1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUẢN lý NHÀ nước về GIÁO dục đại học – THỰC TIỄN tại TRƯỜNG đại học cần THƠ

79 264 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học Quản lý nhà nước về giáo dục đại học là sự tác động của Bộ giáo dục và Đào tạo đối với bậc đại học trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạ

Trang 1

ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Võ Duy Nam Trương Bảo Thanh

Trang 2

Trang 3



Trang 4

Trang

LỜI NÓI ĐẦU Ошибка! Закладка не определена

1 Lý do chọn đề tài: Ошибка! Закладка не определена

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài Ошибка! Закладка не определена

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài Ошибка! Закладка не определена

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài Ошибка! Закладка не определена

5 Kết cấu luận văn Ошибка! Закладка не определена CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Ошибка! Закладка не определена GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ошибка! Закладка не определена 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học Ошибка! Закладка не

определена

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước Ошибка! Закладка не определена

1.1.2.1 Khái niệm giáo dục Ошибка! Закладка не определена 1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dụcОшибка! Закладка не определена

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại họcОшибка! Закладка не определена

1.2 Hệ thống giáo dục ở nước ta Ошибка! Закладка не определена 1.2.2 Giáo dục phổ thông Ошибка! Закладка не определена 1.2.3 Giáo dục - đào tạo dạy nghề và chuyên nghiệpОшибка! Закладка не определена

1.2.4 Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học)

Ошибка! Закладка не определена

1.2.4.1 Đào tạo trình độ Cao đẳng Ошибка! Закладка не определена 1.2.4.2 Đào tạo trình độ Đại học Ошибка! Закладка не определена 1.2.4.3 Sau đại học (cao học, tiến sĩ) Ошибка! Закладка не определена

1.3 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học Ошибка! Закладка не

определена

1.3.1 Nguyên tắc quản lý giáo dục đại học Ошибка! Закладка не определена

1.3.1.1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Ошибка! Закладка не определена 1.3.1.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ Ошибка! Закладка не определена 1.3.1.3 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩaОшибка! Закладка не определена

1.3.1.4 Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Ошибка!

Закладка не определена

Trang 5

определена

1.3.2.1 Chính phủ Ошибка! Закладка не определена 1.3.2.2 Bộ Giáo dục và Đào tạo Ошибка! Закладка не определена 1.3.2.3 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Ошибка! Закладка не определена 1.3.2.4 Sở Giáo dục và Đào tạo Ошибка! Закладка не определена

1.3.3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại họcОшибка! Закладка не определена

1.3.3.1 Công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,

chính sách phát triển giáo dục đại học Ошибка! Закладка не определена

1.3.3.2 Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về

Ошибка! Закладка не определена.

1.3.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về giáo dục đại họcОшибка! Закладка не определена.

1.4 Vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý nhà nước về giáo dục Ошибка!

Закладка не определена

1.4.1 Vai trò Ошибка! Закладка не определена 1.4.2 Ý nghĩa Ошибка! Закладка не определена 1.5 Lược sử hình thành và phát triển giáo dục đại học ở nước ta Ошибка!

Закладка не определена

1.5.1 Lược sử hình thành Ошибка! Закладка не определена.2

1.5.2 Sự phát triển của giáo dục đại học Ошибка! Закладка не определена.

DỤC ĐẠI HỌC VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở Ошибка!

Закладка не определена

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ Ошибка! Закладка не определена

2.1 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học 24

2.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý giáo dục đại học

Trang 6

2.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật của công tác quản lý giáo dục đại học Ошибка! Закладка не определена

2.2 Thực tiễn áp dụng văn bản pháp luật trong quản lý giáo dục tại trường Đại học Cần Thơ 29

2.2.1 Tổng quan về trường Đại học Cần Thơ 29

2.2.2 Công tác quản lý giáo dục ở Trường Đại học Cần ThơОшибка! Закладка не определена

2.2.2.1 Công tác quản lý đào tạo Ошибка! Закладка не определена.1 2.2.2.2 Công tác quản lý đội ngũ cán bộ giảng dạyОшибка! Закладка не определена

2.2.2.3 Công tác quản lý và biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy Ошибка! Закладка не определена

2.2.2.4 Công tác quản lý nghiên cứu khoa học 37

2.2.2.5 Công tác đánh giá chất lượng giảng dạyОшибка! Закладка не определена.1

2.2.2.6 Công tác quản lý hợp tác quốc tế Ошибка! Закладка не определена.

2.2.2.7 Công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng giáo dục của Trường Đại học Cần

Thơ Ошибка! Закладка не определена CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 47 3.1 Những kết quả đạt được và một số khó khăn, bất cập còn tồn tại của giáo dục đại học nước ta hiện nay 47

3.1.1 Những kết quả đạt được của công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học 47

3.1.1.1 Những kết quả đạt được 47 3.1.1.2 Kết quả đạt được của Trường Đại học Cần Thơ 48

3.1.2 Một số bất cập còn tồn tại của công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học

ở nước ta hiện nay Ошибка! Закладка не определена

3.1.2.1 Khó khăn, bất cập đối với giáo dục đại họcОшибка! Закладка не определена

3.1.2.2 Những bất cập còn tồn tại trong công tác quản lý giáo dục đại học của

Trường Đại học Cần Thơ Ошибка! Закладка не определена

3.2 Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học Ошибка! Закладка не определена

3.2.1 Phương hướng chung 56

3.2.1.1 Đổi mới toàn diện, mạnh mẽ quản lý giáo dục đại học Ошибка!

Trang 7

3.2.1.2 Đổi mới về chất công tác quản lý giáo dục đại học 59

3.2.1.3 Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục đại họcОшибка! Закладка не

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại với những bước tiến khổng lồ

“một ngày bằng hai mươi năm” đang tác động toàn diện đến mọi nền kinh tế, mọi chế

độ xã hội trên phạm vi toàn cầu Cuộc đua tranh giữa các quốc gia trên mặt trận kinh tế đang diễn ra rất quyết liệt Một xã hội thông tin, một nền kinh tế tri thức đã bắt đầu hình thành Một nhu cầu có thực và chính đáng, ngày càng trở nên bức xúc của người dân về một nền giáo dục đại học cho số đông đang được đặt ra Do đó, để hòa chung với xu thế hội nhập kinh tế thế giới và sự tiến bộ vượt bậc của nền khoa học công nghệ hiện đại thì việc phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là những yêu cầu hàng đầu đối với đất nước ta Một nguồn nhân lực bền vững có thể trở thành lợi thế quan trọng trong quá trình cạnh tranh quốc tế, đồng thời cũng là yếu tố đảm bảo cho việc phát triển và tăng trưởng ổn định Để đưa đất nước ta thực sự trở nên giàu mạnh

và văn minh, trong xu thế hội nhập nền kinh tế thị trường hiện nay thì Đảng, Nhà nước cùng nhân dân ta phải xây dựng cho mình một tiềm lực tổng thể vững mạnh Một trong những chiến lược đó là phát triển và mở rộng hệ thống giáo dục - đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học nhằm bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước Giáo dục đại học là nền tảng không thể thiếu để tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng

ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, nền giáo dục đại học Việt Nam đang bị tụt hậu so với đại học của nhiều nước phát triển về quan niệm, về đầu tư, về chương trình, giảng dạy và sách giáo khoa, về chính sách, chế độ đối với giáo viên, về tổ chức, quản lý và một số lĩnh vực khác Sự tụt hậu về giáo dục, đặc biệt là tụt hậu trong lĩnh vực giáo dục đại học, nhất định sẽ phải trả giá nặng nề trong tương lai, trong cuộc đua tranh giữa các quốc gia, mà thực chất là cuộc đua tranh về trí tuệ Giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, phải đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội Vì vậy, cần phải đổi mới quản lý giáo dục đại học, coi đây là khâu quan trọng để nâng cao chất lượng

và phát triển toàn diện giáo dục đại học Việc đổi mới quản lý giáo dục đại học chỉ có thể đạt kết quả thật sự và bền vững khi có sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp lãnh đạo

và sự quan tâm của toàn xã hội Chính sự cần thiết của giáo dục đại học đối với đất nước và vai trò quan trọng của Nhà nước đối với giáo dục đại học mà người viết đã

chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giáo dục đại học - Thực tiễn tại trường Đại học Cần Thơ” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Nhằm hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục đại học nước ta và những quy định của pháp luật đối với công tác quản lý giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay Từ đó

Trang 9

có thể thấy vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước là rất cần thiết đối với giáo dục đại học nước ta Đồng thời, đưa ra những định hướng cụ thể để phát triển giáo dục đại học

và hạn chế những yếu kém, bất cập trong công tác quản lý giáo dục đại học

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài chủ yếu đi sâu vào phân tích công tác quản lý của Nhà nước về giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay trên nền tảng của Hiến pháp, Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung 2009 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến vấn đề giáo dục đại học cũng như sách báo, tạp chí có liên quan Phạm vi cụ thể được tìm hiểu là công tác quản lý giáo dục đại học của trường Đại học Cần Thơ

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong đề tài người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thu thập tài liệu, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp, thống kê những tư liệu,

số liệu từ thực tế, sách báo và tạp chí có liên quan đến vấn đề giáo dục đại học Ngoài

ra, còn sử dụng biện pháp luận chứng và một số phương pháp khác, trong đó sử dụng phương pháp luận triết học duy vật biện chứng để đánh giá

5 Kết cấu luận văn

Trên cơ sở mục đích, yêu cầu của đề tài, luận văn gồm có các phần sau: mục lục, lời nói đầu, phần nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Phần nội dung gồm có 3 Chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận chung về quản lý nhà nước về giáo dục đại học

Chương 2 Những quy định của pháp luật về quản lý giáo dục đại học và thực tiễn quản lý giáo dục đại học ở trường Đại học Cần Thơ

Chương 3 Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân Đồng thời, quản lý nhà nước cũng là sự tác động

có tổ chức của các chủ thể mang quyền lực nhà nước dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật để chỉ đạo, điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra các quan hệ

xã hội nhằm bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần thiết, được thể hiện bằng bộ máy quản lý chuyên nghiệp dựa trên cơ sở pháp luật Cán bộ quản lý nhà nước có chế độ đãi ngộ riêng.1

Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước; dạng quản

lý này được thể hiện trong các cơ quan hành chính nhà nước Điều 12, Hiến pháp 1992

đã ghi: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa” Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, quản lý nhà nước tương đồng

với quản lý quốc gia, nghĩa là: phải quản lý nhà nước một cách hợp lý, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của các chủ thể liên quan Do đó, cần phân biệt giữa “quản lý nhà nước” với “nhà nước quản lý”, nhà nước quản lý là nói đến các chủ thể quản lý, đó là hệ thống tổ chức của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính nhà nước Như vậy, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ

xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân

Do đó, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật và tuân theo pháp chế

1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục

1.1.2.1 Khái niệm giáo dục

Khái niệm giáo dục được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.2

Giáo dục theo nghĩa rộng được hiểu là sự hình thành nhân cách được tổ chức một

1

TS Phan Trung Hiền, Giáo trình Luật Hành Chính Việt Nam - Phần 1, năm 2003, trang 2

2 Thúy Quyên, Các khái niệm cơ bản của giáo dục,

http://giaoduchoconline.com/cau-1-cac-khai-niem-co-ban-cua-giao-duc, [truy cập ngày 12/06/2012].

Trang 11

cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người Để hiểu rõ hơn khái niệm đó cần làm sáng tỏ khái niệm nhân cách và khái niệm xã hội hoá con người

Hình thành nhân cách: Đó là quá trình phát triển con người về mặt sinh lý, tâm lý

và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể), và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởng của hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục), do ảnh hưởng của các tác động tự phát, ngẫu nhiên (tác động bên trong, bên ngoài chưa được kiểm soát, điều khiển) và các tác động có mục đích, có

tổ chức (kiểm soát được, điều khiển được) Quá trình này làm biến đổi đứa trẻ với những tư chất vốn có của con người thành một nhân cách

Xã hội hoá con người: Đó là quá trình có tính chất xã hội hình thành nhân cách Quá trình này chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội; xã hội tác động một cách có mục đích, có tổ chức tới cá nhân, mặt khác cá nhân tích cực tái sản xuất các mối quan hệ xã hội bằng hoạt động, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã hội

Từ đó, giáo dục nói một cách khác là sự xã hội hoá con nguời chỉ dưới những tác động

có mục đích và có tổ chức

Giáo dục theo nghĩa hẹp: Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội,

kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực

Suy cho cùng Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức

và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người

1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục

Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo, do các cơ quan quản lý

Trang 12

giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục Thông qua quản

lý nhà nước về giáo dục, việc thực hiện các chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục mới được triển khai, thực hiện có hiệu quả

Quản lý nhà nước về giáo dục là quản lý theo ngành do một cơ quan Trung ương đại diện cho Nhà nước là Bộ giáo dục và Đào tạo thực hiện Phương tiện để quản lý nhà nước về giáo dục là các văn bản pháp luật và pháp quy Phương pháp quản lý chủ yếu là phương pháp hành chính tổ chức

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học là sự tác động của Bộ giáo dục và Đào tạo đối với bậc đại học trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển giáo dục đại học nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ dân trí và đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ cao để phục vụ đất nước, đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

1.2 Hệ thống giáo dục ở nước ta

1.2.1 Giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là cấp học sơ khai và thấp nhất trong hệ thống giáo dục nước

ta, đồng thời đây cũng là nền tảng để hình thành thói quen học tập ngay từ nhỏ tạo tiền

đề thúc đẩy phát triển trí tuệ sau này Giáo dục mầm non bao gồm nhà trẻ và mẫu giáo Nhà trẻ là chương trình học không bắt buộc, dành cho trẻ tối thiểu là ba tháng tuổi; thời gian tối đa là ba năm Trẻ sẽ được chăm sóc và nuôi dạy những kỷ năng một cách tốt nhất Còn mẫu giáo cũng là chương trình học không bắt buộc, dành cho bé tối thiểu từ ba tuổi; thời gian tối đa là ba năm Trẻ sẽ được dạy hát, múa và những kiến thức nền để bước vào cấp tiểu học

1.2.2 Giáo dục phổ thông

Giáo dục phổ thông là giáo dục cơ bản kéo dài mười hai năm và được chia thành

ba cấp: cấp I (tiểu học), cấp II (trung học cơ sở), cấp III (trung học phổ thông)

Giáo dục tiểu học hay còn được gọi là cấp I, bắt đầu năm sáu tuổi đến hết năm mười tuổi Cấp I gồm có 5 trình độ, từ lớp 1 đến lớp 5 Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân Còn cấp II gồm có 4 trình độ, từ lớp 6 đến lớp 9, bắt đầu từ mười một tuổi đến mười lăm tuổi Hết cấp trung học cơ sở, học sinh được xét tốt nghiệp dựa trên thành tích học tập tích lũy trong 4 năm Trước đây hết cấp trung học cơ sở học sinh phải trãi qua kỳ thi tốt nghiệp, nhưng từ năm 2006 đến nay đã chính thức được bãi bỏ

Trang 13

Muốn theo học tiếp trình độ cao hơn học sinh phải tham dự các kỳ thi tuyển sinh Đối với giáo dục trung học phổ thông gồm 3 trình độ, từ lớp 10 đến lớp 12, bắt đầu từ mười lăm đến mười tám tuổi Để tốt nghiệp cấp III học sinh phải tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông của Bộ giáo dục và Đào tạo tổ chức

1.2.3 Giáo dục - đào tạo dạy nghề và chuyên nghiệp

Đây là chương trình học dạy nghề dành cho người không đủ điều kiện vào đại học hoặc cao đẳng Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm đối với người học có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.3

1.2.4 Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học)

1.2.4.1 Đào tạo trình độ Cao đẳng

“Thời gian thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành”.4

Sinh viên phải tham gia kỳ thi tuyển sinh trực tiếp vào cao đẳng hoặc điểm thi đại học thấp hơn điểm quy định nhưng lại đủ điểm vào cao đẳng thì đăng ký vào cao đẳng Điều kiện để được dự thi vào cao đẳng là đã tốt nghiệp trung học phổ thông Khi hoàn thành xong chương trình cao đẳng sinh viên được cấp bằng cao đẳng và có thể học liên thông lên trình độ đại học

1.2.4.2 Đào tạo trình độ Đại học

“Thời gian thực hiện từ bốn năm đến sáu năm tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành”.5

Sinh viên phải dự thi kỳ thi tuyển sinh đại học do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức thi, sinh viên có thể lựa chọn ngành nghề và trường đại học để thi

Chương trình đào tạo với một hay hai năm đầu là chương trình đại học đại cương, hai hay bốn năm là chương trình chuyên ngành Sau khi tốt nghiệp ra trường

3 Trích Điều 32 Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia- sự thật

4 Trích khoản 1 Điều 38 Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia- sự thật

5 Trích khoản 2 Điều 38 Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia - sự thật

Trang 14

sinh viên được cấp bằng đại học gắn với ngành mà sinh viên đã học

1.2.4.3 Sau đại học (cao học, tiến sĩ)

“Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện trong thời gian từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học”.6

“Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nghiên cứu sinh không có điều kiện theo học tập trung liên tục và được cơ sở giáo dục cho phép vẫn phải có đủ lượng thời gian học tập trung theo quy định để hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ, trong đó có ít nhất một năm theo học tập trung liên tục”.7

Hệ thống giáo dục ở nước ta đang từng bước đổi mới nhằm phù hợp và thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chủ trương xã hội hóa hoạt động giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội cho giáo dục là định hướng quan trọng trong quá trình đổi mới hệ thống giáo dục hiện nay

1.3 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.3.1 Nguyên tắc quản lý giáo dục đại học

1.3.1.1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo

Nguyên tắc quản lý giáo dục là những yêu cầu, những tiêu chuẩn chỉ đạo cho việc xây dựng và tổ chức hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm đạt được mục tiêu phát triển giáo dục đã đề ra

Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào quản lý nhà nước về giáo dục đại học được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định Đó chính là những

tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản

lý nhà nước thực hiện có hiệu quả công việc của mình trên các lĩnh vực đã được phân công

Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trước hết thể hiện ở việc Đảng sẽ đề ra những chủ trương, đường lối để định hướng phát triển giáo dục, trong đó có giáo dục đại học

“Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước

6 Trích khoản 3 Điều 38 Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia - sự thật

7 Trích khoản 4 Điều 38 Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia - sự thật

Trang 15

và xã hội.8 Do đó, quản lý nhà nước về giáo dục cũng phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Những chủ trương, chính sách giáo dục phải tuân theo chủ trương đường lối của Đảng, cụ thể hóa đường lối đó trong sự nghiệp phát triển giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo dục giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục, đề phòng khuynh hướng phi chính trị hóa giáo dục và không truyền bá tôn giáo trong giáo dục

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nổ lực to lớn của toàn dân tộc, nước ta đã phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có giáo dục và đào tạo Sau 9 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo, nguồn lực xã hội được huy động nhiều hơn và đạt được nhiều kết quả tích cực, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần quan trọng tạo nên sự tăng trưởng kinh tế,

ổn định xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế.9

1.3.1.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ xuất phát từ bản chất Xã Hội Chủ Nghĩa của Nhà nước ta “Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước đều

tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.10

Dân chủ và công bằng là những đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa xã hội, bởi vậy cần phải được coi là những nguyên tắc chủ chốt của giáo dục Việt Nam, cần được tuân thủ nghiêm túc trong việc ban hành chủ trương, chính sách về giáo dục cũng như trong tổ chức, quản lý, hoạt động giáo dục và tinh thần dân chủ, công bằng cần được phản ánh nội dung, phương pháp giáo dục Giáo dục Việt Nam là nền giáo dục nhân dân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tạo môi trường trao đổi, thảo luận thẳng thắn, không mang tính áp đặt, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến sự quan tâm và lợi ích chung của xã hội, cộng đồng tập thể, bình đẳng về cơ hội học tập

và phát triển năng lực phù hợp với nguyện vọng và khả năng của từng cá nhân

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị xã hội ở nước ta, đồng thời cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nhà nước thống nhất, tập trung quản lý về chế độ, chính sách giáo dục, về mục tiêu, nội dung giáo dục và quy chế văn bằng, dân chủ hóa giáo dục,

Trang 16

dân chủ hóa nhà trường để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng tham gia hoạt động giáo dục Ngoài ra, dân chủ trong giáo dục còn bao hàm sự nghiệp giáo dục

là của toàn dân, nhân dân tham gia xây dựng và quản lý giáo dục

Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ: vừa bảo đảm sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ; vừa bảo đảm mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung Hai yếu tố này phải có sự phối hợp một cách đồng

bộ, chặt chẽ, nhất là trong điều kiện hiện nay

Nguyên tắc tập trung dân chủ phát huy quyền chủ động của cơ sở dựa trên hành lang pháp lý, đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát huy dân chủ tập thể theo quy chế dân chủ cơ sở do Chính phủ và Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quản lý giáo dục phải kết hợp giữa tập trung và dân chủ trong việc tổ chức các cơ quan quản lý giáo dục và cả trong việc chỉ đạo thực hiện quá trình giáo dục nói chung, quá trình giáo dục đại học nói riêng

1.3.1.3 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trong hệ thống lý luận chính trị - pháp lý xã hội chủ nghĩa truyền thống, nhằm khẳng định yêu cầu tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh, triệt để và thống nhất đối với tất cả các cá nhân, tổ chức Các nguyên tắc cơ bản của pháp chế là tính thống nhất, tính hợp lý và áp dụng chung Mục đích của pháp chế là nhằm đạt được sự tuân thủ pháp luật đối với tất cả các chủ thể quan hệ pháp luật, thiết lập trạng thái hợp pháp trong hệ thống các quan hệ xã hội Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân phải tuân thủ pháp luật một cách triệt để

và chính xác Đây là nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước

Cụ thể trong lĩnh vực giáo dục nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động cũng như quản lý giáo dục phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước Cơ quan quản

lý giáo dục phải thể hiện rõ quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý, trách nhiệm

và thẩm quyền của cơ quan quản lý giáo dục là trách nhiệm và thẩm quyền của Nhà nước Những tác động quản lý đều dựa vào danh nghĩa Nhà nước để điều hành hoạt động của hệ thống giáo dục

Để công tác quản lý nhà nước về giáo dục nói chung và đại học nói riêng đạt hiệu quả tốt nhất thì nhất thiết phải tuân theo pháp luật và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.3.1.4 Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ

Mọi cơ sở giáo dục thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo theo sự

Trang 17

chỉ đạo ngành dọc, nhưng các cơ sở giáo dục đều đóng trên một địa bàn cụ thể nào đó,

vì vậy cũng phải tuân thủ sự quản lý hành chính của địa phương theo quy định phân cấp của Nhà nước Do đó, cần phải kết hợp quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ:

“quản lý theo ngành mà tách rời yếu tố lãnh thổ sẽ hàm chứa nguy cơ phá vỡ sự thống nhất của các quan hệ kinh tế trên lãnh thổ, sử dụng đồng bộ nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, năng lượng tại chỗ, làm phát triển xu hướng tập trung, quan liêu, cục bộ và khép kín trong ngành Quản lý theo lãnh thổ mà tách rời yếu tố ngành sẽ dẫn đến cục bộ địa phương, phá vỡ tính hệ thống từ Trung ương xuống địa phương của các ngành”.11

Sự nghiệp giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân là một hệ thống nhất Bộ giáo dục và đào tạo là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục thống nhất trong phạm vi cả nước Chính quyền địa phương quản lý nhà nước về giáo dục theo phần lãnh thổ của mình thông qua cơ quan chuyên môn, theo nhiệm vụ, quyền hạn do Nhà nước quy định phù hợp với cơ chế phân cấp Sự kết hợp có hiệu quả sự chỉ đạo của ngành và lãnh thổ trong việc triển khai các hoạt động quản lý giáo dục sẽ góp phần phát triển giáo dục

1.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.3.2.1 Chính phủ

Chính phủ thống nhất quản lý công tác giáo dục về quy hoạch mạng lưới, cơ cấu các trường đại học trong phạm vi cả nước, bao gồm quy hoạch tổng thể phát triển các trường đại học theo loại hình, cơ cấu quy mô, cơ cấu chất lượng (chất lượng cao, chất lượng đại trà và các trường đại học địa phương).12

Phân định rõ quyền và trách nhiệm quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước của

Bộ, Ngành và các tổ chức có trường đại học Chính phủ uỷ quyền cho Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Tài chính điều hành ngân sách nhà nước để xây dựng, phát triển giáo dục đại học Ngoài ra, Chính phủ còn quyết định việc thành lập, giải thể, tách, nhập các trường đại học

Theo Khoản 1 Điều 100 của Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm

2009 thì: “Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc

11 TS Nguyễn Khắc Sơn, Giáo trình quản lý nhà nước về đất đai, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2007, trang 13

12

GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, Đổi mới quản lý giáo dục đại học, tr257, trong Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam,

hai thời khắc đầu thế kỉ, NXB Văn hoá Sài Gòn và Đại học Hoa Sen, 2008.

Trang 18

hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục” Trên cơ sở của Hiến pháp, giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, do đó những chủ trương, chính sách phát triển giáo dục là rất quan trọng, nếu đưa ra chủ trương phát triển giáo dục sai sẽ kéo theo sự trì trệ của cả hệ thống giáo dục, ảnh hưởng đến cả Quốc gia, vì vậy trước khi ra quyết định về những chủ trương phát triển giáo dục Chính phủ cần phải trình Quốc hội để tránh những thiếu sót đáng kể Điều này cho thấy Nhà nước ta quản lý giáo dục theo một thể thống nhất và không cụ thể hóa trách nhiệm quản lý giáo dục cho riêng cơ quan nào

1.3.2.2 Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Công đoàn giáo dục Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức thảo luận trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học: vì sao phải nâng cao chất lượng đào tạo, làm gì để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay

Trên cơ sở đối chiếu tình hình phát triển hệ thống giáo dục đại học thực tế và các chỉ tiêu đã được quyết định trong Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 và Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, rà soát lại các chỉ tiêu phát triển hệ thống giáo dục đại học đến năm 2020; đồng thời tăng cường công tác dự báo để các mục tiêu và chỉ số phát triển giáo dục đại học có tính khả thi, làm cơ sở xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2011 - 2020

Tiến hành rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật

đã ban hành; đồng thời xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới về thành lập trường, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, quản lý tài chính, quản lý chất lượng, tuyển dụng, trong đó làm rõ trách nhiệm và chế độ của nhà giáo trong đào tạo

và nghiên cứu khoa học, quan hệ giữa Ban Giám hiệu, Hội đồng trường, Đảng ủy, các đoàn thể ở trường để từ đó các trường đại học, cao đẳng thực hiện quyền tự chủ và nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm trước xã hội và nhà nước theo quy định của Luật Giáo dục

Triển khai Nghị quyết số 35/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội khóa XII về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 Hướng dẫn và kiểm tra các

Trang 19

trường áp dụng mức trần học phí mới theo hướng tăng học phí phải gắn liền với các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đào tạo Thực hiện tốt các chính sách miễn giảm học phí, chính sách tín dụng sinh viên và việc cấp bù học phí được miễn giảm cho các trường

Phối hợp với Bộ Xây dựng triển khai xây dựng và thực hiện Quy hoạch xây dựng các đại học trong các tỉnh, thành phố; quy hoạch và xây dựng ký túc xá sinh viên Triển khai thực hiện quy hoạch xây dựng hệ thống các trường đại học, cao đẳng tại vùng Thủ đô Hà Nội và vùng thành phố Hồ Chí Minh

Tham mưu cho Chính phủ phân công, phân cấp quản lý các trường đại học, cao đẳng theo hướng làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành quản lý trường và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố Tăng cường bộ máy giúp việc cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn

Triển khai việc phân cấp mạnh mẽ cho các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phát huy cao độ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự kiểm soát bên trong của các trường, trên cơ sở các quy định của nhà nước và của các trường, tăng cường công tác giám sát

và kiểm tra của nhà nước, của xã hội và của bản thân các cơ sở

Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các cam kết của các trường đại học, cao đẳng trong đề án thành lập trường về cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, chương trình, giáo trình nhằm bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo; có cơ chế xử lý nghiêm khắc đối với các trường sau 3 năm thành lập không đáp ứng đủ các tiêu chí, điều kiện của một trường đại học, cao đẳng như cam kết của các nhà đầu tư Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra hoạt động liên kết đào tạo, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học, đào tạo từ xa, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ

Đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ tự đánh giá của các trường đại học và cao đẳng, triển khai từng bước việc kiểm định các trường đại học, cao đẳng; xây dựng tiêu chuẩn và hình thành một

số cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục đại học độc lập

Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng thông qua xây dựng tiêu chuẩn chức danh, quy hoạch cán bộ lãnh đạo trường giai đoạn 2010 - 2015 và tổ chức bồi dưỡng về quản lý giáo dục đại học Nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, góp phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ phát triển

Trang 20

kinh tế - xã hội

Hướng dẫn và kiểm tra các trường đại học, cao đẳng xây dựng chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2011 - 2015, đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển đất nước và của giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay

Bộ Thông tin và Truyền thông: Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các

cơ quan báo chí tuyên truyền, hỗ trợ việc triển khai đổi mới quản lý giáo dục đại học Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam: Phối hợp với Bộ Giáo dục

và Đào tạo mở chuyên mục tuyên truyền định kỳ về thực hiện Chương trình hành động đổi mới quản lý giáo dục đại học.13

1.3.2.3 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Trên cơ sở tổng thể quy hoạch của cả nước, của ngành, của vùng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng quy hoạch cấp địa phương để trình Chính phủ về nhu cầu cần có trường đại học tại địa phương mình.14

Phân định rõ quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai, cơ sở vật chất đối với các trường đại học công lập Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố lập quy hoạch và tạo điều kiện giúp các trường đại học ngoài công lập trong điều kiện có thể để các trường này bằng nguồn thu của mình có thể có điều kiện xây dựng phát triển nhà trường

Phân định rõ quyền quản lý, sử dụng tài sản, cơ sở vật chất của các trường đại học theo hướng: các tài sản quốc gia, các tài sản địa phương và các tài sản của riêng trường, trong đó đảm bảo có quyền tự chủ và trách nhiệm cho các trường đại học

Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đại học và kế hoạch 5 năm cũng như bước đi từng năm cho sự nghiệp hiện đại hoá các trường đại học

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ về phát triển giáo dục, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn tỉnh:15

Bảo đảm chất lượng và giám sát việc bảo đảm chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và trung cấp chuyên nghiệp khác theo quy định của pháp

13 Trích Chỉ thị số 296/CT-TTg chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn

2010 – 2012 ngày 27 tháng 02 năm 2010

14 GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, Đổi mới quản lý giáo dục đại học, tr257, trong Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam,

hai thời khắc đầu thế kỉ, NXB Văn hoá Sài Gòn và Đại học Hoa Sen, 2008

15 Trích Điều 6 Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục

Trang 21

luật

Quản lý hành chính theo lãnh thổ các trường đại học, cao đẳng trực thuộc các Bộ đóng trên địa bàn; quản lý các trường đại học công lập trực thuộc tỉnh, các trường đại học, cao đẳng tư thục trên địa bàn theo điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường do cấp có thẩm quyền ban hành và các quy định của pháp luật

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo phân cấp của Chính phủ; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn; thực hiện xã hội hoá giáo dục đại học; bảo đảm đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học tại địa phương

1.3.2.4 Sở Giáo dục và Đào tạo

Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục được quy định cụ thể tại Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục

Sở sẽ tiến hành việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ; công tác tuyển sinh, thi cử, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định chất lượng giáo dục đối với các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục trực thuộc; quyết định việc mở ngành đào tạo đối với các trường trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc sở theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm phục vụ tốt công tác tuyển sinh tại địa phương

Ngoài ra, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các cơ sở giáo dục trực thuộc, gồm: trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (không bao gồm các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp công lập của các Bộ đóng trên địa bàn)

1.3.3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.3.3.1 Công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục đại học

Đất nước ta ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, xã hội ngày càng văn minh, điều này đòi hỏi một đội ngũ nhân lực có chất lượng cao ngày càng nhiều Do

đó, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng và quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, trong đó đặc biệt chú trọng đến phát triển giáo dục đại học, bởi vì chỉ có giáo dục mới cung cấp tri thức cho con người để tiếp cận với nền khoa học hiện đại Vì vậy, trước hết cần phải đề ra chiến lược, quy hoạch để phát triển nhân lực từ đó tập trung vào xây dựng và chỉ đạo công tác quản lý giáo dục đại học nhằm phục vụ nhu

cầu đào tạo nhân lực trình độ cao của quốc gia

Trang 22

Trước bối cảnh và những yêu cầu đó, để triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 thực sự có hiệu quả và tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội giai đoạn 2011 - 2015, các

Bộ, ngành sẽ căn cứ vào Quy hoạch phát triển nhân lực để chỉ đạo lồng ghép các mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển nhân lực vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chỉ đạo, tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề

án, dự án cụ thể phát triển nhân lực từ đó đẩy mạnh phát triển giáo dục đại học Đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở đào tạo do Bộ, ngành quản lý thực hiện tốt việc công khai các điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn thu, chi tài chính, đội ngũ giáo viên, giảng viên và sớm hoàn thành việc xây dựng, công bố chuẩn đầu ra của các ngành, nghề đào tạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học Song song đó, cần đặc biệt chú trọng và chủ động tổ chức xây dựng và ban hành các cơ chế, quy định nhằm gắn kết cơ sở đào tạo đại học với doanh nghiệp, mở rộng hình thức đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học theo đơn đặt hàng, thu hút doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào công tác đào tạo nhân lực, hình thành cơ quan chuyên trách giúp chỉ đạo công tác quản lý giáo dục

Dựa trên nền tảng của “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực”, Thủ tướng Chính phủ cũng đã đề ra và phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020” với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện Cụ thể đối với giáo dục đại học sẽ điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%, tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân 350 - 400 Để đạt được các mục tiêu chiến lược cần thực hiện tốt các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, đồng thời đẩy

mạnh phát triển đội ngũ giảng dạy và cán bộ quản lý giáo dục

1.3.3.2 Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học

Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục đại học là hết sức cần thiết và quan trọng Quốc hội sẽ tổ chức việc ban hành Luật còn Chính phủ sẽ là cơ quan hướng dẫn cũng như tổ chức việc thực thi luật Từ trước đến nay, Quốc hội chỉ ban hành Luật giáo dục vì vậy công tác quản lý giáo dục đại học điều dựa vào những quy định của Luật giáo dục (trước đây là Luật giáo dục 1998, hiện nay là Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành của Luật giáo dục do Chính phủ đề ra nhằm cụ thể hóa những quy

Trang 23

định của Luật Tuy nhiên, tương lai sẽ áp dụng Luật giáo dục đại học năm 2012 Vì Luật giáo dục đại học đã được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 và sẽ có hiệu lực thi hành vào 01/01/2013 Luật giáo dục đại học ra đời là một đánh dấu quan trọng và cần thiết cho sự phát triển vượt bậc của giáo dục đại học, tạo tiền đề vững chắc để giáo dục đại học hòa nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới

Trong công tác quản lý giáo dục đại học cần tăng cường công tác ban hành và thực thi pháp luật, xây dựng đề án đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Bên cạnh, rà soát, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành; đẩy nhanh tiến độ xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới về giáo dục đại học Ngoài ra, còn cần tăng cường năng lực của cán bộ ban hành luật cũng như thực thi nhằm phục vụ công tác ban hành và thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao

1.3.3.3 Công tác quản lý đào tạo và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học

Đổi mới phương thức tổ chức và quản lý đào tạo theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở đào tạo; đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin; từng bước chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Rà soát, kiểm tra và tự kiểm tra các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo về đội ngũ giảng viên cơ hữu, cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, giáo trình phục vụ đào tạo Triển khai đào tạo theo nhu cầu xã hội Cơ sở đào tạo chủ động phối hợp để các

cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo, gắn kết chặt chẽ đào tạo với thực tiễn xã hội và sử dụng nhân lực

Tăng cường giảng dạy kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ theo Đề án Ngoại ngữ quốc gia cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Tiếp tục xây dựng và công bố chuẩn đầu ra cho từng ngành và trình độ đào tạo, cam kết chất lượng đào tạo của trường

Tăng cường hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu khoa học giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp, thông qua việc ký kết các hợp đồng, thoả thuận hợp tác

Tổ chức quản lý chặt chẽ quá trình đào tạo, đặc biệt tăng cường công tác quản lý giảng dạy, quản lý học tập, siết chặt quy chế thi, kiểm tra và đánh giá; xây dựng ngân hàng câu hỏi thi.16

1.3.3.4 Công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục đại học

Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác thống kê, thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu

16 Trích Chỉ Thị số: 6036/CT-BGDĐT, Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục

đại học năm học 2011 - 2012, ngày 29 tháng 11 năm 2011

Trang 24

về giáo dục đại học, ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đại học theo quy định của pháp luật Nhất thiết phải tăng cường công tác thống kê, thông tin về các cơ

sở giáo dục đại học vì sẽ góp phần rất lớn trong việc quản lý chất lượng đào tạo của các trường đại học Hằng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức công tác thống kê các trường đại học, cao đẳng cụ thể theo số liệu thống kê trong cả nước cho thấy, tính đến cuối năm 2011, cả nước có 412 trường đại học, cao đẳng thì 81 trường đại học, cao đẳng thuộc hệ thống (trong đó có 50 trường đại học), đào tạo 254.370 sinh viên, chiếm 14,7 % tổng số sinh viên cả nước, sinh viên học trường công lập sẽ được Nhà nước hỗ trợ tới 70%.17 Ngoài ra, Bộ còn chỉ đạo công tác kiểm soát và lưu trữ thông tin cũng như giấy phép hoạt động của các trường đại học, cao đẳng

Thống kê nhằm nắm rõ tình hình hoạt động của các trường đại học, cao đẳng từ

đó xem xét trường nào hoạt động không đủ tiêu chuẩn sẽ bị giải thể hoặc đình chỉ hoạt động Đồng thời, khảo sát chất lượng đào tạo của các trường đại học Bên cạnh, có thể kịp thời đưa ra những phương hướng cần thiết để phục vụ nhu cầu học tập của người học và chiến lược để phát triển giáo dục đại học

1.3.3.5 Công tác tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học

Việc đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục đại học để nâng cao trình độ và chuẩn hóa nhà giáo là hết sức cần thiết Nhà giáo của trường cao đẳng, trường đại học được tuyển dụng theo phương thức ưu tiên đối với sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt

và người có trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo và được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm

Đồng thời, cũng cần có những chính sách bồi dưỡng nhà giáo và cử đi du học được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ nhằm khuyến khích các nhà giáo nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ tốt cho ngành giáo dục Ngoài ra, cần triển khai, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục Bên cạnh, thành lập Hội đồng hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng khối ngành, để tư vấn cho Bộ trưởng những vấn đề có liên quan đến

17 Theo Báo cáo tại Khai mạc Đại hội nhiệm kỳ II Hiệp hội các trường Đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam, Báo Giáo dục Việt Nam, trang thông tin điện tử: http://www.baomoi.com/Khai-mac-Dai-hoi-nhiem-ky-II- Hiep-hoi-cac-truong-DH-CD-NCL-Viet-Nam/59/8308620.epi., [ ngày truy cập 21/10/2012]

Trang 25

phát triển ngành, đến hoạt động của các trường và phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau, thực hiện công tác quy hoạch cán bộ theo hướng dẫn của các cấp và theo chiến lược phát triển của các trường Tiếp tục đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các trường đủ điều kiện và năng lực tự chủ Các trường rà soát và hoàn thiện quy chế

tổ chức và hoạt động cho phù hợp với tình hình mới của ngành và đơn vị

1.3.3.6 Công tác tổ chức, quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đại học

Giáo dục đại học nước ta muốn phát triển vượt bậc theo hướng hiện đại đòi hỏi phải có sự học hỏi từ nền giáo dục đại học nước ngoài Chính vì thế công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đại học là hết sức cần thiết và quan trọng trong công tác quản lý giáo dục đại học

Để thực hiện tốt công tác hợp tác quốc tế cần tiến hành đẩy mạnh việc ký kết các điều ước và thỏa thuận quốc tế về giáo dục đại học Nâng cao hiệu quả của công tác hợp tác và đào tạo quốc tế thông qua việc tổ chức các hội nghị, hội thảo, trao đổi chuyên gia, triển khai dự án với nước ngoài ở các cơ sở giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học Rà soát, kiểm tra, thanh tra các chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài, các cơ sở có liên kết đào tạo với nước ngoài, các cơ sở giáo dục đại học nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, các trung tâm tư vấn du học.18

1.3.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục đại học

Công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện những sai phạm kịp thời trong công tác quản lý giáo dục đại học để từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời Những hành

vi vi phạm sẽ được xử lý theo Nghị định số 49/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục: hình thức nhẹ nhất là phạt cảnh cáo, nặng là phạt tiền Ngoài việc phát hiện những sai phạm để xử phạt cũng đồng thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt công tác giáo dục đại học

Tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo tính chất, mức độ

vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính; cá nhân còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật:

1 Thành lập cơ sở giáo dục đại học hoặc tổ chức hoạt động giáo dục trái pháp luật;

18 Trích Chỉ Thị số: 6036/CT-BGDĐT, Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục

đại học năm học 2011 - 2012, ngày 29 tháng 11 năm 2011

Trang 26

2 Vi phạm các quy định về tổ chức, hoạt động của cơ sở giáo dục đại học;

3 Xuất bản, in, phát hành tài liệu trái pháp luật;

4 Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;

5 Xâm phạm nhân phẩm, thân thể giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục; ngược đãi, hành hạ người học;

6 Vi phạm quy định về bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học;

7 Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong cơ sở giáo dục đại học;

8 Làm thất thoát kinh phí, lợi dụng hoạt động giáo dục đại học để thu tiền sai quy định hoặc vì mục đích vụ lợi;

9 Gây thiệt hại về cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục đại học;

10 Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giáo dục đại học

Để thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra cần tổ chức thanh tra việc đổi mới quản lý giáo dục ở các trường và cơ quan quản lý giáo dục theo Chỉ thị số 296 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 115/2010/NĐ-CP của Chính phủ

Chỉ đạo và phối hợp với Thanh tra các Bộ ngành và Thanh tra các địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra các cơ sở đào tạo theo thẩm quyền và chức năng nhiệm vụ quy định tại Nghị định số 115 của Chính phủ

Triển khai thực hiện “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 - 2020”

Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn, tạo đầy đủ cơ sở pháp lý để thành lập các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; từng bước triển khai đánh giá ngoài, công nhận cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đại học đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục

Triển khai đánh giá theo chuẩn đầu ra; thu thập thông tin phản hồi về chất lượng dạy và học, tình hình việc làm của sinh viên; tự đánh giá trường và chương trình giáo dục; đăng ký đánh giá ngoài; khuyến khích tổ chức đánh giá đồng cấp để cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Việc thành lập cơ quan đảm bảo chất lượng giáo dục cấp quốc gia có thể nói là một sự thay đổi mang tính cách mạng trong cơ cấu tổ chức và quản lý của ngành giáo dục Việt Nam Sự ra đời của cơ quan này là kết quả của một quá trình tách dần công tác đánh giá chất lượng ra khỏi công tác quản lý đào tạo Đầu tiên, bộ phận phụ trách

Trang 27

công tác kiểm định chất lượng chỉ là một phòng nằm trong Vụ Đại học (nay là Vụ Đại học và Sau đại học), được thành lập vào tháng 1/2002 Sau đó, vào tháng 7/2003, bộ phận này được tách ra để trở thành Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP, với chức năng quản

lý nhà nước về mặt chuyên môn đối với các hoạt động đảm bảo chất lượng của toàn hệ thống giáo dục Việt Nam19

Điều đáng ghi nhận là hiện nay việc có bộ phận đảm bảo chất lượng trong cơ cấu

tổ chức của một trường đại học đã là một yêu cầu bắt buộc được nêu trong Bộ Tiêu chuẩn chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành vào cuối năm 2007 (Bộ Tiêu chuẩn đầu tiên năm 2004 không có yêu cầu này) Với quy định này, cho đến nay hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam đã tương đối hoàn chỉnh (ít ra

là trên nguyên tắc nếu chưa phải là trên thực tế), với bộ phận đảm bảo chất lượng bên trong ở tất cả các trường, và cơ quan đảm bảo chất lượng bên ngoài là Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Đây cũng là mô hình đã được hai đại học quốc gia sử dụng từ trước đó với các trường thành viên của mình, vì điều này chính là yêu cầu đầu tiên trong bộ tiêu chuẩn chất lượng của mạng đại học Đông Nam Á mà hai đại học quốc gia là hai đại học duy nhất đại diện cho

Công tác thanh tra, kiểm định chất lượng giáo dục đại học rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học Vì đây là quá trình phát hiện ra những sai phạm kịp thời nhằm điều chỉnh để phù hợp, tránh tồn tại những hành vi vụ lợi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng đại học Nếu cả một quá trình xây dựng, thực hiện mà không có việc kiểm tra, rà soát thì công tác quản lý sẽ không hiệu quả, diễn ra tình trạng đùn đẩy, lơ là trách nhiệm trong công việc Do đó, để nâng cao công tác quản lý giáo dục đại học, ngành giáo dục đã tăng cường bộ phận làm công tác thanh tra, cụ thể được giao cho Thanh tra giáo dục Việc thanh tra, kiểm định chất lượng giáo dục đại học cần phải dựa theo nguyên tắc độc lập, khách quan, đúng pháp luật và phải trung thực, công khai, minh bạch

1.4 Vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý nhà nước về giáo dục

1.4.1 Vai trò

Giáo dục được Đảng và Nhà nước xem là quốc sách hàng đầu bởi vì nó giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển nhân cách của mỗi con người và xã hội Nó làm cho con người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế và xã hội Nhất là giáo dục đại học rất cần thiết cho mỗi con người chúng ta, vì xã hội hiện

19 Trích Tài liệu tập huấn Tự đánh giá, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo,

2006

Trang 28

nay rất tiến bộ và hiện đại, thêm vào đó là nền khoa học thế giới ngày càng đa dạng,

do đó nếu con người không trang bị tri thức thì không thể tiếp cận với công nghệ hiện đại và cũng từ đó con người không thể phát triển toàn diện về nhân cách cũng như tồn tại trong xã hội được Con người không phát triển thì đất nước không phát triển, chính

vì thế cần tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với giáo dục

Quản lý giáo dục sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, do vậy trước khi áp dụng một chính sách quản lý giáo dục mới cần phải tổ chức nghiên cứu chặt chẽ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn Sự nóng vội duy ý chí hoặc sự trì trệ bảo thủ đều

đồng nghĩa với sự kiềm hãm sự phát triển của giáo dục 20

Công tác quản lý nhà nước về giáo dục giữ vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển sự nghiệp giáo dục, giúp con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của đất nước Đặc biệt đóng vai trò rất cần thiết đối với giáo dục đại học, hiện nay giáo dục đại học nước ta chưa thật sự phát triển, chưa theo kịp với xu hướng đại học thế giới, do đó công tác quản lý của nhà nước càng không thể thiếu, Nhà nước sẽ tăng cường chiến lược để phát triển giáo dục đại học

1.4.2 Ý nghĩa

Giáo dục đại học có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phồn thịnh của đất nước, là chìa khóa vàng để con người bước vào cánh cửa tương lai, là động lực đối với sự phát triển xã hội Tuy nhiên, hiện nay giáo dục đại học còn nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy tối đa tiềm lực của nó, chưa tạo nền tảng vững chắc cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó, cần đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý giáo dục đại học, đề ra những phương hướng phát triển giáo dục đại học nhằm đổi mới giáo dục đại học theo hướng hoàn thiện phù hợp với cơ chế của nền kinh tế thị trường

Công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học có ý nghĩa then chốt nhằm bảo đảm sự thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục Giúp con người phát triển toàn diện về nhân cách, đồng thời có được tri thức để tiếp cận nền khoa học hiện đại, góp phần phát triển đất nước

Quản lý tốt công tác giáo dục sẽ tạo nên mọi nguồn lực để phát triển đất nước, đồng thời tạo nên sự ổn định của xã hội, giúp con người luôn có lý tưởng sống cao đẹp

và ý thức giữ gìn nền văn hóa dân tộc cũng như giá trị đạo đức con người được bảo tồn Vì chỉ có giáo dục mới giúp con người nhận thức được những điều đó, và chỉ có giáo dục mới dạy con người biết hướng tới tương lai Đó là quy luật sinh tồn của con

20 Trích Sách Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.121

Trang 29

người, không có giáo dục con người không thể tồn tại trong xã hội được Giáo dục sẽ sản sinh ra những nhân tài cho đất nước và những nhân tài này sẽ phục vụ đất nước để đất nước vững mạnh, hùng cường

1.5 Lược sử hình thành và phát triển giáo dục đại học ở nước ta

1.5.1 Lược sử hình thành

Sự hình thành nền giáo dục đại học Việt Nam có thể được đánh dấu bằng việc thành lập Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam, theo mô hình phương Đông tại kinh thành Thăng Long vào năm 1076, dưới thời nhà Lý Tuy nhiên, giáo dục đại học theo mô hình phương Tây được du nhập từ Pháp vào Việt Nam rất muộn, với việc thành lập trường Cao đẳng Y khoa năm 1904 và tổ chức hợp nhất một

số trường thành Viện Đại học Đông Dương năm 1943 tại Hà Nội Giáo dục đại học Việt Nam có nhiều biến đổi từ đó.21

1.5.2 Sự phát triển của giáo dục đại học

Trong thời gian từ năm 1954 - 1975 ở phía Bắc hệ thống giáo dục đại học phát triển mạnh, nhiều trường đại học được thành lập, phần lớn là các trường đơn lĩnh vực hoặc đơn ngành theo mô hình của Liên Xô, song song với các viện nghiên cứu nằm bên ngoài các trường đại học Cũng vào giai đoạn đó ở phía Nam hệ thống giáo dục đại học cũng phát triển nhanh, một bộ phận tiếp tục chịu ảnh hưởng của mô hình Pháp (tiêu biểu là Viện đại học Sài Gòn), một bộ phận khác thành lập muộn hơn chịu ảnh hưởng của mô hình Mỹ (tiêu biểu là Viện đại học Cần Thơ và một số trường đại học cộng đồng được thành lập vào cuối giai đoạn này).22

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 trên cả lãnh thổ Việt Nam, giáo dục đại học được xây dựng lại theo kiểu miền Bắc: hệ thống giáo dục đại học theo mô hình Liên Xô được củng cố và phát triển Theo mô hình này chương trình đào tạo cấp đại học đầy đủ thường là 4 năm, 5 năm hay thậm chí 6 năm, học liền một mạch Các ngành đào tạo thường là hẹp, chuyên sâu vào những năm cuối Không có các trường ngoài công lập, các trường tư đã tồn tại ở miền Nam trước năm 1975 bị giải thể Hệ thống giáo dục đại học được thống nhất theo mô hình Liên Xô và tồn tại cho đến cuối năm 1986, bộc lộ nhiều nhược điểm gây trì trệ cho sự phát triển của đất nước

Do đó, từ đầu năm 1987, Chính phủ Việt Nam quyết định từ bỏ mô hình kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ

21 Trích bài viết của GS.Lâm Quang Thiệp viết về Giáo dục đại học Việt Nam và sự học tập kinh nghiệm của

giáo dục đại học Hoa Kỳ, phần mở đầu (Nguồn: Công ty cổ phần Khoa học và Công nghệ giáo dục Việt Nam),

http://xtruongchi.blogspot.com/2011/06/giao-duc-ai-hoc-viet-nam-va-su-hoc-tap.html, [15/06/2012]

22

Trích bài viết của GS.Lâm Quang Thiệp viết về Giáo dục đại học Việt Nam và sự học tập kinh nghiệm của

giáo dục đại học Hoa Kỳ, (Nguồn: Công ty cổ phần Khoa học và Công nghệ giáo dục Việt Nam),

http://xtruongchi.blogspot.com/2011/06/giao-duc-ai-hoc-viet-nam-va-su-hoc-tap.html, [15/06/2012]

Trang 30

nghĩa, bắt đầu thời kì “đổi mới” Từ đó, cùng với kinh tế xã hội, nền giáo dục đại học Việt Nam cũng có nhiều chuyển biến tích cực Giáo dục đại học nước ta bắt đầu được đổi mới, sau Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 6, trong quá trình đổi mới, quyền tự chủ của các trường đại học ngày càng được nâng cao Việc đổi mới đã giúp cho các trường đại học chủ động triển khai rất nhiều hoạt động có hiệu quả, góp phần đưa hệ thống giáo dục đại học nước ta thoát ra khỏi những thời kỳ hết sức khó khăn và đem lại nhiều thành tựu mới Và cho đến nay giáo dục đại học Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng được nhu cầu học tập của người dân, tạo tiền đề phát triển đất nước

Qua quá trình lịch sử hình thành và phát triển lâu dài của giáo dục đại học Việt Nam có thể thấy tầm quan trọng của giáo dục đại học đối với đất nước, nhờ nó mà đất nước Việt Nam có thể phát triển bền vững như ngày hôm nay, dù đó là cả một chặng đường đầy khó khăn nhưng với sự lãnh đạo của Đảng giáo dục nước ta đã có bước tiến triển lên tầm cao mới Tuy nhiên, với sự tiến bộ của khoa học và xã hội ngày càng hiện đại do đó cần đòi hỏi phải đặc biệt quan tâm phát triển giáo dục đại học hơn để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của người dân

Trang 31

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ 2.1 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học

2.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý giáo dục đại học

Trong xu thế hội nhập, đòn bẩy giúp cho nhiều quốc gia có những bước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc chính là ở giáo dục đại học Thấy rõ vai trò và tầm quan trọng đó, trong nhiều kì đại hội gần đây, Đảng ta đã xây dựng định hướng phát triển giáo dục và đào tạo, coi đây là lĩnh vực then chốt, tạo điều kiện cho giáo dục đại học thực hiện sứ mệnh đi trước, đón đầu Quan điểm của Đảng về đường lối phát triển giáo dục và đào tạo thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII; Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6, lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X Từ các văn kiện đó, đường hướng phát triển giáo

dục và đào tạo được chỉ đạo như sau:

Coi Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học và công nghệ

là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

Giáo dục và Đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh Xây dựng con người có đầy đủ phẩm

chất để xây dựng và bảo vệ đất nước

Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội

Nền giáo dục truyền thống của chúng ta gần như chỉ chú trọng đến hai vấn đề:

“Học để biết và học để làm” Chính vì vậy thành quả của giáo dục đại học nước nhà không tránh khỏi khập khiễng, phiến diện Chưa một trường đại học nào của Việt Nam được xếp thứ hạng về chất lượng trên thế giới Những cuộc thi quốc tế có giải cao phần lớn do khả năng của cá nhân thầy và trò, phần nữa do cơ chế bồi dưỡng “gà chọi”

là vấn đề vốn rất thịnh hành ở nước ta Chính vì vậy quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện quyết định cho những thay đổi lớn lao cho nền giáo dục nước ta Nó tránh được căn bệnh thành tích, chú ý “điểm” mà thiếu “diện” Nó đòi hỏi hội nhập một cách triệt

để, bản chất với nền giáo dục tiên tiến của nhân loại Trong xu thế quản lý chất lượng toàn diện, giáo dục đại học cũng phải xác định hạt nhân của sự phát triển Theo đó trong định hướng phát triển “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” Đây là một quan điểm đúng

Trang 32

đắn thể hiện sự đổi mới, bám sát vào thực tiễn Giáo dục và Đào tạo không tách rời với

xu thế phát triển chung Cũng như vậy, công tác quản lý giáo dục phải thể hiện tính hiệu quả Một định hướng quá chung chung, mang tính dàn trải sẽ khiến công tác quản

lý giáo dục đại học có nguy cơ bị cào bằng và chỉ được nhìn nhận ở phương diện bề nổi mà thiếu chiều sâu Tuy nhiên điều quan trọng không chỉ dừng lại ở định hướng Quá trình tổ chức thực hiện theo đúng sự chỉ đạo để không chệch đường lối, không máy móc, cứng nhắc lại là yêu cầu thuộc về cả hệ thống chính trị, mà trước tiên là bộ máy quản lý nhà nước Theo đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục phải gắn liền với hiệu quả, đầu ra của hoạt động giáo dục Hệ thống hành lang pháp lý phải đảm bảo sự chặt chẽ và có hiệu lực Hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phải theo những chuẩn mực quốc tế trên cơ sở phù hợp với điều kiện Việt Nam Chính sách giáo dục cần phải bám sát thực tế, bám sát đối tượng và có tác động tích cực góp phần làm chuyển đổi chất lượng giáo dục Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động giáo dục đòi hỏi phải tích cực, có tác dụng điều chỉnh, đưa hoạt động giáo dục đi vào khuôn khổ Đây là điều cần thiết trong bối cảnh chúng ta đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giáo

dục

Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên với định hướng là vấn đề then chốt cũng cho thấy yêu cầu cao đối với các nhân tố quan trọng có tầm quyết định đến sự đổi mới chất lượng của nền giáo dục nước ta Thực tế

sự tụt hậu của nền giáo dục đại học không tách khỏi trình độ và kỹ năng quản lý của các nhà quản lý, và của cả ở chất lượng của đội ngũ giáo viên Mặc dù ngành Giáo dục

và Đào tạo cũng đã nỗ lực với những biện pháp khá mạnh tay, tuy nhiên sự thiếu đồng

bộ và chưa thực sự kiên quyết cũng là một trong những nguyên nhân khiến chưa có sự chuyển biến tích cực Trong bối cảnh đó, định hướng của Đại hội XI sẽ trở thành đòn

bẩy thúc đẩy sự chuyển biến thực sự, bền vững cho nền giáo dục đại học Việt Nam

Tựu trung lại có thể nói rằng, những quan điểm định hướng phát triển giáo dục đại học thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã chứng tỏ tầm nhìn trong một giai đoạn mới, đặt hoạt động Giáo dục và Đào tạo gắn liền với xu thế phát triển chung của nhân loại và của quốc gia Đó là nền tảng tư tưởng vững chắc để nền giáo dục Việt Nam có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.23

23 TS Nguyễn Thị Hường, Nền Giáo dục và Đào tạo Việt Nam theo định hướng của Đại hội Đảng lần thứ XI,

http://www.baomoi.com/Nen-Giao-duc Dao-tao-Viet-Nam-theo-dinh-huong-cua-Dai-hoi-Dang-lan-thu-XI/122/6105574.epi, [10/09/2012]

Trang 33

2.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật của công tác quản lý giáo dục đại học Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 11, nhất trí thông qua vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 15-4-1992 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001-QH10 ngày 25-12-2001 do Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25-12-2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 07/01/2002 (là ngày Chủ tịch nước công bố Nghị quyết của Quốc hội) Hiến pháp được xem là đạo luật có giá trị pháp lí cao nhất, do đó bất kỳ quy định nào cũng phải dựa trên nền tảng của Hiến pháp, không được trái Hiến pháp

Hiến pháp quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý Trong đó, vấn đề giáo dục được quy định cụ thể tại Điều 35 và Điều 36, qua đó những nội dung cơ bản để định hướng chiến lược phát triển giáo dục được nêu ra rất rõ ràng giúp cho việc phát triển nền giáo dục nước ta được thuận lợi hơn

Theo Điều 35 của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì:

“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Điều luật nêu ra mục tiêu của giáo dục cũng như những lợi ích cơ bản mà giáo dục đem lại đối với sự phát triển của đất nước, từ đó khẳng định rằng giáo dục rất quan trọng đối với sự phát triển nhân cách con người và

sự phồn vinh của đất nước Do vậy, công tác quản lý nhà nước về giáo dục cần dựa theo những tiêu chí cụ thể này để định ra chiến lược phát triển giáo dục một cách hoàn thiện, đồng thời phải luôn luôn đặt việc phát triển giáo dục lên hàng đầu

Cùng với việc nêu ra tầm quan trọng của giáo dục cũng như chiến lược phát triển giáo dục phải được đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển quốc gia, Hiến pháp cũng nêu ra nội dung cơ bản để quản lý tốt công tác giáo dục Theo Điều 36 của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục gồm giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch

Trang 34

giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học; thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn Các đoàn thể nhân dân trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng” Muốn công tác quản lý nhà nước về giáo dục đạt hiệu quả nhất thiết Nhà nước phải tham gia vào việc quản lý, Nhà nước sẽ quản lý cũng như đề ra những chiến lược phát triển giáo dục chung cho toàn hệ thống giáo dục quốc dân dựa theo những nội dung cụ thể mà Hiến pháp quy định Quản lý tốt những vấn đề mà Hiến pháp nêu ra hệ thống giáo dục sẽ phát triển cân đối và bền vững

Hiến pháp quy định những vấn đề chung khi quản lý giáo dục cần phải xem xét

và coi đó là trọng tâm để phát triển giáo dục Tuy nhiên, giáo dục đại học cũng nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, do đó công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học cũng phải dựa trên nền tảng những nội dung cơ bản mà Hiến pháp quy định Phát triển giáo dục được khẳng định trong Hiến pháp là nhiệm vụ của toàn xã hội với sự quản lý thống nhất của Nhà nước, Nhà nước sẽ đề ra những phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống giáo dục đồng thời đẩy mạnh đầu tư, khuyến khích đầu tư và tăng cường công tác quản lý giáo dục Đặc biệt là chú trọng đến những vùng khó khăn bởi vì chỉ có phát triển tri thức mới kéo theo sự phát triển của xã hội, đầu tư

để phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa sẽ góp phần đẩy mạnh kinh tế của vùng tạo nên tính cân đối cho toàn hệ thống giáo dục Và dựa trên nền tảng của Hiến pháp Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung 2009 đã ra đời nhằm điều chỉnh những nội

dung về quản lý giáo dục

Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Luật giáo dục năm 2005 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14-6-2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 Sau gần 4 năm thi hành Luật, một

số quy định của Luật không còn đáp ứng được yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục Vì vậy, ngày 25-11-2009, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục; Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2010

Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định cụ thể về hệ

Trang 35

thống giáo dục quốc dân, trong đó có giáo dục đại học Mục tiêu là tạo ra hệ thống văn bản hoàn chỉnh về pháp luật giáo dục nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về giáo dục của nước ta Luật quy định những nội dung cơ bản về chương trình, giáo trình giáo dục đại học cũng như hệ thống văn bằng và phương pháp đào tạo đại học

Luật giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 ra đời giải quyết được những khó khăn trước mắt về giáo dục đại học, giúp cho công tác quản lý giáo dục được thực hiện theo khuôn khổ và có hệ thống, tuy nhiên những quy định về giáo dục đại học còn chung chung, chưa phát huy được tối đa quyền tự chủ của các trường, chưa tạo tiền đề vững chắc để chất lượng giáo dục đại học được nâng cao, do đó khi áp dụng không ít các cơ quan chức năng cũng như các trường gặp khó khăn Để khắc phục được vấn đề cần có một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nhằm điều chỉnh riêng về lĩnh vực giáo dục đại học, có như vậy giáo dục đại học mới thực sự phát triển theo hướng hiện đại Trong suốt thời gian qua Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến vấn đề là làm sao để có thể phát triển giáo dục đại học theo hướng hoàn thiện nhất nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực trình độ cao cho đất nước Vì thế, Quốc hội cũng đã quyết định thông qua Luật giáo dục đại học tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII ngày 18/6/2012 và Luật sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2013 Luật giáo dục đại học ra đời sẽ là giải pháp tốt nhất để giải quyết những khó khăn trước mắt mà công tác giáo dục đại học đang mắc phải

Nghị định 75/2006/NĐ-CP ngày 2 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục

Luật giáo dục năm 2005 ra đời không lâu sau Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục nhằm cụ thể hóa những gì mà Luật giáo dục quy định Sau đó, khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục được ban hành thì Chính phủ lại ra Nghị định 31/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, Nghị định có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011 Nghị định ra đời nhằm giải thích và hướng dẫn cụ thể công việc cần phải làm để phát triển giáo dục nước ta,

vì câu chữ của Luật quy định còn chung chung, nhờ vậy mà việc thi hành luật trong công tác quản lý giáo dục đại học đạt hiệu quả hơn

Nghị định 75/2006/NĐ-CP là Nghị định hướng dẫn những nội dung mà giáo dục đại học nên làm trên nền tảng những gì Luật giáo dục quy định Nghị định gồm IX chương và 44 Điều, trong đó những Điều hướng dẫn cụ thể về công tác quản lý giáo dục đại học là: Điều 3 Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục; Điều 4 Liên

Trang 36

thông trong giáo dục; Điều 5 Dạy và học ngoại ngữ, dạy và học tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; Điều 6 Chương trình giáo dục ( Khoản 1 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP ); Điều 7 Chuẩn kiến thức, kỹ năng; Điều 9 Giáo trình ( Khoản 1 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 4 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP ); Điều 10 Hội đồng thẩm định chương trình giáo dục, sách giáo khoa, giáo trình; Điều 11 Thi kiểm tra, tuyển sinh, công nhận tốt nghiệp; Điều 12 Văn bằng, chứng chỉ; Điều 13 Thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ; Điều 14 Các trường hợp bị thu hồi và thẩm quyền thu hồi văn bằng, chứng chỉ; Điều

15 Công nhận văn bằng của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp; Điều

17 Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; Điều 18 Các loại hình cơ sở giáo dục (Khoản 2 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 6 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP); Điều 25 Mô hình tổ chức của các loại trường đại học; Điều 26 Cơ sở giáo dục đại học thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học; Điều 29 Tuyển dụng, quản lý, điều động nhà giáo; Điều 30 Nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 11 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP); Điều 31 Thỉnh giảng; Điều 32 Phong tặng danh hiệu tiến sĩ danh dự (Khoản 2 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP); Điều 38 Quản lý nhà nước về công tác kiểm định chất lượng giáo dục (Điểm a Khoản 1 và Khoản 2 đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản

14 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP); Điều 39 Các tổ chức quản lý và tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục (Điểm b Khoản 1 đã được sửa đổi và bổ sung Khoản 3 tại Khoản 15 Điều 1 Nghị định 31/2011/NĐ-CP); Điều 40 Kết quả kiểm định chương trình và cơ sở giáo dục Nghị định góp phần hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý giáo dục

2.2 Thực tiễn áp dụng văn bản pháp luật trong quản lý giáo dục tại trường Đại học Cần Thơ

2.2.1 Tổng quan về trường Đại học Cần Thơ

Trường Đại học Cần Thơ được thành lập năm 1966 đến nay, tiền thân là Viện Đại học Cần Thơ Viện Đại học Cần Thơ là viện đại học thứ năm của nước Việt Nam Cộng hòa Đến năm 1975, Viện Đại học Cần Thơ mới được đổi thành Trường Đại học Cần Thơ Từ năm 1981 do yêu cầu của các địa phương, công tác đào tạo tại chức cần được

mở rộng hơn và trường đã liên kết với các tỉnh mở các trung tâm Đào tạo bồi dưỡng Đại học tại chức mà tên gọi là trung tâm giáo dục thường xuyên Hiện tại, trường có

Trang 37

14 Khoa, 3 viện, 8 trung tâm, 12 phòng ban, và 4 đoàn thể:24

14 Khoa gồm:

1 Khoa Sư phạm

2 Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng

3 Khoa Công nghệ

4 Khoa Công nghệ thông tin và Truyền thông

5 Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh

6 Khoa Thủy sản

7 Khoa Luật

8 Khoa Khoa học tự nhiên

9 Khoa Khoa học chính trị

10 Khoa Khoa học xã hội và nhân văn

11 Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên

12 Khoa Phát triển nông thôn

13 Khoa Dự bị dân tộc

14 Khoa sau đại học

3 Viện gồm:

1 Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu

2 Viện nghiên cứu phát triển Đồng bằng song Cửu Long

3 Viện Nghiên cứu và phát triển Công nghệ sinh

8 Trung tâm gồm:

1 Trung tâm Công nghệ Phần mềm

2 Trung tâm Dịch vụ và Chuyển giao Công nghệ

3 Trung tâm Liên kết Đào tạo

4 Trung tâm Đảm bảo Chất lượng và Khảo thí

5 Trung tâm Giáo dục Quốc phòng

6 Trung tâm Học liệu

7 Trung tâm Ngoại ngữ

8 Trung tâm Thông tin và Quản trị mạng

24 Ngọc Điệp, Quá trình hình thành và phát triển trường Đại học Cần Thơ,

http://websrv.ctu.edu.vn/intro_det.php?mn=2&id=19, [ truy cập ngày 13/09/2012]

Trang 38

11 Ban quản lý công trình

12 Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ

4 Đoàn thể gồm:

1 Văn phòng Đảng ủy

2 Công Đoàn trường

3 Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên

4 Hội cựu sinh viên

Trường Đại học Cần Thơ hoạt động công khai theo Thông tư BGDĐT, công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và công khai thu chi tài chính Những vấn đề liên quan phải được thực hiện một cách công khai, cụ thể, rõ ràng nhằm giúp

09/2009/TT-cho công tác giáo dục của trường đạt hiệu quả cao

Trường Đại học Cần Thơ là trường đại học trọng điểm quốc gia duy nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là trung tâm văn hóa - khoa học kỹ thuật của vùng, có truyền thống lâu đời, có chất lượng đào tạo tốt, là một trong số ít trường đại học của Việt Nam được xếp hạng trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu khu vực Đông Nam Á Đồng thời, Trường Đại học Cần Thơ cũng là trường đa ngành đa lĩnh vực, có đầy đủ các ngành nghề đào tạo và có chương trình đào tạo tiên tiến theo chuẩn mực quốc tế Trường đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, từ một số ít ngành đào tạo ban đầu, trường đã củng cố phát triển thành một trường đa ngành đa lĩnh vực

Nhiệm vụ chính của trường là đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế trong vùng Song song với công tác đào tạo, Trường Đại học Cần Thơ đã tham gia tích cực các chương trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề về khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa và xã hội của vùng

2.2.2 Công tác quản lý giáo dục ở Trường Đại học Cần Thơ

2.2.2.1 Công tác quản lý đào tạo

Trường Đại học Cần Thơ đào tạo theo học chế Tín chỉ Ngoài học kỳ đầu khóa

Trang 39

học sinh viên phải học các học phần do trường sắp xếp, từ học kỳ thứ 2 trở đi, sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện của mình và phù hợp với “Quy định về công tác học vụ” với sự tư vấn của cố vấn học tập cho mỗi chuyên ngành Sinh viên tích lũy đủ số lượng tín chỉ quy định của chương trình đào tạo sẽ được xét công nhận tốt nghiệp Sinh viên thõa mãn một số điều kiện nhất định có thể đăng ký học thêm một ngành đại học khác song song với ngành đang học, khi tích lũy đầy đủ những học phần theo chương trình thứ hai sinh viên sẽ được cấp văn bằng của chương trình đó

Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học

mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn.25

Chương trình đào tạo được xây dựng dựa vào chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tham khảo các trường trong nước và quốc tế Đặc biệt là được sự hỗ trợ của các chương trình hợp tác với nước ngoài như: chương trình NPT (chương trình Tăng cường năng lực thể chế cho giáo dục và đào tạo sau phổ thông), chương trình VLIR (chương trình học bổng thạc sỹ) của Bỉ và một số chương trình khác Chương trình đào tạo bậc đại học đã qua 4 lần cập nhật: Khóa 18-19, Khóa 20-24, Khóa 25-29, Khóa 30-32 và hiện tại đang hoàn chỉnh chương trình theo tín chỉ chỉ áp dụng từ khóa

33 cho đến nay Chương trình đào tạo từ khóa 35 trở về trước là 137 tín chỉ, còn chương trình đào tạo từ khóa 36 trở về sau là 120 tín chỉ

Việc đào tạo theo học chế tín chỉ có những lợi ích nhất định, giúp sinh viên chủ động với thời gian học tập của mình tạo nên tính năng động, sáng tạo cho sinh viên, đòi hỏi sinh viên tự học là chính, thời gian sinh viên tự nghiên cứu, tìm tòi nhiều hơn

so với thời gian đến trường, có thể rút ngắn thời gian học tập để tốt nghiệp ra trường sớm hơn Từ những lợi ích trên có thể thấy rằng việc đào tạo theo tín chỉ là rất cần thiết trong công tác giáo dục đại học Và cũng theo tinh thần của Luật giáo dục năm

2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Trường Đại học Cần Thơ cũng đã đề ra chương trình đào tạo theo chuẩn mực luật định, đảm bảo cơ bản, đầy đủ nội dung kiến thức cho từng chuyên ngành nhằm cung cấp cho sinh viên những kỷ năng cũng như tri thức

25 PGS.TS Hoàng Văn Vân, Phương thức đào tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất, và những hàm ý cho phương

pháp giảng dạy - học ở bậc đại học , http://www1.vnu.edu.vn/dhqg/contents/index.php, [6/11/2012]

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm