1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUẢN lý NHÀ nước về HOẠT ĐỘNG XUẤT bản THỰC TIỄN tại TỈNH KIÊN GIANG

90 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và nhiệm vụ phát triển hoạt động xuất bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được xác định trong các văn kiện của Đảng: Chỉ thị 08-C

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn:

Nguyễn Hữu Lạc Sinh viên thực hiện:

MSSV: 5085898

Lớp: Tƣ pháp 1 - K34

Cần Thơ, tháng 4 năm 2012

Trang 2

Trong suốt quá trình làm luận văn tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp

đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè

Trước hết, tôi xin cảm ơn Cha mẹ người đã quan tâm, lo lắng và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong những năm học tập, chính nhờ sự hỗ trợ của cha mẹ

mà tôi mới có được kết quả học tập như ngày hôm nay

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt, tạo điều kiện cho tôi tích lũy được những kiến thức quý báu trong những năm học qua Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến

Thầy Nguyễn Hữu Lạc - người đã tận tình hỗ trợ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình

làm luận văn để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình

Bên cạnh đó, xin cảm ơn tất cả bạn bè những người đã chia sẻ, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Dù đã cố gắng cơ bản hoàn thành luận văn, nhưng chắc chắn sẽ có những thiếu sót không tránh khỏi Rất mong được sự thông cảm và tận tình chỉ bảo của quý thầy cô

và các bạn

Cuối cùng xin chúc tất cả mọi người dồi dào sức khỏe, luôn tràn đầy niềm vui, hạnh phúc, gặp nhiều may mắn và thành công hơn nữa trong công việc của mình

Cần thơ, ngày 20 tháng 4 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Diễm My

Trang 3



Trang 4



Trang 5

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN 4

1.1 Lý luận chung về quản lý nhà nước 4

1.1.1 Khái niệm quản lý 4

1.1.2 Quản lý xã hội 5

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước và đặc điểm của quản lý nhà nước 6

1.2 Khái quát chung về hoạt động xuất bản 7

1.2.1 Khái niệm xuất bản 7

1.2.2 Vị trí, mục đích của hoạt động xuất bản 9

1.2.3 Đặc điểm của hoạt động xuất bản 10

1.2.4 Lược sử phát triển ngành xuất bản ở Việt Nam 12

1.2.5 Đường lối, quan điểm của Đảng về hoạt động xuất bản 16

1.3 Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 18

1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 18

1.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 19

1.3.3 Các công cụ quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 19

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN 22

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý trong công tác quản lý hoạt động xuất bản 22

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 22

2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chủ quản nhà xuất bản 28

2.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 29

2.2.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản 29

2.2.2 Ban hành văn bản pháp luật, chính sách về hoạt động xuất bản 31

2.2.2.1 Ban hành văn bản pháp luật về hoạt động xuất bản 31

Trang 6

2.2.3 Lưu chiểu xuất bản phẩm 36 2.2.3.1 Nộp xuất bản phẩm lưu chiểu 37 2.2.3.2 Đọc xuất bản phẩm lưu chiểu và xử lý vi phạm 38 2.2.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản 40 2.2.4.1 Thanh tra, kiểm tra trong hoạt động xuất bản 40 2.2.4.2 Xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản 43 2.2.5 Quản lý hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản 47

2.3 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp phép hoạt động xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm 48

2.3.1 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực xuất bản 48 2.3.1.1 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản… 48 2.3.1.2 Thẩm quyền và thủ tục cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh của cơ quan tổ chức Việt Nam và tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam…… 50 2.3.2 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp phép hoạt động trong lĩnh vực in 51 2.3.2.1 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm 51 2.3.2.2 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp phép đối với hoạt động in các sản phẩm không phải xuất bản phẩm 52 2.3.3 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp phép hoạt động trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm 53 2.3.3.1 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp giấp phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm và nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh 53 2.3.3.2 Điều kiện, thủ tục và thẩm quyền cấp phép đối với hoạt động tổ chức hội trợ, triễn lãm xuất bản phẩm 55 2.3.4 Quản lý đối với văn phòng đại diện của nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài tại Việt Nam 56

Trang 7

BẢN TẠI TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY - NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ 58 3.1 Vài nét khái quát về đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang 58 3.2 Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay 59

3.2.1 Kết quả đạt được 59 3.2.2 Tồn tại, hạn chế 66

3.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 69 3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay 71

3.4.1 Tăng cường quản lý hoạt động xuất bản, cụ thể là trong lĩnh vực cấp phép

in ấn và phát hành xuất bản phẩm 71 3.4.2 Nâng cao chất lượng và hiệu quả của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản 73 3.4.3 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hoạt động xuất bản 74 3.4.4 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm 75

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động xuất bản vừa là hoạt động văn hoá, tư tưởng vừa là hoạt động sản xuất vật chất Nó là kết quả lao động sáng tạo của con người, là phương tiện quan trọng phản ánh đời sống tinh thần, bộ mặt văn hoá của mỗi dân tộc ở mọi thời đại Ở nước ta, sự nghiệp xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc.1

Trong những năm gần đây, hoạt động xuất bản đã có những bước phát triển, thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận, số lượng xuất bản phẩm tăng nhanh, chất lượng nội dung và hình thức ngày càng tốt hơn, đa dạng hơn, phương thức hoạt động có nhiều đổi mới với công nghệ hiện đại Ngoài việc từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người đọc, hoạt động xuất bản còn góp phần tích cực vào việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đề ra những chủ trương, chính sách, pháp luật cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác xuất bản cũng như tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động này Hệ thống pháp luật điều chỉnh về xuất bản cũng luôn được sửa đổi, bổ sung và từng bước hoàn thiện, Luật Xuất bản năm 1993 ra đời và tiếp theo đó là sự thay thế của Luật Xuất bản năm

2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008) đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi đảm bảo cho sự phát triển ổn định và mạnh mẽ hơn nữa của hoạt động xuất bản, đồng thời giúp cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này đạt hiệu quả hơn

Tuy nhiên, hiện nay quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản vẫn còn nhiều hạn chế chưa được giải quyết Đặc biệt là khi nước ta bước vào giai đoạn hội nhập và phát triển, việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới đã dẫn đến sự phát triển nhảy vọt của ngành in và xuất bản, nhiều quan hệ xã hội mới trong lĩnh vực này được hình thành Bên cạnh những kết quả đạt được hoạt động xuất bản cũng đã bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm Tình trạng “thương mại hóa”, chạy theo lợi nhuận kinh doanh thuần túy đang trở thành xu thế tác động xấu đến hoạt động xuất bản khiến cho hoạt động này hiện nay đang dần vượt khỏi tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý, thị trường xuất bản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ, hành vi vi phạm trong lĩnh vực này ngày càng nhiều nhưng vẫn chưa đưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời Thực tế hiện nay cho thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều của các xuất bản phẩm kém chất lượng, có

1 Chỉ thị 42-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản

Trang 9

nội dung không lành mạnh, trái với truyền thống văn hóa của người Việt Nam, bị dư luận phê phán, đã gây những tác hại không nhỏ tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tinh thần của người dân Chính do hiệu quả quản lý không cao đã dẫn đến tình trạng hoạt động xuất bản đang dần ra rời định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước, không thực hiện đúng nhiệm vụ chính trị, tư tưởng của mình Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản còn lỏng lẻo, hoạt động quản lý từ việc tổ chức bộ máy quản lý cho đến cơ chế chính sách đối với xuất bản còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật về hoạt động xuất bản và quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động xuất bản đang tồn tại trên thực tế mà pháp luật về xuất bản chưa có những quy định rõ ràng, cụ thể

Chính vì vậy, làm thế nào để hoạt động xuất bản vừa nâng cao hơn chất lượng hoạt động, phát triển theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, trở thành ngành kinh tế - công nghiệp hiện đại góp phần phát triển kinh tế đất nước, vừa phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, tư tưởng trong bối cảnh đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, với những nhiệm vụ mới là yêu cầu hết sức cấp thiết đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, đòi hỏi việc quản lý nhà nước đối với hoạt động này cần phải được quan tâm hơn nữa trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ các lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản – thực tiễn tại tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn tốt nghiệp của

mình, với mong muốn góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản của cả nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến mục đích làm sáng

rõ các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, tìm hiểu những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này Qua đó, giúp chúng

ta hiểu thêm về các quy định của pháp luật đối với hoạt động xuất bản và quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản Mặt khác, từ việc tìm hiểu và phân tích những quy định của luật, để từ đó thấy được những khuyết điểm, hạn chế trong các quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng Đồng thời, qua nghiên cứu cụ thể thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản để đánh giá, tìm hiểu những khó khăn và bất cập còn tồn tại trong quá trình quản lý cũng như tìm ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng quản lý Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để kịp thời khắc phục những hạn chế đang tồn tại trên thực tế, nâng cao hiệu quả quản lý Bên cạnh đó, góp phần hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về quản lý nhà nước

Trang 10

đối với hoạt động xuất bản trong thời gian tới Đây cũng chính là mục đích xuyên suốt

trong quá trình nghiên cứu luận văn mà người viết mong muốn đạt được

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung tìm hiểu các vấn đề

về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, theo đó đề tài nghiên cứu trên ba phương diện: lý luận, pháp lý và thực tiễn Trong vấn đề lý luận, tập trung đưa ra các khái niệm cơ bản, những vấn đề chung liên quan đến đề tài, những cơ sở lý luận làm tiền cho đề tài nghiên cứu Tiếp đó, trong vấn đề pháp lý, tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động xuất bản và quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, chủ yếu dựa trên Luật Xuất bản năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2008), các văn bản hướng dẫn thi hành luật và các vấn đề có liên quan Cuối cùng là vấn đề về thực tiễn, trong phần này người viết tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản hiện nay Cụ thể là thực tiễn thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Từ đó, rút ra những nhận định và đưa ra giải pháp để góp phần cho công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này đạt hiệu quả hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp liệt kê, phân tích, phương pháp so sánh, đối chiếu để giải quyết các vấn đề được nêu ra trong đề tài Đồng thời, kết hợp với việc thu thập tổng hợp tài liệu, xử lý thông tin từ sách, báo, tạp chí và đặc biệt là tổng

kết thực tiễn để có tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời cảm ơn, mục lục, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Chương 2: Những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về hoạt động

xuất bản

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tại tỉnh Kiên

Giang hiện nay - nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN 1.1 Lý luận chung về quản lý nhà nước

1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa riêng về

quản lý Hiện nay, có rất nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “quản lý”

Có quan niệm coi quản lý là quá trình bao gồm các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nổ lực của các thành viên trong tổ chức để đạt được mục tiêu đã định trước Hay đơn giản hơn quản lý có nghĩa là giữ gìn, bảo quản (ví dụ: quản lý tài sản, quản lý hồ sơ, tài liệu…) Cũng có quan niệm khác lại cho rằng: quản

lý là làm cho hoạt động tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất Theo quan niệm này thì quản lý là một khoa học, một dạng nghệ thuật và ngày càng được đề cao Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ quản lý được thống nhất ở hai nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể

quản lý lên đối tượng quản lý

Thứ hai, mục tiêu của quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động phù

hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước

Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản

lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình

Từ những phân tích lý luận trên ta có thể đi đến định nghĩa về quản lý như sau:

Khái niệm: Quản lý là sự tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý

lên đối tượng quản lý nhất định nhằm điều khiển, chỉ đạo, tổ chức thực hiện để đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý, nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước

Trang 12

1.1.2 Quản lý xã hội

Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và dưới các góc độ khác nhau, quản lý được phân chia thành nhiều loại hình Dưới góc độ hành động, quản lý được chia thành ba loại hình Các loại hình này đều có một xuất phát điểm giống nhau là do con người điều khiển nhưng khác nhau về đối tượng

- Loại hình thứ nhất là quá trình quản lý sinh học, thiên nhiên và môi trường Chẳng hạn như: con người quản lý vật nuôi và cây trồng

- Loại hình thứ hai là quá trình quản lý trong kỹ thuật Ví dụ: con người điều khiển các loại máy móc

- Loại hình thứ ba là quản lý xã hội hay quản lý con người

Trong đó, quản lý xã hội được xem là một dạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội được đặt ra từ khi lao động của con người được xã hội hóa Hiện nay, khi nói đến quản

lý, người ta thường nghĩ đến quản lý xã hội

Từ khái niệm chung về quản lý ta có khái niệm quản lý xã hội như sau: Quản lý

xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người để đạt được tới mục đích, đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.2

Với khái niệm trên, quản lý xã hội bao gồm các yếu tố quan trọng đó là: chủ thể của quản lý, khách thể của quản lý và mối liên hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể Chủ thể của quản lý xã hội: là những con người hay cơ quan, tổ chức của con người Hoạt động do chủ thể quản lý thực hiện là hoạt động quản lý

Khách thể của quản lý xã hội: là hành vi, là hoạt động của con người hay còn gọi

là hoạt động bị quản lý

Mối liên hệ qua lại: chính là quan hệ quyền lực phục tùng giữa người quản lý và người bị quản lý Quá trình quản lý xã hội thực hiện được là nhờ mối quan hệ quyền lực phục tùng Đây là yếu tố không thể thiếu, tạo hiệu quả cho hoạt động quản lý Trong xã hội chưa có nhà nước, chủ thể quản lý xã hội là cộng đồng hay những thủ lĩnh có tài năng, uy tín do tất cả các thành viên trong cộng đồng bầu ra Từ khi Nhà nước xuất hiện thì những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm Tuy nhiên, không chỉ có Nhà nước mà các chính đảng, các tổ chức xã hội khác, gia đình, tổ chức tư nhân trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa… cũng là

2

Phạm Hồng Thái, Đinh Văn Mậu: Luật hành chính Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, 2003, tr.10

Trang 13

chủ thể của quản lý xã hội Trong xã hội hiện đại ngày nay, quản lý xã hội là một yếu

tố hết sức quan trọng và không thể thiếu trong đời sống xã hội Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của người quản lý càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước và đặc điểm của quản lý nhà nước

Cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử thì quản lý nhà nước cũng được hình thành và giữ vai trò tất yếu cho sự tiếp tục phát triển của xã hội đến ngày nay Từ khi xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do Nhà nước quản lý, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quan trọng và

cần thiết Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhà nước Quản lý nhà nước xét về

mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành pháp (chấp hành và điều hành) của hệ thống cơ quan hành chính và hoạt động tư pháp

của hệ thống cơ quan tư pháp

Hiện nay, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động quản lý xã hội của

Nhà nước do toàn thể bộ máy nhà nước thực hiện, trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Như vậy, tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) đều có chức năng quản lý nhà nước

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động và điều chỉnh bằng

quyền lực nhà nước, chủ yếu trên cơ sở pháp luật, đối với các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ thực hiện, để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Nói cách khác, quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là quản lý hành chính nhà nước

Như vậy, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người để duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội nhằm thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Tuy nhiên, không phải quản lý xã hội nào cũng là quản lý nhà nước và Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan quản

lý nhà nước điều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống xã hội, mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định Trong hệ thống xã hội tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội… Trong hoạt động quản lý của

Trang 14

các chủ thể khác nhau đó thì quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt có những đặc trưng để phân biệt với các dạng quản lý khác như sau:

Thứ nhất, quản lý nhà nước được thực hiện bằng bộ máy quản lý chuyên nghiệp

hay nói cách khác chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp

Thứ hai, đối tượng quản lý của nhà nước là toàn bộ dân cư và các tổ chức trong

phạm vi tác động quyền lực nhà nước

Thứ ba, quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội:

chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng…

Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế

nhà nước khi cần thiết

Quản lý nhà nước được thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương, đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng Khi có bất cứ chủ thể nào trong quan hệ quản lý nhà nước có hành vi làm trái với các quy định quản lý thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi mà Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp khi cần thiết

Thứ năm, quản lý nhà nước phải dựa chủ yếu trên cơ sở pháp luật, nhà nước lấy

pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội

Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước Bằng pháp luật Nhà nước trao quyền cho các tổ chức hoặc cá nhân, để họ thay mặt Nhà nước tiến hành các hoạt

động quản lý Điều 12 Hiếp Pháp 1992 quy định “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp

luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”, pháp luật là công cụ quản

lý nhà nước Vì vậy, để quản lý nhà nước đối với xã hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn, phải phù hợp với các quy luật khách quan cũng như điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước Việc quản lý bằng pháp luật đòi hỏi các cơ quan, cá nhân thực hiện chức năng quản lý nhà nước phải căn cứ vào luật, phải làm theo đúng quy định của pháp luật

1.2 Khái quát chung về hoạt động xuất bản

1.2.1 Khái niệm xuất bản

Trong lịch sử nhân loại, ngành xuất bản ra đời là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, nó là hoạt động do con người sáng tạo ra và phục vụ lợi ích của con người

Vì vậy, xuất bản đã được ứng dụng để phản ánh sự phát triển về nhiều mặt của xã hội

Trang 15

loài người và nó không ngừng được phát triển theo từng kỳ Trước khi có chữ viết, con người lưu giữ thông tin rất khó khăn, chủ yếu là bằng trí nhớ Trong quá trình tiến hoá, con người đã phát minh ra chữ viết để lưu giữ thông tin và truyền nó cho người khác

Từ khi có chữ viết, sách ra đời là một phát minh kỳ diệu, trở thành phương tiện quan trọng trong các hoạt động văn hoá tinh thần của loài người Trước khi giấy được chế tạo ra, những kiến thức về triết học, khoa học, văn học, nghệ thuật đã được con người lưu trữ lại bằng cách khắc trên vỏ cây, vách đá, sau đó là thẻ tre, da thú, đất nung, v.v Đó là hình thức sơ khai về sách mà con người đã sáng tạo ra Việc ghi chép và lưu truyền trong cộng đồng các hình thức ban đầu đó của sách, đã hình thành nghề xuất bản sơ khai

Với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, ngày nay nghề làm sách từ chỗ đơn giản, thủ công qua nhiều bước phát triển đã đạt tới trình độ tự động hoá, ứng dụng tiến

bộ của công nghệ tin học trong hoạt động sáng tạo và xử lý bản thảo, hoàn chỉnh bản mẫu để in hàng loạt Sản phẩm sách từ chỗ chỉ ở trình độ thô sơ, mộc mạc đã tiến tới

đa dạng, phong phú về hình thức và nội dung Ngày nay, sản phẩm của ngành xuất bản khá đa dạng không chỉ dừng lại ở sách, mà còn bao gồm các loại hình khác như: tranh, ảnh, bản đồ, bưu ảnh v.v

Đồng thời, cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội và nhu cầu tiếp cận, phát triển tri thức ngày càng cao của con người thì xuất bản đã trở thành ngành kinh tế

- kỹ thuật phát triển Các quốc gia trên thế giới đã tận dụng ngành xuất bản để nâng cao dân trí, phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân, giao lưu văn hoá với các nước trên thế giới Nhiều nước phát triển còn có những tập đoàn xuất bản - báo chí mạnh, đạt hiệu quả kinh tế cao Ở Việt Nam, ngành xuất bản hiện nay cũng đang từng bước phát triển, không những đáp ứng được nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân

mà còn góp phần xây dựng đất nước Vậy xuất bản là gì?

Hiện nay, xuất bản có thể được hiểu theo hai nghĩa như sau:

Theo nghĩa hẹp, xuất bản được hiểu là quá trình tổ chức việc sáng tạo, tác động vào quá trình sáng tạo của tác giả để có bản thảo tác phẩm, xử lý và hoàn chỉnh bản thảo, bản mẫu, in thành các xuất bản phẩm nhằm phục vụ nhiều người Những công việc này thường do nhà xuất bản đảm nhiệm.3

Tuy nhiên, xuất bản là một hoạt động mang tính xã hội, sách sau đã khi xuất bản

và được in nhân bản cần phải thông qua khâu phát hành để đến tay người tiêu dùng

3 Đào Duy Quát: Quản lý hoạt động văn hóa tư tưởng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 102

Trang 16

Vì vậy, hiện nay trong các văn bản của Nhà nước cũng như trong đời sống xã hội, xuất bản được hiểu theo nghĩa rộng hơn

Theo từ điển tiếng Việt “xuất bản là chuẩn bị bản thảo in thành sách báo, tranh

ảnh và phát hành.”4 Định nghĩa này xuất phát từ mục đích của việc xuất bản là nhằm phổ biến một cách rộng rãi các sản phẩm của ngành xuất bản đến với nhiều người Theo cách hiểu này thì việc xuất bản sẽ được thực hiện qua ba khâu chính là: chuẩn bị bản thảo, in và phát hành Bên cạnh đó, tại Điều 1 Luật Xuất bản năm 2004 (sửa đổi,

bổ sung năm 2008) quy định “hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in

và phát hành xuất bản phẩm.”

Vì vậy, xuất phát từ các lý giải trên ta có thể hiểu xuất bản theo nghĩa rộng là hoạt động bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm Hay nói cách khác, xuất bản là quá trình tổ chức các nguồn lực xã hội trong việc sáng tạo tác phẩm, in nhân bản các tác phẩm và phổ biến tác phẩm đến nhiều người nhằm đạt hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội

1.2.2 Vị trí, mục đích của hoạt động xuất bản

Theo quy định Điều 3 Luật Xuất bản năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) thì hoạt động xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và có vị trí quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí,

mở rộng giao lưu văn hóa với các nước, cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Vị trí quan trọng của hoạt động xuất bản trong đời sống tinh thần của con người thể hiện ở việc hoạt động xuất bản có liên quan mật thiết với “văn hóa đọc”, bởi nó xuất hiện chủ yếu là nhằm đáp ứng nhu cầu đọc của xã hội Đời sống tinh thần của con người rất phong phú và đa dạng, trong đó nhu cầu về văn hóa luôn có ở tất cả mọi người, không giới hạn về tuổi tác, giới tính cũng như tầng lớp xã hội và đọc chính là một trong những nhu cầu quan trọng về văn hóa của con người Nó được hình thành và phát triển phổ biến rất cao, trở thành một thói quen và là một phần của văn hóa đó là

“văn hóa đọc” Sản phẩm của hoạt động xuất bản chính là phương thức chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu rộng lớn của xã hội, nhu cầu khách quan và thiết yếu Và chính nhờ việc đáp ứng nhu cầu đọc của xã hội, hoạt động xuất bản đã thể hiện rõ vị trí của mình trong việc phổ biến những tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học,

4 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt nam: Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa –

Thông tin, 1998, tr 1874

Trang 17

công nghệ, văn học, nghệ thuật, pháp luật… nhằm giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội, giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại Mặc khác, ngoài việc cung cấp thông tin, tri thức khoa học trên tất cả các lĩnh vực, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, hoạt động xuất bản còn giúp mở rộng giao lưu văn hoá với các nước, giúp phát triển kinh tế xã hội đồng thời còn giới thiệu với bạn bè thế giới nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc

Ở nước ta, hoạt động xuất bản còn có vị trí hết sức quan trọng trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng Bởi vì, giống như báo chí, hoạt động xuất bản là kênh thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính thống về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, cổ

vũ, động viên nhân dân tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội văn minh, hiện đại Bằng xuất bản phẩm của mình, hoạt động xuất bản còn góp phần vào việc đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Ngoài

ra, hoạt động xuất bản còn giữ một vị trí quan trọng trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân

Ngày nay trong điều kiện tiến bộ không ngừng của khoa học và công nghệ, đã kéo theo sự phát triển không ngừng của văn hoá Với sự đa dạng về phương thức, phương tiện, loại hình và sản phẩm văn hoá, việc phổ biến nhanh nhạy của các phương tiện thông tin đại chúng, đã làm cho không ít người băn khoăn về sự tồn vong của xuất bản Nhưng với vai trò như trình bày trên, xuất bản vẫn sẽ tồn tại và phát triển cùng xã hội loài người, tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của mình với cơ sở vật chất, năng lực xuất bản ngày càng được tăng cường, chất lượng xuất bản phẩm ngày một nâng lên góp phần mang lại hiệu quả tích cực trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng cũng như cung cấp một khối lượng kiến thức, thông tin to lớn về nhiều lĩnh vực, góp phần nâng cao dân trí và làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần cho toàn xã hội

1.2.3 Đặc điểm của hoạt động xuất bản

Hoạt động xuất bản vừa là quá trình sản xuất tinh thần – sản xuất, hoàn thiện tác phẩm tinh thần của những người biên tập ở các nhà xuất bản, vừa là sản xuất vật chất – khâu chế bản, nhân bản xuất bản phẩm, vừa là hoạt động thương mại để phân phối, truyền bá các xuất bản phẩm trong xã hội Quá trình này gồm ba bộ phận cơ bản: biên tập, nhân bản, phát hành, có mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quyết định lẫn nhau Tuy nhiên, mỗi bộ phận đó mang một bản chất sáng tạo khác nhau, có tính chất

Trang 18

nghề nghiệp khác nhau Mỗi bộ phận đó là một lĩnh vực riêng bị chi phối bởi hai thuộc

tính văn hoá và kinh tế, chúng có những biểu hiện rất khác nhau.5

Về phương diện văn hoá tư tưởng, sách và các xuất bản phẩm do hoạt động xuất

bản mang lại là sản phẩm tinh thần Nó là kết quả lao động sáng tạo của con người Các giá trị xã hội chứa đựng trong sách thể hiện và thoả mãn nhu cầu đa dạng, phong phú về nhiều mặt của đời sống xã hội Nội dung chính trị - xã hội, pháp luật, văn học - nghệ thuật, khoa học - công nghệ chứa đựng trong sách là ý tưởng của tác giả và nhà xuất bản nhằm truyền bá, bồi dưỡng, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân và mở rộng giao lưu văn hoá với các nước Giá trị cơ bản của sách nói riêng, xuất bản phẩm nói chung là giá trị văn hoá tinh thần, do lao động tinh thần

của con người tạo ra Xét về phương diện mục đích và hiệu quả thì xuất bản hướng tới

việc cảm hoá con người, cải tạo con người, cải tạo thiên nhiên và xã hội vì mục đích của con người

Về phương diện sản xuất vật chất, các giá trị tinh thần, do lao động tinh thần của

con người mang lại chỉ trở thành sách và các xuất bản phẩm khác thông qua hoạt động sản xuất Từ việc thừa nhận sách là sản phẩm tinh thần, trí tuệ, mọi người phải thừa nhận sách là sản phẩm vật chất, bởi nó là kết quả do lao động vật chất tạo ra thông qua quá trình lao động sản xuất của nhiều người theo sự phân công lao động của xã hội từ khâu biên tập đến khi in thành sách

Về phương diện kinh tế, hoạt động xuất bản là hoạt động kinh tế trên lĩnh vực

văn hóa Bởi vì, sản phẩm của hoạt động xuất bản là sách và các xuất bản phẩm khác được sản xuất ra với mục đích trước hết là được dùng để bán Khi đó, sản phẩm xuất bản sẽ trở thành hàng hóa và khi đã là hàng hóa thì nó phải tuân theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu và những quy luật khác của nền kinh tế Chính vì thế, việc phổ biến những sản phẩm xuất bản đến nhiều người chính là hoạt động kinh doanh nhưng không phải là kinh doanh đơn thuần như những hoạt động kinh doanh các loại hàng hóa khác Kinh doanh chỉ là phương tiện, biện pháp để hoạt động xuất bản thực hiện chức năng là một bộ phận trong công tác tư tưởng – văn hóa của Đảng và Nhà nước Hoạt động tư tưởng – văn hóa không thể xã hội hoá, không thể chuyển tải các ý tưởng của mình tới công chúng khi không có các điều kiện vật chất nhất định và không thông qua hoạt động sản xuất Vì vậy, xuất bản còn là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động kinh tế Tóm lại, hoạt động xuất bản là hoạt động văn hóa tinh thần có ảnh

5 Trần Văn Hải, Trang thông tin điện tử Học viện Báo chí và tuyên truyền: Mối quan hệ giữa ba lĩnh vực xuất

bản, in, phát hành từ góc độ văn hoá và kinh tế, http://www.ajc.edu.vn/Desktopdefault aspx?tabid=215&ItemID

=934, [truy cập ngày 19/01/2012]

Trang 19

hưởng nhiều đến việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, dân trí Mặt khác, hoạt động xuất bản là hoạt động sản xuất vật chất, kinh tế có vai trò quan trọng trong việc tạo thành, chuyển tải, nhân bản các giá trị tinh thần, trí tuệ, ý đồ của tác giả, nhà xuất bản thành xuất bản phẩm

1.2.4 Lƣợc sử phát triển ngành xuất bản ở Việt Nam

Trên thế giới, nghề xuất bản sơ khai đã xuất hiện từ rất lâu đời khi con người phát minh ra sách Sách đã có mặt ngay từ những năm 3500 trước Công Nguyên Năm 105 sau Công Nguyên, một người Trung Quốc đã phát minh ra cách làm giấy Giấy bắt đầu được sản xuất ngày một nhiều và được lan truyền ra khắp thế giới Song song với giấy,

hệ thống chữ viết tay cũng dần dần được cải tiến và hoàn thiện Công việc xuất bản thời kỳ này do những người thợ viết chữ đảm nhiệm Nghề xuất bản sách bằng phương pháp thủ công như vậy kéo dài rất lâu, riêng với châu Âu kéo dài khoảng 2.000 năm Vào đầu thế kỷ XV, một người Đức tên là Johannes Gutenberg đã phát minh ra kỹ thuật đúc chữ rời bằng kim loại, từ đó kỹ thuật in rời đã tạo ra một cuộc cách mạng trong nghề in, làm tiền đề cho sự ra đời của ngành xuất bản hiện nay.6 Nhờ phát minh của Gutenberg mà khoa học và các kiến thức phổ thông mới được lan truyền nhanh như hiện nay

Ở Việt Nam, theo Bách khoa thư Hà Nội thì xuất bản xuất hiện từ rất sớm và có thể nói quá trình phát triển của nó gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam Khi nói đến xuất bản là phải nói đến nghề làm giấy và nghề in Nghề làm giấy ở Việt Nam xuất hiện từ khá sớm vào khoảng thế kỷ thứ VIII, nổi tiếng với nghề giấy Lĩnh Nam Giấy đã trở thành vật phẩm quý để cống hiến cho các chúa tể phương Bắc Còn nghề

in xuất hiện từ thế kỷ XI - XII với nghề khắc ván gỗ và in kinh Đến thế kỷ XX, kỹ thuật in máy đã chiếm lĩnh thị trường in, kéo theo sự ra đời của các nhà in nổi tiếng ở nước ta thời bấy giờ như nhà in Lê Văn Phúc, Đình Tư, Vĩnh Thành…và một số nhà

in của tư nhân Sau ngày giải phóng thủ đô Hà Nội, nhà in Quốc gia đã được nhà nước giao nhiệm vụ quản lý cả ba ngành: xuất bản, in và phát hành, đồng thời tiếp quản các nhà in của người Pháp Ngành in được cải tạo và phát triển, nhiều nhà in ra đời với công nghệ in ngày càng tiên tiến

Về xuất bản, cơ sở đầu tiên của nghề xuất bản là sự ra đời của ngôn ngữ và chữ viết Trải qua nhiều lần bị phong kiến phương Bắc đô hộ, Hán học được truyền vào nước ta trở thành chữ viết duy nhất được sử dụng Từ chữ Hán ta đã sáng tạo ra chữ Nôm để hình thành nên chữ viết ngôn ngữ của dân tộc Từ thế kỷ XIII trở đi, chữ Nôm

6 Đào Duy Quát: Quản lý hoạt động văn hóa, tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 102

Trang 20

đã trở thành chữ viết được sử dụng phổ biến hơn Tiếp sau chữ Nôm, việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ đã nhanh chóng trở thành công cụ đắc lực để truyền bá khoa học và phát triển văn hóa, chữ Quốc ngữ dần được hoàn thiện và trở thành chữ viết của nước

ta hiện nay.7

Song song với sự ra đời và phát triển của chữ viết và ngành in, đến trước năm

1920 ở Miền Bắc đã ra đời các nhà xuất bản như: Hoàng Xuân Lan, Văn Minh, Bình Dân chỉ chuyên in truyện Nôm, truyện cổ loại bình dân Cùng thời điểm này, có hai nhà xuất bản in sách tiến bộ yêu nước là nhà xuất bản Nam đồng thư xã và nhà xuất bản Giác quân thư do Ngô Đức Kế sáng lập đã xuất bản một số sách dịch tác phẩm của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Sau này, Nam đồng thư xã đã trở thành cơ quan xuất bản của Việt Nam quốc dân Đảng

Từ năm 1930 - 1945 hàng loạt các nhà xuất bản ra đời, đáng kể đến là nhà xuất bản Đời nay và Lê Cường Trong giai đoạn này Hà Nội đã trở thành trung tâm xuất bản lớn nhất nước Đến thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939) nhằm phục vụ cách mạng, những tập sách dân chúng, chủ nghĩa Mác - Lênin, báo chí của Đảng được phát hành rộng rãi Ở thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, vào cuối những năm 30 Hà Nội

là thủ đô của xuất bản, phát triển và ổn định, sách được xuất bản nhiều hơn Sau những biến cố chiến tranh, tạm chiến, những năm đầu quá độ, xuất bản ở Hà Nội lại chiếm lĩnh vị trí số một trong cả nước Theo thống kê ở miền Nam dưới chế độ Mỹ - Ngụy (1954 - 1972) ngành xuất bản cũng rất phát triển với việc xuất bản 21.279 đầu sách, trong đó có 6930 đầu sách giáo khoa chủ yếu xuất bản ở Sài Gòn và một phần ở Huế Giai đoạn 1945 – 1954: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (ngày 2-9-1945), một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất được mở ra đối với dân tộc Việt Nam Ngày 23-11-1945, Nhà xuất bản Lao động trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ra đời Tiếp đó,

ngày 5-12-1945, Nhà xuất bản Sự thật (tiền thân là Nhà xuất bản Giải phóng, cơ quan

ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng bộ Việt Minh, bây giờ là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật) ra mắt Sau đó ít ngày là Nhà xuất bản Văn hoá cứu quốc của tổ chức Văn hoá cứu quốc Đó là ba nhà xuất bản đầu tiên của chế độ mới, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Song song với việc thành lập các nhà xuất bản, nhằm luật hoá dần dần công tác xuất bản, ấn loát, đầu năm 1946, cơ quan Tổng phát hành sách báo cứu quốc được thành lập Mạng lưới cơ quan phát hành, các hiệu sách được lập ra ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam có nhiệm vụ tuyên truyền và phát hành

7 Bách khoa thư Hà Nội, http://thanglonghanoi.gov.vn/channel/148/2010/08/6927/#BZzRTtNUHzVp, [truy cập

ngày 12/1/2012]

Trang 21

sách báo cách mạng và kháng chiến trong cả nước Như vậy là ngành xuất bản Việt Nam trong những ngày đầu sau Quốc khánh 2-9-1945, tuy còn non trẻ, khó khăn nhưng bước đầu đã thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Hướng dẫn quốc quân thực hiện Độc lập, Tự cường và Tự chủ"

Công tác xuất bản, phát hành, ấn loát là một trong những hoạt động rất quan trọng của công tác văn hoá trong kháng chiến Theo thống kê của chín nhà xuất bản thì chỉ tính từ đầu năm 1947 đến đầu năm 1954, các nhà xuất bản đã cho ra đời 324 đầu sách Như vậy, những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) là giai đoạn đặc biệt của lịch sử ngành xuất bản Việt Nam Đó là thời kỳ mở đầu, thời kỳ đặt móng, xây nền cho ngành xuất bản của nước Việt Nam mới

Giai đoạn từ năm 1954 – 1975: Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp nghị Giơnevơ (ngày 21-7-1954) chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương Trong thời kỳ này, có thể điểm lại một số mốc quan trọng của hoạt động xuất bản ở miền Bắc như:

Những năm từ 1955 đến 1959 là thời kỳ ngành xuất bản vừa phải tiến hành việc cải tạo, quản lý, hướng dẫn các hoạt động xuất bản tư nhân trong chế độ cũ, vừa tìm tòi, xác định nguyên tắc cho hoạt động xuất bản mới khi chính quyền cách mạng được thiết lập, tạo điều kiện cho nó phát triển cơ bản và lâu dài, đồng thời, lại phải khẩn trương triển khai những hoạt động phục vụ kịp thời các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở giai đoạn này Cụ thể là:

Về xuất bản, cho đến năm 1957 ở miền Bắc có 14 nhà xuất bản, trong đó có một

số nhà xuất bản tư nhân Được xuất bản nhiều trong thời gian này là sách về chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sách giáo khoa, sách thiếu nhi, sách khoa học phục vụ nhiều đối tượng Các nhà xuất bản Sự thật, Nông thôn, Thanh niên, Phổ thông, Văn học, Quân đội nhân dân, Kim Đồng, Ngoại văn là những nhà xuất bản có đông bạn đọc nhất Từ năm 1958, hoạt động xuất bản ở miền Bắc đã đi vào ổn định, bước đầu đạt được những thành tích đáng ghi nhận Trong ba năm khôi phục, phát triển kinh tế 1958 - 1960, hệ thống và quy mô xuất bản được xác lập rõ ràng Năm 1959, Ban Bí thư, đã ban hành các chỉ thị

số 51 và 172 theo đó ba ngành in, xuất bản và phát hành sách báo được tách ra từ Nhà

in Quốc gia (thành lập trong kháng chiến chống Pháp) Từ đây nhiều cơ sở xuất bản đã hoạt động độc lập, tách khỏi các cơ quan báo chí Do đó, số lượng sách, văn hoá phẩm được xuất bản tăng lên rất nhanh, năm sau tăng gấp nhiều lần năm trước Năm 1955,

số lượng sách được xuất bản chỉ là 1,5 triệu bản thì năm 1957 đã là 10 triệu bản, đến năm 1960, lên tới 14 triệu bản, bao gồm 2.000 tên sách

Trang 22

Những năm 1960 – 1975: đây là thời kỳ cả nước có chiến tranh Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, sách, báo đã khẳng định vị thế, trở thành một công cụ lợi hại trong công tác vận động, cổ vũ nhân dân hăng hái lao động sản xuất, dũng cảm chiến đấu

Giai đoạn 1975 – 1986: Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngành xuất bản, một binh chủng quan trọng trong mặt trận tư tưởng - văn hoá của Đảng đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa mới Với tinh thần chủ động và sự chuẩn bị ngay từ thời gian chiến tranh, sau khi kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã chuyển vào miền Nam 20 triệu bản sách ở kho phát hành sách trung ương

và hàng triệu bản sách ở các thư viện Sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1980, một loạt các nhà xuất bản tổng hợp của các địa phương ở cả Bắc, Trung, Nam ra đời và hoạt động Cả nước có 14 nhà xuất bản địa phương Đến năm 1985, toàn quốc có 40 nhà xuất bản (trung ương 26, địa phương 14), 26 nhà xuất bản thuộc các cơ quan trung ương có chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo hoạt động xuất bản phục vụ cho bạn đọc cả nước.8

Giai đoạn từ năm 1986 cho đến nay do tình hình kinh tế sau chiến tranh chậm hồi phục, sản xuất chưa phát triển đã kéo theo sự chậm phát triển của ngành xuất bản trong giai đoạn này Đến thời kỳ đổi mới, hoạt động xuất bản được quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn Sự liên kết của tư nhân có tay nghề về xuất bản, nguồn vốn, nhiều nhà xuất bản đã có nhiều công trình in đẹp, nhiều sách có chất lượng, làm đa dạng các loại sách Việt Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới ngành xuất bản cũng đã xuất hiện xu hướng thương mại và chạy theo thị hiếu, công tác lãnh đạo quản lý các nhà xuất bản, hoạt động xuất bản còn nhiều sơ hở Giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, quan điểm đối với hoạt động xuất bản và đưa ra những phương hướng nhiệm

vụ để phát triển Luật xuất bản năm 1993 ra đời và tiếp sau đó là sự thay thế của Luật xuất bản 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) quy định cụ thể về hoạt động xuất bản cũng như nhiệm vụ, chức năng của ngành xuất bản và các cơ quan quản lý trong lĩnh vực này nhằm chấn chỉnh, ổn định, tạo điều kiện cho hoạt động xuất bản tiếp tục phát triển Hiện nay, theo số liệu thống kê của Cục Xuất bản năm 2009 cả nước có 60 nhà xuất bản, khoảng 1.200 cơ sở in, 129 công ty phát hành sách quốc doanh, khoảng 12.000 cửa hàng, nhà sách tư nhân và đến năm 2011 số lượng nhà xuất bản của cả nước đã tăng lên là 64 nhà xuất bản, khoảng 1.500 cơ sở in công nghiệp, gần 120 công

ty phát hành sách thuộc tỉnh, thành phố, 85 công ty trách nhiệm hữu hạn và mạng lưới

8

Trang thông tin điện tử Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật: Quá trình ra đời và phát triển của nền xuất

bản cách mạng Việt Nam, http://nxbctqg.org.vn/index.php?option=comcontent&view=article&id=2272

:quatrinh-ra-i-va-phat-trin-ca-nn-xut-bn-cach-mng-vit-nam-p3-thi-k-1954-1975&catid=111:tin-xuat ban&Itemid

= 487, [truy cập 12/1/2012]

Trang 23

hơn 14.000 các cửa hàng, nhà sách và đại lý ở khắp cả nước.9

Hoạt động xuất bản đã từng bước thích ứng với cơ chế thị trường và có bước phát triển đáng kể về lực lượng

và nâng lực hoạt động Ngành xuất bản đã cho ra đời nhiều xuất bản phẩm ngày một phong phú và đa dạng hơn, sách về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội được xuất bản nhiều hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao về xuất bản phẩm của toàn xã hội

1.2.5 Đường lối, quan điểm của Đảng về hoạt động xuất bản

Hoạt động xuất bản là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ công tác

tư tưởng - văn hoá Vì vậy, Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác xuất bản, xác định đó

là một công cụ phục vụ có hiệu quả trong công tác tư tưởng Tương ứng với từng thời

kỳ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước hoạt động xuất bản luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm và tạo điều kiện phát triển Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xuất bản có thể khái quát ở những nội dung cơ bản sau đây: Xác định xuất bản là một trong những nguồn lực và vũ khí sắc bén của cuộc cách mạng ở nước ta Ngày 23/11/1959 Ban bí thư trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 172- CT/TW xác định vị trí, tính chất, nhiệm vụ của ba ngành xuất bản, in và phát hành không chỉ đơn thuần là kinh doanh mà còn chủ yếu là công cụ chuyên chính vô sản của nước ta Sau thời kỳ cách mạng, xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế - xã hội để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và hòa nhập cùng với xu thế phát triển của thời đại Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI từ ngày 15-18/12/1986, Đảng đã đề

ra những đường lối, chủ trương, chính sách quan trọng phát triển toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực Trong đó văn hóa - xã hội là lĩnh vực quan trọng không thể thiếu, việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới là sự nghiệp mang nội dung toàn

9 Đặng Vũ Huân, Trang thông tin điện tử Nhà xuất bản thông tin và truyền thông: Đề cao việc chấp hành pháp

luật trong hoạt động xuất bản, http://nxbthongtintruyen thong.vn/?NXB=detailnews&NewsID=163&ItemI Dem=3, [truy cập ngày 20/01/ 2012]

Trang 24

xây dựng chủ nghĩa xã hội” Trong đó, hoạt động xuất bản cũng là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có nhiệm vụ tích lũy và truyền bá các giá trị tinh thần, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, xây dựng nền tảng tư tưởng, xây dựng đạo đức, lối sống và phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam, góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành

xã hội học tập Chính vì vậy, hoạt động xuất bản cũng là một phần quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới Từ đó về sau, qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi trọng hiệu quả của hoạt động xuất bản, có những định hướng nhất định phù hợp với thực tế, nêu rõ trách nhiệm chăm

lo phát triển sự nghiệp xuất bản là của các ngành, các cấp và toàn thể xã hội

Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, đã xuất hiện xu hướng “thương mại hóa” trong lĩnh vực xuất bản, các nhà xuất bản chủ yếu chạy theo thị hiếu, lợi nhuận làm cho chất lượng của công tác xuất bản không được đảm bảo, gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc xây dựng nền văn hóa, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7/1998) cũng đã nêu rõ những mặt yếu kém

và thiếu sót về mặt xuất bản “Các loại văn hóa phẩm độc hại vẫn còn xâm nhập vào xã hội và các gia đình… Lãnh đạo quản lý trong xuất bản văn học, nghệ thuật còn nhiều

sơ hở” Trước những hạn chế, yếu kém đó Đảng cũng đã đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, trong đó có công tác xuất bản nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Các tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và nhiệm vụ phát triển hoạt động xuất bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được xác định trong các văn kiện của Đảng:

Chỉ thị 08-CT/TW ngày 31/2/1992 của Ban Bí thư (khóa VII) về "Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí - xuất bản" và Chỉ thị 22-CT/TW ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về việc

"Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản" Đảng đã thể hiện rõ quan điểm về xuất bản, đề ra những nguyên tắc nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước với công tác báo chí, xuất bản Trong Chỉ thị 42-CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản Đảng ta đã xác định nhiệm vụ cụ thể của hoạt động xuất bản, định hướng phát triển và đề ra các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động của xuất bản Cụ thể như sau:

Về định hướng phát triển: hoạt động xuất bản phải chăm lo bảo vệ , khẳng định

và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp thu

Trang 25

tinh hoa văn hóa nhân loại và đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái lạc hậu Hoạt động xuất bản phải coi trọng việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh, xây dựng xuất bản thành một ngành kinh tế

- công nghệ phát triển toàn diện, vững chắc

Về nhiệm vụ cụ thể: đó là nâng cao chất lượng toàn diện các xuất bản phẩm, tiếp tục rà soát, bổ sung và thực hiện tốt quy hoạch ngành xuất bản, nâng cao hiệu quả kinh

tế của xuất bản, in và phát hành, xây dựng các mô hình và cơ cấu mới phù hợp với sự phát triển của công nghiệp xuất bản hiện đại Đặc biệt chăm lo phát triển nhu cầu văn hóa đọc của các tầng lớp nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội cho xuất bản và phát hành sách phục vụ đông đảo nhân dân

Về giải pháp thực hiện: đổi mới và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, in và phát hành Sửa đổi, bổ sung và xây dựng các văn bản luật, cơ chế, chính sách thống nhất để quản lý, thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát để quản lý tốt Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực, mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển sự nghiệp xuất bản

Bên cạnh đó, Đảng cũng đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng về bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trình độ của đội ngũ hoạt động xuất bản Nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của Đảng đã chỉ rõ những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, đồng thời định hướng phát triển với tầm nhìn bao quát Các văn kiện chỉ đạo của Đảng ta đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về xuất bản, xây dựng những chính sách và cơ chế phù hợp để xuất bản phát triển theo đúng chủ trương, đường lối Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hoạt động xuất bản cần được sự quan tâm nhiều hơn của các cấp, các ngành và toàn xã hội để hoạt động có hiệu quả hơn trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.3 Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Như đã đề cập Xuất bản là lĩnh vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác

tư tưởng, lý luận và ngay từ khi ra đời hoạt động xuất bản đã góp phần không nhỏ trong việc từng bước thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ xuất bản phẩm của xã hội, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân và còn góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Quan điểm của Đảng qua các thời kỳ

Trang 26

đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lĩnh vực này và khẳng định cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản Vì vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản luôn được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng Từ khái niệm chung về quản lý nhà nước ta có khái niệm quản lý nhà nước

về hoạt động xuất bản như sau:

Khái niệm: Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản là hoạt động quản lý của

Nhà nước chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm, được thực hiện bởi một bên là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với một bên là

cá nhân, cơ quan, tổ chức, hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, dựa trên cơ sở pháp luật, nhằm đạt được một hoặc một số mục đích thống nhất nhất định

Hay nói cách khác, công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản được hiểu là

quản lý toàn bộ các hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm,

do các cơ quan nhà nước thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật Trong xã hội hiện đại ngày nay, hoạt động xuất bản ngày càng phát triển đã và đang phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần phải giải quyết Để hoạt động này phát triển theo những mục tiêu và yêu cầu nhất định thì vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước là rất quan trọng

1.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Theo quy định tại Điều 7 Luật Xuất bản năm 2004 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008) thì trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản thuộc về các cơ quan sau:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước

Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ

1.3.3 Các công cụ quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý sử dụng

để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra Công cụ quản

lý của Nhà nước về hoạt động xuất bản là tổng thể những phương tiện mà Nhà nước

Trang 27

sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý của mình trong hoạt động xuất bản, nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định.Để nâng cao chất lượng trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản thì việc áp dụng có hiệu quả các công cụ quản lý là điều rất cần thiết Hiện nay, Nhà nước quản lý hoạt động xuất bản dựa trên những loại công

cụ chính sau: pháp luật, chính sách, quy hoạch và kế hoạch

Công cụ pháp luật: pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một

Nhà nuớc Từ xưa đến nay, Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình truớc hết bằng pháp luật, dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi

của con nguời Vì vậy, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng bảo đảm sự ổn định và

phát triển năng động của xã hội

Pháp luật về hoạt động xuất bản có thể được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các thủ thể tham gia trong hoạt động xuất bản với nhau và với các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động này Với tư cách là công cụ đắc lực trong việc quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, thông qua pháp luật về xuất bản nhà nước xác định rõ mục đích và nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, xác định địa vị pháp lý của các cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia trong hoạt động xuất bản, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này Mặt khác, bằng pháp luật nhà nước thiết lập một hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản từ trung ương đến địa phương, quy định cơ cấu, chức năng, phân định rõ nhiệm vụ

và quyền hạn cho các cơ quan này, tạo hành lang pháp lý thuận lợi giúp cho công tác quản lý đối với hoạt động xuất bản đạt hiệu quả Đồng thời, pháp luật cũng là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ, chính sách của Nhà nuớc đuợc thực hiện có hiệu quả hơn

Trong hệ thống pháp luật của nước ta, công cụ pháp luật có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý hoạt động xuất bản cụ thể như sau: Luật Xuất bản, Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp, các nghị định, các thông tư, quyết định, chỉ thị… của Chính phủ, của các bộ, ngành có liên quan đến hoạt động xuất bản

và các văn bản quản lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương Có thể nói, trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, trước những đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật về xuất bản ở nước ta đã không ngừng được hoàn thiện Nhìn chung, các quy định của pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho hoạt động xuất bản và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản được hiệu quả hơn

Chính sách: Bên cạnh công cụ pháp luật, chính sách cũng là một trong những

công cụ đóng vai trò không nhỏ trong việc quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Trang 28

Chính sách trong quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản chính là những sách lược, chủ trương và biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong từng thời kỳ nhằm đem lại hiệu quả trong công tác quản lý Các chủ trương, đường lối và biện pháp để thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản đã được thể hiện

cụ thể trong các văn kiện chỉ đạo của Đảng như: Chỉ thị 08-CT/TW ngày 31 tháng 02 năm 1992 của Ban Bí thư (khóa VII) về "Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí - xuất bản", Chỉ thị 22-CT/TW ngày

17 tháng 10 năm 1997 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về việc "Đổi mới và tăng cường

sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản", đặc biệt là Chỉ thị 42-CT/TW ngày

25 tháng 8 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX về “nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản” Trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý đối với hoạt động xuất bản được cụ thể hóa trong các văn kiện trên, trong thực tiễn quản lý, Nhà nước đã ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sự nghiệp xuất bản Cụ thể như: các chính sách về ưu tiên đầu

tư ứng dụng công nghệ - kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực xuất bản, chính sách về lao động và nguồn nhân lực qua việc hỗ trợ kinh phí đào tạo nâng cao chuyên môn, nghiệp

vụ cho cán bộ làm công tác quản lý trong hoạt động xuất bản, chính sách khen thưởng hàng năm trong hoạt động xuất bản, chính sách bảo hộ đối với quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản

Công cụ quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản: trong công tác

quản lý nhà nuớc về hoạt động xuất bản, công cụ quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành xuất bản là một công cụ quan trọng trong việc quản lý và phát triển đối với hoạt động xuất bản, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nuớc Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc phát triển ngành xuất bản được thực hiện theo những mục tiêu, định hướng phát triển cụ thể Nhà nước sẽ kiểm soát được tình hình hoạt động và phát triển của ngành xuất bản Đồng thời, quy hoạch, kế hoạch cũng là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước chỉ đạo hoạt động xuất bản phát triển một cách thống nhất, đưa xuất bản trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước Vì vậy, cần nâng cao tính pháp lý, tính khả thi của hệ thống các văn bản quy hoạch, phổ biến quy hoạch một cách công khai, minh bạch để mọi người biết và tuân thủ Đặc biệt, cần tăng cường và củng cố các chức năng quản lý kết hợp với thanh tra, kiểm tra thường xuyên vấn đề tuân thủ quy hoạch Hiện nay, Dự thảo Quy hoạch phát triển ngành xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm đến năm 2020 đã được hoàn thành, đề ra những mục tiêu, định hướng phát triển cũng như những biện pháp cụ thể để thực hiện cũng như vai trò của cơ quan quản lý trong việc tổ chức thực hiện quy hoạch đã đề ra

Trang 29

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN 2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý trong công tác quản lý hoạt động xuất bản

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

Để công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản đạt được hiệu quả cao thì trước hết các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý phải thực hiện tốt những nhiệm

vụ và quyền hạn của mình đã được pháp luật quy định Theo như quy định của Luật Xuất bản có thể chia cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản thành: cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản ở trung ương và cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản ở địa phương Nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan này trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản được quy định cụ thể trong Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 08 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản, Nghị định này đã được sửa đổi,

bổ sung bằng Nghị định số 11/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 và Nghị định

số 110/2010/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2010 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 111/2005/NĐ-CP)

* Cơ quan quản lý cấp trung ương

Chính phủ: thực hiện vai trò thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

trong phạm vi cả nước, Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc xây dựng và trình Quốc hội các dự án luật về hoạt động xuất bản, ban hành theo thẩm quyền các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản, chính sách quản lý về hoạt động xuất bản và các văn bản cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước, phê duyệt quy hoạch, kế

hoạch phát triển ngành xuất bản

Bộ Thông tin và Truyền thông: được thành lập trên cơ sở Bộ Bưu chính Viễn

thông, sáp nhập với Cục Báo chí và Cục Xuất bản thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin cũ, là

cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản trên phạm vi cả nước theo luật định, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Thông tin và Truyền thông được quy định cụ thể tại Điều 5 Nghị định số 111/2005/NĐ-CP Theo đó, Bộ Thông tin và Truyền thông có những nhiệm xụ và quyền hạn sau:

Trang 30

Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm; văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về hoạt động xuất bản; quản lý công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về hoạt động xuất bản, quản lý vấn đề hợp tác quốc tế trong hoạt động xuất bản Có thể nhận thấy, quy định trên đã thể hiện được vai trò quan trọng của Bộ Thông tin và Truyền thông khi thực hiện thống nhất quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, là đầu tàu trong việc chủ trì xây dựng và đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ

và định hướng phát triển hoạt động xuất bản để tham mưu cho Chính phủ, cũng như xây dựng khung pháp lý thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước khi ban hành các văn bản quy định cụ thể về việc quản lý đối với từng lĩnh vực trong hoạt động xuất bản Bộ Thông tin và Truyền thông còn có thẩm quyền trong việc cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản, giấy phép đặt văn phòng đại diện của nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài tại Việt Nam và giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh

Bên cạnh thẩm quyền cấp phép hoạt động, Bộ còn quyền hạn trong việc thu hồi giấy phép, tạm đình chỉ hoạt động của các chủ thể trên; cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu hoặc tiêu huỷ xuất bản phẩm vi phạm của nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản, cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm Đồng thời, tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động xuất bản; chỉ đạo, hướng dẫn việc tuyển chọn, trao giải thưởng đối với xuất bản phẩm có giá trị cao và thực hiện thanh tra, kiểm tra, đôn đốc hoạt động xuất bản và việc chấp hành pháp luật về xuất bản; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản theo thẩm quyền

Ngoài vai trò quản lý chủ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, trên thực tế các

Bộ ngành khác cũng đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản Khi thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư ứng dụng công nghệ - kỹ thuật tiên tiến trong lĩnh vực xuất bản rất cần đến vai trò của Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc tổ chức nghiên cứu, sản xuất các thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến phục vụ cho lĩnh vực xuất bản Đồng thời, khi thực hiện các chính sách hỗ trợ kinh phí cho việc xây dựng, hoàn thiện giáo trình; đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở trong và ngoài nước cho đội ngũ biên tập viên nhà xuất bản, kỹ sư công nghệ in, cán

bộ quản lý của nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành xuất bản phẩm; hỗ trợ kinh phí

tổ chức và tham gia triển lãm, hội chợ sách, kinh phí khen thưởng hàng năm đối với xuất bản phẩm có giá trị cao cũng như thực hiện chính sách đặt hàng, mua bản thảo,

hỗ trợ mua bản quyền, trợ cước vận chuyển xuất bản phẩm đến vùng có điều kiện

Trang 31

kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, phục vụ đồng bào miền núi và hải đảo thì rất cần đến vai trò quan trọng của Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc tổ chức kế hoạch, cân đối ngân sách hàng năm để thực hiện các chính sách trên.Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông còn có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan nghiên cứu, ban hành các văn bản để thực hiện các chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản đã được đề

ra Tuy nhiên, hiện nay nhiệm vụ và quyền hạn của các Bộ ngành có liên quan trên vẫn chưa được Luật xuất bản 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành quy định một cách cụ thể Việc quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các Bộ trong công tác quản lý hoạt động xuất bản là rất quan trọng Bởi vì, khi nhiệm vụ và quyền hạn đã được phân công một cách rõ ràng và cụ thể thì trong hoạt động quản lý mỗi Bộ sẽ biết nhiệm vụ, quyền hạn của mình bao gồm những gì, phạm

vi trách nhiệm tới đâu Trong trường hợp có sai phạm xảy ra thì sẽ dễ dàng biết được sai phạm đó thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ nào, xử lý ra sao Vì vậy, cần xây dựng những quy định cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn của các Bộ ngành có liên quan trong công tác quản lý hoạt động xuất bản để có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý, tạo hiệu quả quản lý cao hơn

Cục Xuất bản: là cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, thực hiện

chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Xuất bản được quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 11/2005/NĐ-CP và còn được quy định rất cụ thể trong Quyết định số 10/2008/QĐ-BTTTT ngày 26 tháng 03 năm

2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Cục xuất bản Với vai trò là cơ quan chức năng của Bộ Thông tin

và Truyền thông, nhiệm vụ cơ bản của Cục là giúp Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền

thông hiện các nhiệm vụ về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản trên phạm vi

cả nước Theo đó, Cục Xuất bản có nhiệm vụ chủ trì, tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động xuất bản để trình Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành theo thẩm quyền; xây dựng và trình Bộ trưởng các quy hoạch, kế hoạch dài hạn và chương trình công tác hàng năm về hoạt động xuất bản Đồng thời, Cục Xuất bản còn chủ trì hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch về hoạt động xuất bản đã được phê duyệt; tuyên truyền phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện thông tin hoạt động nghiệp vụ, tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới về hoạt động xuất bản; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý cho cán bộ, công chức, viên chức ngành xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm và phối hợp

Trang 32

thực hiện sau khi được phê duyệt cũng như xây dựng kế hoạch nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong hoạt động xuất bản

Cục Xuất bản sẽ có trách nhiệm thẩm định và trình Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cấp, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép thành lập nhà xuất bản, giấy phép đặt văn phòng đại diện cho các tổ chức nước ngoài trong lĩnh vực xuất bản và phát hành xuất bản phẩm Đối với vấn đề quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ và quan hệ quốc tế trong hoạt động xuất bản, Cục Xuất bản còn có những nhiệm

vụ và quyền hạn sau:

Về quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ, Cục Xuất bản có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc bộ để tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật cũng như thực hiện các biện pháp bảo vệ hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân về quyền tác giả đối với xuất bản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ các phát minh sáng chế thuộc lĩnh vực xuất bản và để đạt được hiệu quả thì Cục Xuất bản còn có nhiệm vụ chủ trì tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ bảo hộ về quyền tác giả đối với xuất bản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ các phát minh sáng chế thuộc lĩnh vực xuất bản cho các ngành, địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và công dân

Về quan hệ quốc tế, Cục Xuất bản phối hợp xây dựng kế hoạch hợp tác quốc tế

và trình Bộ trưởng ban hành quy định về điều kiện liên doanh, liên kết, hợp tác với nước ngoài và các tổ chức quốc tế về hoạt động xuất bản đồng thời hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện hợp tác với nước ngoài và tổ chức quốc tế trong hoạt động xuất bản; quản lý văn phòng đại diện của nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực xuất bản và phát hành xuất bản phẩm; phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại về xuất bản theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

Ngoài ra, Cục Xuất bản còn có nhiệm vụ quan trọng trong việc quản lý việc lưu chiểu xuất bản phẩm và tổ chức đọc xuất bản phẩm lưu chiểu để đảm bảo cho việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung của xuất bản phẩm; nhận và quản lý đăng ký kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản; đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu của cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy định về quảng cáo trên xuất bản phẩm Khi cấp và thu hồi các loại giấy phép hoạt động đối với các cá nhân, tổ chức tham gia trong hoạt động xuất bản như: giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm; giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài; giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm; giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh; giấy phép triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm, Cục Xuất bản phải chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

Trang 33

Bên cạnh đó, Cục còn có thẩm quyền tạm đình chỉ hoặc đình chỉ các hoạt động như: hoạt động in xuất bản phẩm hoặc in xuất bản phẩm đang in; phát hành xuất bản phẩm; kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm; tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài khi các tổ chức cá nhân này có hành vi vi phạm và tạm đình chỉ lưu hành xuất bản phẩm vi phạm pháp luật về xuất bản; thực hiện kiểm tra, phối hợp thanh tra việc thực hiện pháp luật về xuất bản của các chủ thể tham gia trong hoạt động xuất bản; giải quyết các khiếu nại, tố cáo, xử lý

và kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm

* Cơ quan quản lý cấp địa phương

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động

xuất bản tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ Nhiệm vụ và quyền hạn của

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định cụ thể tại Điều 6 Nghị định số

111/2005/NĐ-CP Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: xây dựng quy hoạch, quyết định kế hoạch phát triển các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm thuộc địa phương; xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động xuất bản; tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong hoạt động xuất bản tại địa phương; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản theo thẩm quyền

Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động của nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành xuất bản phẩm của trung ương tại địa phương; chi nhánh, văn phòng đại diện nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành xuất bản phẩm của trung ương và tổ chức, cá nhân khác tại địa phương khi có hành vi

vi phạm pháp luật về xuất bản; cơ sở phát hành xuất bản phẩm tại địa phương khi phát hành xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Luật Xuất bản và tạm đình chỉ việc kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm của cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm và báo cáo Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Bên cạnh đó, khi phát hiện các xuất bản phẩm vi phạm pháp luật về xuất bản của nhà xuất bản, cơ quan, tổ chức được phép xuất bản, cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm thuộc địa phương Ủy ban nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền cấm lưu hành, thu hồi, tịch thu hoặc tiêu huỷ và báo cáo Bộ trưởng BộThông tin và Truyền thông

Sở Thông tin và Truyền thông: là cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân

cấp tỉnh, được thành lập trên cơ sở Sở Bưu chính, Viễn thông và tiếp nhận chức năng,

tổ chức quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Sở Văn hoá – Thông tin trước đây

Sở Thông tin và Truyền thông có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nhiều lĩnh vực trong đó có hoạt động

Trang 34

xuất bản Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 111/2005/NĐ-CP, ngoài nhiệm vụ giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ đã được quy định trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản Sở Thông tin và Truyền thông còn có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: cấp và thu hồi các loại giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; giấy phép triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc địa phương, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức của trung ương tại địa phương; giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm và giấy phép in gia công xuất bản phẩm cho nước ngoài đối với cơ sở

in xuất bản phẩm thuộc địa phương và giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh

Đối với việc lưu chiểu xuất bản phẩm, Sở Thông tin và Truyền thông đảm nhiệm quản lý việc nhận lưu chiểu xuất bản phẩm và tổ chức đọc xuất bản phẩm lưu chiểu do địa phương cấp phép xuất bản Đồng thời, thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về xuất bản; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản theo thẩm quyền Ngoài ra, Sở còn có thẩm quyền tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động in xuất bản phẩm, việc in xuất bản phẩm đang in nếu phát hiện nội dung xuất bản phẩm vi phạm Điều 10 Luật Xuất bản; tạm đình chỉ việc tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm của cơ quan, tổ chức, cá nhân do địa phương cấp phép, việc phát hành xuất bản phẩm có nội dung vi phạm Luật Xuất bản của cơ sở phát hành xuất bản phẩm tại địa phương Thực hiện việc tiêu huỷ xuất bản phẩm vi phạm pháp luật về xuất bản khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Trong trường hợp phát hiện nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở phát hành xuất bản phẩm của trung ương tại địa phương có sai phạm phải tạm đình chỉ hoạt động Sở Thông tin và Truyền thông còn có trách nhiệm báo cáo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông sẽ phải trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét và xử lý theo thẩm quyền

Nhìn chung, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản đã được quy định khá cụ thể, rõ ràng, thể hiện được sự phân công, phân cấp trong quản lý đối với hoạt động này Tuy nhiên vẫn còn một số quy định chưa phù hợp như: theo quy định của Luật Xuất bản, các nhà xuất bản, kể cả nhà xuất bản địa phương thực hiện đăng ký kế hoạch xuất bản và nộp lưu chiểu trực tiếp tại Cục Xuất bản - Bộ Thông tin và Truyền thông mà không có quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Điều này sẽ gây khó khăn cho Sở Thông tin và

Trang 35

Truyền thông các địa phương khi không đánh giá được chính xác được tình hình hoạt động xuất bản của các nhà xuất bản trên địa bàn và cả nhà xuất bản thuộc địa phương mình quản lý Đồng thời, Sở Thông tin và Truyền thông cũng không được giao trách nhiệm trong việc thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý đối với nhà xuất bản trên địa bàn gây khó khăn cho cơ quan này trong công tác tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý hoạt động xuất bản Do đó, người viết thiết nghĩ trong việc phân cấp quản lý cần có những quy định phân cấp, tăng thẩm quyền cho Sở Thông tin và Truyền thông trong việc nhận, quản lý xuất bản phẩm lưu chiểu của các nhà xuất bản thuộc địa phương nhằm đảm bảo địa phương nắm đầy đủ thông tin liên quan và đồng thời có thẩm quyền kiểm tra, xử lý trong khâu hậu kiểm để việc quản lý trong lĩnh vực xuất bản được hiệu quả hơn

2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chủ quản nhà xuất bản

Bên cạnh trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan chủ quản nhà xuất bản cũng đóng vai trò quan trọng việc quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản Bởi vì, cơ quan chủ quản nhà xuất bản là chính cơ quan, tổ chức trực tiếp đứng tên xin phép thành lập nhà xuất bản và theo quy định tại Điều 13 của Luật xuất bản 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2008), cơ quan chủ quản nhà xuất bản có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: xác định và chỉ đạo thực hiện tôn chỉ, mục đích, phương hướng hoạt động của nhà xuất bản; xét duyệt kế hoạch xuất bản của nhà xuất bản, cấp vốn ban đầu và bảo đảm các điều kiện cần thiết khác để nhà xuất bản hoạt động; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc, tổng biên tập nhà xuất bản; thanh tra, kiểm tra hoạt động của nhà xuất bản theo thẩm quyền Đồng thời, chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật của nhà xuất bản trong hoạt động xuất bản theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Có thể nhận thấy, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chủ quản nhà xuất bản thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan chủ quản và nhà xuất bản, tạo điều kiện chủ động cho cơ quan chủ quản trong việc thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình khi đề ra phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động, tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ các bộ làm công tác xuất bản, một trong những khâu quan trọng để đảm bảo chất lượng của các xuất bản phẩm Đồng thời điều luật còn tạo điều kiện cho cơ quan chủ quản chủ động xây dựng quy chế quản lý hoạt động của nhà xuất bản thuộc quyền Chính vì vậy, vai trò của cơ quan chủ quản nhà xuất bản là hết sức quan trọng trong việc quản lý hoạt động xuất bản Nếu như cơ quan chủ quản buông lỏng vai trò, trách nhiệm của mình, không có sự thống nhất, rành mạch trong chỉ đạo, quản lý hoạt động của nhà xuất bản thì rất dễ dẫn đến tình trạng hoạt động của các nhà xuất bản

Trang 36

xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo mục đích thương mại vì lợi nhuận gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan nhà nước Do đó, để công tác quản lý nhà nước

về hoạt động xuất bản đạt hiệu quả thì cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan chủ quản nhà xuất bản cũng như sự phối hợp của cơ quan chủ quản với cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý hoạt động của các nhà xuất bản

2.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản

2.2.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản

Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản Ngay từ khi Luật Xuất bản năm 1993 được ban hành, vấn đề xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản trong nội dung quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này đã được đặt ra Bởi vì, quản lý tốt đi đôi với phát triển tốt là mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp quản lý của Nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực trong đó có cả lĩnh vực xuất bản

Mục đích của việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để phát triển sự nghiệp xuất bản không chỉ đơn thuần là nhằm tạo ra mục tiêu và định hướng chung để tăng về mặt số lượng, mở rộng quy mô, phạm vi tác động và nâng cao chất lượng của xuất bản phẩm, góp phần tích cực vào sự nghiệp quản lý nhà nước về mặt tư tưởng, văn hóa, xây dựng và phát triển đất nước mà còn tạo ra khung pháp lý cần thiết để tăng cường nâng lực quản lý nhà nước, phát huy vai trò của các cơ quan và các tổ chức cá nhân tham gia vào hoạt động xuất bản, tạo ra nguồn lực tài chính cần thiết để thực hiện các nội dung trong quy hoạch đã đề ra

Về trách nhiệm xây dựng quy hoạch, theo như quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 02/2010/TT-BTTTT ngày 11 tháng 01 năm 2010 của Bộ Thông tin và truyền thông quy định chi tiết thi hành một số quy định của Luật Xuất bản ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản ngày 03 tháng 6 năm 2008, Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2005 và Nghị định số 11/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 12/2011/TT-BTTTT, sau đây gọi tắt là Thông tư 02/2010/TT-BTTTT), Cục Xuất bản sẽ có trách nhiệm chủ trì xây dựng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với quy hoạch phát triển sự nhiệp xuất bản trên phạm vi toàn quốc Đối với quy hoạch phát triển ngành xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm của địa phương sẽ do Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì xây dựng căn cứ theo quy hoạch phát triển ngành xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm toàn quốc và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và trình cấp có thẩm quyền phê quyệt

Trang 37

Hiện nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã và đang đặt ra những yêu cầu mới về phát triển mọi mặt trong đó có phát triển văn hóa, tri thức và không thể không kể đến vai trò của xuất bản Do đó, việc đòi hỏi cần phải xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản lâu dài cho đất nước là điều rất cần thiết Chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển đó còn phải là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, đưa ra được các quan điểm chỉ đạo phát triển

sự nghiệp xuất bản, mục tiêu phát triển trong những năm tiếp theo và các giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu đã được đề ra Vì vậy, khi xây dựng một quy hoạch, kế hoạch phát triển đối với hoạt động xuất bản đòi hỏi các cơ quan có trách nhiệm phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc theo quy định tại khoản khoản 1 Điều 1 Thông tư 02/2010/TT-BTTTT như sau:

+ Đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển sự nghiệp xuất bản, xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển của từng giai đoạn;

+ Phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

+ Phát triển thị trường xuất bản phẩm trong nước, tiếp cận và mở rộng thị trường ngoài nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế;

+ Ứng dụng công nghệ tiên tiến và bảo vệ môi trường;

+ Quy hoạch phát triển ngành xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm của từng vùng kinh tế, từng địa phương phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm toàn quốc

Trong những năm gần đây, việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch để phát triển hoạt động xuất bản rất đã và đang được sự quan tâm của các cơ quan có thẩm quyền khi thực chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động này Cụ thể thì sau khi đã hoàn thành quy hoạch phát triển ngành Xuất bản, In, Phát hành sách đến năm 2010 Trên cơ

sở phân tích thực trạng ngành xuất bản giai đoạn 2006-2010 trên các phương diện tổ chức và loại hình hoạt động, số liệu sách xuất bản và mức hưởng thụ, cơ sở vật chất, kết quả kinh doanh, tài chính và nguồn nhân lực, hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất bản Ngày 22 tháng 9 năm 2011, Cục Xuất bản đã đưa ra Dự thảo quy hoạch ngành xuất bản, in và phát hành sách đến năm 2020.10

Quy hoạch này đề ra các mục tiêu cơ

10 Thúy Hòa, Bộ Thông tin và Truyền thông: Hoàn thiện Quy hoạch ngành Xuất bản, In, Phát hành sách đến

năm 2020, http://mic.gov.vn/tintucsukien/tinhoatdongcuabo/Trang/ HoànthiệnQuyhoạchngànhXuấtbản,In,Phát

hànhsáchđếnnăm2020.aspx?curpage=1, [truy cập ngày 09/02/2012]

Trang 38

bản, mục tiêu cụ thể, các nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn phát triển sự nghiệp xuất bản từ năm 2011-2020, đưa ra những nhiệm vụ chủ yếu của từng lĩnh vực trong hoạt động xuất bản như: sẽ hoàn thành chuyển đổi mô hình tổ chức nhà xuất bản, xây dựng hai trung tâm xuất bản sách điện tử tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Hoàn thành cổ phần hóa cơ sở in nhà nước,… Đồng thời, đặt ra các giải pháp để thực hiện tốt quy hoạch đã đề ra như: chủ động đầu tư cho hoạt động xuất bản, hỗ trợ kinh phí hiện đại hóa cơ sở vật chất cho một số nhà xuất bản Nhà nước, đầu tư để hình thành chương trình sách quốc gia, thành lập Quỹ hỗ trợ xuất bản Việt Nam trong năm 2011, hiện đại hóa 3 trung tâm in tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng và các các trọng điểm in khác, cho phép nước ngoài được đầu tư 100% vốn vào in bao bì, nhãn hàng hoá, Nhà nước hỗ trợ ngân sách để xây dựng một số trung tâm sách ở các thành phố lớn, hỗ trợ cước vận chuyển sách, báo, tạp chí đến khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng núi khó khăn, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, in, phát hành sách

Dự thảo phát triển sự nghiệp xuất bản trên đã đưa ra được các mục tiêu cơ bản,

cụ thể, các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện mục tiêu đã đề ra Tuy nhiên, sau khi quy hoạch đã được phê duyệt, để có thể thực hiện tốt quy hoạch đã đề ra mang lại hiệu quả như mong muốn, không chỉ đòi hỏi năng lực quản lý chặt chẽ, kịp thời của các cơ quan chức năng mà còn phải có sự phối hợp xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư, kế hoạch đào tạo và sắp xếp tổ chức bộ máy để thực hiện mục tiêu đề ra của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia trong hoạt động xuất bản Xã hội luôn phát triển, nhu cầu tiếp cận tri thức, văn hóa ngày càng cao Việc tiếp tục mở rộng quy mô của hoạt động xuất bản trong phạm vi toàn xã hội là một yêu cầu tất yếu, khách quan

Do đó, tiếp tục xây quy hoạch, kế hoạch và chiến lược phát triển sự nghiệp xuất bản trong thời gian sắp tới là nhiệm vụ quan trọng và hết sức thiết thực Đòi hỏi các cơ quan chức năng cần phải phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình, đưa ra được những quy hoạch, kế hoạch và chiến lược mang tính khả thi, hiệu quả Có như vậy lĩnh vực xuất bản ở Việt Nam mới có thế phát triển nâng cao được về mặt số lượng lẫn chất lượng, bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới

2.2.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về hoạt động xuất bản

2.2.2.1 Ban hành văn bản pháp luật về hoạt động xuất bản

Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản nói riêng thì việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện

Trang 39

khung pháp lý cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản là một nội dung rất quan trọng Bởi vì, khi có một hành lang pháp lý chặt chẽ để điều chỉnh các vấn đề có thể phát sinh liên quan đến hoạt động xuất bản sẽ dễ dàng hơn cho các cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng trong việc quản lý Ngược lại, nếu các vấn đề mới phát sinh mà chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh thì sẽ rất khó trong việc xử lý và quản lý Do đó, việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất bản một cách đồng bộ, thống nhất là rất cần thiết

Trong thời gian đây, việc ban hành các văn bản pháp luật về xuất bản rất được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm Trên cơ sở thể chế hóa những chủ trương và đường lối của Đảng và xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước và cũng để hòa nhập với xu thế phát triển của thời đại Luật Xuất bản đầu tiên đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 07/7/1993, luật này có hiệu lực từ ngày được ban hành Sau đó, để tạo điều kiện cho hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng, nhằm tạo hành lang pháp lý phù hợp hơn và đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản trước tình hình mới, Quốc hội đã tiếp tục ban hành Luật Xuất bản năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2008 và các văn bản pháp luật điều chỉnh những vấn đề cụ thể có liên quan như: Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về vấn đề quyền tác giả, quyền liên quan và quyền phổ biến tác phẩm, Luật Doanh nghiệp 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tuy nhiên, hiện nay trước sự phát triển của hoạt động xuất bản trong thực tiễn Luật Xuất bản hiện hành cũng đã tiếp tục bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập và chưa phù hợp Vì vậy, Luật Xuất bản sẽ tiếp tục được sửa đổi và Dự thảo sửa đổi bổ sung Luật xuất bản sẽ được đưa ra lấy kiến tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII ngày 21/5/2012 và dự kiến sẽ được thông qua tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội

Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản

lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, Chính Phủ đã ban hành các nghị định để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật và vấn đề có liên quan như: Nghị định số 111/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 08 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xuất bản, Nghị định số 105/2007/NĐ-CP ngày 21 tháng 6 năm

2007 quy định về hoạt động in các sản phẩm không phải là xuất bản phẩm, Nghị định

số 02/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2011 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản…

Ngoài ra, để phục vụ có hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản và tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc quản lý

Trang 40

tốt hơn Trong thẩm quyền của mình Bộ Thông tin và Truyền thông và các Bộ ngành liên quan cũng đã ban hành hoặc phối hợp ban hành các văn bản nhằm cụ thể hóa các quy định trong luật, nghị định để hướng dẫn các địa phương, các ngành khác thực hiện thông qua thông tư như: Thông tư 04/2008/TT-BTTTT ngày 09 tháng 7 năm 2008 của

Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 105/2007/NĐ-CP, Thông tư số 29/2010/TT-BTTTT ngày 30 tháng 12 năm 2010 quy định về việc xuất bản tài liệu không kinh doanh, Thông tư số 13/2011/TT-BTTTT ngày 06 tháng 6 năm 2011 quy định về văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài… Những văn bản pháp luật đã được ban hành chính là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, bảo đảm cho hoạt động xuất bản phát triển theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích đã được xác định

Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của xã hội, nhiều mối quan hệ mới phát sinh trong hoạt động xuất bản, nhưng lại thiếu những quy định cụ thể điều chỉnh chẳng hạn như vấn đề liên kết trong lĩnh vực xuất bản Để góp phần huy động các nguồn lực

xã hội tham gia vào mọi lĩnh vực của hoạt động xuất bản, Luật Xuất bản hiện hành cho phép nhà xuất bản được liên kết trong cả ba lĩnh vực xuất bản, in và phát hành từng xuất bản phẩm, nghĩa là cho phép tư nhân tham gia vào lĩnh vực xuất bản Theo thống

kê của Cục Xuất bản cho thấy, bình quân, số lượng xuất bản phẩm liên kết, trong đó chủ yếu là sách do nhà xuất bản liên kết với một đơn vị tư nhân khác thực hiện chiếm khoảng 70% tổng số xuất bản phẩm thực hiện năm 2011 của nhà xuất bản Thậm chí, với một số nhà xuất bản, tỷ lệ này còn chiếm đến trên 90% Điều đáng nói là mặc dù được thực hiện trên danh nghĩa liên kết xuất bản song hầu hết các khâu từ tuyển chọn bản thảo, biên tập, in ấn, phát hành đều do các đơn vị tư nhân thực hiện.11

Điều này cho thấy sự thiếu trách nhiệm của các nhà xuất bản đã dẫn đến tình trạng các xuất bản phẩm vi phạm trong thời gian qua phần lớn là xuất bản phẩm liên kết Nhưng hiện nay vẫn chưa có những quy định rõ về quyền, nghĩa vụ cũng như chế tài đối với các đơn vị thực hiện xuất bản sách liên kết với nhà xuất bản khi những chủ thể này có sai phạm Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng bộ, việc sửa đổi,

bổ sung chậm được tiến hành Vì vậy, với trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản các cơ quan có thẩm quyền cần tích cực trong việc đề xuất, kiến nghị, xây dựng các văn bản liên quan đến các vấn đề trong hoạt động xuất bản, giúp hoàn thiện

11 Hoa Nguyễn, Báo điện tử Công An Nhân Dân: Nhà xuất bản thiếu trách nhiệm với "sách liên kết",

http://www.cand.com.vn/vi-VN/vanhoa/2010/7/169018.cand, [truy cập ngày 10/3/2012]

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w