1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP QUẢN lý môi TRƯỜNG lưu vực SÔNG PHÁP LUẬT và THỰC TIỄN

63 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 633,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tình hình diễn biến phức tạp như trên, ngày 29/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ- Đáy theo quyết định số 57/2008/QĐ-

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn:

Hoàng Văn Phúc Mssv: 5062276 Lớp Tư Pháp 01 k32

Cần Thơ, 4/2010

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đều nhận thức được rằng tài nguyên nước là thành phần thiết yếu và quan trong đối với sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại và phát triển của một đất nước Trong đó nước trên các lưu vực sông là lượng nước ngọt vô cùng quan trọng

nó ảnh hưởng trực tiếp về mọi mặt của đời sống xã hội và sản xuất Tuy nhiên, do áp lực của sự gia tăng dân số, hoạt động sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh, quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu dẫn đến tài nguyên nước trên các lưu vực sông ngày càng có xu hướng cạn kiệt về số lượng và suy giảm về chất lượng Nước ta đang trong qúa trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, nông nghiệp và quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã tạo ra nguồn thải khổng lồ chưa được xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu như quy định không ngừng đổ vào các dòng sông, từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, làng nghề, bệnh viện, khai thác khoáng sản ,Các lưu vực sông bị ô nhiễm nghiêm trọng, đã và đang hủy hoại môi sinh, làm nhiều hệ sinh thái thủy sinh đã bị biến mất, có những loài có nguy cơ tuyệt chủng nếu không có các biện pháp quản lý môi trường lưu vực sông và bảo tồn nghiêm ngặt Ô nhiễm nước sông của sông Thị Vải, Đồng Nai, Sông Cầu… đã cho thấy một thực tế tình trạng ô nhiễm trên những dòng sông ở Việt Nam đã tăng cường độ kinh khủng và thật khó có phương cách nào cứu chữa được nữa nếu chúng ta không có biện pháp thích hợp trong việc quản lý môi trường lưu vực sông

Quản lý môi trường lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây để đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường của các lưu vực sông Bên cạnh đó nhằm tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng nhưng không làm tổn hại đến tính bền vững môi trường trọng yếu của lưu vực, duy trì các điều kiện môi trường sống lâu bền cho con người Tuy nhiên, quản lý môi trường lưu vực sông ở nước ta còn nhiều hạn chế và bất cập, lưu vực sông được khai thác, sử dụng chưa theo quy hoạch, kế hoạch, thiếu tính liên ngành vẫn chưa được chấn chỉnh kịp thời gây lãng phí trong công tác quản lý và kém hiệu quả Việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian qua ở nước ta chưa nghiêm, hiệu lực và hiệu quả còn thấp, đồng thời chưa có

sự nhận thức đầy đủ về bảo vệ môi trường tài nguyên nước theo hướng bền vững và biện pháp giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo

vệ môi trường Tư tưởng coi trọng lợi ích cục bộ, trước mắt về kinh tế, không chú ý đến lợi ích lâu dài về môi trường còn khá phổ biến ở các cấp, các ngành

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ những thực trạng nêu trên việc tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật

về quản lý môi trường lưu vực sông trở nên cấp bách và hết sức cần thiết, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ sức răn đe trước thực trạng môi trường lưu vực sông đang đứng trước vực thẳm của sự suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng, qua đó tác giả tìm hiểu ngoài thực tiễn nhằm góp phần xây dựng pháp luật theo hướng đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của các quy định trong lĩnh vực này với thực tế Từ đó khắc phục một số hạn chế và đối phó với thực trạng nêu trên

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Vấn đề quản lý môi trường lưu vực sông là đề tài khá mới mẻ với tác giả Dựa trên cơ sở pháp lý là luật tài nguyên nước 1998, Luật bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 120/2008/NĐ-CP được chính phủ ban hành ngày 01/12/2008 về Quản lý lưu vực sông, Do thời gian hạn hẹp tác giả tập tập trung nghiên cứu chủ yếu vấn đề quản lý môi trường lưu vực sông qua đó người viết tìm hiểu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật để hiểu thêm và tìm hiểu ngoài thực tiễn cũng như kiến nghị của bản thân nhằm xây dựng hoàn thiện pháp luật về quản lý lưu vực sông

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Quản lý môi trường lưu vực sông: Pháp luật và thực tiễn” người viết sử dụng các phương pháp chính như: phương pháp phân tích phân tích luật viết; Phương pháp so sánh, qua đó đối chiếu vấn đề kết hợp với thực tiễn ngoài ra tác giả còn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin làm phương pháp phân tích của đề tài

5 Kết cấu đề tài:

Mở đầu

Chương 1: Lý luận chung về quản lý môi trường lưu vực sông

Chương 2 Thực trạng pháp luật về quản lý môi trường lưu vực sông ở Việt Nam Chương 3 Thực tiễn quản lý môi trường lưu vực sông Mê công, những tồn tại và kiến nghị nhằm hoàn thiện

Kết Luận

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG

Quản lý môi trường lưu vực sông ngày nay có thể nói là một đề tài nóng bỏng

và đang là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ, các nhà quản lý, các tổ chức trong nước, các nhà khoa học, và mọi người dân trước thực trạng môi trường ở các lưu vực sông ngày càng ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng Để đi sâu nghiên cứu vấn đề ở Chương 1, tác giả làm rõ một số khái niệm liên quan và khái quát môi trường lưu vực sông hiện nay ở nước ta, qua đó tác giả cũng đưa ra một số kinh nghiệm và mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới, nhằm học hỏi và xây dựng mô hình quản lý lưu vực sông trong nước đồng thời tìm hiểu thêm về lợi ích của quản lý lưu vực sông cũng như

cơ sở pháp lý Việt Nam trong lĩnh vực quản lý môi trường lưu vực sông

1.1 Các khái niệm liên quan:

 Khái niệm về môi trường:

Thuật ngữ “môi trường” có nguồn gốc từ tiếng Pháp “environner” có nghĩa là “bao quanh hoặc chu trình khép kín “ và đến những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX, thuật ngữ này cũng được sử dụng phổ biến trong nhiều ngôn ngũ của các quốc gia cụ thể như: “Umwelt” (German); “Mileu” (Dutch)…Môi trường là một phạm trù rất rộng, có thể được hiểu theo nhiều cách khác như:

“Môi trường” là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng cụ thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội;

“Môi trường” được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình trong đó con người sống bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”1…

Vậy, phải hiểu như thế nào, nhất là về mặt pháp lý? Nói chung các quốc gia đều xây dựng khái niệm pháp lý về môi trường trên cơ sở những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người

Ở Việt Nam, khái niệm pháp lý về môi trường được ấn định trong đạo luật về môi trường, và tính đến thời điểm hiện nay có thể thấy rằng có hai khái niệm được quy định trong luật bảo vệ môi trường 1993 và 2005, cụ thể như sau:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"2

1 Giáo trình Luật môi trường; ThS Kim Oanh Na, Võ Hoàng Yến: Tủ sách Đại Học Cần Thơ 2007

Trang 5

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”3

 Khái niệm Lưu vực sông

Một điều rất quan trọng khi nghiên cứu về quản lý môi trường vực sông là phải xem xét các lưu vực sông.Vậy, Lưu vực sông là gì?

"Lưu vực sông (River Basin hay Watershed) được hiểu là một vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông"4 Một lưu vực sông là vùng mà tại đó tất cả nước rơi và tiêu thoát chảy theo cùng một dòng

Các lưu vực sông rất quan trọng vì dòng chảy và chất lượng nước của một con sông chịu tác động của nhiều thứ, có ảnh hưởng của con người hay không có ảnh hưởng của con người, xuất hiện trong những vùng phía trên mặt cắt cửa ra của lưu vực

Theo nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ thì ta có thể có: lưu vực sông quốc

tế, lưu cực sông liên tỉnh, lưu vực sông nội tỉnh5

 Khái niệm Quản lý môi trường lưu vực sông:

Có nhiều cách định nghĩa về quản lý Lưu môi trường vực sông, nhưng có thể hiểu đây là một khái niệm rộng gắn với các kế hoạch, chính sách và hoạt động nhằm kiểm soát nguồn nước, tài nguyên và môi trường cũng như các quá trình liên quan trong một lưu vực nhất định Quy mô của việc quản lý môi trường Lưu vực sông tuỳ thuộc vào các điều kiện tài nguyên, địa lý và hành chính Mặc dù nhiều nước trên thế giới đã sử dụng cách tiếp cận này, song cách hiểu và áp dụng tại mỗi nước có nhiều điểm khác nhau Tuy nhiên, cách tiếp cận này có một số điểm chung là:

Nhằm mục đích hài hoà các mục tiêu của các cơ quan địa phương và trung ương trong lưu vực, giúp họ có được chiến lược quản lý hợp lý

Quá trình ra quyết định thường cố gắng bao hàm đầy đủ các lĩnh vực liên quan và

sử dụng kỹ năng "tìm tiếng nói chung" để xây dựng được kế hoạch đáp ứng yêu cầu của các bên liên quan

3

Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005

4 Điều 15 Luật tài nguyên nước 1998

Trang 6

Sử dụng thông tin khoa học và logic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái thuỷ sinh, hệ sinh thái trên cạn, sức khoẻ con người, và các điều kiện kinh tế trong lưu vực

Sử dụng các biện pháp tài chính phù hợp để chi phí được phân bổ cho các dự án tương ứng với lợi ích thu được của chúng

Cố gắng tạo ra khung thoả thuận liên ngành nhằm đảm bảo các kế hoạch sẽ được thực hiện dựa vào cách tiếp cận và mong muốn của các bên liên quan chứ không phải dựa vào các luật lệ hay quy định

Xây dựng các biện pháp và tiêu chuẩn rõ ràng để kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc quản lý môi trường Lưu vực sông

Nhìn chung, cách tiếp cận quản lý môi trường Lưu Vực Sông này bao gồm ba nét chính Thứ nhất là sự phát hiện vấn đề, phát hiện các mối đe doạ tiềm ẩn đối với sức khoẻ con người và hệ sinh thái trong lưu vực Thứ hai là sự tham gia của các bên liên quan, đòi hỏi mọi người phải có sự quan tâm thích đáng hoặc thích hợp nhất Thứ ba là

sự phối hợp hành động, đó là các nỗ lực được thực hiện một cách tổng hợp và toàn diện một khi các giải pháp đã được quyết định

1.2 Khái quát về quản lý môi trường lưu vực sông ở Việt Nam

Môi trường lưu vực sông đang bị đe dọa bên bờ vực thẳm của phát triển không bền vững nếu không có các giải pháp đáp ứng kịp thời và tương xứng Hầu hết các lưu vực sông ở Việt Nam đang kêu cứu, trước quá trình đô thị hóa, sự hình thành và phát triển nhanh chóng các khu công nghiệp, khu chế xuất…,đã khiến hệ thống lưu vực sông bị ô nhiễm nghiêm trọng ở mức báo động bê cạnh đó sự phân bố rất không đồng đều về tài nguyên nước theo không gian và thời gian Chính sự phân bố không đều này

là nguyên nhân gây ra lũ lụt và các đợt hạn hán nghiêm trọng Thiên tai, hạn hán, chua phèn, xâm nhập mặn trên các lưu vực sông thường xuyên là mối đe doạ đối với sản

xuất và đời sống dân cư nhiều vùng của nước ta

Trong đó vấn đề chất thải là một vấn đề nan giải đối với những quốc gia còn đang phát triển Kết quả quan trắc cho thấy, nước sông bị ô nhiễm chủ yếu bởi các chất hóa học, hữu cơ, dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng, mùi hôi, độ màu và vi khuẩn, đặc biệt vào mùa khô tình nhiễm nước lưu vực sông có chiều hướng càng tăng mạnh vì dòng chảy suy giảm Qua báo chí và truyền thanh ở nước ta từ những năm qua, tin tức ô nhiễm nguồn nước ở hầu hết ở tất cả các lưu vực sông, đặc biệt ở những nơi có phát triển trọng điểm Nhiều dòng sông trước kia "trong xanh nước biếc" là nơi giặt giũ tắm rửa và được sử dụng như nước sinh hoạt gia đình Nay tình trạng hoàn toàn khác hẳn, người dân ở nhiều nơi không thể dùng những nguồn nước sông này nữa vì những dòng sông xưa kia có tên gọi mới là "sông chết" bởi vì tình hình ô nhiễm trên các lưu vực

Trang 7

sông vô cùng khủng khiếp, có những lưu vực sông có màu đen, bốc mùi hôi thối, những lưu vực sông xưa kia quanh năm cung cấp lượng phù sa, nước cho tưới tiêu dồi dào cho vùng đồng bằng nay trở nên cạn trơ đáy, Những nơi được đề cập đến có thể được chia ra từng khu vực khác nhau từ Bắc chí Nam tùy theo sự phát triển của từng nơi một, điển hình đó là :

• Lưu vực sông Cầu và các phụ lưu qua các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Dương

• Lưu vực sông Nhuệ - Ðáy chảy qua các tỉnh Hòa Bình, Thành phố Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Ðịnh, và Ninh Bình

• Lưu vực sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn gồm các tỉnh Lâm Ðồng, Ðắc Lắc, Ðắc Nông, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Ðồng Nai (Biên Hòa), Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ninh Thuận, và Bình Thuận

• Lưu vực sông Cửu long gồm các tỉnh thuộc Ðồng Bằng Sông Cửu Long

 Quản lý môi trường Lưu vực sông Cầu

Lưu vực sông Cầu có diện tích 6.030km2 là một phần của Lưu vực sông Hồng – Thái Bình (chiếm khoảng 8% diện tích Lưu vực sông Hồng – Thái Bình trong lãnh thổ Việt Nam) Lưu vực bao gồm gần như toàn bộ các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và một phần các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hà Nội (huyện Đông Anh, Sóc Sơn) Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vưc sông lớn ở nước ta có

vị trí địa lý đặc biệt và có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử phát triển của các tỉnh thuộc lưu vực6

Quá trình phát triển kinh tế xã hội đã và đang làm cho môi trường lưu vực sông Cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, Ô nhiễm ở nhiều nơi trên lưu vực sông Cầu đã đến mức báo động Cùng với các hoạt động kinh tế không chú trọng đến bảo vệ môi trường thì việc khai thác dòng sông làm cho chất lượng nguồn nước và đa dạng sinh học ở lưu vực sống ngày càng suy giảm Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ môi trường thì hiện có 800 cơ sở có nguồn thải ra lưu vực sông Cầu mà không qua xử lý, chủ yếu từ khai khoáng và tuyển quặng Cùng với đó là khoảng 200 làng nghề các loại chủ yếu tập trung ở Thái Nguyên, Bắc Ninh và Bắc Giang Vì vậy, nước mặt tại các vùng trung lưu và hạ lưu của lưu vực sông Cầu hiện đang bị ô nhiễm cục bộ bởi một số chất gây ô nhiễm hữu cơ, chất rắn lơ lửng và dầu mỡ, có nơi đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Trước tình trạng trên Uỷ Ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu (gọi tắt là Ủy ban sông Cầu) ra đời theo quyết định số 174/2006 - QĐ/TT của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông Cầu Mục tiêu của đề án là giải quyết tổng thể ô nhiễm môi trường

Trang 8

nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của các địa phương trên lưu vực sông

và toàn quốc

Về cơ cấu tổ chức:Các thành viên của Ủy ban sông Cầu gồm

• Chủ tịch Ủy ban sông Cầu: là Chủ tịch Ủy ban nhân dân của một trong sáu tỉnh thuộc lưu vực, đảm nhiệm luân phiên theo thứ tự bảng chữ cái với 3 năm cho nhiệm kỳ đầu và 2 năm cho các nhiệm kỳ tiếp theo Chủ tịch Ủy ban sông Cầu nhiệm kỳ đầu là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên;

• Phó Chủ tịch: là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;

• Các ủy viên: là đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh thuộc lưu vực sông Cầu; đại diện lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Xây dựng, Giao thông vận tải

và Văn phòng Chính phủ

Giúp việc Ủy ban sông Cầu là Văn phòng Ủy ban sông Cầu

Ủy ban sông Cầu hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; quyết định theo

đa số, họp định kỳ sáu tháng một lần Khi cần thiết, Chủ tịch Ủy ban có thể triệu tập họp bất thường Ủy ban sông Cầu được sử dụng con dấu của Bộ Tài nguyên và Môi trường Kể từ khi thành lập mặc dù đã có nhiều kế hoạch, hoạt động của Đề án tổng thể sông Cầu, nhưng thực sự các kết quả đạt được còn chậm và hiệu quả thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu Nguyên nhân chính là do Ủy ban Sông Cầu là tổ chức chỉ đạo, điều phối liên ngành, liên vùng nên các quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận không có tính ràng buộc pháp lý, các thành viên Ủy ban đều là lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương hoạt động kiêm nhiệm nên việc thực hiện còn nhiều hạn chế Trong khi đó, các nguồn kinh phí thực hiện Đề án tổng thể sông Cầu chỉ được phân bổ theo chức năng tương ứng của các Bộ và địa phương theo quy định, chưa có nguồn chi ưu tiên cho các dự án nhiệm vụ thuộc lưu vực sông Cầu

 Quản lý môi trường Lưu vực sông Nhuệ- Đáy

Sông Nhuệ bắt nguồn từ sông Hồng qua cống Liên Mạc thuộc địa phận huyện Từ Liêm – Thành phố Hà Nội, sau đó hợp lưu với sông Đáy tại Phủ Lý Đây là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh trên lưu vực Theo khảo sát gần đây của Cục Cảnh sát Môi trường (C36) và Phòng Cảnh sát Môi trường, Công an Thành phố Hà Nội (PC36), nguyên nhân hàng đầu gây

ô nhiễm lưu vực sông Nhuệ là nước thải sinh hoạt, chiếm 60% tổng lượng nước thải

trên toàn lưu vực, có chứa các chất hữu cơ, dinh dưỡng, lơ lửng, vi khuẩn cao làm suy

giảm đến 71% chất lượng nước Mức độ ô nhiễm mỗi năm một tăng do tốc độ phát

triển đô thị cao với hàng chục khu đô thị mới hình thành dẫn đến ao hồ trong khu vực

bị thu nhỏ hoặc không còn tồn tại

Trang 9

Tiếp đến là nước thải từ các nhà máy công nghiệp, cơ sở sản xuất và dịch vụ trên lưu vực Hà Nội có rất nhiều cơ sở sản xuất vừa và nhỏ hoạt động xen lẫn trong khu dân cư, chỉ một vài nhà máy lớn có hệ thống xử lý nước thải, còn hầu hết đều đổ trực tiếp ra sông Nhuệ hoặc qua hệ thống tưới tiêu nội thành Lưu vực sông Nhuệ hiện nay đã thành dòng sông “chết”, nước sông đoạn chảy qua Hà Nội nhiều nơi đã chuyển sang màu đen, bốc mùi khó chịu và là nơi ẩn tàng nhiều loại bệnh tật Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa qua xử lý của hàng nghìn cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Hà Nội là những nguyên nhân hàng đầu của tình trạng ô nhiễm

Trước tình hình diễn biến phức tạp như trên, ngày 29/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ- Đáy theo quyết định số 57/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ - Đáy đến năm 2020, trong đó chỉ rõ các mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giai đoạn từ 2008 - 2010, 2011 - 2015, 2016 – 2020

Ủy ban hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số và được giao các nhiệm vụ và quyền hạn như: Tổ chức, hướng dẫn việc thực hiện Đề án sông Nhuệ-sông Đáy; kiến nghị các cấp có thẩm quyền phê duyệt, chỉ đạo và hướng dẫn việc thực hiện các dự án, chương trình, kế hoạch hành động 5 năm, hàng năm thuộc Đề án sông Nhuệ-sông Đáy theo nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên lưu vực 2 sông Đáy và sông Nhuệ; kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, dự án thuộc đề án; kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nội dung của đề án

Về cơ cấu tổ chức:

• Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy là Chủ tịch

Uỷ ban nhân của 1 trong số 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên lưu vực sông Nhuệ-sông Đáy Chủ tịch Ủy ban nhiệm kỳ đầu do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đảm nhiệm với thời hạn 3 năm Chủ tịch Ủy ban các nhiệm kỳ tiếp theo với thời hạn 2 năm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh còn lại đảm nhiệm thông qua hình thức bỏ phiếu tín nhiệm Chủ tịch Ủy ban không đảm nhiệm quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp

• Ủy ban có 2 Phó Chủ tịch và các Ủy viên Phó Chủ tịch Thường trực là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; một Phó Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Các Ủy viên là lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các tỉnh,

 Quản lý môi trường Lưu vực sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn:

Lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn ôm gọn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu Đây cũng

là những nơi có hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất nhiều và phát triển mạnh Hầu

Trang 10

hết chất thải của khu công nghiệp đều được đưa ra sông gần nhất Trong đó, riêng sông Sài Gòn hứng tất cả chất thải khu công nghiệp của Bình Dương Còn tại Bà Rịa - Vũng Tàu, các sông Thị Vải, Sông Dinh, Vịnh Gành Rái chia nhau "gánh" chất thải công nghiệp trong tỉnh

Theo báo cáo nghiên cứu của Viện Môi trường & Tài nguyên (Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh), chỉ tính riêng 42 khu công nghiệp, khu chế xuất của các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa- Vũng Tàu thải ra hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai mỗi ngày lên đến 111605m3 nước, lo ngại nhất là trong

đó có khoảng 15 tấn TSS, 74 tấn COD, 19,7 tấn BOD5, 1,6 tấn Nitơ và 542kg P tổng hợp làm cho nguồn nước vượt tiêu chuẩn cho phép về hóa chất nhiều lần Bên cạnh đó, lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai có trên 50.000 cơ sở tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp hoạt động với quy mô và ngành nghề khác nhau nhưng có điểm chung là thiếu trang bị hệ thống xử lý nước thải và đổ thẳng ra sông

Không chỉ từ công nghiệp, mức độ ô nhiễm từ sinh hoạt cũng không kém, trên lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai hiện ở hầu hết các đô thị dù mới hay cũ đều có điểm chung là không có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt làm cho nguồn nước sông tăng thêm nguồn ô nhiễm hữu cơ và nguy hại hơn là có nhiều tác nhân gây bệnh như vi trùng Ngoài ra, lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai có các khu bãi rác, khu chăn nuôi Hầu hết rác thải ở các tỉnh chưa có hệ thống xử lý và chủ yếu chôn lấp là chính, sự chôn lấp không bảo đảm kỹ thuật làm cho các chất độc hại ngấm vào nước ngầm, hay hòa lẫn cùng nước mưa chảy ra sông suối hòa cùng các chất hóa học từ thuốc trừ sâu, phân bón từ sản xuất nông nghiệp

Trước thực trạng đó ngày 01/12/2008 Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 157/2008/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai

Ủy ban sông đồng nai là tổ chức chỉ ñạo, ñiều phối liên ngành, liên vùng ñể thống nhất thực hiện “ðề án bảo vệ môi

trường lưu vực hệ thống sông ðồng Nai ñến năm 2020” (ñã

ñược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết ñịnh số

187/2007/Qð-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2007)7

 Quản lý môi trường Lưu vực sông Cửu Long

Ðây là một vùng hết sức đặc biệt của cả nước trong vấn đề an ninh lương thực, thuộc hạ lưu sông Mê Công, với 2 hệ thống sông lớn là Tiền Giang va Hậu Giang phát triển kinh tế nơi đây đặt trọng tâm là nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, không phải

7 Điều 1 khoản 2 định số 157/2008/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng

Trang 11

là một trọng điểm công nghiệp cho nên những vấn nạn môi trường không giống như tình trạng của 3 lưu vực vừa kể trên Nhưng việc khai thác nông nghiệp và thủy sản đã trở thành một vấn đề cần phải lưu tâm trong hiện tại Việc ô nhiễm hóa chất do dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là kết quả của việc khai thác tối đa nguồn đất cho nông nghiệp Ðã có nhiều chỉ dấu cho thấy các hóa chất độc hại như hóa chất Bảo

vệ thực vật, nguyên nhân của những mầm bịnh ung thư đã hiện diện trong nước Thêm nữa, việc khai thác nuôi thủy sản trên sông, mà không chú trọng bảo vệ môi trường ngoài việc làm cản trở dòng chảy của sông, việc di chuyển trên sông sẽ khó khăn thêm,

mà còn là một vấn nạn ô nhiễm môi trường không thể tránh khỏi

Ngoài ra, do việc tận dụng nguồn nước cho tưới tiêu, việc khai mở đê điều không hợp lý đã khiến cho Ðồng bằng sông cửu long phải đối mặt với vấn đề ngập mặn do nạn hạn hán kéo dài trong khi hệ sinh thái có nguy cơ bị hủy diệt do ô nhiễm

Đối với lưu vực sông ở đồng bằng sông Cửu Long thuộc hạ lưu vực sông Mê Công phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước quốc tế (95%) việc quản lý và bảo vệ môi trường cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước cùng chung hạ lưu Việc thành lập Ủy ban Mê Công Việt Nam nhằm quản lý môi trường cũng như hợp tác quốc tế đóng vai trò quan trọng cho Lưu vực sông Cửu Long

1.3 Lợi ích của việc quản lý môi trường lưu vực sông

Các chương trình quản lý môi trường Lưu vực sông có thể tác động toàn diện đến các mặt kinh tế, xã hội và đem lại nhiều lợi ích cho lưu vực như:

• Cấp nước: Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cả ba nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước ngầm) ở Lưu vực sông đều được khai thác sử dụng nếu làm tốt công tác quản lý môi trường lưu vực sông, giảm thiểu ô nhiễm

• Chất lượng nước: Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng nước bao gồm địa chất, đất, địa hình, thảm thực vật, quần thể động thực vật hoang dã và khí hậu Nhưng yếu tố quan trọng hơn gây ra các vấn đề về chất lượng nước chính là các hoạt động của con người và vấn đề sử dụng đất trong lưu vực Quản lý Lưu vực sông sẽ phải kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này

• Kiểm soát lũ: Việc cấp nước đồng thời đảm bảo chống lũ có thể là lý do quan trọng nhất của các nỗ lực quản lý Lưu vực sông Cách tiếp cận quản lý tổng hợp Lưu vực sông quan tâm đến các vùng đầu nguồn và bảo vệ các vùng đất ngập nước, rừng

• Kiểm soát bồi lắng: Sự bồi lắng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, sinh cảnh, giao thông thuỷ, kiểm soát lũ và các dịch vụ du lịch, giải trí Nó còn ảnh hưởng đến các loài cá do bùn lắng trên lòng sông - nơi cần thiết cho chúng đẻ trứng, và che phủ các sinh vật đáy quan trọng trong chuỗi thức ăn

Trang 12

• Giao thông thuỷ: Các hoạt động giao thông thuỷ và dịch vụ cảng thường gây ô nhiễm môi trường nước do việc xả dầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng cũng như chất thải sinh hoạt Ngoài ra, vấn đề quan trọng nhất về mặt môi trường với các hoạt động giao thông thuỷ là sự cố tràn dầu

• Phát triển kinh tế với các công trình thuỷ điện-thuỷ lợi: Có thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bằng việc quản lý Lưu vực sông Ở Việt Nam ngay từ những năm 80, Nhà nước đã đầu tư kinh phí xây dựng các hồ chứa để tích nước trong mùa mưa lũ và xả nước trong mùa kiệt kết hợp với phát điện, điều tiết lưu lượng dòng chảy ở hạ lưu và đẩy lùi ranh giới nhiễm mặn, đảm bảo nhu cầu cấp nước, nuôi cá, cải tạo môi trường

• Đa dạng sinh học: Lưu vực sông, đặc biệt là những nơi cư trú ven sông là nơi

cư trú cần thiết và đa dạng cho nhiều quá trình và nhiều loài sinh vật, đây còn là nơi cung cấp mối liên kết giữa hệ sinh thái thuỷ sinh với hệ sinh thái vùng cao Chẳng hạn như, thảm thực vật ven sông sẽ kiểm soát nhiều cơ chế môi trường của hệ sinh thái sông, và đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định lưu lượng, điều chỉnh dòng chảy cũng như nhiệt độ sông Các vùng đất ngập nước cũng đóng vai trò quan trọng tương tự trong việc duy trì đa dạng sinh học và các quá trình trong Lưu vực sông Quản lý Lưu vực sông có thể là công cụ được sử dụng để làm tăng số lượng động thực vật hoang dã, một nhân tố của sự đa dạng sinh thái Mặc dù không phải là thích hợp với mọi trường hợp nhưng việc lập kế hoạch quản lý Lưu vực sông có thể bao gồm những nỗ lực tránh sự suy thoái nơi cư trú của các loài động thực vật hoang dã nguy cấp

1.4 Khái quát quản lý môi trường lưu vực sông của một số quốc gia trên thế giới

Xây dựng mô hình quản lý lưu vực sông phù hợp sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý và bảo vệ môi trường lưu vực sông, đây là công việc phức tạp và khó khăn Để đem lại hiệu quả thiết thực trong quản lý thì nhà nước cần nghiên cứu và xây dựng mô hình quản lý phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của nước mình, qua tìm hiểu các mô hình quản lý lưu vực sông lớn trên thế giới tác giả tổng hợp và đưa ra một số mô hình quản lý lưu vực sông đặc trưng:

1.4.1 Quản lý môi trường lưu vực sông của Cộng Hòa Pháp

Cộng hoà Pháp là quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước Năm 1964, Cộng hoà Pháp đã ban hành Luật tài nguyên nước, đạo luật đầu tiên của Pháp về tài nguyên nước, sau đó Luật này được sửa đổi, bổ sung vào năm 1983 Đến năm

1992, Cộng hoà Pháp đã ban hành Luật tài nguyên nước mới thay thế Luật tài nguyên nước năm 1964 và đến năm 2006 lại nghiên cứu, ban hành Luật tài nguyên nước mới thay thế Luật tài nguyên nước năm 1992 Như vậy ta có thể thấy pháp đã có nhiều chú trọng

Trang 13

trong việc xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc và có những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới

Về cơ cấu tổ chức quản lý tài nguyên nước: Theo Luật tài nguyên nước năm 1964, Cộng hoà Pháp xây dựng mô hình quản lý tài nguyên nước theo 3 cấp gồm:

• Ở Trung Ương:

Bộ Sinh thái, Phát triển và Quy hoạch bền vững chịu trách nhiệm về quản lý tài nguyên nước quốc gia Bộ có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách, chương trình, kế hoạch chung về quản lý tài nguyên nước, thực hiện công tác phòng chống lụt, bão và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra Bộ thành lập Cục Quản

lý tài nguyên nước - cơ quan trực tiếp giúp Bộ chỉ đạo, điều hành việc thực hiện các chương trình, kế hoạch quản lý tài nguyên nước quốc gia

Bên cạnh Bộ Sinh thái, Phát triển và Quy hoạch bền vững có Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ

và tư vấn cho Bộ Sinh thái, Phát triển và Quy hoạch bên vững về xây dựng pháp luật quản lý tài nguyên nước, quy hoạch lưu vực sông, những vấn đề chuyên môn, khoa học và quản lý về tài nguyên nước liên vùng, liên lưu vực sông

• Cấp vùng:

Được tổ chức theo lưu vực sông Toàn bộ lãnh thổ Cộng hoà Pháp được chia thành

06 lưu vực sông lớn, gồm: Seine - Normandie, Artois - Picardie, Rhin - Meuse, Loire - Bretagne, Adour - Garonne và Rhone - Mediterranée - Corse

Đây là mô hình quản lý tài nguyên nước gắn kết trách nhiệm giữa Chính phủ, chính quyền địa phương với cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp trên lưu vực sông, trong

đó đặc biệt coi trọng vai trò của người dân và của các doanh nghiệp trong việc tham gia vào công tác quản lý cũng như giải quyết các vấn đề về nguồn nước và xử lý ô nhiễm nguồn nước Quản lý tài nguyên nước của Cộng hòa Pháp được thể hiện tập trung ở quản lý lưu vực sông Mô hình quản lý lưu vực sông của Pháp đã được các nước trong cộng đồng Châu Âu công nhận là mô hình quản lý hợp lý nhất và đã có nhiều nước áp dụng theo mô hình này

Mỗi lưu vực sông có Uỷ ban lưu vực sông và Cơ quan lưu vực sông: Uỷ ban lưu vực sông được hình thành trên cơ sở bầu chọn các đại diện từ Chính phủ, chính quyền các địa phương trên lưu vực, đại diện các tổ chức nghề nghiệp và người sử dụng nước, theo cơ cấu 20% thành viên đại diện cho các Bộ Ngành liên quan của Chính phủ, 40% thành viên đại diện cho Chính quyền các địa phương, 40% đại diện cho các tổ chức nghề nghiệp và người sử dụng nước Các thành viên trong Uỷ ban bầu chọn Chủ tịch

Uỷ ban lưu vực theo nhiệm kỳ 3 năm Số lượng thành viên Uỷ ban lưu vực sông tuy thuộc vào diện tích của từng lưu vực Uỷ ban lưu vực sông có chức năng phê duyệt các

Trang 14

đề án, dự án về quản lý và quy hoạch phát triển tài nguyên nước trên lưu vực sông và quyết định mức phí nước mà người sử dụng nước phải nộp hàng năm

Cơ quan lưu vực sông là cơ quan tổ chức thực hiện các quyết định của Uỷ ban lưu vực sông, có chức năng, nhiệm vụ quản lý chung về số lượng, chất lượng nước và hệ sinh thái trên lưu vực sông, nhất là việc xây dựng quy hoạch phát triển lưu vực sông trình Uỷ ban lưu vực phê duyệt, đề nghị mức phí phải thu hàng năm, xem xét các hồ sơ đầu tư xây dựng các công trình về tài nguyên nước trên lưu vực sông của các địa phương, các doanh nghiệp, nghiệp đoàn và người sử dụng nước; thanh tra việc thực hiện pháp luật về tài nguyên nước và các văn bản dưới luật về nước; thu phí gây ô nhiễm nước và thuế tài nguyên nước

• Cấp địa phương:

Chính quyền các địa phương có trách nhiệm đầu tư xây dựng các công trình cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, bảo vệ môi trường nước… đề phục vụ nhân dân Kinh phí thực hiện các dự án, công trình công cộng thuộc ngân sách của các địa phương, nhưng được Cơ quan lưu vực sông hỗ trợ trung bình 40% tổng kinh phí xây dựng và cho vay thêm từ 10% đến 20% tuỳ thuộc vào từng dự án

Qua tìm hiểu quản lý lưu vực sông của Pháp ta có thể nhận thấy và hoc hỏi một số kinh nghiệm của Pháp như sau: Gắn quản lý số lượng với chất lượng, bảo vệ hệ sinh thái, đảm bảo dòng chảy sinh thái theo khái niệm quản lý tổng hợp lưu vực sông, Phát huy vai trò của địa phương và cộng đồng trong lực vực; Sử dụng các công cụ kinh tế như giá, phí, thuế làm công cụ đảm bảo sử dụng nước tiết kiệm; Phân lưu vực lớn thành các tiểu lưu vực để quản lý

1.4.2 Một số mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới:

• Mô hình quản lý lưu vực sông Hoàng Hà (Trung Quốc)

Sông Hoàng Hà là con sông lớn thứ 2 của Trung Quốc có diện tích lưu vực khoảng 795.000 km2, số dân khoảng 98 triệu người Chính phủ Trung Quốc đã thành lập Uỷ ban bảo tồn sông Hoàng Hà (YRCC) thuộc Bộ Thuỷ lợi Trung Quốc nhằm quản lý khu vực thung lũng sông Hoàng Hà và các sông nội địa thuộc một số tỉnh phía Tây Bắc Trung Quốc Mô hình tổ chức của YRCC giống mô hình của một Bộ: dưới Uỷ ban

có các Cục, Viện chuyên ngành và Cục quản lý sông tại các tỉnh, phòng quản lý sông tại các huyện; các trung tâm các Viện nghiên cứu YRCC có phạm vi hoạt động và quyền lực rất rộng, bộ máy tổ chức đồ sộ (29.000 người) vừa là một cơ quan xây dựng

và triển khai các chính sách, chiến lược, vừa là một cơ quan thực hiện các dự án đầu

• Mô hình quản lý lưu vực sông Murray-Darling (Australia)

Trang 15

Sông Murray-Darling có diện tích lưu vực khoảng 1 triệu km2 chảy qua một số Bang của Australia: New South Wales, Victoria, Queens land, Nam Australia và Thủ

đô Australia Cơ cấu tổ chức gồm: Hội đồng cấp bộ trưởng với thành phần bao gồm các bộ trưởng phụ trách tài nguyên đất đai, nước và môi trường của liên bang và các bang; Uỷ ban lưu vực Murray-Darling là cơ quan thực thi các quyết định của Hội đồng, Uỷ ban cũng hợp tác làm việc với các bang liên quan Uỷ ban có trách nhiệm quản lý hệ thống sông, hồ thuộc lưu vực, tư vấn cho Hội đồng về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các tài nguyên nước, đất và bảo vệ môi trường trong phạm vi lưu vực Uỷ ban bao gồm một chủ tịch độc lập, mỗi bang có 2 đại diện làm uỷ viên; các uỷ viên thường là trưởng các cơ quan có chức năng quản lý về tài nguyên và môi trường Nằm trong Uỷ ban có các Ban (ban dự án, quản lý sông Muray, chính sách về nước, nhóm chương trình về bền vững lưu vực sông, tài chính ) và Văn phòng uỷ ban (các cán bộ kỹ thuật và cán bộ giúp việc cho Uỷ ban)

• Mô hình quản lý lưu vực sông Lerma-Chapala (Mexico)

Sông Lerma-Chapala có chiều dài 750km nằm ở miền Trung Mexico có tổng diện tích lưu vực 54.000km2, bao gồm 5 tiểu bang với tổng dân số 15 triệu người Để quản

lý các vấn đề về lưu vực sông, chính phủ Mexico đã thành lập Hội đồng lưu vực sông Lerma-Chapala Cơ cấu tổ chức của Hội đồng bao gồm Chủ tịch là một Bộ trưởng của

Bộ Nông nghiệp hoặc là Bộ Môi trường, các thành viên là Thống đốc các tiểu bang thuộc lưu vực, Bộ trưởng 5 bộ có lien quan và lãnh đạo một số Uỷ ban trực thuộc Chính phủ Cơ quan giúp việc cho Hội đồng lưu vực có Văn phòng Hội đồng và các

Uỷ ban tiểu lưu vực Hội đồng lưu vực sông là một diễn đàn mà tại đó Chính quyền liên bang, các tiểu bang và các đô thị cũng như đại diện các hộ sử dụng nước chia sẻ trách nhiệm, phân phối tài nguyên nước, thúc đẩy quản lý toàn diện tài nguyên nước tại cấp lưu vực Hội đồng hoạt động trên nguyên tắc phối hợp và đồng thuận Các nước đang phát triển đang phải đối mặt với những vấn đề kinh tế xã hội như: bùng nổ dân

số, phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trường, trình độ quản lý còn hạn chế , vì vậy vấn đề ô nhiễm tại các lưu vực sông là rất phổ biến Bên cạnh đó, không phải quốc gia nào cũng có đủ điều kiện kinh tế để quy hoạch, xử lý các nguồn thải một cách triệt để Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề ô nhiễm lưu vực sông, mỗi quốc gia

đã tìm cho mình một cách tiếp cận phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội

1.4.3 Một số kinh nghiệm của thế giới về quản lý lưu vực sông

Hiện nay việc đổi mới thể chế trong quản lý lưu vực sông ở các nước phát triển và đang phát triển thường tập trung vào hai việc là: Thành lập các tổ chức quản lý ở cấp lưu vực, và đổi mới các họat động liên quan đến quản lý nước ở lưu vực sông như là xây dựng cơ chế phối hợp, đổi mới pháp chế, thiết kế lại các công cụ kinh tế trong

Trang 16

chính sách nước (như giá nước, thuế, trợ cấp), thiết kế lại các tổ chức kinh tế (các tổ chức dịch vụ công, các tổ chức cung cấp dịch vụ, thị trường nước, chuyển giao quản lý tưới cho các tổ chức dùng nước)

Trên thế giới đã có hàng trăm các Tổ chức lưu vực sông được thành lập Các tổ chức này có cơ cấu tổ chức và chức năng không hoàn toàn giống nhau tuỳ thuộc vào mỗi nước và điều kiện các lưu vực sông Sự khác nhau thường tập trung vào các điểm chính: Hình thức tổ chức, chức năng, mức độ tham gia trong quản lý nước của Tổ chức lưu vực sông, phương thức hoạt động, cơ chế tài chính Tổng hợp các mô hình của tổ chức quản lý lưu vực sông của thế giới có thể rút ra một số ý kiến đánh giá như sau:

Về hình thức của Tổ chức lưu vực sông

Các hình thức của Tổ chức lưu vực sông trên thế giới có thể quy thành ba loại phổ biến như sau: Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông; ủy hội lưu vực sông, Hội đồng lưu vực sông Mỗi loại có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham gia vào quản lý nước khác nhau

Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông: Đây là hình thức Tổ chức lưu vực sông có đầy

đủ quyền hạn và phạm vi quản lý lớn nhất Thí dụ như là Cơ quan thuỷ vụ thung lũng Tennessce ở Mỹ và Cơ quan thuỷ vụ Núi tuyết ở Ustraylia, Đây là những tổ chức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết các chức năng của các cơ quan hiện hữu, trong đó bao gồm tất cả chức năng điều hành và quản lý nước Hình thức này có thể áp dụng đối với các lưu vực có nhiệm vụ phát triển lớn

Uỷ hội lưu vực sông: Là mô hình thấp hơn cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông về quyền hạn cũng như sức mạnh của tổ chức và ảnh hưởng của nó trong quản lý lưu vực sông Một Uỷ hội lưu vực sông thường bao gồm một “Hội đồng quản lý” đại diện cho tất cả các bên quan tâm và có một “Văn phòng kỹ thuật” chuyên sâu hỗ trợ Uỷ hội lưu vực sông liên quan chủ yếu đến xây dựng chính sách, lập quy hoạch phát triển lưu vực, xây dựng thủ tục và kiểm soát sử dụng nước Nó có thể điều chỉnh các vấn đề sử dụng nước liên quan đến nhiều tỉnh, thông qua các chính sách liên quan đến nước của lưu vực sông, xây dựng các cơ sở dữ liệu, thông tin và mô hình phù hợp về các vấn đề quản lý trên quy mô toàn lưu vưc Một số Uỷ hội lưu vực sông nắm cả chức năng vận hành (có thể cả đầu tư) đối với những công trình lớn, còn hầu hết việc vận hành và quản lý hàng ngày các công trình và hệ thống cung cấp dịch vụ nước là công việc của các tỉnh nằm trong lưu vực Một Uỷ hội như vậy có thể giám sát việc thực hiện các chiến lược, vận hành và quản lý các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện chủ chốt Tuy nhiên, trong thực tế Uỷ hội thường uỷ quyền làm việc cho các tổ chức khác thông qua các thoả thuận hay hợp đồng vận hành Thí dụ về loại tổ chức này như là Uỷ hội sông Maray- Darling của Ustraylia; Ủy hội sông Mê Kông,

Trang 17

Hội đồng lưu vực sông: Đây là mô hình yếu hoặc có ít quyền lực nhất hiện nay Hội đồng lưu vực sông hoạt động chỉ như là một diễn đàn mà tại đó chính quyền liên bang, các tiểu bang, cũng như đại diện các hộ dùng nước chia sẻ trách nhiệm phân phối nước, thúc đẩy toàn diện quản lý nước tại cấp lưu vực Các Hội đồng lưu vực sông thường hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận

Nói chung, hình thức này có vai trò giới hạn trong quy hoạch dài hạn, điều phối các vấn đề chính sách và chiến lược cấp cao, không có vai trò vận hành hoặc quản lý hàng ngày Thí dụ về hình thức này như Hội đồng lưu vực sông Lerma– Chapala được thành lập năm 1993 của Mexico,

Về chức năng và nhiệm vụ

Quản lý nước theo lưu vực sông có sự khác biệt so với quản lý nước theo địa giới hành chính của các tỉnh ở chỗ phạm vi xem xét và giải quyết của quản lý nước ở đây là trên toàn bộ lưu vực sông, trong đó chức năng của quản lý nước có thể bao gồm hai loại, đó là: Đề ra các tiêu chuẩn, kiểm tra, điều hành các tổ chức chịu trách nhiệm quản lý vận hành các công trình khai thác sử dụng nước, quản lý và điều hành về tài nguyên nước trên toàn bộ lưu vực sông

Việc xác định các chức năng và nhiệm vụ của Tổ chức lưu vực sông phải tương xứng với yêu cầu quản lý của lưu vực sông trong thực tế, trong đó chú trọng những yêu cầu cốt yếu Với một lưu vực sông cụ thể tuỳ theo tình hình thực tế và yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ mà có thể lựa chọn một số chức năng chính và tối cần thiết

để thực hiện trước Các chức năng khác có thể đưa vào trong tiến trình thực hiện các giai đoạn sau

Có thể thấy rằng gần như tất cả các Tổ chức lưu vực sông đều có chức năng lập quy hoạch quản lý lưu vực và bổ xung điều chỉnh quy hoạch này trong quá trình thực hiện Ngoài quy hoạch, Tổ chức lưu vực sông có thể tham gia vào quản lý nước cũng như vận hành hệ thống công trình khai thác sử dụng Tài nguyên nước nhưng với các mức độ khác nhau tuỳ theo hình thức của Tổ chức lưu vực sông

Trong thực tế, các Tổ chức lưu vực sông đều tập trung vào việc xây dựng và phát triển các chiến lược, chính sách, phân chia và điều phối sử dụng nước trong phạm

vi lưu vực, có ít các Tổ chức lưu vực sông tham gia trực tiếp vào quản lý vận hành các công trình cụ thể mà việc này thường dành cho hệ thống quản lý nước theo địa giới hành chính đảm nhiệm Từ chức năng có thể xác định cụ thể các nhiệm vụ của Tổ chức lưu vực sông trong quy hoạch và quản lý nguồn nước của lưu vực sông

Về quyền hạn của Tổ chức lưu vực sông

Quyền hạn của Tổ chức lưu vực sông phải được thể chế hoá trong các văn bản của nhà nước và phải tương xứng với nhiệm vụ trong quản lý nước của Tổ chức lưu

Trang 18

vực sông được nhà nước giao cho Trong thực tế có Tổ chức lưu vực sông tập trung rất nhiều quyền lực và đảm nhiệm phần lớn các nội dung của quản lý nước kể cả điều tra quan trắc các số liệu khí tượng thuỷ văn, số liệu chất lượng nước, đầu tư xây dựng và quản lý vận hành các công trình sử dụng nước vừa và lớn (như là các Tổ chức quản lý lưu vực các sông lớn của Trung quốc như sông Trường Giang, Hoàng Hà ) Ngược lại cũng có Tổ chức lưu vực sông có rất ít quyền hạn trong quản lý nước mà chỉ đóng vai trò như là một tổ chức tư vấn đóng góp các ý kiến về quản lý lưu vực sông cho các cấp chính quyền, không tham gia bất kỳ các hoạt động quản lý nước cụ thể nào

Cơ chế tài chính

Hoạt động của Tổ chức lưu vực sông cần có nguồn kinh phí ổn định lâu dài Nguồn tài chính này có thể dựa trên sự trợ giúp của nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc đóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vực sông Trong thực tế phần lớn các tổ chức lưu vực sông trên thế giới được trích một phần nguồn thu từ thuế tài nguyên nước và phí ô nhiễm nước cho các hoạt động quản lý của mình

Thành phần tham gia:

Tổ chức lưu vực sông còn là một diễn đàn để tất cả các bên liên quan trao đổi, thảo luận, giải quyết các tranh chấp và tìm tiếng nói chung trong quản lý sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước Vì thế, Tổ chức lưu vực sông cần có sự tham gia của tất cả các thành phần liên quan đến quản lý nước và phải có đầy đủ quy chế cho thực hiện sự tham gia này Các thành phần tham gia trong một Tổ chức lưu vực sông thường bao gồm cơ quan quản lý cấp Trung ương, đại diện của các tỉnh và địa phương, đại diện của các Bộ và ngành dùng nước, đại diện của cộng đồng các người dùng nước Tuỳ theo chức năng và nhiệm vụ của mỗi Tổ chức lưu vực sông mà mức độ tham gia của các thành phần này có thể khác nhau, tạo nên đặc điểm riêng về hoạt động của mỗi tổ chức lưu vực sông

1.5 Cơ sở pháp lý quản lý môi trường nước lưu vực sông ở Việt Nam

Quản lý lưu vực sông và vấn đề còn rất mới mẻ đối với Việt Nam, nên còn rất hạn chế về mặt nhận thức và tất yếu sẽ gặp không ít lúng túng trong triển khai Thuận lợi cơ bản của chúng ta hiện nay là Luật Tài nguyên nước, luật bảo vệ Môi trường

2005 và Nghị định Số:120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông đã được ban hành và

có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý và hướng dẫn cho việc triển khai các hoạt quản lý tài nguyên nước nói chung và lưu vực sông nói riêng

Nhìn chung Việt Nam đã có những quan tâm thỏa đáng bằng việc ban hành các văn bản pháp luật và cam kết với các quốc gia cùng tham gia bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ tài nguyên nước như một nhân tố của môi trường nói riêng

Trang 19

Trong phạm vi của một quốc gia, nhà nước đã ban hành các văn bản như:

• Hiến pháp 1992,

• Luật bảo vệ môi trường 2005

• Luật tài nguyên nước ngày 20-5-1998 (có hiệu lực ngày 01/01/1999) và Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của chính phủ quy đinh việc thi

hành luật tài nguyên nước 1998

Luật Tài nguyên nước đã được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 5 năm 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 Điều 64 của Luật Tài nguyên nước đã thể chế hoá về quản lý lưu vực sông bằng việc quy định nội dung quản lý quy hoạch lưu vực sông và việc thành lập cơ quan quản lý quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông lớn ở nước ta, trong hơn 10 năm thực hiện Luật Tài nguyên nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái Ngày 14 tháng 4 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg

về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 Chiến lược

đã đề cập toàn diện về quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp

về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra8

• Nghi định số 67/2003/NĐ-CP của chính phủ ngày 13/6/2003 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT của bộ tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi Trường về hướng dẫn thực hiện nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của chính phủ về phí bảo vệ

môi trường đối với nước thải

• Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/03/2005 của chính phủ quy định về xử

phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

• Ngày 01/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông, bao gồm: điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông; quy hoạh lưu vực sông; bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; điều hòa, phân bổ tài nguyên nước và chuyển nước đối với lưu vực sông; hợp tác quốc tế và thực hiện các Điều ước quốc

tế về lưu vực sông; tổ chức điều phối lưu vực sông; trách nhiệm quản

8 Theo đó: quyết định nêu rõ Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước phải được thực hiện đồng bộ, từng bước và

có trọng điểm Việc thực hiện Chiến lược vừa mang tính cấp bách vừa có tính lâu dài, góp phần quan trọng vào việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước từ nay đến năm 2020 và các năm tiếp theo Việc quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước phải bảo đảm tính hệ thống của lưu vực sông, không chia cắt theo địa giới hành chính, đồng thời bảo đảm diễn thế tự nhiên của các hệ sinh thuỷ, các thuỷ vực và hệ sinh thái,

Trang 20

lý lưu vực sông Với Nghị định này, tài nguyên nước trong lưu vực sông sẽ được quản lý theo nguyên tắc thống nhất, không chia cắt giữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn và hạ nguồn; đảm bảo sự công bằng, hợp lý và bình

đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân trong cùng lĩnh vực

• Nghị định số 117/2009/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01 tháng 03 năm 1010 về xử lý

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (thay thế Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ban hành ngày 09/8/2006.); theo đóvới mức phạt mới cao nhất lên tới 500 triệu đồng, gấp nhiều lần so với quy định hiện hành Như vậy, để nâng cao ý thức Bảo vệ môi trường của công dân, doanh nghiệp thì việc bổ

sung chế tài xử phạt mạnh, đủ sức răn đe là hết sức cần thiết

• Hiệp định 1995 về hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công 9

Ðối với Việt Nam, Hiệp định Mê Công 1995 là cơ sở pháp lý quan trọng (và cho tới nay là Hiệp định duy nhất về tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan trong lưu vực sông Mê Công) để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên

Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đủ mạnh trong công tác quản lý môi trường lưu vực sông là việc làm hết sức cần thiết nhằm đối phó với những thực trạng hiện tại và thách thức trong tương lai, bên cạnh đó xây dựng và vận hành đồng

bộ cơ chế quản lý lưu vực, hệ thống quan trắc, thông tin, dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước, giám sát, dự báo diễn biến nguồn nước phục vụ yêu cầu sử dụng của các lĩnh vực, các ngành kinh tế bảo đảm công bằng, hợp lý cho mọi đối tượng sử dụng nước, mọi vùng trong lưu vực, gắn quyền dùng nước với nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên nước, môi trường theo hướng phát triển bền vững

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC

SÔNG Ở VIỆT NAM

Trước tình trạng suy thoái nguồn tài nguyên nước trên các lưu vực sông, yêu cầu đặt ra là phải có một cơ sở pháp lý vững chắc, đủ mạnh để quản lý nguồn nước trên các lưu vực sông và tăng cường công tác quản lý môi trường lưu vực sông Ở chương 2 tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý môi trường lưu vực sông dựa trên cơ sở pháp lý là luật tài nguyên nước 1998, luật bảo

vệ môi trường 2005 và nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông Bao gồm những nội dung sau: điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông; quy hoạh lưu vực sông; bảo vệ môi trường nước lưu vực sông; điều hòa, phân bổ tài nguyên nước và chuyển nước đối với lưu vực sông; hợp tác quốc tế và thực hiện các Điều ước quốc tế về lưu vực sông; tổ chức điều phối lưu vực sông; trách nhiệm quản lý lưu vực sông

2.1 Nguyên tắc và nôi dung quản lý lưu vực sông

Nguyên tắc quản lý lưu vực sông được quy định tại điều 4 Nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ như sau:

Tài nguyên nước trong lưu vực sông phải được quản lý thống nhất, không chia cắt giữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn và hạ nguồn; bảo đảm sự công bằng, hợp lý và bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các tổ chức, cá nhân trong cùng lưu vực sông

Các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức, cá nhân phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông theo quy định của pháp luật; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài nguyên nước mang lại và bảo đảm lợi ích của cộng đồng dân cư trong lưu vực

Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải trên lưu vực sông phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật

Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước với việc bảo vệ môi trường, khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong lưu vực sông

Quản lý tổng hợp, thống nhất số lượng và chất lượng nước, nước mặt

và nước dưới đất, nước nội địa và nước vùng cửa sông ven biển, bảo đảm tài nguyên nước được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu

Bảo đảm chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, công bằng, hợp lý, các bên cùng

có lợi trong bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra đối với các nguồn nước quốc tế trong lưu vực sông

Trang 23

Phân công, phân cấp hợp lý công tác quản lý nhà nước về lưu vực sông; từng bước xã hội hóa công tác bảo vệ tài nguyên nước trong lưu vực sông, huy động sự đóng góp tài chính của mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư và tranh thủ sự tài trợ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong quản lý, bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông

• Nội dung quản lý lưu vực sông10

Xây dựng và chỉ đạo công tác điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông, lập danh mục lưu vực sông, xây dựng cơ sở dữ liệu và danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch lưu vực sông

Quyết định các biện pháp bảo vệ môi trường nước, ứng phó sự cố môi trường nước; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông Điều hoà, phân bổ tài nguyên nước, duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông; chuyển nước giữa các tiểu lưu vực trong lưu vực sông, từ lưu vực sông này sang lưu vực sông khác

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông và xử lý các vi phạm quy định về quản lý lưu vực sông; giải quyết tranh chấp giữa các địa phương, giữa các ngành, giữa các tổ chức và cá nhân trong khai thác, sử dụng, thụ hưởng các lợi ích liên quan đến môi trường, tài nguyên nước trên lưu vực sông

Hợp tác quốc tế về quản lý, khai thác và phát triển bền vững lưu vực sông; thực hiện các cam kết về nguồn nước quốc tế trong lưu vực sông mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập và Thành lập tổ chức điều phối lưu vực sông

2.2 Điều tra cơ bản môi trường – tài nguyên nước lưu vực sông

Điều tra cơ bản môi trường tài nguyên nước lưu vực sông là một nhiệm vụ quan trọng, qua công tác điều tra cơ bản sẽ giúp các nhà chuyên môn và cơ quan có thẩm quyền nắm bắt được mọi tình hình, diễn biến trên lưu vực sông qua đó có cái nhìn tổng quan về môi trường để có sách lược và chiến lược hợp lý Theo điều 8 nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ thì công tác điều tra môi trường; điều tra, kiểm

kê tài nguyên nước trên lưu vực sông, bao gồm:

• Lập bản đồ đặc trưng lưu vực sông, bản đồ đặc trưng sông, hồ, đầm phá

• Lập bản đồ địa chất thuỷ văn cho các tầng, các cấu trúc chứa nước, phức hệ chứa nước

• Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất

• Điều tra, đánh giá và lập bản đồ chuyên đề về tài nguyên nước

• Điều tra, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước

Trang 24

• Điều tra, đánh giá tình hình suy thoái, nhiễm mặn, ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước dưới đất; lập danh mục các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt

• Điều tra xác định khả năng tiếp nhận nước thải của các nguồn nước

• Điều tra, đánh giá, cảnh báo, dự báo các diễn biến bất thường về tài nguyên nước, các tác hại do nước gây ra

• Điều tra, xác định khả năng, thử nghiệm bổ sung nước dưới đất

• Điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

• Xây dựng và duy trì hệ thống giám sát tài nguyên nước, giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

• Xây dựng và duy trì hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường - tài nguyên nước

• Tổ chức công tác điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông Chính phủ thống nhất quản lý công tác điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông trong phạm vi cả nước và Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức thực hiện công tác điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông, hướng dẫn việc xây dựng và lập kế hoạch phát hành danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông

2.3 Quy hoạch lưu vực sông

“Quy hoạch lưu vực sông” được hiểu là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông.11

Quy hoạch lưu vực sông là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp vì các lưu vực sông

ở nước ta thường phân bố trên địa bàn hành chính khác nhau, hai lưu vực sông lớn là lưu vực sông Hồng và Lưu vực sông Cửu long chảy từ nước ngoài vào nước ta, các lưu vực sông liên tỉnh nhiều nên gây khó khăn cho công tác quy hoạch trong thời gian vừa qua, Nhà nước đã đầu tư nhiều kinh phí cho các Bộ, ngành làm quy hoạch Nhưng

do nội dung lập quy hoạch và sự phối hợp giữa các ngành trên Lưu vực sông chưa gắn

bó, nên quy hoạch của các ngành còn nặng về khai thác phục vụ riêng cho chuyên ngành của mình, do vậy cần thiết cần có quy hoạch tổng hợp Lưu vực sông trong đó có quy hoạch bảo vệ Tài nguyên nước, quy hoạch thoát và xử lý nước thải, các chất thải rắn cho các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề thủ công làm cơ sở cho việc quản lý và

Trang 25

đưa quy hoạch bảo vệ này vào kế hoạch thực hiện hàng năm như là thực hiện quy hoạch phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện, cấp nước đô thị, công nghiệp…

2.3.1 Quy hoạch lưu vực sông, kỳ hạn và thời gian lập quy hoạch lưu vực sông

Theo quy định tại điều 10 Nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ thì Quy hoạch lưu vực sông bao gồm các quy hoạch thành phần sau đây:

• Quy hoạch phân bổ tài nguyên nước

• Quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước

• Quy hoạch phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra

Phạm vi của quy hoạch thành phần có thể toàn lưu vực, một hay một số tiểu lưu vực Phạm vi của quy hoạch nên thống nhất theo hướng quy hoạch theo lưu vực sông không chia cắt theo ranh giới hành chính có như vậy mới có thể quy hoạch một cách tổng thể và dem lại hiệu quả thiết thực

Về kỳ hạn thì Quy hoạch lưu vực sông được lập theo kỳ hạn mười (10) năm một lần, khi cần thiết có thể kéo dài thêm kỳ hạn nhưng không quá năm (05) năm kể từ ngày kết thúc kỳ hạn đối với quy hoạch đang có hiệu lực

Thời gian lập đồ án quy hoạch lưu vực sông không quá hai mươi bốn (24) tháng kể

từ ngày nhiệm vụ quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt

2.3.2 Nhiệm vụ và căn cứ lập quy hoạch lưu vực sông

• Nội dung nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông bao gồm các nội dung sau 12

Đánh giá tổng quát về môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội, hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông, tình hình bảo vệ môi trường nước, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra;

Xác định mục tiêu, nhu cầu sử dụng nước, tiêu nước, các vấn đề cần giải quyết trong bảo vệ môi trường nước, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống, giảm thiểu tác hại, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;

Xác định quy hoạch thành phần cần phải xây dựng, thứ tự ưu tiên và phạm vi lập quy hoạch của các quy hoạch thành phần nhằm đạt được các mục tiêu, giải quyết các vấn đề nêu trên;

Đề ra giải pháp và tiến độ lập quy hoạch lưu vực sông, Thời gian lập nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông không quá sáu tháng kể từ ngày chính thức được giao nhiệm vụ

• Lập quy hoạch lưu vực sông dựa trên các căn cứ như sau13

Lập quy hoạch lưu vực sông dựa trên Danh mục lưu vực sông được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

12 Được quy định tai điều 12 nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông

Trang 26

Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của địa phương và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

Các chương trình mục tiêu, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chuyên ngành liên quan đến bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống, giảm thiểu tác hại do nước gây ra

Đặc điểm môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội của lưu vực sông và tiềm năng thực

tế của tài nguyên nước

Các quyền và nghĩa vụ trong Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trong các lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường

Các định mức, tiêu chuẩn về tài nguyên nước và môi trường có liên quan đến tài nguyên nước

Nhiệm vụ quy hoạch lưu vực sông được cấp có thẩm quyền phê duyệt

2.3.3 Nội dung quy hoạch phân bổ và quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước trong lưu vực sông

• Nội dung quy hoạch phân bổ 14

Đánh giá số lượng, chất lượng, dự báo xu thế biến động tài nguyên nước, hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với từng nguồn nước

Xác định nhu cầu nước, các vấn đề tồn tại trong việc khai thác sử dụng tổng hợp tài nguyên nước và lập thứ tự ưu tiên giải quyết, khả năng đáp ứng các nhu cầu nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, thủy điện, thuỷ sản, công nghiệp, giao thông, du lịch, các hoạt động kinh tế - xã hội khác và bảo vệ môi trường đối với từng nguồn nước

Xác định thứ tự ưu tiên và tỷ lệ phân bổ tài nguyên nước trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho cấp nước sinh hoạt, cho các mục đích sử dụng nước khác bao gồm cả nhu cầu cho bảo vệ môi trường trong trường hợp hạn hán, thiếu nước

Xác định mục đích sử dụng nước, dòng chảy tối thiểu cần duy trì trên các đoạn sông trong lưu vực

Kiến nghị mạng giám sát tài nguyên nước, giám sát sử dụng nước, việc điều chỉnh các thông số hoặc điều chỉnh quy trình vận hành hiện tại của các công trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Xác định nhu cầu chuyển nước giữa các tiểu lưu vực trong lưu vực; nhu cầu chuyển nước với lưu vực sông khác

Trang 27

Đề xuất biện pháp công trình phát triển tài nguyên nước nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước để phát triển kinh tế - xã hội trong lưu vực và các giải pháp và tiến độ thực hiện Quy hoạch

• Nội dung quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông 15

Xác định vị trí, phạm vi và mức độ gây ô nhiễm của các nguồn gây ô nhiễm trong lưu vực sông; những khu vực bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước

Đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng nước đối với từng nguồn nước, phân vùng chất lượng nước

Xác định và đánh giá tầm quan trọng của các hệ sinh thái dưới nước

Xác định mục tiêu chất lượng nước trên cơ sở mục đích sử dụng nước đối với từng nguồn nước

Xác định các giải pháp bảo vệ môi trường nước, phục hồi các nguồn nước bị ô nhiễm hoặc suy thoái, cạn kiệt

Kiến nghị mạng giám sát chất lượng nước trên lưu vực, giám sát xả nước thải vào nguồn nước, việc điều chỉnh các thông số hoặc điều chỉnh quy trình vận hành hiện tại của các công trình bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực sông

Đề xuất biện pháp phi công trình, công trình để đáp ứng mục tiêu chất lượng nước trong lưu vực sông và các giải pháp và tiến độ thực hiện Quy hoạch

2.3.4 Nội dung quy hoạch phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông

Đánh giá tình hình, diễn biến, xác định nguyên nhân và phân vùng tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông Và các biện pháp công trình, phi công trình đã được xây dựng, thực hiện trên lưu vực để phòng, chống, giảm thiểu tác hại và khắc phục hậu quả do nước gây ra và ảnh hưởng của các biện pháp này đối với các vùng ngập lụt,

vùng đất ngập nước, các vấn đề về bồi, xói lòng, bờ sông, vùng cửa sông, ven biển

Xác định tiêu chuẩn phòng, chống lũ, lụt, hạn hán đối với toàn bộ lưu vực sông, từng vùng, từng tiểu lưu vực.Kiến nghị việc điều chỉnh các thông số hoặc điều chỉnh quy trình vận hành hiện tại của các công trình phòng, chống, giảm thiểu tác hại và khắc phục hậu quả do nước gây ra

Xác định các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động phòng, chống, giảm thiểu tác hại và khắc phục hậu quả do nước gây ra, hệ thống cảnh báo, dự báo lũ, lụt, hạn hán và các thiên tai khác

Đề xuất biện pháp công trình, phi công trình để giảm thiểu tác hại, khắc phục hậu quả do nước gây ra, bảo vệ các khu vực có nguy cơ bị lũ, lụt, hạn hán; bảo tồn

Trang 28

các vùng đất ngập nước, bảo đảm các tiêu chuẩn phòng, chống lũ, lụt, hạn hán đối với toàn bộ lưu vực sông, từng vùng, từng tiểu lưu vực, các giải pháp và tiến độ thực hiện Quy hoạch

2.3.5 Lập quy hoạch lưu vực sông và điều chỉnh quy hoạch lưu vực sông

• Lập quy hoạch lưu vực sông

Trách nhiệm lập quy hoạch lưu vực sông:

Bộ Tài nguyên và Môi trường lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông lớn, Danh mục lưu vực sông liên tỉnh

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông nằm trong phạm vi địa phương thuộc Danh mục lưu vực sông nội tỉnh Các cơ quan qui định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều này có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan trong quá trình lập đồ án quy hoạch lưu vực sông

Đồ án quy hoạch lưu vực sông phải được lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, các

tổ chức kinh tế liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và đại diện cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn lưu vực sông, trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết về định mức, quy chuẩn, tiêu chuẩn, nội dung, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch lưu vực sông

• Điều chỉnh quy hoạch lưu vực sông16

Quy hoạch lưu vực sông được xem xét điều chỉnh khi có một trong các trường hợp sau:

Có sự thay đổi lớn về các điều kiện tự nhiên trên lưu vực sông

Có sự điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội làm thay đổi mục tiêu của quy hoạch lưu vực sông

Có sự kiến nghị điều chỉnh của các Bộ, ngành hoặc Uỷ ban Lưu vực sông hoặc

Uỷ ban nhân dân địa phương liên quan trong việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông Thời hạn điều chỉnh quy hoạch lưu vực sông do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch lưu vực sông quyết định

Nội dung điều chỉnh quy hoạch lưu vực sông phải dựa trên kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch lưu vực sông đã được phê duyệt, xác định

16 Điều 18 nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông

Trang 29

những yếu tố ảnh hưởng đến việc điều chỉnh quy hoạch; phải bảo đảm tính kế thừa

và chỉ điều chỉnh những nội dung thay đổi

Việc lập, thẩm định và phê duyệt nội dung điều chỉnh thực hiện theo quy định tại Nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông

2.3.6 Tổ chức thực hiện quy hoạch lưu vực sông và kinh phí lập - thực hiện, lưu trữ hồ sơ đồ án quy hoạch lưu vực sông

• Tổ chức thực hiện quy hoạch lưu vực sông17

Công bố quy hoạch lưu vực sông:

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông lớn, Danh mục lưu vực sông liên tỉnh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông nằm trong phạm vi địa phương thuộc Danh mục lưu vực sông nội tỉnh

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cụ thể về nội dung và hình thức công bố quy hoạch lưu vực sông

Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy hoạch lưu vực sông đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, lập quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước của mình và phê duyệt sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong lưu vực sông chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch lưu vực sông đối với phần nội dung công việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình; điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thuộc phạm

vi trách nhiệm quản lý nhà nước trong trường hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đó không phù hợp với quy hoạch lưu vực sông đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Ủy ban lưu vực sông thảo luận, kiến nghị các biện pháp bảo đảm thực hiện hoặc điều chỉnh quy hoạch lưu vực sông; đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch lưu vực sông; định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình thực hiện

Các hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế và tập thể, cộng đồng dân cư có trách nhiệm và được tạo điều kiện để thực hiện quyền giám sát, đề xuất các biện pháp cụ thể thực hiện quy hoạch lưu vực sông

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra thực hiện quy hoạch lưu vực sông; định kỳ hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện các quy hoạch lưu vực sông trong cả nước

• Kinh phí lập và thực hiện quy hoạch lưu vực sông18

17 Điều 19 nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông

Trang 30

Kinh phí lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông lớn, Danh mục lưu vực sông liên tỉnh do ngân sách nhà nước cấp và được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Kinh phí lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch lưu vực sông đối với các lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông nội tỉnh do ngân sách nhà nước cấp và được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của tỉnh

Kinh phí thực hiện quy hoạch lưu vực sông của các Bộ, ngành, địa phương được bố trí trong dự toán ngân sách hằng năm của các Bộ, ngành, địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước

Các khoản tài trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật được sử dụng để lập và thực hiện quy hoạch lưu vực sông

• Lưu trữ hồ sơ đồ án quy hoạch lưu vực sông19

Chủ đầu tư phải nộp hồ sơ lưu trữ sau khi hồ sơ đồ án quy hoạch lưu vực sông được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về lưu trữ

Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước các cấp có trách nhiệm lưu trữ

hồ sơ về quy hoạch lưu vực sông theo quy định của pháp luật về lưu trữ

Cơ quan lưu trữ hồ sơ đồ án quy hoạch lưu vực sông có trách nhiệm cung cấp tài liệu lưu trữ cho cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

2.4 Điều hòa, phân bổ tài nguyên nước và chuyển nước đối với các lưu vực sông

2.4.1 Duy trì dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông và điều hòa, phân bổ tài nguyên nước trên lưu vực sông

"Dòng chảy tối thiểu" là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng sông hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các đối tượng

sử dụng nước theo thứ tự ưu tiên đã được xác định trong quy hoạch lưu vực sông"20 Nhìn chung công tác quản lý trong việc duy trì dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông là hết sức cần thiết đối với nước ta vì do sự phân bổ không đồng đều về tài nguyên nước và nước tập trung chủ yếu trong mùa mưa trong khi mùa khô thường kéo

Trang 31

dài gây ra tình trạng thiếu nước về cục bộ trên khắp các lưu vực sông, mặt khác thì việc xây dựng các đập thủy điện gây ảnh hưởng không nhỏ cho việc duy trì dòng chảy lưu vực sông

 Duy trì dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông được quy định tại điều 25 nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông như sau:

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định việc xác định dòng chảy tối thiểu cần duy trì trên lưu vực sông

• Xác định dòng chảy tối thiểu trong sông:

Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức điều tra, khảo sát và xác định dòng chảy tối thiểu trong sông hoặc đoạn sông đối với từng nguồn nước trong lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông lớn, Danh mục lưu vực sông liên tỉnh;

Đối với các lưu vực sông quốc tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường thay mặt Chính phủ đàm phán, thống nhất với các nước có chung nguồn nước quốc tế về duy trì dòng chảy tối thiểu trên dòng chính của lưu vực sông;

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức điều tra, khảo sát và xác định dòng chảy tối thiểu trong sông hoặc đoạn sông đối với từng nguồn nước trong lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông nội tỉnh

Dòng chảy tối thiểu trong sông hoặc đoạn sông phải được công bố công khai, lấy ý kiến các tổ chức kinh tế liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước và đại diện cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn lưu vực sông

• Thẩm quyền công bố dòng chảy tối thiểu duy trì trong sông:

Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố dòng chảy tối thiểu trong sông hoặc đoạn sông đối với các lưu vực sông thuộc Danh mục lưu vực sông lớn, Danh mục lưu vực sông liên tỉnh;

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố dòng chảy tối thiểu trong sông hoặc đoạn sông đối với các lưu vực sông nằm trong phạm vi địa phương thuộc Danh mục lưu vực sông nội tỉnh

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế nhà nước có liên quan chịu trách nhiệm chỉ đạo điều chỉnh chương trình, kế hoạch, dự

án, chế độ khai thác, sử dụng tài nguyên nước của mình bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trong sông hoặc đoạn sông đã được công bố

 Điều hòa, phân bổ tài nguyên nước trên lưu vực sông21

Việc điều hòa phân bổ tài nguyên nước trên các lưu vực sông cần được các Bộ ngành quan tâm thỏa đáng nhằm đem lại lợi ích hài hòa giữa các ngành, địa phương

21 Điều 26 nghị định 120/2008/NĐ-CP của chính phủ về quản lý lưu vực sông

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w