1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP PHONG tục, tập QUÁN của ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số về vấn đề kết hôn

88 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Phong tục, tập quán chi phối nhiều vấn đề trong cộng đồng dân tộc thiểu số, từ quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa thủ lĩnh với buôn làng, từ việc kết hôn,

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN THỊ MỸ LINH LÊ THỊ NHI

MSSV: 5085982

Lớp: Luật Tư pháp 2 - K34

Cần Thơ, tháng 05/2012

Trang 2



Trang 3



Trang 4

Lời nói đầu Trang

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG TỤC, TẬP QUÁN 1.1 Khái niệm và vấn đề áp dụng phong tục, tập quán trong hôn nhân và gia đình 4

1.1.1 Khái niệm phong tục, tập quán nói chung 4

1.1.2 Khái niệm kết hôn trong phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số .7

1.1.3 Áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình 8

1.2 Lịch sử hình thành của phong tục, tập quán 9

1.3 Đặc điểm của phong tục, tập quán 10

1.3.1 Có hình thức thể hiện bằng truyền miệng và hình thức bất thành văn 10

1.3.2 Có mối quan hệ qua lại mật thiết với pháp luật 13

1.4 Một số nguyên tắc, điều kiện trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình .14

1.5 Giống và khác nhau giữa pháp luật và phong tục, tập quán .18

1.6 Các phong tục, tập quán tiến bộ và các phong tục tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình 19

1.6.1 Phong tục, tập quán tiến bộ cần phát huy 19

1.6.2 Phong tục, tập quán lạc hậu bị nghiêm cấm 21

1.6.3 Phong tục, tập quán lạc hậu cần vận động xóa bỏ 21

1.7 Ý nghĩa của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình 23

Trang 5

KẾT HÔN Ở ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1 Điều kiện về nội dung 26

2.1.1 Điều kiện về độ tuổi 26

2.1.2 Điều kiện về sự tự nguyện giữa nam và nữ 30

2.1.3 Không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn 36

2.2 Điều kiện về hình thức 42

2.2.1 Thẩm quyền đăng ký kết hôn của đồng bào các dân tộc thiểu số 42

2.2.2 Nghi thức kết hôn của một số đồng bào dân tộc thiểu số 43

2.3 Các chế tài đối với các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn 46

2.3.1 Vi phạm điều kiện đăng ký kết hôn 46

2.3.2 Vi phạm điều kiện hôn nhân một vợ, một chồng 47

2.3.3 Vi phạm trường hợp cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời .49

2.4 Hệ quả sau kết hôn 50

2.4.1 Mối quan hệ giữa vợ và chồng 50

2.4.1.1 Bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng 50

2.4.1.2 Tình nghĩa vợ chồng 53

2.4.2 Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái 55

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHONG TỤC, TẬP QUÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG VIỆC KẾT HÔN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 3.1 Những tồn tại của phong tục, tập quán kết hôn của dân tộc thiểu số 59

3.1.1 Những mặt tích cực của phong tục, tập quán kết hôn 59

3.1.2 Những mặt tiêu cực của phong tục, tập quán kết hôn 60

3.2 Nguyên nhân tồn tại các phong tục, tập quán lạc hậu 65

3.3 Giải pháp hoàn thiện phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số 69

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận hết sức quan trọng trong kết cấu dân

cư của nước ta Hiện nay, đại đa số đồng bào thuộc các dân tộc thiểu số đều cư trú chủ yếu tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, vốn là khu vực điều kiện kinh tế, xã hội còn rất lạc hậu, khó khăn Trong đời sống sinh hoạt của hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số, các phong tục, tập quán truyền thống chi phối mạnh mẽ, đặc biệt là các phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình vốn có tính bền vững và đã ăn sâu, bám rễ trong nhận thức người dân từ nhiều đời nay Có những phong tục, tập quán tốt đẹp, thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc và làm nên tính đa dạng, giàu có của nền văn hóa truyền thống Việt Nam nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại không ít những hủ tục lạc hậu, cản trở tiến bộ xã hội.

Thực tiễn thi hành Luật hôn nhân và gia đình những năm qua cho thấy thói quen hành xử theo những hủ tục lạc hậu là lực cản lớn nhất đối với việc xây dựng nếp sống hôn nhân và gia đình văn minh, tiến bộ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Đó

là những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc, đồng thời thực hiện chính sách đưa pháp luật vào đời sống người dân, pháp luật được phổ biến rộng rãi nhằm nâng cao ý thức sống và làm việc theo pháp luật Trên nền tảng áp dụng pháp luật, đồng bào dân tộc thiểu số bị chi phối mạnh mẽ bởi phong tục, tập quán của địa phương Sự trầm trọng và phổ biến của tình trạng tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, chung sống không đăng ký kết hôn, vi phạm chế độ một vợ, một chồng trong đối tượng dân

cư này cho thấy việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình đạt hiệu quả rất thấp

Trong thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình của nhiều dân tộc thiểu số, việc bảo đảm các điều kiện kết hôn ít được nhân dân quan tâm khi tiến hành hôn nhân Nguyên nhân của tình trạng này một mặt do công tác phổ biến các quy định của Luật hôn nhân và gia đình chưa thực sự thấm sâu vào nhận thức của người dân, mặt khác, nhiều dân tộc còn duy trì các phong tục, tập quán trái với quy định của Luật Sự tồn tại của các hủ tục và đang gây ra tác hại nghiêm trọng đối với mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ ở nước ta, ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng và thi hành Luật hôn nhân và gia đình

Thiết nghĩ, những điều trình bày trên đây cho thấy việc tìm hiểu những giá trị tích cực của phong tục, tập quán, cũng như cần xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, nhằm tạo

ra sự kết hợp hài hòa giữa phong tục, tập quán với pháp luật hiện hành Đó cũng chính

Trang 7

là những lý do cơ bản khiến người viết chọn đề tài “PHONG TỤC, TẬP QUÁN

CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN”

2 Phạm vi nghiên cứu

Phong tục, tập quán chi phối nhiều vấn đề trong cộng đồng dân tộc thiểu số, từ quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa thủ lĩnh với buôn làng, từ việc kết hôn, mối quan hệ giữa vợ chồng sau khi kết hôn, mối quan hệ giữa cha, mẹ và con cái… Nhưng trong phạm vi đề tài, người viết chủ yếu đi sâu vào phân tích những quy định trong các phong tục, tập quán kết hôn của các dân tộc thiểu số, đồng thời so sánh, đối chiếu với những quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Nhằm làm rõ những quy định tích cực và tiêu cực còn tồn tại, để có hướng hoàn thiện tốt các phong tục, tập quán cúng như pháp luật Việt Nam, nhằm điều chỉnh hài hòa các lợi ích trong cộng đồng

3 Mục tiêu nghiên cứu

Việc đi sâu vào nghiên cứu và làm sáng tỏ các phong tục, tập quán kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh cũng như tìm hiểu những giá trị tích cực của các phong tục, tập quán tốt đẹp và đưa pháp luật vào đời sống người dân Tuy là một công trình nghiên cứu khoa học với quy mô và mức độ nhỏ nhưng đây là điều kiện để người viết nêu lên được chính kiến, quan điểm của mình trên cơ sở những đề xuất có tính khoa học

Trong luận văn, người viết tập trung phân tích các phong tục, tập quán kết hôn lạc hậu và bên cạnh đó nêu lên những phong tục, tập quán kết hôn tốt đẹp cần phát huy trong cộng đồng người dân tộc thiểu số, tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của các hủ tục cũng như việc khó khăn trong việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình vào đời sống các dân tộc, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của Luật hôn nhân và gia đình mà vẫn đảm bảo giữ gìn được các giá trị văn hóa truyền thống của các phong tục, tập quán

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, người viết đã sử dụng nhiều phương pháp Phương pháp nghiên cứu lý luận trên các tài liệu, sách vở, tạp chí mà người viết đã sưu tầm, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu những quy định của pháp luật với những quy định của các phong tục, tập quán nhằm tìm ra những mặt đã đạt được cũng như những mặt còn hạn chế trong quá trình vận dụng phong tục, tập quán vào đời sống hôn nhân gia đình,

để có thể đưa ra những giải pháp cần thiết

Trang 8

5 Bố cục đề tài

Để người đọc dễ tìm hiểu, nghiên cứu đề tài người viết chia nội dung thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về phong tục, tập quán

Chương 2: Các phong tục, tập quán liên quan đến vấn đề kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số

Chương 3: Thực trạng và giải pháp đối với vấn đề phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình trong việc kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số

Do thời gian nghiên cứu và việc sưu tầm tài liệu tham khảo có hạn, người viết

cố gắng truyền tải những quy định cơ bản của phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số

để người đọc tìm hiểu và tham khảo Mong được sự đóng góp của quý thầy, cô, bạn đọc để đề tài được hoàn chỉnh hơn

Chân thành cảm ơn!

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG TỤC, TẬP QUÁN

Trong chương này người viết sẽ giới thiệu một cách tổng quát về phong tục, tập quán nói chung và phong tục, tập quán trong hôn nhân và gia đình nói riêng cũng như nêu ra một số vấn đề lý luận chung về phong tục, tập quán như: khái niệm phong tục, tập quán nói chung; khái niệm kết hôn trong phong tục, tập quán; áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình; lịch sử hình thành của phong tục, tập quán; đặc điểm của phong tục, tập quán; một số nguyên tắc, điều kiện trong việc áp dụng phong tục, tập quán; giống và khác nhau giữa pháp luật và phong tục, tập quán; các phong tục, tập quán tiến bộ và lạc hậu và sau đó là ý nghĩa của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình

1.1 Khái niệm và vấn đề áp dụng phong tục, tập quán trong hôn nhân và gia

đình

1.1.1 Khái niệm phong tục, tập quán nói chung

 Khái niệm phong tục

Ngày nay, có rất nhiều kiến thức về kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật, được truyền dạy trực tiếp hoặc qua các ấn phẩm mà mọi người dễ có được, còn về phong tục, tập quán lại ít có tư liệu thành văn mà chỉ được truyền lại một cách chắp vá

và mỗi vùng mỗi địa phương lại khác nhau Do vậy nếu trong gia đình có việc ngộ sự thì sẽ rất lúng túng không biết làm như thế nào cho phải Ông bà, cha mẹ có hướng dẫn trực tiếp cho con cháu làm theo phong tục, tập quán nhưng không phải ai cũng hiểu biết một cách đầy đủ, nên gây ra lúng túng trong khi thực hiện

Trước hết, chúng ta nên hiểu thế nào là “Phong tục” ?

“Phong” là nền nếp đã lan truyền rộng rãi “Tục” là thói quen lâu đời Phong tục được hiểu là “cách sống quen của một dân tộc”1, là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng Phong tục không mang tính

cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó cũng không tùy tiện, nhất thời như hoạt động sống hằng ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững,

1 Phương Ngọc – Quang Khánh – Quang Hùng, Từ điển tiếng việt, NXb Từ điển bách khoa, năm 2007, tr.705

Trang 10

có phong tục trở thành “luật tục”2 ăn sâu, bén rễ trong nhân dân, rất bền chặt và đôi khi

có sức mạnh hơn cả luật

Phong tục của một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí của một dòng họ và gia tộc thể hiện qua nhiều chu kỳ khác nhau của đời sống con người

Hệ thống các phong tục liên quan đến vòng đời của con người như phong tục về sinh

đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão; phong tục tang ma, cúng giỗ…Phong tục là một bộ phận của văn hoá, có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương, nó ảnh hưởng thậm chí chế định nhiều ứng xử của

cá nhân trong cộng đồng Phong tục được tuân thủ theo quy định của luật tục hay hương ước Người vi phạm có thể bị phạt vạ Cùng với sự phát triển của xã hội, một số phong tục không còn phù hợp với thời đại mới, bị đào thải trong khi một số phong tục mới được hình thành

Như vậy, nói đến phong tục là bao hàm mọi mặt của xã hội Trong truyền thống văn hoá của dân tộc ta có nhiều thuần phong mỹ tục rất cần thiết cho đạo lý làm người,

kỷ cương xã hội Xây dựng nếp sống mới không chỉ đơn thuần bằng ý muốn chủ quan

mà phải biết dựa vào thuần phong mỹ tục, vào nếp sống mới Tuy nhiên có những phong tục cổ xuất xứ từ thực tiễn trong cuộc sống thời xưa, đến nay không hợp thời nữa nên ta cần nghiên cứu để biết nguyên do, từ đó vận dụng cho thích hợp với hiện tại hoặc loại bỏ nó đi

 Khái niệm tập quán

Tập quán là “phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hoá Tập quán hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và

là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt”3 Những hành vi “vi phạm tập quán sẽ bị áp dụng những chế tài nhất định - đó là dư luận xã hội Tính chất của chế tài này không nặng nề lắm, bởi lẽ, ở tập quán luôn có sự dao động giữa tình trạng bắt buộc với cái rất đáng làm theo”4

Trang 11

Tập quán còn được xem là “thói quen”, hay nói cụ thể hơn là “thói quen hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo” Vậy có thể nói tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động của một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi với thói quen

ở chổ nó mang tính tĩnh lại, bền lâu, khó thay đổi

Ở nước ta tồn tại khá nhiều tập quán, nó gắn liền với hoạt động của con người trong nhiều mặt của đời sống xã hội bao gồm các tập quán trong sinh hoạt hằng ngày, tập quán sản xuất, những tập quán trong ngày tết, tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình…

Với tư cách là một loại quy phạm xã hội, tập quán có vai trò rất lớn tới việc điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người trong quan hệ giao tiếp hàng ngày và trong lao động sản xuất, đặc biệt là trong các giai đoạn phát triển trước đây của xã hội

 Khái niệm phong tục, tập quán

Giữa phong tục và tập quán có nhiều điểm tương đồng đến mức nhiều khi không phân biệt được một cách rõ ràng đâu là phong tục và đâu là tập quán Vì lẽ đó, thuật ngữ phong tục và tập quán thường được sử dụng song hành cùng nhau, tạo thành thuật ngữ “phong tục tập quán”

Tuy nhiên, khác với phong tục, tập quán chỉ là những thói quen cư xử mà không bắt buộc phải tuân theo, nếu có vi phạm thì chủ yếu là bị dư luận lên án, dị nghị Trong chừng mực nào đó tập quán chỉ là những thói quen sơ khai Khi tập quán được áp dụng lâu dài và được nhiều người công nhận thì trở thành phong tục Vậy, phong tục bắt nguồn từ tập quán nhưng được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp trừng phạt có tính nghiêm khác hơn so với tập quán

Phong tục, tập quán cũng có nhiều khái niệm khác nhau Phong tục, tập quán là những nếp sống, phong tục do những người sống trong xã hội tự đặt ra, nó được áp dụng vào đời sống và phục vụ cho mọi người nhưng không mang tính chất vi phạm pháp luật Phong tục cũng dần được thay đổi khác đi để phù hợp với đời sống hiện tại của từng thời kỳ

Phong tục, tập quán là những thói quen được đưa vào nếp sống hằng ngày Mỗi dân tộc đều có những thói quen cá biệt lúc ban đầu; về sau, do sự tiếp xúc với nhau nên có những sự ảnh hưởng, bắt chước và có những cái giống nhau

Trang 12

Phong tục, tập quán là những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sống sinh hoạt tương đối ổn định của các thành viên trong nhóm xã hội được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Ví dụ: phong tục lễ hội, văn hoá, sinh hoạt, ma chay…

Có thể nói, phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, tuy nhiên có thể được hiểu là: “những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại một địa phương trong

một hoàn cảnh bắt buộc phải chấp nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương” 5 Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những quy tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực) Các quy tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực

1.1.2 Khái niệm kết hôn trong phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số

Kết hôn được xem là một trong những quyền cơ bản của con người, là quyền nhân thân của công dân Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay việc kết hôn đòi hỏi phải tuân theo những quy định mà pháp luật hôn nhân và gia đình đã đề ra thì việc kết hôn

đó mới được công nhận là hợp pháp và giữa các bên nam nữ mới phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật, nếu vi phạm thì có thể sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình thậm chí có thể gây xáo trộn trật tự xã hội Mặc dù vậy,

ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vẫn tồn tại hiện tượng kết hôn không đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình đề ra mà họ chỉ kết hôn theo những phong tục, tập quán theo làng bản của họ

Mỗi phong tục, tập quán quy định việc kết hôn khác nhau nhưng ta có thể khái niệm kết hôn một cách chung nhất: Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng bằng quyết định, quán quyết của Già làng, Trưởng bản

Người dân tộc thiểu số thường không tiến hành đăng ký kết hôn theo luật thực định, mà chỉ làm theo phong tục, tập quán của làng mình, chỉ trình với già làng và mọi người trong làng biết

Theo thống kê của các tỉnh có nhiều đồng bào ít người sinh sống, hầu hết phụ

nữ lập gia đình ở tuổi 15-16 Thủ tục kết hôn hoàn toàn theo phong tục, thói quen mà không đăng ký với ủy ban Điều này đang gây khó khăn cho việc thực hiện Luật Hôn nhân gia đình

Trang 13

Việc kết hôn của dân tộc thiểu số còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan

từ bên ngoài chứ chưa mang yếu tố chủ quan từ phía vợ chồng So với Luật hôn nhân gia đình 2000 có nhiều quy định khác so với phong tục, tập quán kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số

Kết hôn, theo định nghĩa chính thức của Luật Việt Nam hiện hành: “là việc nam

nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng

kí kết hôn”6 Kết hôn là một giao dịch có tính pháp lý chứ không phải là một giao dịch

có ý nghĩa vật chất hoặc tôn giáo; đó là một giao dịch xác lập trong đời sống thế tục chứ không phải trong đời sống tâm linh và là một giao dịch được xác lập với sự tham gia bắt buộc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Các điều kiện về nội dung của việc kết hôn phải được cơ quan Nhà nước kiểm tra một cách chặt chẽ thông qua các thủ tục kết hôn Khác với phong tục, tập quán kết hôn của đồng bào dân tộc thiểu số, quyền kết hôn trước hết là quyền của một người được tự do đi tìm một người khác để yêu thương và xây dựng cuộc sống chung Đối tác trong tình yêu và hôn nhân là bất kỳ người nào ở trong tình trạng được tự do kết hôn: Việc kết hôn không thể bị cản trở bởi

sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, sự chênh lệch về trình độ văn hóa, về địa vị xã hội, về mức độ giàu nghèo

1.1.3 Áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định của Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 thì được tôn trọng và phát huy

Dưới thời phong kiến, dân làng thường có câu “phép vua thua lệ làng” với hàm

ý những quy định của triều đình nếu không phù hợp với cuộc sống sẽ không thể phát huy tác dụng Có những phong tục ăn sâu vào tiềm thức của cộng đồng dân cư từ đời này qua đời khác, chi phối cách sống, cách ứng xử của con người và khó có thể thay đổi được Vấn đề đặt ra là Nhà nước cần có thái độ và định hướng như thế nào để một mặt vừa có thể duy trì, phát huy được những phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân

và gia đình – coi đó là công cụ đắc lực để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, mặt khác, vừa có định hướng xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, nhằm từng bước xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ trong đời sống của đồng bào các dân tộc Quy định tại Điều 6 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là quy định có tính nguyên tắc, thể hiện thái độ tôn trọng và chính sách của Nhà nước trong việc thừa nhận các phong tục, tập quán tốt đẹp để duy trì bản sắc văn hoá dân tộc, đối với phong

6 Khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Trang 14

tục, tập quán lạc hậu và có ảnh hưởng không tốt đến tiến bộ xã hội trái với nguyên tắc Luật hôn nhân và gia đình sẽ bị vận động xoá bỏ hoặc cấm áp dụng

Để thực sự đưa các quy định của Luật hôn nhân và gia đình đi vào đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, trên cơ sở quy định có tính nguyên tắc được khẳng định tại Điều 6 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, ngày 27/03/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2002/NĐ-CP quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số Nghị định này quy định việc áp dụng các phong tục, tập quán của các dân tộc về hôn nhân và gia đình

Nghị định số 32/2002/NĐ-CP có một số quy định đặc thù so với quy định chung của Luật để phù hợp phát triển và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số,

đó là các qui định liên quan đến thủ tục đăng ký kết hôn, việc áp dụng các phong tục, tập quán về nghi thức cưới hỏi, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi, việc thừa nhận quan hệ nuôi con nuôi trên thực tế của đồng bào các dân tộc thiểu số Đây là những quy định quan trọng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đồng bào các dân tộc thiểu số khi thực hiện các quy định của Luật về đăng ký kết hôn, đăng ký nuôi con nuôi

1.2 Lịch sử hình thành của phong tục, tập quán

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, mỗi chế độ xã hội đều cần có những công cụ để quản lý xã hội mình Trong xã hội chưa có sự xuất hiện của Nhà nước cũng như pháp luật thì việc quản lý xã hội được thực hiện chủ yếu bằng các quy ước Các quy ước này tương đối đơn giản và chưa được lập thành văn bản, bao gồm các quy ước về điều chỉnh các mặt của đời sống xã hội như: ăn, ở, đi lại, sản xuất

Khi xã hội ngày càng phát triển, dân cư ngày một đông đúc thì các quan hệ xã hội cũng ngày một phức tạp hơn các quy ước cũng được sửa đổi và bổ sung cho phù hợp Trải qua nhiều thế hệ, các quy ước này được áp dụng rộng rãi và tuân thủ nghiêm ngặt trong các cộng đồng dân cư và dần trở thành các phong tục, tập quán Trong lĩnh vực văn hóa, mỗi dân tộc đều có quá trình sáng tạo giá trị văn hóa của mình Vì hoàn cảnh và điều kiện khác nhau từ những yếu tố về lịch sử, về chế độ xã hội, về đạo lý, về kinh tế, về khoa học…không tách rời yếu tố văn hóa, trong đó phong tục, tập quán là

bộ phận cấu thành trong đời sống văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc

Sớm nhất được nhắc đến trong lịch sử là tục ăn trầu có từ thời Hùng Vương trải qua hàng nghìn năm người Việt cùng một số dân tộc khác vẫn giữ được tập tục này trong cuộc sống ngày nay, tục ăn trầu bắt nguồn từ truyện sự tích Trầu Cau để rồi thành biểu tượng cho tình anh em, vợ chồng của người Việt, theo thời gian ý nghĩa của

Trang 15

Không thấy nhắc đến sớm trong sử sách nhưng các phong tục hôn nhân, sinh

đẻ, tang lễ, cũng đã song hành với người Việt Nam từ xa xưa và đến ngày nay vẫn là những phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam

Vậy, phong tục, tập quán đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử dân tộc, nó gắn liền với mọi sinh hoạt đời sống của các cộng đồng dân cư Sự phát triển của phong tục, tập quán góp phần bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội, giúp các dân tộc đó phát triển một cách bền vững, lâu dài

1.3 Đặc điểm của phong tục, tập quán

1.3.1 Có hình thức thể hiện bằng truyền miệng và hình thức bất thành văn

 Hình thức thể hiện bằng truyền miệng

Đây là loại phong tục, tập quán đã tồn tại qua nhiều thế hệ, được truyền miệng

từ đời này sang đời khác qua qua những lời nói vần, dân ca nghi lễ Thời kì chưa có chữ viết thì các phong tục, tập quán chủ yếu được các dân tộc truyền miệng nhau, học thuộc qua các lời ca, câu nói vần Điển hình là các dân tộc Tây Nguyên, như người M’nông ở Đắk Nông có đời sống ca hát dân gian rất phong phú và đa dạng Bởi khi chưa có chữ viết riêng thì hình thức truyền miệng được coi là phương tiện chủ yếu để đồng bào chuyển tải văn hóa từ vùng này tới vùng khác, từ đời này sang đời khác Cộng đồng dân tộc M’Nông ở Đắk Nông còn lưu giữ rất nhiều phong tục, tập quán dưới hình thức văn vần, truyền miệng nội dung đề cập tới hầu hết các mối quan hệ xã hội như: vấn đề hôn nhân và gia đình, tín ngưỡng, vấn đề xâm phạm cơ thể con người

và những vấn đề tranh chấp tài sản, của cải

Bên cạnh đó có thể nói kho tàng dân ca nghi lễ - phong tục của các dân tộc thiểu số cũng rất phong phú Dân ca nghi lễ - phong tục của các dân tộc thiểu số chủ yếu ra đời cùng lúc với thần thoại và không phải ngẫu nhiên mà các thiên thần thoại của các dân tộc thiểu số là nội dung của nhiều bài dân ca nghi lễ Chính vì vậy mà chúng ta có thể nói rằng dân ca nghi lễ là bộ phận cổ xa nhất trong kho tàng dân ca các dân tộc nói chung Dĩ nhiên trong những giai đoạn về sau, loại dân ca nghi lễ - phong tục cũng được các nghệ sĩ dân gian tiếp tục sáng tác, bổ sung và hoàn chỉnh, như là quy luật phát triển và vận động của bất cứ hình thức nào khác trong văn học dân gian nói chung Kho tàng dân ca nghi lễ - phong tục của các dân tộc thiểu số rất phong phú Tuỳ theo chức năng của chúng, có thể chia các bài dân ca này thành nhiều nhóm khác nhau:

Trang 16

Nhóm các bài ca nông lễ: phục vụ các lễ tiết trong chu kỳ sản xuất nông nghiệp,

từ phát nương, gieo hạt, cấy cày, đến làm cỏ, mừng lúa mới… Thường thấy ở dân ca Êđê, dân ca Rơngao

Nhóm các bài ca hôn lễ: phục vụ trong đám cưới của các nam nữ thanh niên các dân tộc Đó là các bài thường (hoặc xường) đám cưới của người Mường, hệ thống các bài hát quan làng của người Tày

Nhóm các bài ca tang lễ: phục vụ các đám tang, nhằm đưa tiễn linh hồn người chết về thế giới bên kia Đó là các bài mo của người Mường, bài cúng Thập nguyệt hoài thai của người Tày, Nùng, các bài tiễn hồn Quăm xán xuống của người Thái…

Nhóm các bài hát mừng nhà mới: gồm các bài hát phục vụ lễ mừng nhà mới

Đó là các bài Đang tồn nhà của người Mường, các bài hát trong lễ phái hươn mấu của người Thái, các bài dòm rườn của người Tày…

“Dân ca nghi lễ - phong tục của các dân tộc vận động, phát triển trong sự giao lưu, tiếp cận với các thể loại sáng tác dân gian khác và trở thành nét sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong đời sống của các cộng đồng dân tộc”7

 Hình thức phong tục, tập quán thành văn

Phong tục, tập quán tồn tại dưới hình thức văn bản, tiêu biểu là phát triển thành các hương ước của người Việt Hương ước là một loại hình văn hóa dân gian được lập

ra trong quá trình hình thành và phát triển lâu dài của cộng đồng người Việt ở Việt Nam Đối với các hương ước cổ, mỗi văn bản thực chất là sự chắt lọc những ý kiến đóng góp trí tuệ của các bô lão, các chức sắc trong tổ chức làng xã cổ truyền Đó là di sản văn hóa dân gian vô cùng quý báu, giữ vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn kỷ cương xã tắc, hướng thiện cho đông đảo các tầng lớp nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa, ổn định tư tưởng làm ăn

“Hương ước (hay còn gọi là khoán ước, hương tục, lệ làng) ở Việt Nam xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XV Đó là những quy ước liên quan đến các mặt của đời sống làng xã được ghi chép thành văn bản (cũng có thể gồm cả những điều lệ không được ghi chép mà truyền khẩu trong dân gian) được cộng đồng làng xã cùng nhau tuân thủ Hương ước quy định về hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt, những quy ước này vừa có những nét chung vừa mang những nét riêng biệt của mỗi làng

7 Nguyễn Thị Phương Lan, Dân ca nghi lễ - phong tục của người dân tộc thiểu số,

Trang 17

Việt”8 Hương ước là quy ước của làng xã ngày xưa, là thể hiện của lệ làng Lệ làng bổ sung cho “phép nước”9 Vì do vua ban hành cho nên người ta thường gọi là “phép vua” Lệ làng phải phù hợp với phép nước, bổ sung cho phép nước trong một số hoàn cảnh cụ thể của từng làng xã Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến có nhiều khi “phép vua thua lệ làng” bởi vì “quan xa không bằng bản nha ở gần”10

“Hương ước có thể xem là hệ thống luật tục tồn tại song song với pháp 1uật của Nhà nước nhưng không đối lập với luật pháp của Nhà nước”11 Hương ước đề cập tới những nội dung cụ thể gắn với hoàn cảnh phong tục, tập quán lâu đời của từng làng, là những nội dung mà các bộ luật của Nhà nước khó đề cập đến Hương ước được xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ giữa các thành viên của cộng đồng làng, xã với nhau, giữa mỗi thành viên với cộng đồng, giữa các cộng đồng nhỏ trong làng (phe,

giáp, họ .) và làng Hương ước không chỉ đề ra các hình thức trừng phạt với các việc

làm trái mà còn đề ra những hình thức khen thưởng việc tốt, có ích cho làng Hương ước có vai trò quan trọng đối với việc ổn định nếp sống trong làng, sức mạnh của nó, một phần dựa vào hình phạt (cao nhất là đuổi khỏi làng), một phần dựa vào phần thưởng Song sức mạnh lớn nhất là bởi dư luận khen - chê của dân làng Hương ước phản ánh tâm lý của dân làng, phản ánh một phương diện quan trọng của văn hoá làng

xã Đó là các quan điểm của dân làng về điều hay, lẽ phải, điều dở, điều trái, về cái đúng - sai, đáng trọng - đáng khinh Sức mạnh cưỡng chế của hương ước dựa vào lề thói, nếp sống quen thuộc của cộng đồng làng xã Đó là sức mạnh có tính chất tâm lý nằm sâu trong tiềm thức của mọi dân làng Hương ước vừa uốn người ta vào khuôn phép, và động viên người ta hành động, gắn bó dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ, đồng thời điều tiết các trách nhiệm và các quyền lợi của mọi thành viên trong làng Do đó, hương ước có ý nghĩa trong việc bổ sung cho luật pháp khi cần xử lý những vấn đề rất cụ thể nảy sinh từ nếp sống đặc thù của làng xã

Hương ước không chỉ có ý nghĩa như là một thứ luật pháp mà còn có ý nghĩa như là một hệ thống tiêu chuẩn đạo đức Vì vậy, nó chứa đựng những giá trị văn hoá

8 Bùi Xuân Đức, Hương ước mới: những vấn đề điều chỉnh pháp luật,

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=94:ctc20034&id=2 72:tc2003so4humnvddcpl&Itemid=106, [truy cập ngày 01/02/2012]

9 Pháp luật của nhà nước, do triều đình ban hành chẳng hạn như trong thời phong kiến Việt Nam có Bộ Luật hồng Đức, thời Lê có Bộ Luật Gia long

10 , 11 x432a.htm

Trang 18

http://hanoimoi.com.vn/forumdetail/1000_nam_thang_long/51089/2727885c-l7841i-h432417ng-4327899c-dân gian, hàm chứa nhiều yếu tố tích cực Song, hương ước cũng tồn tại không ít các yếu tố tiêu cực (như sự lợi dụng hương ước để hà hiếp dân của cường hào, ác bá trong làng )

Văn bản hương ước bao gồm các quy tắc ứng xử mang tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong từng cộng đồng làng, do hội nghị thôn làng đặt ra ở Việt Nam, hương ước có nguồn gốc từ tục lệ làng, được văn bản hoá vào thế kỉ 15, xuất hiện phổ biến từ thế kỉ 17 trở đi, ở các làng của người Việt được viết trên giấy, gỗ, bia đá hay những lá đồng Nhìn chung, hương ước gồm những nội dung chính sau:

+ Liên quan đến (án xuất nông nghiệp và môi trường sinh thái;

+ Cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng xã;

+ Giữ gìn an ninh - trật tự xã hội trong cộng đồng;

+ Văn hoá, giáo dục, tổ chức thờ cúng;

+ Bảo đảm các nghĩa vụ sưu thuế, binh dịch của làng xã đối với Nhà nước; + Khen thưởng và xử phạt trong việc tuân thủ các quy ước của làng xã

Thời phong kiến, hương ước có giá trị như “bộ luật” của làng, biểu hiện tính “tự trị” làng xã và là sự dung hoà quyền lợi giữa Nhà nước phong kiến và làng xã Hương ước là một nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu làng xã cổ truyền Việt Nam

1.3.2 Có mối quan hệ qua lại mật thiết với pháp luật

Cùng với pháp luật, phong tục, tập quán cũng là công cụ hữu hiệu, quan trọng trọng trong việc điều chỉnh, tổ chức, quản lý những hành động chung của con người Đánh giá về vai trò của hai yếu tố này có thể thấy đây là những quy phạm có mối liên

hệ chặt chẽ, cùng song song tồn tại nhưng lại bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau Vậy khi tìm hiểu về vấn đề này ta sẽ có được những nhận thức vô cùng bổ ích về quan hệ qua lại giữa pháp luật và phong tục, tập quán cũng như nguyên nhân mà chúng đang trở thành vấn đề hàng đầu thu hút sự chú ý trong dư luận xã hội Việt Nam hiện nay

Giữa phong tục, tập quán và pháp luật có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau:

► Vai trò của phong tục, tập quán với pháp luật

- Đối với sự hình thành nhà nước: Khi chưa có pháp luật thì phong tục, tập quán

là công cụ quan trọng phổ biến để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội.Vì vậy ,khi pháp luật xuất hiện thì rất nhiều tập tục được pháp luật hóa Những phong tục, tập

Trang 19

lại, những phong tục, tập quán không phù hợp sẽ làm tiền đề để nhà nước đặt ra các quy định loại bỏ nó còn gọi là “luật cấm”

- Đối với việc thực hiện pháp luật: Những phong tục, tập quán phù hợp lại góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, dựa trên lòng tin và sự tuân thủ sẵn có của người dân đối với các tập tục Còn những phong tục, tập quán không phù hợp lại cản trở việc thực thi pháp luật, đi ngược lại ý chí của Nhà nước

► Vai trò của pháp luật với phong tục, tập quán

Pháp luật góp phần củng cố phát huy vai trò của phong tục, tập quán tốt đẹp, phù hợp với nguyện vọng và ý chí của nhà nước Đồng thời, pháp luật ra đời đã ngay lập tức loại bỏ những tập tục trái với ý chí của nhà nước Như vậy,về cơ bản, pháp luật không ngăn cấm loại bỏ những phong tục, tập quán tốt đẹp mà tạo điều kiện cho phong tục, tập quán đó trở thành những nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội Còn những phong tục, tập quán lạc hậu, cổ hủ, trở nên mâu thuẫn với pháp luật sẽ bị loại bỏ Trong những trường hợp như vậy, chúng ta không được theo nguyên tắc “phép vua thua lệ làng” mà phải tuân theo pháp luật để xây dựng xã hội công bằng, văn minh

1.4 Một số nguyên tắc, điều kiện trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình

Một mục đích cơ bản của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là nhằm tôn trọng và phát huy bản sắc dân tộc, truyền thống văn hoá, tâm lý, nguyện vọng của người dân Từ đó, việc giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình sẽ có nhiều thuận lợi đặc biệt trong việc khuyến khích các đương sự tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, hạn chế sự mất đoàn kết trong cộng đồng nói chung

và trong gia đình nói riêng Để thực hiện tốt mục đích trên, theo chúng tôi việc áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình cần đảm bảo các nguyên tắc, điều kiện sau:

Một là, phong tục, tập quán được áp dụng có nội dung không trái với các

nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình

Về nguyên tắc, Nhà nước và xã hội chỉ tôn trọng và phát huy các phong tục, tập

quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, “Tính chất tốt đẹp” của phong tục,

tập quán là một giá trị trừu tượng, nội dung của giá trị này thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời cũng phụ thuộc vào quan niệm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội và giai cấp Vì vậy, nó có thể được xác định đánh giá theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác nhau (Trên thực tế, trong quá trình soạn thảo

Trang 20

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, đã có không ít những ý kiến lo ngại về những khó khăn trong kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp, đặc biệt trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, bởi vì: rất khó xác định phong tục, tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; phong tục, tập quán nào cần được xoá bỏ, do đó, có thể tạo kẽ hở cho những tập tục lạc hậu tồn tại, hoặc gây ra sự lạm dụng tập quán nhiều hơn là áp dụng quy phạm pháp luật, gây khó khăn trong việc đưa Luật hôn nhân và gia đình vào đời sống xã hội….)12

Tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, tính chất tốt đẹp của phong tục, tập quán chịu

sự quy định bởi bản chất của chế độ xã hội Bản chất của chế độ xã hội phản ánh vào các quan hệ hôn nhân và gia đình thông qua các nguyên tắc cơ bản về xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Do đó, nhà nước thường lấy các nguyên tắc cơ bản của Luật làm tiêu chí xác định giá trị và chuẩn mực đạo đức của truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình Xác định dựa trên căn cứ như vậy, sẽ giúp nhà làm luật, giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật giải quyết được các vấn đề sau:

- Việc áp dụng phong tục, tập quán không làm mất đi mà ngược lại góp phần phát huy bản chất của chế độ hôn nhân và gia đình mới;

- Loại bỏ được sự tuỳ tiện và tạo sự thống nhất trong đánh giá và áp dụng truyền thống, phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình;

- Tìm ra và loại bỏ được những truyền thống, phong tục, tập quán lạc hậu không còn phù hợp với chế độ hôn nhân và gia đình mới

Như vậy, Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán có bản chất phù hợp với các nguyên tắc cơ bản sau:

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Ví dụ, theo tập quán của người Mường, Thái, Thổ ở tỉnh Thanh Hoá thì khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau vai trò của đại diện hai họ lúc cưới xin rất quan trọng trong việc hoà giải Nếu hai vợ chồng có ý định ly hôn thì những người đại diện cho họ vợ và họ chồng tìm mọi cách phân tích, hoà giải để hai vợ chồng đoàn tụ với nhau13 Đây là tập quán rất tốt cần được vận dụng cho các án kiện ly hôn của những đôi vợ chồng thuộc các tộc người này

- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Đồng bào các dân tộc ít người thường có tâm lý trọng nam khinh nữ dẫn đến sinh đẻ

12 Xem: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII Nxb chính trị quốc gia, năm 1996, tr 112-113

Trang 21

nhiều vi phạm quy định về kế hoạch hoá gia đình, nhiều dân tộc coi có nhiều con, đặc biệt nhiều con trai phản ánh sự thịnh vượng của gia đình Đây là tập quán không nên khuyên khích và phát huy

- Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau

- Không biệt đối xử giữa các con trong gia đình Trên thực tế, hầu hết các ở các dân tộc ít người đều có sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái Nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Thái ở Lào Cai…) cho con trai được hưởng gia tài, con trai trưởng được tôn trọng ngang với người cha14 Tập quán này Toà án cần phê phán, không áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp liên quan đến tài sản trong gia đình

- Bảo vệ phụ nữ và trẻ em Nhìn chung, địa vị của người phụ nữ và trẻ em ở các dân tộc ít người hiện nay đã được cải thiện nhưng còn rất thấp kém, chế độ phụ quyền

là phổ biến (trừ một số dân tộc ở Tây Nguyên vẫn duy trì chế độ mẫu hệ), hầu hết các các quyền lợi về nhân thân và tài sản do người đàn ông được hưởng Tập quán này rất lạc hậu không áp dụng để giải quyết các tranh chấp, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp về tảo hôn, đa thê, quyền sở hữu trong gia đình…

Hai là, Chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đã trở thành thông dụng, được

đông đảo mọi người sinh sống trên cùng địa bàn, cùng dân tộc, cùng tôn giáo thừa

nhận

Cùng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan hệ xã hội, phong tục, tập quán cũng có thể mất đi hoặc phát sinh mới trong một cộng đồng, một địa phương Thậm chí, cùng một phong tục, tập quán ở một dân tộc, tôn giáo, khu vực lại tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau Có phong tục, tập quán chỉ áp dụng cho một dòng họ, một gia đình hoặc một nhóm gia đình (Ví dụ: tập quán ở rể của người Thái cư trú ở một số tỉnh

là 3 năm, nhưng một dòng họ hoặc một gia đình lại có tập quán ở rể là 5 năm…) Trong sự trộn lẫn giữa các hình thái phong tục, tập quán, Toà án cần xác định những phong tục, tập quán nào được đông đảo mọi người trong cộng đồng và khu vực thừa nhận; những phong tục, tập quán nào không có tính phổ biến, ít người thừa nhận Về nguyên tắc, Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đại diện tính truyền thống, bản sắc văn hoá, thói quen xử sự của một cộng đồng hoặc một khu vực

14 Xem: Từ điển pháp luật (anh-việt) Nxb Thế giới, năm 1998, tr 253

Trang 22

Ba là, phong tục, tập quán chỉ được áp dụng trên địa bàn có thói quen xử sự

theo tập quán đó

Nguyên tắc này xuất phát từ tính cục bộ của phong tục, tập quán, mỗi dân tộc, tôn giáo, khu vực có phong tục, tập quán riêng và chúng chỉ có giá trị điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nội bộ dân tộc, tôn giáo hoặc giữa các cá nhân cùng sinh sống tại một địa phương Tính cục bộ của phong tục, tập quán đòi hỏi Toà án không thể áp đặt phong tục, tập quán của dân tộc, tôn giáo, địa phương này vào giải quyết các tranh chấp giữa những người có dân tộc, tôn giáo, địa phương khác (Ví dụ: không thể áp dụng tập quán ở Sơn La để giải quyết các tranh chấp ở Hoà Bình hoặc không thể áp dụng tập quán của người H’Mông ở Hà Giang để giải quyết tranh chấp của người Kinh sinh sống ở Hà Giang…) Toà án cũng không thể áp đặt phong tục, tập quán của một bên để giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên khác nhau về dân tộc, tôn giáo, địa phương sinh sống và phong tục, tập qúan giữa các dân tộc, tôn giáo, địa phương này mâu thuẫn với nhau về giải quyết tranh chấp (Ví dụ: Chồng là người dân tộc Thái, vợ

là dân tộc Kinh khi ly hôn cả hai đều yêu cầu áp dụng tập quán của dân tộc mình để giải quyết tranh chấp) Trong trường hợp có sự xung đột về các tập quán khác nhau mà các bên không thoả thuận được, Toà án cần áp dụng phong tục, tập quán nơi xảy ra tranh chấp về tài sản trong gia đình và áp dụng phong tục, tập quán nơi xác lập quan

hệ hôn nhân và gia đình để giải quyết các tranh chấp về nhân thân

Bốn là, phát huy vai trò của những người đứng đầu cộng đồng (già làng,

trưởng bản) hoặc các chức sắc tôn giáo trong việc áp dụng phong tục, tập quán giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình

Phần lớn các dân tộc ít người đều có những già làng, trưởng bản, đây là những người có uy tín rất cao trong cộng đồng, họ được coi là đại diện của nhân dân trong các mối quan hệ Mặt khác, già làng, trưởng bản là những người gìn giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, địa phương mình Với vai trò lớn như vậy, già làng, trưởng bản là người có khả năng giáo dục, thuyết phục, hoà giải, khuyên bảo đồng bào của họ rất hiệu quả, dung hoà được các tranh chấp, đảm bảo tính đoàn kết của cộng đồng Trên thực tế, việc giải quyết các tranh chấp có sự tham gia của các già làng, trưởng bản với vai trò hoà giải, xác định tập quán đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc giải quyết tranh chấp không có sự tham gia của những người này

Trang 23

1.5 Giống và khác nhau giữa pháp luật và phong tục, tập quán

 Giống nhau:

Điểm chung giữa pháp luật và phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là cùng thực hiện mục tiêu làm ổn định các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung và gia đình nói riêng

Cả phong tục, tập quán và pháp luật điều là những quy tắc xử sự chung có thể coi đây là khuôn mẫu chuẩn mực để hướng dẫn mọi hành vi xử sự và là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi con người Mặt khác, chúng tham gia điều chỉnh quan hệ xã hội nhằm thiết lập và giữ trật tự xã hội Giữa phong tục, tập quán và pháp luật còn điểm chung là điều được đảm bảo thực hiện bằng những biện pháp nhất định như tuyên truyền, thuyết phục, khuyến khích, hoặc là cưỡng chế Cuối cùng, chúng điều có tính xã hội, tính ý chí và đều có sự thay đổi theo điều kiện và tình hình phát triển của xã hội

ra hoặc thừa nhận, nghĩa là nó chỉ được hình thành bằng con đường nhà nước Pháp luật có vai trò điều chỉnh hành vi của tất cả các thành viên trong xã hội, không loại trừ

ai bởi nó có một bộ máy chuyên nghiệp chuyên thực thi quyền lực: tòa án, quân đội cảnh sát…

Thứ ba, về biện pháp đảm bảo thực hiện: trong khi phong tục, tập quán được bảo đảm chấp hành bằng thói quen, dư luận xã hội hoặc một số biện pháp cưỡng chế như: đuổi ra khỏi cộng đồng, bị xa lánh ….Các biện pháp này được đảm bảo thực hiện không mang tính nhà nước mà mang tính xã hội Pháp luật lại ra đời và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước như tuyên truyền, phổ biến, khuyến khích, giáo dục, tổ chức thực hiện…và cả cưỡng chế

Bên cạnh đó, phong tục, tập quán là những quy ước của mỗi cộng đồng dân cư nên mang tính cục bộ, địa phương, mỗi cộng đồng dân cư có những phong tục, tập

Trang 24

quán khác nhau.Và hình thức lưu trữ của phong tục, tập quán chủ yếu là truyền miệng, tồn tại dưới hình thức bất thành văn nên có tính ước lệ, độ chính xác không cao, không

có hệ thống rõ ràng dẫn đến việc áp dụng nhiều khi không thống nhất, dễ tùy tiện Trái lại, pháp luật ngay từ khi ra đời nó đã là hình thức đại diện chính thức cho quyền lực nhà nước được ban hành dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật.Vì vậy, nó có tính

hệ thống, có độ chính xác cao, đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc, thống nhất

Vì vậy, các quy phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh hữu hiệu, nhất thể và bao trùm trong xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Song, pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính phổ biến, điển hình và khách quan, nên, dù xã hội

đã phát triển ở trình độ cao, pháp luật hôn nhân và gia đình đã ở mức hoàn thiện, vẫn còn những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa có hoặc chưa được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Trong khi đó, trên thực tế, những quan hệ xã hội này vẫn tiếp tục tồn tại, không thể không có sự điều chỉnh để tạo sự ổn định và loại bỏ những mâu thuẫn trong sự phát triển của chúng Để giải quyết mâu thuẫn giữa phạm vi điều chỉnh của pháp luật và nhu cầu khách quan của xã hội, cần thực hiện chính sách

đa dạng hoá pháp luật, một trong các giải pháp là áp dụng các phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình

1.6 Các phong tục, tập quán tiến bộ và các phong tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình

1.6.1 Phong tục, tập quán tiến bộ cần phát huy

Nhà nước ta tôn trọng và khuyến khích đồng bào các dân tộc giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình thể hiện bản sắc riêng của mỗi dân tộc Đây là những tập quán có tính bền vững, không trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, phù hợp với đạo đức xã hội

Trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta tồn tại rất nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện sự tôn trọng và đề cao các giá trị bền vững của quan hệ hôn nhân và gia đình: hôn nhân một vợ, một chồng trên cơ sở tình yêu tự nguyện nhằm mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững và bảo tồn nòi giống;

sự bình đẳng và lòng chung thủy trong quan hệ vợ chồng; tinh thần tương thân tương

ái trong đời sống cộng đồng… Đặc biệt, nghi lễ cưới hỏi trong tập quán hôn nhân của nhiều dân tộc chứa đựng những nét văn hóa truyền thống rất đặc sắc của sinh hoạt cộng đồng, cần được bảo tồn và phát huy

Trang 25

Ví dụ: tập quán hát trao duyên của đôi nam nữ trong lễ thành hôn của đồng bào Tày; tập quán cha mẹ, người thân cầu chúc, dặn dò đối với đôi nam nữ về cuộc sống lứa đôi chung thuỷ, hạnh phúc…

Nghị định số 32/2002/NĐ-CP đã chọn lọc và ghi nhận việc khuyến khích phát huy các phong tục, tập quán thể hiện các giá trị tốt đẹp sau đây:

- Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng – hình thái hôn nhân cơ bản của hầu hết các dân tộc được pháp luật bảo vệ và khuyến khích phát huy

- Nam, nữ tự do tìm hiểu, tự do lựa chọn người bạn đời

- Sau khi kết hôn, tuỳ theo sự sắp xếp, thoả thuận giữa hai bên gia đình, vợ, chồng có thể cư trú ở nhà vơ hoặc ở nhà chồng (tục đổi sữa mẹ)

- Cha, mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con nên người, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra

- Con có nghĩa vụ nghe lời, phụng dưỡng ông, bà, cha, mẹ khi về già Trong gia đình và xã hội, sinh hoạt có tôn ti, trật tự (có trên có dưới), các con được đối xử bình đẳng như nhau, không phân biệt đối xử giữa con gái và con trai, giữa con đẻ và con nuôi

- Phong tục cho phép được nhận người khác làm con nuôi hoặc làm con nuôi người khác mà không phân biệt họ hàng, dân tộc Người nhận nuôi con nuôi phải là người có vợ hoặc có chồng Người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em không có nơi nương tựa và không tự nuôi sống được bản thân

- Phong tục, tập quán nhạn trẻ em mồ côi cha, mẹ làm con nuôi, chăm sóc con nuôi, coi con nuôi như con đẻ, con nuôi và con đẻ coi nhau như anh, em ruột thịt, con nuôi được hưởng các quyền như con đẻ

- Phong tục, tập quán chấp nhận hôn nhân giữa người thuộc dân tộc mình với người thuộc dân tộc khác

- Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc nuôi dạy con, có sự quan tâm, giúp

đỡ lẫn nhau Các bậc cha, mẹ dạy dỗ, chỉ bảo con bằng những lời nói dịu dàng, giáo dục con tinh thần lao động cần cù, tạo cho con có ý thức lao động và tự lập Người phụ

nữ có vai trò quan trọng trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình không có sự cách biệt

- Quan hệ hôn nhân và gia đình bền vững

Trang 26

1.6.2 Phong tục, tập quán lạc hậu bị nghiêm cấm

Phong tục, tập quán bị nghiêm cấm là những hủ tục lạc hậu trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình Việt Nam Sự tồn tại của các hủ tục này đã và đang gây tác hại nghiêm trọng đối với mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân

và gia đình tiến bộ ở nước ta, ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng và thi hành Luật hôn nhân và gia đình Đối với các hủ tục lạc hậu này, Nhà nước ta thể hiện quan điểm nghiêm khắc, kiên quyết loại bỏ và triệt tiêu những tác động tiêu cực của chúng trong đời sống hôn nhân và gia đình

Nghị định số 32/2002/NĐ-CP quy định danh mục những hủ tục thuộc nhóm

phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số bị nghiêm cấm

bao gồm:

- Chế độ hôn nhân đa thê

- Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có liên quan dòng họ trong phạm vi ba đời

- Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ

- Thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché để dẫn cưới)

- Phong tục "nối dây": Khi người chồng chết, người vợ goá bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố (Levirat); khi người vợ chết, người chồng goá bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của vợ quá cố (Sororat)

- Bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông goá vợ, nếu kết hôn với người khác, thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ

- Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn

1.6.3 Phong tục, tập quán lạc hậu cần vận động xóa bỏ

Trong đời sống hôn nhân và gia đình của một số dân tộc hiện nay còn tồn tại những phong tục, tập quán tuy không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình nhưng sự tác động của những phong tục, tập quán này đang có xu hướng ngày càng giảm đi và chưa đến mức ảnh hưởng nghiêm trọng tới mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ của nước ta Đối với những phong tục, tập quán thuộc dạng này, quan điểm của nhà nước ta là vận động đồng bào dần dần xóa bỏ những ảnh hưởng lạc hậu, tiến tới triệt tiêu sự tồn tại của chúng trong đời sống hôn nhân và gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 27

Danh mục những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiếu số cần vận động xóa bỏ được ban hành kèm theo Nghị định số 32/2002/NĐ-CP bao gồm:

- Kết hôn trước tuổi quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (tảo hôn)

- Việc đăng ký kết hôn không do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện

- Cưỡng ép kết hôn do xem "lá số" và do mê tín, dị đoan; cản trở hôn nhân do khác dân tộc và tôn giáo

- Cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên

- Nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ, thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ

- Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái

 Chế độ phụ hệ:

+ Khi ly hôn, nếu do người vợ yêu cầu ly hôn, thì nhà gái phải trả lại nhà trai toàn bộ đồ sính lễ và những phí tổn khác; nếu do người chồng yêu cầu ly hôn, thì nhà gái vẫn phải trả lại nhà trai một nửa đồ sính lễ Sau khi ly hôn, nếu người phụ nữ kết hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì Sau khi ly hôn, con phải theo bố

+ Khi người chồng chết, người vợ goá không có quyền hưởng phần di sản của người chồng quá cố để lại Nếu người vợ goá tái hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì

+ Khi người cha chết, chỉ các con trai có quyền còn các con gái không có quyền hưởng phần di sản của người cha quá cố để lại

 Chế độ mẫu hệ:

+ Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ

+ Khi người vợ chết, người chồng goá không có quyền hưởng phần di sản của người vợ quá cố để lại và không được mang tài sản riêng của mình về nhà

+ Khi người mẹ chết, chỉ các con gái có quyền còn các con trai không có quyền hưởng phần di sản của người mẹ quá cố để lại

Trang 28

+ Sau khi ở rể, người con rể bị "từ hôn" hoặc sau khi ăn hỏi, nhận đồ sính lễ, người con trai bị "từ hôn" thì không được bù trả lại

- Không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo

1.7 Ý nghĩa của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình

Các quy tắc của phong tục, tập quán được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực Với vai trò như vậy, phong tục, tập quán và việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình mang những ý nghĩa cơ bản sau:

 Ý nghĩa về mặt xã hội:

Phong tục, tập quán là một bộ phận cấu thành căn bản của truyền thống văn hoá

và giá trị đạo đức trong gia đình Việt Nam Áp dụng phong tục, tập quán là một trong các biện pháp cần thiết để bảo vệ các bản sắc văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam hiện đang có nguy cơ bị mất dần dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và sự mở rộng giao lưu quốc tế

Gia đình Việt Nam là một thiết chế xã hội, đồng thời được quan niệm như là một tập hợp các truyền thống văn hóa và giá trị đạo đức, sự phát triển của gia đình gắn liền với quy luật kế thừa và phát triển Nghĩa là, trong gia đình các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống cùng tồn tại với các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội mới

Một quan hệ hôn nhân và gia đình mới, phản ánh các giá trị và chuẩn mực đạo đức phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội mới, chỉ thể hiện được tính chất tiến bộ, bền vững và phổ biến khi được xây dựng, củng cố trên nền tảng văn hoá và đạo đức truyền thống của gia đình Ngược lại, việc xây dựng và củng cố các quan hệ hôn nhân

và gia đình mới, tiến bộ là cơ sở và là tiêu chí để khẳng định, bổ sung và phát triển về chất cho các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống Một truyền thống, phong tục, tập quán trong điều kiện kinh tế - xã hội mới dù tốt đẹp đến mấy cũng không thể tạo ra bản sắc và tính bền vững cho gia đình nếu không đưọc bổ sung và phát triển bằng các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội đó

Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng trên, việc ghi nhận kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp trong gia đình là một trong các nhiệm vụ cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình, không mâu thuẫn với nhiệm vụ xây

Trang 29

dựng và củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình mới Ngược lại, chúng là hai mặt không thể thiếu trong thực hiện mục tiêu về gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là: “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ, và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm cho mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Thực hiện tốt Luật hôn nhân và gia đình”15

 Ý nghĩa về mặt pháp luật:

Cùng với quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, phong tục, tập quán là công

cụ điều chỉnh hữu hiệu các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt các quan hệ hôn nhân và gia đình mang tính sắc tộc và khu vực

Xuất phát từ bản chất vừa là thiết chế xã hội, vừa là tập hợp các giá trị truyền thống văn hoá và đạo đức, các quan hệ hôn nhân và gia đình đồng thời chịu sự quy định của cả quy phạm pháp luật và phong tục, tập quán Thực tế đó đòi hỏi, để điều chỉnh tốt nhóm quan hệ xã hội này, cần có sự kết hợp hài hoà, hỗ trợ, bổ sung giữa các quy phạm pháp luật và phong tục, tập quán

Phong tục, tập quán có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tố tụng và đưa ra đường lối giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực

Trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực, phong tục, tập quán giúp các cơ quan và những người tiến hành tố tụng hoạt động có hiệu quả trong công tác điều tra, xác minh chứng cứ, hoà giải, xét xử, thi hành án… Từ

đó, giúp cơ quan xét xử xác định rõ bản chất của mối quan hệ có tranh chấp, áp dụng pháp luật phù hợp với mối quan hệ có tranh chấp, trong trường hợp cần áp dụng phong tục, tập quán thì xác định áp dụng tập quán nào là phù hợp nhất đảm bảo không trái với các nguyên tắc Luật định Cũng qua phong tuc, tập quán người thẩm phán có thể hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của các đương sự và giải quyết thấu tình đạt lý, được sự đồng ý của cộng đồng dân cư nơi xảy ra tranh chấp nói riêng và của xã hội nói chung

Tóm lại, những phong tục, tập quán về hôn nhân gia đình có giá trị truyền thống, mang tính nhân văn sâu sắc đã trở thành thuần phong mỹ tục, có tác dụng tích cực đối với cộng đồng xã hội thì pháp luật phải thừa nhận và phát huy vai trò của chúng trong đời sống xã hội, vận dụng chúng để hình thành nếp sống, suy nghĩ, hành

15 Xem: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII Nxb chính trị quốc gia, năm 1996, tr 112-113

Trang 30

vi pháp luật của mỗi người Những phong tục, tập quán phù hợp với pháp luật sẽ góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiên chỉnh, tự giác hơn, dựa trên lòng tin và sự tuân thủ sẵn có của người dân đối với các tập tục

Trang 31

CHƯƠNG 2 CÁC PHONG TỤC, TẬP QUÁN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ KẾT HÔN Ở

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, về điều kiện kết hôn thì có điều kiện

về nội dung và điều kiện về hình thức Theo đó, người viết sẽ dựa vào hai điều kiện này để phân tích các điều kiện kết hôn của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhằm giúp người đọc dễ dàng đối chiếu, so sánh và hiểu rõ hơn về vấn đề được đề cập trong chương 2 này

2.1 Điều kiện về nội dung

2.1.1 Điều kiện về độ tuổi

- Xuất phát từ những cơ sở khoa học về tâm lý lứa tuổi, sức khoẻ con người Việt Nam, việc pháp luật quy định nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn là nhằm bảo đảm sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất, con cái sinh ra được khoẻ mạnh, bảo đảm cho đôi nam nữ thực hiện được các chức năng sinh đẻ, giáo dục con cái và nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình đối với gia đình Theo kết quả nghiên cứu khoa học, đây là độ tuổi phát triển đầy đủ về thể chất và nhận thức được vấn đề giới tính, mới có thể suy xét chín chắn về việc kết hôn của mình, thể hiện ý chí

tự nguyện của mình trong việc kết hôn, có thể tham gia lao động sản xuất để bảo đảm cuộc sống gia đình Đây là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự bền vững của hôn nhân

- Những quy định về độ tuổi kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình dường như không ảnh hưởng nhiều đến việc kết hôn ở những đôi trai gái vùng cao, nơi những bản làng heo hút Ở những nơi này các phong tục lạc hậu trong hôn nhân vẫn được áp dụng khá phổ biến, trong đó có tục tảo hôn Tảo hôn là việc hai bên nam nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định, nhưng đã chung sống với nhau như vợ chồng và không đăng ký kết hôn nếu xét ở góc độ xã hội Và nếu xét ở góc độ pháp lý, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật

- Tập tục này có thể xem là một rào cản trong việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình về vấn đề độ tuổi kết hôn Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ dân trí thấp, sự ảnh hưởng của tập quán kết hôn sớm vẫn còn nặng nề dẫn đến tập tục tảo hôn vẫn chưa được xóa bỏ Ngoài ra vẫn còn một số quan niệm như: Kết hôn sớm để có thêm nguồn nhân lực cho gia đình, để sinh đông con cháu cho gia đình, dòng họ, để được chia tài sản, đất đai, nhà cửa Chính vì tục tảo hôn nên ở những vùng cao này trai gái vẫn bị trói buộc trong việc hôn nhân của mình, lề thói lạc hậu này đã và đang gây ra

Trang 32

những hậu quả đau lòng cho người dân nơi đây Vì tục kết hôn sớm này đã ăn sâu vào

nếp nghĩ, trở thành một lề thói xấu chưa thể ngăn chặn được khiến cuộc sống của

người dân vốn nghèo đói càng thêm đói nghèo Bên cạnh đó, tình trạng lơi lỏng pháp

luật, thực thi pháp luật chưa kiên quyết trong quản lý đăng ký kết hôn ở vùng miền

núi, dân tộc còn lỏng lẻo dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của hiện tượng tảo hôn trong cộng

đồng các dân tộc thiểu số

 Vấn đề về tình trạng tảo hôn

+ Phần đông các gia đình và bản thân các bạn trẻ đã chấp hành nghiêm quy

định về tuổi kết hôn Tuy vậy, tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra ở không ít địa phương,

nhất là ở nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực tế, có những cặp vợ

chồng, khi cưới nhau mới chỉ 15, 16 tuổi; một số cặp vợ chồng cưới nhau đến khi có

con rồi mới ra chính quyền làm thủ tục đăng ký kết hôn và đăng ký khai sinh cho con

Việc nam, nữ kết hôn khi chưa đủ tuổi đã dẫn đến những hệ lụy xấu, ảnh hưởng tới gia

đình và cộng đồng Kết hôn sớm khi công ăn việc làm của vợ, chồng chưa ổn định,

kinh nghiệm sống hạn chế, khiến gia đình thường xuyên xảy ra mâu thuẫn Nhiều cặp

vợ chồng trẻ về ở với nhau mà tính nết như trẻ con, tị nạnh, đùn đẩy nhau từ việc nội

trợ và cãi cọ, xô xát chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt Nguyên nhân của tệ nạn tảo hôn

xuất phát từ hủ tục lạc hậu rơi rớt lại

+ Theo số liệu điều tra của Vụ gia đình (Ủy ban Dân số- Gia đình và Trẻ em)

cho thấy: “15 tỉnh, thành phố cả nước có trên 1% trẻ em ở độ tuổi từ 14-16 đã có vợ

chồng Các tỉnh có tỷ lệ trẻ em tảo hôn cao như Hà Giang 5,72%, Cao Bằng 5,1%,

này có đến 22% tỷ lệ kết hôn không đăng ký vi phạm Luật hôn nhân và gia đình Phần

lớn các cặp vợ chồng kết hôn trước tuổi pháp luật quy định (nam từ 20 tuổi và nữ từ 18

tuổi), do không đủ điều kiện kết hôn nên chính quyền xã không cho đăng ký kết hôn

Tiến sỹ Ngô Thị Ngọc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ gia đình cho biết: chỉ có 21,6% đối

tượng kết hôn sớm có đăng ký kết hôn; 75,4% không đăng ký kết hôn Theo kết quả

điều tra có 30,7% đối tượng được hỏi cho biết vợ/chồng của họ kết hôn lần đầu ở độ

tuổi dưới 19; có 0,2% đối tượng kết hôn lần đầu khi mới 9 tuổi; 0,3% đối tượng kết

hôn khi 14 tuổi; 1,0% kết hôn khi 15 tuổi; 3,3% kết hôn khi 16 tuổi; 5,8% kết hôn khi

17 tuổi và 15,6% kết hôn khi 18 tuổi”16

16 Ngọc Lan, Tình hình tảo hôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc cần sớm có giải pháp,

Trang 33

+ Những năm gần đây, tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra khá phổ biến Đặc biệt là

ở Xã Cư San có gần 100% là đồng bào dân tộc thiểu số Trong đó, dân tộc Mông chiếm 70% “Trong hai năm 2009- 2010, xã có đến 11 cặp vợ chồng tảo hôn Nguyên nhân chính là do nhiều đôi trẻ yêu nhau, lỡ có bầu Dù hai gia đình không đồng ý nhưng các em vẫn về ở với nhau; một số thì bố mẹ bắt cưới khi chưa đủ tuổi kết hôn”17.

+ Trong số các dân tộc ít người ở xã Phong Dụ thì người Dao Thanh Phán là tộc người vẫn mang nặng nhiều phong tục lạc hậu nhất, đặc biệt là trong chuyện dựng vợ,

gả chồng “Theo anh Đặng Văn Quân - Trưởng Ban Văn hoá xã Phong Dụ, con gái người Dao Thanh Phán 12, 13 tuổi là lấy chồng, cô nào đến 16 tuổi đã bị coi như ế ”18

+ Những câu nói quen thuộc nói về nạn tảo hôn cứ ngỡ chỉ tồn tại ở thời phong kiến trở về trước: “lấy chồng từ thuở 13 đến năm 18 em đà năm con” hay câu “bồng bồng cõng chồng đi chơi…” Thế nhưng ngày nay vẫn còn là “Lời ru buồn miền sơn

cước” Một hoàn cảnh cụ thể là Viên Thị Thược ở huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế),

ngôi nhà của vợ chồng Viên Thị Thược nằm xiêu vẹo sát bên vách núi dựng đứng ở thôn Aka 2, xã A Roàng Thược lấy chồng chưa đầy 14 tuổi Đang đi học, Thược đã lỡ

có thai hơn 4 tháng Tình thế đó buộc hai gia đình phải tổ chức đám cưới cho hai trẻ Thược bỏ học để nuôi con sau bốn tháng về nhà chồng Sau khi sinh con, vợ chồng Thược được cha mẹ làm cho túp lều ra ở riêng, cho hai sào ruộng để tự làm ăn sinh sống “Bố mẹ cho một con trâu, một con bò làm vốn nhưng đã phải mổ đãi làng trong

lễ cưới hết rồi nên khi ra ở riêng chẳng có đồng vốn nào Lúa làm không đủ ăn, nửa năm phải ăn sắn, đứa con nhỏ ốm đau triền miên” 19 – Đó là lời tâm sự của Thược

+ Thêm một ví dụ nữa minh chứng cho nạn tảo hôn vẫn diễn ra ở các tỉnh nước

ta, không chỉ là ở các tỉnh miền núi phía Bắc mà ngay cả ở Long An – một nơi gần các trung tâm thành phố lớn, vấn nạn này cũng xảy ra “Năm 2010, Hà Văn T (SN 1996), mới 14 tuổi, còn tung tăng chơi đùa với bọn trẻ trong ấp, bỗng nhiên được bố mình

17 Võ Thảo, Báo động nạn tảo hôn ở Xã Cư San, M'DRăk, Đắk Lắk,

thuo-15.htm, [truy cập ngày 06/02/2012]

http://giadinh.net.vn/20110810074647121p0c1054/bao-dong-nan-tao-hon-o-xa-cu-san-mdrak-dak-lak-lay-vo-tu-18 Phương Thảo, Tiên Yên - Quảng Ninh: Nơi hủ tục còn sót lại,

http://seagames.dantri.com.vn/c20/s20-86659/tien-yen-quang-ninh-noi-hu-tuc-con-sot-lai.htm, [truy cập ngày 07/02/2012]

19 Nguyên Linh, Tảo hôn – Lời ru buồn miền sơn cước,

http://phapluattp.vn/20100508111914343p0c1015/tao-hon-loi-ru-buon-mien-son-cuoc.htm, [ truy cập ngày 07/02/2012

Trang 34

thông báo: Lấy vợ !!!Vợ T không ai khác là cô gái (SN 1993), khi đó tròn 17 tuổi, con gái bạn bố của T”20 Trong trường hợp này, nếu người cha ép con trai 14 tuổi lấy vợ là

có hành vi tổ chức tảo hôn và cưỡng ép người khác kết hôn Hành vi này vi phạm Luật hôn nhân và gia đình Theo quy định tại điểm b Điều 6 và điểm a Điều 7 Nghị định 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì người cha có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với hành vi tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn, cưỡng ép người khác kết hôn Ngoài ra, nếu cố tình tổ chức việc kết hôn cho người chưa đến tuổi kết hôn gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiện hình sự về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 Bộ Luật hình sự năm 1999)

+ Còn phong tục tập quán của người Chăm có quy định độ tuổi kết hôn thấp hơn độ tuổi quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Theo Luật tục Chăm:

“Con gái 16 tuổi, con trai 18 tuổi không có quan hệ họ hàng máu mủ thì được kết hôn với nhau” Điều này cũng phần nào ảnh hưởng đến tình trạng tảo hôn trong cộng đồng người Chăm

+ Trong bối cảnh hiện nay thì vấn đề tảo hôn còn cản trở sự phát triển lành mạnh của con người, của giống nòi, tâm sinh lý, nhận thức, học vấn, nghèo nàn lạc hậu, phúc lợi xã hội Xét ở một khía cạnh khác thì vấn nạn tảo hôn còn ảnh hưởng lớn tới mục tiêu xây dựng gia đình mới: bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc

+ Do đó, tảo hôn là 1 trường hợp của kết hôn trái pháp luật về điều kiện độ tuổi

mà theo khoản 3 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: "Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định"

- Về điều kiện độ tuổi kết hôn thì luật hiện hành có quy định tại khoản 1 Điều 9:

“Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” Sở dĩ Luật hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người, vào điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta Nam nữ kết hôn là xác lập quan hệ hôn nhân –

cơ sở của gia đình Gia đình phải thực hiện các chức năng xã hội của nó, một trong những chức năng đó là chức năng sinh đẻ nhằm duy trì nòi giống Theo kết quả nghiên cứu của nền y học hiện đại thì nam từ khoảng 16 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 13 tuổi trở lên là đã có khả năng sinh sản Thế nhưng, để đảm bảo cho con sinh ra được khỏe

20 Huyền Trang, Nạn tảo hôn ở Long An,

Trang 35

http://www.thugian360.com/threads/3279-Nan-tao-hon-o-Long-An-mạnh, bảo đảm sức khỏe cho phụ nữ khi mang thai, sinh đẻ thì Luật hôn nhân và gia đình qui định tuổi kết hôn đối với nam là hai mươi tuổi, nữ là mười tám tuổi Quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của nam nữ, bảo đảm cho nam nữ có thể đảm đương được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ Đồng thời quy định này bảo đảm cho con cái sinh ra được khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ, có thể phát triển tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội Còn theo tập tục của đồng bào dân tộc thiêu số thì việc kết hôn có thể xảy ra khi nam nữ mới ở tuổi 13,

14 tuổi Tập tục kết hôn sớm này là một trong những nguyên nhân làm giảm sút giá trị của Luật hôn nhân và gia đình, nó tồn tại từ rất lâu và bền vững trong đời sống hôn nhân của các dân tộc ít người, phá vỡ tính trật tự trong quản lý xã hội, phá vỡ tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, ảnh hưởng đến chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng chế độ gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững

- Trong thời điểm hiện nay, trai gái Ba Na yêu thương và tự nguyện đến với hôn nhân phổ biến hơn nhiều so với quyết định gả bán của cha mẹ Tuổi kết hôn cũng đang

có xu hướng tăng lên, thường con trai trên 25 tuổi mới lấy vợ, con gái khoảng 20 tuổi mới lấy chồng Việc gả bán con cái theo ý riêng của cha mẹ thường chỉ xảy ra giữa gia đình giàu có với gia đình nghèo vì lý do kinh tế, hay sắc đẹp Các gia đình tương đương về điều kiện kinh tế, về địa vị xã hội thì con cái của họ phần lớn tự do tìm hiểu

để đi đến hôn nhân Sự chênh lệch tuổi tác giữa nam và nữ (thậm chí chênh lệch nhiều) cũng không phải là điều quan trọng Vấn đề mang tính quyết định để đi đến hôn nhân, trong thời điểm hiện tại là trai gái phải thương yêu nhau Tiêu chuẩn hàng đầu để các chàng trai, cô gái nơi đây chọn bạn đời chính là đạo đức, sức khoẻ và tính cần cù, siêng năng và thạo việc

- Qua phân tích ta thấy cần phải xóa bỏ các tập tục kết hôn trước tuổi quy định

và cần phát huy các tập tục truyền thống tốt đẹp như phong tục kết hôn của người Ba

Na đã đề cập ở trên, để bảo đảm sự phát triển giống nòi, bảo đảm cho các bên nam, nữ

có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng chăm lo cuộc sống gia đình Ủy ban nhân dân

xã, phường, thị trấn, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và các tổ chức thành viên, các Già làng, Trưởng bản và các vị chức sắc tôn giáo thực hiện tuyên truyền vận động người dân xoá bỏ phong tục, tập quán kết hôn trước tuổi quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

2.1.2 Điều kiện về sự tự nguyện giữa nam và nữ

- Tự nguyện kết hôn là việc hai bên nam nữ thể hiện sự đồng ý trở thành vợ chồng của nhau, mỗi bên không bị tác động ý chí của bên kia hay của bất kỳ người nào khiến cho họ phải kết hôn mà không có tình yêu Kết hôn trước hết là một quyền chứ

Trang 36

không phải là nghĩa vụ Vì vậy, về nguyên tắc không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Đây là điều kiện hết sức quan trọng được pháp luật hầu hết các nước phát triển, văn minh trên thế giới ghi nhận để bảo đảm giá trị đích thực của hôn nhân “Không có hôn nhân khi không có sự tự nguyện”21 và cuộc sống gia đình chỉ thực sự có hạnh phúc khi được xây dựng trên cơ sở sự hòa hợp và tự nguyện của hai bên nam nữ

- Thế nhưng, có nhiều cặp vợ chồng vẫn đến với nhau để rồi hạnh phúc tan vỡ nhanh chóng do hôn nhân giữa họ không có sự tự nguyện, không có tình yêu và sự hòa hợp giữa hai con tim Tình trạng đó phổ biến hầu hết ở những vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống

+ Điển hình là tục cướp vợ 22 của người Mông đã làm nhiều bé gái phải bỏ học giữa chừng, bỏ dở tuổi hoa niên về nhà người làm vợ, làm mẹ; cản trở hôn nhân tự nguyện của những đôi trai gái mà chủ yếu là đối với người phụ nữ Hủ tục này còn bám rễ đến ngày nay là do bắt nguồn từ tập tục làm nương của đồng bào Mông Với kiểu canh tác nhỏ, lẻ, chủ yếu là trồng trọt trên các triền núi cao nên từ lâu người phụ

nữ mông đã trở thành lao động chính trong gia đình Gia đình người Mông nào có động người làm trong nhà có nghĩa là có nhiều của ăn của để Từ suy nghĩ đó, các gia đình đều muốn con trai mình lấy vợ sớm để có thêm người làm trong nhà, sớm sinh con đẻ cái để có thêm nhiều lao động Chính vì quan niệm lạc hậu ấy nên nhiều gia đình người Mông thường “bắt vợ” cho con trai mình từ rất sớm, đó là nguyên nhân của những câu chuyện bi hài, cười ra nước mắt

+ Ví dụ cho những câu chuyện bi hài đó là trường hợp của Vàng Thị Xèo

“Trong năm học 2009 – 2010, một học sinh nữ của trường, trú tại bản Suối Mạ, mới 15 tuổi đang theo học đến lớp 8 thì bị bắt về làm vợ” 23

+ Vì là vợ, làm mẹ sớm nên nhiều nữ thanh niên các dân tộc này thường sinh nhiều con, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và cả con cái họ Ngoài ra do phải lam lũ làm ăn, gánh vác công việc nương rẫy, phục vụ việc nhà chồng nên họ không được đi học, mù chữ khiến họ thiếu hiểu biết , không biết cách nuôi dạy con và cũng không biết cách giải thoát cho chính bản thân mình

21 Điều 146 – Bộ luật dân sự nước Cộng hòa Pháp

22 Là một phong tục lâu đời của người dân tộc Mông và một số dân tộc khác Vào mùa xuân, các chàng trai đi chợ, nếu bắt gặp một cô gái xinh đẹp vừa ý là quay về rủ một số bạn trai tìm bắt cô gái theo mình

23 Công Sơn, Người Mông - Mường Lát bắt vợ,

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-vn/61/43/6/66/66/144643/Default.aspx, [truy cập ngày 08/02/2012]

Trang 37

- Do còn bị chi phối bởi nhiều tập tục lạc hậu nên việc xây dựng đời sống hôn nhân trên cơ sở tình yêu nam nữ và ý chí tự nguyện chưa được bảo đảm Bên cạnh tập tục cướp vợ còn có các tập tục lạc hậu cần phải xóa bỏ sau đây:

 Tập quán chọn vợ cho con trai

Đây là tập quán có ở nhiều dân tộc và mang những sắc thái khác nhau ở mỗi dân tộc Hiện nay tập quán này còn tồn tại và ảnh hưởng khá nặng nề ở các địa bàn dân cư sống thưa thớt, không tập trung, ít có điều kiện giao lưu văn hóa, xã hội Việc chọn vợ và tổ chức đám cưới cho con trai thường được cha mẹ thực hiện khi người con trai còn nhỏ tuổi (chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn) Một số nơi do quan niệm lấy vợ cho con trai để gia đình có thêm người làm nên cha mẹ thường chọn con dâu là người hơn con trai mình nhiều tuổi Trên thực tế, nhiều cuộc hôn nhân như vậy thường tan vỡ và

để lại nhiều hậu quả xấu do đời sống vợ chồng chênh lệch tuổi không hòa hợp, người con trai đến tuổi trưởng thành thường bỏ vợ để lấy vợ khác

Chẳng hạn như trong chế độ hôn nhân của người Mạ, nếu như trong xã hội các dân tộc còn lưu giữ nhiều hình thức hôn nhân của thời kỳ chế độ mẫu hệ như Koho, Churu, Raglai… người con trai dù đã đến tuổi trưởng thành vẫn phải “ngồi chờ” để có một cô gái nào đó đến “bắt chồng” thì trong xã hội người Mạ, chế độ “bắt chồng” đó được thay thế bằng chế độ "bắt vợ" Người thanh niên đến tuổi trưởng thành (thông thường là 15 -16 tuổi) nếu ưng cô gái nào thì anh ta có quyền trình bày nguyện vọng

đó cho cha mẹ của mình, và nếu được cha mẹ chấp thuận thì nhờ người mai mối đi nói với bên nhà gái để tiến tới hôn nhân Trong đời sống và sinh hoạt xã hội của người Mạ

từ xa xưa đã lưu truyền rộng rãi nhiều câu ca dao nói về vai trò của người đàn ông trong hôn nhân và được mọi người coi như là luật tục mạng tính chất chung của cả dân tộc Ví dụ người ta khuyên nhủ người đàn ông:

"Không muốn ăn gà anh nên đặt bẫy

Không muốn cô đơn, anh phải cưới vợ đi"24

Nếu không phải chính bản thân người con trai đề xuất ý kiến về việc cưới vợ cho mình thì cũng do gia đình anh ta (mà chủ yếu là người cha) lo tìm kiếm, lựa chọn

và tổ chức cưới vợ cho con trai

24 Phan Xuân Biên, Xã hội cổ truyền của người Mạ qua một số đặc điểm hôn nhân gia đình

http://www.dalat.gov.vn/web/books/DTLD/cotruyen.htm, [truy cập ngày 08/02/2012]

Trang 38

 Quan niệm hôn nhân gả bán và tục thách cưới

Do quan niệm cho con gái đi lấy chồng là suốt đời “làm ma” nhà chồng nên việc hôn nhân của người con gái ở một số dân tộc được xem là cuộc bán gả, cha mẹ cô gái thường nêu những điều kiện thách cưới bằng tiền bạc, vật chất yêu cầu nhà trai phải đáp ứng Trong những cuộc hôn nhân như vậy, việc thách cưới đã vi phạm nguyên tắc tôn trọng ý chí tự nguyện kết hôn của hai bên nam nữ muốn xác lập quan

hệ hôn nhân

Trai gái yêu nhau phải trải qua nhiều thử thách mới đến được với nhau nhưng đến phút chót cái đám cưới bấy lâu nay được đôi trẻ mong chờ có nguy cơ tan tành theo mây khói chỉ vì tục thách cưới Thách cưới là một tục lệ đã tồn tại lâu đời trong nền văn hoá Việt Thách cưới có thể nói nôm na là khi trai gái yêu nhau muốn ở với nhau trọn đời trọn kiếp thì trước khi cưới nhà trai phải đến nhà gái dạm ngõ và bàn bạc chuyện cưới xin, lúc này nhà gái yêu cầu nhà trai phải có sính lễ đến ăn hỏi sau đó mới được rước dâu về Sính lễ có thể là hiện vật hoặc bằng tiền mặt Sính lễ bằng hiện vật

có thể là những thứ rất đơn giản như trầu, thuốc, bánh kẹo… nhưng cũng có thể là những thứ rất có giá trị như trâu, bò, vàng bạc… Ngày nay khi nói đến chuyện thách cưới là chúng ta nói đến những sính lễ hậu hĩnh mà nhà gái đòi hỏi từ nhà trai

Tục thách cưới rất phổ biến ở thời kì phong kiến và đặc biệt là vùng có dân tộc thiểu số sinh sống, ngày nay tục lệ ấy đang dần biến mất nhưng thực tế nó vẫn tồn tại ở một số tỉnh như Bắc Giang, Hoà Bình… thậm chí cả ở thành thị mà không chỉ ở vùng nông thôn Nếu cô dâu và chú rể ở cùng quê, có cùng một phong tục thì những mắc

mớ trong việc thách cưới dễ được thông cảm và giải quyết, song nếu cô dâu và chú rể sinh sống ở hai vùng miền khác nhau không có cùng tục lệ thì chuyện thách cưới trở nên khó giải quyết và có lắm chuyện bi hài

Ngày nay, người Tày ở Lăng Can vẫn còn tục thách cưới “Nhà trai phải lo toàn

bộ đồ ăn cho khách mời của nhà gái trong ngày cưới như: gà, lợn, xôi, bánh, gạo, rượu Trước đây, người dân nơi đây còn thách cưới bằng bạc trắng, nay thách cưới bằng tiền để sắm đồ cưới”25

25 Thanh Huyền, Phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày ở Lăng Can,

http://diendan.huongsacviet.net/showthread.php?7481-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-phong-

Trang 39

t%E1%BB%A5c-hay-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-thi%E1%BB%83u- Tục xem tuổi kết hôn

Nhiều dân tộc có tập quán người con trai và người con gái muốn kết hôn phải lấy lá số tử vi cho hai bên cha mẹ xem, nếu qua lá số thấy không thích hợp với nhau thì dù yêu nhau cũng không thể kết hôn thành vợ thành chồng được Chẳng hạn như việc cưới xin của dân tộc Dao ở Thanh Hóa: “Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không”26

Đồng bào Dao quan niệm từ rất lâu rằng nam nữ muốn nên vợ nên chồng thì phải được xem tuổi, nếu tuổi hợp thì mới được gia đình cho phép lấy nhau Trước đây, con cái không có quyền chủ động trong việc yêu và cưới hỏi và nhà có con trai là nhà được chủ động trong việc tìm vợ cho con Trong gia đình có con trai đến tuổi lấy vợ thì bố mẹ hay một người có uy tín trong gia đình, dòng họ sẽ là ngườì chủ động tới gặp thầy có tiếng trong bản xem tuổi cho con và tìm cho con trai mình một cô gái hợp tuổi, hợp số

Tập tục xem tuổi kết hôn này đã vi phạm nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân

và gia đình, đã làm tan vỡ biết bao đôi tình duyên trai gái Do đó cần phải vận động đồng bào dân tộc thiểu số nên xóa bỏ tập tục này

 Tập quán hôn nhân ngoại tộc

Nghĩa là không kết hôn với người cùng họ hoặc cùng dân tộc, nếu muốn kết hôn phải làm lễ cắt họ Ngược lại, còn có trường hợp cấm kết hôn với người khác dân tộc vì họ không cùng tục thờ thần, tiếng nói của mình Đó là phong tục, tập quán của dân tộc Chăm Người nào kết hôn với người khác dân tộc thì sẽ bị người Chăm xem là người “ngoại lai” Đặc biệt đối với người phụ nữ tuyệt đối không được lấy người khác dân tộc Cấm kết hôn cùng dân tộc nhưng khác tôn giáo Quy định như vậy trái với nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình

Những hủ tục lạc hậu nói trên đã cản trở hoặc hạn chế ở những mức độ khác nhau về quyền được tự do quyết định hôn nhân của nam nữ thanh niên dân tộc thiểu

số, cản trở sự phát triển xã hội

- Bên cạnh các phong tục, tập quán mang yếu tố tiêu cực như đã phân tích trên thì về sự tự nguyện trong kết hôn cũng có rất nhiều tập tục tiến bộ thể hiện sự tự do tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân Ở các dân tộc Ê Đê, M Nông, Gia Rai… quan hệ hôn nhân của các dân tộc thiểu số kể trên là tự nguyện Trai gái đến tuổi trưởng thành

26 Quốc Bảo, Các Dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa,

http://bdt.thanhhoa.gov.vn/vi-vn/bandantoc/Pages/Article.aspx?ChannelId=27&articleID=24, [truy cập ngày 10/02/2012]

Trang 40

tự do yêu đương, tự do tìm hiểu người bạn đời của mình mà không phải chịu sức ép nào cả Đây là nét tiến bộ quan trọng trong quan hệ hôn nhân Luật tục đã chỉ rõ điều

đó : "Trâu bò không ai ép thừng, trai gái không ai ép duyên Nếu hai người ưng nhau muốn lấy nhau thì vòng cứ đặt trên chiếu, tự họ sẽ cầm lấy, không một ai cầm trao cho họ”27

Người Ba Na cho phép tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời, việc cưới xin đều theo nếp cổ truyền Vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên một thời gian, theo thỏa thuận giữa hai gia đình hai bên, sau khi sinh con đầu lòng mới làm nhà riêng

Hôn nhân trong phong tục các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên cũng có rất nhiều điều đáng quan tâm Trước hết là tự do tìm hiểu Luật tục Êđê ở Điều 95 về việc đính hôn quy định rõ không có sự cưỡng ép :

“Trâu bò không ai ép thừng

Trai gái không ai ép duyên

Nếu trai gái ưng nhau tự họ sẽ cầm lấy vòng28”

Ngoài ra còn có tập tục hát trao duyên của các dân tộc vùng Tây Bắc Đến với chợ Lượn ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, đây không phải là các phiên chợ thông thường mà vốn là phiên hát giao duyên của người Tày, Nùng, Thái, hầu như không buôn bán gì, người đi chợ nhằm mục đích gặp gỡ, trao duyên, trao tình Ngoài ra còn

có chợ tình Khâu Vai có từ cách đây hơn trăm năm, được bắt nguồn từ câu chuyện tình của một đôi trai gái Chợ tình Khâu Vai không chỉ là nơi hò hẹn của những đôi trai gái

lỡ duyên nhau mà còn là nơi gặp gỡ làm quen của nam nữ thanh niên Vì thế, chợ tình Khâu Vai đã có biết bao đôi trai gái nên vợ thành chồng từ đây Đây là tập tục thể hiện

sự tự nguyện, tự do trong hôn nhân, mang đậm những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp cần bảo tồn và phát huy, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình năm

2000

Đối với vấn đề kết hôn của dân tộc Chăm phải trên nguyên tắc tự nguyện, một

vợ, một chồng không có sự ép buộc, cưỡng ép trong kết hôn từ phía cha mẹ, tộc họ Nghĩa là họ tự do tìm hiểu nhau, khi tình yêu đã đến độ chín muồi thì cha mẹ bên nữ chủ động hỏi ý kiến cha mẹ bên nam

27 Hoàng Thanh, Luật tục M’nông bảo vệ quyền lợi của phụ nữ,

http://www.baodaknong.org.vn/newsdetails.aspx?newsid=13209 , [truy cập ngày 10/02/2012

28

Ngày đăng: 08/04/2018, 06:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm