồng khi Tòa án chỉ ñịnh do chồng bị hạn chế năng lực hành vi Quy ñịnh này hoàn toàn ñúng ñắn và phù hợp; bởi vì, trong gia ñình, quan hệ vợ chồng ñược xác lập trên cơ sở tình yêu, sự tự nguyện và bình ñẳng giữa hai bên Do vậy, họ có thể là chỗ dựa tin cậy cho nhau khi người kia không ñủ năng lực hành vi dân sự ñể thực hiện giao dịch Quy ñịnh này một lần nữa ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng với nhau trong việc thực hiện giao dịch dân sự vì mục tiêu duy trì ñời sống chung của gia ñình
2.2.1.5 Quyền bình ñẳng giữa vợ chồng trong việc lựa chọn nơi cư trú Trước ñây, trong xã hội thực dân phong kiến, người phụ nữ khi ñi lấy chồng hoàn toàn phụ thuộc vào chồng cho nên chỗ ở của vợ chồng cũng do người chồng quyết ñịnh “thuyền theo lái, gái theo chồng” Quan ñiểm này không còn phù hợp với