1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUY CHẾ PHÁP lý về HOẠT ĐỘNG CHO VAY của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP

69 206 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Dựa trên cơ sở tìm hiểu những quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng để từ đó có thể thấy được những hạn chế còn tồn tại trong hoạt độn

Trang 1

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI _

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ngụy Ngọc Anh Danh Hoàng Thái

MSSV: 5095556 Lớp: Tư Pháp 2

CẦN THƠ - 5/2013

Trang 2



Trang 3



Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục luận văn 2

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHO VAY 4

1.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại 4

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại 5

1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Thương mại 6

1.1.3 Chức năng của Ngân hàng Thương mại 7

1.1.3.1 Trung gian tín dụng 7

1.1.3.2 Trung gian thanh toán và tạo phương tiện thanh toán 8

1.1.3.3 Tạo ra tiền trong hệ thống ngân hàng và cho nền kinh tế 9

1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại 10

1.2.1 Khái niệm về cho vay 10

1.2.2 Phân loại cho vay 11

1.2.2.1 Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay 11

1.2.2.2 Căn cứ vào hình thức đảm bảo 12

1.2.2.3 Căn cứ vào thời gian cho vay 13

1.2.3 Vai trò hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế 14

1.2.3.1 Tập trung vốn của nền kinh tế 14

1.2.3.2 Cung cấp vốn 15

1.2.3.3 Là một công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô 15

Trang 5

1.2.4.1 Thuộc về bản thân ngân hàng 15

1.2.4.2 Sự phát triển của nền kinh tế 17

1.2.4.3 Hệ thống pháp luật 17

Chương 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 19

2.1 Quy định chung về điều kiện chủ thể 19

2.1.1 Ngân hàng Thương mại 19

2.1.1.1 Điều kiện về tư cách chủ thể 19

2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng Thương mại 22

2.1.2 Khách hàng vay 23

2.1.2.1 Điều kiện về tư cách chủ thể 23

2.1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của khách hàng vay 27

2.2 Nguyên tắc cho vay 28

2.2.1 Sử dụng vốn vay đúng mục đích 28

2.2.2 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay 29

2.2.3 Có tài sản bảo đảm vốn vay 29

2.3 Thời hạn, phương thức cho vay và phương thức giải ngân, phương thức trả nợ gốc và lãi suất 32

2.3.1 Thời hạn cho vay 32

2.3.2 Phương thức cho vay 33

2.3.3 Phương thức giải ngân, phương thức trả nợ gốc và lãi suất 35

2.3.3.1 Phương thức giải ngân 35

2.3.3.2 Phương thức trả nợ gốc và lãi suất 36

2.4 Hợp đồng cho vay 37

2.4.1 Hình thức hợp đồng 37

2.4.2 Nội dung hợp đồng 38

2.4.3 Thay đổi và hiệu lực hợp đồng 39

Trang 6

2.5.1 Giới hạn cho vay 41

2.5.2 Xét duyệt cho vay 42

2.5.3 Kiểm tra việc sử dụng vốn vay 42

2.6 Lãi suất và phí cho vay 43

2.6.1 Lãi suất 43

2.6.2 Phí cho vay 44

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 46

3.1 Thực trạng hoạt động cho vay và những hạn chế còn tồn tại 46

3.1.1 Thực trạng cho vay của Ngân hàng Thương mại 46

3.1.1.1 Các sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng 47

3.1.1.2 Tăng trưởng tín dụng ở mức khá 48

3.1.2 Những hạn chế còn tồn tại 48

3.1.2.1 Phương thức giải ngân không đúng quy định 48

3.1.2.2 Thanh toán nợ gốc và lãi suất còn bất cập 50

3.1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên chưa được đảm bảo 51

3.1.2.4 Pháp luật về đảm bảo tiền vay còn nhiều bất cập 52

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay 55

3.2.1 Về phương thức giải ngân 55

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về quy định lãi suất cho vay 55

3.2.3 Về quyền và nghĩa vụ của các bên 57

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay 58

KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU - -

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, lĩnh vực Ngân hàng được xem là lĩnh vực sôi động nhất trong nền kinh tế Hàng loạt các Ngân hàng Thương mại ra đời, theo đó ngân hàng cũng cạnh tranh với nhau rất mạnh mẽ từ mô hình tổ chức, cơ cấu nghiệp vụ, phát triển mạng lưới, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển các sản phẩm dịch vụ mới,… chính điều này đã góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, trở thành nền kinh tế huyết mạch trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nước nhà

Ngân hàng Thương mại có hoạt động gần gũi nhất với người dân và nền kinh

tế Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống Ngân hàng Thương mại cũng phát triển và trở thành trung gian tín dụng đưa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu đáp ứng nhu cầu về vốn của cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp Hầu như mọi cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp đều chịu tác động của ngân hàng, dù họ là khách hàng gửi tiền, một người vay, hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và

sử dụng các dịch vụ ngân hàng Nhờ vào các hoạt động của hệ thống ngân hàng mà nhu cầu sử dụng vốn để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất của các thành phần kinh

tế được đáp ứng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả

Trong các hoạt động của Ngân hàng Thương mại thì hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động cho vay có thời gian hoàn vốn dài ngắn khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu

sử dụng vốn của người đi vay và liên quan đến các điều kiện diễn biến trong tương lai nên độ rủi ro rất cao Cho nên muốn đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được thực hiên tốt và phát huy được hết những vai trò to lớn của hoạt động cho vay đối với nền kinh tế là không dễ dàng Hình thức của quan hệ cho vay được thể hiện thông qua hoạt động cấp tín dụng và cụ thể là hợp đồng tín dụng, ngày nay hợp đồng tín dụng được sử dụng rất phổ biến nhưng do thời buổi nền kinh tế thị trường luôn có

sự thay đổi mà những văn bản pháp lý hiện hành điều chỉnh không còn phù hợp nữa

Do đó, hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại vẫn còn nhiều vướng mắt như: sự bất cập về quy định trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay,

Trang 8

vấn đề bảo đảm tiền vay, giải ngân không phù hợp,… làm ảnh hưởng đến chất lượng cho vay và hoạt động của ngân hàng

Từ thực tế này cần có một giải pháp thiết thực, lâu dài và triệt để nhằm giúp cho người dân hiểu biết sâu rộng thêm về Ngân hàng Thương mại cũng như hạn chế những rủi ro xảy ra đáng tiếc trong quá trình giao dịch hợp đồng tín dụng Làm được điều này sẽ có ý nghĩa to lớn trong hoạt động cho vay và giúp hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng phát triển đúng hướng, lành mạnh và an toàn,… bảo vệ được lợi ích hợp pháp cho các bên chủ thể tham gia Xuất phát từ những lý do đó, người

viết đã chọn đề tài “Quy chế pháp lý về hoạt động cho vay của Ngân hàng

Thương mại_Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên cơ sở tìm hiểu những quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng để từ đó có thể thấy được những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động cho vay làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng cho vay của Ngân hàng Thương mại Đồng thời, qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực để giúp hoạt động cho vay của ngân hàng được chặt chẽ, rõ ràng, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của ngân hàng cũng như của khách hàng khi tham gia giao dịch

3 Phạm vi nghiên cứu

Người viết tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về điều kiện chủ thể, nguyên tắc cho vay, hợp đồng cho vay cũng như thời gian, giới hạn, phương thức cho vay, phương thức giải ngân và lãi suất, phí cho vay của Ngân hàng Thương mại đối với khách hàng vay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp như phân tích luật viết, các biện pháp liệt kê và để tạo sự dễ dàng cho người đọc người viết còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, diễn dịch, quy nạp để phân tích, chứng minh, giải thích vấn đề Tùy vào những trường hợp cụ thể mà áp dụng phương pháp phù hợp để tạo sự cân đối, hài hòa và mạch lạc trong từng vấn đề của luận văn

5 Bố cục luận văn

Nội dung của đề tài gồm ba chương:

Trang 9

Chương một: Khái quát chung về Ngân hàng Thương mại và các hoạt động cho vay

Trong chương này người viết sẽ trình bày các khái niệm chung nhất về Ngân hàng Thương mại và các hoạt động cho vay của ngân hàng, phân loại cho vay cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

Chương hai: Quy chế pháp lý về hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

Chương này người viết trình bày những quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động cho vay như về điều kiện về chủ thể, nguyên tắc cho vay, hợp đồng cho vay, giới hạn, thời gian, phương thức cho vay, phương thức giải ngân cũng như lãi suất và phí cho vay

Chương ba: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

Đây là chương mà người viết trình bày về thực trạng hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại, cũng như những thành tựu đạt được, sau đó tìm ra những bất cập còn tồn tại của pháp luật trong hoạt động cho vay không đạt hiệu quả Qua

đó, đề xuất những giải pháp để sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại và hạn chế được những rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động cho vay

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC

HOẠT ĐỘNG CHO VAY

1.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại

Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng gắn liền với quá trình và phát triển của tiền tệ Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, đáp ứng nhu cầu lưu thông, trao đổi hàng hóa, người ta đã sáng tạo ra tiền với vai trò là vật ngang giá chung Theo thời gian, sự xuất hiện của tiền tệ càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lưu thông hàng hóa Hoạt động trao đổi ngày càng phát triển, vượt ra khỏi phạm vi một vùng, một khu vực, quốc gia nhất định Các thương nhân có thể mang hàng hóa tiến hành trao đổi giữa các vùng lãnh thổ, khu vực khác nhau Do mỗi vùng, quốc gia có những hình thức tiền tệ khác nhau nên nảy sinh nhu cầu trao đổi tiền và các thương nhân đã chuyển đổi tiền tệ cho phù hợp với những vùng mà mình trao đổi hàng hóa,

từ đó tiền tệ trở thành vật ngang giá chung; để xác nhận dịch vụ trao đổi tiền tệ và lưu thông được các thương nhân nhận chuyển đổi tiền sẽ phát hành chứng thư mang bản chất của biên nhận gửi, giữ tiền tệ Những thương nhân này trở thành người đầu tiên kinh doanh tiền tệ,1 và đó cũng là tiền đề cho việc ra đời của Ngân hàng sau này

Nghề ngân hàng xuất phát đầu tiền ở miền Bắc Italia vào thời kỳ Trung cổ và người dân gọi nghề kinh doanh này là “Banco”.2 Quá trình phát triển của các mô hình ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với quá trình phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hóa, tiền tệ Và mãi đến cuối thế kỷ 17,3 mới xuất hiện ngân hàng lớn nhất thế giới, đó là ngân hàng Anh ở Luân Đôn Đánh dấu sự hoạt động có hiệu quả

và vai trò quan trọng của ngân hàng trong nền kinh tế

Ngày nay, ngân hàng là một trong những tổ chức kinh doanh quan trọng nhất,

và là một tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn bộ xã hội Thu nhập của ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Ngân hàng là một tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ,

trang 10

Trang 11

vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế - xã hội

Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng Thương mại thường chiếm tỉ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng Vì vậy, muốn hiểu rõ hơn về Ngân hàng Thương mại, ta phải hiểu được một số vấn đề liên quan về Ngân hàng Thương mại

1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại

Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng Thương mại, ở mỗi nước lại có một cách định nghĩa rất riêng và khác nhau Ở Mỹ, Ngân hàng Thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính Trong Đạo luật Ngân hàng của Pháp (1941) cũng định nghĩa: Ngân hàng Thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở

mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính.4 Còn ở Điều 3 Luật Ngân hàng Thương mại năm 1995 của Trung Quốc thì một Ngân hàng Thương mại có thể thực hiện một số hoặc tất cả các hoạt động kinh doanh ngân hàng.5 Tuy nhiên, cách tiếp cận được nhiều người đồng tình nhất về Ngân hàng Thương mại có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế

Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu khái niệm chung như sau: Ngân hàng Thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Ngân hàng Thương mại là một tổ chức trung gian tín dụng hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ ngân hàng

Ở nước ta theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tại Khoản 3 Điều 4 thì:

“Ngân hàng Thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động

ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Trang 12

Từ khái niệm đó ta có thể rút ra một số điểm đặc trưng sau:

- Ngân hàng Thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện các hoạt động ngân hàng Theo đó, hoạt động ngân hàng được quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật

các tổ chức tín dụng 2010: Hoạt động cho vay của ngân hàng là việc kinh doanh,

cung ứng thường xuyên một một số các nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

- Ngân hàng Thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời mà pháp luật không cấm

1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng Thương mại

Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn khái niệm về Ngân hàng Thương mại chúng ta cần xem xét một số đặc điểm của Ngân hàng Thương mại Cụ thể:

- Một là, Ngân hàng Thương mại là ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi

nhuận Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là dịch vụ ngân hàng và kinh doanh tiền tệ Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau, để cấp tín dụng cho khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Ngân hàng Thương mại là người “đi vay để cho vay” nhằm mục đích kiếm lời Các hoạt động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng

- Hai là, Ngân hàng Thương mại là một loại doanh nghiệp đặc thù Tính đặc

thù của Ngân hàng Thương mại thể hiện ở chỗ đối tượng kinh doanh của ngân hàng

là tiền gửi, với vai trò là người đi vay để cho vay ngân hàng sẽ đem chính đồng tiền

mà mình huy động được để cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để thu về lợi nhuận và ngân hàng chủ yếu cấp tín dụng ngắn hạn cho khách hàng

có nhu cầu vốn bổ sung.6 Ngoài ra, hoạt động Ngân hàng Thương mại phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là chỉ khi Ngân hàng Thương mại thoả mãn đầy

đủ các điều kiện khắt khe do pháp luật quy định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh thì mới được phép hoạt động trên thị trường

Trang 13

- Ba là, hoạt động Ngân hàng Thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủi

ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế Sở dĩ, như vậy là do trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ do các ngân hàng tiến hành huy động vốn của người khác rồi đem vốn đó để cấp tín dụng cho khách hàng theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định, nên đã tạo rủi ro cho các hoạt động Ngân hàng Thương mại Rủi ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền, rủi ro đến từ những yếu tố khách quan Bởi vậy, Ngân hàng Thương mại phải đối mặt với rủi ro cao, kéo theo là rủi ro đối với những người gửi tiền ở Ngân hàng Thương mại cũng như rủi ro đối với nền kinh tế

1.1.3 Chức năng của Ngân hàng Thương mại

1.1.3.1 Trung gian tín dụng

Ngân hàng Thương mại là một tổ chức trung gian tín dụng hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, nên chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng Để thực hiện chức năng này đòi hỏi ngân hàng phải tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế:

Thứ nhất, là các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi

phí cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập, vì thế họ là những người cần bổ sung vốn (người đi vay)

Thứ hai, là các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập

hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền

để tiết kiệm (người gửi tiền)

Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức này hoàn toàn độc lập với ngân hàng Điều tất yếu là chuyển tiền từ người gửi tiền sang người vay tiền nếu cả hai có nhu cầu và cùng có lợi Như vậy, thu nhập gia tăng là động lực tạo nên mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn Ngân hàng Thương mại là một trung gian tín dụng, huy động tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế sau đó cho vay, có thể nói Ngân hàng Thương mại là cầu nối giữa người tiết kiệm và người đầu tư thực hiện chức năng trung gian tín dụng

Trang 14

Ngày nay, do trình độ chuyên môn hoá càng cao và muốn thu hút được nhiều khách hàng, Ngân hàng Thương mại có thể miễn, giảm những chi phí giao dịch phát sinh không cần thiết như chi phí thẩm định thông tin, tài sản mà khách hàng cung cấp,… giúp cho khách hàng không phải đóng những loại phí không cần thiết, tránh được sự chờ đợi, phiền hà của khách hàng Góp phần củng cố lòng tin của khách hàng vào ngân hàng, qua đó các bên có thể hợp tác một cách có hiệu quả

và làm tăng thu nhập cho các bên

- Đối với người gửi tiền: Họ có lợi nhuận được từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình bởi lãi suất tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ, được ngân hàng tạo ra cho họ tiện ích như sự an toàn hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán

- Đối với người vay: Sẽ đáp ứng được nhu cầu kinh doanh hoặc chi tiêu, thanh toán mà khỏi tốn nhiều công sức, thời gian vào việc tìm kiếm nơi vay tiền tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp

- Đối với Ngân hàng Thương mại: Sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới Lợi nhuận này chính là cơ sở tồn tại và phát triển của Ngân hàng Thương mại

Thông qua chức năng trung gian tín dụng làm cho đồng tiền quay vòng nhanh hơn, tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, những người có vốn và cần vốn có thêm cơ hội để lựa chọn, giải quyết được vấn đề giữa cung và cầu vốn trong xã hội

Chức năng này của Ngân hàng Thương mại thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của cả nền kinh tế vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, thực hiện các dịch vụ tiện ích cho xã hội Nếu như không có Ngân hàng Thương mại thì việc huy động của cải trong xã hội và quá trình sản xuất kinh doanh sẽ chậm đi rất nhiều

1.1.3.2 Trung gian thanh toán và tạo phương tiện thanh toán

Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo yêu cầu của chủ tài khoản Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng và tiện lợi hơn, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn ở mọi nơi, nếu như khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn và lại không an toàn Khi làm trung gian thanh toán, Ngân hàng Thương mại tạo ra những công cụ lưu thông

và độc quyền quản lý các công cụ như séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán, đã tiết

Trang 15

kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua séc và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống Ngân hàng Thương mại Ngoài ra, việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của xã hội qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo ra cơ sở cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay

Ngày nay, ở các quốc gia ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất Các ngân hàng có thể thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ qua Ngân hàng Trung ương hoặc qua các trung tâm thanh toán Công nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại vì vậy phạm vi thanh toán ngày càng rộng không chỉ giữa các ngân hàng trong nước mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Quá trình lưu thông chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán có một đặc điểm phi vật chất Bằng chứng là ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền bằng điện tử là chuyện bình thường.7

Hiện nay thanh toán qua ngân hàng là hình thức thanh toán quan trọng, có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho kinh tế toàn cầu Chức năng trung gian thanh toán mang lại một ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung

Hệ thống Ngân hàng Thương mại sẽ cung cấp cho các chủ thể của nền kinh tế những công cụ thanh toán mang tiện ích cao như: Séc, lệnh chi, uỷ nhiệm chi,

ủy nhiệm thu, nhờ thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ.8

Khi sử dụng các phương thức thanh toán, bản thân các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí lao động, thời gian, lại an toàn Hệ thống Ngân hàng Thương mại lại tích tụ được nguồn vốn khổng lồ có thể mở rộng bằng tín dụng của mình

Có thể nói rằng, hoạt động thanh toán của hệ thống Ngân hàng Thương mại chiếm một vị trí quan trọng hoạt động của Ngân hàng Thương mại Nó tạo điều kiện cho nhiều dịch vụ ngân hàng phát triển dễ dàng hơn, tiết kiệm một khối lượng rất lớn tiền mặt trong lưu thông, qua chức năng trung gian thanh toán thì vai trò của

Trang 16

Ngân hàng Thương mại sẽ được nâng cao hơn với tư cách là người thủ quỹ của xã hội

1.1.3.3 Tạo ra tiền trong hệ thống ngân hàng và cho nền kinh tế

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của Ngân hàng Thương mại Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho

sự tồn tại và phát triển của mình, Ngân hàng Thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế

Ngân hàng Thương mại tạo ra tiền bằng khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều ngân hàng Một ngân hàng này cho vay xong là hết vốn, thì số vốn đó lại chuyển sang ngân hàng khác trở thành vốn tiền gửi và làm tăng thêm vốn tiền gửi của ngân hàng khác.9

Khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại ngân hàng đầu tiên nhận gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần, thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán

Đồng thời, chức năng tạo tiền được thể hiện trên cơ sở hai chức năng khác của Ngân hàng Thương mại là chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ,… với chức năng này, hệ thống Ngân hàng Thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng Thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương đã áp dụng đối với Ngân hàng Thương mại, do vậy Ngân hàng Trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.10

1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

1.2.1 Khái niệm về cho vay

Với Ngân hàng Thương mại hoạt động chủ yếu của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, hoạt động này thể hiện ở chỗ ngân hàng đi vay để cho vay Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay ngân

9

GS, TS Lê Văn Tư, Ngân hàng Thương mại, Nxb Thống kê – 2000, trang 57

Trang 17

hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội (quỹ cho vay) để đáp ứng nhu cầu

về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống Cho vay cũng là hoạt động quan trọng của ngân hàng và đem lại một khoản lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm một tỷ trọng lớn trong tài sản của ngân hàng với quy mô như vậy cho vay ảnh hưởng đến nhiều chiến lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ, vay, đầu tư, Để hiểu rõ hơn về hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại trước hết

ta phải tìm hiểu về khái niệm cho vay

Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, tại khoản 16 Điều 4: Cho vay là

hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác nhận trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Như vậy, qua khái niệm trên cho thấy bản chất của cho vay là một giao dịch

về tiền trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay,

là nguyên tắc để phân biệt giữa cho vay với cấp phát của Ngân sách Nhà nước

Trong các hoạt động của ngân hàng thì cho vay là hoạt động đóng vai trò quan trọng và nó mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, trang trải cho mọi hoạt động của ngân hàng, cân đối giữa đầu vào và đầu ra hay có thể nói cho vay có một vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại

1.2.2 Phân loại cho vay

1.2.2.1 Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay

* Cho vay tiêu dùng: Là một loại cho vay cá nhân nhằm giúp người vay tiền giải quyết các nhu cầu cá nhân, đồng thời còn là phương tiện cải thiện đời sống của người tiêu dùng, khuyến khích họ tiêu dùng một loại hàng hóa nào đó mà chưa

có khả năng chi trả Những người vay với hình thức này thường là những người có thu nhập trung bình trở lên nhằm vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản cố định nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân.11

Cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao Nếu người vay bị thất nghiệp không

có khả năng trả thì ngân hàng sẽ khó thu được nợ, ngoài ra cho vay tiêu dùng thường

11

Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại, cho-vay-cua-ngan-hang-thuong-mai.html, đăng ngày 21/1/2010,[ngày cập nhật 23/1/2013]

Trang 18

http://www.voer.edu.vn/bai-viet/kinh-te/cac-hinh-thuc-nhạy cảm theo chu kỳ, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh

tế suy thoái Mặc khác, người tiêu dùng thường ít nhạy cảm với lãi suất, họ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng Do đó, các khoản cho vay tiêu dùng phần lớn lãi suất đều cao hơn các khoản cho vay khác của ngân hàng

* Cho vay để kinh doanh: Là hình thức cho các doanh nghiệp vay để phục

vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng nhu cầu nào

đó về tiền vay của doanh nghiệp Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà doanh nghiệp hoạt động rồi ngân hàng sẽ tiến hành các điều kiện cho vay, hình thức cho vay, thời gian và cách thức trả nợ

Hình thức cho vay này cũng tiềm ẩn rủi ro rất cao, do các khoản vay thường lớn hơn quy mô của các doanh nghiệp và có những khoản vay có thời gian khá dài, cho nên khi tiến hành cho vay ngân hàng phải chú ý đến tình hình tài sản, khả năng hoàn trả của các doanh nghiệp, sự đánh giá chính xác là rất quan trọng đối với ngân hàng

1.2.2.2 Căn cứ vào hình thức đảm bảo

* Cho vay có đảm bảo: Là hình thức được áp dụng trong trường hợp ngân hàng chưa thật sự tin vào khả năng kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng, nên đòi hỏi khách hàng phải có tài sản đảm bảo cho các khoản vay Ngoài ra khi cho vay ngân hàng không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình vì thế có rất nhiều rủi ro xảy ra, nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất cao vì thế các ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu người vay phải có tài sản đảm bảo cho khoản vay đó Có các hình thức đảm bảo phổ biến sau:

- Cầm cố: Ngân hàng có thể cho vay khi người đi vay có tài sản cầm cố tại ngân hàng như: vàng bạc, đá quý, ngoại tệ Khi đó ngân hàng sẽ cho vay dựa trên giá trị tài sản đó, ngân hàng sẽ quản lý tài sản đó trong suốt thời hạn vay và hoàn trả lại khi thu đủ cả gốc và lãi Khi khách hàng không trả hoặc không có khả năng thanh toán khi đến hạn thì ngân hàng có quyền lập hồ sơ xin phát mại tài sản để thu nợ

- Thế chấp: Ngân hàng sẽ cho vay nếu người vay có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu về bất động sản đem thế chấp Hình thức cho vay này tương tự như cho vay cầm cố, nhưng chỉ khác là người vay vẫn được sử dụng tài sản thế chấp và ngân hàng chỉ nắm giữ hồ sơ gốc

Trang 19

- Bảo lãnh: Khi người đi vay không đủ điều kiện vay vốn ngân hàng đòi hỏi phải có một chủ thể thứ ba đứng ra bảo lãnh Bên bảo lãnh sẽ lập hồ sơ bảo lãnh tại ngân hàng và cam kết hoàn trả nợ nếu bên vay không có khả năng thanh toán Ngân hàng cũng có thể đề nghị bên bảo lãnh phải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp tại ngân hàng

* Cho vay không có đảm bảo: Là khoản vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng Những điều kiện này có thể là: người đi vay không được giao dịch với ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý Có như vậy, ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay

Hình thức này được ngân hàng áp dụng với khách hàng có uy tín, có quan

hệ thường xuyên và lâu năm với ngân hàng hoặc với những doanh nghiệp có uy tín hay những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn vào thì mới được cho vay không có đảm bảo

1.2.2.3 Căn cứ vào thời gian cho vay

* Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng, hình thức cho vay này nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất Ngân hàng áp dụng cho vay gián tiếp hoặc cho vay trực tiếp, có hoặc không có tài sản đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển Ngân hàng cho vay ngắn hạn theo các trường hợp sau:

- Ngân hàng cho Nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên của nhà nước Hình thức phổ biến hiện nay là ngân hàng mua trái phiếu do kho bạc phát hành

- Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như các ngân hàng, các công ty tài chính, quỹ tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản Một số công ty chứng khoán vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Thương mại trong quá trình bảo lãnh

và phân phối chứng khoán cho công ty phát hành Phần lớn các khoản cho vay này đều dựa trên uy tín của người vay

- Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các Ngân hàng Thương mại Phần lớn các khoản vay này có thế chấp hoặc cầm cố tài sản

Trang 20

- Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng, cho vay tiêu dùng có thể gồm tín dụng trực tiếp đối với người tiêu dùng hoặc tín dụng gián tiếp thông qua việc ngân hàng mua lại các phiếu bán hàng của các nhà bán lẻ hàng hóa

* Cho vay trung và dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên

12 tháng đến dưới 60 tháng, còn cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên

Doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn để mua trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, để tồn tại và phát triển, do đó nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng tăng cao Ngân hàng Thương mại cho vay trung và dài hạn bằng cách:

- Cho vay bằng cách mua các trái phiếu, các ngân hàng mua trái phiếu trung và dài hạn doanh nghiệp nhằm tài trợ cho quá trình hình thành tài sản cố định

Kỳ hạn và khả năng chuyển đổi của trái phiếu, lãi suất trái phiếu, tình hình tài chính của các doanh nghiệp,… đều được ngân hàng tính toán trước khi mua trái phiếu

- Cho vay theo dự án: Khi khách hàng có nhu cầu mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm thực hiện dự án nhất định, có thể vay ngân hàng Lúc này ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư

và quá trình thực hiện dự án Thẩm định dự án là điều kiện để ngân hàng quyết định phần vốn cho vay và khả năng hoàn trả của doanh nghiệp

Thời hạn cho vay trung hạn căn cứ vào thời gian khấu hao các tài sản cố định dùng để đảm bảo cho khoản vay, đó là những máy móc công cụ, thiết bị Thời hạn cho vay dài hạn được xác định tùy theo thời hạn khấu hao các bất động sản thế chấp nhằm tài trợ cho doanh nghiệp mua sắm máy móc, công cụ thay thế cho công

cụ lạc hậu

1.2.3 Vai trò hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại trong nền kinh

tế

1.2.3.1 Tập trung vốn của nền kinh tế

Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được

sử dụng một cách triệt để và họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình nên họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông

Trang 21

Ngân hàng Thương mại với chức năng trung gian tín dụng của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay Thực hiện được điều này Ngân hàng Thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế Mặc khác, với số vốn này Ngân hàng Thương mại sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh, qua đó sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển

1.2.3.3 Là một công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô

Cùng với sự vận động của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng cũng ngày càng phát triển, Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cho các hoạt động của các tổ chức tín dụng thông qua đó như là một công cụ để quản lý tốt hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia

Nhà nước điều tiết ngân hàng và ngân hàng điều chỉnh lại thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng Thương mại trong hệ thống để từ đó giúp lượng tiền cung ứng kịp thời trong lưu thông Đồng thời, qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành nghề trong nền kinh tế Ngân hàng Thương mại thực hiện tốt việc huy động vốn và phân chia vốn vào thị trường, điều chỉnh chúng một cách có hiệu quả

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay

1.2.4.1 Thuộc về bản thân ngân hàng

Hoạt động cho vay của ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào các nhân tố tạo nên sức mạnh của ngân hàng như:

Trang 22

- Nguồn vốn của ngân hàng: Một ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp, muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cần phải có vốn Hai nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là vốn tự có và vốn huy động Trong đó, nguồn vốn huy động được ngân hàng huy động từ các thành phần kinh tế, sau đó ngân hàng cho vay bằng vốn huy động này Hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng được tăng cường, số lượng và chất lượng cho vay càng lớn khi nguồn vốn của ngân hàng lớn mạnh, khi nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng đều đặn, hợp lý thì ngân hàng

có thêm nhiều tiền để cho khách hàng vay, điều đó cũng có nghĩa hoạt động cho vay của ngân hàng được tăng trưởng và mở rộng Ngược lại, nếu lượng vốn ít thì không

đủ cho khách hàng vay ngân hàng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư, lợi nhuận của ngân hàng sẽ không cao và việc tăng cường hoạt động cho vay sẽ bị hạn chế Đồng thời, nếu vốn quá nhiều ngân hàng cho vay lại ít so với vốn huy động thì sẽ gây ra hiện tượng tồn động vốn Lượng vốn tồn động này không sinh lời và lãi suất phải trả cho khách hàng huy động sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

- Chính sách tín dụng: Bao gồm các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với khách hàng, kỳ hạn của khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, phương thức cho vay, hướng giải quyết phần khách hàng vay vượt giới hạn,… tất cả các yếu tố này có tác dụng trực tiếp và mạnh mẽ đến việc mở rộng phạm vi cho vay của ngân hàng Nếu như tất cả các yếu tố thuộc chính sách tác dụng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt, đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì ngân hàng đó sẽ thành công trong việc tăng trưởng hoạt động cho vay, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng Ngược lại, những yếu tố này không hợp lý, cứng nhắc, không theo sát thực tế

sẽ dẫn tới khó khăn trong việc tăng cường hoạt động cho vay của ngân hàng

- Thông tin tín dụng: Để ngày tăng cường hoạt động cho vay đạt hiệu quả, chất lượng cao, đòi hỏi Ngân hàng Thương mại phải cập nhật nắm bắt thông tin cả trong và ngoài ngân hàng, để đưa ra những phương hướng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay nói riêng được phù hợp Từ đó, không bỏ lỡ những cơ hội cho vay tốt, hạn chế được những rủi ro cho những khoản vay của mình

- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo: Nhiều ngân hàng do cán bộ điều lãnh đạo không linh hoạt, thiếu nhạy bén, không nắm bắt, điều chỉnh hoạt động ngân hàng theo kịp thị trường, sử dụng nhân viên không đúng chuyên môn,… dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực và giảm hiệu quả công việc, hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giảm theo

Trang 23

- Chất lượng nhân sự và cơ sở trang thiết bị: Trong quá trình giao dịch với khách hàng, nhân viên ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng, cho nên đòi hỏi nhân viên phải có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và linh hoạt trong công việc

để chất lượng giao dịch đạt kết quả cao nhất Nhân viên ngân hàng là lực lượng chủ yếu chuyển thông tin từ khách hàng đến lãnh đạo để từ đó có những chiến lược kinh doanh tốt nhất Cơ sở trang thiết bị cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay của ngân hàng, nến như trang thiết bị lạc hậu thì công việc của ngân hàng sẽ giảm sút, thực hiện giao dịch gặp nhiều khó khăn Điều đó làm cho ngân hàng tụt hậu, kém phát triển, không thu hút được nhiều khách hàng làm hạn chế hoạt động cho vay, nếu trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phục vụ tốt nhu cầu khách hàng thì sẽ giúp khả năng cạnh tranh của ngân hàng, cũng như thực hiện tốt mục tiêu tăng cường hoạt động cho vay

1.2.4.2 Sự phát triển của nền kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Nó tạo nên môi trường thuận lợi để mở rộng phạm vi cũng như thị trường cho vay Khi nền kinh

tế phát triển ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và lợi nhuận thì xã hội sẽ có nhiều nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, quy mô kinh doanh nên nhu cầu vốn sẽ tăng cao

Mặc khác nền kinh tế phát triển, người dân có đời sống ổn định sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân do đó tạo nhiều

cơ hội cho ngân hàng trong việc cho vay tiêu dùng Ngược lại, nền kinh tế suy thoái,

sẽ dẫn đến nhu cầu về vốn của nền kinh tế giảm, do đó tồn động vốn cao sẽ kéo theo hoạt động cho vay không được mở rộng mà còn phải thu hẹp

1.2.4.3 Hệ thống pháp luật

Trong nền kinh tế thị trường mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ

về hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ của pháp luật Nếu như những quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, có nhiều bất cập thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng trong các hoạt động nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Với những văn bản pháp luật rõ ràng, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng yên tâm hoạt động kinh doanh, cạnh tranh trong lĩnh vực cho vay Đây là cơ sở pháp lý để ngân hàng khiếu nại, tố cáo khi có tranh chấp xảy ra, điều này góp phần giúp ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay

Trang 24

Bên cạnh đó, môi trường pháp lý còn gây rủi ro cho ngân hàng khi môi trường pháp lý đó chưa hoàn thiện hoặc cách thức thi hành còn chưa đảm bảo tính thời gian, tính nghiêm minh, phát sinh nhiều chi phí do thủ tục tố tụng kéo dài Ví dụ: Như việc phát mại tài sản thế chấp hiện nay, để có thể phát mại một tài sản thế chấp đòi hỏi khá nhiều thủ tục, thời gian, chi phí mà ngân hàng phải nhận chịu rủi ro rất nhiều

Hoặc luật không giải thích một cách đầy đủ gây khó khăn trong việc thực hiện tạo rủi ro cho ngân hàng Ví dụ: Một hợp đồng có tài sản thế chấp, khi khách hàng không trả được nợ phải chăng ngân hàng chỉ có quyền nhận lấy tài sản thế chấp

để trừ nợ (gán nợ) hoặc phát mại tài sản thế chấp để thu nợ, thiếu hay đủ ngân hàng cũng phải chịu?

Mặc khác, chính sách tiền tệ của ngân hàng đặc biệt là chính sách lãi suất, chính sách tín dụng đều cóliên quan và ảnh hưởng mạnh đến hoạt động ngân hàng Khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất có thể dẫn đến các Ngân hàng Thương mại không thu hút được vốn tiền mặt và có thể mất khả năng thanh toán

Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp còn nhiều sơ hở như Nhà nước cho phép doanh nghiệp được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiệm

vụ vượt quá khả năng, năng lực quản lý kém dẫn đến rủi ro, thua lỗ, làm giảm chất lượng tín dụng Do đó, hệ thống pháp luật ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

Trang 25

Chương 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Quy định chung về điều kiện cho vay

Hoạt động cho vay là việc Ngân hàng Thương mại sử dụng nguồn vốn tự có hoặc nguồn vốn huy động để cho vay Theo đó, Ngân hàng Thương mại thỏa thuận

để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả Việc cho vay được thực hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng tín dụng Nó được xác lập dựa trên sự thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại và khách hàng vay nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong quá trình đi vay, mục đích sử dụng vốn vay và phương thức thanh toán vốn vay theo quy định của pháp luật về cho vay

Trong giao dịch cho vay, chủ thể tham gia bao gồm bên cho vay (Ngân hàng Thương mại) và bên đi vay (các tổ chức, cá nhân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về điều kiện vay vốn đối với khách hàng) Các chủ thể này khi tham gia vào giao dịch hợp đồng cho vay/hợp đồng tín dụng cần phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Việc quy định về điều kiện chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng không nhằm hạn chế hoạt động cho vay mà giúp cho nó ngày càng được minh bạch rõ ràng, hiệu quả hơn cũng như tránh được những rủi ro không đáng có về sau

Còn quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong hợp đồng tín dụng, theo nhận thức chung, đó là khả năng pháp lý do pháp luật quy định trước hoặc được các bên dự liệu sẵn trong hợp đồng tín dụng nhằm mang lại lợi ích và cả những ràng buộc cho mỗi bên khi tham gia vào giao dịch Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được tạo lập thông qua hành vi pháp lý cụ thể và được thể hiện thông qua hợp đồng tín dụng Trên nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được phát sinh khi hợp đồng tín dụng phát sinh hiệu lực Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ là cả quá trình từ lúc nhận tiền vay cho đến khi hoàn trả cả gốc và lãi (hoặc cả tiền phạt và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nếu có)

2.1.1 Ngân hàng Thương mại

2.1.1.1 Điều kiện về tư cách chủ thể

Trong hoạt động cho vay, chủ thể đầu tiên được đề cập đó chính là bên cho vay Bên cho vay ở đây là Ngân hàng Thương mại có đủ điều kiện do pháp luật quy định

Trang 26

cho vay đều đầu tiên phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấy phép hoạt động, điều kiện cấp giấy phép được quy định tại Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ta có thể rút ra một số điều kiện thiết yếu sau:

- Phải có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định Mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Chính phủ quy định Theo đó, mức vốn pháp định đối với tổ chức tín dụng là Ngân hàng Thương mại là 3000 tỷ đồng, Ngân hàng phát triển là 5000 tỷ đồng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là 15 triệu Đô la Mỹ (USD).12

- Chủ sở hữu tổ chức tín dụng phải đáp ứng đủ một số điều kiện về tư cách chủ thể như tổ chức phải là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp, cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có khả năng tài chính để góp vốn Người quản lý, người điều hành, thành viên ban kiểm soát của tổ chức tín dụng phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại điều 50 Luật các tổ chức tín dụng

- Có Điều lệ hợp pháp

- Có đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng

Ngoài ra, đối với các tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài còn phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:

- Tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo quy định pháp luật của nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính

- Hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải là hoạt động mà

tổ chức tín dụng nước ngoài đang được phép thực hiện tại nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính

- Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có hoạt động lành mạnh, đáp ứng về điều kiện về tổng tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

- Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có văn bản cam kết hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản trị, điều hành, hoạt động của tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài; bảo đảm các tổ chức này duy trì giá trị thực của vốn

Trang 27

của Luật các tổ chức tín dụng

- Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng, trao đổi thông tin giám sát an toàn ngân hàng và có văn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài

Đồng thời theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 Luật các tổ chức tín dụng

2010 còn phải đăng ký kinh doanh, đăng ký hoạt động và công bố thông tin hoạt động Sau khi được cấp giấy phép, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đăng ký kinh doanh; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật Đồng thời, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và trên một tờ báo viết hằng ngày trong 03 số liên tiếp hoặc báo điện tử của Việt Nam ít nhất 30 ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động

Ngoài ra, khi đã được cấp giấy phép, đăng ký kinh doanh và công bố thông tin hoạt động tổ chức tín dụng còn phải đủ các điều kiện sau đây:13

- Đã đăng ký Điều lệ tại Ngân hàng Nhà nước;

- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn điều lệ, vốn được cấp, có kho tiền đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, có trụ sở đủ điều kiện bảo đảm an toàn tài sản và phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng;

- Có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, điều hành, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với loại hình hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, quy mô hoạt động;

- Có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức, hoạt động của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ tại trụ sở chính; quy chế nội bộ về quản lý rủi ro; quy chế về quản lý mạng lưới;

13 Điều 26 Luật các tổ chức tín dụng 2010

Trang 28

vào tài khoản phong tỏa không hưởng lãi mở tại Ngân hàng Nhà nước ít nhất 30 ngày trước ngày khai trương hoạt động Vốn điều lệ, vốn được cấp được giải tỏa khi

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã khai trương hoạt động;

- Đã công bố thông tin hoạt động theo quy định tại Điều 25 của Luật này Với việc quy định điều kiện đối với bên cho vay như thế không chỉ góp phần hạn chế, loại trừ những tổ chức tín dụng không đạt tiêu chuẩn kinh doanh trên thị trường mà còn góp phần lành mạnh hóa các quan hệ tín dụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, và đó còn là căn cứ để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành thẩm định và đánh giá một cách khách quan vấn đề hiệu lực pháp lý của hợp đồng tín dụng

2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng Thương mại

Giao dịch cho vay của Ngân hàng Thương mại đối với khách hàng vay về bản chất thuộc về hợp đồng ưng thuận, nghĩa là hiệu lực của nó phát sinh từ thời điểm các bên đạt được thỏa thuận về các điều khoản chủ yếu của hợp đồng tín dụng chứ không phải phát sinh kể từ thời điểm ngân hàng chuyển giao đối tượng của hợp đồng (giải ngân) cho khách hàng vay Điều đó cũng đồng nghĩa với việc giải ngân là nghĩa vụ cơ bản phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà Ngân hàng Thương mại phải thực hiện đối với khách hàng vay như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Cho nên khi nào Ngân hàng Thương mại đã thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ này thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu khách hàng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ đối với mình

Ngoài ra, với tư cách là chủ nợ của khách hàng vay, Ngân hàng Thương mại còn có quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng; khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc người bảo lãnh theo quy định của pháp luật; khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì Ngân hàng Thương mại có quyền xử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi

nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn.14

Đồng thời, Ngân hàng Thương mại còn có các quyền như yêu cầu bên vay hoàn trả tiền vay đúng thỏa thuận, kể cả tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại (nếu có)

14 Điều 25 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 31/12/2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Trang 29

giữa các bên nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ thực hiện Vì khi thực hiện quyền này Ngân hàng Thương mại có tư cách là một chủ nợ có vị trí đặc biệt quan trọng và với

tư cách là chủ nợ Ngân hàng Thương mại sẽ thực hiện quyền yêu cầu đối với khách hàng vay bằng các biện pháp mà pháp luật cho phép như khiếu nại đòi tiền, chủ động phát mại tài sản bảo đảm tiền vay, thương lượng hòa giải hay khởi kiện ra tòa có thẩm quyền giải quyết

Tuy nhiên, để thực hiện được quyền của mình thì Ngân hàng Thương mại cũng phải thực hiện tốt nghĩa vụ đúng như thoả thuận trong hợp đồng tín dụng như lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật và cung cấp thông tin có liên quan của Ngân hàng Thương mại cho khách hàng vay vốn biết để sao cho ngân hàng cũng có trách nhiệm với quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng

2.1.2 Khách hàng vay

2.1.2.1 Điều kiện về tƣ cách chủ thể

Khách hàng vay (bên vay) trong hoạt động cho vay là các tổ chức, cá nhân thỏa mãn các điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.15 Cụ thể, khách hàng vay tại Ngân hàng Thương mại là các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài thì Ngân hàng Nhà nước có quy định riêng Tuy nhiên, đây chỉ là quy định chung của pháp luật, tùy thuộc vào Ngân hàng Thương mại có những quy định riêng phù hợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình Mặc khác, điều kiện về khách hàng vay còn tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên

Trên thực tế, khi việc cho vay diễn ra thì khách hàng vay phải tuân theo điều kiện chung của Ngân hàng Thương mại đưa ra và những quy định riêng cho phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của mình Quy định về chủ thể đúng luật nhưng có phần mở rộng và thông thoáng hơn nhằm thu hút càng nhiều khách hàng đến vay Bởi vì, hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại là hoạt động chính

và luôn mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng Những điều kiện riêng về chủ thể có thể được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khách hàng chỉ bắt buộc phải thỏa mãn những điều kiện này khi chúng được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng như một điều kiện để giao kết hợp đồng tín dụng

vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 30

chung đối với mọi chủ thể đi vay trong hợp đồng tín dụng, cụ thể:

- Khách vay phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự16 và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

+ Đối với khách hàng vay là tổ chức và cá nhân Việt Nam thì: Tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự; cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; đại diện tổ hợp tác và hộ gia đình, thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 1 Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN) đã điều chỉnh đối tượng là khách hàng vay từ cụm từ “pháp nhân” thành cụm từ “tổ chức”, điều này đã mở rộng về đối tượng khách hàng vay, ngân hàng có thể cho vay với nhiều chủ thể hơn để tăng doanh thu cho ngân hàng

+ Đối với khách hàng vay là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì cũng phải có năng lực pháp lực và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật mà tổ chức

đó mang quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định

- Có mục đích sử dụng vốn hợp pháp, vì khách hàng không được vay vốn

để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm như: để mua sắm, chi phí hình thành tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để thanh toán cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật cấm Đây là điều kiện bắt buộc thỏa mãn đối với mọi chủ thể vay trong tất cả các hợp đồng tín dụng và các bên phải bắt buộc ghi rõ điều kiện này trong hợp đồng như điều kiện có hiệu lực của hợp đồng;

- Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết Khả năng tài chính của khách hàng được thể hiện thông qua mức độ vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

và đời sống; tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi,… thì khi đó khả năng hoàn trả nợ của khách hàng là rất tốt;

Trang 31

của pháp luật (như có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật) và khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các phương án, dự án vay vốn có hiệu quả kinh tế đảm bảo tạo ra lợi nhuận

để trả nợ vay ngân hàng cả gốc và lãi.17

Thực tế, những điều kiện này chỉ có tính bắt buộc phải thỏa mãn đối với khách hàng vay nếu các bên có thỏa thuận rõ như là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tín dụng Như vậy, việc pháp luật quy định các điều kiện chủ thể tham gia trong hoạt động cho vay, ngoài mục đích tạo sự tin tưởng, minh bạch trong giao dịch còn có ý nghĩa nhằm bảo đảm an toàn trong kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cũng như lợi ích của khách hàng khi đến vay

Ngoài ra pháp luật còn quy định một số điều kiện về khách hàng vay mà phía ngân hàng không được cho vay và hạn chế cho vay như:

* Điều kiện không được vay vốn:

Theo Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 19 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (sau đây gọi là Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN), để hoạt động cho vay được khách quan, minh bạch và bảo đảm an toàn khi tiến hành cho vay Ngân hàng Thương mại không được cấp tín dụng đối với các tổ chức, cá nhân sau đây:

- Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc)

và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn;

- Cha mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và chức danh tương đương

Đồng thời, những đối tượng không được vay này cũng không được đứng

ra để bảo lãnh cho chủ thể khác tham gia hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng Thương mại đó

Trang 32

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà Ngân hàng Thương mại nắm quyền kiểm soát Ngân hàng cũng không cho vay trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính ngân hàng hoặc công ty con của mình Mặc khác, Ngân hàng Thương mại không được cho vay để góp vốn vào một ngân hàng khác trên cơ

sở nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính ngân hàng nhận vốn góp

Như vậy, việc cho vay đối với các chủ thể là những người điều hành, quản

lý Ngân hàng Thương mại hay những người thân ruột của họ sẽ không đảm bảo được tính khách quan vì họ có sức ảnh hưởng rất lớn đến quyết định xét duyệt khoản vay của khách hàng Chính vì thế pháp luật cấm cho vay đối với những đối tượng này

* Điều kiện hạn chế vay vốn

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

và nhằm tránh những xung đột về lợi ích của hai bên Theo Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 20 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN thì Ngân hàng Thương mại không được cấp tín dụng có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi đối với:

- Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

- Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

- Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% vốn cổ phần biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng, cổ đông sáng lập và những người tham gia xây dựng, thông qua và ký kết vào bản điều lệ đầu tiên của tổ chức tín dụng cổ phần đó;

- Doanh nghiệp có một trong những đối tượng thuộc trường hợp không được cấp tín dụng mà đối tượng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

- Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng đó;

- Các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp

mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát Công ty con của tổ chức tín dụng là công

ty mà tổ chức tín dụng sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có

Trang 33

tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần biểu quyết.19

Việc hạn chế cho vay đối với các đối tượng được nêu trên là nhằm bảo đảm an toàn cho Ngân hàng Thương mại cũng như các tổ chức tín dụng, tránh trường hợp ngân hàng bị ảnh hưởng khi công ty con, công ty liên kết của ngân hàng hoặc doanh nghiệp mà ngân hàng nắm quyền kiểm soát gặp rủi ro hoặc sự cố

Những quy định về cấm cho vay hay hạn chế cho vay như vậy là nhằm bảo vệ an toàn cho hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại, giúp Ngân hàng Thương mại hoạt động có hiệu quả cao, tránh tình trạng các nhân viên ngân hàng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vay vốn hoặc cho vay sai quy chế, thực hiện công việc như thẩm định hồ sơ, quyết định cho vay không khách quan

2.1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của khách hàng vay

Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng thì quyền cơ bản nhất của khách hàng là quyền yêu cầu Ngân hàng Thương mại thực hiện nghĩa vụ giải ngân theo thỏa thuận, nếu ngân hàng vi phạm nghĩa vụ giải ngân như đã thỏa thuận thì theo Khoản 1 Điều

24 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, khách hàng vay có quyền yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng tín dụng đối với ngân hàng và đồng thời có quyền yêu cầu Ngân hàng Thương mại tiếp tục thực hiện hợp đồng tín dụng đến cùng hoặc đơn phương tuyên bố chấm dứt hợp đồng tín dụng đó

Ngoài ra, khách hàng còn có quyền từ chối các yêu cầu không hợp lý của Ngân hàng Thương mại khi ký kết hợp đồng tín dụng, thực hiện và thanh lý hợp đồng tín dụng Quyền này được pháp luật quy định nhằm tạo cho khách hàng vay khả năng chống lại các yêu cầu không hợp lý của ngân hàng, có thể gây ra bất lợi cho khách hàng

Ví dụ: khách hàng vay có quyền từ chối cung cấp các thông tin về hoạt động kinh doanh của mình khi yêu cầu cung cấp những thông tin đó rõ ràng là không liên quan gì đến việc sử dụng và hoàn trả lại vốn vay cho ngân hàng

Bên cạnh những quyền thì theo đó cũng tại Khoản 2 điều trên khách hàng còn phải thực hiện một số nghĩa vụ đối với Ngân hàng Thương mại như: cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã cung cấp; sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

18

Khoản 30 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010

19 Khoản 29 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010

Trang 34

dụng; chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thỏa thuận

về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Khi khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ sử dụng vốn không đúng mục đích thì phía Ngân hàng Thương mại có quyền phạt vi phạm hợp đồng và cũng có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng tín dụng để thu hồi nợ trước hạn Còn trường hợp khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay thì phía Ngân hàng Thương mại cũng có quyền phạt vi phạm hợp đồng đối với khách hàng bằng cách áp dụng lãi suất

nợ quá hạn đối với khoản tiền vay chậm thanh toán, đồng thời có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo thỏa thuận để thu hồi nợ Trên thực tế, từ hai nghĩa vụ cơ bản của khách hàng là việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả nợ vay đầy

đủ, đúng kỳ hạn đã phát sinh nhiều tranh chấp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

2.2 Nguyên tắc cho vay

Cho vay là một nghiệp vụ tín dụng giữ vai trò quan trọng, dựa trên cơ sở cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho ngân hàng duy trì

sự tồn tại và phát triển ổn định Muốn vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng phải lành mạnh và có hiệu quả Cụ thể, ngân hàng phải thực hiện tốt việc kiểm tra khả năng hoàn trả của người xin vay trước khi cho vay, đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm tra, kiểm soát, tuân thủ quy trình cho vay Để cho hoạt động này được đảm bảo và lợi ích của ngân hàng cũng như khách hàng không bị xâm hại khi tiến hành vay cần phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản về cho vay,20 để từ đó ngân hàng

sẽ đưa ra những chiến lược thiết thực và tạo cho người vay niềm tin đối với hoạt động cho vay của ngân hàng

2.2.1 Sử dụng vốn vay đúng mục đích

Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (cho vay có mục đích, có kế hoạch và có hiệu quả) Khi các khách hàng có nhu cầu vay vốn của ngân hàng cần phải trình bày được kế hoạch của mình, để trên cơ sở đó ngân hàng xem xét nếu thấy đồng vốn vay đem lại hiệu quả kinh tế và trả đúng hạn thì sẽ quyết định cho vay

Mặc khác, trên cơ sở kế hoạch xin vay vốn của người xin vay, ngân hàng cũng phải xây dựng kế hoạch cho vay vốn của mình để chủ động trong việc đầu tư

31/12/2001 về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w